1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tập thơ đi đây việt bắc của trần dần trong cuộ đổi mới thi pháp thơ trữ tình việt nam sau 1945

113 7 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tập thơ Đi! Đây Việt Bắc của Trần Dần trong cuộc đổi mới thi pháp thơ trữ tình Việt Nam sau 1945
Tác giả Trần Dần
Người hướng dẫn PGS. TS. Phan Huy Dũng
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 748,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (7)
  • 2. Lịch sử vấn đề (8)
  • 3. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi tư liệu khảo sát (12)
  • 4. Nhiệm vụ nghiên cứu (12)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (12)
  • 6. Đóng góp của luận văn (13)
  • 7. Cấu trúc của luận văn (13)
  • Chương 1 (14)
    • 1.1. Đóng góp và giới hạn của Thơ mới trước nhu cầu đổi mới thi pháp thơ trữ tình Việt Nam hiện đại (14)
    • 1.2. Nhu cầu đổi mới thi pháp thơ trữ tình Việt Nam từ sau 1945 và những tín hiệu khởi đầu (39)
  • Chương 2 NHỮNG NÉT MỚI MẺ ................................................................................... VỀ NỘI DUNG VÀ THI PHÁP CỦA TẬP ĐI! ĐÂY VIỆT BẮC! ............... CÙNG NHỮNG PHẢN ỨNG CHUNG QUANH NÓ (83)
    • 2.1. Đi! Đây Việt Bắc! - một kết tinh nghệ thuật của những tìm tòi trong chặng đường sáng tác đầu tiên của Trần Dần (60)
      • 2.1.2. Đi! Đây Việt Bắc! T (0)
      • 2.1.3. Đi! Đây Việt Bắc! ỉ T (0)
    • 2.2. Những nét mới mẻ về nội dung và thi pháp của tập Đi! Đây Việt Bắc! (69)
    • 2.3. Số phận thăng trầm của Đi! Đây Việt Bắc! (81)
  • Chương 3 SỰ ĐÀO SÂU, MỞ RỘNG NHỮNG CÁCH TÂN THI PHÁP .................. CỦA ĐI! ĐÂY VIỆT BẮC! TRONG THƠ TRẦN DẦN .............................. VÀ THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI Ở CÁC GIAI ĐOẠN TIẾP SAU (0)
    • 3.1. Xuất phát điểm mới của thơ Trần Dần ở chặng đường làm “thủ lĩnh (83)
    • 3.3. Bài học kinh nghiệm của Đi! Đây Việt Bắc! với cuộc cách tân thơ Việt Nam hiện nay (100)
  • KẾT LUẬN (105)

Nội dung

Lịch sử vấn đề

Thơ mới ra đời gần một thế kỷ, trở thành một hiện tượng văn học đáng chú ý trong lịch sử Việt Nam Các nhà nghiên cứu đã dành nhiều công sức phân tích và viết về phong trào này, thể hiện sự quan tâm sâu sắc đối với giá trị văn học của nó Cuối những năm 1930, anh em Hoài Thanh và Hoài Chân đã xuất bản cuốn "Thi nhân Việt Nam" – tác phẩm tiêu biểu ghi lại những tên tuổi và tác phẩm quan trọng của thơ mới từ 1932-1941 Cuốn sách không chỉ tổng hợp các bài thơ có giá trị mà còn phản ánh những nhận xét chủ quan của tác giả, qua đó góp phần nâng cao nhận thức và đánh giá về phong trào thơ mới trong nền văn học Việt Nam.

Cuốn sách "T M 1932 - 1945," xuất bản năm 1966 của nhà phê bình văn học Phan Cự Đệ, đã đánh giá sâu sắc phong trào thơ mới Việt Nam Trong đó, Phan Cự Đệ thể hiện cái nhìn khách quan, trung thực về các tác phẩm và nhà thơ trong giai đoạn này Nếu như trong tác phẩm "T N," Hoài Thanh và Hoài Chân thể hiện lối phê bình nhẹ nhàng, không quá đề cao hay xuống cũng không quá miệt thị thì trong "T M 1932 - 1945," nhà phê bình thể hiện sự phân tích kỹ lưỡng, góp phần làm rõ vai trò của phong trào thơ mới đối với nền văn học Việt Nam hiện đại.

Từ năm 1932 đến 1945, ông vận dụng phương pháp phê bình Mác –xít để nghiên cứu các phương diện lý luận nghệ thuật, bao gồm chủ nghĩa lãng mạn theo quan điểm mác-xít và đặc trưng thẩm mỹ của phương pháp sáng tác lãng mạn chủ nghĩa Ông phân tích quan điểm nghệ thuật và thẩm mỹ của các nhà thơ trong phong trào Thơ Mới, đồng thời xem xét các yếu tố chi phối đến sáng tác của từng nhà thơ cũng như toàn bộ trào lưu.

Công trình nghiên cứu về thơ mới của Bùi Văn Nguyên - Hà Minh Đức: T N - H ứ (NXB KHXH in lần thứ 2, H,

Phong trào Thơ mới đã mang lại nhiều đổi mới đáng kể cho nền thơ ca Việt Nam, đặc biệt về các thể thơ, sự phong phú trong biểu cảm cảm xúc và các yếu tố mới trong ngôn ngữ Sau gần nửa thế kỷ ra đời, Thơ mới vẫn được xem là một bước ngoặt quan trọng, có vai trò đáng kể trong sự phát triển của nền văn học Việt Nam Các nhà nghiên cứu nhận định rằng, tác động của Thơ mới đã góp phần làm mới và làm phong phú thêm bộ mặt thơ ca dân tộc, đồng thời để lại những đóng góp lớn đối với sự tiến bộ của văn học Việt Nam.

Cũng bàn về thơ mới, ở công trình T

Phong trào Thơ mới thập niên 1930 thể hiện rõ nét đặc điểm của trào lưu thơ ca lãng mạn, với các nhà thơ như Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên xây dựng thế giới riêng biệt, như những hòn đảo chơi vơi giữa biển cả Nhà nghiên cứu Hà Minh Đức nhấn mạnh rằng phong trào thơ mới nổi bật với những đặc điểm cơ bản, thể hiện qua các nhận xét đa dạng về cái tôi cá nhân, phản ánh sự đa dạng và phong phú trong nội dung và phong cách sáng tác của các nhà thơ Thơ mới.

Phan Cự Đệ đã đề cập đến thể loại Thơ mới, đặc biệt trong chương VI, bàn về “nghệ thuật của phong trào Thơ mới lãng mạn” Ông nhấn mạnh rằng thơ mới không phải là thơ tự do, và phân tích quá trình hình thành các thể thơ, số câu, số chữ trong thơ mới Do đó, hình thức thơ mới là chủ đề quan trọng được các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm.

Phong trào thơ mới từ 1930 đến 1945 là đề tài nghiên cứu hấp dẫn được nhiều nhà nghiên cứu lựa chọn Năm 2007, Hoàng Sĩ Nguyên bắt đầu khám phá phong trào này qua luận án tiến sĩ của mình, sau đó đã phát triển thành một chuyên khảo mang tên "T".

Từ năm 1932 đến 1945, phong trào thơ mới nổi bật với xu hướng thể hiện ý thức tự do, thể hiện sự hình thành của cái tôi cá nhân và tiến trình phát triển của nền thơ mới Năm 2008, Đặng Thị Ngọc Phượng chọn đề tài luận văn khảo sát toàn bộ tác phẩm của phong trào này, chỉ rõ các biểu hiện của ý thức tự do như là trung tâm của sự sáng tạo, góp phần làm rõ cá tính sáng tạo của các nhà thơ thời kỳ này.

Thơ mới đã nhận được sự quan tâm đặc biệt từ giới phê bình và nhà nghiên cứu về các khía cạnh nội dung, thể loại và đóng góp của nó Dù được đánh giá từ nhiều góc độ và thời điểm khác nhau, hầu hết các nhà nghiên cứu đều công nhận những ảnh hưởng tích cực của thơ mới đối với sự phát triển của nền thơ Việt Nam.

Tác phẩm của Trần Dần luôn thu hút sự chú ý của độc giả và giới phê bình văn học, bất kể giai đoạn sáng tác nào, kể cả sau vụ Nhân Văn - Giai Phẩm Chính vì nội dung phản ánh những vấn đề nóng bỏng của cuộc sống một cách thẳng thắn và quyết liệt, tác phẩm của ông tạo dựng được sự gắn kết đặc biệt với độc giả và giới chuyên môn Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về nhà thơ Trần Dần vẫn chưa được hệ thống hóa đầy đủ, và các bài viết về ông thường xuất hiện rải rác trong các cuốn sách hay chuyên luận, chưa xứng tầm với đóng góp của nhà thơ.

Mặc dù các nghiên cứu về nhà thơ Trần Dần chưa nhiều và chưa được công khai đầy đủ, nhưng Phạm Thị Hoài đã xuất bản một tác phẩm giá trị mang tên "T : ẩ tác gỉa" giúp độc giả hiểu rõ hơn về cuộc đời, sự nghiệp và tác phẩm của Trần Dần Tác phẩm này cung cấp nhiều thông tin quý báu và cung cấp một góc nhìn chủ quan của người viết về nhà thơ, góp phần nâng cao nhận thức về vị trí của ông trong nền văn học Việt Nam.

Trong bài viết đăng trên tạp chí Văn hóa Nghệ An, tác giả Phùng Kiên gọi Trần Dần là “thủ lĩnh bóng tối” và nhận định rằng ông bắt đầu cuộc cách tân thơ một cách âm thầm, thể hiện một hành trình sáng tạo độc đáo Phùng Kiên có cái nhìn toàn diện về thơ Trần Dần, phân tích nhịp thơ, hình thức và đặt nhà thơ trong mối quan hệ với các tác giả trong nước như Lê Đạt, Phùng Quán, Hoàng Yến và quốc tế như V Hugo, Stendhal Tác giả trích dẫn câu thơ trong trường ca Đ! Đ! để bàn về đề tài, cảm hứng và số phận của tác phẩm này, đồng thời so sánh quy mô và cảm hứng giữa Trần Dần và Tố Hữu qua bài thơ Việt Bắc.

Hà Thị Hạnh T T đã có cái nhìn tổng quan về quan niệm nghệ thuật của nhà thơ Trần Dần, khám phá quá trình hình thành, vận động và biến đổi của phong cách sáng tác Trong luận văn, tác giả đã phân tích sự xuất hiện của cái tôi trữ tình đa diện và các biểu tượng đặc sắc trong thơ Trần Dần, giúp làm rõ nét đặc trưng sáng tạo của nhà thơ Bên cạnh đó, Hà Thị Hạnh còn nghiên cứu hành trình sáng tạo của Trần Dần từ góc độ ngôn ngữ, cung cấp cái nhìn sâu sắc về phong cách và các yếu tố đặc trưng trong thơ của ông.

Trường ca Đ ! Đ ! đã thu hút nhiều ý kiến đánh giá về giá trị nghệ thuật và vai trò trong văn học Việt Nam Nhà lý luận Lại Nguyên Ân so sánh tác phẩm này với các tác phẩm ngâm khúc nổi tiếng như Tự tình khúc, Thu dạ lữ hoài ngâm, Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm, cho thấy sự liên hệ và ý nghĩa của nó trong văn hóa truyền thống Việt Nam Theo các nghiên cứu về thơ mới, Trần Dần đóng vai trò quan trọng trong cuộc cách tân thơ Việt Nam sau 1945, góp phần làm thay đổi diện mạo của thi ca đương đại Trường ca Đ ! Đ ! được xem là thành quả sáng tạo đặc biệt của Trần Dần trong giai đoạn sáng tác ban đầu, mang giá trị như một kết tinh nghệ thuật Tuy nhiên, các nghiên cứu này vẫn chưa thể làm rõ đầy đủ những đóng góp của tập thơ trong quá trình đổi mới thi pháp của thơ trữ tình Việt Nam, đặt ra yêu cầu cần có các phân tích sâu hơn về tác phẩm này trong bối cảnh phát triển của văn học hiện đại.

Trong luận văn này, chúng tôi tập trung phân tích tập thơ Đ ! Đ của Trần Dần, một tác phẩm thể hiện sự chuyển mình trong thi pháp thơ trữ tình Việt Nam sau 1945 Việc nghiên cứu này nhằm cung cấp một góc nhìn mới về tác phẩm của nhà thơ Trần Dần, góp phần làm rõ những chuyển biến và đặc điểm nổi bật trong sáng tác của ông trong giai đoạn đổi mới thi pháp Chúng tôi hy vọng đây sẽ là đóng góp nhỏ bé nhưng ý nghĩa trong công cuộc nghiên cứu và hiểu biết về văn học Việt Nam, đồng thời mở rộng hiểu biết về vai trò của Trần Dần trong nền văn học hiện đại.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Thơ mới và thơ kháng chiến là những phong trào đổi mới sáng tạo trong văn học Việt Nam sau 1945, phản ánh tinh thần tự do, sáng tạo và hình tượng mới của thời kỳ Trường ca Đ ! Đ ! của nhà thơ Trần Dần nổi bật với phong cách cách tân mạnh mẽ, thể hiện sự đổi mới trong cách thể hiện nội dung và hình thức sáng tác, góp phần thể hiện khí thế đấu tranh và ý chí của dân tộc trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp Phong trào vận động đổi mới thơ sau 1945 đã thúc đẩy sự trưởng thành của thơ ca Việt Nam, khẳng định sự đổi mới, cách tân sáng tạo trong hình thức và nội dung văn học, góp phần nâng cao giá trị nghệ thuật và ý nghĩa cách mạng của thi ca.

Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình viết luận văn, chúng tôi chủ yếu áp dụng các phương pháp nghiên cứu như phương pháp hệ thống - cấu trúc để tổ chức dữ liệu một cách logic, phương pháp so sánh giúp phân tích sự khác biệt và tương đồng giữa các yếu tố, phương pháp thống kê để xử lý dữ liệu số chính xác, cùng với phương pháp lịch sử nhằm xem xét quá trình phát triển và bối cảnh của đề tài Các phương pháp này kết hợp mang lại độ chính xác và sâu sắc cho nghiên cứu, phù hợp với mục tiêu đề ra.

Đóng góp của luận văn

Với đề tài này, lần đầu tiên tập Đ ! Đ ! của Trần Dần được đánh giá một cách toàn diện từ góc nhìn của thi pháp học lịch sử.

Cấu trúc của luận văn

Chương 2 N é ẻ Đi! Đây Việt Bắc! ù ứ ó

Chương 3 S ở Đi! Đây Việt Bắc! T N ở

Đóng góp và giới hạn của Thơ mới trước nhu cầu đổi mới thi pháp thơ trữ tình Việt Nam hiện đại

Một phong trào văn học phản ánh những đòi hỏi của xã hội và là tiếng nói của một giai cấp đang trẻ hóa hoặc trưởng thành trong xã hội Thơ cũ thất bại như tiếng nói của tầng lớp phong kiến, trong khi văn học lãng mạn từ 1932 trở đi thể hiện quan điểm của tầng lớp tiểu tư sản thành thị Sự ra đời của giai cấp tư sản và tiểu tư sản thành thị đã thúc đẩy sự xuất hiện của Thơ mới, phản ánh âm hưởng đổi thay của xã hội.

Phong trào Thơ mới phát triển từ năm 1932 đến 1945, là một trào lưu thi ca lớn của văn học hiện đại Việt Nam Trước đó, thi đàn chủ yếu là thơ cũ theo thể thất ngôn bát cú Đường luật với những quy tắc nghiêm ngặt, khó thể hiện ý tưởng và cảm xúc mới mẻ Thể thơ này trở nên gò bó với lớp công chúng mới gồm học sinh, sinh viên, viên chức có tâm lý và thị hiếu khác biệt, khiến họ khó tiếp cận loại thi ca cũ Thơ mới ra đời đã mở ra một hướng đi mới, đưa thi ca trung đại tiến gần hơn tới phong cách hiện đại, đánh dấu bước chuyển mình trong văn học Việt Nam Ban đầu, có cuộc tranh luận gay gắt giữa các phe phái về tính chân chính của thơ mới, tuy nhiên, nhờ sự xuất hiện của nhiều tài năng sáng tạo như Thế Lữ, phong trào này nhanh chóng thắng thế và trở thành biểu tượng của thời kỳ đổi mới văn học.

Những tác phẩm như "Nhớ rừng", "Tiếng sáo Thiên Thai" và "Cây đàn muôn điệu" đã chinh phục được trái tim người đọc, thể hiện vẻ đẹp của thi ca Việt Nam Tiếp theo đó, các sáng tác của Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử đã góp phần đưa Thơ mới thống trị trong làng văn học, tạo nên làn sóng sáng tạo mạnh mẽ và ảnh hưởng sâu rộng.

Trong giai đoạn 1934-1935, nhận thức về cái mới và cái cũ trong thi ca thay đổi rõ rệt khi thơ mới đã có những đóng góp quan trọng, chinh phục độc giả chỉ sau 10 năm phát triển Thơ mới đã tạo nên một làn sóng thi ca độc đáo, với hàng loạt tác phẩm tiêu biểu thể hiện phong cách sáng tạo riêng biệt của từng nhà thơ Các nhà thơ tiêu biểu của phong trào này bao gồm Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, góp phần định hình diện mạo mới cho nền văn học Việt Nam hiện đại.

Các tác giả nổi bật trong văn học Việt Nam bao gồm Lư Huy Thông, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Huy Cận, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính, Anh Thơ, Vũ Hoàng Chương và Tế Hanh Ngoài ra, còn có sự góp mặt của nhiều tác giả tiêu biểu khác như Nguyễn Nhược Pháp, Vũ Đình Liên, Hồ Dzếnh, góp phần đa dạng và phong phú cho nền văn học Việt Nam hiện đại.

Thơ mới đã tạo ra sức sáng tạo lớn trong thơ ca hiện đại, với hàng trăm bài thơ đặc sắc Nhiều nhà thơ nổi bật với một hoặc hai tác phẩm tiêu biểu như Vũ Đình Liên với “Ông đồ”, Thâm Tâm với “Tống biệt hành”, và Nguyễn Nhược Pháp với “Chùa Hương” Có những nhà thơ xây dựng sự nghiệp qua các tập thơ như Huy Cận với “Lửa thiêng”, Xuân Diệu với “Thơ thơ” và “Gửi hương cho gió” Thơ mới chủ yếu là thơ lãng mạn, thường thoát li cuộc sống thực tại và ít đề cập đến cuộc sống hiện tại, phản ánh tâm hồn bay bổng và cảm xúc cá nhân của các nhà thơ.

Lữ ca ngợi vẻ đẹp của thế giới tiên cảnh, vẻ đẹp của sự lí tưởng không dễ có ở trong cuộc đời Ông viết:

Nhà thơ Xuân Diệu cũng bày tỏ quan điểm sáng tác của mình:

(Cảm xúc) Ở một trường hợp khác, Xuân Diệu nói:

Quan điểm trên là quan điểm “nghệ thuật vị nghệ thuật”, có thể nói đây cũng là một đóng góp không nhỏ của các nhà thơ thời kì này

Phong trào Thơ mới thể hiện rõ nét khát vọng tự do cá nhân, tình yêu quê hương nồng nàn và sự giải phóng cái tôi, bản ngã Các nhà thơ trong phong trào là những trí thức khao khát tự do, mong muốn thoát khỏi cuộc sống tù túng để tìm kiếm sự giải phóng và tự do sáng tạo Nhà thơ Huy Thông mơ ước trở thành một cánh chim bay trên bầu trời cao rộng, tượng trưng cho khát vọng bay xa, thoát khỏi ràng buộc để tự do thể hiện cảm xúc và tư duy.

Thơ mới là một phong trào sáng tạo chứa đựng nhiều nỗi niềm, góp phần hình thành nền thơ hiện đại Việt Nam Các nhà Thơ mới có quan điểm thẩm mỹ riêng biệt và thể hiện qua các phong cách độc đáo của các nhà thơ tiêu biểu, từ đó ảnh hưởng sâu rộng đến toàn bộ nền thơ Đặc biệt, Thơ mới thể hiện rõ cái tôi cá nhân (Individu), phản ánh những suy nghĩ, cảm xúc sâu sắc và chân thực của nhà thơ.

Trong Thơ mới, cái tôi mang đến sự tinh tươm, tinh tường và khát vọng hòa vào đại dương rộng lớn của cuộc đời, thể hiện sự cách tân dựa trên nền tảng của cuộc sống và lẽ sống mới Cái tôi trong Thơ mới xuất hiện gắn liền với tầng lớp thị dân và nền văn minh công nghiệp, vừa là sản phẩm của nền văn hóa mới vừa là chủ thể sáng tạo độc lập, không lặp lại Các nhà Thơ mới đều ý thức khẳng định bản thân như những thực thể duy nhất, mang đậm giá trị cá nhân và sáng tạo riêng biệt Lưu Trọng Lư đã mỉm cười trong thú đau thương, thể hiện sự đồng cảm sâu sắc, trong khi đó, các nhà Thơ mới quan niệm rằng cô đơn, buồn chính là vẻ đẹp tinh tế, đầy sâu lắng của thơ ca Huy Cận từng khẳng định rằng: "Chính trong nỗi buồn mới thấy rõ vẻ đẹp của cuộc đời."

Cái đẹp bao giờ cũng mang nét buồn, một quan niệm bắt nguồn từ phương Tây từ thời nhà thơ Mỹ Edgar Allan Poe, người đã từng nói: “Giọng điệu buồn là giọng điệu thích hợp với thơ ca”.

Khi quan niệm về mối liên hệ giữa thế giới tự nhiên và cảm xúc được xác định rõ, việc thể hiện thế giới tự nhiên còn đồng thời phản ánh tâm trạng, cảm xúc của tác giả Huy Cận đã từng thốt lên rằng, nét đẹp của thiên nhiên không chỉ mang ý nghĩa thẩm mỹ mà còn là phương tiện thể hiện nội tâm sâu sắc của nhà thơ, giúp truyền tải cảm xúc một cách chân thực và sâu sắc hơn.

Trong bài viết, tác giả nhấn mạnh về sự chuyển đổi lớn của xã hội từ truyền thống sang hiện đại, với sự hình thành của một xã hội mới thay thế xã hội cũ Một ý thức hệ mới đang nổi lên, thay thế các giá trị cố hữu, đáp ứng xu thế phát triển của thời đại Những con người hiện tại, dù chưa đa số, đã bắt đầu sống theo phong cách phương Tây với những đặc trưng như đội mũ Tây, đi giày Tây, mặc áo Tây, phản ánh xu hướng hội nhập và thay đổi trong tư duy và lối sống của xã hội hiện đại.

Các nhà Thơ mới say sưa viết về những mối tình dang dở Họ quan niệm:

Vũ Hoàng Chương như mất hết cả niềm đam mê khi:

Hàn Mặc Tử cũng “hoá dại khờ” khi:

Thơ mới thể hiện sự sáng tạo đột phá trong hình thức thơ ca, với nhiều câu thơ mang tính mới lạ so với truyền thống Những đổi mới này được thể hiện qua phong cách của các nhà thơ chịu ảnh hưởng từ Baudelaire và trường phái tượng trưng Pháp, tạo nên những câu thơ đầy tính “nổi loạn” như: “Ô! ô ồ”.

Và đây là những câu thơ hoàn toàn mới lạ của Xuân Diệu:

T ” Điều quan trọng là Thơ mới có “nhạc tính”, đặc sắc trong cách cấu tạo từ:

Thơ mới thể hiện cuộc cách mạng tư duy trong thi ca, tập trung đặt cái tôi cá nhân vào trung tâm cảm nhận thế giới Trong phong trào Thơ mới, có sự hòa quyện giữa thế giới nội cảm của chủ thể trữ tình với thế giới ngoại cảnh, mở rộng biên độ cảm thụ thông qua việc kết hợp các giác quan một cách độc đáo Hiện tượng nhân hóa và nội cảm hóa nội cảnh giúp ngoại cảnh trở nên đậm đà cảm xúc, làm chiều sâu tâm trạng của nhân vật trữ tình thêm phần sống động.

(Huy Cận) Thiên nhiên trong Thơ mới cũng là một thứ thiên nhiên rạo rực những cảm giác của con người ằ ó ằ

Thơ mới nổi bật với việc chấp nhận yếu tố phi lí, thể hiện quan điểm mĩ học rằng cái đẹp chính là sự chấp nhận điều phi lí để tạo nên nghệ thuật Trong khuynh hướng này, những yếu tố phi lí trở nên có lí và bổ sung cho giá trị nghệ thuật của tác phẩm, làm cho Thơ mới trở nên độc đáo và khác biệt.

Xuân Diệu thì lại khẳng định:

Nhu cầu đổi mới thi pháp thơ trữ tình Việt Nam từ sau 1945 và những tín hiệu khởi đầu

1 2.1 Những điều kiện thúc đẩy một cuộc cách mạng mới về thi pháp trong tho Việt Nam những năm đầu cách mạng (1945)

Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên ngôn độc lập nhưng nền độc lập đứng trước những thách thức to lớn

Văn học thời kỳ này vừa hướng đến xu hướng hội tụ để phản ánh những chuyển biến xã hội, vừa tiếp tục phát triển các khuynh hướng phân hóa đa dạng Cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ từ ngày 19 tháng 12 năm 1946 đã mở đầu cho một thời kỳ chiến tranh kéo dài, ảnh hưởng sâu sắc đến nội dung và cảm hứng sáng tác của các tác phẩm văn học.

Trong chín năm hợp tác cùng Pháp, văn học Việt Nam đã được xây dựng để phục vụ cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, tập trung vào vai trò của Việt Minh Văn hóa được định hướng theo phương châm do Đảng Cộng sản Việt Nam xác định từ đầu năm 1943 là "K - Đ", nhằm thúc đẩy tinh thần yêu nước và khơi dậy ý chí cách mạng Trong lĩnh vực văn học, các tác phẩm đã phản ánh rõ nét tinh thần kháng chiến và mong ước độc lập tự do của nhân dân Việt Nam.

Trong kháng chiến chống Pháp, khẩu hiệu "Kóó-óó" của Hồ Chí Minh thể hiện mục tiêu và phương pháp thúc đẩy văn hóa cũng như văn học trong giai đoạn đó Văn học lúc này được hướng đến đối tượng quần chúng đông đảo, đặc biệt là nông dân, vì vậy phong cách chủ đạo là hiện thực, đại chúng nhằm phản ánh đời sống và tâm tư của nhân dân.

Sau Cách mạng Tháng Tám, nền thơ Việt Nam bắt đầu phát triển theo hướng mới, góp phần vào sự nghiệp chung của dân tộc và phản ánh cuộc sống chung của xã hội Giáo sư Trần Thanh Đạm (1994) nhấn mạnh rằng "Tinh thần Thơ mới đã chấm dứt với Cách mạng tháng Tám, mở ra một cuộc cách tân mới của thơ với nguồn cảm hứng mới, hệ thi pháp mới, cùng những thành tựu văn học tiến xa hơn, cao hơn thời kỳ Thơ mới." This moment marked the beginning of an era đổi mới, phát triển thi pháp và nội dung thơ ca Việt Nam, phù hợp với lịch sử và yêu cầu của thời đại.

Trong bối cảnh đó, nhiều nhà sáng tác, trong đó có các nhà thơ của phong trào Thơ mới và nhà văn hiện thực phê phán, đã đối mặt với câu hỏi về mục đích sáng tạo: viết để ai, viết cái gì, và viết như thế nào Họ cảm thấy bứt rứt vì không thể trở lại phong cách cũ, cũng chưa thể thực hiện được ý tưởng mới của mình Thời kỳ này nổi lên các cuộc tranh luận về nghệ thuật, trong đó các nghệ sĩ đặt ra câu hỏi liệu việc phục vụ chính trị có làm giảm giá trị nghệ thuật hay không, đồng thời xem xét khả năng thưởng thức nghệ thuật của quần chúng.

Trước 1945, các nhà thơ phần lớn thuộc thành phần tiểu tư sản trí thức và sáng tác dựa trên lập trường của giai cấp tư sản, góp phần hình thành phong trào Thơ mới như một cuộc cách mạng trong thi pháp Sau năm 1945, các nhà thơ đã hòa mình vào phong trào cách mạng của cả dân tộc, dẫn đến những biến đổi sâu sắc về tư tưởng, quan điểm sáng tác và cách nhìn nhận các sự vật, hiện tượng Cuộc chiến chống thực dân Pháp đã mở ra cơ hội để các nhà thơ tiếp xúc gần hơn với đời sống của người công-nông-binh, giúp họ hiểu rõ và phản ánh chân thực hơn cuộc sống mới, tạo cảm hứng mạnh mẽ và thúc đẩy sáng tạo, thử nghiệm các phương hướng sáng tác mới.

Sau Cách mạng tháng Tám và trong kháng chiến chống Pháp, đề tài về làng quê vẫn giữ vị trí trung tâm trong phong trào Thơ mới, với truyền thống mô tả làng xóm quê hương luôn được thể hiện rõ nét Hoàn cảnh lịch sử lúc đó đã tác động sâu sắc, khiến hình ảnh làng quê không chỉ mang tính mơ mộng, thơ mộng mà còn phản ánh thực tế khốc liệt, cuộc sống thường nhật và những mối tình éo le đầy cảm xúc trong thơ ca.

Thơ mới phản ánh hình ảnh làng quê gian khó trong chiến tranh, ghi lại vẻ đẹp giản dị, chân thực của đời sống nông thôn trong thời kỳ khó khăn Trong đó, có những người nông dân dũng cảm đang ra trận, góp phần vào công cuộc đấu tranh giành độc lập của đất nước Các tác giả tiêu biểu như Hoàng Trung Thông, Trần Hữu Thung và Anh Thơ đã sáng tạo những tác phẩm nổi bật thể hiện tình cảm quê hương, niềm tự hào của người nông dân Việt Nam trong giai đoạn lịch sử đầy biến động Thơ của họ không chỉ là sự phản ánh chân thực về cuộc sống nông thôn mà còn là nguồn cảm hứng và tinh thần kiên cường của dân tộc trong thời chiến.

L ), Tế Hanh (N N T ), Chế Lan Viên ( ), (Quang Dũng (Đ S T ), Nông

Quốc Chấn ( ), Lưu Trọng Lư (N , C T ừ

Các nhà thơ Việt Nam đã tập trung khai thác hình ảnh người lính Vệ quốc quân qua các tác phẩm của Chính Hữu, Hồng Nguyên, Vĩnh Mai, Hoàng Lộc, Tố Hữu, Quang Dũng, thể hiện hình ảnh người lính từ làng quê nghèo khó, sẵn sàng đối mặt với gian khổ và hy sinh Tuy nhiên, còn ít bài thơ viết về những trận đánh, đời sống chiến trường chưa được mô tả rõ nét, khiến hình ảnh người lính phần lớn được miêu tả gián tiếp, gợi nhiều cảm xúc yêu mến từ độc giả Bên cạnh đó, các nhà thơ còn chưa khai thác sâu vào tâm lý, cảm xúc nội tâm của người lính trong chiến tranh, các tác phẩm chủ yếu thể hiện tinh thần yêu nước, khí thế cách mạng và suy nghĩ về cuộc chiến đấu chống Pháp, như Xuân Diệu với "NỮ", Chế Lan Viên với "Gửi", Nguyễn Bính với "Ô", thể hiện tình cảm hướng về đất nước và ý chí cách mạng.

Trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp, nhiều tác phẩm thơ ca đã bắt đầu xuất hiện để ca ngợi lãnh tụ Hồ Chí Minh, như "Sông núi" của Tố Hữu và "Ả Cụ Hồ" Những bài thơ này góp phần thể hiện lòng kính yêu và niềm tự hào của nhân dân đối với lãnh tụ, góp phần lan tỏa tinh thần yêu nước trong thời kỳ đấu tranh gian khổ Các tác phẩm này không chỉ là biểu hiện của nghệ thuật mà còn là biểu tượng của ý chí cách mạng và sự trưởng thành của văn học Việt Nam trong thời kỳ lịch sử đặc biệt.

Trong thời kỳ chiến tranh, thơ ca ít khai thác chủ đề tình yêu, như thể các nhà thơ đang đối mặt với những khó khăn và biến động lớn của lịch sử và xã hội Những tác phẩm tiêu biểu như "Không nói" của Nguyễn Đình Thi hay "Màu tím hoa sim" của Hữu Loan đều gặp khó khăn trong việc nhận được sự đồng cảm của công chúng đương thời Các nhà thơ như Thế Lữ, người mở đầu phong trào Thơ mới, đã chấm dứt hoạt động sáng tác trong vòng mười năm, còn Huy Thông cũng dừng sáng tác sau một thời gian ngắn Huy Cận và Chế Lan Viên đều chuyển hướng từ thơ sang văn xuôi triết luận, phản ánh xu hướng bế tắc của thời kỳ này.

Nền thơ Việt Nam mới chính là nền thơ cách mạng, tập trung phản ánh cuộc đấu tranh của cả dân tộc, đặc biệt là lực lượng công-nông-binh - những lực lượng chủ chốt trong cách mạng Sự chuyển đổi đối tượng phản ánh này dẫn đến thay đổi cả nội dung và hình thức của thi ca, phù hợp với yêu cầu của thời kỳ đổi mới Thay vì hướng đến tầng lớp trí thức tiểu tư sản như trước, công chúng của nền thơ mới là công-nông-binh, đòi hỏi thi ca phải dễ hiểu, gần gũi và phù hợp với thị hiếu của nhân dân Nhà thơ trở thành chiến sĩ trên mặt trận văn hóa, có nhiệm vụ viết để phục vụ cách mạng và nhân dân, góp phần thúc đẩy sự phát triển mới của thi pháp trong thơ Việt Nam những năm đầu đổi mới.

Thơ Việt Nam 1945-1954 đã đạt được một số thành quả nhất định, nhưng vẫn chưa có nhiều thành tựu nổi bật và chưa thể ghi dấu ấn rõ ràng trong các cột mốc quan trọng của lịch sử văn học Về mặt hình thức, thơ trong giai đoạn này còn chưa có nhiều cách tân đột phá, phù hợp với đối tượng đại chúng và phản ánh hiện thực một cách chân thực Sự chưa phổ biến của các lối thơ mới, như thơ bậc thang của Trần Dần và nhóm Đ, phù hợp với xu hướng hiện thực và dễ tiếp cận của độc giả thời đó.

Sau những ngày đầu của Cách mạng tháng 8 năm 1945, nền thi ca đã trải qua sự biến đổi rõ rệt, bắt đầu từ tâm trạng thơ Thơ trước đó chủ yếu phản ánh cảm xúc buồn tủi, cô đơn hoặc mang nét đẹp và niềm vui cá nhân, còn thời kỳ này lại chủ yếu ca ngợi niềm tự hào dân tộc và sự lạc quan trước vẻ đẹp của cuộc sống mới Sự lột xác của các nhà thơ qua thực tiễn cách mạng đã giúp họ thêm phần lạc quan, truyền cảm hứng và thổi vào thơ ca lòng hân hoan của thời đại mới.

Trong cuộc kháng chiến trường kỳ, các nhà thơ đã được trang bị thêm kiến thức về Chủ nghĩa Mác-Lênin và quan điểm văn nghệ của Đảng, với phương châm "Khoa học, dân tộc, đại chúng", giúp định hướng chính xác cho sáng tạo của mình Họ luôn bám sát cuộc sống, hòa mình vào cuộc kháng chiến của dân tộc, đi theo các đoàn quân, đến các vùng địch hậu, sinh hoạt cùng nhân dân công nông binh để sáng tác và phục vụ kháng chiến tại chỗ Mỗi bài thơ họ sáng tác được công chúng cách mạng nghe và cảm nhận trực tiếp, tạo nên tác động sinh động và sâu sắc Điều này giúp các nhà thơ trăn trở trong việc phản ánh đúng hình tượng người chiến sĩ cách mạng, thể hiện qua cách họ nói, nghĩ rõ ràng trong từng sáng tác Thời kỳ này, các cuộc trao đổi, thảo luận về cách viết thơ diễn ra sôi nổi, về việc có nên dùng vần, nhịp điệu, hay giữ các thể loại thơ cũ để phù hợp với cuộc sống, đối tượng phản ánh và công chúng mới, nhằm tạo ra những tác phẩm thơ hay, phù hợp với hoàn cảnh và yêu cầu đổi mới sáng tạo.

NHỮNG NÉT MỚI MẺ VỀ NỘI DUNG VÀ THI PHÁP CỦA TẬP ĐI! ĐÂY VIỆT BẮC! CÙNG NHỮNG PHẢN ỨNG CHUNG QUANH NÓ

SỰ ĐÀO SÂU, MỞ RỘNG NHỮNG CÁCH TÂN THI PHÁP CỦA ĐI! ĐÂY VIỆT BẮC! TRONG THƠ TRẦN DẦN VÀ THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI Ở CÁC GIAI ĐOẠN TIẾP SAU

Ngày đăng: 21/08/2023, 01:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w