1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu nghề chế biến nước mắm nhượng bạn (xã cẩm nhượng, huyện cẩm xuyên, tỉnh hà tĩnh)

96 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu nghề chế biến nước mắm nhượng bạn (xã Cẩm Nhượng, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh)
Tác giả Trần Thị Quý
Người hướng dẫn ThS. Võ Thị Hoài Thương
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử Văn Hóa
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2012
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.2. Nguồn gốc lịch sử (13)
  • 1.3. Con người Nhượng Bạn (17)
  • 1.4. Truyền thống lao động, sản xuất (21)
  • 1.5. Đặc trưng văn hoá (23)
  • Chương 2. NGHỀ CHẾ BIẾN NƯỚC MẮM NHƯỢNG BẠN (10)
    • 2.1. Khái quát về truyền thống ẩm thực ở Nhượng Bạn (35)
      • 2.1.1. Quan niệm về văn hóa ẩm thực của người Nhượng Bạn (35)
      • 2.1.2. Các món ăn tiêu biểu (38)
    • 2.2. Đặc sản nước mắm Nhượng Bạn (42)
      • 2.2.1. Nguồn gốc (42)
      • 2.2.2. Nguyên liệu (45)
      • 2.2.3. Dụng cụ làm nước mắm (47)
      • 2.2.4. Quy trình chế biến (49)
      • 2.2.5. Cách thưởng thức (55)
  • Chương 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT HUY GIÁ TRỊ NƯỚC MẮM NHƯỢNG BẠN (35)
    • 3.1. Một số giá trị của nước mắm Nhượng Bạn (59)
      • 3.1.1. Giá trị lịch sử (59)
      • 3.1.2. Giá trị kinh tế (62)
      • 3.1.3. Giá trị văn hóa (65)
    • 3.2. Vấn đề bảo tồn, phát triển nghề chế biến nước mắm Nhượng Bạn trong giai đoạn hiện nay (68)
      • 3.2.1. Thực trạng phát triển nghề chế biến nước mắm Nhượng Bạn hiện nay (68)
      • 3.2.2. Một số giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy giá trị nước mắm Nhượng Bạn (73)
  • KẾT LUẬN (78)

Nội dung

Nguồn gốc lịch sử

Dựa trên tài liệu thực địa và các nguồn địa chí, đặc biệt là bản dịch chuông, bia, khánh tại di tích chùa Yên Lạc, cho thấy Nhượng Bạn - Cửa Nhượng có nguồn gốc từ vùng đất cổ Kẻ La/Kỳ La, nằm gần bờ bắc Cửa Nhượng với hai ngọn núi nổi bật trên bãi biển Rú Trộn và Rú Gùm, còn ở phía bờ nam là dãy núi Rú Cửa Dải đất trải dài từ Rú Trộn ở Tây Bắc đến Rú Cửa ở Đông Nam Trước sự xâm lấn của người Hán, tên gọi “Kẻ La” đã được biến đổi thành “Cơ La”, cho thấy tên gọi này đã tồn tại hơn một ngàn năm, phản ánh lịch sử lâu đời của khu vực.

Sách Đại Việt sử ký toàn thư chỉ một lần duy nhất chép rõ danh xưng

Cửa biển Cơ La, được gọi là Kỳ La vào đầu thế kỷ XV, từng là nơi Hồ Quý Ly chạy vào khi thất thủ ở Tây Đô và đào hang ở núi Thiên Cầm để tránh pháp luật Trong lịch sử, sự kiện tranh chấp ngai vàng của Đông Thành vương Lê Long Tích diễn ra tại Cơ La, nơi ông bị người châu Thạch Hà giết khi thua chạy vào đây Theo sách Cẩm Xuyên phong thổ chí, vào cuối đời Trần, Hồ Quý Ly khi bị mất lòng dân đã trốn vào cửa biển Kỳ La, thể hiện vai trò quan trọng của khu vực này trong các biến cố lịch sử thời kỳ đó.

“Kỳ La, Hải Khẩu ngâm hồn đoạn Cao Vọng sơn đầu khách tứ sầu”

Tạm dịch: Bãi bể Kỳ La thơ rơi giọng

Trên non Cao Vọng khách trêu người

Hồ Quý Ly không tin, sau đó bị giặc Minh bắt tại đây

Kể từ thế kỷ XV trở đi, tên gọi Kỳ La trở nên phổ biến trong các ghi chép lịch sử của Đại Việt Theo sách Hồng Đức bản đồ, được soạn vào năm 1490, dưới triều vua Lê Thánh Tông (1460-1487), đã ghi nhận cụm từ “Kỳ La môn” để chỉ cửa ải hoặc trạm kiểm soát.

Kỳ La) vào đúng vị trí cửa biển hiện nay Hay có sách ghi Kỳ La Hải Khẩu cũng có ý nghĩa như vậy” [22, tr.3]

Từ thế kỷ XVII trở đi trên sử sách xuất hiện tên Nhượng Bạn - tức là Nhượng Bạn Môn hay Hải Bạn Môn

Từ Kẻ La đến Cẩm Nhượng là một sợi dây liên tục phản ánh quá trình lịch sử và phát triển của khu vực này Qua hàng nghìn năm, từ một Kẻ La mênh mông biển trời, vùng đất này đã trải qua quá trình chinh phục, cải tạo thiên nhiên và xây dựng cộng đồng của người miền biển đất muối Sự kết nối này thể hiện rõ nét sự thay đổi và phát triển không ngừng của vùng đất Cẩm Nhượng qua thời gian.

Theo sử sách ghi lại, đất huyện Kỳ Hoa từng thuộc về lãnh thổ của thời Tần, sau đó được ghi nhận thuộc về huyện Hà Hoa dưới thời Minh, cho thấy quá trình thay đổi địa giới hành chính qua các triều đại lịch sử Việt Nam.

Hà Hoa và Kỳ La thuộc châu Nam Tĩnh” [37, tr.139]

Năm Minh Mạng thứ 17 (1836), xã Nhượng Bạn thuộc tổng Lạc Xuyên, huyện Hoa Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh Đến năm Thiệu Trị thứ nhất (1841), huyện Kỳ Hoa được chia thành hai huyện là Kỳ Anh và Hoa Xuyên, trong đó Nhượng Bạn nằm trong huyện Hoa Xuyên Sau đó, huyện Hoa Xuyên đổi tên thành Cẩm Xuyên Sau Cách mạng tháng Tám, chính quyền mới đã bỏ địa giới tổng Lạc Xuyên, và xã Nhượng Bạn trở thành phần của huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.

Năm 1956, Nhượng Bạn đổi tên thành Cẩm Nhượng, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh và tồn tại đến nay

Xã Nhượng Bạn tương truyền được thành lập vào cuối đời Trần thế kỷ

Theo truyền ngôn, cư dân cổ từ nhiều nơi tụ tập sinh sống tại vùng cuối sông Quèn, sông Rác (Lạc Giang), làm nghề đánh cá và buôn bán, trong đó có một bộ phận sinh sống trên những chiếc xuồng nhỏ hẹp gọi là Bồ Lô Xuân Hồi Một thời gian sau, nhằm khuyến khích họ trên cạn làm nhà ở, người dân đã sử dụng những câu ca dao châm biếm để động viên, thể hiện sự chuyển đổi từ sinh sống trên sông nước sang cư trú cố định trên đất liền.

Bồ Lô Xuân Hồi Không nồi nấu ăn Không khăn buộc trốôc (đầu) Không nốôc (thuyền) đi câu Không bầu đựng gạo

Theo Địa chí Cẩm Xuyên của nhà nghiên cứu Thái Kim Đỉnh thì: xã

Nhượng Bạn mới có triện lý trưởng vào đời Tự Đức và theo nhiều người thì cái tên Nhượng Bạn có nghĩa là “bờ đất được nhường lại”

Xã Nhượng Bạn có nguồn gốc truyền thuyết về bà Hoàng Càn, cung phi của vua Trần, người đã giúp dân địa phương giải quyết tranh chấp đất đai Theo truyền thuyết, bà Hoàng Càn thương dân nghèo vùng Hà Hoa và vận động các làng lân cận nhường đất để lập ấp, góp phần phát triển cộng đồng Để ghi nhận công lao của bà, người dân đặt tên làng là Nhượng Bờ, sau chuyển thành Nhượng Bạn, mang ý nghĩa “đất nhường lại cho bạn bè” Truyền thuyết này được gìn giữ suốt thời kỳ khai cơ lập ấp, thể hiện lòng biết ơn và sự kính trọng đối với công lao của bà Hoàng Càn Sau khi bà mất, nhân dân xây dựng đền thờ bà, và những câu đối còn lưu giữ tại đền thể hiện lòng thành kính và ghi nhớ công ơn của bà.

“Thục đức tá tiền triều, Nhượng Bạn do truyền phong hoá cựu Thần ân lưu hậu thế, Lạc Giang trường ức bản nguyên thâm”

Công bà giúp thửa trước lập nên làng Nhượng Bạn từ xưa Ân người để đời sau như dòng sông Lạc Giang vẫn chảy dài vô tận

[10, tr 22] Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nhượng Bạn có các Vạn: Vạn Xăm, Vạn Rút, Vạn Te, Vạn Nốc Câu Chỉ trừ Vạn Nốc Câu (người Bồ

Lô Xuân Hồi sinh sống dưới thuyền, trong khi các cộng đồng dân cư khác sinh sống trên đất liền Vạn Xăm gồm các xóm như Tam Văn, Liên Hoa, Cẩm Đông, Xuân Đài, Nghi Tĩnh, mỗi xóm mang đặc trưng riêng biệt Vạn Rút không có tên xóm cố định mà thường được gọi theo tên người quen hoặc lối đi dựa trên mối quan hệ xã hội, như Lối cố Cửu Thê, cố Cháu Dục, cố Thẩm Đạm, cố Tham Hoạt Trong khi đó, Vạn Te còn gọi là Vạn Lợi Phúc Yên, phản ánh đặc điểm văn hóa và sinh hoạt của cộng đồng này Sau Cách mạng Tháng, các khu vực này đã trải qua nhiều thay đổi về tổ chức và đời sống dân cư, góp phần hình thành nét đặc trưng của vùng miền.

Các xóm ở Vạn Xăm vẫn giữ nguyên tên cũ, thể hiện nét đẹp truyền thống và sự gắn bó của cộng đồng địa phương Trong khi đó, các xóm Vạn Rút đã đổi tên mới thành các địa danh như Việt Hưng, Thọ Xuân, Xuân Liệu, Xuân Hòa, Xuân Minh và Đông Đạo, phản ánh sự thay đổi và phát triển của khu vực Xóm Vạn Lợi vẫn giữ nguyên tên gọi ban đầu, giữ gìn giá trị văn hóa và lịch sử truyền thống của vùng đất này.

Từ năm 1949 đến năm 1955 không gọi tên xóm mà gọi tên đường, ví dụ như: đường Hoàng Độ, đường Nguyễn Cừ, đường Nguyễn Sáng…

Từ ngày thống nhất đất nước 30/4/1975 đến nay, xã Nhượng Bạn có tới

Trong khu vực có 17 xóm, trong đó có đến 11 xóm được đặt tên theo các liệt sĩ quê hương đã hi sinh trong cuộc biểu tình năm 1930 hoặc có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Pháp, như xóm Lâm Hoãn, xóm Hoàng Quý, xóm Văn Hiền, xóm Hoàng Độ, xóm Hoàng Chuân, xóm Nguyễn Năm, xóm Hy Dy, xóm Hữu Dương, xóm Hoa Thưởng, xóm Lô Ngà và xóm Võ Đa Ngoài ra, còn có 6 xóm mang tên gọi khác như Liên Thành, Phúc Yên, Phúc Lợi, Tân Hải, Tân Dinh và Chùa Những tên gọi này thể hiện lòng tri ân và sự ghi nhớ công lao của các liệt sĩ đã hy sinh vì đất nước, góp phần giữ gìn truyền thống lịch sử và văn hóa của địa phương.

Và quả không sai khi người dân ở đây ngày xưa đã khẳng định rằng

“Nhất Kinh Kỳ, nhì Nhượng” thể hiện niềm tự hào về vị thế và lịch sử của vùng biển Nhượng Người dân nơi đây tin rằng với địa thế thuận lợi và truyền thống lịch sử, họ có khả năng xây dựng một quê hương ngày càng giàu đẹp Nhờ vào sự chân chất, tháo vát và khôn ngoan của người miền biển, cộng đồng đang hướng tới sự phát triển bền vững và thịnh vượng.

Con người Nhượng Bạn

Nhượng Bạn kề biển gần non Không giàu cũng khá lại khôn con người

Thiên nhiên và con người Nhượng Bạn gắn bó chặt chẽ với nhau, qua nhiều thế hệ lịch sử đã hình thành nên nét đặc trưng của làng Người dân Nhượng Bạn chủ yếu là những người tứ xứ đến lập nghiệp, trong đó các dòng họ như Nguyễn, Hoàng, Trần, Tôn đóng vai trò quan trọng trong cộng đồng Công lao khai phá, lập làng của bà Hoàng Càn được người dân tôn vinh là thành hoàng làng và hiện nay bà được thờ cúng tại Đền Cả cùng với các vị thần linh khác như Chiêu Trưng Đại Vương Lê Khôi và Chế Thắng phu nhân Nguyễn Thị Bích Châu.

Trong suốt chiều dài lịch sử, con người Nhượng Bạn đã biết cách ứng phó với thiên nhiên, vượt qua mọi khó khăn thử thách để xây dựng cuộc sống ổn định và phát triển quê hương đất nước.

Ngay từ khi đặt chân lên mảnh đất này, họ đã nhận thức rõ về những ưu điểm thiên nhiên ban tặng cũng như những thử thách khắc nghiệt của điều kiện tự nhiên Họ không chỉ tận dụng lợi thế mà còn tìm cách thích nghi dần với môi trường, sinh thái, khí hậu hải văn của vùng biển và mảnh đất này để phát triển bền vững.

Con người Nhượng Bạn luôn tác động và biến đổi thiên nhiên để phục vụ cuộc sống của mình, bất chấp những thách thức như nắng hạn, sóng to, gió lớn hay mưa bão Những khó khăn này không khuất phục họ mà ngược lại giúp tăng cường tinh thần kiên cường, nghị lực bền bỉ, sức vóc dẻo dai và ý chí vững vàng của con người trong việc chinh phục thiên nhiên.

Ngư dân là lực lượng lao động chính của địa phương, chiếm tới hai phần ba tổng số lao động trong xã Họ đóng vai trò then chốt trong hoạt động sản xuất nghề cá, góp phần tạo nguồn thu nhập chủ yếu cho cộng đồng Nhờ những nỗ lực không ngừng trong nghề biển, ngư dân giúp phát triển kinh tế địa phương và đảm bảo cuộc sống ổn định cho người dân.

Ngư dân hoạt động sản xuất trên biển luôn phải chống chọi với sóng gió và biển cả, đối mặt với những thử thách gian nan và nguy hiểm Khi thời tiết thuận lợi, họ ra khơi bằng thuyền nhỏ, dùng buồm đệm, chèo tay, trong khi vẫn còn phải đối mặt với rủi ro nếu gặp bão lớn, khi con thuyền lênh đênh giữa sóng gió dữ dội “ngàn cân treo sợi tóc” Tuy nhiên, những thử thách này không làm nhụt chí ngư dân Nhượng Bạn mà ngược lại, giúp họ ngày càng kiên cường, quả cảm, sáng tạo trong sản xuất và đời sống Họ tích lũy kinh nghiệm để vượt qua hiểm họa của gió bão, bảo vệ tính mạng của mình, đồng thời vẫn giữ vững niềm tin vào khả năng cải thiện cuộc sống Tuy nhiên, do hoàn cảnh biển dã, thu hoạch thất thường, họ vẫn duy trì niềm tin tâm linh, cầu mong bình an qua các lễ cúng, mang đậm nét mê tín, ảnh hưởng lớn đến tư tưởng của họ.

Người Nhượng Bạn không chỉ đấu tranh với thiên nhiên mà còn chống lại xã hội phong kiến đầy áp bức và bất công Chính quyền phong kiến áp đặt chế độ thuế, lao dịch, quan lại tham nhũng, cường hào hối lộ và bạo lực đè nặng lên cuộc sống khốn khổ của dân Thêm vào đó, thực dân Pháp thúc đẩy các phong tục lạc hậu, thực hiện chính sách ngu dân, chia rẽ lương giáo để dễ bề cai trị Chính sách bần cùng hóa, phá sản của thực dân Pháp gây ra đói nghèo, thảm họa như trận đói năm 1945 khiến hàng nghìn người chết và nhiều người phải bán nhà, bỏ quê hương để chạy trốn nợ nần, thậm chí phá vỡ gia đình, gây ra nỗi đau đớn không nguôi.

Dù gặp nhiều khó khăn, tinh thần yêu nước và lòng căm thù của người dân Nhượng Bạn vẫn không bị dập tắt Họ thể hiện tinh thần bất khuất và ý chí độc lập mạnh mẽ trong cuộc đấu tranh chống lại chế độ phong kiến và chính quyền thực dân - đế quốc Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, hàng trăm người con của Nhượng Bạn đã ra trận, hy sinh để bảo vệ tổ quốc, thể hiện lòng yêu nước sâu sắc và tinh thần chiến đấu kiên cường.

Con người Nhượng Bạn dần dần trưởng thành qua những thử thách của cuộc sống, hình thành nên những truyền thống và phẩm chất tốt đẹp Qua quá trình gian lao, họ rèn luyện ý chí kiên cường, lòng nhân ái, và tinh thần vượt khó Những truyền thống này thể hiện rõ nét trong hành động sống có trách nhiệm, biết sẻ chia và giữ gìn giá trị đạo đức Sự trưởng thành của con người Nhượng Bạn góp phần xây dựng cộng đồng vững mạnh, đáng tin cậy và đoàn kết.

Dù công việc có vẻ khô khan, khắc khổ, con người nơi đây vẫn giữ được tinh thần lạc quan, yêu đời và tràn đầy ý chí, nghị lực cũng như ước mơ, hoài bão Tinh thần tích cực này được thể hiện rõ nét trong sản xuất và đời sống hàng ngày, qua những điệu ví, lời vè, khúc hát dặm truyền thống vẫn còn được lưu giữ và truyền tụng trong dân gian.

Trong những hoàn cảnh khó khăn, người dân Nhượng Bạn thể hiện lòng kiên cường, dũng cảm và sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp lớn của đất nước Họ không lùi bước trước gian khổ, mà kiên trì chiến đấu để bảo vệ quê hương trong cuộc chiến đấu kéo dài chống giặc ngoại xâm Trước tình cảnh đói nghèo, người dân vẫn giữ vững tinh thần lạc quan, không tuyệt vọng, sẵn sàng đối mặt với hiểm nguy, chấp nhận hy sinh để đấu tranh chống lại kẻ thù giai cấp và dân tộc Trong chiến tranh chống Pháp và Mỹ, nhiều anh hùng như Nguyễn Sáng, Hoàng Chuân, Nguyễn Năm đã xuất hiện, cùng với sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương, nhân dân hăng hái sản xuất để cung cấp vũ khí, lương thực cho tiền tuyến, góp phần vào chiến thắng giải phóng dân tộc.

Người dân nơi đây có phong cách sống giản dị, thiết thực và tiết kiệm, thể hiện qua quan niệm “ăn chắc mặc bền” Họ sống hướng về tình cảm, yêu thương và giúp đỡ lẫn nhau, xây dựng cộng đồng đoàn kết Tính cách chân thành, thẳng thắn và yêu thích sự thật thà chiếm ưu thế, trong khi đó, họ tránh xa những hình thức hào nhoáng, nhất là việc khoe khoang.

“Đói trong bụng không ai hay Nhưng mặt mày phải sáng sủa”

Người dân Nhượng Bạn quen sống trong cơ cấu xóm làng với mối quan hệ bà con thân thiết, giúp đỡ lẫn nhau trong lao động và lúc gặp khó khăn Tình nghĩa xóm làng đã góp phần làm nổi bật tình yêu đất nước và quê hương Dù sống xa quê hương hoặc đi làm ăn ở nơi khác, người Nhượng Bạn vẫn luôn hướng về nơi tổ tiên đã khai sinh, giữ gìn tình cảm quê hương thiêng liêng.

Cẩm Nhượng là mảnh đất truyền thống hiếu học, dù khó khăn về kinh tế nhưng ai cũng mong muốn con em được học hành để trở thành người Những bia phả dòng họ và truyền thuyết dân gian lưu truyền nhiều tấm gương hiếu học đáng quý Trong suốt các thời kỳ lịch sử, những cụ nho, thầy giáo dạy học luôn được dân làng trân trọng, góp phần nuôi dưỡng nền văn hóa học vấn của địa phương.

Người dân Việt Nam, đặc biệt ở các địa phương, luôn coi trọng đời sống tâm linh để tưởng nhớ công lao của những người đã hy sinh trong quá trình lao động, chống thiên nhiên và giặc ngoại xâm Trong các làng xóm, thường có các công trình kiến trúc tâm linh cổ kính như đình, đền, chùa, miếu để gửi gắm niềm tin vào các vị thần thánh nhằm giải thoát nỗi bất hạnh và duy trì đời sống tinh thần phong phú Toàn bộ xã Cẩm Nhượng sở hữu đến 20 di tích tâm linh như Chùa Yên Lạc, Miếu cá ông, Đền thờ ông Văn Hiền, Đền Cả, phản ánh tầm quan trọng của văn hóa tín ngưỡng trong đời sống cộng đồng.

Truyền thống lao động, sản xuất

Người dân Cẩm Nhượng chủ yếu sinh sống và làm ăn dựa vào ngư nghiệp, dựa trên sức lao động cần cù, chịu đựng khó khăn trong điều kiện gió to sóng dữ Họ không ngần ngại dấn thân ra khơi, khai thác mọi nguồn lợi hải sản để phát triển kinh tế địa phương Nhờ vào ý chí kiên cường và nghề đánh bắt truyền thống, Cẩm Nhượng đã hình thành những xóm làng trù phú, đông vui, góp phần vào sự phát triển bền vững của cộng đồng.

Ngư dân lâu đời đã tích lũy kinh nghiệm quý báu trong đánh bắt cá biển, hiểu rõ đặc điểm đáy biển như bãi cát, bãi bùn, rạn quánh và thời điểm nước trâm trở hay nước mặn lên Họ biết nhận biết loại cá phù hợp để câu, dựa trên sự am hiểu về thời điểm hừng đông và bóng nước, từ đó sáng tạo ra các loại câu và kết cấu lưới phù hợp như lưới dày, thưa, dài ngắn cho các loại hải sản khác nhau như cá, tôm, mực Phương pháp đánh bắt trong lộng đa dạng với các loại lưới năm, lưới mười, rê trích, rút lộng, te bẫy; ngoài ra, còn có các phương pháp đánh khơi như rút khơi, câu vàng, câu bóng, rê khơi Nhờ những kinh nghiệm đó, hàng năm người ngư dân khai thác trung bình từ 3.000 đến 5.000 tấn hải sản các loại, đóng vai trò quan trọng trong ngành thủy sản địa phương.

Nước mắm Nhượng Bạn nổi tiếng về chất lượng và hương thơm đặc trưng từ lâu đời, được công nhận là sản phẩm đạt tiêu chuẩn tại hội chợ Huế năm 1937 Các nghề truyền thống như cá nướng, mực khô và chế biến nước mắm đòi hỏi kỷ luật cao trong quá trình sản xuất Viện vi trùng học Bộ Y tế đã xác nhận rằng nước mắm Nhượng Bạn đảm bảo về chất lượng, có độ đạm cao và an toàn cho sức khỏe Mỗi năm, nhà máy sản xuất hàng ngàn lít nước mắm để phân phối khắp các huyện trong tỉnh và các vùng miền trong Nam ngoài Bắc, được người tiêu dùng ưa chuộng và đánh giá cao về hương vị và độ tin cậy.

Nghề làm muối là ngành nghề sản xuất quan trọng, là nguồn sống chính của diêm dân và cung cấp muối ăn cho nhân dân trong tỉnh, phục vụ cho sản xuất và chế biến nước mắm trong xã Theo sử liệu, nghề làm muối vùng ven biển Châu Hoan (Nghệ Tĩnh) từ thế kỷ XIV đã phát triển mạnh mẽ Truyền thuyết kể rằng ông Trúc Lĩnh là người hướng dẫn nhân dân Nhượng Bạn làm muối, góp phần hình thành nghề truyền thống này.

Ngoài ra, còn có các nghề như đóng thuyền, đóng thuyền gỗ chở nước mắm và thợ mộc nhằm phục vụ cho ngành nghề đánh bắt cá và chế biến nước mắm Các ngành nghề này đóng vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng và phát triển ngành thủy sản, góp phần nâng cao năng lực sản xuất và đảm bảo chất lượng sản phẩm.

Mọi nhu cầu sinh hoạt cuộc sống của nhân dân hàng ngày đều phụ thuộc vào gạo, chợ, nước sông nên đã hình thành mỗi ngày hai phiên chợ

Chợ Mai họp vào buổi sáng tại đầu làng, còn chợ Hôm diễn ra vào buổi chiều ở giữa làng, tạo nên nhịp sống sôi động mỗi ngày Trước đình làng Xuân, bên cạnh Đền Cả, có cây đa và cây bàng cổ thụ vươn cành, tạo bóng mát mát dịu Ven sông, bến thuyền hàng ngày tấp nập, góp phần vào hoạt động buôn bán đông vui và thịnh vượng của làng quê.

Từ đây đã hình thành một mạng lưới tiểu thương khá đông để phục vụ đời sống hàng ngày của nhân dân

Ngành sản xuất, đặc biệt là nghề làm nước mắm, cùng mạng lưới tiểu thương đã góp phần quan trọng vào sự phát triển của làng Nhượng Bạn trong nền kinh tế thị trường hàng hóa Sự đa dạng các hoạt động sản xuất này đã tạo ra nguồn động lực lớn thúc đẩy sự phát triển toàn diện về kinh tế, văn hóa và xã hội của cộng đồng Nhờ vào sự kết hợp của các ngành nghề truyền thống và mạng lưới thương mại, làng Nhượng Bạn đã trở nên năng động, phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

NGHỀ CHẾ BIẾN NƯỚC MẮM NHƯỢNG BẠN

Khái quát về truyền thống ẩm thực ở Nhượng Bạn

2.1.1 Quan niệm về văn hóa ẩm thực của người Nhượng Bạn

Từ buổi bình minh của lịch sử đến thời kỳ xã hội phát triển, nhu cầu ăn uống của con người không ngừng thay đổi Trong xã hội nguyên thủy, con người đơn giản kiếm ăn bằng săn bắt, hái lượm và ăn sống nuốt tươi, nhưng việc phát hiện ra lửa đã làm cho thành phần bữa ăn trở nên đa dạng và phong phú hơn Khi xã hội có nhà nước và phân hóa giai cấp, con người bắt đầu sáng tạo các dụng cụ phục vụ ăn uống, phản ánh rõ sự phân tầng xã hội qua các món ăn dành cho người giàu và người nghèo.

Ăn uống từ lâu đã phản ánh trình độ phát triển sản xuất và lối ứng xử của con người với thiên nhiên Nó thể hiện nét đặc trưng văn hóa, phong tục, đạo đức và tâm lý của mỗi dân tộc, đồng thời phản ánh nếp sống của cộng đồng Ẩm thực không chỉ mang ý nghĩa văn hóa mà còn thể hiện trình độ, thị hiếu thẩm mỹ của con người qua các thời kỳ Do đó, ẩm thực là một phạm trù liên quan chặt chẽ đến kinh tế, văn hóa và nghệ thuật, phản ánh toàn diện đời sống và đặc trưng riêng của mỗi quốc gia.

Người Việt coi ăn là nhu cầu thiết yếu hàng đầu, phản ánh qua các câu tục ngữ như “Dân vi thực dĩ thiên” (Có ăn mới sống) và “thực túc binh cường”, thể hiện tầm quan trọng của ẩm thực trong đời sống Ẩm thực không chỉ đơn thuần là hành vi ăn uống mà còn là biểu hiện văn hóa thể hiện sự lịch thiệp và tình nghĩa, như “lời chào cao hơn mâm cỗ” hay “ăn có mời làm có khiến” Việc ăn uống là một nghệ thuật, phản ánh đặc điểm môi trường, tình hình lương thực và phong tục tập quán của từng địa phương Ở vùng biển Nhượng Bạn, do đất cát khô hạn không trồng lúa hay cây hoa màu, nhưng lại có nhiều cá biển, tạo nên đặc trưng ẩm thực của cộng đồng nơi đây.

Ai về Nhượng Bạn thì về Gạo nhiều, cá lắm dễ bề làm ăn

Người dân quanh năm chỉ quen ăn các món đơn giản như dưa cà mắm mặn, trong khi thịt cá ngon lành thường chỉ xuất hiện trong những dịp đặc biệt như ngày giỗ hoặc Tết Các loại đường, mật cũng chỉ được sử dụng trong các dịp lễ hội hoặc ngày Tết, còn những ngày bình thường họ lại thiếu thốn thức ăn Trong những năm tháng khó khăn, việc có thực phẩm đủ đầy để ăn hàng ngày là điều xa xỉ, khiến cuộc sống trở nên vất vả hơn.

Trong các gia đình Việt Nam, nồi đất thường được sử dụng để nấu cơm, kho cá, nấu canh và nấu nước, thể hiện nét văn hóa truyền thống gắn bó với ẩm thực dân gian Chỉ có những gia đình may mắn mới sở hữu một chiếc nồi đồng do ông cha truyền lại từ đời này qua đời khác, tượng trưng cho truyền thống và sự gắn kết Bát đũa trong gia đình thường đơn sơ, gồm vài chiếc bát và đĩa cũ kỹ, phản ánh điều kiện mua sắm còn hạn chế và sự giản dị trong sinh hoạt hàng ngày Vào những dịp lễ giỗ, tết, gia đình thường mượn đồ đạc lẫn nhau để tổ chức mọi việc, thể hiện tính cộng đồng, sẻ chia và giữ gìn nét đẹp truyền thống truyền thống của dân tộc.

Trong mỗi bếp thường xuyên có sẵn bồ đựng muối, vại cà nén và lọ mắm ruốc để phục vụ cho chế biến bữa ăn gia đình hàng ngày Người Việt ưu tiên cách ăn nhanh, dọn cơm ra và cùng nhau thưởng thức trên bàn, không kéo dài thời gian ăn uống, và khi đã xong thì đứng dậy ngay lập tức Tuy nhiên, trong các buổi thiết đãi hoặc chuyện trò, việc ăn uống thường được kéo dài hơn để tạo không khí thân mật và gắn kết.

Người Cẩm Nhượng có lối ăn uống giản dị, không nhiều khác biệt so với cuộc sống của người dân trung bình trong khu vực Trước đây, họ sống bằng nghề biển và dựa vào gạo chợ sông, với hai bữa ăn chính hàng ngày Người nghèo thường ăn gạo rẻ tiền, độn khoai, ngô cùng rau, trong khi người khá giả mới có điều kiện thưởng thức các loại ngon hơn Khẩu vị của người Nhượng thích ăn mặn, thường có canh, dưa, cà muối trong bữa cơm, và ưa thích món cá hầm hoặc cá băm viên rán chín.

Người dân mong chờ mùa gặt để có thể ăn uống thoải mái sau những ngày đói khát và vất vả vì đói kém Họ hy vọng tháng năm và tháng mười sẽ đến nhanh chóng để mùa màng phong phú, đảm bảo cuộc sống no đủ hơn Khi mùa vụ thành công, họ sẽ có cuộc sống ấm no, tránh khỏi cảnh đói khát kéo dài.

Bao giờ cho đến tháng mười, Nồi cơm ngồi cười, nồi cá ngồi reo

Khái niệm “ăn” đối với người Nhượng phù hợp với định nghĩa trong “Từ điển tiếng Việt” [13, tr.65], cho rằng “ăn là tự cho vào cơ thể thức ăn để nuôi sống, điều kiện tiên quyết là phải ăn no” Trước đây, khái niệm “ăn sang” dường như chỉ xuất hiện trong suy nghĩ của họ và ít khi có cơ hội được hưởng cuộc sống ăn sang trọng.

Trước đây, người lớn và trẻ em thường uống nước lã hoặc nước chè đặc, trong khi người lao động thích thưởng thức rượu trắng có nồng độ cao và không kèm đồ nhắm phức tạp Người giàu thường ưa chuộng rượu ngâm thuốc bắc, còn những người dân như Nhượng Bạn lại nghiện nước chè xanh, thường xuyên chuẩn bị 2 đến 3 ấm chè mỗi ngày, đặc và đậm vị, bất kể có khách hay không.

Trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945, ở Cẩm Nhượng có nấu loại

“Rượu ngang” là loại rượu tự nấu phổ biến ở vùng quê, khác với rượu ty của người Pháp bắt buộc phải mua uống Rượu ngang thường được làm bởi người dân trong địa phương và chỉ dùng trong các dịp đặc biệt như giỗ chạp, khách khứa mới mua để thưởng thức Đây là nét đặc trưng của văn hóa ẩm thực quê nhà, thể hiện sự tự cung tự cấp và gắn bó cộng đồng.

Các bà, các chị hay ăn trầu, đàn ông thích hút thuốc lá, sợi

Khách khứa đến nhà thường được đãi các món hải sản như cá ngon, mực ống, tôm cua, hoặc làm gỏi cá ăn kèm bánh đa, bánh cặp, phản ánh sự hợp khẩu vị và sự tinh tế trong ẩm thực của người Cẩm Nhượng, đồng thời thể hiện dấu ấn văn hóa biển và sự sáng tạo của địa phương Trong dịp Tết, người dân thường gói bánh chưng, bánh rán, bánh ngào, bánh trôi, cùng với cốm trộn mật, trong khi mứt ít khi được làm tại nhiều nhà Các gia đình khá giả chuẩn bị xôi vò và các loại giò chả để thưởng thức trong dịp lễ Các loại gia vị như hành, tỏi, tiêu, ớt, mùi là phần không thể thiếu, phù hợp với khẩu vị của người nơi đây Hầu hết nhà nào cũng thích ăn các món như giả cầy, thịt cói, chim én, và nhiều người còn yêu thích cháo chè, có thể ăn từ 8 đến 10 bát một lần, thậm chí nhiều người thưởng thức tới hàng chục bát mỗi khi tụ họp.

Người dân Nhượng Bạn có thói quen phơi, sấy thức ăn để bảo quản lâu dài và dự trữ trong những ngày đông giá rét, như cá, mực, ruốc và các loại thực phẩm khác Họ cũng sử dụng các nguyên liệu này để chế biến thành các sản phẩm truyền thống như nước mắm, mắm tôm, góp phần giữ gìn nét văn hóa ẩm thực đặc trưng của địa phương.

Ngày nay, đời sống ngày càng nâng cao, chuyển đổi từ việc chặt to kho mặn sang các phương pháp chế biến như chiên rán, xào hấp, phù hợp với lối sống hiện đại Phụ nữ đã biết sáng tạo trong nấu nướng, tạo ra những món ăn vừa ngon miệng, đẹp mắt, mang tính thẩm mỹ mà vẫn đơn giản, không quá cầu kỳ Thực phẩm và ẩm thực của người dân Nhượng Bạn đã bước vào một thời kỳ mới, phản ánh xu hướng ăn uống theo lối sống công nghiệp hóa, phù hợp với nhịp sống hiện đại.

2.1.2 Các món ăn tiêu biểu Đất Nhượng Bạn nổi tiếng với nghề chế biến nước mắm truyền thống Ngoài ra, người dân nơi đây còn có sự sáng tạo trong việc chế biến từ nguồn nguyên liệu hải sản thành các món ăn ngon và đặc thù của vùng quê biển xứ Nghệ

MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT HUY GIÁ TRỊ NƯỚC MẮM NHƯỢNG BẠN

Một số giá trị của nước mắm Nhượng Bạn

Nghề chế biến nước mắm truyền thống Nhượng Bạn tại xã Cẩm Nhượng, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh nổi bật với sản phẩm nước mắm đặc trưng của vùng Nghệ An, mang trong đó giá trị lịch sử, kinh tế và văn hóa sâu sắc Nghề làm nước mắm truyền thống này đã tồn tại hàng trăm năm, góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương và giữ gìn nét văn hóa đặc trưng của vùng Nước mắm Nhườn Bạn không chỉ nổi tiếng về chất lượng mà còn phản ánh truyền thống làng nghề và phong tục tập quán của người dân nơi đây Sản phẩm nước mắm này góp phần nâng cao thương hiệu và vị thế của Hà Tĩnh trên thị trường trong và ngoài nước.

Nghề chế biến nước mắm ở Cẩm Nhượng không chỉ nổi tiếng với những chai nước mắm hảo hạng, mà còn là nghề thủ công có lịch sử hình thành lâu đời Đây là truyền thống văn hóa đặc sắc của địa phương, góp phần giữ gìn nét đẹp trong sản xuất nước mắm truyền thống Với kinh nghiệm nhiều thế hệ, người dân Cẩm Nhượng đã sáng tạo ra những phương pháp chế biến độc đáo, tạo nên thương hiệu nước mắm nổi tiếng trong và ngoài nước Nghề làm nước mắm ở Cẩm Nhượng không chỉ là nguồn thu nhập quan trọng mà còn là biểu tượng của sự gắn bó, bền vững với truyền thống làng nghề.

Nghề làm nước mắm truyền thống ở Cẩm Nhượng có lịch sử hình thành từ rất sớm nhờ vào lợi thế phát triển nghề cá Ban đầu, ngư dân dựng lều tạm trên các khu vực ven sông, bãi biển để sinh sống và đánh bắt hải sản Do lượng cá bắt được không tiêu thụ hết, họ đã chuyển sang phương pháp muối cá để bảo quản Qua thời gian, ngư dân tích lũy kinh nghiệm và sáng tạo ra kỹ thuật kéo rút nước mắm từ nguyên liệu thô sơ đến quy trình hoàn chỉnh, góp phần xây dựng nghề truyền thống đặc trưng của địa phương.

Nghề sản xuất nước mắm Nhượng Bạn hình thành cùng lúc với nghề đánh cá tại Cẩm Nhượng từ lâu đời Ban đầu, các ngư dân chủ yếu dùng chum, vại, mái để muối cá, tạo nên truyền thống làm nước mắm từ thế hệ này sang thế hệ khác Nghề làm nước mắm đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống của người dân Cẩm Nhượng, với mỗi gia đình sở hữu từ 5 đến 7 vại nước mắm muối để sử dụng trong sinh hoạt hàng ngày.

Ngược dòng lịch sử, cho đến năm 997, người Việt đã biết chế biến và sử dụng nước mắm, và nước mắm đã được ghi nhận trong các tài liệu lịch sử như Đại Việt sử ký toàn thư Điều này cho thấy nước mắm từng là một đặc sản nổi tiếng, đến mức vua chúa Trung Hoa dù cách xa vạn dặm vẫn nhận thấy mùi thơm của nó và đòi triều cống nước mắm cho triều đình Đại Việt Tuy nhiên, nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân đặt câu hỏi, tại sao người Trung Hoa không có truyền thống ăn nước mắm mà lại đòi cống nước mắm từ Việt Nam, hay liệu vào thời Tiền Lê, nước mắm Việt trở nên hiếm quý, đến mức phải dùng để ép buộc các bên trao đổi Sau đó, nước mắm còn xuất hiện trong các tác phẩm như Phủ biên tạp lục, khẳng định vai trò quan trọng của nó trong lịch sử ẩm thực Việt Nam.

Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, xuất bản vào đầu thế kỷ XIX, là một tác phẩm quan trọng ghi nhận các kiến thức lịch sử và hành chính của triều Nguyễn Bên cạnh đó, cuốn Gia Định thành thông chí của Lê Quý Đôn, ấn hành cuối thế kỷ XVIII, cung cấp một cái nhìn toàn diện về thành phố Gia Định, góp phần làm rõ nét hình ảnh đô thị trong lịch sử Việt Nam Các tác phẩm này đều đóng vai trò thiết yếu trong công cuộc lưu truyền và bảo tồn di sản văn hóa, lịch sử của đất nước qua các thời kỳ.

Trịnh Hoài Đức, đầu thế kỷ XIX) và trong các bộ sử của triều Nguyễn như

Trong các tài liệu thư tịch như Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ và Đại Nam nhất thống chí, nước mắm được coi là một thổ sản quan trọng của nhiều địa phương ở Đàng Trong, thể hiện vai trò đặc biệt của ngành đóng góp vào nền kinh tế địa phương và nét đặc trưng văn hóa truyền thống của khu vực này.

Phủ biên tạp lục ghi nhận nước mắm là mặt hàng bắt buộc các chúa Nguyễn phải nộp thuế biệt nạp, thay thế cho thuế đinh truyền thống Thay vì phải nộp thuế thân, các hộ dân làm nghề nước mắm hàng năm phải nộp một lượng nước mắm nhất định cho triều đình nhà chúa, thể hiện vai trò quan trọng của nước mắm trong hệ thống thuế và kinh tế vùng miền.

Năm Thuận Thiên thứ 5 (1013), triều đình nhà Lý Thái Tổ quy định nước mắm là một trong sáu loại thổ sản bắt buộc nộp thuế biệt nạp, phản ánh sự coi trọng của nhà nước đối với ngành sản xuất này Vào thế kỷ 18,Under triều đại Lê, năm Cảnh Hưng thứ 4 (1743), nhà vua ban hành quy định về hạn mức số lượng nước mắm các phường nghề phải nộp, thể hiện sự kiểm soát chặt chẽ về sản lượng và thu thuế từ ngành công nghiệp này.

Nước mắm trong các tài liệu cổ được gọi bằng Hán tự là thủy hàm (水鹹) hoặc hàm thủy (鹹水), có nghĩa là “nước mặn” Theo đó, thuật ngữ này phản ánh đặc tính của nước mắm là loại nước mặn truyền thống của Việt Nam Các nguồn tư liệu này giúp chúng ta hiểu rõ hơn về lịch sử và ý nghĩa của nước mắm trong văn hóa ẩm thực Việt Nam Trong cuốn Đông phương phong tục văn hóa từ điển, các nhà nghiên cứu cũng đề cập đến vai trò của nước mắm như một phần không thể thiếu trong đời sống hàng ngày và nét đặc trưng của văn hóa ẩm thực khu vực Đông Nam Á.

Trung Quốc đã biên soạn và đề cập đến đặc trưng văn hóa ẩm thực của người Việt Nam với 4 món tiêu biểu, gồm nước mắm, thuốc lào, bánh chưng và trầu cau Trong sách, “nước mắm” được gọi là Việt Nam ngư lộ, trong đó “ngư” nghĩa là cá và “lộ” nghĩa là giọt sương, thể hiện nguồn gốc sinh ra của loại nước chấm này Mặc dù tên gọi này phản ánh đúng bản chất của nước mắm qua nguồn gốc tự nhiên, nhưng chính mùi đặc trưng mới là yếu tố giúp người ta nhận diện và nhớ đến loại nước chấm này Vì vậy, giữ nguyên tên gọi “nước mắm” vốn có của người Việt là phù hợp để phản ánh đúng giá trị văn hóa ẩm thực độc đáo của món ăn này.

Nước mắm đã được ghi nhận trong các tài liệu cổ Việt Nam cũng như phản ánh trong hồi ký của các nhà phương Tây từng sinh sống ở Việt Nam hàng trăm năm trước Christophoro Borri, một giáo sĩ người Ý sống ở Đàng Trong đầu thế kỷ XVII, mô tả trong hồi ký năm 1621 rằng người Đàng Trong tiêu thụ nhiều cá và đặc biệt chú trọng chế biến nước ‘balaciam’ từ cá ướp muối, có hương vị cay nồng như mù tạt, dùng để kích thích vị giác khi ăn cơm Ông nhấn mạnh rằng, nước cá này là thành phần không thể thiếu trong bữa ăn, giúp món ăn thêm đậm đà, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc liên tục đánh cá để duy trì lượng lớn nước mắm phục vụ nhu cầu ẩm thực của người dân.

Nước mắm là phần không thể thiếu trong đời sống và văn hóa của người Việt, có lịch sử tồn tại lâu dài qua hàng thế kỷ Đây chính là linh hồn của ẩm thực Việt, tạo nên sự khác biệt đặc trưng so với ẩm thực của các quốc gia khác Giá trị của nước mắm mang tính độc đáo vô song, đóng vai trò quan trọng trong nghệ thuật ẩm thực Việt Nam và góp phần duy trì sức sống mạnh mẽ của văn hóa Việt.

Nghề làm nước mắm có giá trị lịch sử đặc biệt, góp phần xây dựng nhiều thương hiệu nước mắm nổi tiếng tại Việt Nam như Phú Quốc, Phan Thiết, Cát Hải, Vạn Phần và Nhượng Bạn Trong đó, nước mắm Bà Thắm là thương hiệu nổi bật nhất, phản ánh truyền thống lâu đời và sự phát triển bền vững của ngành nghề này.

Cẩm Nhượng nổi tiếng từ thời thuộc Pháp với nghề sản xuất nước mắm truyền thống Nghề chế biến nước mắm ở Cẩm Nhượng đã duy trì và phát triển qua nhiều thế hệ, góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa của người Việt Trên bình diện lịch sử, nghề làm nước mắm Cẩm Nhượng đã phát huy giá trị và thế mạnh, trở thành thương hiệu đáng tự hào của địa phương.

Vấn đề bảo tồn, phát triển nghề chế biến nước mắm Nhượng Bạn trong giai đoạn hiện nay

3.2.1 Thực trạng phát triển nghề chế biến nước mắm Nhượng Bạn hiện nay

- Thuận lợi về vị trí địa lý:

Thương hiệu nước mắm Nhượng Bạn thuộc xã Cẩm Nhượng, có vị trí địa lý chiến lược thuận lợi cho phát triển nghề làm nước mắm Xã giáp các khu vực Cẩm Long, Cẩm Phúc, huyện Cẩm Xuyên, tạo điều kiện để sản phẩm nước mắm của làng Nhượng Bạn được nhiều nơi biết đến Đường tỉnh lộ 14 kết nối Cẩm Nhượng với thị trấn Cẩm Xuyên chỉ dài chưa đầy 13 km, giúp giao thương thuận lợi Vị trí trung tâm này còn gần thành phố Hà Tĩnh phía bắc, Hồ Kẻ Gỗ phía tây, thị trấn Kỳ Anh, cảng nước sâu Vũng Áng về phía nam, nâng cao khả năng phát triển và mở rộng thị trường cho thương hiệu nước mắm Nhượng Bạn.

Bước tới đèo ngang để ngắm Quảng Bình là trải nghiệm không thể bỏ qua khi di chuyển qua đường số 1 từ thị trấn Cẩm Xuyên Tuyến đường này giúp dễ dàng di chuyển xuôi Nam, ra Bắc, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động giao thương và buôn bán hàng hóa Đây là tuyến đường huyết mạch kết nối vùng miền, thúc đẩy phát triển kinh tế và du lịch tại Quảng Bình.

Vị trí địa lý thuận lợi giúp việc vận chuyển nguyên liệu và tiêu thụ hàng hóa trở nên dễ dàng hơn, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Ngoài ra, địa điểm thuận lợi còn thu hút vốn đầu tư từ các nguồn bên ngoài, góp phần thúc đẩy sự phát triển của các cơ sở sản xuất và kinh doanh.

- Thuận lợi về nguồn nguyên liệu:

Nguyên liệu chính cho việc sản xuất nước mắm chủ yếu xuất phát từ nguồn lợi tự nhiên, đặc biệt là các loại cá và hải sản dồi dào tại vùng biển Cẩm Nhượng Theo khảo sát của các nhà hải dương học, vùng biển này có khoảng 267 loại cá thuộc 90 họ, trong đó có 60 loại có giá trị kinh tế cao, đảm bảo nguồn nguyên liệu phong phú cho ngành chế biến nước mắm Các tài nguyên biển như tôm, tép và cá nhỏ có sản lượng lớn, phù hợp để khai thác trong vùng lộng, mang lại nguồn nguyên liệu tại chỗ, dễ tiếp cận Ngoài ra, hệ thống giao thông thuận tiện giúp việc vận chuyển nguyên liệu từ các vùng khai thác về nhà máy sản xuất nước mắm diễn ra nhanh chóng và hiệu quả, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

Vì vậy, nguồn nguyên liệu được cung cấp vừa tươi ngon, đảm bảo yêu cầu của nhân dân trong việc chế biến nước mắm

Dù nghề chế biến nước mắm ở Cẩm Nhượng có những thuận lợi nhất định, nhưng vẫn đối mặt nhiều khó khăn và thách thức cần được giải quyết để bảo tồn và phát triển bền vững.

3.2.1.2 Những khó khăn và thách thức

- Khó khăn về vốn sản xuất:

Các hộ sản xuất nước mắm gặp khó khăn lớn về vốn và khả năng tiếp cận nguồn vốn, khi nguồn vốn tích lũy không đủ để đầu tư trang thiết bị, mua nguyên liệu hoặc dự trữ, buộc họ phải vay với lãi suất cao hoặc vay từ người thân, bạn bè Đây là rào cản gây ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sản xuất và lợi nhuận của các hộ, đòi hỏi phải có các giải pháp hỗ trợ vốn lãi suất thấp từ ngân hàng hoặc các nguồn tài chính khác Việc đảm bảo nguồn vốn ổn định sẽ giúp các gia đình duy trì thương hiệu, mở rộng quy mô sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh doanh ngành nước mắm.

- Khó khăn về thị trường tiêu thụ sản phẩm:

Thị trường tiêu thụ của làng nghề chế biến nước mắm Nhượng Bạn chủ yếu là thị trường nông thôn nội tỉnh và các tỉnh lân cận, chưa mở rộng vào thị trường đô thị Tuy nhiên, thị trường này ngày càng thu hẹp do khả năng cạnh tranh của các sản phẩm ngày càng khó khăn hơn Trong khi đó, thị trường trong và ngoài tỉnh đa dạng về chủng loại, mẫu mã, chất lượng và giá cả của các thương hiệu nước mắm lớn như Chinsu, Nam Ngư, Đệ nhất… đáp ứng các nhu cầu đa dạng của khách hàng, làm tăng áp lực cạnh tranh cho các làng nghề truyền thống.

Theo kết quả điều tra về thị trường tiêu thụ nước mắm trong toàn tỉnh

Tại thị trường Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh, đã tiến hành thu thập thông tin qua 45 phiếu phỏng vấn tại xã Cẩm Thạch và Cẩm Duệ Các hộ dân địa phương sử dụng nhiều loại nước mắm khác nhau, nhưng nước mắm Hà Tĩnh vẫn là lựa chọn phổ biến nhất, với khoảng 60% số hộ được phỏng vấn sử dụng kết hợp cả các loại nước mắm khác.

Trong nghiên cứu về các loại nước mắm, người dân chủ yếu sử dụng hai loại chính từ Hà Tĩnh và Phú Quốc, trong khi phần lớn chỉ dùng một trong hai loại này Đặc biệt, nhiều người chưa quan tâm nhiều đến địa điểm sản xuất nước mắm của Hà Tĩnh, với đến 39 người không trả lời về nguồn gốc Thống kê cho thấy, phần lớn người tiêu dùng biết vùng chế biến chỉ ở xã Cẩm Nhượng, huyện Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh Người tiêu dùng thường chọn mua nước mắm dựa trên 3 mức giá khác nhau, phản ánh sự đa dạng về ngân sách và sở thích cá nhân.

Theo khảo sát, có 17,8% hộ gia đình lựa chọn mua nước mắm có độ đạm thấp và giá rẻ dưới 5.000đ/lít, phù hợp với ngân sách hạn chế Khoảng 66,6% người tiêu dùng ưu tiên chọn mua nước mắm có giá từ 6.000 đến 20.000đ/lít, phản ánh xu hướng lựa chọn sản phẩm phù hợp với chất lượng và giá cả Trong khi đó, 2,2% người dân có nhu cầu sử dụng nước mắm cao cấp với mức giá từ 21.000 đến 30.000đ/lít Tuy nhiên, có 13,4% người tiêu dùng không cung cấp thông tin về mức giá ưu thích, cho thấy nhu cầu đa dạng và chưa rõ ràng về thị hiếu tiêu dùng nước mắm trên thị trường.

Việc hạn chế trong tiếp cận thông tin thị trường khiến các cơ sở chế biến nước mắm gặp khó khăn trong việc nắm bắt kịp thời xu hướng và nhu cầu ngày càng thay đổi của người tiêu dùng Điều này ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình tiêu thụ sản phẩm, gây trở ngại lớn cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong ngành Chính vì vậy, việc nâng cao khả năng thu thập và phân tích thông tin thị trường là cần thiết để các cơ sở chế biến nước mắm có thể điều chỉnh sản phẩm phù hợp, mở rộng thị trường và tăng doanh số bán hàng hiệu quả.

- Khó khăn về nguồn lực lao động:

Trình độ tổ chức và quản lý sản xuất kinh doanh của các chủ hộ chủ yếu dựa trên kinh nghiệm tự tích lũy, chưa qua đào tạo chuyên sâu Trong nghề này, người phụ nữ giữ vai trò quyết định mọi công việc, điều này có thể hạn chế năng lực của các thành viên khác trong gia đình và ảnh hưởng đến năng suất lao động tổng thể.

Trình độ học vấn của người dân tại làng nghề chế biến Cẩm Nhượng ảnh hưởng lớn đến chất lượng nước mắm, bởi sự tiếp thu khoa học công nghệ mới và kinh nghiệm của các thế hệ đi trước còn hạn chế, dẫn đến tình trạng cứng nhắc, thụ động trong quá trình sản xuất Việc nâng cao nhận thức và trình độ của người dân là yếu tố then chốt để cải thiện chất lượng nước mắm, đảm bảo tiêu chuẩn an toàn thực phẩm Đồng thời, thúc đẩy đào tạo nghề và ứng dụng công nghệ tiên tiến sẽ góp phần nâng cao hiệu quả, đảm bảo sự phát triển bền vững của làng nghề.

Nghề chế biến nước mắm truyền thống ở xã Cẩm Nhượng đang đối mặt với nguy cơ mai một trong tương lai do hoạt động sản xuất gặp nhiều khó khăn và thiếu sự hỗ trợ từ chính quyền Lực lượng lao động của làng nghề ngày càng giảm, đặc biệt là lao động trẻ, khi đa số các hộ gia đình lựa chọn cho con học hành để tránh nghề vất vả, thu nhập thấp Xu thế phát triển của xã hội mở ra nhiều ngành nghề hấp dẫn hơn, khiến thanh niên ngày càng rời bỏ quê hương để tìm kiếm công việc tốt hơn và được xã hội coi trọng hơn.

Hiện nay, chính sách phát triển làng nghề của Nhà nước tập trung chủ yếu vào các cơ sở kinh doanh, trong khi các hộ gia đình – hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu của làng nghề – còn thiếu sự hỗ trợ về vốn và kỹ thuật Để bảo tồn và phát triển nghề chế biến nước mắm hiệu quả, cần có các chính sách hỗ trợ toàn diện từ phía Nhà nước không chỉ dành cho các cơ sở sản xuất kinh doanh mà còn cho các hộ gia đình, nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của làng nghề.

- Vấn đề về môi trường:

Ngày đăng: 21/08/2023, 01:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Thủy sản - Trường trung học kỹ thuật và nghiệp vụ thủy sản II (1996), Chế biến nước mắm và khô thủy sản, NXB Nông nghiệp, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế biến nước mắm và khô thủy sản
Tác giả: Bộ Thủy sản - Trường trung học kỹ thuật và nghiệp vụ thủy sản II
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1996
2. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, NXB Trẻ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các triều đại Việt Nam
Tác giả: Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2001
3. Sông Lam Châu (2008), Sản vật Việt Nam, NXB Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản vật Việt Nam
Tác giả: Sông Lam Châu
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2008
4. Nguyễn Đổng Chi (chủ biên), (1995), Địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh, NXB Nghệ An - Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi
Nhà XB: NXB Nghệ An - Vinh
Năm: 1995
5. Phan Huy Chú (1992), Lịch triều hiến chương loại chí, Tập 2, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1992
6. Sơn Hải Du (1995), Nhượng Bạn của tôi, NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhượng Bạn của tôi
Tác giả: Sơn Hải Du
Nhà XB: NXB Văn hoá thông tin
Năm: 1995
7. Huỳnh Thị Dung, Nguyễn Thị Huế, Nguyễn Thu Hà (2001), Từ điển văn hoá ẩm thực Việt Nam, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn hoá ẩm thực Việt Nam
Tác giả: Huỳnh Thị Dung, Nguyễn Thị Huế, Nguyễn Thu Hà
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2001
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Lịch sử Đảng bộ xã Cẩm Nhượng (1930 - 1975), NXB Hà Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ xã Cẩm Nhượng (1930 - 1975)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Hà Tĩnh
Năm: 2005
9. Đại Việt Sử Ký toàn thư, tập I, NXB Hà Nội,1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt Sử Ký toàn thư
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 1998
10. Đảng uỷ xã Cẩm Nhượng (2008), Địa chí Cẩm Nhượng, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí Cẩm Nhượng
Tác giả: Đảng uỷ xã Cẩm Nhượng
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2008
11. Đảng ủy xã Cẩm Nhượng (2000), Hải đăng làng Nhượng, NXB Hà Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hải đăng làng Nhượng
Tác giả: Đảng ủy xã Cẩm Nhượng
Nhà XB: NXB Hà Tĩnh
Năm: 2000
13. Lê Quý Đôn (1977), Phủ biên tạp lục, NXB Khoa học xã hội Hà Nội , 14. Ninh Viết Giao (2003), Về văn hoá xứ Nghệ, Tập 1, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phủ biên tạp lục", NXB Khoa học xã hội Hà Nội , 14. Ninh Viết Giao (2003), "Về văn hoá xứ Nghệ
Tác giả: Lê Quý Đôn (1977), Phủ biên tạp lục, NXB Khoa học xã hội Hà Nội , 14. Ninh Viết Giao
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội Hà Nội
Năm: 2003
15. Ninh Viết Giao (2007), Về văn hoá xứ Nghệ, Tập 2, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về văn hoá xứ Nghệ, Tập 2
Tác giả: Ninh Viết Giao
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2007
16. Ninh Viết Giao (2001), Văn hoá ẩm thực dân gian xứ Nghệ, Hội Văn nghệ dân gian Nghệ An, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá ẩm thực dân gian xứ Nghệ
Tác giả: Ninh Viết Giao
Nhà XB: Hội Văn nghệ dân gian Nghệ An
Năm: 2001
17. Phạm Văn Hoàn (2006), Bước đầu tìm hiểu văn hóa ẩm thực Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu văn hóa ẩm thực Việt Nam
Tác giả: Phạm Văn Hoàn
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2006
19. Văn Học - Minh Huệ, Nước mắm Hà Tĩnh: Ít thương hiệu, nhiều tiềm năng (KỳII), http://socongthuonght.gov.vn/khuyen-cong/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nước mắm Hà Tĩnh: Ít thương hiệu, nhiều tiềm năng (KỳII)
Tác giả: Văn Học - Minh Huệ
20. Hội liên hiệp phụ nữ Hà Tĩnh (2007), Báo cáo nghiên cứu thị trường nước mắm, Hà Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo nghiên cứu thị trường nước mắm
Tác giả: Hội liên hiệp phụ nữ Hà Tĩnh
Nhà XB: Hà Tĩnh
Năm: 2007
18. Phan Hoa, Công thức làm nước mắm Nhượng Bạn bằng thơ, http://vidamdodua.com/ Link
21. Xuân Hồng, Hợp tác xã hải sản Cửa Nhượng: Phát huy hiệu quả kinh tế, http://www.sonongnghiephatinh.gov.vn/ Link
32. Trần Đức Anh Sơn, Nước mắm trong lịch sử và văn hóa của người Việt, http://www.covathue.com/cac%20bai%20viet/Nuocmam.html Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ quy trình chế biến: - Tìm hiểu nghề chế biến nước mắm nhượng bạn (xã cẩm nhượng, huyện cẩm xuyên, tỉnh hà tĩnh)
Sơ đồ quy trình chế biến: (Trang 89)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm