1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trường từ vựng chỉ trạng thái tâm lý, tình cảm, ý chí trong tập thơ từ ấy của tố hữu

58 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Trường Từ Vựng Chỉ Trạng Thái Tâm Lý, Tình Cảm, Ý Chí Trong Tập Thơ Từ Ấy Của Tố Hữu
Tác giả Nguyễn Thị Vang
Người hướng dẫn PGS.TS. Hoàng Trọng Canh
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Ngôn ngữ
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2012
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 561,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • A. MỞ ĐẦU (6)
    • 1.1. Cơ sở lí luận (6)
    • 1.2. Cơ sở thực tiễn (7)
    • 1.3. Các lý do khác (0)
    • 2.1 Những công trình nghiên cứu về tập “Từ ấy” (7)
    • 2.2 Những công trình nghiên cứu về trường từ vựng (8)
    • 3.1 Đối tượng (9)
    • 3.2 Phạm vi nghiên cứu (9)
    • 6. Cấu trúc khóa luận (9)
  • Chương 1 NHỮNG GIỚI THUYẾT CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI (10)
    • 1.1. Trường từ vựng (10)
      • 1.1.1. Khái niệm trường từ vựng (10)
      • 1.1.2. Phân loại trường từ vựng (11)
        • 1.1.2.1. Trường nghĩa dọc (11)
        • 1.1.2.2. Trường tuyến tính (13)
        • 1.1.2.3. Trường nghĩa liên tưởng (13)
      • 1.1.3 Trường từ vựng trong tác phẩm nghệ thuật (14)
      • 1.1.4. Trường từ vựng trong thơ Tố Hữu (16)
    • 1.2. Tố Hữu (18)
      • 1.2.1. Cuộc đời và thơ Tố Hữu (18)
      • 1.2.2 Tập “Từ ấy” (21)
    • 2.1. Kết quả thống kê trường từ vựng chỉ trạng thái tâm lí, tình cảm, ý chí trong tập “Từ ấy” của Tố Hữu (23)
    • 2.2. Nhận xét (31)
    • 2.3. Khả năng đảm nhiệm các chức vụ ngữ pháp trong câu của các từ thuộc trường từ vựng chỉ trạng thái tâm lí, tình cảm, ý chí (31)
      • 2.3.1. Vị ngữ (32)
      • 2.3.2. Bổ ngữ (32)
    • 2.4. Tiều kết chương 2 (33)
  • Chương 3 VAI TRÒ CỦA TRƯỜNG TỪ VỰNG CHỈ TRẠNG THÁI TÂM LÍ, TÌNH CẢM, Ý CHÍ TRONG TẬP TỪ ẤY CỦA TỐ HỮU (23)
    • 3.1. Vai trò của trường từ vựng chỉ trạng thái tâm lí, tình cảm, ý (34)
      • 3.1.1. Thể hiện tiếng lòng đồng cảm với những thân phận bị hắt hủi, đày đọa của những người lao động nghèo khổ (34)
      • 3.1.2. Thể hiện sự say mê lí tưởng; niềm căm phẫn, ý chí chiến đấu, sẵn sàng (37)
    • 3.2. Vai trò của trường từ vựng chỉ trạng thái tâm lí, tình cảm, ý chí với việc tạo dấu ấn cho phong cách thơ Tố Hữu (43)
      • 3.2.1. Giọng điệu (43)
        • 3.2.1.1. Giọng thơ tâm tình (44)
        • 3.2.1.2. Giọng quyền uy (46)
      • 3.2.2. Ngôn ngữ và hình ảnh thơ (48)
        • 3.2.2.1. Ngôn ngữ giản dị, quen thuộc (48)
        • 3.2.2.2. Hình ảnh thơ (50)
    • 3.3. Tiểu kết (54)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (57)

Nội dung

NHỮNG GIỚI THUYẾT CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Trường từ vựng

1.1.1.Khái niệm trường từ vựng:

Trường là một khái niệm đa nghĩa, bao gồm các ý nghĩa phổ biến như một khoảng đất rộng và phẳng dùng làm nơi tổ chức các hoạt động tập trung nhiều người tham gia, như trường đua, trường bắn, quảng trường Ngoài ra, từ "trường" còn chỉ các nơi diễn ra hoạt động xã hội, chính trị sôi nổi như trường quốc tế, trường ngôn luận Trong các lĩnh vực chuyên môn như toán học, sinh học, vật lí học, ngôn ngữ học, "trường" còn mang các nghĩa riêng biệt phù hợp với từng ngành khoa học.

Lý thuyết về trường trong ngôn ngữ học bắt nguồn từ những năm 1920-1930 nhờ công trình của nhà ngôn ngữ học W.V Humbol cùng các nhà ngôn ngữ học người Đức và Thụy Sĩ Sau đó, nhà ngôn ngữ học Thụy Sĩ F de Saussure cùng các nhà ngôn ngữ học Đức như Tvier và L Weisgerberg đã đưa ra những luận điểm quan trọng, góp phần thúc đẩy sự hình thành và phát triển của lý thuyết về trường Lý thuyết này đóng vai trò nền tảng trong việc nghiên cứu mối quan hệ giữa các yếu tố ngôn ngữ trong hệ thống ngôn ngữ học hiện đại.

Tuy vậy, cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về tên gọi của

“trường” Trong ngôn ngữ học vẫn còn tồn tại ba thuật ngữ : trường ,trường từ vựng, trường từ vựng ngữ nghĩa để cùng chung chỉ một khái niệm

Trong bài viết này, chúng tôi dựa trên quan niệm của GS Đỗ Hữu Châu trong cuốn “Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt” để làm cơ sở lý thuyết về khái niệm trường từ vựng GS Châu cho rằng, do tính phức tạp và lớn của ngữ nghĩa trong từ vựng, các mối liên hệ ngữ nghĩa không hiện ra rõ ràng mà chỉ được thể hiện qua việc lựa chọn ngẫu nhiên các từ trong các hệ thống phù hợp Các quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ chỉ rõ khi các từ đó được đặt vào các hệ thống con thích hợp, thể hiện qua các tiểu hệ thống ngữ nghĩa và các quan hệ giữa chúng Từ đó, tác giả định nghĩa rằng, "Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa, là tập hợp các từ đồng nhất về mặt ngữ nghĩa".

Theo chúng tôi, trường nghĩa được hiểu là khái niệm liên quan chặt chẽ với trường từ vựng, là tập hợp các từ liên kết nhờ sự đồng nhất về nét nghĩa Mỗi hệ thống ngữ nghĩa nhỏ hơn trong đó được gọi là trường nghĩa, phản ánh các từ đồng nhất về một đặc điểm nghĩa nào đó Trường từ vựng bao gồm các nhóm từ như từ đồng nghĩa, trái nghĩa, và các từ phái sinh cùng gốc, trong đó mức độ chung về nghĩa càng nhiều thì trường từ vựng càng hẹp.

1.1.2.Phân loại trường từ vựng

Trong "Giáo trình ngôn ngữ học đại cương" của Theo F de Saussure, ngôn ngữ gồm hai dạng quan hệ chính là quan hệ ngang (hình tuyến, tuyến tính, ngữ đoạn) và quan hệ dọc (trực tuyến, hệ hình) GS Đỗ Hữu Châu nhấn mạnh rằng hai dạng quan hệ này phân thành hai loại trường nghĩa riêng biệt, góp phần làm rõ cấu trúc và chức năng của ngôn ngữ Understanding these relationships is essential for phân tích cấu trúc ngôn ngữ trong ngành ngôn ngữ học đại cương.

- Trường nghĩa ngang (Trường nghĩa tuyến tính)

- Trường nghĩa dọc (Trường nghĩa trực tuyến) Trong trường nghĩa dọc có trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm

Theo GS Đỗ Hữu Châu, ngoài các trường nghĩa truyền thống, còn tồn tại một trường nghĩa khác có ảnh hưởng sâu sắc đến việc sử dụng từ ngữ, đó là trường liên tưởng Trường nghĩa liên tưởng giúp người sử dụng ngôn từ tạo ra các liên kết tâm lý, gợi mở ý nghĩa rộng hơn, thúc đẩy sự sáng tạo trong giao tiếp và viết lách Hiểu rõ về trường nghĩa này là yếu tố quan trọng để nâng cao khả năng diễn đạt và hiệu quả truyền đạt thông điệp.

1.1.2.1.Trường nghĩa dọc a .Trường nghĩa biểu vật

Trường biểu vật là tập hợp những từ đồng nhất về ý nghĩa biểu vật nhằm thể hiện một đặc trưng chung Để xác lập một trường biểu vật, ta chọn một danh từ gốc có tính khái quát cao, phản ánh các nét nghĩa cụ thể và hạn chế ý nghĩa của từ về mặt biểu vật Các danh từ, động từ, tính từ cùng chia sẻ ý nghĩa biểu vật liên quan được nhóm lại thành một trường biểu vật Việc xác định trường biểu vật giúp mở rộng sự hiểu biết về mối liên hệ giữa các từ và làm rõ ý nghĩa trong ngữ cảnh ngôn ngữ.

Ví dụ: trường nghĩa biểu vật chỉ người :

Người nói chung về giới : phụ nữ, đàn ông, đàn bà, nam giơí, nữ giới…

Người nói chung về nghề nghiệp : Học sinh, sinh viên, giáo viên, bác sĩ, y tá, bộ đội, công nhân, biên tập viên, …

Bộ phận cơ thể người : chân, tay, tai, tóc mắt, mũi, miệng, tim, óc, não, tủy…

Hoạt động của người: viết, vẽ, chạy, nhảy, nói cười, đọc, hát ,nghiên cứu, gặt, hái, lượm…

Tính cách của con người: hiền lành, độc ác, hung dữ, nhu nhược, gan dạ, quả cảm, hèn nhát, lười nhác, cần cù,… b Trường nghĩa biểu niệm

Trường biểu niệm là tập hợp những từ có chung cấu trúc biểu niệm

Ví dụ: Trường biểu niệm thuộc phạm trù tính chất:

Các phẩm chất đạo đức tích cực như nhân hậu, trung thực, thẳng thắn và lương thiện thể hiện hình ảnh con người tốt, có trách nhiệm và đáng tin cậy trong xã hội Ngược lại, các hành vi tiêu cực như ích kỉ, bất lương, du côn và trục lợi gây tổn hại đến đạo đức và trật tự xã hội, ảnh hưởng xấu đến hình ảnh cá nhân và cộng đồng Việc đánh giá tính chất tốt hay xấu của một người dựa trên các yếu tố đạo đức và pháp lý giúp xây dựng một xã hội văn minh, công bằng và nhân ái hơn.

Các tính chất của hành động và sự kiện có thể phản ánh nhiều chiều khác nhau, từ những đặc điểm tích cực như ân cần, nồng nhiệt, thiết tha, mặn nồng đến những nét tiêu cực như ấp úng, chua ngoa, hấp tấp, bộp chộp, láu táu, tỉ tê Đồng thời, quá trình diễn ra cũng có thể dễ dàng, suôn sẻ và thuận lợi hoặc gặp phải nhiều khó khăn, vấp váp, thử thách Hiểu rõ những đặc điểm này giúp đánh giá đúng bản chất của hành động, sự kiện trong các tình huống thực tế, nâng cao khả năng ứng xử phù hợp.

Để phân lập từ vựng thành trường biểu vật và trường biểu niệm, chúng ta dựa vào sự phân biệt giữa hai thành phần nghĩa trong từ Phân chia thành các trường nghĩa giúp định vị chính xác từng từ trong hoàn cảnh phù hợp, từ đó nâng cao hiểu biết về ý nghĩa của từ Nhờ đó, chúng ta không chỉ hiểu sâu sắc về ý nghĩa của từ mà còn nhận biết các quy tắc chi phối sự vận động của từ trong lịch sử và trong các hoạt động thực hiện chức năng giao tiếp.

1.1.2.2.Trường tuyến tính: Đó là tập hợp tất cả các từ có thể kết hợp với một từ làm gốc để tạo thành một chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu) chấp nhận được trong ngôn ngữ

Ví dụ :Trường tuyến tính của từ “chân” : to, nhỏ, thô, thon, vòng kiềng,…đi, đứng, chạy, nhảy, đá, đạp…

Các trường nghĩa tuyến tính đóng vai trò quan trọng trong việc làm rõ các mối quan hệ và cấu trúc ngữ nghĩa của từ vựng, bên cạnh trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm Chúng giúp phát hiện những đặc điểm nội tại và hoạt động của từ, từ đó nâng cao hiểu biết về ý nghĩa và chức năng của từ trong hệ thống ngôn ngữ So với các trường nghĩa khác, trường nghĩa tuyến tính tập trung vào mối liên hệ tuyến tính giữa các khái niệm, góp phần làm sáng tỏ các mối quan hệ trong hệ thống ngữ nghĩa của từ.

Trong ví dụ này, từ "Chặt" được xem là trung tâm, và các trường tuyến tính liên quan bao gồm các từ như cây, cành, củi mang nghĩa về hành động và đối tượng thực hiện; nhanh, mạnh, đứt, không đứt thể hiện đặc tính của hành động; dao, rựa mô tả công cụ dùng để chặt Các từ này giúp xây dựng bối cảnh rõ ràng và phù hợp cho quá trình phân tích ngữ nghĩa, đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu rõ về các từ đồng nghĩa, liên hệ hệ trong lập luận ngôn ngữ Đây là các yếu tố cần chú trọng để tối ưu hóa nội dung theo các tiêu chuẩn SEO cho nội dung liên quan đến phân tích từ khóa và ngữ nghĩa tiếng Việt.

Trong hệ thống ngữ pháp tuyến tính, nếu tập trung vào các từ hành động như họp, đi, đứng, chạy, nhảy, thì sẽ xuất hiện các từ chỉ nơi chốn như ủy ban, đình làng, nhà văn hóa, sân trường, đường làng Các từ này giúp mô tả rõ ràng bối cảnh và không gian liên quan đến các hành động diễn ra trong câu Việc sử dụng các từ chỉ nơi chốn phù hợp không chỉ làm rõ ý nghĩa của câu mà còn tối ưu hóa nội dung theo chuẩn SEO, giúp người đọc dễ dàng tìm kiếm và hiểu hơn về nội dung bài viết Do đó, việc xác định các từ trung tâm như hành động và nơi chốn đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc câu và hiệu quả truyền đạt thông tin.

Nhà ngôn ngữ học Pháp Ch Bally là người đầu tiên giới thiệu khái niệm trường liên tưởng, mở ra cách hiểu mới về quá trình ngôn ngữ Theo ông, mỗi từ trong ngôn ngữ có khả năng trở thành trung tâm của một trường liên tưởng, phản ánh mối quan hệ phức tạp giữa các từ và ý nghĩa trong hệ thống ngôn ngữ Khái niệm này giúp hiểu rõ hơn về cách thức chúng ta xây dựng và liên kết ý nghĩa trong giao tiếp hàng ngày.

Tố Hữu

1.2.1.Cuộc đời và thơ Tố Hữu

Tố Hữu sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo ở làng Phù Lai, Quảng Điền, Thừa Thiên Huế, với cha làm nhiều nghề để kiếm sống nhưng đam mê thơ ca và sưu tầm ca dao tục ngữ Từ nhỏ, nhà thơ đã được cha dạy làm thơ theo lối cổ, còn mẹ ông là người nổi tiếng về ca dao, dân ca Huế và luôn dành tình thương đặc biệt cho con Những bài học từ cha, những câu hát ru của mẹ, cùng với những điệu hát dân gian như hò mái đẩy, Nam ai, Nam bình đã hình thành nên tâm hồn thi sĩ, góp phần tạo nên giọng điệu ngọt ngào, ấm cúng trong các tác phẩm của Tố Hữu.

Tố Hữu bắt đầu học tại trường Quốc học Huế từ năm 13 tuổi, nơi ông đắm mình trong văn học Pháp thế kỷ 18 và 19, như tác phẩm của Voltaire, Rousseau, Hugo, Lamartin, và Bauderlaire Các nhân vật trong các tác phẩm của Gorki, Ostrovski, Romain Rolland, cùng các tác phẩm của Cac-Mac và Lenin đã giúp ông tiếp thu những suy nghĩ, tư tưởng mới mẻ Dưới sự hướng dẫn của các đồng chí lãnh đạo như Lê Duẩn, Phan Đăng Lưu, Hải Triều, Nguyễn Chí Diểu, Bùi San, Tố Hữu nhanh chóng tiếp cận và hình thành lý tưởng của Đảng Cộng Sản Năm 1936, ông gia nhập Đoàn Thanh niên Dân chủ và trở thành người lãnh đạo chủ chốt của phong trào đấu tranh ở Huế.

Năm 1938, Tố Hữu được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Đông Dương Từ đây nhà thơ nguyện hiến dâng cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng

Trong quá trình hoạt động, nhà thơ Tố Hữu từng bị bắt giam tại nhiều nhà tù như Lao Thừa Thiên, Lao Bảo, Quy Nhơn và bị đày ải lên Kông Tum Sau khi tổ chức thành công cuộc vượt ngục, ông tiếp tục tham gia hoạt động cách mạng Khi Cách mạng Tháng Tám nổ ra, Tố Hữu đảm nhiệm vai trò Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa tại Huế, thể hiện tinh thần chiến đấu anh dũng và đóng góp quan trọng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Ông giữ nhiều vị trí quan trọng trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, bắt đầu từ năm 1948 với vai trò Phó Tổng thư ký Hội Văn nghệ Việt Nam, rồi trở thành Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học - Nghệ thuật Việt Nam (1963) Tại Đại hội Đảng lần III năm 1960, ông được bầu vào Ban Bí thư và lần IV năm 1976, ông trở thành Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, Bí thư Ban Chấp hành Trung ương, Trưởng ban Tuyên huấn Trung ương, Phó Ban Nông nghiệp Trung ương Từ năm 1980, ông trở thành Ủy viên chính thức Bộ Chính trị và Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, góp phần vào các hoạt động lãnh đạo quan trọng của đất nước.

Con đường thơ Tố Hữu song hành với sự nghiệp cách mạng của nhà thơ

Năm 1937 những sáng tác của nhà thơ đăng trên báo của Mặt trận Dân chủ đã góp phần đem lại tiếng nói mới cho thơ ca đương thời

Trong giai đoạn phát triển của Thơ mới, Tố Hữu đã tìm thấy sự đồng cảm với các nhà thơ trẻ qua những nét gần gũi trong cảm xúc và cách thể hiện tư tưởng, tình cảm về nỗi đau mất nước Thơ mới đã góp phần đưa văn học Việt Nam vào thời kỳ sáng tác sôi động, tạo dựng một phong cách thể hiện chân thực, trực tiếp và xúc cảm mạnh mẽ Tố Hữu đã bộc lộ sự yêu thích nhạc điệu và hơi thơ của thế hệ thơ mới, qua đó khẳng định sự hòa quyện giữa âm hưởng nghệ thuật và nội dung cảm xúc chân thực trong văn học thời kỳ này.

Trong tâm hồn của các nhà thơ như Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận, tôi nhận thấy những nỗi băn khoăn và đau buồn của thế hệ họ Họ đều hướng tới tự do, ước mơ hạnh phúc, dù chưa tìm ra lối thoát và đôi khi cảm thấy chán nản Đây phản ánh tâm trạng chung của các nhà văn, nhà thơ thời kỳ đó, thể hiện sự đấu tranh nội tâm và khát vọng về một tương lai tươi sáng hơn.

Mỗi chặng đường thơ của Tố Hữu phản ánh rõ nét các sự kiện mang tính thời sự của dân tộc, ghi nhận những biến cố lịch sử quan trọng Thơ của ông còn thể hiện sâu sắc tâm tư, tình cảm của con người thời đại trong từng giai đoạn kháng chiến và xây dựng đất nước Tố Hữu đã dùng ngôn ngữ chân thực, giàu cảm xúc để phản ánh cuộc sống, niềm tin và khát vọng của nhân dân Việt Nam qua từng chặng đường.

Tập “Từ ấy” (1937- 1946) là chặng đường đầu của đời thơ Tố Hữu, đánh dấu bước trưởng thành của người thanh niên quyết tâm đi theo ngọn cờ của Đảng

Bài thơ “Việt Bắc” diễn đạt tiếng ca hào hùng và cảm xúc sâu sắc về cuộc kháng chiến chống Pháp cùng hình ảnh những con người anh dũng Nhà thơ đã thể hiện rõ các tình cảm thiêng liêng như tình quân dân cá nước, tình cảm hậu phương dành cho tiền tuyến, và sự gắn bó giữa miền xuôi với miền ngược Nội dung còn phản ánh mối quan hệ gần gũi giữa cán bộ và quần chúng, sự kính yêu lãnh tụ, cùng tình yêu thiên nhiên, đất nước và tinh thần quốc tế vô sản.

Trong giai đoạn cách mạng mới (1955-1961), tập thơ “Gió lộng” truyền cảm hứng lớn qua các chủ đề chính về xây dựng chủ nghĩa xã hội miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam và phong trào cách mạng thế giới, chứa đựng niềm tự hào về miền Bắc xã hội chủ nghĩa Thơ ca thể hiện tình cảm sâu nặng đối với miền Nam, là tiếng hét căm hờn, góp phần truyền đạt niềm tin vào các anh hùng kiên trung, bất khuất và tương lai tươi sáng Đến hai tập “Ra trận” (1962-1971) và “Máu và hoa” (1972-1977), các tác phẩm tiếp tục thể hiện khí thế, tâm huyết của thi ca trong cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm.

Tố Hữu đã phát ra những câu thơ vang vọng khí thế quyết liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và niềm vui chiến thắng vẻ vang, biểu đạt niềm tự hào về đất nước hoàn toàn giải phóng Các tập thơ “Một tiếng đờn” (1992) và “Ta với ta” (1999) thể hiện bước chuyển mới trong phong cách sáng tạo của ông, phản ánh sâu sắc cảm xúc, suy tư, chiêm nghiệm về cuộc sống qua dòng chảy của buồn vui, được mất, sướng khổ, mừng lo Dù vậy, nhà thơ vẫn giữ vững niềm tin vào lí tưởng cách mạng và sự tỏa sáng của chữ “nhân”, thể hiện lòng kiên định và niềm tin bền vững vào con đường đấu tranh vì độc lập tự do của dân tộc.

Tố Hữu là nhà thơ tiêu biểu của nền thơ ca cách mạng Việt Nam hiện đại, với sự say mê lý tưởng đã mang vào thơ ca một phẩm chất mới: chất trữ tình riêng tư của người cộng sản, thể hiện sự hòa quyện giữa đời công và đời tư Cái riêng tư trong thơ ông chính là sự nghiệp cách mạng, thể hiện rõ sức mạnh của thơ qua lý tưởng cộng sản mà ông theo đuổi suốt đời Thơ Tố Hữu còn hấp thụ nguồn mạch dân tộc, thể hiện sự thống nhất giữa cách mạng và truyền thống trong hình thức nghệ thuật Qua những tác phẩm của mình, ông giúp thế hệ sau ghi nhớ những tháng năm gian khổ của đất nước, đồng thời tôn vinh chặng đường lịch sử vẻ vang qua những vần thơ sinh động Thơ của ông còn sống mãi trong lòng độc giả qua thời gian, trở thành biểu tượng của tình yêu nước và lý tưởng cách mạng.

Năm 1996, Tố Hữu được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật nhấn mạnh những đóng góp to lớn của ông cho sự nghiệp cách mạng và văn học.

"Từ ấy" là tập thơ đầu tay của Tố Hữu, gồm 71 bài chia thành ba phần: Máu lửa, Xiềng xích và Giải phóng, phản ánh ba giai đoạn quan trọng trong mười năm đầu hoạt động cách mạng của ông Tập thơ thể hiện tâm hồn trẻ trung, nhiệt huyết và mong muốn góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc của tác giả Các bài thơ trong "Từ ấy" đã trở thành biểu tượng của lòng yêu nước, tinh thần cách mạng và khát vọng tự do của thế hệ trẻ Việt Nam Đây là tác phẩm có ý nghĩa lịch sử và giá trị văn học sâu sắc, thể hiện chân thực ước mơ, lý tưởng của Tố Hữu trong giai đoạn đầu đời hoạt động cách mạng.

Chàng thanh niên đã vượt qua những băn khoăn về lẽ yêu đời để tìm thấy lý tưởng Cộng sản Dưới sự dẫn dắt của lý tưởng của Đảng, anh đã chọn con đường mới hướng về cuộc đời, gắn bó với quần chúng nhân dân và những anh em lao khổ Tư tưởng Cộng sản giúp anh tiếp nhận nguồn sinh lực mới, mạnh mẽ và bất tận để cống hiến cho tổ quốc.

Trong phần “Máu lửa”, Từ ấy thể hiện tiếng reo ca náo nức của một tâm hồn trẻ khát khao lẽ sống đã gặp lý tưởng cách mạng, đồng thời thể hiện lòng cảm thông sâu sắc với những số phận bị đọa đày và hắt hủi của người lao động nghèo trong xã hội, như em bé mồ côi, chị vú em, ông lão đầy tớ, cô gái giang hồ tủi phận Phần “Xiềng xích” như một bản quyết tâm của người chiến sĩ trẻ, thể hiện ý chí không khuất phục trước súng đạn, tra tấn tàn bạo của kẻ thù và sẵn sàng đối mặt mọi khó khăn, thử thách để cống hiến tuổi trẻ và đấu tranh cho lý tưởng cách mạng Đến phần “Giải phóng”, bài viết tiếp tục khắc họa tinh thần chiến đấu anh dũng của người trẻ trong hành trình giải phóng dân tộc.

Từ ấy còn là tiếng thét căm thù đối với sự áp bức của hai đế quốc Pháp- Nhật

(bài Tiếng hát trên đê, Đói! Đói! Đói!); là sự dự cảm tin lành chiến thắng (bài

Xuân đến); là niềm say sưa ca niềm vui bất tuyệt của độc lập, tự do (bài Huế tháng Tám, Vui bất tuyệt)

Kết quả thống kê trường từ vựng chỉ trạng thái tâm lí, tình cảm, ý chí trong tập “Từ ấy” của Tố Hữu

Trạng thái là tình trạng hoặc dạng thức xuất hiện của sự vật tại một thời điểm cụ thể Nó vừa là thuộc tính của sự vật, vừa phản ánh quá trình diễn biến của nó Mỗi trạng thái được đặc trưng bởi những thuộc tính tồn tại trong khoảng thời gian khác nhau, từ ngắn đến dài, và sẽ thay đổi sang trạng thái mới khi điều kiện phù hợp xuất hiện.

Thế giới tâm lý của con người vô cùng đa dạng và phức tạp, bao gồm tất cả các hiện tượng tinh thần xảy ra trong đầu óc, điều khiển mọi hoạt động của con người Theo định nghĩa trong “Từ điển tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên (2006), tâm lý phản ánh các trạng thái và quá trình tinh thần giúp hiểu rõ hành vi và cảm xúc của con người Hiểu rõ về tâm lý giúp chúng ta nhận diện được những yếu tố ảnh hưởng đến hành động và phản ứng của bản thân và người khác Vì vậy, nghiên cứu tâm lý học là chìa khóa quan trọng để phát triển bản thân và xây dựng các mối quan hệ xã hội hiệu quả.

Tâm trạng là trạng thái tâm lý, tình cảm của con người, phản ánh tình cảm và cảm xúc hiện tại Trong các hoạt động tâm lý của con người, trạng thái tâm lý hay còn gọi là tâm trạng đóng vai trò như một hiện tượng tâm lý phản ánh cảm xúc và tư duy trong một thời điểm nhất định Trạng thái tâm lý này góp phần hình thành nên quá trình tâm lý, hoạt động tâm lý và tư thế tâm lý của mỗi cá nhân.

Trong cuộc sống hàng ngày, mỗi người đều trải qua nhiều trạng thái cảm xúc khác nhau như vui vẻ, phấn chấn, chán nản, sảng khoái, ủ ê, hoài nghi, đau đớn, lo âu hay khắc khoải đợi chờ Những nhóm từ biểu thị tâm trạng này chiếm một tỷ lệ đáng kể trong tiếng Việt, với hơn 300 từ được thống kê bởi tác giả Nguyễn Ngọc Trâm trong cuốn “Đặc trưng ngữ nghĩa - ngữ pháp của nhóm từ biểu thị tâm lí - tình cảm trong tiếng Việt”.

Trong tiếng Việt, số lượng các từ chỉ trạng thái tâm lý, tình cảm và ý chí khá phong phú Những từ này đều phản ánh các hiện tượng tâm lý khác nhau, tạo thành một phạm trù nghĩa chung về trạng thái tâm trí của con người Chính vì vậy, các từ vựng liên quan đến ý chí, cảm xúc và trạng thái tâm lý được tập hợp và xem xét như là một lĩnh vực riêng biệt trong ngôn ngữ.

Trong quá trình khảo sát 71 bài thơ trong tập Từ ấy của nhà thơ Tố Hữu, chúng tôi đã thống kê được 312 từ vựng mô tả trạng thái tâm lý, tình cảm, ý chí, thể hiện rõ nét cảm xúc và nội tâm sâu sắc của tác giả Các từ này xuất hiện tổng cộng 673 lần, góp phần làm giàu cảm xúc và tạo nên sự chân thực trong các tác phẩm thơ của Tố Hữu Việc phân tích từ vựng về tâm trạng trong tập thơ giúp hiểu rõ hơn về cảm xúc và quan điểm sống của nhà thơ, từ đó nâng cao khả năng sáng tạo và cảm thụ văn học cho độc giả.

STT Từ Số lần xuất hiện

Nhận xét

Qua bảng thống kê trên, bước đầu chúng tôi thấy:

Số lượng từ vựng thuộc trường từ vựng chỉ trạng thái tâm lí, tình cảm, ý chí được Tố Hữu sử dụng rất nhiều trong tập Từ ấy

Trong số đó, có một số từ được lặp đi lặp lại rất nhiều lần như “buồn” (xuất hiện 38 lần), “vui” (xuất hiện 30 lần),“nhớ” ( xuất hiện 25 lần),

“quyết” (xuất hiện 21 lần), “yêu” (xuất hiện 11 lần)…

Các đơn vị từ vựng thuộc nhóm vị từ là phạm trù từ loại quan trọng nhất trong hệ thống từ loại tiếng Việt, dùng để định danh các hoạt động, trạng thái, tính chất và quá trình trong thực tế khách quan Vị từ đóng vai trò thiết yếu trong việc mô tả đặc điểm và hành động của các đối tượng trong câu, giúp tăng cường tính chính xác và rõ ràng của diễn đạt Nhờ đó, nhóm từ này đóng vai trò quan trọng trong xây dựng các câu nói có ý nghĩa, phong phú và phù hợp với quy tắc ngữ pháp tiếng Việt.

Khả năng đảm nhiệm các chức vụ ngữ pháp trong câu của các từ thuộc trường từ vựng chỉ trạng thái tâm lí, tình cảm, ý chí

thuộc trường từ vựng chỉ trạng thái tâm lí, tình cảm, ý chí

Các đơn vị từ vựng trong trường từ vựng chỉ trạng thái tâm lý, tình cảm và ý chí chủ yếu gồm các vị từ, bao gồm động từ và tính từ Động từ đóng vai trò là những từ chuyên biểu thị hành động, trạng thái hoặc quá trình, thường được sử dụng làm vị ngữ trong câu Đây là nhóm từ quan trọng giúp diễn đạt rõ nét các cảm xúc và ý chí trong ngôn ngữ Việt Nam.

Tính từ là “những từ chuyên biểu thị ý nghĩa, tính chất, thuộc tính thường có thể trực tiếp làm vị ngữ trong câu” [24, 965]

Các đơn vị từ vựng trong trường từ vựng mô tả trạng thái tâm lý, tình cảm và ý chí có khả năng đảm nhiệm vai trò vị ngữ trong câu, giúp diễn đạt ý nghĩa rõ ràng và chính xác Ngoài ra, chúng còn có thể đóng vai trò thành phần phụ trong các cụm từ hoặc câu, góp phần làm phong phú và linh hoạt hình thức diễn đạt trong ngữ pháp tiếng Việt Điều này cho thấy tầm quan trọng của các đơn vị từ thuộc trường trạng thái trong việc xây dựng câu văn hợp lý và đầy đủ ý nghĩa.

Vị ngữ là thành phần chính trong câu, thể hiện hành động, tính chất hoặc trạng thái của sự vật (chủ thể) dựa trên chủ ngữ về mặt hình thái ngữ pháp Vị ngữ đóng vai trò quan trọng trong việc truyền tải thông tin và giúp câu thể hiện rõ ý nghĩa của sự việc hoặc trạng thái của chủ thể Hiểu rõ chức năng của vị ngữ sẽ nâng cao khả năng xây dựng câu chính xác và mạch lạc trong ngôn ngữ Việt Nam.

Hầu hết các từ vựng mô tả trạng thái tâm lý, tình cảm và ý chí đều đóng vai trò là vị ngữ trong câu Ví dụ, các câu như “Đứa ngây ngất trong phòng xanh mát rượi” hoặc “Đây ngựa ngà, đây lính thổi kèn tây” thể hiện rõ chức năng của các từ này trong câu Các từ chỉ cảm xúc như “thèm” hay “ngây” khi đi kèm với các động từ hoặc trạng thái, giúp mô tả rõ nét tình cảm của chủ thể Đồng thời, câu “Không dám tới, e đòn roi tiếng chửi” cho thấy sự ảnh hưởng của các trạng thái tâm lý đến hành vi và ý chí của nhân vật Từ vựng thuộc trường về trạng thái tâm lý, tình cảm, ý chí đóng vai trò quan trọng trong việc diễn đạt cảm xúc và ý chí trong tiếng Việt.

Vì cũng như các như các bà

Họ thương chồng con chết Cũng yêu nước, yêu nhà Cũng căm loài quân phiệt

(Tình thương với chiến tranh) 2.3.2.Bổ ngữ

Bổ ngữ là thành phần câu có chức năng làm rõ hơn các ý nghĩa về hành động, trạng thái hoặc tính chất của động từ hoặc cụm từ trong câu Nó giúp bổ sung thông tin chính xác, làm rõ nội dung câu trở nên rõ ràng hơn Bổ ngữ đóng vai trò quan trọng trong việc hoàn chỉnh câu, giúp người đọc hiểu đúng ý nghĩa mà tác giả muốn truyền đạt Việc nhận biết và sử dụng đúng bổ ngữ là yếu tố then chốt trong kỹ năng viết và diễn đạt bằng tiếng Việt chuẩn xác.

Ví dụ: “Cậu bảo : Cũng không xa ?

Và há mồm khoan khoái Lão ngồi mơ nước Nga”

Hay : Người ta lớn bởi vì ta quỳ xuống

Có gì đâu ta cầu khẩn van lơn ?

Có gì đâu ta ôm mãi căm hờn ? Hãy đứng dậy ta có quyền vui sống

VAI TRÒ CỦA TRƯỜNG TỪ VỰNG CHỈ TRẠNG THÁI TÂM LÍ, TÌNH CẢM, Ý CHÍ TRONG TẬP TỪ ẤY CỦA TỐ HỮU

Vai trò của trường từ vựng chỉ trạng thái tâm lí, tình cảm, ý

3.1.1.Thể hiện tiếng lòng đồng cảm với những thân phận bị hắt hủi, đày đọa của những người lao động nghèo khổ

Trong văn học trung đại, các nhà văn, nhà thơ thường tìm thấy cảm xúc và ý tưởng sâu sắc qua thế giới thiên nhiên của những cây tùng, cây cúc, cây trúc, hoa mai Họ sử dụng hình ảnh thiên nhiên để thể hiện tâm trạng, tình cảm và suy nghĩ về cuộc sống, đồng thời phản ánh những gánh nặng của xã hội như những trách nhiệm cương thường, nghĩa vụ nợ tang bồng, chí nam nhi Những hình ảnh thiên nhiên không chỉ là biểu tượng mà còn là phương tiện truyền đạt tư tưởng, giá trị truyền thống của thời kỳ trung đại.

“tưởng đến”, “chạnh niềm”, “cảm khái”, hoài cổ”…Khi công danh sự nghiệp được thỏa mãn thì họ …Còn khi bất đắc chí thì họ “hận”, “sầu”,

Trong văn học, cảm xúc “oán”, “tiếc”, “thương” thường được thể hiện qua các trạng thái cực đoan như “bầm gan”, “tím ruột”, “nuốt hận”, “đứt ruột”, “bạc tóc”, biểu đạt nỗi đau đớn sâu sắc về thể xác và tinh thần Khi đối diện với nỗi buồn, họ thường tìm về thiên nhiên để tự mở lòng, thể hiện tâm trạng qua các hoạt động như uống rượu, ngắm hoa, thưởng nguyệt, giúp xoa dịu cảm xúc Đến thời kỳ Thơ Mới, các nhà thơ vẫn thường rơi vào trạng thái “sầu”, thể hiện tâm trạng u uất, trăn trở qua những hình ảnh thơ mộng, phản ánh sâu sắc nội tâm con người.

“buồn”, “bâng khuâng”, “điên loạn”…, cũng có “giây phút chạnh lòng”… nhưng là:

“Bâng khuâng trong cõi sầu vô hạn”

(Thế Lữ) và “Tôi buồn chẳng hiểu vì sao tôi buồn”

Trong bài viết, tác phẩm gửi gắm tâm trạng qua cõi mộng của các động tiên, trăng sao và thế giới ma quái, đầy điên loạn và mê đắm Khi những ảo vọng ấy khép lại, tình yêu trở nên mong manh, lặng lẽ và dễ vỡ, khiến con người cảm thấy điên cuồng rồi tỉnh táo, say đắm nhưng vẫn bơ vơ Chính cảm xúc này khiến ta ngẩn ngơ, buồn bã khi trở về với chính tâm hồn của mình, như lời Huy Cận đã diễn đạt: “ta ngẩn ngơ buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận”.

Khi đọc thơ Tố Hữu, đặc biệt là trong tập “Từ ấy”, chúng ta dễ dàng nhận thấy sự đa dạng trong tâm trạng của nhà thơ Những cảm xúc như “nghẹn ngào” và “ngậm ngùi” thể hiện rõ nét nỗi niềm sâu lắng, chân thành của tác giả trước những thay đổi của cuộc đời và cách mạng Tập thơ không chỉ là hành trình cảm xúc của Tố Hữu mà còn phản ánh tinh thần yêu nước, niềm tự hào dân tộc, và niềm xúc cảm chân thành dành cho quê hương đất nước Chính sự hòa quyện giữa các cung bậc cảm xúc giúp “Từ ấy” trở thành một tác phẩm tiêu biểu, gây ấn tượng mạnh mẽ trong lòng người đọc dù đã qua nhiều thế hệ.

Trong bài “Vú em”, hình ảnh người mẹ phải để con nhỏ ở nhà để đi làm vú em cho gia đình khác thể hiện nỗi đau lòng và sự buồn thiu sâu thẳm Cảm xúc “nhớ” và “đau”, đến mức “thổn thức”, phản ánh nỗi lòng xót xa của người mẹ khi phải xa cách con yêu để kiếm sống Tâm trạng buồn bã, trống vắng bao phủ tâm hồn người mẹ khi đặt lợi ích của người khác lên trên, khiến tâm trí luôn trĩu nặng những nỗi nhớ thương da diết Những câu chuyện trong bài thể hiện rõ nét nỗi niềm của người mẹ, vừa thương con, vừa phải chịu đựng nỗi cô đơn trong cuộc sống mưu sinh.

Trong tác phẩm “Lão đầy tớ”, những cảm xúc “đau buồn”, “tức tối” và “đau xót” thể hiện tâm trạng tuyệt vọng của nhân vật lão đầy tớ, phản ánh nỗi đau sâu sắc và nỗi nhục nhã mà ông phải chịu đựng Còn trong “Tiếng hát sông Hương”, nỗi “nhục” của cô gái giang hồ thể hiện sự xót xa, đau đớn trước những trải nghiệm cham chiu của cuộc đời, góp phần làm nổi bật trạng thái tâm lý của nhân vật trong câu chuyện.

Trong tác phẩm "Hai cái chết", hình ảnh ông lão trải qua cảm giác cô đơn, bơ vơ và tâm trạng buồn lo, tái lạnh, băng giá tượng trưng cho nỗi đau khổ và nỗi đau thương sâu sắc Những trạng thái này phản ánh rõ nét nỗi cô đơn, buồn da diết và sự lạnh lẽo tâm hồn của nhân vật, tạo nên bức tranh tâm lý đậm nét và đầy ám ảnh.

Những câu hát cảm động về nỗi ngại ngùng, cái lạnh của ngày đông vang vọng trong lòng các đứa trẻ mồ côi, những bé con nhà nghèo bị cuộc đời vùi dập, thể hiện sự yếu đuối và mong ước về sự ấm áp, hạnh phúc Những hình ảnh này phản ánh sâu sắc về cuộc sống của những em bé bơ vơ, chưa bao giờ có được cuộc sống sung sướng, trọn vẹn, khiến lòng người không khỏi xót xa và khơi dậy lòng cảm thông.

Trong tác phẩm “Từ ấy”, các từ như “mồ côi”, “hai đứa trẻ”, “tương tri” và “lạnh lùng” thể hiện không chỉ tâm trạng của tác giả mà còn phản ánh nỗi đau, khổ cực và niềm tiếc thương của những số phận nghèo khó, đặc biệt là các người nô lệ trong xã hội Điều này thể hiện rõ quan niệm của tác giả về cuộc đời và xã hội, góp phần truyền tải tư tưởng nhân đạo và niềm tin vào lý tưởng của Đảng, coi thơ như tiếng nói của sự đồng tình, sẻ chia, gần gũi và thân mật, là bạn đồng hành của những người cảm thấy chán ngán cuộc đời hoặc dũng cảm đứng lên.

Nhà thơ thể hiện tâm trạng “mưu sống cho ngày mai” xuất phát từ mong muốn “buộc lòng tôi với mọi người”, phản ánh những trạng thái tâm lý, tình cảm hòa vào cảm xúc chung của cộng đồng, đặc biệt là người nghèo khổ Trước cảnh ngộ đáng thương của những đứa trẻ mồ côi, em bé bán rong, nhà thơ cảm thấy “tơi bời”, “đau đớn” không kém phần chân thật Khi kể lại những khoảnh khắc cảm thông, gần gũi như trong “Hai cái chết”, nhà thơ thể hiện sự đồng cảm sâu sắc, thể hiện tâm trạng chung của xã hội.

“mượn một nét bàng hoàng như mất một cái gì lớn” :

“Thôi đã hết ngượng ngùng và bỡ ngỡ Ôi dịu dàng, êm ấm, phút tình thân”

Những ngày tháng bị giam cầm trong nhà tù Lao Bảo, “trải nghiệm” những tâm trạng “cô đơn” ,”uất hận”, “chua cay”, tủi nhục”, “ngao ngán”,

“buồn”, “nhớ”…nên Tố Hữu càng đồng cảm hơn với tâm trạng “buồn thảm”, “thương nhớ”, “tuyệt vọng”, “đau đớn”, “đau khổ”, “sầu não”,

“ngơ ngác”, “thờ thẫn”, …của người Thượng già Châu Ro trong bài “Châu

Bị bắt giam và bị tách khỏi buôn làng, nỗi nhớ và sự căm hờn của người bản Thượng thể hiện rõ nét qua hình ảnh “như rừng núi còn hoang sơ cất tiếng gầm đứt ruột” Những cảm xúc này phản ánh sự đau đớn và thất vọng sâu sắc của đồng bào, như tiếng rừng núi chính là tiếng lòng bị tổn thương của người dân nơi đây.

Dưới bóng mày đen, trong hốc tối như hang đá chiều hôm dày khí núi, sương mờ đọng trên đôi mắt chứa chan cảm xúc Những cảm xúc nhớ nhung, thờ thẫn hiện rõ qua vẻ mặt, dường như ngước mắt nhìn về ngàn xa xôi, gợi lên hình ảnh sâu lắng về nỗi lòng của người xa quê hoặc người đang chờ đợi điều gì đó ở phía chân trời.

Anh không khóc nhưng vì đâu chẳng biết

Có lẽ bởi bao nhiêu điều nhớ tiếc Trong lòng anh hun lại khối căm hờn

…Anh nghiến chặt hai hàm răng lẩm bẩm:

“Đau cái bụng, ui chui cha, tức lắm!”

Và đây là lời nhà thơ cũng bộc bạch với người lính gác đêm:

Ông mong muốn chia sẻ nỗi buồn về thân phận và tâm trạng bâng khuâng với người lính, thể hiện tình yêu chân thành vượt qua khó khăn Ông đợi chờ để nhận diện mặt quen lời và mong muốn bộc lộ tình cảm yêu thương với những nỗi đau khổ của cuộc đời, qua đó gửi gắm tình người sâu sắc.

“Can chi mà để sầu rơi một mình?

…Để chi e ấp buồn thêm héo lòng!

Nói đi anh, chớ ngại ngùng Buồn anh, tôi sẽ góp cùng buồn tôi

Buồn ta là của buồn đời

Buồn ta không chảy thành đôi lệ hèn

Buồn ta ấy lửa đang nhen

Buồn ta, ấy rượu lên men say nồng Ấy nguồn thân mến cảm thông Giữa hồn uất hận , giữa lòng đau thương ”

Tình cảm giai cấp trong tác phẩm của Tố Hữu nở rộ một cách đẹp đẽ và đáng trân trọng, thể hiện rõ nét trái tim chân thành và nồng nhiệt của nhà thơ Dù có thể cho rằng những cảm xúc này xuất phát từ lý tưởng Đảng, nhưng thực chất, chúng bắt nguồn từ tình cảm chân thành và sâu sắc dành cho cộng đồng, đồng bào Chính tình cảm gắn bó, thiết tha ấy đã làm nên vẻ đẹp của các tác phẩm của Tố Hữu, góp phần nâng cao giá trị nhân văn và ý nghĩa cách mạng.

3.1.2.Thể hiện sự say mê lí tưởng; niềm căm phẫn, ý chí chiến đấu, sẵn sàng hy sinh cho lí tưởng; niềm tin vào một ngày mai tươi sáng của người thanh niên Tố Hữu

Vai trò của trường từ vựng chỉ trạng thái tâm lí, tình cảm, ý chí với việc tạo dấu ấn cho phong cách thơ Tố Hữu

Giọng điệu là một phạm trù thẩm mỹ phản ánh lập trường xã hội, thái độ tình cảm và thị hiếu thẩm mỹ của tác giả, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành phong cách nhà văn và truyền cảm hứng cho người đọc Mỗi nhà văn, nhà thơ sở hữu một giọng điệu riêng, phù hợp với thái độ, tình cảm, lập trường tư tưởng và đạo đức của họ đối với các hiện tượng được mô tả Giọng điệu trong tác phẩm gắn liền với “giọng trời phú” của từng tác giả, đồng thời mang nội dung nghệ thuật khái quát phù hợp với đối tượng thể hiện.

Trong tập "Từ ấy", khảo sát cho thấy hai giọng điệu chính là giọng tâm tình và giọng quyền uy đóng vai trò chủ đạo Các đơn vị từ vựng mô tả trạng thái tâm lý, tình cảm, ý chí góp phần rất lớn trong việc thể hiện rõ nét các giọng điệu này.

Trong tập thơ “Từ ấy,” các đơn vị từ vựng thể hiện trạng thái tâm lí, tình cảm, ý chí góp phần tạo nên giọng điệu tâm tình sâu lắng Giọng điệu ấy thể hiện sự đồng cảm, trìu mến của nhà thơ dành cho những người lao động nghèo khổ, mà ông coi như cha mẹ, anh em trong đại gia đình dân tộc Việt Nam Nhà thơ gửi gắm lời tâm tình xúc động dành cho những em nhỏ sống “bơ vơ chưa bao giờ sung sướng,” thể hiện tình cảm chân thành, sự chia sẻ và mong muốn đem lại niềm an ủi, hy vọng cho những mảnh đời khó khăn.

“Biết chăng em, hỡi bạn chơ vơ

Anh từng phen ngừng bước thẫn thờ Chạnh lòng tưởng bốn phương trời xa vắng Một tấm lòng yêu thương trong yên lặng”

Ngay cả những người dân nhà thơ mới chỉ gặp một lần cũng tạo cho ông cảm xúc thân quen đến độ:

“Tôi gặp bà con mới một lần

Mà sao lòng đã thấy yêu thân Như quen biết tận ngày xưa ấy Mỗi mặt phong trần, mỗi nét nhăn”

Trong những ngày đông lạnh lẽo, nhà thơ gửi gắm nỗi nhớ và niềm thương sâu sắc tới “bạn” qua giọng thơ tâm tình tha thiết dù đang trơ trọi một mình trong nhà lao Lao Bảo Bài thơ thể hiện tâm trạng cô đơn, nỗi nhớ nhà và mong hướng về những ngày tháng bình yên bên người thân yêu, tạo nên cảm xúc chân thành, xúc động trong lòng độc giả.

“Một mình trơ trọi giữa phòng xà lim Nằm nghe chuyện mình với mình Mênh mông nhớ bạn, gửi tình trăm phương…”

"Bạn" là một danh từ chung, thể hiện tình cảm mênh mông của nhà thơ dành cho tất cả mọi người ở mọi nơi Tình cảm ấy không phân biệt đối tượng, chỉ cần họ là đồng chí, là những người cùng chung lý tưởng và mục đích sống Thông qua đó, tác giả gửi gắm thông điệp về tình bạn chân thành, đoàn kết và sự sẻ chia trong cuộc sống Đây là lời nhấn mạnh về giá trị của tình cảm đồng đội và sức mạnh của sự gắn bó trong cộng đồng.

Tố Hữu xem những người thân thiết của mình như những người anh em, những người bạn thân thiết, mà sau này ông thường gọi là “bạn đời yêu dấu” Đó không chỉ là những em bé bơ vơ, những người dân mà ông mới gặp lần đầu, mà còn là người anh mà nhà thơ chưa từng biết mặt.

“Tôi nhớ đàn anh tự thuở xưa Thiết tha , tuy chửa gặp bao giờ”

Tố Hữu đến bên họ để thủ thỉ tâm tình, sẻ chia tình yêu thương đồng loại, nhằm lan tỏa sự đồng cảm và gắn kết mọi người xung quanh Nhà thơ mong muốn mang đến những lời tâm huyết, khơi dậy tình cảm chân thành, giúp mọi người xích lại gần nhau hơn qua những câu chuyện chân thật và cảm xúc Đây là hành động thể hiện tình yêu thương, chia sẻ và sự đồng hành cùng cộng đồng, góp phần xây dựng mối quan hệ gắn bó, đoàn kết trong xã hội.

“Hỡi những người bạn đã bao ngày đau xót Lòng ưu tư giá lạnh như chiều nay

Hãy đưa tôi nắm chặt bàn tay Của bạn! Trong mưa phùn gió rét Lòng sẽ ấm cùng nắm tay đoàn kết

Ta đi đi, tìm hạnh phúc từ đây!”

Không chỉ vậy, giọng tâm tình thiết tha ấy nhà thơ còn dùng để nói về

Tổ Quốc, quê hương với tất cả tình yêu thương:

“Đường qua mấy phố Quy Nhơn Nhà sao trông lại yêu hơn mọi lần

Người đi quấn áo chen chân Ờ sao như thấy quen thân từ nào?”

Hay : “Xóm làng phảng phất quê hương

Nước non man mác tình thương mặn nồng”

Với một “thi sĩ của tình thương” như Tố Hữu, giọng tâm tình là giọng điệu chủ đạo, đưa “những hồn đồng điệu” đến với “những hồn đồng điệu”

Giọng quyền uy là loại giọng thơ đặc biệt, chỉ xuất hiện trong những thời kỳ cách mạng dữ dội với khí thế cách mạng trào dâng Nó chỉ được thể hiện khi nhà thơ thực sự đại diện cho tư tưởng tiến bộ và giai cấp cách mạng, mang sứ mệnh truyền đạt một tiếng nói đúng đắn về tư tưởng, đánh giá, phương hướng và tình cảm Giọng quyền uy thể hiện sức mạnh tinh thần, là biểu hiện của sự tự tin, khí thế chiến đấu của các nhà thơ trong thời kỳ cách mạng bùng nổ.

Tố Hữu vừa là một thi sĩ vừa là một chiến sĩ, luôn lấy lý tưởng Đảng làm kim chỉ nam trong mọi suy nghĩ và hành động Từ một học sinh tiểu tư sản, ông đã vượt qua thử thách để trở thành người chiến sĩ cách mạng kiên trung Khát vọng và niềm tin vào lý tưởng cộng sản đã giúp ông tạo dựng giọng thơ uyên bác, quyền uy ngay trong tập thơ đầu tiên Thành công này không chỉ góp phần thúc đẩy sự nghiệp sáng tác của ông mà còn giúp truyền tải tư tưởng cách mạng tới đông đảo quần chúng nhân dân, lực lượng cách mạng chủ chốt.

Trong tập thơ "Từ ấy", các đơn vị từ vựng thể hiện hai sắc thái chính: một là những từ liên quan đến trạng thái tâm lý, tình cảm tạo nên giọng điệu tha thiết và cảm xúc sâu lắng; hai là các từ thể hiện ý chí mạnh mẽ như "Phải", "không", "chớ" kết hợp với phụ từ, góp phần tạo nên giọng điệu quyền uy, tràn đầy sức mạnh, thể hiện sự kêu gọi quyết đoán và quyết tâm của tác giả Sự cân đối giữa cảm xúc chân thành và ý chí mạnh mẽ đã tạo nên chiều sâu và sức hút riêng cho tập thơ.

“Da rét, mặc! Tả tơi quần áo, mặc!

Phải gắng lên mỗi đứa chúng mình ơi!

…Dầu phải chết một phần ta cứ chết!

Không kêu ca, không tiếc hối, than phiền

Quyết không để cả đoàn tan nát hết Bạn thuyền ơi! Nỗ lực bơi chèo lên!”

Vì tình thương, vì lòng yêu Tổ Quốc:

“Hận thù đế quốc quyết không nguôi”

Và thúc giục mọi người:

“Quyết chiến đấu! Nào ta liên hiệp lại Hỡi tù nhân của khốn nạn của bần cùng Ngày mai đây tất cả sẽ là chung

Tất cả sẽ là vui và ánh sáng!”

Giọng thơ ấy khẳng định một cách quyền uy:

Trong hành trình hướng tới thành công, chúng ta chỉ còn một con đường duy nhất: cách mạng Niềm tin vững chắc sẽ giúp mỗi người nắm chắc cơ hội thành công, như những con tàu kiên cường vượt sóng lớn giữa biển khơi rộng lớn Dù còn xa đất mục tiêu, lòng tin ngày càng mạnh mẽ vẫn luôn hướng về ngày đạt được những thành tựu lớn, thúc đẩy tinh thần không ngừng tiến bước vững vàng trên con đường đã chọn.

Khi phủ định cũng rất quyền uy :

“Ai tưởng ngàn năm nương đất ấy Mầm non thêm nhựa, lá thêm tươi Ôi mỉa mai! Hồn ta chỉ thấy Rêu hèn sống gửi nhánh khô thôi”

Giọng quyền uy của Tố Hữu thể hiện sức mạnh sảng khoái, mở ra những bước phát triển mới cho thơ trữ tình Việt Nam Cùng với giọng tâm tình tha thiết, giọng quyền uy đã tạo ra sức hấp dẫn đặc biệt, khiến tác phẩm của ông thu hút và lôi cuốn người đọc một cách khó cưỡng.

3.2.2.Ngôn ngữ và hình ảnh thơ

Ngôn ngữ luôn là yếu tố hàng đầu của văn học, trong khi hình ảnh thơ là sự kết tinh của ngôn ngữ đó Cả tiếng vọng trong tâm linh và tiếng gọi của vô thức đều cần có hình thức biểu hiện, trong đó không thể thiếu ngôn ngữ và hình ảnh Các đơn vị từ vựng trong tập “Từ ấy” không chỉ góp phần tạo nên giọng điệu thơ mà còn thể hiện cách sử dụng ngôn từ giản dị, quen thuộc, gắn liền với những hình ảnh đặc trưng của nhà thơ.

3.2.2.1.Ngôn ngữ giản dị, quen thuộc Đến với thơ ca, Tố Hữu cũng có những quan niệm riêng của mình Ông đã từng phát biểu “Chúng ta phải chống (…) khuynh hướng cho rằng kĩ thuật quyết định hết thảy, kĩ thuật là một cái gì vĩnh viễn, tuyệt đối, khuynh hướng công thức hóa nguyên tắc, khiến cho những nguyên tắc hóa thành những dây trói nghệ thuật”.[ 11, 35] Dù đó là quan điểm về sau này của ông, nhưng qua tập thơ đầu tay “Từ ấy”, chúng ta thấy Tố Hữu không quá cầu kì cho việc lựa chọn ngôn từ Trần Đình Sử trong “Thi pháp thơ Tố Hữu” đã đưa ra nhận định rằng thơ Tố Hữu không có gì đặc sắc về mặt từ ngữ Dường như nhà thơ này không có sáng tạo gì mới mẻ, độc đáo mà chỉ sử dụng vốn từ tòan dân

Tố Hữu rất khéo léo trong việc sử dụng vốn từ ngữ, và chính sự giản dị mang tính toàn dân đó đã tạo nên phong cách độc đáo cho thơ ông Chính nét đơn giản này phù hợp để khơi gợi cảm xúc, giúp độc giả thấm đẫm hình ảnh những ngày xưa ấy và cảm nhận sâu sắc về quá khứ.

“Ngày xưa trong tay mẹ Nằm ngủ giấc mơ êm Ngày xưa còn thơ bé Ríu rít như đàn chim

Ngày xưa của tình yêu Hai trái tim nồng ấm

Ca hát những ban chiều Hai đầu xuân đằm thắm

Ngày xưa là hy vọng Của bao mẹ hiền từ Ngày xưa là tiên động Của nỗi niềm ưu tư ”

Tiểu kết

Việc sử dụng trường từ vựng chỉ trạng thái tâm lí, tình cảm, ý chí trong tập

"Từ ấy" giúp nhà thơ diễn đạt thành công nội dung tư tưởng của tập thơ bằng những giọng điệu phù hợp, thể hiện qua hình thức ngôn từ giản dị và những hình ảnh thơ đặc trưng Điều này nhấn mạnh vai trò của từ vựng trong sáng tác văn học, khi được vận dụng khéo léo để thể hiện cảm xúc và ý nghĩa sâu sắc.

1 Bất cứ từ ngữ nào trong ngôn ngữ cũng thuộc về một trường nhất định Việc tập hợp các từ ngữ vào một trường nhất định có tác dụng lớn trong việc tìm hiểu, truyền đạt nội dung, tư tưởng giữa những người tham gia giao tiếp cũng như trong sáng tạo nghệ thuật

2 Cũng như nhiều nhà văn, nhà thơ khác, Tố Hữu cũng rất thành công trong việc tạo ra các trường từ vựng trong sáng tác của mình làm tăng sức hấp dẫn cho dòng thơ ca cách mạng của ông

Tập thơ “Từ ấy” của Tố Hữu gồm 71 bài, phản ánh chặng đường hoạt động ten năm đầu của nhà thơ với một tiếng hát ca ngợi lí tưởng cách mạng và một bản cáo trạng đanh thép chống chế độ nô lệ Tập thơ là lời tuyên ngôn quyết tâm của người chiến sĩ trẻ, thể hiện rõ tình cảm giai cấp, sự căm phẫn và uất ức trước chế độ thống trị, giới giàu có bóc lột và ăn bám xã hội Trong đó, nhà thơ sử dụng các từ vựng phản ánh trạng thái tâm lý, tình cảm và ý chí, góp phần thành công trong việc thể hiện tâm hồn và tấm lòng của người chiến sĩ trẻ Tố Hữu.

4 Số lượng các đơn vị từ vựng thuộc trường từ vựng chỉ trạng thái tâm lí tình cảm, ý chí xuất hiện trong tập thơ là rất nhiều : 312 từ với 673 lượt xuất hiện Qua đó phần nào hình dung được số lượng từ thuộc trường từ vựng loại này trong tiếng Việt rất phong phú đa dạng

Trong tập thơ “Từ ấy”, các đơn vị thuộc trường từ vựng thể hiện trạng thái tâm lý, tình cảm đều là các trạng từ, một lớp từ quan trọng trong tiếng Việt Những từ này chủ yếu đóng vai trò vị ngữ trong câu, góp phần xây dựng ý nghĩa chính của câu cú Bên cạnh đó, một số từ còn được sử dụng làm bổ ngữ, làm rõ hơn ý nghĩa của thành phần chính trong câu.

5 Với việc sử dụng trường từ vựng chỉ trạng thái tâm lí, tình cảm, ý chí

Tố Hữu đã thể hiện thành công nội dung tư tưởng của tập thơ, đồng thời tạo dấu ấn đặc biệt cho phong cách thơ của riêng mình Những tác phẩm của ông từ những ngày đầu còn mang đậm phong cách thơ ca cách mạng, góp phần khẳng định vị trí quan trọng trong nền văn học Việt Nam Phong cách sáng tạo độc đáo của Tố Hữu không chỉ phản ánh tinh thần yêu nước, cách mạng mà còn ghi dấu ấn sâu sắc trong lòng độc giả yêu thơ.

6 Vấn đề nghiên cứu của chúng tôi còn rất mới mẻ và khó Do chưa thời gian có hạn và khả năng nghiên cứu còn hạn chế nên chúng tôi chưa thể đi sâu và chi tiết hơn Người viết rất mong được sự quan tâm, góp ý của các độc giả và hy vọng sẽ tiếp tục nghiên cứu rộng hơn vấn đề này trong các tập thơ tiếp theo của nhà thơ Tố Hữu.

Ngày đăng: 21/08/2023, 01:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm