1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tập tính sinh học, diễn biến mật độ và biện pháp phòng trừ sâu xanh bướm trắng (pieris rapae linnaeus) hại rau họ hoa thập tự

72 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tập tính sinh học, diễn biến mật độ và biện pháp phòng trừ sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae Linnaeus) hại rau họ hoa thập tự
Tác giả Phan Văn Tiến
Người hướng dẫn ThS. Thái Thị Ngọc Lam
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Kỹ sư Nông học
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2012
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Tính cấp thiết của đề tài (10)
  • 2. Mục đích nghiên cứu (13)
  • 3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài (13)
  • Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU (15)
    • 1.1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài (15)
      • 1.1.1. Cơ sở khoa học của đề tài (15)
        • 1.1.1.1. Đặc điểm sinh học, sinh thái học và hình thái của sâu xanh bướm trắng (P. rapae) (15)
        • 1.1.1.2. Hệ sinh thái nông nghiệp và dịch hại cây trồng (18)
      • 1.1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài (21)
    • 1.2. Tình hình nghiên cứu sâu hại họ hoa tập tự và sâu xanh bướm trắng (P. rapae) trên thế giới (22)
    • 1.3. Tình hình nghiên cứu sâu hại rau họ hoa Thập tự và sâu xanh bướm trắng (P. rapae) ở Việt Nam (24)
    • 1.4. Những vấn đề mà đề tài tập trung cần nghiên cứu và giải quyết (31)
  • Chương 2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (32)
    • 2.1. Nội dung nghiên cứu (32)
    • 2.2. Đối tượng nghiên cứu (32)
    • 2.3. Địa điểm, thời gian nghiên cứu (32)
    • 2.4. Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu (32)
    • 2.5. Phương pháp nghiên cứu (33)
      • 2.5.1. Phương pháp nghiên cứu tập tính sinh học của sâu xanh bướm trắng (P. rapae) (33)
      • 2.5.2. Phương pháp điều tra trên đồng ruộng (33)
      • 2.5.3. Phương pháp thử nghiệm thuốc hóa học AMATE 30WDG phòng trừ sâu xanh bướm trắng (P. rapae) (33)
    • 2.6. Phương pháp tính toán và xử lý số liệu (34)
  • Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (35)
    • 3.1. Tập tính sinh học của sâu xanh bướm trắng (P. rapae) (35)
      • 3.1.1 Tập tính gây hại (35)
      • 3.1.2. Tập tính lột xác (39)
      • 3.1.3. Tập tính hướng sáng (39)
      • 3.1.4. Tập tính trốn chạy (40)
      • 3.1.5. Tập tính giao phối (40)
      • 3.1.6. Tập tính đẻ trứng (41)
    • 3.2. Diễn biến mật độ sâu xanh bướm trắng (P. rapae) trên rau hoa Thập tự vụ Đông Xuân năm 2011- 2012 tại Tp. Vinh và vùng phụ cận (41)
      • 3.2.2. Diễn biến mật độ sâu xanh bướm trắng (P. rapae) trên rau hoa Thập tự GAP tại Nghi Liên (46)
      • 3.2.3. Diễn biến mật độ sâu xanh bướm trắng (P. rapae) trên rau hoa Thập tự tại vùng không chuyên canh (48)
      • 3.2.4. So sánh mật độ sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae) của các khu vực điều tra (51)
    • 3.3. Thử nghiệm phòng trừ sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae L.) bằng thuốc hoá học AMATE 30WDG (52)

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài

Rau xanh là nhu cầu thiết yếu trong cơ cấu bữa ăn hàng ngày của con người trên toàn thế giới Khi lương thực và thực phẩm giàu đạm được đảm bảo, nhu cầu về chất lượng và số lượng rau củ càng tăng, đóng vai trò quan trọng trong cân bằng dinh dưỡng và kéo dài tuổi thọ Rau cung cấp các dưỡng chất cần thiết như protein, axit hữu cơ, vitamin và khoáng chất giúp duy trì sức khỏe toàn diện.

Trong những năm gần đây, nhu cầu tiêu thụ rau xanh của người tiêu dùng ngày càng tăng cao, bởi vì rau xanh là nguồn cung cấp thiết yếu các vitamin và chất xơ giúp duy trì sức khỏe Để đáp ứng lượng năng lượng cần thiết cho hoạt động hàng ngày, mỗi người cần tiêu thụ từ 250 gram rau xanh trở lên, đảm bảo chế độ ăn cân đối và lành mạnh Việc bổ sung rau xanh vào thực đơn không chỉ giúp tăng cường hệ miễn dịch mà còn hỗ trợ tiêu hóa tốt hơn, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống.

> 300 (g) rau xanh/ ngày (Dẫn theo Hồ Thị Xuân Hương, 2004)[10]

Rau quả đem lại hiệu quả kinh tế cao và giá trị xuất khẩu đáng kể cho Việt Nam Theo số liệu tháng 2 năm 2011, kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam đạt 41,13 triệu USD, tăng 28% so với cùng kỳ năm 2010, cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của ngành hàng này.

Về mặt xã hội rau góp phần tăng thu nhập người lao động, tạo công ăn việc làm cho người nông dân

Diện tích trồng rau cả nước đã tăng mạnh từ 445.000 ha năm 2000 lên 722.000 ha năm 2009, đánh dấu mức tăng 70,43% so với năm 1990, hay 261.090 ha Trung bình mỗi năm, diện tích trồng rau tăng khoảng 18.400 ha, tương đương mức tăng 7% mỗi năm Các tỉnh phía Bắc chiếm 56% diện tích trồng rau, với 249.200 ha, trong khi các tỉnh phía Nam có 196.000 ha, chiếm 44% diện tích canh tác (Trần Khắc Thi, Trần Ngọc Hùng, 2005) [9].

Theo FAO, ba yếu tố chính thúc đẩy tăng sản lượng cây trồng gồm diện tích canh tác, tăng vụ và nâng cao năng suất Trong các nước Đông Nam Á, yếu tố diện tích góp phần làm tăng sản lượng khoảng 10%, trong khi tăng vụ đạt khoảng 14%, và đáng chú ý nhất là năng suất tăng tới 76%, đóng vai trò quan trọng trong nâng cao sản lượng nông nghiệp khu vực này.

Bảng 1.1 Dự tính diện tích rau ở các vùng trong cả nước (Đơn vị: 1000 ha)

Tên vùng Năm 2000 Năm 2005 Năm 2010

Miền núi, trung du Bắc Bộ

Tây Nguyên 32,00 39,00 58,00 3,71 5,97 Đông Nam Bộ 42,00 56,00 75,00 5,82 5,82 Đồng bằng Sông

Nghệ An là tỉnh có diện tích trồng rau lớn, với tổng cộng 7.557,5 ha, tập trung chủ yếu ở các vùng như Diễn Châu, Quỳnh Lưu và thành phố Vinh Trong đó, xã Hưng Đông, thành phố Vinh, là vùng sản xuất rau chuyên canh lớn nhất trong tỉnh, chủ yếu cung cấp rau cho thị trường thành phố Tuy nhiên, các sản phẩm rau tại đây vẫn chưa đảm bảo an toàn thực phẩm, đặt ra nhiều vấn đề cần được quan tâm và giải quyết.

Trạm BVTV TP Vinh quản lý diện tích trồng rau đạt 320 ha trên địa bàn thành phố, trong đó diện tích trồng rau chuyên canh chiếm 85,8 ha, tập trung chủ yếu tại các xã ngoại thành như Hưng Đông, Nghi Liên.

Việc đảm bảo an toàn thực phẩm trong sản xuất rau là một thách thức lớn do vẫn phụ thuộc nhiều vào thuốc hoá học và thiếu tuân thủ nguyên tắc 4 đúng (thời gian phun, chủng loại thuốc, số lần phun và nồng độ sử dụng) Нiện trạng này dẫn đến sự phát triển của các sâu hại kháng thuốc như sâu tơ, sâu xanh, gây mất cân bằng sinh thái và giảm đa dạng các loài sinh vật có lợi Tình trạng này khiến các loài sâu hại trước đây ít gây hại nay trở thành yếu tố chủ chốt, làm trầm trọng thêm vấn đề an toàn thực phẩm Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế WTO, việc kiểm soát dư lượng thuốc trừ sâu và nâng cao an toàn thực phẩm trong sản xuất rau trở nên vô cùng cần thiết để đáp ứng yêu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu ra thị trường quốc tế.

Trong số các loại rau trồng ở Việt Nam, hơn 50% sản lượng đến từ nhóm rau họ hoa thập tự (HTT), được đánh giá cao về giá trị dinh dưỡng và kinh tế Nhóm rau này được người tiêu dùng ưa chuộng và trồng phổ biến khắp cả nước nhờ đặc điểm sinh trưởng nhanh, trồng gối vụ liên tục và thu hoạch rải rác, phù hợp với khí hậu nóng ẩm của Việt Nam Tuy nhiên, rau họ hoa thập tự dễ bị các loại sâu hại như sâu tơ, sâu xanh bướm trắng, bọ nhảy phá hoại, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất và chất lượng rau (Lê Văn Trịnh, 1995; Nguyễn Quý Hùng, 1995; Phạm Thị Nhất, 1993) Trong đó, sâu xanh bướm trắng là loại dịch hại nguy hiểm phổ biến tại nhiều vùng trồng rau trên toàn quốc Hiện nay, người nông dân chủ yếu sử dụng biện pháp hóa học để phòng trừ sâu hại, nhưng việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật đã gây ra các hậu quả nghiêm trọng như mất cân bằng hệ sinh thái và tăng khả năng đề kháng thuốc của sâu bệnh Theo báo cáo của tổ chức y tế thế giới, mỗi năm có khoảng 500 nghìn người trên thế giới mắc phải các bệnh do tiếp xúc với thuốc bảo vệ thực vật, trong đó có khoảng 14 nghìn người tử vong (Đào Trọng Ánh, 1998).

Mục tiêu của chúng ta hiện nay là xây dựng một nền nông nghiệp bền vững, đảm bảo hệ sinh thái ổn định lâu dài Do đó, phát triển và thực hiện hệ thống biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) đang được nhiều quốc gia, bao gồm Việt Nam, quan tâm hàng đầu (FAO, 1993) Đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, đặc biệt đối với rau xanh, là vấn đề xã hội đáng chú ý hiện nay, đặc biệt khi Việt Nam đã gia nhập WTO.

Một trong những nguyên lý cơ bản của biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp là chỉ sử dụng biện pháp hóa học khi dịch hại vượt quá ngưỡng gây hại kinh tế, tức là khi mật độ sâu hại quá nhiều mà các biện pháp kiểm soát khác không còn hiệu quả.

Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trên chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Tập tính sinh học, diễn biến mật độ và biện pháp phòng trừ sâu xanh bướm trắng ( Pieris rapae L.) hại rau họ hoa Thập tự”.

Mục đích nghiên cứu

Sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae L.) là một loại dịch hại nguy hiểm gây ảnh hưởng lớn đến năng suất và chất lượng nông sản của họ HTT Nghiên cứu tập tính sinh học và thử nghiệm các biện pháp phòng trừ hóa học ở các độ tuổi của sâu giúp xác định phương pháp kiểm soát hiệu quả Việc xây dựng chương trình quản lý tổng hợp (IPM) dựa trên những nhận định này sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu tác động của sâu hại và nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp.

Nghiên cứu về diễn biến mật độ sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae L.) vụ đông năm 2011-2012 được thực hiện nhằm phân tích và dự báo khả năng gây hại của sâu trên đồng ruộng Các kết quả của nghiên cứu này cung cấp cơ sở khoa học giúp dự đoán mức độ thiệt hại và đề xuất các biện pháp quản lý dịch hại hiệu quả trong vụ đông Thông qua việc theo dõi mật độ sâu theo từng giai đoạn phát triển, người nông dân có thể chủ động có các biện pháp phòng trừ phù hợp, góp phần bảo vệ năng suất và chất lượng cây trồng.

- Qua việc nghiên cứu đề tài này giúp bản thân nâng cao trình độ hiểu biết về một số nội dung tri thức, kiến thức đã học.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Nghiên cứu tập tính sinh học của sâu bướm tấn công cây rau họ thập tự trong vụ đông năm 2011-2012 cung cấp dữ liệu quan trọng để dự báo khả năng xuất hiện dịch hại cho vụ mùa tới Thử nghiệm các biện pháp phòng trừ hóa học giúp bổ sung cơ sở khoa học để xây dựng phương pháp dự báo chính xác hơn Những dữ liệu này góp phần phát triển các phương pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), giúp bảo vệ môi trường và sức khỏe người sản xuất, đồng thời giảm chi phí và nâng cao năng suất cây trồng.

Kết quả nghiên cứu các biện pháp phòng trừ sâu bệnh trên cây rau thập tự đóng vai trò quan trọng làm cơ sở để áp dụng hiệu quả các biện pháp phòng trừ sâu hại khác trên các loại rau thập tự Những phát hiện này giúp nâng cao hiệu quả kiểm soát côn trùng gây hại, giảm thiểu thiệt hại mùa vụ và đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng Việc sử dụng các biện pháp phòng trừ phù hợp dựa trên nghiên cứu khoa học sẽ góp phần nâng cao năng suất và chất lượng rau thập tự trên thị trường.

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nội dung nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu những nội dung sau:

- Nghiên cứu tập tính sinh học của sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae) hại rau họ HTT

- Điều tra diễn biến mật độ sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae) hại rau họ HTT ở thành phố Vinh và vùng phụ cận

- Thử nghiệm phòng sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae) bằng thuốc hóa học AMATE 30WDG.

Đối tượng nghiên cứu

Sâu xanh bướm trắng hại rau họ hoa thập tự

- Tên khoa học: Pieris rapae Linnaeus

Địa điểm, thời gian nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 11/2011 đến tháng 3/2012

+ Trại thực nghiệm Nông học, trung tâm Thực hành thí nghiệm, trường Đại học Vinh

Trong bài viết này, chúng tôi trình bày kết quả điều tra về diễn biến mật độ sâu xanh bướm trắng (P rapae) trong vụ Đông Xuân 2011-2012 tại các địa phương như Hưng Đông, Nghi Liên, Nghi Ân, cũng như tại doanh trại quân đội TP Vinh, Nghệ An Nghiên cứu đã cung cấp thông tin quan trọng về mức độ gây hại và xu hướng phát triển của sâu xanh bướm trắng, góp phần nâng cao hiệu quả phòng trừ sâu bệnh trong nông nghiệp địa phương Những kết quả này giúp xác định thời điểm phù hợp để áp dụng các biện pháp kiểm soát, giảm thiểu thiệt hại mùa vụ Đặc biệt, việc theo dõi chặt chẽ diễn biến mật độ sâu trong suốt vụ giúp các nhà nông và cơ sở quân sự chủ động trong công tác phòng trừ, đảm bảo năng suất cây trồng và an ninh lương thực.

Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu

+ Rau họ hoa Thập tự: Bắp cải, rau cải xanh

+ Thuốc hóa học AMATE 30WDG

+ Máy chụp ảnh kỹ thuật số

+ Sổ ghi chép nhật ký thực tập

Phương pháp nghiên cứu

Thu mẫu vật của sâu xanh bướm trắng (P rapae) trên ruộng rau, bao gồm các pha sinh trưởng của sâu từ trứng mới đẻ đến sâu non các tuổi 1, 2, 3, 4, 5 Trứng sâu có màu vàng nhạt và được thu chọn để quan sát hình thái và quá trình phát triển Sau đó, mẫu vật được đưa về nuôi trong hộp nhựa để theo dõi sự phát triển và các đặc điểm sinh học của sâu xanh bướm trắng một cách chính xác Quá trình này giúp nghiên cứu sâu bệnh hiệu quả, hỗ trợ các biện pháp kiểm soát thích hợp.

Pha sâu non được nuôi trong hộp nhựa 25cm x 20cm x 15cm và tiến hành nghiên cứu

Pha trưởng thành được thả vào màn 1.6m x 1.4m x 2.0m

Hàng ngày, theo dõi tất cả các tập tính của từng tuổi sâu bướm trắng (P rapae) và ghi chép một cách thường xuyên, rõ ràng để nắm bắt quá trình phát triển Đồng thời, việc theo dõi các pha sinh trưởng của sâu xanh giúp hiểu rõ về chu kỳ đời sống và hành vi của sâu trong tự nhiên, từ đó hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu và kiểm soát sâu bệnh hiệu quả.

2.5.2 Phương pháp điều tra trên đồng ruộng Điều tra diễn biến mật độ sâu xanh bướm trắng (P rapae) được tiến hành định kỳ 1 tuần /lần tại 3 địa điểm là chuyên canh rau, không chuyên canh rau và thử nghiệm sản xuất rau sạch theo chương trình GAP, bao gồm: Hưng Đông, Nghi Kim, Nghi Ân, doanh trại quân đội và trại Nông học Điều tra được bắt đầu từ đầu vụ sản xuất rau đông đến khi kết thúc vụ rau Điều tra theo nguyên tắc 5 điểm chéo góc, mỗi 1 điểm có diện tích 1m 2 , các điểm điều tra lần sau không trùng với các điểm điều tra lần trước và điều tra vào thời điểm nhất định trong ngày Đếm số lượng tất cả các pha có trên điểm điều tra, ghi số liệu cụ thể, chính xác và ghi lại giai đoạn sinh trưởng của cây

2.5.3 Phương pháp thử nghiệm thuốc hóa học AMATE 30WDG phòng trừ sâu xanh bướm trắng ( P rapae )

Sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae) được thu thập ngoài ruộng từ tuổi 2 đến tuổi 5, đảm bảo không nhiễm nấm, ký sinh, thuốc trừ sâu, và khỏe mạnh Trong nghiên cứu, diện tích ô thí nghiệm là 1m² với mật độ thả 10 con/m² Thuốc hoá học AMATE 30WDG được phun theo nồng độ khuyến cáo để đảm bảo hiệu quả và an toàn.

Thí nghiệm gồm 8 công thức, với 3 lần lặp lại, công thức đối chứng phun nước lã + CT 1: Phun sâu tuổi 2

Sơ đồ bố trí thí nghiệm:

CT1 CT5 CT2 CT4 CT7 CT5 CT3 CT6

CT4 CT2 CT8 CT3 CT1 CT7 CT3 CT2

CT7 CT8 CT4 CT1 CT8 CT6 CT5 CT6

Hiệu lực phòng được tính theo công thức Abbott (1925)

H là tỷ lệ chết của sâu hại

C a là số lượng sâu hại sống sót ở công thức đối chứng không phun thuốc

Ta là số lượng sâu sống sót ở công thức thí nghiệm.

Phương pháp tính toán và xử lý số liệu

Số liệu thu thập được xử lý bằng công thức thống kê toán học, xử lý phần mềm Excel, phần mềm Statistix 9.0.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Tập tính sinh học của sâu xanh bướm trắng (P rapae)

Sâu xanh bướm trắng ( P rapae ) có 5 tuổi, với các sức ăn của các tuổi sâu khác nhau

Sâu non tuổi 1 Sâu non tuổi 2

Sâu non tuổi 3 Sâu non tuổi 4

Trứng Nhộng sắp vũ hoá

Hình 3.1 Các pha phát dục của sâu xanh bướm trắng (P rapae)

Trưởng thành cái Trưởng thành đực

Hoạt động giao phối Hình 3.2 Pha trưởng thành của sâu xanh bướm trắng (P Rapae)

Sâu xanh bướm trắng (P rapae) có các dấu vết cắn khác nhau trên lá tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển của sâu Ở mỗi tuổi sâu non, chúng thể hiện tập tính ăn đặc trưng, ảnh hưởng đến cách thức và mức độ gây hại cho cây trồng Hiểu rõ các đặc điểm này giúp xác định chính xác tình trạng sâu và có biện pháp quản lý phù hợp, nâng cao hiệu quả kiểm soát sâu bệnh.

Tuổi 1: Sâu non sau khi mới nở có tập tính ăn vỏ trứng, sau khi khô lớp da bên ngoài cơ thể sâu non bắt đầu tiến hành ăn lá lúc này sâu non chuyển dần dần từ màu vàng sang màu xanh nhạt Ban đầu sâu non chỉ gặm phần thịt lá (phần biểu bì của lá) phía mặt dưới của lá sâu không gặm thủng lá mà chỉ gặm một những lỗ nhỏ tạo thành chấm chấm ở mặt dưới lá, lá rau sau khi sâu ăn vẫn còn một lớp màng mỏng

Tuổi 2: Sâu non chủ yếu ăn phần diệp lục của lá nhưng chưa ăn thủng lá rau sâu để lại một lớp màng mỏng trên lá, hoặc cũng có những lỗ thủng nhỏ, lúc sâu đói thì có thể gặm thủng lá Nếu mật độ sâu nhiều khả năng cạnh tranh thức ăn cao, sâu non tuổi 2 vẫn có thể gặm thủng lá rau với diện tích phá hoại lớn

Tuổi 3: Sâu non hoạt động nhanh nhẹn, sức ăn của sâu đã khoẻ hơn so với tuổi 2, sâu gặm thủng lá sâu di chuyển nhanh và ăn ở các vùng rộng, sâu ăn khuyết mép lá, sâu gặm từ ngoài mép lá vào trong, khi đói có thể gặm cả cùi non của lá

Tuổi 4: Sâu cắn làm khuyết sâu từ mép lá vào sâu bên trong lá Sâu ăn rất nhanh, sâu ăn tới đâu di chuyển tới đó Do vậy, vết gây hại tạo thành 1 khoảng rộng Sâu non gặm cả cùi rau, sâu non ăn liên tục không ngừng, ăn đến đâu thải phân đến đó

Tuổi 5: Sâu ăn rất phàm, sâu ăn chỉ chừa lại gân lá, đôi khi thức ăn không đủ thì sâu ăn cả cùi lá, sức phá hoại của sâu rất mạnh Sâu ăn liên tục và ăn rất nhanhvà ăn cả ngày

Sâu ngừng ăn, leo lên thành ống, nhả tơ và nằm im trước khi hoá nhộng 1 ngày (thời kỳ tiền hoá nhộng)

Sâu có màu xanh đậm với đường vạch vàng chạy dọc suốt thân, đặc điểm nhận diện rõ ràng của loại sâu này Sâu trưởng thành ở tuổi 5 có màu đậm hơn và da dày hơn so với các giai đoạn trước, giúp chúng thích nghi tốt hơn với môi trường Trên các đốt thân của sâu, xuất hiện các điểm vàng nổi bật cùng với lỗ thở màu nâu ở mỗi bên, góp phần xác định đặc trưng sinh học của loài Trong giai đoạn sâu non từ tuổi 4 đến 5, sâu gây hại nghiệm trọng nhất, gây thiệt hại đáng kể cho cây trồng trong thời kỳ này.

Sâu xanh bướm trắng (P rapae) ký chủ và phá hoại mạnh trên họ rau hoa

Sâu thập tự phát triển mạnh nhất trên các loại cây như bắp cải, su hào và súp lơ Khi môi trường thiếu thức ăn, sâu bắt đầu chuyển sang ký chủ các cây trồng khác như rau cải, xà lách và rau diếp, gây ảnh hưởng đáng kể đến năng suất và chất lượng cây trồng.

Sâu non thích ăn lá non hơn lá già, tập trung tiêu thụ các loại rau thuộc họ hoa Thập tự Khi mật độ sâu xanh bướm trắng (P rapae) tăng cao hoặc nguồn thức ăn khan hiếm, chúng chỉ ăn phần cùi (xương lá) của rau họ hoa Thập tự và không tiêu thụ các loài cây khác.

Sâu gây hại ở tất cả các tuổi và thời kỳ của cây rau họ hoa thập tự, làm giảm năng suất và chất lượng cây trồng Thường xuyên xuất hiện vào buổi sáng từ 7 giờ đến 11 giờ và chiều từ 15 giờ đến 17 giờ khi thời tiết ấm áp, sâu thường ăn gặm lá cây Trong điều kiện thuận lợi, sâu có thể hoạt động và gây hại cả ngày, đòi hỏi người trồng cần chú ý và kiểm tra+kịp thời để phòng trừ hiệu quả.

Nhiệt độ thuận lợi nhất cho sâu phát triển và ăn gặm là từ 24 đến 30 o c, ẩm độ là 82 đến 90 o c

Sâu non bắt đầu gặm lá bất kể thời gian nào khi gặp điều kiện thuận lợi về ánh sáng và nhiệt độ ấm, kể cả dưới ánh sáng đèn điện 75W, như đã quan sát trong môi trường thí nghiệm.

Sâu non thường gây hại mạnh vào các tháng 12-1 và từ tháng 3-4, phù hợp với mùa vụ rau trong năm Trong thời gian này, nhiệt độ cao và khí hậu ấm áp tạo điều kiện thuận lợi cho sâu phát triển và gây thiệt hại Ngược lại, vào các tháng có nhiệt độ thấp, số lượng sâu giảm đi rõ rệt và khả năng phá hoại cũng giảm theo do sức ăn của sâu non giảm xuống.

Hình 3.3 Sâu non lột xác bước sang tuổi mới Vào cuối mỗi tuổi, sâu xanh bướm trắng (P rapae) thường co mình lột xác để bước sang tuổi mới

Quá trình lột xác của sâu diễn ra thường bắt đầu trước 1 ngày, với hiện tượng sâu gặm nhiều lá hơn bình thường và da của sâu căng ra, cho thấy sự chuẩn bị cho quá trình lột Sau đó, sâu bò lên thành ống nghiệm, nhả một ít tơ rồi đính vào đó để bắt đầu quá trình lột xác Khi quá trình này diễn ra, da của sâu bắt đầu co lại, ngắn hơn so với kích thước ban đầu của sâu và có màu sẫm hơn so với bình thường, cho thấy sự thay đổi rõ ràng trong quá trình sinh trưởng của sâu.

Khi lột xác, vết rãnh hình chữ Y xuất hiện rõ rệt giúp sâu non dễ dàng co mình và chui qua Sau khi lột xác, sâu ăn xác đã lột và bắt đầu gặm lá khi lớp da non khô Trong môi trường tự nhiên, sâu non thường đậu ở mặt dưới lá hoặc trong các kẽ lá để bảo vệ trong quá trình lột xác.

Quá trình lột xác của sâu kéo dài từ 10 đến 12 giờ bắt đầu khi sâu nhả tơ và nằm im Thời gian sâu thường lột xác vào khoảng 3 giờ đến 6 giờ sáng hàng ngày Trong pha nhộng, đến ngày vũ hoá, nhộng cựa mình và xuất hiện một vết rãnh chạy dọc sống lưng, và từ khi vết nứt bắt đầu xuất hiện đến khi nhộng vũ hoá hoàn toàn mất khoảng 2 đến 3 giờ.

Sâu non thích ánh sáng ấm áp buổi sáng từ 8 giờ đến 11 giờ và buổi chiều từ

Sâu non thường tránh ánh sáng trực xạ như nắng quá gắt, quá nóng

Diễn biến mật độ sâu xanh bướm trắng (P rapae) trên rau hoa Thập tự vụ Đông Xuân năm 2011- 2012 tại Tp Vinh và vùng phụ cận

Qua quá trình theo dõi biến động số lượng sâu xanh bướm trắng (P rapae) trên đồng ruộng, cho thấy đây là loài sâu gây hại nghiêm trọng đối với rau họ Thập tự Sâu có phạm vi thức ăn hẹp, sinh trưởng nhanh trong điều kiện nhiệt độ cao, và khả năng sinh sản lớn, dễ dẫn đến nguy cơ bùng phát dịch nếu không kiểm soát kịp thời Tần suất xuất hiện của sâu xanh bướm trắng phụ thuộc vào loại rau, giai đoạn sinh trưởng, thời tiết, phương pháp chăm sóc và biện pháp phòng trừ sâu hại, đòi hỏi các chiến lược dự báo sát thực để phòng chống hiệu quả Do đó, việc điều tra diễn biến mật độ sâu trong vụ Đông Xuân tại các vùng trồng rau như xã Hưng Đông, TP Vinh (vùng chuyên canh), xóm 9, xã Nghi Liên, TP Vinh và khu vực trồng rau sạch GAP ở xóm 10, xã Nghi Liên, là cần thiết để đánh giá khả năng phát sinh và phát triển của sâu, từ đó xây dựng các biện pháp phòng trừ thích hợp nhằm kiểm soát dịch hại hiệu quả.

3.2.1 Diễn biến mật độ sâu xanh bướm trắng ( P rapae ) trên rau họ hoa Thập tự tại Hưng Đông

Bảng 3.1 Diễn biến mật độ sâu xanh bướm trắng (P.rapae) 2011-2012 trên vùng trồng rau chuyên canh Hưng Đông Đợt điều tra Ngày điều tra Mật độ

Sâu non Trưởng thành Nhộng

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 ngày điều tra m ật đ ộ (c on /m 2)

Hình 3.4 Diễn biến mật độ sâu xanh bướm trắng (P rapae) 2011-2012 trên rau hoa Thập tự tại Hưng Đông

Vùng trồng rau Hưng Đông là vùng chuyên canh rau vụ Đông, cung cấp nguồn thực phẩm hàng ngày cho khu vực Tp Vinh

Thời gian canh tác rau ở khu vực này kéo dài từ giữa tháng 11 năm nay đến cuối tháng 4 năm sau, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của sâu hại rau họ hoa Thập tự do thời gian canh tác kéo dài và diện tích canh tác rộng lớn.

Quan sát kết quả điều tra từ tháng 11.2011 đến tháng 3.2012 cho thấy:

Mật độ sâu xanh bướm trắng (P rapae) biến động theo thời gian, bắt đầu tăng dần và đạt đỉnh lần 1 Sau đó, mật độ này giảm xuống trong khoảng cuối tháng 1 đầu tháng 2, rồi tiếp tục biến động và có xu hướng tăng trở lại, đạt đỉnh lần 2 vào cuối tháng 3.

Vùng chuyên canh rau Hưng Đông có đặc điểm mật độ sâu xanh bướm trắng (P rapae) thay đổi theo từng giai đoạn, với 3 đỉnh đáng chú ý Tại xã Hưng Đông, mật độ sâu xanh bắt đầu xuất hiện vào cuối tháng 11 với mức 0,13 con/m² và liên tục tăng dần để đạt đỉnh cao nhất trong giai đoạn này.

Trong giai đoạn đầu vụ, mật độ sâu xanh bướm trắng (P rapae) thấp, chỉ khoảng 0,13 con/m² do nhiệt độ thấp hạn chế tỷ lệ nở trứng và đất trồng rau chưa ổn định Vào giữa vụ, mật độ sâu bắt đầu tăng dần từ 0,13 con/m² lên 2 con/m² sau 9 tuần, đạt đỉnh vào đầu tháng 1 với 2 con/m² nhờ điều kiện khí hậu thuận lợi và nguồn thức ăn dồi dào Sau đó, do thời tiết không thuận lợi và việc áp dụng các biện pháp hoá học, mật độ sâu giảm còn 0,53 con/m² trong vòng 2 tuần Đến cuối vụ, thời tiết thuận lợi và ít chú trọng chăm sóc khiến sâu xanh phát triển trở lại, mật độ tăng dần và đạt đỉnh đáng kể vào giữa tháng 3.

Biểu đồ cho thấy mật độ sâu xanh thấp tại vùng Hưng Đông do đây là khu vực chuyên sử dụng thuốc bảo vệ thực vật với tần suất và nồng độ cao, từ 4-20 lần/vụ rau (Trần Văn Quyền, Thái Thị Phương Thảo, 2008) Do đó, số lượng sâu sống sót rất ít, nhưng những cá thể còn lại thường có khả năng kháng thuốc cao, góp phần làm tăng challenges trong kiểm soát sâu trong lĩnh vực nông nghiệp.

3.2.2 Diễn biến mật độ sâu xanh bướm trắng ( P rapae ) trên rau hoa Thập tự GAP tại Nghi Liên

Bảng 3.2 Diễn biến mật độ sâu xanh bướm trắng (P rapae) 2011-2012 ở vùng GAP Đợt điều tra

Ngày điều tra Mật độ

Sâu non Trưởng thành Nhộng

Hình 3.5 Diễn biến mật độ sâu xanh bướm trắng (P rapae) 2011-2012 trên rau hoa

Khu vực GAP được tiến hành điều tra bắt đầu từ ngày 24/21/2011, muộn hơn 1 tháng so với các khu vực khác, phản ánh sự chậm trễ trong quá trình khảo sát Đây là khu vực có mật độ sâu xanh bướm trắng (P rapae) cao nhất, với sự biến động mật độ không theo quy luật rõ ràng Tuy nhiên, dữ liệu cho thấy xuất hiện hai đỉnh điểm mật độ đáng chú ý, cụ thể là 13,6 con/m² tại đợt điều tra thứ 4 và 12,67 con/m² tại đợt điều tra thứ 13.

Sâu xanh bướm trắng (P.rapae) xuất hiện với mật độ khá cao là 5,56 con/m² vào cuối tháng 12 trong vùng chuyên canh rau sạch GPA, sau đó có xu hướng tăng dần và đạt đỉnh lần 1 vào giữa tháng 1 với 13,60 con/m² Sau đỉnh cao này, mật độ sâu giảm xuống còn 5,35 con/m², tuy nhiên quá trình biến động của sâu diễn ra theo xu hướng giảm dần đều chứ không đột ngột Khi mật độ giảm xuống mức này, sau khoảng 4 tuần, mật độ lại bắt đầu tăng, đạt đỉnh lần 2 với 12,67 con/m² Sự thay đổi mật độ này được lý giải là do điều kiện nhiệt độ và độ ẩm phù hợp với quá trình phát triển của sâu xanh bướm trắng trong giai đoạn này.

3.2.3 Diễn biến mật độ sâu xanh bướm trắng (P rapae) trên rau hoa Thập tự tại vùng không chuyên canh

Bảng 3.3 Diễn biến mật độ sâu xanh bướm trắng (P rapae) 2011-2012 trên vùng trồng rau không chuyên canh Đợt điều tra Ngày điều tra Mật độ

Sâu non Trưởng thành Nhộng

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 ngày điều tra m ật độ (c on /m 2)

Hình 3.6 Diễn biến mật độ sâu xanh bướm trắng (P rapae) 2011-2012 tại vùng trồng rau không chuyên canh

Vùng trồng rau không chuyên canh tại thành phố Vinh mở rộng trên nhiều khu vực như vùng sản xuất rau hộ gia đình tại Nghi Liên, khu trồng rau tại Nghi Ân, cũng như các vùng đất quanh doanh trại quân đội và Trường Đại học Vinh These areas serve as important local sources of fresh vegetables, contributing to the urban agriculture landscape of Vinh Việc phát triển các vùng trồng rau không chuyên canh giúp đảm bảo nguồn cung rau sạch và giảm áp lực lên các trang trại lớn, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cộng đồng.

Thời gian canh tác rau tại khu vực này kéo dài từ giữa tháng 11 năm nay đến cuối tháng 4 năm sau, với lịch trình dài và diện tích trồng lớn Đặc biệt, nhằm phục vụ mục đích chuyên canh rau họ hoa Thập tự, điều kiện này tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của sâu hại rau.

Quan sát kết quả điều tra từ tháng 11.2011 đến tháng 3.2012 ta thấy:

Mật độ sâu xanh bướm trắng (P rapae) biến động theo thời gian, bắt đầu tăng dần và đạt đỉnh lần đầu, sau đó giảm dần đến mức thấp nhất trong khoảng cuối tháng 1 đầu tháng 2 Nguyên nhân của sự giảm này xuất phát từ nhiều yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến quần thể sâu xanh bướm trắng Quá trình biến động này cho thấy tính thời vụ rõ rệt của sâu xanh bướm trắng trong mùa trồng trọt Hiểu rõ xu hướng mật độ của loài sâu này giúp đưa ra các giải pháp kiểm soát phù hợp nhằm tối ưu hóa năng suất cây trồng.

(P.rapae) lại tiếp tục biến động và có xu hướng tăng lên, đạt đỉnh lần 2 vào thời gian cuối tháng 3

Diễn biến mật độ của vùng không chyên canh có 3 đỉnh đáng chú ý bao gồm:

Mật độ sâu xanh bướm trắng (P rapae) bắt đầu xuất hiện vào cuối tháng 11 với mức 0,20 con/m², sau đó tăng dần và đạt đỉnh lần đầu là 5,20 con/m² vào giữa tháng 1 (đợt điều tra thứ 10) Sau đỉnh, mật độ sâu giảm mạnh trong vòng hai tuần xuống còn 1 con/m² vào giữa tháng 2 (đợt điều tra thứ 13) Sau khi giảm xuống mức thấp nhất giữa vụ, mật độ sâu xanh bướm trắng duy trì ở mức thấp, phản ánh biến động theo các giai đoạn của mùa vụ.

Trong khu vực này, mật độ sâu xanh bướm trắng (P rapae) có xu hướng tăng dần, từ mức thấp 0,20 con/m² trong giai đoạn đầu vụ do ruộng rau mới trồng và nguồn thức ăn chưa ổn định Trong giai đoạn giữa vụ, mật độ tăng từ 0,20 con/m² lên 5,20 con/m² sau 9 tuần, đạt đỉnh lần 1 vào cuối tháng 1 nhờ nguồn thức ăn dồi dào, nhiệt độ và độ ẩm phù hợp Tuy nhiên, do thời tiết không thuận lợi và việc áp dụng các biện pháp phòng trừ, mật độ sâu giảm xuống còn 1,00 con/m² sau 3 tuần Trong cuối vụ, khi thời tiết thuận lợi và công tác chăm sóc ít được chú trọng, mật độ sâu xanh bướm trắng lại có xu hướng tăng trở lại, đạt đỉnh thứ 2 vào giữa tháng 3 với mức 8,67 con/m².

3.2.4 So sánh mật độ sâu xanh bướm trắng ( Pieris rapa e) của các khu vực điều tra

1 3 5 7 9 11 13 15 17 ngày điều tra m ật đ ộ (c on /m 2) không chuyên canh khu vực GAP Hưng Đông

Mật độ sâu xanh bướm trắng (P rapae) biến động rõ rệt theo từng khu vực trồng rau ở TP Vinh, trong đó vùng trồng rau theo chương trình GAP có mật độ cao nhất với đỉnh điểm là 13.60 con/m², cao hơn nhiều so với các khu vực khác Vùng trồng rau không chuyên canh cũng có mật độ khá cao, trong khi đó, khu vực chuyên canh Hưng Đông có mật độ sâu xanh bướm trắng thấp nhất, đạt đỉnh chỉ 2 con/m², do sử dụng nhiều thuốc hoá học hơn Mật độ sâu xanh bướm trắng cũng cao hơn ở những hộ gia đình trồng rau cung cấp cho mục đích gia đình so với khu vực chuyên canh Hưng Đông, mặc dù có sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nhưng với tần suất ít hơn.

Để phòng trừ sâu xanh bướm trắng hiệu quả, việc phát hiện sớm sâu hại trên đồng ruộng là rất quan trọng Bên cạnh đó, cần dựa vào mật độ sâu hại và giai đoạn sinh trưởng của cây trồng để áp dụng các biện pháp phòng trừ phù hợp, nhằm đạt được hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường cao.

Thử nghiệm phòng trừ sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae L.) bằng thuốc hoá học AMATE 30WDG

Biện pháp hoá học là phương án cuối cùng trong quản lý dịch hại tổng hợp, nhưng lại là biện pháp quan trọng nhất để kiểm soát dịch bệnh sâu hại hiệu quả cao Khi sử dụng đúng hướng dẫn và đảm bảo thời gian cách ly, biện pháp hoá học giúp tăng hiệu quả kinh tế, giảm công sức và thời gian làm việc, đồng thời mang lại tác dụng nhanh chóng.

Trong tương lai, biện pháp hóa học vẫn giữ vai trò quan trọng trong Quản lý dịch hại tích hợp (IPM), nhưng được sử dụng như biện pháp cuối cùng khi các phương pháp khác không hiệu quả Những khuyết điểm của biện pháp hóa học trong bảo vệ thực vật đã thúc đẩy các nhà khoa học tìm ra các giải pháp phù hợp nhằm bảo vệ cây trồng một cách kinh tế và cân bằng môi trường sinh thái Bảo vệ các loài thiên địch khi sử dụng thuốc hóa học đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái và giảm thiểu tác động tiêu cực đến hệ sinh thái tự nhiên.

Amate 30WDG là thuốc hoá học chứa hoạt chất Tindoxacarb 30% W/W, có tính độc cao đặc biệt đối với các loài sâu miệng nhai Sản phẩm được sử dụng phổ biến tại các trạm bảo vệ thực vật nhờ khả năng dập dịch hiệu quả Người dân thường xuyên lựa chọn Amate 30WDG để bảo vệ cây trồng khỏi sâu bệnh, góp phần tăng năng suất và chất lượng nông sản.

Tiến hành phun thuốc theo nồng độ khuyến cáo trên bao bì sản phẩm

Kết quả thử nghiệm thu được:

Bảng 3.4 Hiệu lực phòng trừ sâu xanh bướm trắng (P.rapae) bằng thuốc hoá học

Hiệu quả phòng trừ sau khi phun (%)

1 ngày 2 ngày 3 ngày 4 ngày 5 ngày

Ghi chú: Các chữ cái khác nhau biểu thị sự sai khác có ý nghĩa giữa các tuổi sâu ở từng cột theo Statistix

1 2 3 4 5 6 7 8 ngày theo dõi hi ệu lự c ph òn g tr ừ % tuổi 2 tuổi 3 tuổi 4 tuổi 5

Hình 3.8 Hiệu lực phòng trừ sâu xanh bướm trắng (P rapae) bằng thuốc hoá hoc

Hình 3.9 Phương pháp thí nghiệm và kết quả SXBT phòng trừ bằng thuốc AMATE

- Ở thời điểm 1 ngày sau khi phun:

+ Phun tuổi 2 và tuổi 3 có hiệu quả phòng trừ tương tự nhau trung bình lần lượt là 59.667% và 53.333%

+ Hiệu quả phòng trừ khi phun ở tuổi 4 trung bình là 33,333%

+ Phun tuổi 5 cho hiệu quả phòng trừ trung bình là 23,33%

Phân tích hiệu quả thống kê cho thấy hiệu quả phòng trừ ở tuổi 2,3 và 4, 5 sau 1 ngày là tương tự nhau

- Ở thời điểm 3 ngày sau khi phun:

+ Khi phun thuốc ở tuổi 2 có hiệu quả phòng trừ cao nhất trung bình là 100,00% Sau 3 ngày phun toàn bộ, sâu non ở tuổi 2 trong ô thí nghiệm chết hoàn toàn

Hiệu quả phòng trừ cao nhất đạt trung bình 90,00% khi phun ở tuổi 3 và tuổi 4, cho thấy việc xử lý sớm mang lại kết quả tối ưu Trong khi đó, hiệu quả phòng trừ thấp nhất là 43,33% khi phun ở tuổi 5, cho thấy việc muộn hơn sẽ giảm đáng kể khả năng kiểm soát sâu bệnh Do đó, việc phun thuốc ở các tuổi sớm hơn là chiến lược hiệu quả để nâng cao năng suất và giảm thiệt hại.

+ Phân tích thống kê cho thấy hiệu quả phòng trừ SXBT khi phun ở tuổi 2 sai khác có ý nghĩa so với phun ở tuổi 3 và với tuổi 4 – 5

- Ở thời điểm 5 ngày sau khi phun:

+ Hiệu quả phòng trừ cao nhất khi phun ở tuổi 2 và tuổi 3 trung bình là 100,00%, sâu non trong ô thí nghiệm chết hoàn toàn

+ Hiệu quả phòng trừ cao tiếp theo khi phun ở tuổi 4 trung bình là 92,96% + Hiệu quả phòng trừ thấp nhất khi phun ở tuổi 5 trung bình là 50,00%

- Ở thời điểm 7 ngày sau khi phun:

+ Hiệu quả phòng trừ cao nhất khi phun ở tuổi 2 và tuổi 3 trung bình là 100,00%,sâu non trong ô thí nghiệm chết hoàn toàn

+ Phun ở tuổi 4 và tuổi 5 cho hiệu quả phòng trừ trung bình lần lượt là 92,96% và 50,00%

Dựa trên bảng 3.6 và hình 3.8, hiệu lực của thuốc phun ở tuổi sâu càng nhỏ càng cao, với tỷ lệ chết tăng từ ngày thứ 1 đến ngày thứ 5 sau khi phun và ổn định từ ngày thứ 5 đến 8 Đặc biệt, đối với sâu tuổi 2 và 3, sâu bị tiêu diệt hoàn toàn chỉ sau 1-4 ngày kể từ khi phun thuốc, do cơ thể sâu non có khả năng chống chịu kém, khiến chúng nhanh chóng bị tiêu diệt trong thời gian ngắn, nâng cao hiệu quả phòng trừ sâu bệnh.

Sâu non tuổi 4, 5 rất nhạy cảm với thuốc trừ sâu, tỷ lệ chết cao nhất trong 5 ngày đầu sau khi phun, đặc biệt là sau 1-5 ngày Cụ thể, sau 5 ngày, tỷ lệ sâu tuổi 4 chết lên tới 92,96%, trong khi sâu tuổi 5 có tỷ lệ chết là 50% Từ 5-8 ngày sau phun, tỷ lệ chết không tăng đáng kể vì quá trình phát triển của sâu đã hoàn thiện và bắt đầu gây hại trở lại Các cá thể sống sót sau 5 ngày đã có khả năng kháng thuốc và tiếp tục phát triển bình thường, làm giảm hiệu quả của thuốc trừ sâu theo thời gian.

Để phòng trừ sâu bướm (SXBT) hiệu quả, cần phun thuốc khi sâu non xuất hiện ở ngưỡng gây hại kinh tế (10 con/m²), đặc biệt khi sâu ở tuổi 2 hoặc 3 Một nguyên tắc quan trọng trong việc sử dụng thuốc hóa học là phun đúng thời điểm, nhằm đảm bảo hiệu quả cao nhất trong kiểm soát sâu hại và giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.

“4 đúng” Vì vậy chọn thời điểm phun hợp lý vừa tiết kiệm được chi phí, hiệu quả cao lại vừa ngăn chặn phát sinh thành dịch

Trong thực tế, người dân thường phun thuốc khi phát hiện sâu trưởng thành (tuổi 4, 5) gây hại nặng cho cây trồng Tuy nhiên, việc phát hiện sâu non (tuổi 1, 2, 3) trên ruộng rất khó khăn do kích thước nhỏ và chúng mới bắt đầu làm hại phần nhu mô và thịt lá Chính vì vậy, công tác dự báo, dự tính sớm đóng vai trò quan trọng trong việc giúp người dân đưa ra các biện pháp phòng trừ phù hợp và hiệu quả.

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Sâu xanh bướm trắng (P rapae) có tập tính ăn uống thay đổi theo từng tuổi, với sâu non tuổi 1 và 2 chủ yếu gặm mặt dưới lá mà ít di chuyển, trong khi ở tuổi 3, 4, 5, răng đã phát triển đầy đủ, sâu bắt đầu phá hoại lá mạnh và cắn thủng rộng Sâu non có giai đoạn nghỉ và nằm im trước khi lột xác tương đối giống nhau và thường ăn vào buổi sáng hay khi nhiệt độ ấm, tránh ánh sáng trực xạ, đồng thời thải phân ngay khi ăn Sau vũ hoá, bướm bay đi tìm bạn tình, và sau 1-2 ngày, chúng bắt đầu giao phối và đẻ trứng, tiếp tục chu kỳ sinh trưởng của sâu xanh bướm trắng.

Trong vụ Đông Xuân 2011-2012, mật độ sâu xanh bướm trắng (P rapae) trên ruộng rau biến động theo khu vực và điều kiện phát triển của cây trồng, chịu tác động của thời tiết, nhiệt độ, độ ẩm và phương pháp chăm sóc Các khu vực sử dụng thuốc hóa học ít hơn thường có mật độ sâu thấp hơn so với các vùng không sử dụng hoặc ít sử dụng thuốc Cụ thể, tại đỉnh điểm, vùng trồng rau Hưng Đông đạt 2 con/m², trong khi khu vực trồng rau sạch theo chương trình GAP ghi nhận mật độ lên tới 13,60 con/m² Ngay cả khi mật độ sâu giảm thấp nhất, mật độ tại khu vực trồng rau sạch GAP vẫn cao hơn các khu vực khác, đạt 5,35 con/m², phản ánh hiệu quả quản lý dịch hại và phương pháp canh tác an toàn.

Thử nghiệm hiệu lực phòng trừ sâu xanh bướm trắng (P rapae) bằng thuốc hoá học AMATE 30 WDG cho thấy hiệu quả cao nhất ở công thức 1 và 2, đạt tối đa 100% sau 8 ngày theo dõi Sâu non tuổi 4 có hiệu quả phòng trừ đạt 92,96%, cho thấy thuốc AMATE 30 WDG là một phương pháp hiệu quả để kiểm soát sâu xanh bướm trắng trong nông nghiệp.

Tiếp tục đi sâu tìm hiểu cụ thể tập tính sinh học của sâu xanh bướm trắng

Nghiên cứu và áp dụng các biện pháp hoá học phù hợp giúp xác định thời điểm phun thuốc chính xác, nâng cao hiệu quả kinh tế và đảm bảo an toàn cho người sử dụng Đồng thời, điều tra biến động số lượng sâu xanh bướm trắng (P rapae) qua các vụ rau sau để hoàn thiện biểu đồ dự báo số lượng sâu hàng năm Thông tin này góp phần xây dựng cơ sở dự đoán chính xác sự phát triển của sâu bướm trắng hại rau họ thập tự tại TP Vinh và vùng phụ cận.

TÀI LIỆU THAM KHẢO TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT

Bộ môn côn trùng, “Giáo trình côn trùng chuyên khoa”, Nxb Nông nghiệp Hà Nội, 2004

Lê Xuân Bảo (2008), “Các đặc điểm sinh học, sinh thái của sâu tơ

(Plutella maculipenis Curtis) hại rau họ hoa thập tự và thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ ở Nghệ An”, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Vinh

3] Tạ Thu Cúc và cộng sự, “Giáo trình Cây rau”, Nxb Nông nghiệp Hà Nội

Nguyễn Văn Đĩnh đã nghiên cứu về các loài sâu hại phổ biến trên rau trồng trong nhà có mái che tại các khu vực Lĩnh Nam (Hoàng Mai) và Đặng Xá (Gia Lâm), Hà Nội trong giai đoạn năm 2003-2004 Bài viết trình bày các loại sâu hại chính ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng rau, đồng thời đề xuất các biện pháp phòng trừ hiệu quả giúp bà con nông dân bảo vệ mùa vụ Nghiên cứu này cung cấp thông tin quan trọng để nâng cao hiệu quả sản xuất rau an toàn, góp phần thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững tại địa phương.

Hồ Thị Thu Giang (2002), “Nghiên cứu sâu hại rau họ hoa Thập tự, đặc điểm sinh học sinh thái hai loài ong Costeria pluteallae và Diadromus collaris Gravenhost

(Linnaeus) trên sâu tơ ở ngoại thành Hà Nội, Luận án Tiến sĩ

Nguyễn Thị Hà (2011) nghiên cứu về hiệu quả phòng trừ của nấm Isaria javanica đối với sâu khoang hại lạc và rệp muội trên cây trồng Công trình này cho thấy nấm Isaria javanica có khả năng kiểm soát tốt các sâu bệnh hại, góp phần giảm thiểu sử dụng hóa chất độc hại trong nông nghiệp Kết quả thực nghiệm cho thấy nấm này thể hiện hiệu lực đáng kể trong việc phòng trừ sâu khoang và rệp muội, giúp bảo vệ cây trồng hiệu quả và nâng cao năng suất Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hà đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển các biện pháp sinh học bảo vệ cây trồng bền vững và thân thiện với môi trường.

Nguyễn Thị Hạnh (2009) nghiên cứu về đặc điểm sinh học và sinh thái của sâu xanh bướm trắng Pieris rapae Linnaeus, một sâu hại phổ biến trên rau họ thập tự Khóa luận này cung cấp những thông tin quan trọng về sinh trưởng, phát triển của sâu và ảnh hưởng của nó đến cây trồng trong điều kiện đồng ruộng Kết quả nghiên cứu giúp nâng cao hiểu biết về sinh thái sâu Pieris rapae, từ đó đề xuất các biện pháp phòng trừ hiệu quả nhằm giảm thiểu thiệt hại cho cây trồng rau họ thập tự Thông tin này rất hữu ích cho các nhà nông, nhà khoa học và các chuyên gia nông nghiệp trong việc quản lý sâu hại và bảo vệ mùa vụ.

Ngày đăng: 21/08/2023, 01:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w