1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công tác xã hội cá nhân trong việc trợ giúp phụ nữ nghèo đơn thân nâng cao cuộc sống tại xóm 8 xã thanh mai, huyện thanh chương, tỉnh nghệ an

80 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Công tác xã hội cá nhân trong việc trợ giúp phụ nữ nghèo đơn thân nâng cao cuộc sống tại xóm 8 xã Thanh Mai, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An
Tác giả Nguyễn Thị Quyên, Trần Thị Thu Hằng
Người hướng dẫn Nguyễn Thị Bích Thủy
Trường học Trường đại học Vinh
Chuyên ngành Công tác xã hội
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2012
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 735,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • PHẦN 1: MỞ ĐẦU (0)
    • 1. Lí do chọn đề tài (0)
    • 3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu (5)
    • 4. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu (6)
    • 5. Phương pháp nghiên cứu (6)
    • 6. Giả thuyết ngiên cứu (8)
  • PHẦN 2: NỘI DUNG CHÍNH (9)
  • CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN (9)
    • 1.1. Cơ sở lý luận (9)
      • 1.1.1. Quan điểm của Đảng và nhà nước về xoá đói giảm nghèo (0)
      • 1.1.2. Các lý thuyết vận dụng vào đề tài (11)
      • 1.1.3. Các khái niệm công cụ (15)
    • 1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài nghiên cứu (19)
      • 1.2.1. Tổng quan về đề tài nghiên cứu (0)
      • 1.2.2. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu (21)
  • CHƯƠNG 2 (24)
    • 2.1. Một vài nét về đời sống của phụ nữ nghèo đơn thân xã Thanh Mai (24)
    • 2.2. Kỹ năng sử dụng (26)

Nội dung

NỘI DUNG CHÍNH

CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Quan điểm của Đảng và nhà nước về xoá đói giảm nghèo

Việt Nam là một nước nông nghiệp, do vậy vấn đề chăm lo, đảm bảo cuộc sống cho người dân luôn được Đảng và nhà nước đặc biệt quan tâm Ngay từ những năm đầu thành lập, Đảng đã lãnh đạo nhân dân thực hiện các khẩu hiệu như “Lấy ruộng đất của địa chủ chia cho dân cày nghèo” và “Người cày có ruộng”, thể hiện chủ trương xuyên suốt trong giai đoạn 1930-1945 nhằm nâng cao đời sống nông dân.

Sau khi đất nước dành độc lập, Đảng và Nhà nước tập trung củng cố chính quyền và chăm lo đời sống nhân dân Hồ Chủ Tịch nhấn mạnh rằng chiến thắng trong cuộc đấu tranh tự do, độc lập mang lại ý nghĩa to lớn nếu nhân dân không thể đảm bảo đủ ăn, mặc, coi đó là ưu tiên hàng đầu trong công cuộc phục hồi đất nước Người đã phát động các phong trào như “Ngày đồng tâm” và “Hũ gạo cứu đói”, kêu gọi toàn dân cùng nhau vượt qua khó khăn bằng tinh thần đoàn kết, “Lá lành đùm lá rách” Tư tưởng của Hồ Chủ Tịch là kim chỉ nam cho các chính sách xoá đói giảm nghèo của Đảng và Nhà nước, thể hiện mối quan tâm đặc biệt đến đời sống nhân dân trong giai đoạn khó khăn.

Phát biểu tại hội nghị sản xuất cứu đói ngày 13/6/1955 Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn các đại biểu:“ Chính sách của Đảng và chính phủ

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

Cơ sở lý luận

1.1.1 Quan điểm của Đảng và nhà nước về xoá đói giảm nghèo

Việt Nam là một nước nông nghiệp, do đó vấn đề chăm lo và đảm bảo cuộc sống cho người dân luôn được Đảng và nhà nước đặc biệt quan tâm Trong những năm đầu thành lập, Đảng đã lãnh đạo nhân dân thực hiện khẩu hiệu “Lấy ruộng đất của địa chủ chia cho dân cày nghèo” và “Người cày có ruộng”, thể hiện chủ trương xuyên suốt trong giai đoạn 1930-1945 để nâng cao đời sống nông dân.

Sau khi đất nước giành độc lập, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng và nhà nước là củng cố chính quyền và chăm lo đời sống nhân dân Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh rằng “Chúng ta dành được tự do, độc lập mà dân cứ chết đói, chết rét thì độc lập cũng không có ý nghĩa”, coi đó là ưu tiên hàng đầu trong các chiến lược của mình Người đã phát động các phong trào như “Ngày đồng tâm” và “Hũ gạo cứu đói” để khơi dậy tinh thần đoàn kết và hỗ trợ lẫn nhau trong giai đoạn khó khăn, thể hiện tư tưởng “Lá lành đùm lá rách” Tư tưởng của Hồ Chí Minh trở thành kim chỉ nam cho các chủ trương của Đảng và chính sách của nhà nước nhằm xóa đói giảm nghèo và đảm bảo đời sống nhân dân.

Tại hội nghị sản xuất cứu đói ngày 13/6/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng chính sách của Đảng và Chính phủ có lỗi nếu dân không có điều kiện đủ ăn, mặc, học tập và sức khỏe Người căn dặn rằng công tác xây dựng chính sách phải dựa trên việc nâng cao đời sống của nhân dân, vì nếu dân đói, rét, dốt, bệnh thì mọi nỗ lực đều khó thành công Tư tưởng này luôn được quán triệt và thể hiện qua các chính sách và chương trình hành động trong nhiều thập kỷ, nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững và nâng cao cuộc sống của nhân dân.

Trong Đại hội lần VI, tư tưởng “Vấn đề lương thực phải được giải quyết một cách căn bản” được phát huy mạnh mẽ, thể hiện rõ chủ trương quan trọng nhằm đảm bảo an toàn lương thực cho đất nước trong giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới Đây được xem là bước ngoặt, đánh dấu sự tiến bộ vượt bậc trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, góp phần tạo nền tảng vững chắc cho sự nghiệp đổi mới toàn diện.

Nghị quyết đại hội VII của Đảng nhấn mạnh việc đảm bảo vững chắc nhu cầu lương thực, khắc phục tình trạng thiếu đói thường xuyên và nạn giáp hạt ở một số vùng Đây là một trong những nội dung trọng tâm của nghị quyết nhằm giải quyết căn bản vấn đề nghèo đói Việc đảm bảo an ninh lương thực được xem là yếu tố then chốt để phát triển kinh tế và nâng cao đời sống nhân dân Chính sách này nhằm mục tiêu ổn định sản xuất nông nghiệp và giảm thiểu tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu đối với nông thôn.

Nghị quyết đại hội VIII xác định giảm nghèo là một chương trình phát triển kinh tế xã hội cấp bách và lâu dài, nhấn mạnh việc thực hiện chương trình XĐGN đặc biệt ở vùng căn cứ địa cách mạng và vùng dân tộc, với mục tiêu giảm tỷ lệ nghèo đói xuống còn khoảng 10% vào năm 2000, bình quân giảm 300.000 hộ/năm Trong 2-3 năm đầu của kế hoạch 5 năm, tập trung xoá hộ nghèo kinh niên Đại hội IX xác định XĐGN là nhiệm vụ chiến lược giai đoạn 2001-2010 nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội, nâng cao đời sống nhân dân và hội nhập quốc tế, với mục tiêu không còn hộ nghèo vào 2010 và củng cố thành quả giảm nghèo Đại hội X tiếp tục nhấn mạnh đầu tư xây dựng hạ tầng, nâng cao kiến thức để người nghèo tự thoát nghèo và cải thiện chất lượng cuộc sống bền vững, kết hợp chính sách nhà nước và sự giúp đỡ của toàn xã hội, đặc biệt là vùng khó khăn, trong việc ngăn chặn tái nghèo.

Chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước về Xây dựng và Phát triển (XĐGN) nhằm đảm bảo tăng trưởng kinh tế gắn liền với sự tiến bộ và công bằng xã hội Phát triển kinh tế và xã hội đồng bộ góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững, ổn định lâu dài Mục tiêu trọng tâm là xây dựng một đất nước “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh,” hướng tới sự phát triển toàn diện, bền vững và công bằng xã hội.

1.1.2 Các lý thuyết vận dụng vào đề tài 1.1.2.1 Lý thuyết nhu cầu của Maclow

Abraham Maslow (1908-1970), nhà tâm lý học người Mỹ, là người sáng lập trường phái tâm lý học nhân văn Ông nổi bật với những nghiên cứu nhấn mạnh giá trị con người, sự tự do, sáng tạo và khả năng tự chủ, góp phần định hình các xu hướng trong lĩnh vực tâm lý học hiện đại.

Theo ông, con người cần được đáp ứng những nhu cầu cơ bản để tồn

Thuyết nhu cầu của Maslow đề cập đến các mức độ nhu cầu của con người, bắt đầu từ nhu cầu vật chất cơ bản như ăn, mặc, chỗ ở, đến các nhu cầu cao hơn như an toàn, tình cảm xã hội, được tôn trọng và hoàn thiện bản thân Các nhu cầu này được xếp theo thứ tự bậc thang từ thấp đến cao, phản ánh sự phát triển tự nhiên của các mong muốn trong quá trình sống Áp dụng lý thuyết này vào ngữ cảnh của phụ nữ nghèo đơn thân, thứ tự các nhu cầu của họ được xem xét dựa trên mức độ cần thiết, bắt đầu từ các nhu cầu vật chất để đảm bảo cuộc sống cơ bản, sau đó đến nhu cầu an toàn và tình cảm xã hội, rồi đến các mong muốn được tôn trọng và hướng tới sự hoàn thiện bản thân.

2 Nhu cầu tình cảm xã hội

4 Nhu cầu được tôn trọng

5 Nhu cầu được hoàn thiện mình

Nhu cầu vật chất, bao gồm ăn uống, mặc quần áo và chỗ ở, là những điều kiện thiết yếu phục vụ cho quá trình phát triển và duy trì thể lực của con người Đặc biệt, đối với phụ nữ nghèo đơn thân, họ phải đối mặt với hoàn cảnh sống bần cùng, nghèo đói và khổ cực, gây ảnh hưởng lớn đến cuộc sống và sự phát triển cá nhân.

Phụ nữ nghèo đơn thân thường xuyên đối mặt với nạn đói về thực phẩm và thiếu điều kiện để chăm sóc sức khỏe bản thân Do đó, nhu cầu vật chất, đặc biệt là về thực phẩm và chăm sóc sức khoẻ, luôn được đặt lên hàng đầu để đảm bảo cuộc sống cơ bản Việc đảm bảo các nhu cầu thiết yếu giúp cải thiện cuộc sống và nâng cao chất lượng sống cho phụ nữ đơn thân nghèo.

Nhu cầu tình cảm xã hội thể hiện mong muốn được yêu thương, gắn bó và chia sẻ trong cộng đồng Đặc biệt, phụ nữ nghèo đơn thân mong muốn nhận được tình yêu thương và sự chia sẻ từ xã hội để cảm thấy mình là một phần không thể thiếu trong cộng đồng và tránh cảm giác cô đơn, lạc lõng Đây là nhu cầu vô cùng quan trọng, được xếp ở vị trí thứ hai trong các loại nhu cầu xã hội của con người.

* Nhu cầu được an toàn

Phụ nữ nghèo đơn thân cần được quan tâm, chăm sóc và bảo vệ toàn diện từ sức khỏe đến quyền lợi chống lại phân biệt kỳ thị, bóc lột và hành hạ Khi những nhu cầu này được đáp ứng, họ sẽ không còn bị đe dọa hay gặp phải các hiểm họa trong cuộc sống, giúp nâng cao chất lượng cuộc sống và đảm bảo an toàn cho họ và con cái.

Nhu cầu được tôn trọng là nhu cầu quan trọng của con người, đặc biệt là phụ nữ nghèo đơn thân, mong muốn được chấp nhận và thừa nhận trong xã hội Khi phụ nữ nghèo nhận được sự tôn trọng, họ sẽ cảm thấy tự tin, có nghị lực hơn để vượt qua hoàn cảnh khó khăn Sự tôn trọng giúp họ cảm thấy mình có vị trí trong cộng đồng, từ đó thúc đẩy khả năng vươn lên và cải thiện cuộc sống Đây là yếu tố then chốt giúp phụ nữ nghèo đơn thân vượt qua khó khăn, khẳng định vị trí của mình trong xã hội và phát triển bản thân.

Nhu cầu được hoàn thiện nằm ở đỉnh cao trong thang nhu cầu của Maslow, thể hiện mong muốn học tập, sáng tạo và nghiên cứu để phát triển toàn diện Khi cộng đồng thừa nhận và tôn trọng người phụ nữ nghèo đơn thân, họ càng mong muốn có cơ hội tham gia các hoạt động lao động sản xuất để nâng cao cuộc sống của chính mình.

Cơ sở thực tiễn của đề tài nghiên cứu

1.2.1 Tổng quan về đề tài nghiên cứu

Vấn đề nghèo đói và chiến lược Xóa đói giảm nghèo (XĐGN) vừa là mục tiêu vừa là chiến lược quan trọng của các quốc gia trên thế giới Trong khuôn khổ quốc tế, Liên Hợp Quốc đã xác định XĐGN là một trong những nhiệm vụ trọng yếu của các mục tiêu phát triển bền vững và Thiên niên kỷ.

Vấn đề đói nghèo, phân hóa giàu nghèo và xóa đói giảm nghèo (XĐGN) luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo và nghiên cứu của Đảng, Nhà nước cùng các cơ quan, tổ chức và đoàn thể khác trên phạm vi toàn quốc Bên cạnh đó, đói nghèo còn là chủ đề thu hút nhiều tranh luận đa chiều, phản ánh sự phức tạp và cần thiết của các giải pháp đa dạng để giảm thiểu tình trạng này.

Nghiên cứu về nghèo đói đã nhận được nhiều sự quan tâm từ các tổ chức, cơ quan như Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, cùng với nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về đề tài Xóa đói giảm nghèo tại Việt Nam Các tài liệu này đều nhấn mạnh tầm quan trọng của các chính sách hỗ trợ để giảm nghèo bền vững Các nghiên cứu đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nghèo, đồng thời đề xuất các giải pháp phù hợp với đặc thù địa phương Những công trình này góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng và thúc đẩy hiệu quả các chương trình giảm nghèo quốc gia.

Trong các công trình nghiên cứu về giảm nghèo tại Việt Nam, tiến sĩ Nguyễn Thị Hằng trong cuốn sách "XĐGN ở nước ta hiện nay" xuất bản bởi Nhà xuất bản Nông nghiệp năm 1997 đã phân tích rõ các yếu tố ảnh hưởng đến giảm nghèo Bên cạnh đó, tác giả Nguyễn Văn Tiến đã viết bài "Giảm nghèo trong nông thôn hiện nay" nhằm làm rõ các giải pháp và chính sách hỗ trợ nông dân thoát nghèo Ngoài ra, báo cáo "Giảm nghèo Việt Nam" của UNICEF xuất bản năm 1995 cũng cung cấp các dữ liệu và phân tích về thực trạng giảm nghèo, các chương trình hỗ trợ và thành tựu đạt được trong quá trình này Các tài liệu này đều đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành chiến lược giảm nghèo bền vững tại Việt Nam.

Các nghiên cứu vĩ mô đã phân tích rõ các yếu tố phân tầng xã hội ở Việt Nam, như trong "Báo cáo về tình trạng nghèo đói và công bằng ở Việt Nam" của tổ chức Oxfam năm 1999 Báo cáo này làm nổi bật các bất bình đẳng xã hội và ảnh hưởng của mức độ giàu nghèo đối với sự phát triển bền vững của đất nước Ngoài ra, các công trình nghiên cứu khác cũng nhấn mạnh vai trò của các yếu tố xã hội trong quá trình phát triển kinh tế và chính sách giảm nghèo tại Việt Nam.

Kinh tế thị trường đang góp phần thúc đẩy sự phát triển, nhưng đồng thời cũng làm gia tăng sự phân hoá giàu nghèo ở vùng dân tộc và miền núi phía Bắc nước ta Các nghiên cứu của hai tác giả Lê Du Phong và Hoàng Văn Hoa chỉ rõ rằng tình trạng đói nghèo vẫn còn tồn tại với nhiều mặt khác nhau, đòi hỏi một cái nhìn toàn diện để hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng Nội dung của các đề tài nghiên cứu giúp chúng ta nhận diện rõ hơn về các góc độ khác nhau của vấn đề, từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm giảm thiểu đói nghèo và thúc đẩy phát triển bền vững tại các khu vực này.

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra vấn đề nghèo đói của phụ nữ và ảnh hưởng của nó đến phát triển bền vững Đề tài nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Môi trường và Phát triển về “Phát triển bền vững nông thôn vùng Bắc Trung Bộ; xoá đói giảm nghèo và giải pháp việc làm” nhằm đánh giá thực trạng nông thôn Bắc Trung Bộ Việt Nam từ góc độ thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững và các mục tiêu thiên niên kỷ của quốc gia, đặc biệt tập trung vào vấn đề giảm nghèo và giải quyết việc làm.

Trong nghiên cứu của trung tâm Nghiên cứu khoa học về phụ nữ và gia đình năm 2006, đề tài “Vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế ở Đồng bằng sông Hồng” khẳng định vai trò của phụ nữ trong việc thúc đẩy kinh tế phát triển Bên cạnh đó, tài liệu còn đề cập đến vai trò của các tổ chức đoàn thể chính trị-xã hội như Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội Nông dân trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội nói chung và phong trào xóa đói giảm nghèo nói riêng.

Khoá luận tốt nghiệp của tác giả xã hội học Hà Thị Thu Hoà với đề tài:

“ Hoạt động giảm nghèo đối với phụ nữ nghèo tại ngoại thành Hà Nội”, năm

Năm 2008, chúng tôi tập trung nghiên cứu thực trạng đói nghèo của các hộ gia đình tại xã Cổ Nhuế và Xuân Phương, huyện Từ Liêm, Hà Nội Nhấn mạnh vai trò của các đoàn thể trong hoạt động xóa đói giảm nghèo, đặc biệt là Hội Liên hiệp Phụ nữ ở ngoại thành Hà Nội Từ những phân tích này, đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội trong công tác xóa đói giảm nghèo tại hai xã này.

Các đề tài nghiên cứu trước đây đã đề cập đến nguyên nhân, thực trạng và các giải pháp thoát nghèo cho phụ nữ ở nhiều vùng nông thôn Việt Nam, nhưng chưa đi sâu vào đời sống thực tế của phụ nữ nghèo, đặc biệt là tại xã Thanh Mai, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An Nhận thấy nhu cầu cấp thiết, chúng tôi đã chọn đề tài "Công tác xã hội cá nhân trong việc trợ giúp phụ nữ nghèo đơn thân nâng cao cuộc sống tại xóm 8, xã Thanh Mai" nhằm giúp mọi người hiểu rõ hơn về cuộc sống của phụ nữ nghèo và giới thiệu các giải pháp, can thiệp hỗ trợ để giúp họ vươn lên thoát nghèo, ổn định cuộc sống.

1.2.2 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu

Thanh Mai là một xã nghèo thuộc huyện Thanh Chương, có diện tích tự nhiên 4.779 ha và dân số khoảng 7.200 người (năm 2010) Xã nằm trong khu vực có ranh giới phía Bắc giáp các xã Thanh Tùng và Thanh Hà, phía Nam giáp xã Thanh Xuân, phía Tây giáp xã Thanh Giang, và phía Đông giáp xã Thanh Thủy Địa hình phần lớn là đồi núi, gây khó khăn cho giao thông và ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế, chủ yếu là nông nghiệp Tuy nhiên, đời sống của người dân vẫn còn nhiều thử thách do mức thu nhập thấp và điều kiện tự nhiên còn khắc nghiệt.

Xã còn gặp nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế và nâng cao đời sống người dân, mức sống vẫn còn thấp Tuy nhiên, trong những năm qua, nhân dân xã đã nỗ lực phấn đấu, nhờ đó mức sống của người dân đã được nâng lên rõ rệt Nhờ sự quan tâm hỗ trợ của huyện ủy, HĐND-UBND cùng các ban, phòng, đoàn thể, và tinh thần đoàn kết cao của cộng đồng, xã đã đạt nhiều thành tựu quan trọng giai đoạn 2005-2010.

- Về kinh tế- xã hội

Trong lĩnh vực nông nghiệp, nhờ ứng dụng các tiến bộ KHKT, năng suất và sản lượng ngày càng tăng cao Diện tích trồng lúa hàng năm ổn định ở mức 370 ha, góp phần đảm bảo hiệu quả sản xuất Năm 2010, năng suất lúa ước đạt 63 tạ/ha, phản ánh sự phát triển bền vững và năng suất vượt trội nhờ công nghệ hiện đại.

Trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình thủy lợi và các dự án phúc lợi đã được đầu tư, nâng cấp và phát triển một cách đồng bộ Việc đầu tư đúng mức vào hệ thống các công trình này nhằm đáp ứng mọi nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, góp phần thúc đẩy tăng trưởng bền vững và cải thiện chất lượng cuộc sống.

Về văn hóa và giáo dục, nhờ sự quan tâm của cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương, hoạt động xã hội hóa giáo dục đã được triển khai hiệu quả, thúc đẩy phong trào khuyến học và thu hút đông đảo nhân dân tham gia Nhờ đó, chất lượng dạy học tại các trường ngày càng được nâng cao, với 100% giáo viên đạt chuẩn và số giáo viên đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi tăng hằng năm.

- Về công tác y tế, dân số- gia đình và trẻ em

Một vài nét về đời sống của phụ nữ nghèo đơn thân xã Thanh Mai

Xã Thanh Mai là một xã nghèo của huyện Thanh Chương, đối mặt với nhiều khó khăn về vị trí địa lý và điều kiện kinh tế – xã hội ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế địa phương Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, phần lớn dân cư sống dựa vào nông nghiệp, trình độ dân trí còn hạn chế khiến đời sống người dân gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là về chăm sóc y tế và đầu tư cho giáo dục còn nhiều hạn chế Mặc dù Đảng ủy và chính quyền địa phương đã nỗ lực đưa ra các chính sách hỗ trợ, nhưng tình hình đói nghèo vẫn tồn tại, tỷ lệ nghèo đói và tái nghèo vẫn cao, đặc biệt là phụ nữ nghèo, với 22 gia đình phụ nữ đơn thân trong xã theo khảo sát đầu năm 2012 Công tác giảm nghèo tuy đã được triển khai nhưng kết quả chưa thực sự khả quan, còn nhiều hạn chế trong việc nâng cao đời sống cộng đồng.

Danh sách phụ nữ nghèo đơn thân xã Thanh Mai

STT Họ và Tên Địa chỉ

2 Bùi Thị Hoà Xóm Trung Sơn

Qua bảng số liệu chúng ta có thể thấy trong những tháng đầu năm

Trong năm 2012, tổng số hộ nghèo đơn thân chiếm 3,5% với 22 hộ trên tổng số 621 hộ nghèo của xã, thể hiện tỷ lệ khá cao trong cộng đồng Phụ nữ nghèo đơn thân đối mặt với nhiều khó khăn do phải đảm nhận toàn bộ công việc trong gia đình, trong khi điều kiện kinh tế ngày càng eo hẹp, thiếu tư liệu sản xuất và vốn đầu tư Họ thường có trình độ thấp, thiếu kiến thức khoa học kỹ thuật, khiến việc nâng cao năng suất sản xuất gặp nhiều trở ngại Cuộc sống của họ phụ thuộc chủ yếu vào thu nhập từ nông nghiệp, không có nguồn thu nào khác, dẫn đến cuộc sống rất chật vật và thiếu thốn Mặc dù chính quyền địa phương và hội phụ nữ đã nỗ lực hỗ trợ, nhưng hiệu quả vẫn còn hạn chế Do đó, các gia đình phụ nữ nghèo đơn thân cần sự chung tay giúp đỡ từ chính quyền, các ban ngành đoàn thể và cộng đồng để có cơ hội thoát nghèo và vươn lên trong cuộc sống.

Kỹ năng sử dụng

Kỹ năng giao tiếp, bao gồm cả giao tiếp bằng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, là yếu tố quan trọng mà nhân viên xã hội sử dụng khi tiếp xúc với thân chủ, cán bộ chính quyền địa phương và các cá nhân liên quan trong nghiên cứu Kỹ năng giao tiếp nhuần nhuyễn giúp nhân viên xã hội tự tin hơn, tiếp cận bác V nhanh chóng, thuận lợi và khai thác thông tin đa chiều cần thiết cho đề tài nghiên cứu Trong quá trình giao tiếp, nhân viên xã hội cần sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu, mang tính cảm thông và chia sẻ để thể hiện thiện chí, tạo sự tin tưởng và mở lòng đối phương.

Kỹ năng đặt câu hỏi là một kỹ năng khó, đòi hỏi người hỏi phải linh hoạt và có hiểu biết, để thu thập thông tin chính xác từ thân chủ, cán bộ ban ngành liên quan và người xung quanh Trong quá trình nghiên cứu, nhân viên sử dụng kỹ năng này để hỏi thân chủ, hàng xóm, trưởng ban XĐGN xã Thanh Mai, và chủ tịch hội phụ nữ địa phương Tuy nhiên, họ cần khéo léo trong việc đặt câu hỏi, tránh những câu mang tính phê phán hoặc tế nhị, và luôn dựa trên nguyên tắc tôn trọng đối tượng Việc áp dụng tốt kỹ năng đặt câu hỏi sẽ giúp nhân viên xã hội thu thập đầy đủ và chính xác thông tin cần thiết.

Kỹ năng empaty là yếu tố quan trọng đối với nhân viên công tác xã hội, giúp họ đặt mình vào vị trí của bác V để hiểu rõ cuộc sống vật chất nghèo khổ, thiếu thốn Nhân viên CTXH cần cảm nhận được nỗi đau, cảm xúc của bác V khi bị xa lánh và cô lập bởi những người xung quanh Việc hiểu nguyên nhân khiến bác V sống khép kín, không giao tiếp giúp nhân viên công tác xã hội không đưa ra phán xét mà hỗ trợ bác vượt qua khó khăn Đây là cách giúp xây dựng lòng tin và hướng dẫn bác V vượt qua những vấn đề tâm lý, để họ có thể hòa nhập cộng đồng một cách tích cực.

* Kỹ năng lắng nghe tích cực

Lắng nghe đóng vai trò quan trọng trong giao tiếp, giúp hiểu rõ cảm xúc và suy nghĩ của người khác bằng cả thái độ và cảm nhận qua mắt Kỹ năng lắng nghe tích cực là công cụ thiết yếu đối với nhân viên xã hội để thực hiện công việc hiệu quả Nhân viên xã hội cần nghe chủ động để hiểu tình cảm, hoàn cảnh, tự ti và mặc cảm của thân chủ Lắng nghe còn giúp họ nắm bắt thông tin chính xác từ các cuộc trao đổi với lãnh đạo hội phụ nữ và ban XĐNG, từ đó phân tích và xử lý vấn đề một cách sâu sắc hơn.

Thông qua việc lắng nghe, nhân viên xã hội giúp đối tượng nhận diện rõ ràng vấn đề, như đói nghèo triền miên và khủng hoảng tâm lý, từ đó tạo cảm giác họ không bị thay đổi một cách áp đặt mà được động viên chia sẻ Kỹ năng lắng nghe còn giúp đối tượng giải tỏa, thoát khỏi sự kiềm chế của người khác và phát triển mối quan hệ gần gũi, tin cậy Để thực hiện lắng nghe hiệu quả, nhân viên xã hội cần chú ý đến các yếu tố quan trọng nhằm nâng cao khả năng đồng cảm và thấu hiểu.

Bắt đầu bằng gợi chuyện Nghe nhiều hơn nói, để đối tượng nói và gây ấn tượng Tiếp nhận đơn giản, giữ im lặng thích hợp

Biểu lộ sự quan tâm bằng cách nhìn vào mắt họ

Tỏ ra thân thiện, cởi mở, tạo bầu không khí thoải mái Xóa bỏ những thành kiến với đối tượng và nghe có phản hồi…

Quan sát là chú ý đến những đặc điểm của đối tượng, qua quan sát có thể hiểu được những hành vi bằng lời và hành vi không lời

Trong tiến trình can thiệp với đối tượng, nhân viên xã hội cần chú ý quan sát các yếu tố sau:

Dáng vẻ bên ngoài của thân chủ, như cách bác V ăn mặc và vóc dáng, giúp nhân viên xã hội nhận diện tổng quát về điều kiện kinh tế của bác Qua hình thức bên ngoài, có thể đánh giá xem bác V có vẻ to khoẻ hay ốm yếu, từ đó hình thành cái nhìn ban đầu về hoàn cảnh sống và thu nhập của người đó Việc quan sát ngoài hình đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá tổng thể để xác định các hỗ trợ cần thiết phù hợp với điều kiện của thân chủ.

Biểu hiện qua nét mặt, như tươi cười hay buồn rầu, phản ánh rõ ràng cảm xúc nội tâm của con người Trong công việc của nhân viên xã hội, việc quan sát nét mặt đóng vai trò quan trọng để hiểu hơn về trạng thái tâm lý của khách hàng Khuôn mặt thể hiện cảm xúc giúp nhân viên xã hội đánh giá chính xác hơn các dấu hiệu tâm lý, từ đó đưa ra phương án hỗ trợ phù hợp Chính vì vậy, việc phân tích nét mặt là một công cụ thiết yếu trong quá trình theo dõi và chăm sóc khách hàng, góp phần nâng cao hiệu quả làm việc.

Ngôn ngữ cơ thể thể hiện mối quan hệ giữa cơ thể và tâm hồn thông qua các cử chỉ, hành động nhằm biểu đạt cảm xúc Những biểu hiện của ngôn ngữ cơ thể là hình thức giao tiếp phi ngôn từ, phản ánh tâm trạng và suy nghĩ của người thể hiện Tuy nhiên, giao tiếp bằng ngôn ngữ cơ thể thường diễn ra một cách tự nhiên và không chủ ý, và có thể truyền tải những tín hiệu ngoài ý muốn của người truyền đạt.

Vấn đàm trong công tác xã hội là hình thức đối thoại trực tiếp giữa nhân viên xã hội và một hoặc nhiều đối tượng để thu thập và cung cấp thông tin Quá trình này giúp đánh giá tình hình, xác định nhu cầu và đưa ra các giải pháp can thiệp phù hợp, nhằm hỗ trợ và nâng cao chất lượng cuộc sống của đối tượng Vấn đàm đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng mối quan hệ tin cậy, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình trị liệu và hỗ trợ tâm lý hiệu quả.

Thông qua cuộc đàm thoại giữa nhân viên xã hội và bác V, cùng với trưởng ban XĐGN và chủ tịch hội phụ nữ, nhân viên xã hội có thể thu thập thông tin chính xác về đối tượng, chia sẻ thông tin cần thiết để hỗ trợ họ Quá trình này giúp khảo cứu và đánh giá đầy đủ các vấn đề của đối tượng, từ đó đưa ra các giải pháp giúp đỡ phù hợp nhất Để cuộc đàm thoại thành công, cần xây dựng môi trường thoải mái, cởi mở, đồng thời phối hợp chặt chẽ giữa các bên để nâng cao hiệu quả hỗ trợ.

Có mục đích và kế hoạch cụ thể

Cuộc vấn đàm thành công đòi hỏi có phương pháp và kỹ năng chuẩn xác Một cuộc vấn đàm thường trải qua 4 giai đoạn chính, trong đó giai đoạn chuẩn bị đóng vai trò quan trọng nhằm xác định rõ mục đích của cuộc nói chuyện, nắm vững bản chất và nội dung cần trao đổi Việc chuẩn bị kỹ lưỡng về thời gian, địa điểm, câu hỏi và phương tiện ghi hình hoặc ghi chú giúp nâng cao hiệu quả của cuộc vấn đàm.

Trong giai đoạn mở đầu, nhân viên xã hội chủ yếu tập trung vào việc chào hỏi, làm quen và tìm hiểu về đối tượng để thiết lập mối quan hệ tin cậy Họ giải thích rõ mục đích của buổi trò chuyện nhằm giúp đối tượng cảm thấy bình tĩnh, thoải mái và sẵn sàng chia sẻ thông tin Quan trọng nhất, nhân viên xã hội cần đảm bảo tính bí mật của tất cả những thông tin mà đối tượng cung cấp để xây dựng niềm tin và tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hỗ trợ.

Giai triển khai là phần chính của cuộc vấn đàm, nơi nhân viên xã hội thảo luận cùng đối tượng về nội dung vấn đề, tính chất cũng như nguyên nhân của vấn đề để xác định rõ các yếu tố liên quan.

Trước khi kết thúc giai đoạn, cần kiểm tra và tóm tắt lại các thông tin đã trao đổi với đối tượng, đồng thời tạo điều kiện để họ bổ sung hoặc làm rõ những điểm cần thiết Lưu ý giữ thời gian cuộc thảo luận hợp lý, tránh kéo dài quá mức, và nếu chưa đạt được mục đích đề ra, nên kết thúc cuộc họp và hẹn gặp lại vào lần sau để đảm bảo hiệu quả và tiết kiệm thời gian.

Ghi chép là quá trình nhân viên xã hội ghi lại các sự việc, hiện tượng, tình huống và kết quả hoạt động trong quá trình giải quyết vấn đề Đây là phần quan trọng để đảm bảo theo dõi, đánh giá và nâng cao hiệu quả công tác xã hội Việc ghi chép chính xác giúp nhân viên xã hội phản ánh rõ tình hình, phục vụ công tác tư vấn và hỗ trợ đối tượng hiệu quả.

Khi thực hiện tiến trình CTXHCN, một điều quan trọng là cần phải ghi lại tất cả những gì xảy ra trong tiến trình đó

Thông qua ghi chép, nhân viên xã hội có thể:

Lưu trữ các thông tin làm cơ sở cho việc theo dõi tiến trình hoạt động và quá trình tương tác giữa nhân viên xã hội và đối tượng

Làm cơ sở đánh giá kết quả của sự tương tác giữa nhân viên xã hội và đối tượng

Ngày đăng: 21/08/2023, 01:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đỗ Thị Bình(2003), gia đình Việt Nam và phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ CNH- HĐH đất nước, nhà xuất bản Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: gia đình Việt Nam và phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ CNH- HĐH đất nước
Tác giả: Đỗ Thị Bình
Nhà XB: nhà xuất bản Hà Nội
Năm: 2003
3. Lê Văn Phú(2007), nhập môn công tác xã hội,nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), nhập môn công tác xã hội
Tác giả: Lê Văn Phú
Nhà XB: nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
4. Lê Thị Quý, giáo trình xã hội học giới, nhà xuất bản giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: giáo trình xã hội học giới
Tác giả: Lê Thị Quý
Nhà XB: nhà xuất bản giáo dục Việt Nam
5. Nguyễn Quang Uẩn(chủ biên),(2006), giáo trình tâm lý học đại cương, nhà xuất bản Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: giáo trình tâm lý học đại cương
Tác giả: Nguyễn Quang Uẩn(chủ biên)
Nhà XB: nhà xuất bản Đại học sư phạm
Năm: 2006
6. Bùi Xuân Mai( chủ biên),(2008), giáo trình tham vấn, nhà xuất bản lao động – xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: giáo trình tham vấn
Tác giả: Bùi Xuân Mai( chủ biên)
Nhà XB: nhà xuất bản lao động – xã hội
Năm: 2008
7. Trần Đình Tuấn (2008),công tác xã hội - lý thuyết và thực hành, nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: công tác xã hội - lý thuyết và thực hành
Tác giả: Trần Đình Tuấn
Nhà XB: nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
9. Trần Văn Kham ( người dịch), lý thuyết xã hội học hiện đại (lần xuất bản thứ 2, 1997) Sách, tạp chí
Tiêu đề: lý thuyết xã hội học hiện đại
10. Nguyễn Hải Hữu (chủ biên), giáo trình nhập môn an sinh xã hội, nhà xuất bản lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: giáo trình nhập môn an sinh xã hội
Nhà XB: nhà xuất bản lao động xã hội
11. Pham Thị Oanh, giáo án giảng dạy công tác xã hội cá nhân, Vinh 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: giáo án giảng dạy công tác xã hội cá nhân
12. Phạm Văn Quyết- TS.Nguyễn Quý Thanh, phương pháp nghiên cứu xã hội học, nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội-2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: phương pháp nghiên cứu xã hội học
Nhà XB: nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội-2001
1. Bộ lao động, thương binh và xã hội(2004), chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo Khác
8. Trường Đại học lao động xã hội (2005), giáo trình công tác xã hội cá nhân Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1. Sơ đồ phả hệ - Công tác xã hội cá nhân trong việc trợ giúp phụ nữ nghèo đơn thân nâng cao cuộc sống tại xóm 8 xã thanh mai, huyện thanh chương, tỉnh nghệ an
Sơ đồ 2.1. Sơ đồ phả hệ (Trang 44)
Sơ đồ 2.2.  Sơ đồ sinh thái - Công tác xã hội cá nhân trong việc trợ giúp phụ nữ nghèo đơn thân nâng cao cuộc sống tại xóm 8 xã thanh mai, huyện thanh chương, tỉnh nghệ an
Sơ đồ 2.2. Sơ đồ sinh thái (Trang 45)
Bảng 2.1.  Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của thân chủ - Công tác xã hội cá nhân trong việc trợ giúp phụ nữ nghèo đơn thân nâng cao cuộc sống tại xóm 8 xã thanh mai, huyện thanh chương, tỉnh nghệ an
Bảng 2.1. Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của thân chủ (Trang 47)
Sơ đồ 2.3. Cây vấn đề - Công tác xã hội cá nhân trong việc trợ giúp phụ nữ nghèo đơn thân nâng cao cuộc sống tại xóm 8 xã thanh mai, huyện thanh chương, tỉnh nghệ an
Sơ đồ 2.3. Cây vấn đề (Trang 48)
Bảng 2.2. Kế hoạch trị liệu cho thân chủ - Công tác xã hội cá nhân trong việc trợ giúp phụ nữ nghèo đơn thân nâng cao cuộc sống tại xóm 8 xã thanh mai, huyện thanh chương, tỉnh nghệ an
Bảng 2.2. Kế hoạch trị liệu cho thân chủ (Trang 50)
Bảng 2.3. Bảng đánh giá ưu điểm và hạn chế trong tến trình can thiệp - Công tác xã hội cá nhân trong việc trợ giúp phụ nữ nghèo đơn thân nâng cao cuộc sống tại xóm 8 xã thanh mai, huyện thanh chương, tỉnh nghệ an
Bảng 2.3. Bảng đánh giá ưu điểm và hạn chế trong tến trình can thiệp (Trang 60)
Bảng phỏng vấn sâu số 2: Trưởng ban XĐGN xã - Công tác xã hội cá nhân trong việc trợ giúp phụ nữ nghèo đơn thân nâng cao cuộc sống tại xóm 8 xã thanh mai, huyện thanh chương, tỉnh nghệ an
Bảng ph ỏng vấn sâu số 2: Trưởng ban XĐGN xã (Trang 73)
Bảng phỏng vấn sâu số 3: Hội trưởng hội phụ nữ xã - Công tác xã hội cá nhân trong việc trợ giúp phụ nữ nghèo đơn thân nâng cao cuộc sống tại xóm 8 xã thanh mai, huyện thanh chương, tỉnh nghệ an
Bảng ph ỏng vấn sâu số 3: Hội trưởng hội phụ nữ xã (Trang 75)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm