1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiệu quả sử dụng hai loại thức ăn nuri và laone trong quy trình nuôi tôm thẻ chân trắng (penaus vannamei) thương phẩm tại công ty tnhh thông thuận phước thể tuy phong bình thuận

71 6 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá hiệu quả sử dụng hai loại thức ăn Nuri và Laone trong quy trình nuôi tôm thẻ chân trắng (Penaus vannamei) thương phẩm tại công ty TNHH Thông Thuận - Phước Thể - Tuy Phong Bình Thuận
Tác giả Đoàn Quốc Hưng
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Thức Tuấn
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Nuôi trồng thủy sản
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2012
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1 Một số đặc điểm của tôm thẻ chân trắng (0)
    • 1.1.1 Hệ thống phân loại và đặc điểm hình thái của tôm thẻ chân trắng (10)
    • 1.1.2 Đặc điểm phân bố và vòng đời của tôm thẻ chân trắng (11)
    • 1.1.3 Môi trường sống của tôm thẻ chân trắng (14)
    • 1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng và tập tính ăn của tôm thẻ chân trắng (14)
    • 1.1.5 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của tôm thẻ chân trắng (15)
    • 1.1.6. Đặc điểm sinh sản (16)
  • 1.2 Tình hình sản xuất tôm he chân trắng thương phẩm (0)
    • 1.2.1 Trên thế giới (17)
    • 1.2.2 Ở việt nam (20)
      • 1.2.2.1 Tình hình sản xuất tại bình thuận (22)
      • 1.2.2.2. Vài nét cơ bản về cơ sở thực tập (0)
    • 1.3.1 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước (24)
    • 1.3.2. Tình hình sản xuất thức ăn công nghiệp ở việt nam (25)
  • 2.1. Thời gian và địa điểm (32)
  • 2.2. Đối tượng nghiên cứu (32)
  • 2.3. Vật liệu nghiên cứu (32)
  • 2.4. Nội dung và các chỉ tiêu nghiên cứu (32)
  • 2.5 Phương pháp nghiên cứu (32)
    • 2.5.1. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu (32)
    • 2.5.2. Phương pháp theo dõi một số yếu tố môi trường trong ao nuôi thí nghiệm (34)
    • 2.5.3. Theo dõi tốc độ tăng trưởng và ước lượng tỉ lệ sống (34)
      • 2.5.3.1. Xác định tỷ lệ sống (0)
      • 2.5.3.2. Theo dõi khối lượng (35)
      • 2.5.3.3. Theo dõi chiều dài (36)
  • 2.6. Phương pháp thu thập và xử lý số liệu (38)
  • 3.1. Kết quả theo dõi các yếu tố môi trường (39)
  • 3.2. Đánh giá hiệu quả sử dụng của 2 loại thức ăn công nghiệp đối với tỷ lệ sống và tăng trưởng (43)
    • 3.2.1. Kết quả theo dõi tỷ lệ sống (43)
    • 3.2.2. Kết quả theo dõi sự tăng trưởng cùa tôm (45)
      • 3.2.2.1. Sự tăng trưởng của tôm nuôi về khối lượng (45)
      • 3.2.2.2. Sự tăng trưởng của tôm nuôi về chiều dài (48)
    • 3.2.3. Sự đồng đều của tôm ( khi thu hoạch) (0)
    • 3.2.5. Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) giữa các công thức sử dụng các loại thức ăn công nghiêp khác nhau (0)
  • 3.3. Kết quả sản xuất (53)
  • Tài liệu tham khảo (57)

Nội dung

Một số đặc điểm của tôm thẻ chân trắng

Hệ thống phân loại và đặc điểm hình thái của tôm thẻ chân trắng

Hệ thống phân loại của tôm he chân trắng (Penaeus Vanamei) thuộc họ tôm he (Penacidea), được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau như White Leg shrimp trong tiếng Anh và tôm thẻ chân trắng trong tiếng Việt.

Ngành: Arthropoda Lớp: Crustacea Bộ: Decapoda

Họ chung: Penaeidea Họ: Penaeus Fabricius Giống: Penaeus Loài: Penaeus vannamei , (Boone 1931)

Hình 1.1 Tôm thẻ chân trắng (L vannamei) và đặc điểm hình thái cùng cấu tạo của chúng Giống như các loài tôm he khác, tôm chân trắng có cấu tạo gồm nhiều bộ phận chính, góp phần vào chức năng và sinh trưởng của loài Những đặc điểm cấu tạo này giúp tôm chân trắng phát triển tốt trong môi trường nuôi thủy sản.

Hình thái và cấu tạo của tôm thẻ chân trắng (L vannamei) thể hiện đặc điểm rõ ràng với chuỷ có từ 2-4 đôi răng cưa phía bụng, vỏ giáp có gai gân và gai râu nổi bật nhưng không có gai mắt, gai đuôi, rãnh sau mắt hay rãnh tim mang Tôm có 6 đốt bụng, 3 đôi mang trứng, rãnh bụng rất hẹp hoặc không có, gai đuôi không phân nhánh và râu ngắn hơn vỏ giáp Tôm đực khi trưởng thành có bộ phận giao phối cân đối, không có màng che, không phóng tinh, gân bụng ngắn và túi chứa tinh hoàn rõ ràng với cấu trúc liên kết đặc biệt nhằm phục vụ sinh sản Tôm cái khi trưởng thành có túi thụ tinh mở, đốt sinh dục thứ 14 gợn lên thành mấu lồi hoặc khe rãnh, thể hiện rõ đặc điểm sinh học của loài.

Đặc điểm phân bố và vòng đời của tôm thẻ chân trắng

Tôm thẻ chân trắng có nguồn gốc từ khu vực Vịnh Mexico ở châu Mỹ thuộc Thái Bình Dương và hiện nay được nuôi rộng rãi trên toàn thế giới như Đài Loan, Trung Quốc và Việt Nam, trở thành loài tôm phổ biến trong ngành nuôi trồng thủy sản toàn cầu.

Hiện nay, có 8 loài tôm he phổ biến được nuôi trên toàn thế giới, trong đó tôm Sú, tôm Nương và tôm he chân trắng là những đối tượng chính có sản lượng lớn Ở Việt Nam, sự phát triển của nuôi tôm he chủ yếu phân bố theo vùng lãnh thổ, với các tỉnh miền trung và miền bắc tập trung vào nuôi tôm Thẻ Chân Trắng, trong khi các tỉnh miền Nam phát triển các loại tôm he phù hợp với điều kiện địa phương.

Bộ và các tinh phía Nam thì phù hợp cho sự phát triển của tôm Sú hơn

Các loài thuộc giống Panaeus phân bố tự nhiên ở vùng nhiệt đới khắp thế giới từ

Các đối tượng nuôi chính nằm trong phạm vi vĩ độ Bắc đến vĩ độ Nam 40 độ, bao gồm hai loại chính là P vannamei và P stylirostris, phân bố chủ yếu dọc theo bờ Đông Thái Bình Dương Ngoài ra, còn có sáu loài khác gồm P monodon, P japonicus, P chinensis, P merguiensis, P indicus và M.ensis, phân bố rộng rãi trong vùng Ấn Độ Dương – Tây Thái Bình Dương.

Mỗi loài tôm có vùng phân bố địa lý khác nhau tùy thuộc vào yêu cầu điều kiện môi trường sống của chúng P chinensis thích nghi với nhiệt độ thấp và chủ yếu phân bố ở Trung Quốc và Hàn Quốc Trong khi đó, P monodon có phạm vi phân bố rộng hơn, sống tại các vùng nước xa bờ trong điều kiện nước có độ trong cao, nơi tôm thích vùi mình vào ban ngày để tránh kẻ thù Tôm thẻ P megruiensis phổ biến ở các vùng gần cửa sông nhiều phù sa, độ đục cao, làm xáo trộn bùn đáy để tự vệ vào mùa nước trong khi độ đục giảm Một số loài tôm HE đã được nhập khẩu vào các quốc gia không phải là nơi phân bố tự nhiên của chúng, như tôm thẻ P megruiensis được nuôi thử nghiệm ở French Polynesia, New Caledonia và Fiji; tôm chân trắng được nuôi ở Đài Loan, Trung Quốc, Việt Nam, Israel, Thái Lan; tôm sú P monodon nhập khẩu vào Pháp; tôm HE Nhật Bản được nuôi ở Italy Vùng phân bố của tôm HE cũng thay đổi theo từng giai đoạn phát triển, từ sống ở tầng mặt và tầng giữa trong giai đoạn ấu trùng, chuyển sang sống ở đáy khi trưởng thành Tôm P monodon sống ở độ sâu không quá 6m trong giai đoạn ấu niên và thiếu niên, sau đó di chuyển xa bờ, sống ở vùng triều và ngoài khơi với độ sâu tối đa lên đến 180m Ở Việt Nam, tôm HE chủ yếu phân bố ven biển miền trung từ Quảng Bình đến Vũng Tàu, và trước đây chỉ có ở Kiên Giang miền Nam, nhưng do di chuyển giống từ miền Trung mà xuất hiện nhiều hơn Các loài tôm như P merguiensis và P indicus phân bố rộng rãi, P merguiensis nhiều ở miền Bắc, P indicus tập trung nhiều ở miền Nam, đặc biệt tại các cửa sông Tôm đất Metapeneus ensis phù hợp với nhiều loại đất đáy, có khả năng chịu đựng môi trường khắc nghiệt cao, giúp chúng phân bố rộng khắp nơi.

Hiểu rõ đặc điểm phân bố và điều kiện môi trường sống của các loài giúp chúng ta quy hoạch, lựa chọn đối tượng nuôi phù hợp cho từng vùng và mùa vụ, đồng thời chọn thời điểm khai thác giống tự nhiên một cách hợp lý Quá trình phát triển của tôm thẻ chân trắng từ trứng đến giai đoạn Postlarvae gồm 6 giai đoạn Nauplius kéo dài 1,5 ngày, 3 giai đoạn Zoea khoảng 5 ngày, và 3 giai đoạn Mysis khoảng 3 ngày; trứng nở thành ấu trùng Nauplius sau 14-15 giờ Thời gian biến đổi qua các giai đoạn ấu trùng phụ thuộc vào nhiệt độ nước, ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của tôm.

Hình 1.3 Vòng đời của tôm he (Penacidae)

Trong tự nhiên, tôm trưởng thành giao phối và sinh đẻ tại các vùng biển có độ sâu khoảng 70 mét, nhiệt độ từ 26-28°C và độ mặn cao khoảng 35‰ Trứng sau khi nở thành ấu trùng, vẫn duy trì khu vực sinh sống ở vùng biển sâu này cho đến giai đoạn potlarvae, khi chúng bắt đầu di chuyển và phát triển mạnh mẽ hơn trong môi trường biển rộng.

Tôm chân trắng trưởng thành gần bờ, sống ở đáy các vùng cửa sông cạn với điều kiện môi trường khác biệt như số lượng thức ăn phong phú, độ mặn thấp hơn và nhiệt độ cao hơn Sau vài tháng phát triển, tôm con trưởng thành và di chuyển ra biển để giao phối, sinh sản theo chu kỳ tự nhiên Trong giai đoạn đầu, tôm chân trắng lớn rất nhanh, mỗi tuần có thể tăng trưởng khoảng 3g với mật độ 100 con/m² tại Hawaii, đạt kích cỡ bằng tôm sú Khi đạt khoảng 20g, tốc độ tăng trưởng chậm lại còn khoảng 1g/tuần, trong đó tôm cái thường lớn nhanh hơn tôm đực, phản ánh khả năng thích nghi và sinh trưởng vượt trội của loại tôm này.

Môi trường sống của tôm thẻ chân trắng

Bảng 1.1 Điều kiện môi trường thích hợp đối với tôm chân trắng

Nguồn:Trần Minh Anh(1983) ), Đặc điểm sinh học và kỹ thuật nuôi Tôm He,

Tôm chân trắng có khả năng thích nghi mạnh mẽ với các biến đổi đột ngột của môi trường sống, chịu đựng mức oxy thấp nhất là 1,2mg/l Chúng thích nghi tốt với sự thay đổi độ mặn, phát triển tối ưu trong khoảng 28-34‰ Ngoài ra, tôm chân trắng còn có giới hạn nhiệt độ rộng, từ 15°C đến 30°C, giúp chúng phát triển ổn định trong nhiều điều kiện khí hậu khác nhau.

35 0 C) Nuôi trong phòng thí nghiệm rất ít thấy chúng ăn thịt lẫn nhau.

Đặc điểm dinh dưỡng và tập tính ăn của tôm thẻ chân trắng

Tôm thẻ chân trắng là loài tôm ăn tạp, chủ yếu tiêu thụ các loại giáp xác, nhuyễn thể và mùn bả hữu cơ Trong tự nhiên, tôm bắt mồi liên tục trong ngày, hoạt động cường độ cao hơn khi thời tiết ổn định và thủy triều cao, giúp chúng phát triển tốt và duy trì sức khỏe.

Nền đáy Đáy cát, cát bùn Độ sâu 1 - 1.5m

Nhiệt độ 25 - 32 0 C Độ mặn 28 - 34‰ pH 7,7 - 8,5 Độ trong 30 ~ 40 cm Độ kiềm 100 ~ 120 ppm

Trong quá trình phát triển, giai đoạn nauplii thay đổi về chế độ ăn dựa trên nguồn dự trữ từ noãn hoàng, chưa bắt đầu tiêu thụ thức ăn ngoài Đến cuối giai đoạn N6, hệ tiêu hóa bắt đầu có sự chuyển động nhu động, đánh dấu bước tiến quan trọng trong sự phát triển của các cá thể con.

Trong giai đoạn Zoea, thức ăn chủ yếu là các loại thực vật nổi như tảo khuê, tảo silic như Skeletonema costatum, Chaetoceros, Cosinodiscus, liên tục được lọc và đưa vào ruột của ấu trùng, đồng thời môi trường nước cần có mật độ thức ăn đủ để duy trì quá trình lọc mồi liên tục Mật độ thức ăn yêu cầu ngày càng tăng từ Z1 đến Z3 để đáp ứng sự phát triển của Zoea Ngoài hình thức lọc là chính, ấu trùng còn bắt đầu có khả năng chủ động bắt mồi, khả năng này tăng dần từ Z1 đến Z3, đặc biệt là từ cuối Z2 trở đi Ấu trùng Zoea còn có khả năng ăn các động vật nổi kích thước nhỏ như luân trùng, nauplius của copepoda, ấu trùng động vật thân mềm và nauplius của Artemia.

Trong giai đoạn Myisis và giai đoạn Potslarvae, tôm bắt mồi chủ động chủ yếu dựa vào thức ăn từ động vật phù du như Actermia, Copepoda, cùng thức ăn tổng hợp Ở giai đoạn ấu niên, tập tính ăn của tôm thể hiện rõ nét chủ yếu là loài ăn tạp, thiên về thức ăn động vật Thức ăn của tôm gồm các loại động vật khác nhau, chẳng hạn như giáp xác, động vật thân mềm, giun nhiều tơ, cá nhỏ, cùng các loài rong tảo và mùn hữu cơ phân hủy.

Trong quá trình nuôi tôm, việc sử dụng các loại thức ăn viên có chất lượng cao đóng vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất của vụ nuôi Thức ăn phải đáp ứng đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng của tôm về hàm lượng protein, lipit, carbohydrate, chất khoáng và các axit thiết yếu khác Việc chọn lựa loại thức ăn phù hợp với từng giai đoạn phát triển của tôm là cần thiết để đảm bảo tôm được cung cấp đủ dưỡng chất, góp phần nâng cao hiệu quả nuôi trồng.

Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của tôm thẻ chân trắng

Tôm thẻ chân trắng có tốc độ sinh trưởng nhanh, đặc biệt trong 2 tháng đầu nuôi, mỗi tuần tăng trưởng khoảng 3g khi mật độ 100 con/m² ở Hawaii Để tối ưu hiệu quả nuôi, cần tăng lượng thức ăn từ sớm nhằm tận dụng khả năng lớn nhanh của tôm, giúp rút ngắn thời gian nuôi Sau khi đạt kích cỡ, tốc độ tăng trưởng của tôm chậm lại còn khoảng 1g mỗi tuần Ngoài ra, tôm cái thường lớn nhanh hơn tôm đực, theo nghiên cứu của Viện Hải dương học tại Hawaii.

(1992), trong điều kiện nuôi thương phẩm với mật độ nuôi 100 con/m2 sau 60 ngày nuôi có thể đạt 23g/con

Tôm thẻ chân trắng sinh trưởng và phát triển qua quá trình lột xác, với chu kỳ lột xác phụ thuộc vào từng giai đoạn phát triển của tôm nuôi Tốc độ tăng trưởng của tôm chân trắng khá nhanh, đặc biệt là giai đoạn tôm non, khi tốc độ tăng trưởng đạt khoảng 1,5 gam/tuần nếu tôm nhỏ hơn 20 gam/con, trong khi tôm sú chỉ đạt khoảng 1,0 gam/tuần Trong quá trình nuôi, tốc độ tăng trưởng của tôm giảm dần về sau Thời gian nuôi tôm thẻ chân trắng thường từ 75 đến 90 ngày, bắt đầu từ khi thả giống P10 – P12, với mật độ nuôi hợp lý và quy trình chăm sóc, quản lý tốt, tôm có thể đạt trọng lượng từ 10 gram trở lên.

12 gam/cá thể Tuổi thọ trung bình của tôm he chân trắng ít nhất là 32 tháng tuổi.

Đặc điểm sinh sản

Tôm thẻ chân trắng là loài tôm sinh sản ngoài tự nhiên, có khả năng thành thục và đẻ trứng quanh năm Các giai đoạn phát triển của ấu trùng tương tự như tôm sú, giúp nuôi dưỡng và phát triển dễ dàng hơn Trong môi trường tự nhiên, tôm trưởng thành sinh sản tại vùng biển có độ sâu khoảng 72m, đáy bùn cát, nước mặn 35‰, nhiệt độ từ 26-28°C Thời vụ sinh sản của tôm chân trắng thay đổi theo từng vùng và vĩ độ, ví dụ như ven biển phía Bắc, tôm đẻ từ tháng 3 đến tháng 8 nhưng cao điểm vào tháng 4-5; tại Peru, mùa sinh sản chủ yếu diễn ra từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.

Giao vĩ là quá trình tôm he chân trắng giao phối, trong đó tôm đực phóng các túi tinh từ cơ quan giao cấu để dính vào đôi chân bò thứ 3 đến thứ 5 của tôm cái Thường xảy ra sau hoàng hôn, quá trình này giúp thụ tinh diễn ra hiệu quả nhất Tuy nhiên, tỷ lệ thành công của giao vĩ trong điều kiện nuôi nhốt thường khá thấp do nhiều yếu tố ảnh hưởng Giao vĩ đóng vai trò quan trọng trong sinh sản của tôm he chân trắng, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất nuôi trồng.

Sau khi trứng thụ tinh trứng có đường kính trung bình 0,22mm trứng được thụ tinh sau 14 – 16h trứng nở ra nauplius

+ nauplius trải qua 6 giai đoạn biến thái

+ zoea có 3 giai đoạn biến thái thành mysis

+ mysis trải qua 3 giai đoạn biến thái thành post-larvae.

Tình hình sản xuất tôm he chân trắng thương phẩm

Trên thế giới

Tôm he chân trắng là một trong ba loài tôm phổ biến nhất trên thế giới và đóng vai trò quan trọng trong ngành nuôi trồng thủy sản Tại các quốc gia Châu Mỹ, sản lượng tôm he chân trắng chỉ đứng sau tôm sú, trở thành đối tượng nuôi chính chiếm hơn 70% trong tổng sản lượng tôm he ở khu vực Nam Mỹ Đây là loại tôm được ưa chuộng nhờ năng suất cao và phù hợp với điều kiện nuôi trồng của nhiều quốc gia trong khu vực.

1992) Các quốc gia châu Mỹ như Equađo, Mehico, Panama là những nước nuôi tôm he chân trắng phát triển từ đầu những năm 90

Equađo là nước đứng đầu về sản lượng tôm he chân trắng tại Nam Mỹ, năm

Năm 1991, sản lượng đạt 103.000 tấn, chủ yếu từ nuôi thủy sản bán thâm canh với năng suất trung bình 700-800 kg/ha Tuy nhiên, năm 1993, dịch bệnh Hội chứng Taura khiến sản lượng giảm chỉ còn một phần ba, nhưng sau đó đã bắt đầu hồi phục và đạt mức 120.000 tấn vào năm 1998, rồi tăng lên 130.000 tấn vào năm 1999 Đến năm 2000, dịch bệnh đốm trắng tái phát, khiến sản lượng giảm còn 35.000 tấn Mexico xếp thứ hai về sản lượng với 24.000 tấn vào năm 2000, trong khi Panama đứng thứ ba với 10.000 tấn vào năm 1999.

Từ đầu những năm 1970, tôm he chân trắng được chuyển đến các đảo trên Thái Bình Dương để nghiên cứu tập tính sinh sản và khả năng nuôi thương phẩm Đến cuối những năm 1970, loài tôm này đã được giới thiệu đến Hawaii và bờ biển Đông Thái Bình Dương nhằm mở rộng ứng dụng và khai thác nguồn lợi thủy sản.

Dương, một loại tôm he chân trắng, đã trở thành đối tượng nuôi chủ yếu tại các khu vực từ bang South Carolina và Texas ở miền Bắc Hoa Kỳ đến Trung Mỹ và Brazil ở Nam Mỹ trong 20-25 năm qua Tổng sản lượng tôm he chân trắng đạt khoảng 213.800 tấn, với giá trị thương mại khoảng 1,1 tỷ đô la vào năm 2005, thể hiện rõ sự phát triển mạnh mẽ của ngành nuôi trồng thủy sản này trên toàn cầu.

Thông tin về các đợt dịch bệnh, đặc biệt là hội chứng Taura, đã khiến sản lượng tôm chân trắng giảm sút nghiêm trọng tại các quốc gia Châu Mỹ Điều này đã tạo ra tâm lý e ngại cho các nhà quản lý quốc gia khi xem xét nhập nội, thử nghiệm và phát triển nghề nuôi tôm he chân trắng.

Các phương pháp nuôi thương phẩm kết hợp với sản xuất tôm bố mẹ trong ao quy mô lớn giúp tạo ra những dòng tôm có đặc tính vượt trội như tốc độ sinh trưởng nhanh và khả năng kháng bệnh tốt hơn Nhờ những kỹ thuật này, nước Mỹ đã thành công trong việc thuần hóa và sản xuất tôm giống SPF (Không chứa tác nhân gây bệnh đặc hữu) và SPR (Kháng tác nhân gây bệnh đặc hữu) với quy mô thương mại, mở ra triển vọng phát triển bền vững nghề nuôi tôm he chân trắng và tôm biển toàn cầu Thực trạng nuôi tôm he chân trắng ở các nước Châu Á đang ngày càng phát triển, góp phần thúc đẩy ngành thủy sản toàn khu vực.

Tôm he chân trắng có xuất xứ từ Nam Mỹ, trở thành một trong ba loài tôm có sản lượng cao nhất trên thế giới Loài tôm này cạnh tranh với tôm sú (P monodon) và tôm he Trung Quốc về mức độ phổ biến và khai thác thương mại Nhờ vào khả năng sinh trưởng nhanh và phù hợp với các hệ thống nuôi trồng, tôm he chân trắng ngày càng được ưa chuộng trên toàn cầu trong ngành thủy sản.

P.chinensis) Vào những năm 1988 - 1989 loài tôm này được di giống vào Châu Á và đã trở thành đối tượng nuôi phổ biến đặc biệt phát triển nhanh tại Trung Quốc và Thái Lan Tôm he chân trắng lần đầu tiên được đưa vào Philippin vào những năm

1978 - 1989 và ở Trung Quốc năm 1988 Tuy nhiên việc di giống chỉ thành công ở Trung Quốc và trở thành đối tượng nuôi phát triển ở nước này sau những năm 1996 -

Năm 1997, tôm he chân trắng đã nhanh chóng mở rộng sang các quốc gia châu Á như Thái Lan, Đài Loan, Malaysia, Ấn Độ, Philippines, Indonesia và Việt Nam Tính đến năm 2002, sản lượng tôm he chân trắng ở các nước châu Á đạt khoảng 316.000 tấn, chiếm 27% tổng sản lượng tôm nuôi trong khu vực Đến năm 2003, sản lượng này đã tăng lên 500.000 tấn, góp phần đáng kể vào giá trị ngành tôm nuôi của châu Á.

4 tỷ đôla năm 2003, sản lượng tôm he chân trắng ở Trung Quốc đạt 300.000 tấn

(chiếm 71% tổng sản lượng tôm của nước này), Thái Lan 120.000 tấn (chiếm 40% sản lượng tôm của cả nước)

Trung Quốc: Trung Quốc là nước sản xuất tôm lớn nhất thế giới với 37% sản lượng trong khi đó Thái Lan chỉ chiếm 16%, Việt Nam: 11%

Sản lượng tôm nuôi của Trung Quốc đã tăng nhanh chóng trong những năm gần đây, nổi bật là năm 2007 đạt mức tăng vượt bậc Cụ thể, sản lượng tôm chân trắng đã tăng gấp 8 lần, trong khi tôm sú tăng 1,2 lần so với các năm trước đó Tổng sản lượng tôm nuôi của Trung Quốc ước tính đạt khoảng 1,265 triệu tấn, góp phần nâng cao vị thế ngành thủy sản của quốc gia này trên thị trường toàn cầu.

Từ năm 1995 đến 2004, sản lượng tôm chân trắng của Trung Quốc đã tăng đáng kể từ 15% lên đến 57%, phản ánh sự phát triển mạnh mẽ của ngành nuôi tôm chân trắng trong nước Trong khi đó, sản lượng tôm sú lại giảm mạnh từ 62% xuống còn 29%, cho thấy sự chuyển dịch ưu tiên về chủng loại tôm của Trung Quốc trong giai đoạn này (Theo FAO)

Trong 3 năm 2008- 2010 sản lượng của Trung Quốc có phần giảm nhẹ và chững lại, năm 2008 là 1,286 triệu tấn, 2009 là 1,18 triệu và 2010 là 899,6 nghìn tấn Song hiện đang có một dấu hiệu đáng mừng là, theo diều tra của Tổ chức nuôi trồng thủy sản và thực phẩm thuộc Liên Hợp Quốc thì sản lượng tôm nuôi tại Trung Quốc năm nay có thể đạt 962.000 tấn, tăng 6,9% so với năm 2010 Sản lượng của nước này trong năm 2012 được dự báo là 1048.000 tấn

Trong năm 2010, xuất khẩu tôm của Thái Lan tăng ít nhất 8%, chủ yếu do sản lượng tôm tại Brazil và Indonesia giảm mạnh do dịch bệnh, trong khi lượng tôm cá đánh bắt ở Mỹ thấp hơn dự kiến vì tác động của vụ tràn dầu ở Vịnh Mexico Năm 2011, sản lượng tôm của Thái Lan ước tính đạt khoảng 553.200 tấn, tăng 0,8% so với năm trước, và dự báo sẽ tiếp tục tăng lên 591.500 tấn trong năm kế tiếp.

Năm 2011, giá tôm trên thị trường thế giới dự kiến tăng khoảng 10% do hậu quả của đợt sóng thần nghiêm trọng Theo bài viết của Wall Street Journal ngày 11-1, ngành nuôi tôm của Thái Lan và Ấn Độ – hai quốc gia xuất khẩu tôm lớn nhất toàn cầu – đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi thảm họa này Nhiều trại ươm giống và khu vực nuôi tôm con ở ven biển của hai nước bị phá huỷ hoàn toàn, gây thiệt hại lớn cho ngành công nghiệp thủy sản của khu vực.

Chủ tịch Hiệp hội tôm của Thái Lan, Somsak Paneetassayasai, dự báo rằng các trại nuôi ấu trùng tôm của nước này cần khoảng 6 tháng mới có thể hoạt động trở lại bình thường, gây ảnh hưởng đến nguồn cung tôm trên thị trường Điều này dự kiến sẽ khiến sản lượng tôm của Thái Lan và Ấn Độ giảm sâu trong thời gian tới, dẫn đến giá tôm xuất khẩu tăng cao.

Ở việt nam

Trong năm 2005, diện tích mặt nước đưa vào nuôi trồng thủy sản của Việt Nam dự kiến đạt 1 triệu ha, tuy nhiên, thực tế năm 2003 đã sử dụng gần 0,97 triệu ha Riêng lĩnh vực nuôi tôm chiếm 46.000 ha, góp phần nâng cao giá trị kim ngạch xuất khẩu năm 2003 đạt gần 2,3 tỷ USD Mặc dù diện tích nuôi tăng nhanh, sản lượng và năng suất vẫn chưa đạt mức cao, chưa phản ánh đúng tiềm năng của đất nước Chính vì vậy, nhà nước cần xây dựng các chính sách hỗ trợ và phát triển nghề nuôi tôm nhằm khai thác tối đa lợi thế của ngành thủy sản Việt Nam.

Gần đây, theo sự cho phép của Bộ Thủy sản, một số địa phương tại Việt Nam đã bắt đầu thử nghiệm nuôi tôm he chân trắng, mang lại những kết quả khả quan Các hoạt động thử nghiệm tại Quảng Ninh, Phú Yên và Bạc Liêu cùng với việc các công ty như Long Sinh, Duyên Hải Bạc Liêu và Asia Hawaii nhập giống, đã cho thấy tôm he chân trắng thích nghi tốt với nhiều loại môi trường, bao gồm nước mặn, lợ, và nước ngọt Trong đó, Công ty Duyên Hải Bạc Liêu sản xuất khoảng 3 triệu con giống mỗi ngày vào năm 2004, phục vụ nhu cầu nuôi trồng rộng rãi Năng suất nuôi tôm thương phẩm đạt từ 3 đến 5 tấn/ha, với những dự án tại huyện Hoành Bồ, Quảng Ninh, đạt từ 8,4 đến 11,8 tấn/ha, còn tại tỉnh Tiền Giang, tôm he chân trắng trong ao nước ngọt cho năng suất 1,7 tấn/ha, mở ra nhiều triển vọng cho ngành nuôi thủy sản Việt Nam.

Năm 2002, tổng sản lượng tôm he chân trắng của Việt Nam đạt 10.000 tấn, chiếm khoảng 6% tổng sản lượng tôm nuôi trong cả nước Đến năm 2003, sản lượng tôm he chân trắng đã tăng mạnh lên 30.000 tấn, chiếm khoảng 15% tổng sản lượng tôm nuôi tại Việt Nam.

Việc nuôi tôm he chân trắng tại Việt Nam đã mang lại những kết quả tích cực, góp phần đa dạng hóa đối tượng nuôi và tạo thêm cơ hội việc làm cho người dân Tôm he chân trắng có thể phát triển nguồn giống bố mẹ ngay tại ao nuôi nếu đàn thương phẩm đạt chất lượng tốt, giúp giảm chi phí sản xuất nhờ tận dụng nguồn thức ăn trong ao Thời gian nuôi ngắn từ 3 đến 3,5 tháng giúp hạn chế rủi ro, với năng suất cao từ 6 đến 7 tấn mỗi hectare Tuy nhiên, tôm he chân trắng không chỉ mắc các bệnh của tôm sú mà còn phát triển hội chứng Taura, gây dịch bệnh lớn và lây lan sang các đối tượng tôm khác, gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành thủy sản và môi trường tự nhiên Theo Bộ Thủy sản, ưu điểm của tôm he chân trắng bao gồm thời gian nuôi ngắn và năng suất tương đương tôm sú, nên được các hộ nuôi chấp nhận đầu tư rộng rãi; tuy nhiên, yêu cầu kỹ thuật cao trong sản xuất tôm giống và sức sinh sản thấp hơn tôm sú khiến việc duy trì số lượng tôm mẹ lớn là cần thiết Dù được coi là có khả năng kháng bệnh cao, thực tế tôm vẫn dễ mắc bệnh và chết hàng loạt do virus Taura trong điều kiện mật độ nuôi cao.

Sau khi du nhập vào Việt Nam, nghề nuôi tôm chân trắng đã được Bộ Thủy sản kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo phát triển bền vững Kể từ ngày 25/1/2008, ngành nuôi tôm chân trắng được mở rộng hơn khi chính thức cho phép nuôi tại các ao thâm canh, thúc đẩy sản lượng và chất lượng tôm.

Bảng 1.2: Sản lượng tôm của Việt Nam trong những năm gần đây

Nguồn: Tổng Cục thống kê 2011

Trong những năm gần đây, ngành thủy sản Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc, với sản lượng mỗi năm đều tăng so với năm trước Những thành tựu này góp phần quan trọng vào tổng thu nhập quốc doanh của đất nước, thúc đẩy nền kinh tế thủy sản phát triển bền vững.

Năm 2009, Việt Nam đã mở rộng thị trường xuất khẩu tôm ra 82 quốc gia Trong đó, 10 thị trường lớn nhất chiếm hơn 80% cả về khối lượng và giá trị xuất khẩu, gồm Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc, Đài Loan, Đức, Trung Quốc, Australia, Canada, Anh và Bỉ.

Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III hiện là đơn vị duy nhất được Bộ Thủy sản chỉ định nghiên cứu kỹ thuật sản xuất giống và cơ sở khoa học phục vụ quy hoạch vùng nuôi tôm chân trắng Đề tài này hy vọng sẽ mở ra những hướng mới giúp phát triển ngành nuôi tôm he chân trắng tại Việt Nam.

1.2.2.1.Tình hình sản xuất tại Bình Thuận Trong những năm qua đối tượng nuôi chính tại Bình thuận nói chung và ở xã Phước Thể nói riêng đối tượng nuôi chính vẫn là tôm sú, loài tôm cho sản lượng và giá trị kinh tế cao, đem lại nhiều lợi nhuận cho chủ nuôi Tuy nhiên khoảng 3 năm trở lại đây đối tượng nuôi nay vẫn có nhiều hạn chế do nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng chủ yếu là do dịch bệnh và do môi trường bị ô nhiễm Dần thay vào đó là tôm thẻ chân trắng, loài tôm có nhiều ưu điểm vượt trội và cho giá trị và sản lượng cao

Năm Sản lượng (triệu tấn)

Trong quá trình chuyển đổi, các ao nuôi tôm sú dần dần được thay thế bằng tôm thẻ chân trắng, một loài tôm có khả năng gây bệnh virus Taura rất nguy hiểm, dễ lây lan rộng trên diện tích lớn và gây thiệt hại nặng nề cho người nuôi Chính vì lo ngại về dịch bệnh, Bình Thuận chỉ cho phép nuôi tôm thẻ chân trắng thí điểm theo quy hoạch của nhà nước trước khi tiến hành sản xuất đại trà Các công ty lớn như Công ty TNHH Thông Thuận và Công ty Vinashin đã tham gia nuôi thử nghiệm, trong đó Công ty Thông Thuận đạt sản lượng 22 tấn/ha và có thể nuôi 3 vụ/năm Trong bối cảnh đó, huyện Tuy Phong - Bình Thuận cũng đang bắt đầu hình thành các hoạt động nuôi trồng thủy sản theo hướng phát triển bền vững.

Do là xã ven biển nên nó mang đầy đủ các tính chất đặc tr-ng của khí hậu vùng duyên hải Nam Miền Trung

Bình Thuận thuộc khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, nổi bật với nhiều nắng và gió, không có mùa đông và là vùng khô hạn nhất cả nước Nơi đây có hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình quanh năm cao, dao động từ 26 đến 27°C, đem lại sự an toàn và phù hợp cho du lịch và sinh hoạt.

9900 0 C/năm; độ ẩm trung bình 75 - 85%; lượng mưa trung bình 800 - 2000 mm/năm, phân hóa theo mùa và khu vực theo hướng tăng dần về phía Nam

Vùng ven biển phía Đông của Bình Thuận, gồm toàn huyện Tuy Phong, Đông Nam huyện Bắc Bình, huyện Hàm Thuận Bắc và Đông Bắc thành phố Phan Thiết, chịu ảnh hưởng chủ yếu của khí hậu ven biển Nam Trung Bộ với lượng mưa ít, đất đai khô hạn, nghèo dinh dưỡng và thực vật nghèo nàn Mặc dù có khoảng 70.000 ha đất cát khô hạn thiếu nước, đây là khu vực dồi dào năng lượng bức xạ mặt trời, mang tiềm năng lớn để phát triển các mô hình chuyên canh cây trồng và vật nuôi năng suất cao khi được giải quyết vấn đề nguồn nước tưới (Theo Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận).

Vùng biển Bình Thuận có chế độ thủy triều bán nhật không đều, với hai kỳ thủy triều lớn và hai kỳ thủy triều ròng mỗi tháng Các kỳ thủy triều này thường có nước triều yếu, triều dâng nhanh trong vòng chưa đến 10 giờ, với tốc độ từ 0,2 đến 0,25m/h Thời gian thủy triều rút mở rộng lên tới 14 giờ, mang lại sự thay đổi rõ rệt về mực nước Mức triều cao nhất đạt 1,9m, trong khi mức triều thấp nhất xuống còn dưới 0,5m, ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động hàng hải và khai thác thủy sản tại khu vực.

0,5m Kỳ triều c-ờng th-ờng xẩy ra vào đầu hoặc cuối tháng Cứ 10 - 12 ngày lại có một kỳ sinh con n-ớc Biên độ triều lớn nhất là 2,3 - 2,4m

1.3.Tình hình nghiên cứu về thức ăn nuôi tôm thẻ chân trắng

Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

Antoine Lavoisier (1743-1794), nhà hóa học vĩ đại người Pháp, được xem là người đặt nền móng cho ngành khoa học Dinh Dưỡng Phát triển của lĩnh vực dinh dưỡng học diễn ra khá chậm vào thế kỷ 19, nhưng đã bắt đầu có sự tiến bộ rõ rệt từ năm 1920 khi các nhà khoa học phát hiện ra một số vitamin đầu tiên Trong giai đoạn này, nhiều khám phá quan trọng được công bố về vai trò của vitamin, amino acids, axit béo thiết yếu, khoáng chất khoáng đại lượng và vi lượng, cùng với sự hiểu biết về quá trình trao đổi năng lượng và nhu cầu dưỡng chất của con người.

Dinh dưỡng học thủy sản mới chỉ phát triển gần đây, bắt đầu từ những nghiên cứu đầu tiên tại Corlan (Ohio, Mỹ) vào những năm 1940 Từ thập niên 1960, các nghiên cứu về dinh dưỡng thủy sản đã phát triển rất nhanh, góp phần thúc đẩy ngành thủy sản hiện đại Thức ăn nhân tạo thủy sản đầu tiên được chế tạo từ việc phối trộn các thành phần nguyên liệu bắt đầu xuất hiện từ thập niên 1950, mở ra bước ngoặt trong chế biến thức ăn thủy sản thương mại Đến cuối thập niên 1950, các loại thức ăn viên phổ biến đã được sử dụng rộng rãi tại Mỹ và Châu Âu, góp phần nâng cao năng suất và hiệu quả chăn nuôi thủy sản.

Với sự phát triển của nghề nuôi tôm, việc nghiên cứu và sản xuất thức ăn công nghiệp phù hợp đã trở thành ưu tiên hàng đầu để nâng cao năng suất và chất lượng nuôi trồng Nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đã quan tâm đến việc phát triển thức ăn cho tôm thâm canh, đặc biệt từ năm 1985 khi Shigueno nhấn mạnh yêu cầu phát triển thức ăn phù hợp cho tôm thẻ chân trắng trong điều kiện nuôi công nghiệp Các nghiên cứu này góp phần nâng cao hiệu quả và bền vững của ngành nuôi tôm thương phẩm.

Năm 1987, tổng hợp nhiều kết quả nghiên cứu đã đưa ra các công thức khẩu phần dinh dưỡng và thức ăn cho tôm, mở ra nền tảng quan trọng cho ngành nuôi tôm Các nghiên cứu tiếp theo đã xác định các nguyên tắc thiết lập khẩu phần phù hợp, đồng thời đề xuất xu hướng phát triển của thức ăn công nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả nuôi tôm, đặc biệt là Tôm Thẻ.

Việc sử dụng và sản xuất thức ăn công nghiệp nuôi tôm ở Việt Nam chỉ xuất hiện trong vài chục năm gần đây, bắt đầu từ sau năm 1998 Trước đó, nguồn thức ăn phụ thuộc hoàn toàn vào nhập khẩu và chỉ phổ biến trong những vùng nuôi bán thâm canh phía Nam Sự ra đời của công ty Cargill (Mỹ) vào năm 1998 đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong ngành sản xuất thức ăn công nghiệp nuôi tôm tại Việt Nam Tính đến năm 2006, cả nước có khoảng 15 cơ sở sản xuất thức ăn cho tôm, trong đó đa số là các công ty đa quốc gia chiếm hơn 66%, còn lại là các cơ sở sản xuất của Việt Nam.

Ngành nuôi tôm đang phát triển nhanh chóng, kéo theo nhu cầu cao về thức ăn cho tôm Tại Việt Nam, đã có nhiều tài liệu nghiên cứu về dinh dưỡng và chế độ thức ăn cho tôm, đặc biệt là Tôm thẻ, nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn của ngành nuôi tôm thương phẩm Các kết quả nghiên cứu đã đề xuất các công thức và khẩu phần thức ăn phù hợp với điều kiện sản xuất tại Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả và năng suất nuôi tôm.

Tình hình sản xuất thức ăn công nghiệp ở việt nam

Trong những năm thập niên 90 của thế kỷ XX, chính sách mở cửa và thu hút đầu tư nước ngoài đã thúc đẩy ngành sản xuất thức ăn công nghiệp phục vụ nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam Các nhà đầu tư nước ngoài như Unipresident (UP), CP Group, Hoachen, Văn Minh AB đã góp phần nâng cao quy mô sản xuất, cung cấp hàng trăm tấn thức ăn thủy sản hàng năm, trong đó thức ăn cho tôm thẻ chiếm tỷ lệ lớn Với sự mở rộng về diện tích nuôi trồng và trình độ thâm canh ngày càng cao, dự báo nhu cầu thức ăn công nghiệp dành cho tôm thẻ sẽ tăng trưởng nhanh trong những năm tới, đáp ứng xu hướng phát triển của ngành thủy sản Việt Nam.

Sau năm 1975, việc khuyến khích sử dụng nguồn nguyên liệu địa phương, sẵn có, rẻ tiền đã giúp nâng cao hiệu quả nghề nuôi cá nước ngọt ở Việt Nam Trong mô hình nuôi thâm canh, các loại thức ăn công nghiệp được khuyến khích sử dụng, ban đầu chủ yếu nhập khẩu từ nước ngoài hoặc do các công ty nước ngoài đầu tư sản xuất tại Việt Nam; đến năm 2000, đã có 64 cơ sở sản xuất thức ăn thủy sản trong nước với công suất 64.000 tấn/năm, kết hợp với nhập khẩu khoảng 40.000 tấn từ Thái Lan, Hồng Kông, Đài Loan, góp phần giảm giá thành và nâng cao hiệu quả nuôi trồng thủy sản Nghiên cứu về dinh dưỡng và thức ăn cho thủy sản, đặc biệt nhóm cá da trơn, cá đồng, tôm càng xanh và tôm biển, đã nhận được sự quan tâm lớn, trong đó còn có nghiên cứu sử dụng thức ăn tươi sống và thức ăn chế biến cho ương nuôi ấu trùng cùng tôm, cá bố mẹ Các công trình nghiên cứu này đã được áp dụng thực tế, đến năm 2003 sản lượng thức ăn trong nước đạt khoảng 250.000 tấn dành cho tôm và 100.000 tấn dành cho cá mỗi năm, góp phần nâng cao năng lực sản xuất thủy sản Việt Nam.

Việt Nam đã ghi nhận sự tăng trưởng đáng kể trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi tôm biển Trong thời gian ngắn, quốc gia này đã thu hút nhiều công ty đa quốc gia đầu tư vào các nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi thủy sản Tính đến cuối năm 2003, thị trường thức ăn thủy sản tại Việt Nam đã có sự hiện diện của 15 công ty chế biến thức ăn lớn và khoảng 20-30 công ty vừa và nhỏ, góp phần thúc đẩy ngành thủy sản phát triển bền vững.

Chính phủ đã chỉ đạo mở rộng các vùng nuôi tôm biển, nuôi cá nước ngọt và nuôi biển mới để phát triển ngành thủy sản Nhu cầu thức ăn thủy sản tăng cao đòi hỏi phải nâng cao năng lực chế biến, trong đó hiện tại Việt Nam có công suất khoảng 250.000 tấn/năm cho thức ăn nuôi tôm Tuy nhiên, năng lực này chưa đủ đáp ứng nhu cầu tương lai, khi dự kiến cần tới 300.000 tấn thức ăn nuôi tôm mỗi năm.

Công ty Cargill (Mỹ) bắt đầu sản xuất thức ăn nuôi cá từ năm 1998 Tới năm

Năm 1999, thị trường thức ăn nuôi tôm ở Việt Nam đối mặt với cuộc cạnh tranh gay gắt giữa các sản phẩm nhập khẩu, chủ yếu từ CP Group, và các nhà máy sản xuất trong nước Để thích nghi với thị trường này, công ty Proconco, liên doanh giữa Pháp và Việt Nam, đã quyết định mở rộng hoạt động bằng việc sản xuất thức ăn chăn nuôi gia súc nhằm phục vụ các phương thức nuôi có vốn đầu tư thấp như nuôi quảng canh và nuôi lồng trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

Hiện nay, các công ty hàng đầu trong ngành sản xuất thức ăn nuôi tôm gồm Uni-President của Đài Loan và TomBoy, cả hai đều có nhà máy chế biến thức ăn tại Thành phố Hồ Chí Minh Ngoài ra, Công ty CP Thái Lan cũng có nhà máy ở Đồng Nai, góp phần vào thị trường thức ăn tôm Việt Nam Dự kiến, các công ty Uni-President và TomBoy sẽ tăng gấp đôi sản lượng thức ăn tôm lên 30.000 tấn mỗi năm vào cuối năm 2003, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của ngành nuôi tôm.

Năm 2003, công ty Ocialis của Pháp chính thức vận hành nhà máy near thành phố Hồ Chí Minh, với công suất 10.000 tấn thức ăn nuôi tôm hàng năm Ngoài ra, thị trường còn có các nhà máy chế biến thức ăn tôm nhỏ hơn, với công suất từ 1.000 đến 5.000 tấn/năm, cung cấp sản phẩm giá rẻ phù hợp cho hình thức nuôi quảng canh.

Việt Nam có lợi thế phát triển sản xuất thức ăn trong nước nhờ vào nguồn nguyên liệu địa phương như bột cá, cám, bột sắn và bột đậu nành Một số nhà chế biến thức ăn hợp tác với các nhà cung cấp phụ gia như bột mực và bột cá để nâng cao chất lượng thức ăn nuôi tôm Tuy nhiên, mặc dù có nhiều công ty sản xuất thức ăn công nghiệp phục vụ nuôi thủy sản hàng năm, vẫn còn hạn chế nghiên cứu về lĩnh vực này, gây khó khăn cho người dân trong việc lựa chọn sản phẩm phù hợp Do đó, trong tương lai, cần có nhiều nghiên cứu khoa học hơn để cải thiện chất lượng và hiệu quả nuôi tôm tại Việt Nam.

1.4.Thông tin về hai loại thức ăn được sử dụng

* THỨC ĂN NUÔI TÔM NHÃN HIỆU NURI

- Xuất sứ: thức ăn Nuri được sản xuất bởi công ty TNHH UNI- PRESIDENT VIỆT NAM

1 Thức ăn Nu Ri thích hợp cho nuôi tôm thẻ công nghiệp, đặc biệt mật độ < 180 con/m 2

2 Thức ăn còn phù hợp cho nuôi tôm chân trắng mật độ cao

3 Cung cấp đầy đủ thành phần cần thiết cho sự phát triển tối ưu của tôm

- Thành phần nguyên liệu: Bột cá, Bột đậu nành, Bột mì, Bột nội tạng mực, Bột men, Dầu cá, Lecithin, Cholesterol, Vitamin và Khoáng chất

THÀNH PHẦN DINH DƯỠNG CỦA THỨC ĂN

Bảng 1.3 Thông số thức ăn nuri

Mã số thức ăn N310 N311 N312 N312A N313 N314 N315 N316 Độ ẩm (%) 11 11 11 11 11 11 11 11

PL25- 1g 1-3g 3-7g 7-15g 15g↑ Hình dạng Hạt Hạt Hạt Viên Viên Viên Viên Viên Kích thước (mm)

(Nguồn: Tài liệu h-ớng dẫn sử dụng thức ăn Nuri)

Bảng 1.4 Thông số cho ăn thức ăn nuri

Tỷ lệ cho ăn (%) theo trọng lượng tôm

Số lần cho ăn / ngày 2 4 4 4 4 4 4-5 4-5

(Nguồn: Tài liệu h-ớng dẫn sử dụng thức ăn Nuri)

* THỨC ĂN TÔM NHÃN HIỆU LAONE

- Xuất sứ: thức ăn Laone được sản xuất bởi công ty TNHH UNI- PRESIDENT VIỆT NAM

- Đặc điểm sản phẩm Laone thức ăn chuyên dùng cho các mô hình nuôi tôm công nghiệp với mật độ cao

1 100% đầy đủ dinh dưỡng, không cần thêm chất bổ sung

2 Giúp tôm khỏe mạnh, tăng trưởng nhanh, chắc thịt

3 Đặc biệt có β-carotenoid, nâng cao tỷ lệ sống, màu sắc đẹp

4 Thức ăn được bổ sung Nucleotide và Astaxanthin giúp tôm khỏe mạnh, tăng cường khả năng miễn dịch

- Thành phần nguyên liệu: Bột cá, Bột đậu nành, Bột mì, Bột nội tạng mực, Bột men, Dầu cá, Chất hấp dẫn, Lecithin, Cholesterol, β-carotenoid, Vitamin và Khoáng chất

THÀNH PHẦN DINH DƯỠNG CỦA THỨC ĂN

Bảng 1.5 Thông số thức ăn laone

Mã số thức ăn L000 L100 L200 L300S L300 L400 L500 L600 Độ ẩm (%) 11 11 11 11 11 11 11 11

PL25-1g 1-3g 1-3g 3-7g 7-15g >15g Hình dạng Hạt Hạt Hạt Hạt Viên Viên Viên Viên Kích thước 0.05) Tuy nhiên, theo thời gian, tỷ lệ sống giảm dần và có sự khác biệt có ý nghĩa giữa các nghiệm thức, trong đó nghiệm thức sử dụng thức ăn Laone có tỷ lệ sống thấp hơn so với nghiệm thức sử dụng thức ăn NuRi Sự giảm sút tỷ lệ sống theo thời gian có thể do các yếu tố môi trường thay đổi, ô nhiễm, khí độc, mùn bả hữu cơ và thức ăn dư thừa tích tụ ở đáy ao trong quá trình nuôi Sau khi kết thúc thí nghiệm, tỷ lệ sống của các nghiệm thức lần lượt là 83,99% đối với thức ăn Laone và 81,35% đối với thức ăn NuRi, cho thấy thức ăn NuRi cho kết quả tỷ lệ sống cao hơn so với thức ăn Laone.

- Theo Nguyễn Văn Hảo, 1999 tỷ lệ sống của tôm nuôi công nghiệp tại Bà Rịa - Vũng Tàu là 64%, tại Tiền Giang là 55 - 64%, tại Trà Vinh là 51,3 - 61,5%, tại

Cà Mau đạt tỷ lệ sống khoảng 70%, trong khi đó tại Bến Tre tỷ lệ này lên đến 80%, cho thấy hiệu quả nuôi trồng cao hơn Các ao thực nghiệm cho tỷ lệ sống từ 75% đến 82%, thể hiện rõ khả năng sinh trưởng vượt trội trong điều kiện kiểm nghiệm Nhìn chung, các ao thực nghiệm đã đạt tỷ lệ sống cao hơn so với các khu vực khác, khẳng định tính khả thi và hiệu quả của phương pháp thử nghiệm này trong ngành nuôi trồng thủy sản.

Kết quả theo dõi sự tăng trưởng cùa tôm

3.2.2.1.Sự tăng trưởng của tôm nuôi về khối lượng

*Sự tăng trưởng theo khối lượng

Sự tăng trưởng khối lượng của tôm (g/con)

Bảng 3.3 Biểu diễn sự tăng trưởng về khối lượng Đơn vị tính: g/con

Ngày nuôi Công thức thực nghiệm

Qua xử lý thống kê, kết quả thu đ-ợc trên cho thấy:

Kết quả phân tích t-test cho thấy có sự khác biệt đáng kể về khối lượng trung bình tôm trong các ao nuôi, trong đó khối lượng tôm ở CT1 khác so với CT2 với giá trị P

Ngày đăng: 21/08/2023, 01:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Trần Minh Anh,(1983), Đặc điểm sinh học và kỹ thuật nuôi Tôm He, NXB TPHCM, 358 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm sinh học và kỹ thuật nuôi Tôm He
Tác giả: Trần Minh Anh
Nhà XB: NXB TPHCM
Năm: 1983
[2]. Lục Minh Diệp (2003), Kỹ thuật sản xuất giáp xác, NXB TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật sản xuất giáp xác
Tác giả: Lục Minh Diệp
Nhà XB: NXB TPHCM
Năm: 2003
[3]. Vũ Duy Giảng (2001), Dinh d-ỡng và thức ăn tôm, cá, Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1 và Đại học Nông Nghiệp 1 Hà Nội (In lần thứ nhất) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dinh d-ỡng và thức ăn tôm, cá
Tác giả: Vũ Duy Giảng
Năm: 2001
[4]. Trần Ngọc Hùng (2007), Bài giảng sinh lý động vật thủy sản, Tr-ờng Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng sinh lý động vật thủy sản
Tác giả: Trần Ngọc Hùng
Năm: 2007
[6]. Trần Thị Việt Ngân (2001), Hỏi đáp về kỹ thuật nuôi tôm, NXBNN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về kỹ thuật nuôi tôm
Tác giả: Trần Thị Việt Ngân
Nhà XB: NXBNN
Năm: 2001
[7]. Hoàng Tùng (2003), Bài giảng kỹ thuật nuôi giáp xác, Tr-ờng Đại học Thủy Sản Nha Trang, Khánh Hoà Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng kỹ thuật nuôi giáp xác
Tác giả: Hoàng Tùng
Năm: 2003
[8]. Vũ Thế Trụ (1996), Cải tiến kỹ thuật nuôi tôm tại Việt Nam, NXBNN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải tiến kỹ thuật nuôi tôm tại Việt Nam
Tác giả: Vũ Thế Trụ
Nhà XB: NXBNN
Năm: 1996
[9]. Nguyễn Thức Tuấn (2007), Bài giảng dinh d-ỡng và thức ăn động vật thủy sản, Tr-ờng Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng dinh d-ỡng và thức ăn động vật thủy sản
Tác giả: Nguyễn Thức Tuấn
Năm: 2007
[10]. Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thanh Ph-ơng, Đặng Thị Hoàng Oanh, Trần Ngọc Hải (2002), Quản lý sức khoẻ trong ao nuôi thủy sản, Bản dịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý sức khoẻ trong ao nuôi thủy sản
Tác giả: Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thanh Ph-ơng, Đặng Thị Hoàng Oanh, Trần Ngọc Hải
Năm: 2002
[13]. Sổ tay h-ớng dẫn và tài liệu tập huấn về nuôi Tôm Thẻ công nghiệp của: - Công ty THHH Uni – President Việt Nam [14]. Trang Web: - Www.vietlinh.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay h-ớng dẫn và tài liệu tập huấn về nuôi Tôm Thẻ công nghiệp
Tác giả: Công ty THHH Uni – President Việt Nam
[18]. Michael BN, 1987. Feed and Feeding of fish and shirmp (A manual on the preparation and presetation of compound feed for shirmp and fish aquaculture), UNDP, FAO – Rome Sách, tạp chí
Tiêu đề: Feed and Feeding of fish and shirmp (A manual on the preparation and presetation of compound feed for shirmp and fish aquaculture)
[19]. Shigueno, 1985, Intensive culture and feed development for Penaeus japonicus. In: Taki et al, First international confference on the culture of Penaeus prawn. SEAFDEC, Taloilo, Philippin. Page 115 – 122 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Intensive culture and feed development for Penaeus japonicus
[20]. Sri – Umiyati Sumeru, 2003. Ecyclopedia aquaculture, Jonh Wiley &amp; Sins, Inc, NewYork Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ecyclopedia aquaculture
[11]. Bộ thủy sản, tháng 3/2006. Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện ch-ơng trình phát triển nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2000 – 2005 và biện pháp thực hiện đến n¨m 2010 Khác
[16]. Trang Web: Www.uni-president.com.vn [17]. Trang Web: Www.thuysanvietnam.com.vn Tài liệu n-ớc ngoài Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1 Tôm thẻ chân trắng (L. vannamei) - Đánh giá hiệu quả sử dụng hai loại thức ăn nuri và laone trong quy trình nuôi tôm thẻ chân trắng (penaus vannamei) thương phẩm tại công ty tnhh thông thuận phước thể tuy phong bình thuận
Hình 1.1 Tôm thẻ chân trắng (L. vannamei) (Trang 10)
Hình 1.3. Vòng đời của tôm he (Penacidae) - Đánh giá hiệu quả sử dụng hai loại thức ăn nuri và laone trong quy trình nuôi tôm thẻ chân trắng (penaus vannamei) thương phẩm tại công ty tnhh thông thuận phước thể tuy phong bình thuận
Hình 1.3. Vòng đời của tôm he (Penacidae) (Trang 13)
Bảng 1.1. Điều kiện môi trường thích hợp đối với tôm chân trắng - Đánh giá hiệu quả sử dụng hai loại thức ăn nuri và laone trong quy trình nuôi tôm thẻ chân trắng (penaus vannamei) thương phẩm tại công ty tnhh thông thuận phước thể tuy phong bình thuận
Bảng 1.1. Điều kiện môi trường thích hợp đối với tôm chân trắng (Trang 14)
Bảng 1.4 . Thông số cho ăn thức ăn nuri - Đánh giá hiệu quả sử dụng hai loại thức ăn nuri và laone trong quy trình nuôi tôm thẻ chân trắng (penaus vannamei) thương phẩm tại công ty tnhh thông thuận phước thể tuy phong bình thuận
Bảng 1.4 Thông số cho ăn thức ăn nuri (Trang 29)
Hình 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm - Đánh giá hiệu quả sử dụng hai loại thức ăn nuri và laone trong quy trình nuôi tôm thẻ chân trắng (penaus vannamei) thương phẩm tại công ty tnhh thông thuận phước thể tuy phong bình thuận
Hình 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm (Trang 33)
Bảng 3.2 Theo dõi tỷ lệ sống - Đánh giá hiệu quả sử dụng hai loại thức ăn nuri và laone trong quy trình nuôi tôm thẻ chân trắng (penaus vannamei) thương phẩm tại công ty tnhh thông thuận phước thể tuy phong bình thuận
Bảng 3.2 Theo dõi tỷ lệ sống (Trang 43)
Hình 3.1. Đồ thị biểu diễn tỷ lệ sống của các công thức nuôi   Nhận xột: Tỷ lệ sống ở các lô nuôi giảm dần theo thời gian nuôi - Đánh giá hiệu quả sử dụng hai loại thức ăn nuri và laone trong quy trình nuôi tôm thẻ chân trắng (penaus vannamei) thương phẩm tại công ty tnhh thông thuận phước thể tuy phong bình thuận
Hình 3.1. Đồ thị biểu diễn tỷ lệ sống của các công thức nuôi Nhận xột: Tỷ lệ sống ở các lô nuôi giảm dần theo thời gian nuôi (Trang 44)
Bảng 3.3  Biểu diễn sự tăng trưởng về khối lượng - Đánh giá hiệu quả sử dụng hai loại thức ăn nuri và laone trong quy trình nuôi tôm thẻ chân trắng (penaus vannamei) thương phẩm tại công ty tnhh thông thuận phước thể tuy phong bình thuận
Bảng 3.3 Biểu diễn sự tăng trưởng về khối lượng (Trang 45)
Hình 3.3. Đồ thị biểu diễn sự tăng tr-ởng về khối l-ợng thân của các cụng thức nuôi - Đánh giá hiệu quả sử dụng hai loại thức ăn nuri và laone trong quy trình nuôi tôm thẻ chân trắng (penaus vannamei) thương phẩm tại công ty tnhh thông thuận phước thể tuy phong bình thuận
Hình 3.3. Đồ thị biểu diễn sự tăng tr-ởng về khối l-ợng thân của các cụng thức nuôi (Trang 46)
Hình 3.2. Đồ thị biểu diễn sự tăng tr-ởng về khối l-ợng thân của các công thức nuôi  Qua đồ thị cho chúng ta thấy ở giai đoạn đầu (từ 30 – 60 ngày tuổi) tôm có tốc - Đánh giá hiệu quả sử dụng hai loại thức ăn nuri và laone trong quy trình nuôi tôm thẻ chân trắng (penaus vannamei) thương phẩm tại công ty tnhh thông thuận phước thể tuy phong bình thuận
Hình 3.2. Đồ thị biểu diễn sự tăng tr-ởng về khối l-ợng thân của các công thức nuôi Qua đồ thị cho chúng ta thấy ở giai đoạn đầu (từ 30 – 60 ngày tuổi) tôm có tốc (Trang 46)
Bảng 3.5 Sự tăng trưởng chiều dài - Đánh giá hiệu quả sử dụng hai loại thức ăn nuri và laone trong quy trình nuôi tôm thẻ chân trắng (penaus vannamei) thương phẩm tại công ty tnhh thông thuận phước thể tuy phong bình thuận
Bảng 3.5 Sự tăng trưởng chiều dài (Trang 48)
Hình 3.4. Đồ thị biểu diễn sự tăng tr-ởng về chỉ số dài thân của tôm nuôi  Qua biểu đồ biểu diễn tốc độ tăng trưởng về chỉ số dài thân của tôm ta thấy : - Đánh giá hiệu quả sử dụng hai loại thức ăn nuri và laone trong quy trình nuôi tôm thẻ chân trắng (penaus vannamei) thương phẩm tại công ty tnhh thông thuận phước thể tuy phong bình thuận
Hình 3.4. Đồ thị biểu diễn sự tăng tr-ởng về chỉ số dài thân của tôm nuôi Qua biểu đồ biểu diễn tốc độ tăng trưởng về chỉ số dài thân của tôm ta thấy : (Trang 49)
Hình 3.5. Đồ thị biểu diễn tốc độ tăng tr-ởng trung bình ngày về chiều dài của Tôm - Đánh giá hiệu quả sử dụng hai loại thức ăn nuri và laone trong quy trình nuôi tôm thẻ chân trắng (penaus vannamei) thương phẩm tại công ty tnhh thông thuận phước thể tuy phong bình thuận
Hình 3.5. Đồ thị biểu diễn tốc độ tăng tr-ởng trung bình ngày về chiều dài của Tôm (Trang 50)
Hình 3.6. Đồ thị biểu diễn sự đông đều của tôm lúc thu hoạch ở các công thức nuôi  Sau  75  ngày  nuôi,  tỷ  lệ  phân  đàn  về  khối  l-ợng  của  tôm  giữa  các  công  thức   nuôi có sự khác nhau, song sự chênh lệch này là không đáng kể, đao động từ 19,16 - Đánh giá hiệu quả sử dụng hai loại thức ăn nuri và laone trong quy trình nuôi tôm thẻ chân trắng (penaus vannamei) thương phẩm tại công ty tnhh thông thuận phước thể tuy phong bình thuận
Hình 3.6. Đồ thị biểu diễn sự đông đều của tôm lúc thu hoạch ở các công thức nuôi Sau 75 ngày nuôi, tỷ lệ phân đàn về khối l-ợng của tôm giữa các công thức nuôi có sự khác nhau, song sự chênh lệch này là không đáng kể, đao động từ 19,16 (Trang 51)
Hình 3.7. Đồ thị biểu diễn tỷ lệ chuyển đổi thức ăn (FCR) của các công thức nuôi  Qua bảng trên nhận thấy: Hệ số chuyển đổi thức ăn ở cụng thức 1 trung bỡnh là  1,13 (1,12 - 1,14) ở cụng thức 2 trung bỡnh là 1,39 (1,38 - 1,39) và sai khác với các  cụng th - Đánh giá hiệu quả sử dụng hai loại thức ăn nuri và laone trong quy trình nuôi tôm thẻ chân trắng (penaus vannamei) thương phẩm tại công ty tnhh thông thuận phước thể tuy phong bình thuận
Hình 3.7. Đồ thị biểu diễn tỷ lệ chuyển đổi thức ăn (FCR) của các công thức nuôi Qua bảng trên nhận thấy: Hệ số chuyển đổi thức ăn ở cụng thức 1 trung bỡnh là 1,13 (1,12 - 1,14) ở cụng thức 2 trung bỡnh là 1,39 (1,38 - 1,39) và sai khác với các cụng th (Trang 52)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm