1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu chế tạo bẫy ánh sáng và đánh giá hiệu quả của chúng đến việc bắt côn trùng gây hại cây trồng

57 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu chế tạo bẫy ánh sáng và đánh giá hiệu quả của chúng đến việc bắt côn trùng gây hại cây trồng
Tác giả Hà Mạnh Trúc
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Tài Toàn
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Nông Học
Thể loại Đề tài
Năm xuất bản 2012
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 733,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 3. Yêu cầu (7)
  • 4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài (7)
  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU (8)
    • 1.1.1. Tình hình nghiên cứu bẫy ánh sáng trên thế giới (8)
    • 1.1.2. Tình hình sử dụng bẫy đèn ở Việt Nam (15)
  • CHƯƠNG 2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (18)
    • 2.1. Cơ sở khoa học của đề tài (18)
    • 2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài (19)
    • 2.3. Thời gian, địa điểm nghiên cứu (20)
    • 2.4. Vật liệu nghiên cứu (20)
    • 2.5. Phương pháp thực nghiệm (21)
      • 2.5.1. Thiết kế bẫy (21)
      • 2.5.2. Đánh giá thành phần côn trùng bắt được (22)
    • 2.6. Phương pháp xử lý số liệu (22)
  • Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (23)
    • 3.1.1. Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các loại bẫy có số phểu khác nhau (23)
    • 3.1.3. Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có nguồn ánh sáng khác nhau (35)
    • 3.2.1. Thành phần và số lượng công trùng bắt được của bẫy ánh sáng trên cây lúa (41)
    • 3.2.2. Thành phần và số lượng công trùng bắt được của bẫy ánh sáng trên cây ngô (44)
    • 3.2.3. Thành phần và số lượng công trùng bắt được của bẫy ánh sáng trên cây lạc (47)
    • 1.1 Thiết kế bẫy (51)
    • I. TÀI LIỆU NƯỚC NGOÀ (53)
    • II. TÀI LIỆU VIỆT NAM (55)
    • III. TÀI LIỆU THAM KHẢO TRÊN WEBSITE (56)

Nội dung

Yêu cầu

- Nghiên cứu thiết kế bẫy đèn phù hợp để thu hút côn trùng trên cây lúa, cây ngô và cây lạc

Đánh giá thành phần và số lượng các loại côn trùng trên cây lúa, cây ngô và cây lạc giúp hiểu rõ xu hướng phát sinh và gây hại của các loại côn trùng trên các loại cây trồng này Việc xác định diễn biến phát sinh của côn trùng có vai trò quan trọng trong việc dự báo chính xác dịch hại, từ đó đề xuất các biện pháp phòng tránh và kiểm soát phù hợp Phân tích các yếu tố gây hại và sự phát triển của côn trùng còn giúp nâng cao hiệu quả trong dự tính và ứng phó với các dịch hại trái mùa, đảm bảo năng suất và chất lượng cây trồng.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Kết quả nghiên cứu của đề tài tạo tiền đề cho các đề tài về bẫy đèn đang còn ít được nghiên cứu ở Việt Nam

- Ngày càng hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật

- Ứng dụng vào biện pháp canh tác tổng hợp tiên tiến trên thế giới như Việt GAP, Global Gap, sản xuất sản phẩm hữu cơ…

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Cơ sở khoa học của đề tài

* Cơ chế thu hút côn trùng:

Côn trùng không ngừng tồn tại, tiến hóa và phát triển qua hàng trăm triệu năm nhờ hệ thống giác quan cực kỳ nhạy bén và chính xác do tạo hóa ban tặng Đặc biệt, hệ thống thị giác với cấu trúc gồm hai loại mắt là mắt đơn và mắt kép, cùng các tế bào thị giác phân bố trên cơ thể, giúp chúng nhận diện một phạm vi quang phổ rộng từ 270nm đến 700nm Một số loài sâu bướm ăn lá còn có khả năng nhìn thấy vùng hồng ngoại vượt quá 700nm Nhờ vậy, côn trùng dễ dàng di chuyển, tìm kiếm thức ăn, tránh kẻ thù và sinh sản hiệu quả hơn.

Với công nghệ hiện đại ngày nay, con người có thể tạo ra các loại đèn với phổ ánh sáng đa dạng nhằm thu hút côn trùng hiệu quả hơn Nghiên cứu cho thấy, côn trùng thường bị thu hút bởi các phổ ánh sáng có bước sóng ngắn và tần số cao, phù hợp với tập tính của chúng Các loại đèn nhân tạo này tận dụng đặc điểm sinh học của côn trùng để tối ưu hóa khả năng thu hút, góp phần nâng cao hiệu quả trong các ứng dụng phòng chống và kiểm soát côn trùng.

* Cơ chế thu bắt đối tượng:

Phểu đã được con người ứng dụng rộng rãi trong thiết kế các loại bẫy để bắt côn trùng, như bẫy ruồi, bẫy dán, và bẫy lươn Cấu tạo đặc biệt dạng hình nón cụt giúp dẫn dụ và thu hút các đối tượng mục tiêu một cách hiệu quả Cơ chế hoạt động của phểu gồm việc gắn nó lên các bình hoặc ống làm bằng chất liệu như gỗ, thủy tinh, nhựa, bên trong sử dụng các phương pháp dẫn dụ khác nhau phù hợp với từng loại côn trùng Các loại bẫy này thường sử dụng ánh sáng, pheromone, hoặc các bã nhử để thu hút côn trùng, sau đó chúng sẽ đi vào phểu và chui xuống đáy lớn qua đáy nhỏ của phểu để vào trong bình, từ đó giúp kiểm soát và giảm thiểu sự gây hại của các loài côn trùng này.

1 thời gian, đối tượng sẽ bị dự lại bên trong bình do không thể tìm con đường ngược lại

Chúng tôi đã kết hợp hai cơ chế để thiết kế loại bẫy ánh sáng hiệu quả trong việc thu hút và bắt côn trùng hại trên các loại cây trồng nông nghiệp Bẫy ánh sáng này không chỉ giúp kiểm soát côn trùng gây hại một cách an toàn mà còn góp phần nâng cao năng suất và chất lượng cây trồng Việc sử dụng công nghệ tiên tiến trong thiết kế bẫy ánh sáng mang lại giải pháp bền vững, thân thiện với môi trường cho nông nghiệp hiện đại.

Cơ sở thực tiễn của đề tài

Để bảo vệ cây trồng và tăng năng suất, phương pháp phổ biến nhất hiện nay tại Nghệ An và các vùng khác của cả nước là sử dụng thuốc hóa học để diệt sâu bệnh Tuy nhiên, do thời gian sinh trưởng ngắn của các loại cây lương thực và thực phẩm cũng như mức độ sâu hại cao, người nông dân thường phun thuốc hóa học với tần suất từ 4-20 lần mỗi vụ, cách nhau 5-15 ngày (Trần Văn Quyền, Thái Thị Phương Thảo, 2008) Hành động này đã gây ra nhiều hậu quả tiêu cực, khi thuốc hóa học xâm nhập vào đất, nước, dư thừa trong rau quả, ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe người tiêu dùng và vật nuôi, đồng thời phá vỡ cân bằng sinh thái và tiêu diệt nhiều loại côn trùng có lợi trên cánh đồng.

Trong thời đại hiện nay, việc sử dụng thuốc hóa học để phòng trừ sâu hại mang lại hiệu quả nhanh chóng nhưng gây ra hậu quả nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng Xu hướng chủ đạo trong bảo vệ thực vật là Quản lý tổng hợp dịch hại cây trồng (IPM), tập trung vào việc sử dụng các biện pháp cơ giới, vật lý hoặc sinh học thay thế việc phụ thuộc vào thuốc hóa học để trừ sâu Điều này giúp giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường và đảm bảo an toàn cho con người.

Hiện nay, các nước có nền nông nghiệp phát triển như Israel, Mỹ, Ấn Độ thường sử dụng bẫy điện và bẫy ánh sáng để kiểm soát côn trùng gây hại trên cây trồng, nhưng chi phí của các loại bẫy này thường khá cao Vì vậy, nhóm nghiên cứu đã thiết kế một loại bẫy đèn giá rẻ, sử dụng các vật liệu sẵn có, dễ sử dụng, nhằm nâng cao khả năng ứng dụng trong điều kiện sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam.

Thời gian, địa điểm nghiên cứu

Thời gian thí nghiệm: tháng 8/2011- 3/2012 Địa điểm thí nghiệm: xóm 2, xã Hưng Yên Nam, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An.

Vật liệu nghiên cứu

Nguyên liệu làm bẫy ánh sáng là những nguyên liệu thông dụng như một bộ nguồn điện, bóng đèn, dây điện, bình nhựa, giấy cứng.

Phương pháp thực nghiệm

Bẫy ánh sáng được thiết kế dựa trên các thí nghiệm như sau:

+ Thí nghiệm 1: Nghiên cứu xác định số lượng phểu tối ưu trên bình Thí nghiệm được tiến hành bố trí theo phương pháp hoàn toàn ngẫu nhiên (CRD),

Trong nghiên cứu này, có ba công thức thu hút côn trùng bằng phương pháp đặt 2, 3 hoặc 4 phểu trên bình, được lặp lại 3 lần để đảm bảo tính chính xác Các bình thử nghiệm được bố trí cách nhau 100 mét để tránh sự ảnh hưởng lẫn nhau Sau hai đêm thực hiện, kết quả đánh giá hiệu quả của các công thức dẫn dụ côn trùng được tiến hành bằng cách đếm số lượng côn trùng bắt được trên ba loại cây trồng chính là lúa, ngô và lạc, loại trừ ngày đầu tiên thu thập dữ liệu để đảm bảo tính khách quan của kết quả Phương pháp này giúp xác định chính xác công thức nào hiệu quả nhất trong việc thu hút và bắt giữ côn trùng gây hại cho cây trồng.

Trong Thí nghiệm 2, các nhà nghiên cứu xác định kích thước phù hợp của phểu bằng cách thử nghiệm 5 loại phểu với các kích thước khác nhau, từ 2 cm đáy nhỏ x 4 cm đáy lớn đến 3,5 cm đáy nhỏ x 6,0 cm đáy lớn Các thử nghiệm được lặp lại 3 lần để đảm bảo tính chính xác, với các bình đặt cách nhau 100 mét để tránh nhiễu loạn Sau 2 đêm quan sát, dữ liệu sẽ giúp xác định kích thước phểu tối ưu phù hợp với mục tiêu nghiên cứu.

Nước đã tiến hành đánh giá hiệu quả dẫn dụ côn trùng của các công thức thí nghiệm trên ba đối tượng cây trồng chính gồm lúa, ngô và lạc Quá trình đánh giá dựa trên việc đếm số lượng côn trùng bắt được trong các bẫy, loại trừ kết quả ngày đầu tiên thu trong ngày để đảm bảo tính chính xác Kết quả này giúp xác định hiệu quả của các công thức trong việc kiểm soát côn trùng gây hại trên các loại cây trồng chủ lực.

Trong Thí nghiệm 3, nghiên cứu xác định màu sắc ánh sáng thích hợp sử dụng 5 nguồn sáng gồm đỏ, vàng, tím, trắng và xanh, được bố trí theo 5 công thức thí nghiệm, lặp lại 3 lần và đặt cách nhau 100 m Sau 2 đêm, chúng tôi tiến hành đánh giá hiệu quả dẫn dụ côn trùng của các công thức trên 3 loại cây trồng (lúa, ngô, lạc) bằng cách đếm số lượng côn trùng bắt được, trừ ngày đầu tiên thu kết quả trong ngày.

2.5.2 Đánh giá thành phần côn trùng bắt được

Dựa trên kết quả thiết kế bẫy, chúng tôi sử dụng bẫy tối ưu để đánh giá số lượng và thành phần côn trùng bắt được trên cây lúa, cây ngô và cây lạc Các bẫy được đặt ngẫu nhiên, cách nhau 100 m, với cấu trúc bố trí lặp lại 3 lần để đảm bảo tính khách quan của khảo sát Các côn trùng bắt được sau đó được bỏ vào chai thủy tinh chứa cồn 70% để bảo quản và phân loại chính xác.

Phương pháp xử lý số liệu

Giá trị trung bình của các công thức thí nghiệm được tổng hợp và tiến hành phân tích phương sai sử dụng phần mềm Statistix 8.2.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các loại bẫy có số phểu khác nhau

Thiết kế của bẫy ánh sáng, đặc biệt là phểu, không chỉ nhằm thu giữ côn trùng mà còn có chức năng phân bổ ánh sáng đến các vùng sinh sống của côn trùng, đóng vai trò quan trọng trong hiệu quả bắt côn trùng Việc sắp xếp số lượng và vị trí của các phểu trên bẫy ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng phân bổ nguồn sáng, từ đó quyết định hiệu quả thu hút và bắt côn trùng của từng kiểu bẫy ánh sáng Do đó, thiết kế và bố trí các phểu cần được tối ưu để nâng cao hiệu suất hoạt động của bẫy ánh sáng trong kiểm soát côn trùng.

Trong nghiên cứu thực nghiệm các loại bẫy trên đối tượng lúa Khang dân qua 18 vụ Hè Thu năm 2011 từ ngày 2/10/2011 đến 8/10/2011, giai đoạn cây lúa làm đòng đến chắc xanh được chọn để khảo sát Kết quả cho thấy đây là thời kỳ phát triển mạnh của các loại côn trùng, xuất hiện các ổ dịch sâu hại đáng kể Các số liệu về diễn biến số lượng côn trùng bắt được từ các loại bẫy có các số phểu khác nhau được trình bày rõ ràng trong bảng 3.1, qua đó cho thấy các loại bẫy phù hợp và hiệu quả trong việc kiểm soát côn trùng trên cây lúa trong giai đoạn sinh trưởng quan trọng này.

Sau ngày thứ 1 đặt bẫy, nghiên cứu cho thấy sự khác biệt rõ rệt về số lượng côn trùng bắt được trên cây lúa giữa các công thức thí nghiệm Trong đó, loại bẫy có 4 phễu ghi nhận số lượng côn trùng bắt được cao nhất, đạt 53 con, và sự khác biệt này mang ý nghĩa thống kê rõ rệt so với các loại bẫy có số phễu thấp hơn (p < 0,05) Điều này cho thấy rằng công thức sử dụng bẫy 4 phễu hiệu quả hơn trong việc bắt côn trùng trên cây lúa.

Sau 3 ngày đặt bẫy, số lượng côn trùng bắt được tăng đều và có sự sai khác ở mức ý nghĩa α = 0,05 các công thức thí nghiệm Loại bẫy có 4 phểu cho số lượng bắt được cao nhất 157,33 con và công thức 2 phểu cho số lượng bắt được thấp nhất, chỉ đạt 35,00 con

Sau 5 ngày đặt bẫy, số lượng côn trùng bắt được tiếp tục tăng lên và có sự sai khác ở mức ý nghĩa α = 0,05 giữa các công thức thí nghiệm Loại bẫy 4 phểu cho số lượng côn trùng bắt được cao nhất, đạt 263,33 con và công thức 2 phểu cho số lượng bắt được thấp nhất, chỉ đạt 71,00 con

Sau 7 ngày đặt bẫy, số lượng côn trùng bắt được trên đối tượng lúa vẫn tiếp tục có sự sai khác giữa các công thức thí nghiệm Loại bẫy 4 phểu cho số lượng côn trùng bắt được cao nhất đạt 365,00 con tiếp theo là công thức 3 phểu 170,00 con và thấp nhất là công thức 2 phểu mức 99,67 ở mức ý nghĩa α

Như vậy, loại bẫy có 4 phểu/bình cho hiệu quả bắt côn trùng tốt nhất trên đối tượng cây lúa

Bảng 3.1 Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có số phểu khác nhau trên cây lúa

TT Công thức Sau 1 ngày Sau 3 ngày Sau 5 ngày Sau 7 ngày

(Ghi chú: Các giá trị có chữ cái trên mũ khác nhau là khác nhau có ý nghĩa thống kê tại mức ý nghĩa α = 0,05)

Sau 1 ngày Sau 3 ngày Sau 5 ngày Sau 7 ngày

Hình 3.2 Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có số phểu khác nhau trên cây lúa

Kết quả thực nghiệm nghiên cứu các loại bẫy trên đối tượng ngô nếp lai F1 (MX6) vụ Đông Xuân 2012 cho thấy giai đoạn cây ngô hình thành phấn hoa trong bào tử đực đến trổ cờ là thời điểm đánh giá hiệu quả các loại bẫy côn trùng, khi các loại côn trùng phong phú nhưng chưa xuất hiện ổ dịch sâu hại Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có số phểu khác nhau trên cây ngô được thể hiện rõ trong bảng 3.2, góp phần xác định hiệu quả của từng loại bẫy trong phòng trừ sâu hại cây ngô.

Sau ngày thứ 1 đặt bẫy, số lượng côn trùng bắt được trên đối tượng ngô cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các công thức thí nghiệm, đặc biệt khi so sánh giữa công thức 2 phểu, 3 phểu và 4 phểu Trong đó, công thức 4 phểu đạt số lượng côn trùng bắt được cao nhất với trung bình 29,33 con, thể hiện mức ý nghĩa thống kê α = 0,05, cho thấy hiệu quả của phương pháp này vượt trội so với các công thức còn lại.

Sau ngày thứ 3 đặt bẫy, số lượng côn trùng bắt được tăng đều ở các công thức thí nghiệm Công thức 4 phễu cho kết quả bắt được cao nhất với trung bình 91,66 con, thể hiện hiệu quả vượt trội trong việc thu bắt côn trùng Trong khi đó, công thức 2 phễu cho số lượng bắt được thấp nhất, trung bình 28,00 con, cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các phương pháp thí nghiệm Kết quả này cho thấy việc sử dụng công thức 4 phễu đem lại hiệu quả cao hơn trong kiểm soát côn trùng.

Sau ngày thứ 5 đặt bẫy, số lượng côn trùng bắt được giữa các công thức

Trong phân tích, 2 phểu, 3 phểu, 4 phểu có sự khác biệt về ý nghĩa mức độ α = 0,05, cho thấy các phương pháp có ảnh hưởng rõ rệt đến kết quả Công thức 4 phểu đạt số lượng bắt được cao nhất là 158,33 con, trong khi công thức 2 phểu cho kết quả thấp nhất với 51,00 con, chứng tỏ sự khác biệt đáng kể về hiệu quả bắt cá giữa các phương pháp.

Sau ngày thứ 7 đặt bẫy, số lượng côn trùng bắt được trên cây lúa vẫn có sự khác biệt rõ ràng giữa các công thức thí nghiệm, trong đó công thức sử dụng 4 phểu cho hiệu quả cao nhất với số lượng bắt được đạt 220 con, cho thấy đây là phương pháp tối ưu cho việc kiểm soát côn trùng trên cây lúa.

Như vậy, kiểu bẫy bố trí 3 phểu/bình, 4 phểu/bình cho hiệu quả bắt tốt nhất trên đối tượng ngô

Bảng 3.2 Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có số phểu khác nhau trên cây ngô

TT Công thức Sau 1 ngày Sau 3 ngày Sau 5 ngày Sau 7 ngày

(Ghi chú: Các giá trị có chữ cái trên mũ khác nhau là khác nhau có ý nghĩa thống kê tại mức mức ý nghĩa α = 0,05)

0 50 100 150 200 250 sau 1 ngày sau 3 ngày sau 5 ngày sau 7 ngày

Hình 3.3 Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có số phểu khác nhau trên cây ngô

Kết quả thực nghiệm nghiên cứu các loại bẫy trên đối tượng lạc L14 vụ Hè Thu 2011 cho thấy từ ngày 3/9/2011 đến ngày 9/9/2011, giai đoạn cây lạc ra hoa đến hình thành củ non, là thời điểm các loại côn trùng phát triển khá phong phú Trong giai đoạn này, các ổ dịch của sâu hại bắt đầu xuất hiện rõ rệt, ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng của cây lạc Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các loại bẫy khác nhau thể hiện rõ sự đa dạng và mức độ xuất hiện của côn trùng trên cây lạc, như đã được ghi nhận trong bảng 3.3 Việc nghiên cứu này giúp xác định hiệu quả của các loại bẫy trong kiểm soát sâu hại và hỗ trợ các biện pháp phòng trừ kịp thời.

Sau ngày thứ 1 đặt bẫy, số lượng côn trùng bắt được trên ruộng lạc L14 cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (α = 0,05) giữa các công thức thí nghiệm Các loại bẫy với số phễu khác nhau ghi nhận mức độ bắt giữ thay đổi từ 20,33 đến 64,33 con/bẫy Trong đó, loại bẫy 4 phễu đạt hiệu quả cao nhất với 64,33 con/bẫy, tiếp theo là loại bẫy 3 phễu với trung bình 21,66 con/bẫy Ngoài ra, số côn trùng bắt được ở loại bẫy 3 phễu không khác biệt ý nghĩa thống kê so với loại bẫy 2 phễu (α = 0,05).

Sau ngày thứ 3 đặt bẫy, số lượng côn trùng bắt được đã tăng đều ở các công thức thí nghiệm, cho thấy hiệu quả của các phương pháp thu bắt côn trùng sau thời gian Công thức 4 phểu đạt mức bắt được cao nhất với trung bình 185,33 con, thể hiện khả năng thu bắt tối ưu, trong khi công thức 2 phểu có số lượng bắt được thấp nhất là 64,67 con, phản ánh sự khác biệt trong hiệu quả giữa các công thức xử lý.

Sau 5 ngày đặt bẫy, số lượng côn trùng bắt được vẫn tiếp tục tăng đều qua các công thức thí nghiệm Các kết quả cho thấy có sự khác biệt rõ rệt về số lượng côn trùng bắt được trên đối tượng lúa giữa các công thức thí nghiệm, đặc biệt là giữa công thức 2 phễu, 3 phễu và 4 phễu Trong đó, công thức 4 phễu ghi nhận số lượng côn trùng bắt được cao nhất là 318,33 con, trong khi công thức 2 phễu có số lượng bắt được thấp nhất chỉ 110,67 con Đây chứng tỏ rằng phương pháp sử dụng nhiều phễu hơn có thể nâng cao hiệu quả bắt côn trùng trong công tác bảo vệ cây lúa.

Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có nguồn ánh sáng khác nhau

có nguồn ánh sáng khác nhau

* Kết quả thực nghiệm nghiên cứu các loại bẫy có nguồn sáng khác nhau trên đối tượng lúa Khang Dân 18 vụ Hè Thu 2011 được thực hiện vào ngày

Trong khoảng thời gian từ ngày 2/11/2011 đến 8/11/2011, cây lúa bước vào giai đoạn chín sáp đến trước thu hoạch, là thời điểm phát triển mạnh của các loại côn trùng và xuất hiện nhiều ổ dịch sâu hại Trong giai đoạn này, chúng tôi ghi nhận sự gia tăng rõ rệt của số lượng côn trùng bắt được từ các bẫy có nguồn ánh sáng khác nhau trên cây lúa, thể hiện rõ qua số liệu trong bảng 3.7, phản ánh diễn biến số lượng côn trùng theo từng loại bẫy và vị trí đặt.

Sau ngày thứ 1 đặt bẫy, số lượng côn trùng bắt được trên đối tượng lúa có sự khác biệt rõ rệt giữa các công thức, dao động từ 16,66 đến 39,33 con Các công thức xanh, đỏ và vàng có mức bắt được côn trùng tương đồng, trong khi các công thức tím và trắng cũng cho kết quả có mức bắt côn trùng tương tự nhau Trong số các công thức, công thức tím ghi nhận số lượng bắt được cao nhất với 39,33 con, cho thấy tính hiệu quả nổi bật trong việc kiểm soát côn trùng trên cây lúa.

Sau ngày thứ 3 đặt bẫy, các công thức xanh, đỏ và vàng vẫn duy trì mức ý nghĩa giống nhau, thể hiện sự đồng nhất trong hiệu quả bắt giữ Trong khi đó, các công thức tím và trắng đã có sự khác biệt rõ ràng về hiệu quả, với công thức tím đạt số lượng bắt được cao nhất, lên tới 126,67 con Điều này cho thấy sự khác biệt giữa các công thức trong việc thu hút và bắt giữ con mồi, đặc biệt là công thức tím nổi bật hơn so với các loại khác.

Sau ngày thứ 5 đặt bẫy, số lượng côn trùng quay lại có sự khác biệt so với ngày thứ nhất Các công thức xanh, đỏ, vàng đều có mức sai khác giống nhau, trong khi công thức tím và trắng cùng mức sai khác Cụ thể, công thức tím ghi nhận số lượng côn trùng là 211,33 con, cho thấy hiệu quả rõ rệt trong việc thu hút côn trùng của các công thức này.

Sau 7 ngày đặt bẫy, các công thức thu hút côn trùng có sự khác biệt rõ rệt về số lượng bắt được, dao động từ 131,67 đến 305,00 con Công thức tím ghi nhận số lượng côn trùng bắt được cao nhất với 305,00 con, trong khi công thức trắng có số lượng thấp nhất với 131,67 con Sự khác biệt giữa công thức tím và công thức trắng đạt mức ý nghĩa thống kê 0,05, cho thấy hiệu quả của các công thức khác nhau trong việc kiểm soát côn trùng Đây là những phát hiện quan trọng để lựa chọn công thức phù hợp trong các chiến dịch phòng trừ côn trùng hiệu quả.

Nguồn sáng màu tím thu hút số lượng lớn côn trùng nhất trên cây lúa, thể hiện rõ qua số lượng côn trùng bắt được trên các bẫy sử dụng ánh sáng này Bảng 3.7 cung cấp số liệu chi tiết về diễn biến số lượng côn trùng bắt được trên các loại bẫy có nguồn ánh sáng khác nhau, cho thấy rõ hiệu quả của ánh sáng tím trong việc thu hút côn trùng gây hại trên cây lúa.

TT Công thức Sau 1 ngày Sau 3 ngày Sau 5 ngày Sau 7 ngày

(Ghi chú: Các giá trị có chữ cái trên mũ khác nhau là khác nhau có ý nghĩa thống kê tại mức ý nghĩa α = 0,05)

0 50 100 150 200 250 300 350 xanh đỏ vàng tím trắng

Sau 1 ngày Sau 3 ngày Sau 5 ngày Sau 7 ngày

Hình 3.8 Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có nguồn ánh sáng khác nhau trên cây lúa

Kết quả thực nghiệm nghiên cứu các loại bẫy trên đối tượng ngô nếp lai F1 (MX6) vụ Đông Xuân 2012 cho thấy, giai đoạn cây ngô đạt 15-17 lá đến thu hoạch là thời điểm các loại côn trùng phát triển mạnh, xuất hiện nhiều ổ dịch sâu hại Sau ngày thứ 1 đặt bẫy, số lượng côn trùng bắt được trên cây ngô có sự khác biệt rõ rệt giữa các công thức bẫy khác nhau, dao động từ 10,33 đến 30,33 con Các công thức bẫy màu xanh, đỏ, vàng có mức bắt trung bình tương tự, trong khi các công thức tím và trắng cũng có mức bắt tương tự, với công thức trắng ghi nhận số lượng côn trùng bắt được cao nhất, đạt 30,33 con Kết quả này thể hiện rõ ảnh hưởng của loại bẫy ánh sáng đến hiệu quả bắt côn trùng trên cây ngô trong giai đoạn phát triển quan trọng này.

Sau ngày thứ 3 đặt bẫy, công thức tím và công thức trắng vẫn cho kết quả bắt nhựt không có sự khác biệt rõ ràng, trong khi đó, có sự chênh lệch đáng kể giữa các công thức xanh, đỏ và vàng Công thức trắng đạt số lượng bắt được cao nhất, lên tới 88,66 con, trong khi công thức xanh có số lượng bắt thấp nhất chỉ 24,00 con.

Sau ngày thứ 5 đặt bẫy, số lượng côn trùng tăng đều trong các công thức thí nghiệm, trong đó công thức trắng cho kết quả cao nhất với trung bình 153,67 con, cho thấy hiệu quả của công thức này trong thu hút côn trùng.

Sau ngày thứ 7 đặt bẫy, số lượng côn trùng bắt được trên đối tượng lúa đã có sự khác biệt rõ rệt giữa các công thức xử lý, dao động từ 66,67 đến 203,33 con Các công thức xanh, đỏ và vàng có mức sai khác tương đương nhau, trong khi đó, các công thức tím và trắng cũng có mức sai khác hợp lý Đặc biệt, công thức trắng ghi nhận số lượng côn trùng bắt được cao nhất, đạt mức 203,33 con, cho thấy hiệu quả vượt trội trong kiểm soát côn trùng của công thức này.

Như vậy, nguồn sáng màu trắng, màu tím thu hút côn trùng nhất trên đối tượng ngô

Bảng 3.8 Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có nguồn ánh sáng khác nhau trên cây ngô

TT Công thức Sau 1 ngày Sau 3 ngày Sau 5 ngày Sau 7 ngày

(Ghi chú: Các giá trị có chữ cái trên mũ khác nhau là khác nhau có ý nghĩa thống kê tại mức ý nghĩa α = 0,05.)

0 50 100 150 200 250 xanh đỏ vàng tím trắng

Sau 1 ngày Sau 3 ngày Sau 5 ngày Sau 7 ngày

Hình 3.9 Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có nguồn ánh sáng khác nhau trên cây ngô

Kết quả thực nghiệm nghiên cứu các loại bẫy trên đối tượng lạc L14 vụ Hè Thu 2011 cho thấy, từ ngày 27/9/2011 đến 4/10/2011, giai đoạn phát triển củ non đến gần thu hoạch diễn ra sôi động với sự xuất hiện nhiều ổ dịch sâu hại Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có nguồn ánh sáng khác nhau thể hiện rõ qua bảng 3.9, cho thấy các loại bẫy thu hút sâu bệnh hiệu quả nhất trong giai đoạn này.

Sau ngày thứ nhất đặt bẫy, các công thức khác nhau cho số lượng côn trùng bắt được cho kết quả đa dạng, với công thức màu trắng đạt trung bình 29,33 con, cao nhất và khác biệt có ý nghĩa thống kê so với các công thức còn lại Trong đó, công thức màu tím tiếp theo cũng cho số lượng côn trùng bắt cao hơn so với các công thức màu đỏ và màu xanh, với mức ý nghĩa α = 0,05, cho thấy sự ảnh hưởng rõ rệt của màu sắc bẫy đến hiệu quả bắt côn trùng.

Sau ngày thứ 3 đặt bẫy, các công thức khác nhau cho kết quả bắt được số lượng côn trùng không đều, trong đó công thức trắng cho hiệu quả cao nhất với trung bình 159,67 con, còn công thức xanh có số lượng côn trùng bắt được thấp nhất chỉ đạt 22,66 con.

Sau ngày thứ 5 đặt bẫy, các công thức khác nhau cho số lượng côn trùng bắt được cho ra kết quả khác nhau, trong đó công thức trắng dựa trên điều kiện tối ưu đạt được số lượng côn trùng cao nhất Việc áp dụng công thức phù hợp giúp nâng cao hiệu quả thu hút và bắt giữ côn trùng, đồng thời tối ưu hóa quy trình kiểm soát sâu bệnh Chọn công thức phù hợp là yếu tố then chốt để đảm bảo hiệu quả của chiến dịch sử dụng bẫy trong nông nghiệp và phòng chống dịch hại.

Trong phân tích, con số 159,67 được so sánh với công thức tím đạt 134,33, cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức α = 0,05 Ngoài ra, các công thức xanh, đỏ và vàng cũng không có sự sai khác đáng kể, đảm bảo tính nhất quán trong kết quả nghiên cứu.

Thành phần và số lượng công trùng bắt được của bẫy ánh sáng trên cây lúa

Thành phần côn trùng và nhện nhỏ trên cây lúa rất đa dạng, với hơn 800 loài đã được ghi nhận trên toàn thế giới Những loài này đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái nông nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và sức khỏe cây lúa Việc hiểu rõ các loài côn trùng và nhện nhỏ này giúp các nhà nông và chuyên gia cây trồng có biện pháp quản lý hiệu quả để giảm thiểu thiệt hại và bảo vệ mùa màng.

Có hơn 800 loài côn trùng gây hại cho lúa với mức độ ảnh hưởng khác nhau, trong đó nhiều loài sử dụng cây lúa làm nguồn thức ăn, nhưng hầu như không gây thiệt hại nghiêm trọng hay giảm năng suất Tất cả các loài chân đốt này và thiên địch của chúng đều có mối liên hệ chặt chẽ, hình thành nên sinh quần ruộng lúa nước Chúng tồn tại và phát triển dựa trên nguyên tắc trao đổi năng lượng lẫn nhau, trong đó mỗi loài phụ thuộc vào những loài khác để duy trì sự sống Dưới đây là thành phần, số lượng côn trùng bắt được qua các loại bẫy ánh sáng đặt trên cây lúa trong vụ sản xuất.

Qua nghiên cứu thực nghiệm trên đối tượng lúa Khang Dân 18 sử dụng các kiểu bẫy khác nhau, đã thu thập được tổng cộng 25 loại côn trùng khác nhau Rầy nâu (Nilaparvata lugens Stal) là loại côn trùng xuất hiện nhiều nhất với số lượng bắt được lên tới 1928 con, trong khi đó, chuồn chuồn hoa (Rhyothemis variegate) có số lượng bắt thấp nhất chỉ 18 con Rầy nâu được xác định là đối tượng gây hại nguy hiểm nhất trên cây lúa, gây ảnh hưởng đáng kể đến năng suất và chất lượng mùa vụ.

Kết quả số loài côn trùng bắt được của chúng tôi thấp hơn nhiều so với kết quả điều tra của PGS.TS Phạm Văn Lầm Trong giai đoạn làm đòng đến thu hoạch của lúa vụ Hè Thu năm 2011, chúng tôi nhận thấy sự đa dạng và mật độ phát triển cao của các loại côn trùng trên lúa Các loài côn trùng chủ yếu được bắt giữ gồm rầy nâu (Nilaparvata lugens Stal), sâu đục thân bướm hai chấm (Nilaparvata lugens Stal), rầy xanh đuôi đen (Nephotettix bipunetatus Fabr) và sâu cuốn lá nhỏ, đóng vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến sinh trưởng và năng suất của cây lúa.

(Marasmia exigue Butler), bọ xít dài(Leptocorisa acuta Thunberg)

Bảng 3.10 Thành phần và số lượng công trùng bắt được của bẫy ánh sáng trên cây lúa

TT Loại côn trùng Tên khoa học Số lượng

1928 Lúa, ngô, lúa mì, mạch, kê, cỏ gấu, cỏ lồng vực…

2 Sâu đục thân bướm 2 chấm (ngài)

1734 Lúa, ngô, cao lương, kê, lúa mì, mía, cỏ lồng vực, lau, sậy

3 Châu chấu Oxya chinen sis

205 Ngô, mía, lạc, đậu đỗ, cao lương, cỏ lồng vực, các loại rau, cây hoa, cây cảnh

4 Rầy xanh đuôi đen Nephotettix bipunetatus

408 Lúa mì, ngô, mía, cỏ lồng vực, khoai lang, cam qu yt, rau cải

5 Rầy lưng trắng Sogatella furcifera

217 Ngô, kê, cỏ lồng vực, các loại cỏ dại

6 Sâu cuốn lá nhỏ (ngài) Marasmia exigue

600 Ngô, mía, kê, cỏ lồng vực, cỏ lá tre

8 Chuồn chuồn kim Agriocnemis fermina

9 Bọ xít mù xanh Cyrtorhinus lividipennis Reut

10 Bọ chân chạy Bembidion spp 273

11 Bọ rùa đỏ Micraspis discolor Fabr 247

12 Chuồn chuồn hoa Rhyothemis variegate 6

14 Rầy điện quang Recilia dorsalis

16 Bọ xít dài Leptocorisa acuta

17 Bọ xít xanh Nezara viridula

18 Bọ xít đen Scotinophara lurida

20 Sâu cuốn lá lớn bướm vàng nhỏ

21 Nhện sói Pardosa pseudoannulata Boes

22 Bọ xít gai vai Cletus puctiger Dallas 33

23 Cào cào xanh Attac tomorpha chinensis Bolivar

24 Bọ cánh ngắn Paederus fuscipes

Thành phần và số lượng công trùng bắt được của bẫy ánh sáng trên cây ngô

Việc điều tra thành phần côn trùng phá hoại trên ngô tại Việt Nam đã diễn ra trong nửa cuối thế kỷ XX, trong đó notable là đợt điều tra năm 1967-1968 tại miền Bắc do Ban điều tra cơ bản côn trùng của Bộ Nông nghiệp thực hiện, và năm 1977-1978 tại miền Nam do Viện Bảo vệ thực vật tiến hành Những cuộc điều tra này đã cung cấp dữ liệu quan trọng về thành phần, phân bố và mức độ tác hại của các loài côn trùng gây hại trên cây ngô Hiện tại, đã ghi nhận hơn 100 loài côn trùng phá hoại ngô ở Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả phòng trừ và bảo vệ mùa màng.

Dưới đây là thành phần và số lượng côn trùng bắt được bằng bẫy ánh sáng trên cây ngô vụ Đông Xuân năm 2012 Qua thực nghiệm trên ngô nếp lai F1 với các kiểu bẫy khác nhau, đã thu thập được tổng cộng 18 loại côn trùng khác nhau Sâu xám (Agrotis ypsilon Rott) có số lượng bắt được lớn nhất, lên tới 1928 con, trong khi đó dế dũi (Gryllotalpa orientalis Burmeister) có số lượng thấp nhất với 18 con Sâu xám được xác định là loại sâu hại nguy hiểm nhất trên cây ngô trong vụ này.

Kết quả số loài côn trùng bắt được của chúng tôi thấp hơn nhiều so với kết quả điều tra trong hai năm 1967-1968 tại miền Bắc do Ban điều tra cơ bản côn trùng Bộ Nông nghiệp tổ chức, cũng như so với kết quả điều tra giai đoạn 1977-1978 tại miền Nam do Viện Bảo vệ thực vật thực hiện.

TT Loại côn trùng Tên khoa học Số lượng

1 Sâu xám (ngài) Agrotis ypsilon Rott 1067 Đậu đỗ, khoai tây, cà chua, rau vụ đông, đay, lạc, khoai lang, chè, kê, bông

2 Sâu cắn lá nõn ngô Leucania loreyi Dup 978 Ngô

3 Sâu đục thân ngô (ngài)

632 Bông, kê, cỏ voi, cỏ lồng vực, các loại cỏ thức ăn da súc

4 Rệp ngô Rhopalosiphum maydis Fich

394 Mía, kê, loại cỏ là thức ăn gia súc

6 Bọ xít dài Leptocorisa acuta

8 Bọ rùa đỏ Micraspis discolor

9 Châu chấu xanh Oxya velox Fabr 327

10 Dế mèn lớn Brachitrupes portentosus Licht

11 Bọ chân chạy đuôi cánh 2 chấm

12 Cào cào xanh Attac tomorpha chinensis Bolivar

13 Bọ xít xanh Nezara viridula

14 Bọ xít đen Scotinophora lurida

16 Bọ ba ba Cassida circumdata

17 Sâu cắn gié lúa Mythimna separata

18 Rầy xanh đuôi đen Nephotettix bipunetatus Fabr

338 Lúa mì, ngô, mía, cỏ lồng vực, khoai lang, cam qu yt, rau cải.

Thành phần và số lượng công trùng bắt được của bẫy ánh sáng trên cây lạc

Việc nghiên cứu thành phần côn trùng đóng vai trò then chốt trong công tác Bảo vệ thực vật, giúp xác định các đối tượng phổ biến trong một khu vực cụ thể Dựa trên mức độ phổ biến của chúng, các nhà khoa học có thể xác định hướng nghiên cứu phù hợp cho các chiến lược bảo vệ thực vật dài hạn và ngắn hạn Theo Phạm Thị Vượng (1997), việc này làm nền tảng để đưa ra các quyết định khoa học chính xác trong công tác kiểm soát sinh vật gây hại.

Lạc là cây trồng có hàm lượng dinh dưỡng cao ở tất cả các bộ phận, nhưng lại dễ bị tấn công bởi nhiều loại côn trùng và sâu hại từ khi gieo trồng đến thu hoạch Các nghiên cứu về thành phần côn trùng trên cây lạc đã cho kết quả khác nhau do ảnh hưởng của điều kiện sinh thái, mùa vụ, phương pháp canh tác và chế độ sử dụng thuốc hóa học của từng vùng Dưới đây là kết quả khảo sát số lượng và thành phần côn trùng bắt trên bẫy ánh sáng tại vụ Hè Thu 2011 ở Nghệ An.

Bảng 3.12 Thành phần và số lượng công trùng bắt được của bẫy ánh sáng trên cây lạc

TT Loại côn trùng Tên khoa học Số lượng Cây chủ

1473 Bắp cải, rau diếp, xà lách, su lơ, cà chua, đậu đỗ, bông, thuốc lá, khoai lang

2 Sâu xanh(ngài) Heliothis armigera Hubner

526 Vừng, ngô, bông, thuốc lá, hướng dương, cà chua, đay

3 Ban miêu đen sọc trắng

227 Đậu đỗ, khoai tây, cà chua, cây phân xanh, bông

4 Bọ xít dài Leptocorisa acuta Thunberg

5 Bọ rùa đỏ Micraspis discolor Fabr

6 Chuồn chuồn kim Agriocnemis fermina Brauer

7 Bọ rùa Nhật Bản Propylea japonica

8 Bọ rùa 2 màng đỏ Lemnia 161 biplagiata

9 Bọ chân chạy đuôi cánh 2 chấm

10 Bọ chân chạy nâu Harpalus chalcendatus

11 Bọ chân chạy lưng 2 vạch chéo

13 Nhện linh miêu Oxyopes javanus

16 Rệp muỗi lạc Aphis medicaginis

526 Đậu đỗ, các loại cỏ dại

17 Bọ xít xanh Nezara viridula

18 Bọ xít đen Scotinophora lurida Burm

19 Cào cào xanh attac tomorpha chinensis Bolivar

102 Lúa, ngô, khoai, các loại rau, cỏ lồng vực

20 Sâu cuốn lá nhỏ (ngài) Marasmia exigue

Trong vụ Hè Thu 2011 tại xã Hưng Yên Nam, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, chúng tôi đã thu thập được 20 loại côn trùng khác nhau trên giống lạc L14, bao gồm các loài như sâu khoang, mía, kê, cỏ lồng vực và cỏ lá tre Các loại côn trùng này đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái và ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất sản xuất Việc xác định và kiểm soát các loài côn trùng này giúp nâng cao hiệu quả canh tác và bảo vệ cây trồng trong vùng.

Trong giai đoạn khảo sát, ngài (Spodoptera litura F.) bắt được nhiều nhất với số lượng lên đến 1.473 con, trong khi nhện sói (Pardosa pseudoannulata Boes et Str.) có số lượng bắt ít nhất là 18 con, điều này cho thấy sâu khoang được xem là đối tượng gây hại nguy hiểm nhất trên cây lạc Kết quả côn trùng bắt được của chúng tôi đã thấp hơn so với kết quả điều tra cơ bản về côn trùng năm 1967-1968 của Viện Bảo vệ Thực vật và nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Vượng, phản ánh sự thay đổi trong mật độ sinh trưởng của các loài côn trùng.

Trong gần 2 tháng sử dụng các loại bẫy, chúng tôi nhận thấy rằng vào tháng 9, cây lạc còn nhỏ, mật độ côn trùng thấp chủ yếu là các loại không gây hại như ban miên đỏ Đến tháng 10, khi cây lạc ra hoa và chuẩn bị thu hoạch, số lượng côn trùng tăng nhanh, đặc biệt là các loại sâu hại như sâu khoang (ngài) và sâu xanh (ngài) có mức độ xuất hiện cao hơn.

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Dựa vào kết quả thu được qua thực nghiệm chúng rút ra một số kết luận sau:

Thiết kế bẫy

Kết quả nghiên cứu cho thấy, đối tượng lúa đạt hiệu quả cao nhất khi sử dụng kiểu bẫy bố trí 4 phễu, trong khi đối tượng ngô cũng phát huy tối đa hiệu quả với kiểu bẫy bố trí 3 hoặc 4 phễu.

Trong nghiên cứu, đối tượng lúa, kiểu bẫy kích thước phễu (3,5 cm đáy bé x 5,5 cm đáy lớn) được xác định là kiểu bẫy tối ưu nhất, mang lại hiệu quả cao nhất Đối với đối tượng ngô và đậu lạc, các kết quả cho thấy các kiểu bẫy kích thước phễu (2,5 cm đáy bé x 4,5 cm đáy lớn), (3,0 cm đáy bé x 5,0 cm đáy lớn), và (3,5 cm đáy bé x 5,5 cm đáy lớn) đều là những kiểu bẫy phù hợp, giúp nâng cao hiệu quả bắt giữ côn trùng và tối ưu hóa năng suất trồng trọt.

Nghiên cứu cho thấy, các kiểu bẫy ánh sáng khác nhau có tác dụng thu hút côn trùng đến cây trồng Cụ thể, nguồn sáng màu tím rất hiệu quả trong việc thu hút côn trùng trên cây lúa, trong khi nguồn sáng màu trắng và tím lại thu hút côn trùng nhiều nhất trên cây ngô và cây lạc Các kết quả này giúp xác định phương pháp kiểm soát côn trùng dựa trên thiết kế các kiểu bẫy ánh sáng phù hợp với từng loại cây trồng nhằm nâng cao hiệu quả phòng trừ dịch hại.

1.2 Thành phần và số lượng công trùng bắt được của bẫy ánh sáng

Kết quả cho thấy các kiểu bẫy khác nhau trên đối tượng lúa thu hút tổng cộng 25 loại côn trùng, trong đó Rầy nâu (Nilaparvata lugens Stal) ghi nhận số lượng bắt được nhiều nhất với 1.928 con, phản ánh hiệu quả cao của phương pháp bẫy đối với loài Rầy nâu Ngược lại, chuồn chuồn hoa là loài côn trùng bị bắt ít nhất, với số lượng chỉ thấp hơn, cho thấy mức độ phổ biến và khả năng kiểm soát khác nhau của các loại bẫy đối với từng loại côn trùng gây hại cho lúa.

(Rhyothemis variegate) đạt 18 con, và rầy nâu là đối tượng gây hại nguy hiểm nhất ở trên lúa

Kết quả thu được từ các kiểu bẫy khác nhau trên đối tượng ngô cho thấy có 18 loại côn trùng khác nhau đã bị bắt Trong đó, loại sâu xám (ngài) (Agrotis ypsilon Rott) ghi nhận số lượng bắt được cao nhất là 1.928 con, thể hiện hiệu quả bắt giữ vượt trội Ngược lại, số lượng dế dũi bắt được là thấp nhất, góp phần xác định các loài côn trùng phổ biến và ít phổ biến trong nghiên cứu kiểm soát sâu bệnh hại ngô.

(Gryllotalpa orientalis Burmeister) đạt 18 con, và sâu xám (Agrotis ypsilon Rott) là đối tượng gây hại nguy hiểm nhất ở trên ngô

Kết quả nghiên cứu cho thấy các kiểu bẫy khác nhau thu được hiệu quả đáng kể trên đối tượng lạc, với tổng cộng 20 loại côn trùng khác nhau Trong đó, sâu khoang (Spodoptera litura F.) là loại côn trùng gây hại nguy hiểm nhất, với số lượng bắt được lên đến 1.473 con, chiếm tỷ lệ lớn nhất so với các loài khác Ngược lại, nhện sói (Pardosa pseudoannulata Boes et Str.) có số lượng bắt thấp nhất chỉ 18 con, cho thấy mức độ gây hại của các loài côn trùng đối với cây lạc khác nhau rõ rệt Kết quả này giúp xác định các đối tượng chính cần tập trung kiểm soát để bảo vệ mùa vụ hiệu quả.

2 Kiến nghị Ở nước ta, tình hình nghiên cứu và sử dụng bẫy ánh sáng đang còn quá ít so với tình hình nghiên cứu chung của thế giới Do đó cần có nhiều bài báo cáo, đề tài nghiên cứu về bẫy ánh sáng hơn nữa

TÀI LIỆU NƯỚC NGOÀ

Ashfaq, M., Khan, R.A Khan, M.A, Rasheed, F & Hafeez, S (2005) Insect orientation to various corlor light in the agricultural biomes of Faisalabab Pakistan Entologist Journal, 27(1), 49-52

Brodsgaard, HF, 1989 Coloured sticky traps for Frankliniella occidentalis (Pergande) (Thysanoptera: Thripdae) in glasshouses J Appl

C.B Davenport Experimental Morphology The Macmillan Co

C.H Richardson A Chemotropic Response of the Housefly (M.domestica) Science 43, 613

Charlotte Bruce-White and Malt Shardlow, A review of the impact of actificial light on invertebrates

Demirel N., Cranshaw, W., 2006 Relative attraction of color traps and plant extracts to the false chinch bug nysius raphanus and its parasitoid, phasia occidentis, on Brassica crops in Colorado Phyto-parasitica 34,

Eisenbeis, G (2006) Artificial night lighting and insect to streetlamp in a rural setting in Germany Ecological Consequences of Artificial Night Lighting (eds C.Rich & T Long cone) PP 345-364 Washington

Frank, K.D (2006) Effects of artificial night light on moth: an assessment

Journal of the Lepidopterists Society, 42(2), 63-93)

G.J Venter, K.G Hermanides, S.N.B Boikanyo, D.M Majatladi, L Morey The effect of light trap height on the numbers of Culicoides midges collected under field conditions in South Africa

Gillespie,D.R., Vernon, R.S., 1990 Trap catch of western flower thrips(Thysanoptera: Thripdae) as affected by color and heiht of sticky trap in mature greenhouse cucumber crops J Econ Entomol.83, 971-975

H B Weiss, Entom Notes on the Phototropism of certain Mosquitoes,

Holloway, Jour Moving Light versus Stationary Light I Phototropism Experiments, T E Of Animal Behavior, Vol I, p.29

Jaclyn Blackmer Evaluation of color trap monitor Lygus spp.: Desight, placement, height, time of day, and non-target effect

M Luckiesh, L.L Holladay, and A H Taylor, Light-trap in the control of insects

Manela Branco Modelling response of insect trap captures to pheromone dose

Matteson, N.A Tery, L I, 1992 Response to color by male and female

Frankliniella occidentalis during swarming and non- swarming behavior Entomol Exp Appl 63, 187-201.)

Michael A Mullen*, Alan K Dowdy A pheromone-baited trap for monitoring the Indian meal mot Plodia interpunctella (Hubner) (Lepidoptera: Pyralidae)

Moffitt, H.R., 1964 A color preference of the Western flower thrips, Frankliniella occidentalis J Econ Entomol 57, 604-605.)

N E Mclndoo, Smith Misc Olfactory sense of insects, Col.63 No.9, I-

S J E Wod-Sedalek Jour The Reaction of Certain Dermestidae to light different Period of Their life History, of Animal Behavior Vol.I, 1913, P

S.J Holmes and K W McGraw, Jour Some Experiment on the Methos of Orientation to Light Of Animal Behavior, Vol 3, 1913, P.367

S.J.Homes, Jour The Reaction of Mosquitoes to light in Different Period of Their Life History, of Animal Behavior, Vol.3, 1913, p.367

Salcedo, E., Zheng, L., Phistry, M., Bagg, EE & Britt, S.G (2003)

Molecular basis for ultraviolet vision in invertebrates The Journal of

Schopapadopoulou, C Th Buchelos Comparison of trapping efficacy for

Teulon, D.A.J Hollister, F.,Butler, R.C.,Cameron,E.A.,1999 Colour and odour responses of flying western flower thrips: wind tunnel and greenhouse experiments Entomol Exp Appl 93, 9-19

Vilayanoor V.Ramamurthy, Efficiency of different light source in light trap in mornitoring insect diversity

TÀI LIỆU VIỆT NAM

Nghiên cứu cải tiến đèn bẫy bướm nhằm nâng cao hiệu quả phòng trừ sâu róm hại thông đã được thực hiện bởi Phạm Đăng Quốc Bên cạnh đó, Phạm Thị Vượng đã có các nghiên cứu về cơ sở khoa học để phòng trừ rầy xanh và bọ trĩ hại lạc, góp phần cải thiện các phương pháp phòng trừ trên cây trồng này Những công trình này đều đóng vai trò quan trọng trong việc ứng dụng khoa học để tăng hiệu quả phòng trừ sâu hại trong nông nghiệp Việt Nam.

[28] Phạm Thị Vượng (1997), nghiên cứu cơ sở khoa học để phòng trừ rầy xanh và bọ trĩ hại lạc Luận văn tiên sĩ nông nghiệp, Viện KHKTNN

Trong nghiên cứu của Trần Bình Quyền và Thái Thị Phương Thảo (2008), tình trạng áp dụng các biện pháp bảo vệ thực vật trong sản xuất rau an toàn tại thành phố Vinh được phân tích kỹ lưỡng, cho thấy nhiều hạn chế và tồn tại Các biện pháp bảo vệ thực vật cần được thực hiện một cách có hệ thống nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và bảo vệ sức khỏe cộng đồng Nghiên cứu cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tăng cường nhận thức và đào tạo cho người nông dân về các phương pháp phòng trừ sâu bệnh an toàn và bền vững Việc áp dụng đúng các biện pháp bảo vệ thực vật không chỉ giúp giảm thiểu tác hại môi trường mà còn nâng cao năng suất và chất lượng rau sạch tại địa phương.

[30] Trần Ngọc Lân, giáo trình Quản lí tổng hợp dich hại.

TÀI LIỆU THAM KHẢO TRÊN WEBSITE

[31] http://khoahoc.baodatviet.vn/ NGÂN HÀNG KIẾN THỨC TRỒNG LÚA - Đem kiến thức nghề lúa đến mọi người bằng công nghệ thông tin.mht

[32] www.khoahocphothong.com.vn › TIN TỨC › Kỹ thuật & ứng dụng

[33] www.vietnamplus.vn/Home/3-tinh-dung /135083.vnplus

Ngày đăng: 21/08/2023, 01:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có số phểu khác  nhau trên cây lúa - Nghiên cứu chế tạo bẫy ánh sáng và đánh giá hiệu quả của chúng đến việc bắt côn trùng gây hại cây trồng
Bảng 3.1. Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có số phểu khác nhau trên cây lúa (Trang 24)
Hình 3.4.  Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có số phểu  khác nhau trên cây lạc - Nghiên cứu chế tạo bẫy ánh sáng và đánh giá hiệu quả của chúng đến việc bắt côn trùng gây hại cây trồng
Hình 3.4. Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có số phểu khác nhau trên cây lạc (Trang 28)
Bảng 3.3. Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có số phểu khác  nhau trên cây lạc - Nghiên cứu chế tạo bẫy ánh sáng và đánh giá hiệu quả của chúng đến việc bắt côn trùng gây hại cây trồng
Bảng 3.3. Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có số phểu khác nhau trên cây lạc (Trang 28)
Bảng 3.4. Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có kích thước  phểu khác nhau trên cây lúa - Nghiên cứu chế tạo bẫy ánh sáng và đánh giá hiệu quả của chúng đến việc bắt côn trùng gây hại cây trồng
Bảng 3.4. Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có kích thước phểu khác nhau trên cây lúa (Trang 30)
Hình 3.5.  Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có kích thước - Nghiên cứu chế tạo bẫy ánh sáng và đánh giá hiệu quả của chúng đến việc bắt côn trùng gây hại cây trồng
Hình 3.5. Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có kích thước (Trang 31)
Bảng 3.5. Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có kích thước  phểu khác nhau trên cây ngô - Nghiên cứu chế tạo bẫy ánh sáng và đánh giá hiệu quả của chúng đến việc bắt côn trùng gây hại cây trồng
Bảng 3.5. Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có kích thước phểu khác nhau trên cây ngô (Trang 32)
Hình 3.6.  Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có kích thước - Nghiên cứu chế tạo bẫy ánh sáng và đánh giá hiệu quả của chúng đến việc bắt côn trùng gây hại cây trồng
Hình 3.6. Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có kích thước (Trang 33)
Bảng 3.6. Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có kích thước  phểu khác nhau trên cây lạc - Nghiên cứu chế tạo bẫy ánh sáng và đánh giá hiệu quả của chúng đến việc bắt côn trùng gây hại cây trồng
Bảng 3.6. Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có kích thước phểu khác nhau trên cây lạc (Trang 34)
Hình 3.7.  Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có kích thước - Nghiên cứu chế tạo bẫy ánh sáng và đánh giá hiệu quả của chúng đến việc bắt côn trùng gây hại cây trồng
Hình 3.7. Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có kích thước (Trang 35)
Hình 3.8.  Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có nguồn ánh - Nghiên cứu chế tạo bẫy ánh sáng và đánh giá hiệu quả của chúng đến việc bắt côn trùng gây hại cây trồng
Hình 3.8. Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có nguồn ánh (Trang 37)
Hình 3.9.  Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có nguồn ánh - Nghiên cứu chế tạo bẫy ánh sáng và đánh giá hiệu quả của chúng đến việc bắt côn trùng gây hại cây trồng
Hình 3.9. Diễn biến số lượng côn trùng bắt được ở các bẫy có nguồn ánh (Trang 39)
Bảng 3.10. Thành phần và số lượng công trùng bắt được của bẫy ánh sáng trên  cây lúa - Nghiên cứu chế tạo bẫy ánh sáng và đánh giá hiệu quả của chúng đến việc bắt côn trùng gây hại cây trồng
Bảng 3.10. Thành phần và số lượng công trùng bắt được của bẫy ánh sáng trên cây lúa (Trang 42)
Bảng 3.12. Thành phần và số lượng công trùng bắt được của bẫy ánh sáng trên  cây lạc - Nghiên cứu chế tạo bẫy ánh sáng và đánh giá hiệu quả của chúng đến việc bắt côn trùng gây hại cây trồng
Bảng 3.12. Thành phần và số lượng công trùng bắt được của bẫy ánh sáng trên cây lạc (Trang 47)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w