Mục đích và yêu cầu của đề tài 2.1 Mục đích - Xác định thành phần và đánh giá mức độ nhiễm bệnh do nấm gây hại trên hạt giống lạc thu thập tại vùng Diễn Châu - Nghệ An.. - Đánh giá mức đ
Trang 1
NGHI£N CøU BÖNH HÐO Rò GèC MèC §EN (Aspergillus niger)
h¹i l¹c vô xu©n 2012 t¹i huyÖn diÔn ch©u,
NghÖ An – 2012
[
Trang 3niger) hại lạc vụ Xuân 2012 tại huyện Diễn Châu, Nghệ An và biện pháp hóa học phòng trừ bệnh” là hoàn toàn trung thực do chính tôi nghiên cứu, các số liệu là qua
nghiên cứu để rút ra kết luận, không lấy từ bấy kỳ một đề tài nào
Sinh viên
Nguyễn Khắc Danh
Trang 4Lâm Ngư Trường Đại Học Vinh đã sắp xếp, bố trí tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp
Tôi xin bày tỏ long biết ơn sâu sắc nhất tới cô giáo Th.S Ngô Thị Mai Vi, người trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, cán bộ kỹ thuật phòng thí nghiệm tổ THTN Nông Lâm Ngư – Trung tâm THTN Trường Đại học Vinh đã tận tình chỉ bảo tôi và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian thực tập
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình bạn bè, đã giúp đỡ tôi về vật chất và tinh thần trong quá trình làm khóa luận tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Cửa Lò, tháng 5 năm 2012
Sinh viên
Nguyễn Khắc Danh
Trang 5Cây lạc (Arachis hypogaea L.) là một loài cây thực phẩm thuộc họ Đậu có
nguồn gốc tại Trung và Nam Mỹ là cây công nghiệp ngắn ngày, có giá trị kinh tế cao Cây lạc chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế thế giới không chỉ do được gieo trồng trên diện tích lớn ở trên 100 nước, mà còn vì hạt lạc chứa 22- 26% prôtêin và 45- 50% lipít, là nguồn bổ sung đạm, chất béo quan trọng cho con người, hạt lạc được sử dụng rất rộng rãi để làm thực phẩm và nguyên liệu cho công nghiệp Bên cạnh giá trị to lớn về dinh dưỡng cho con người và là nguyên liệu cho các ngành khác, cây lạc còn là cây quan trọng nhất trong hệ thống luân canh cây trồng đạt hiệu quả cao vì nó còn có tác dụng cải tạo đất rất tốt Nhu cầu sử dụng và tiêu thụ lạc ngày càng tăng đã và đang khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất lạc với quy mô ngày càng mở rộng ở các quốc gia trên thế giới
Ngày nay cây lạc ngày càng được chú ý do nó mang nhiều lợi ích về mặt kinh
tế nên nó được chú ý phát triển trên diện rộng trên toàn Thế Giới Ở Việt Nam trong những năm gần đây đã và đang tiến hành chuyển đổi cơ cấu cây trồng Trong đó, việc đưa cây lạc vào sản xuất với vai trò cây trồng chủ lực là yếu tố đảm bảo sự phát triển bền vững sinh thái nông nghiệp và phát triển kinh tế
Từ những ưu điểm trên, cây lạc đang được quan tâm phát triển cả về diện tích, năng suất và sản lượng
Trong hai thập kỷ cuối thế kỷ 20, sản xuất lạc ở nhiều nước trên thế giới đã đạt được những thành tựu to lớn bí quyết thành công trong chiến lược phát triển sản xuất lạc của các quốc gia là nhờ ứng dụng rộng rãi các thành tựu khoa học công nghệ mới trên đồng ruộng của nông dân Trong những năm gần đây, nhờ áp dụng các tiến bộ kỹ thuật về giống mới, kỹ thuật canh tác tiến bộ như che phủ nilon, thời
vụ gieo trồng, phân bón Đặc biệt việc đưa cây lạc vào trồng trong vụ thu đông ở nước ta đã làm tăng sản lượng lên 30- 40% Theo kế hoạch của Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn trong năm 2012 tăng diện tích trồng lạc từ 235 lên 240 nghìn ha đồng thời tăng năng suất đạt 516 nghìn tấn
Trang 6Để đạt được mục tiêu đó, cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học kỹ thuật và triển khai áp dụng tiến bộ cho nông dân trên đồng ruộng Theo các nhà khoa học đã khẳng định một trong những nguyên nhân làm hạn chế năng suất lạc là do chưa áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật và chưa khai thác, tận dụng hết tiềm năng để tăng năng suất và sản lượng lạc Năng suất giữa các vùng, quốc gia và lãnh thổ còn có sự chênh lệch lớn, năng suất giữa thí nghiệm và thực tiễn sản xuất của nông dân còn cách biệt khá xa Vì vậy việc tập trung nghiên cứu tìm ra các giải pháp
kỹ thuật, giúp nông dân thâm canh tăng năng suất lạc là đòi hỏi cấp bách, trong sản xuất
Trong những năm gần đây, sự gia tăng về diện tích trồng và việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh làm phát sinh ngày càng nhiều dịch hại trên cây trồng, đặc biệt là nhóm nấm gây bệnh đốm lá lạc Nhóm nấm này phát sinh và gây hại trong cả chu kỳ sống của cây trên đồng ruộng, ảnh hưởng đến chất lượng hạt giống Đây cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự giảm sút về năng suất
và phẩm chất lạc
Ở Nghệ An với tổng diện tích lạc gần 22.000 ha mỗi năm, các huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc, Nam Đàn, Thanh Chương, Đô Lương và Anh Sơn la những vùng trồng lạc chủ yếu Các giống lạc địa phương như lạc Sen, lạc Cúc năng suất thấp đã dần được thay thế bằng các loại giống lạc mới có năng suất cao như L14, L18, MĐ7, L08, L24, L26…đạt 40 tạ/ha Có nhiều mô hình trồng lạc đạt năng suất trên 5 tấn/ha Để đóng góp cơ sở khoa học cho việc đánh giá mức độ nhiễm bệnh của một số giống lạc, dưới sự hướng dẫn của Thạc sĩ Ngô Thị Mai Vi, chúng
tôi tiến hành thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu bệnh héo rũ gốc mốc đen (Aspergillus niger) hại lạc vụ Xuân 2012 tại huyện Diễn Châu, Nghệ An và biện pháp hóa học phòng trừ bệnh”
Trang 72 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2.1 Mục đích
- Xác định thành phần và đánh giá mức độ nhiễm bệnh do nấm gây hại trên hạt giống lạc thu thập tại vùng Diễn Châu - Nghệ An
- Xác định tình hình nhiễm nấm Aspergillus niger trên các mẫu đất thu thập
tại vùng Diễn Châu - Nghệ An
- Đánh giá mức độ gây hại, nghiên cứu đặc điểm phát sinh phát triển của nấm
Aspergillus niger gây bệnh héo rũ gốc mốc đen hại lạc vụ xuân 2012 và khảo sát
biện pháp hóa học phòng trừ bệnh tại vùng Diễn Châu - Nghệ An
- Đánh giá tình hình (tỷ lệ mẫu) nhiễm nấm Aspergillus niger của các mẫu
đất thu thập tại vùng Diễn Châu - Nghệ An
- Điều tra giám định thành phần bệnh hại lạc vụ xuân 2012 tại vùng Diễn Châu - Nghệ An
- Điều tra diễn biến bệnh bệnh héo rũ gốc mốc đen (Aspergillus niger)hại lạc
trong vụ xuân 2012 tại vùng Diễn Châu - Nghệ An
-Đánh giá tình hình (tỷ lệ mẫu) nhiễm nấm Aspergillus niger trên các mẫu đất
thu thập tại vùng Diễn Châu - Nghệ An
- Đánh giá khả năng phòng trừ nấm Aspergillus niger hại lạc bằng thuốc hóa
học trong điều kiện chậu vại, nhà lưới
Trang 8Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học và cơ sỏ thực tiễn của đề tài
Tác nhân gây bệnh trên cây lạc bao gồm: nấm, vi khuẩn, virus, tuyến trùng Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài chúng tôi đề cập đến nấm gây bệnh và các nòi chủng của nó Nấm là tác nhân gây nên nhiều loại bệnh nguy hiểm và phổ biến hơn hết Các dạng hạch nấm bảo tồn lâu dài vài ba năm ở trạng thái tĩnh trong tự nhiên vẫn không mất sức sống
Vì vậy, nắm được các đặc điểm về nguồn bệnh chúng ta sẽ có các biện pháp phòng trừ chính xác, đem lại hiệu quả cao Để gây hại, nguồn bệnh phải trải qua quá trình xâm nhiễm Quá trình xâm nhiễm và sự phát sinh, phát triển của bệnh phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố ngoại cảnh, đối với các loại bệnh khác nhau thì ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh cũng khác nhau Các tác nhân gây bệnh khác nhau thì quá trình xâm nhiễm khác nhau Đối với bệnh do nấm gây ra, quá trình xâm nhiễm bắt đầu giai đoạn tiếp xúc của bào tử trên bề mặt kí chủ Bào tử có thể nảy mầm gián tiếp hay trực tiếp Sự nảy mầm chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố ngoại cảnh nhưng quan trọng nhất là ẩm độ và nhiệt độ Đa số các bào tử nấm nảy mầm tốt trong điều kiện ẩm độ cao và nhiệt độ từ 18 - 220
C Sau nảy mầm nấm sẽ xâm nhập qua bề mặt kí chủ Khi hoàn toàn xâm nhập, bằng các chất enzim, chất sinh trưởng
và các độc tố nấm sẽ phân hủy cấu trúc tế bào để hấp thụ dinh dưỡng và nuôi sống bản thân Với các bệnh hại lạc, nấm bệnh cũng cần đòi hỏi những điều kiện về nhiệt
độ và ẩm độ nhất định Bệnh héo rũ gốc mốc đen (Aspergillus niger ) sinh trưởng và phát triển khi nhiệt độ trên 250C và mưa nhiều Vì vậy chúng ta cần nắm được các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát sinh, phát triển của các tác nhân gây bệnh cũng như đặc điểm sinh trưởng của cây trồng để đưa ra các biện pháp phòng trừ thích hợp
Trang 91.1.2 Cơ sở thực tiễn
Nghệ An là vùng thâm canh lạc lớn của cả nước, với tổng diện tích 23.800 ha chiếm 5% diện tích trồng lạc trên toàn quốc Trình độ sản xuất người dân khá cao Khí hậu phức tạp với ảnh hưởng của gió Lào khô nóng mùa hè, gió Đông bắc lạnh
ẩm mùa đông Tỉ lệ sâu bệnh hại trên cây lạc còn nhiều
Bệnh hại là nhóm đối tượng gây hại nhiều tới cây lạc Tỉ lệ nhiễm bệnh của cây trên đồng ruộng là rất cao gây ảnh hưởng tới năng suất cũng như phẩm chất của cây lạc Do bệnh héo rũ gốc mốc đen gây hại trực tiếp lên hạt giống và và trong toàn
bộ quá trình sinh trưởng và phát triển của cây lạc nên ảnh hưởng rất lớn tới tổng năng suất của cây Dù vậy, việc phòng trừ bệnh hại không được người dân quan tâm đúng mức vì bệnh không gây hại trên diện rộng trong thời kì đầu phát triển Thường thì người dân không phòng bệnh, khi thấy bệnh phát triển mạnh thì phun thuốc hóa học để trừ bệnh Thuốc hóa học mang lại hiệu quả trị bệnh nhưng nó có ảnh hưởng tới sức khỏe người tiêu dùng và môi trường sinh thái Việc nghiên cứu chủng nòi của nấm gây bệnh hại cây lạc sẽ tạo tiền đề để sử dụng các biện pháp phòng trừ một cách phù hợp và hiệu quả nhất Để có thể giảm thiểu mức độ độc hại khi sử dụng các biện pháp hóa học hay sử dụng các biện pháp khác để phòng trừ bệnh héo rũ gốc mốc đen hại lạc nhằm nâng cao năng suất và phẩm chất của cây trồng
1.2 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới và Việt Nam 1.2.1 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới
Cây lạc là cây họ đậu có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế Hiện nay cây lạc được trồng trên 100 quốc gia, song tình hình sản xuất giữa các vùng, các quốc gia không đều nhau So với thập niên 60, 70 tình hình sản xuất lạc hiện nay đã có những bước nhảy vọt về cả chất và lượng
Cây lạc đang đứng thứ hai trong số các cây lấy dầu thực vật ( về diện tích và sản lượng) sau đậu tương với diện tích gieo trồng 20 – 21 triệu ha/năm, tổng sản lượng 25,5 – 26 triệu tấn Vùng sản xuất lạc chủ yếu trên thế giới là vùng nhiệt đới
và á nhiệt đới của lục địa Á – Phi
Trang 10Năng suất cao đạt ở Israel trên 6,7 tấn/ha, tiếp sau là Mỹ với năng suất 3,21 – 3,51 tấn/ha
Các nước đứng đầu về sản lượng lạc trên thế giới hiện nay là Trung Quốc (12,49 triệu tấn ), Ấn Độ (5,51 triệu tấn ), Indonexia (0,78 triệu tấn ), Achentina (0,61 triệu tấn ) – Theo FAO 2009
Bảng 1.1 Diện tích, năng suất, tổng sản lượng lạc ở một số nước trên thế giới
Nguồn: Tổng cục thống kê 2006 Tại khu vực Đông Nam Á thì diện tích trồng lạc không nhiều Một số nước
có diện tích trồng lạc khá cao như Indonecia 0,62 triệu ha, Việt Nam 0,53 triệu ha, Thái Lan 0,13 triệu ha
Diện tích và sản lượng lạc trên thế giới những năm qua không đều nhau, có tăng giảm giữa các năm Giữa các vùng khác nhau trên thế giới cũng phân bố không đều Đứng đầu là châu Á, chiếm khoảng 51% về diện tích ( 11,86 triệu ha) và 61%
về sản lượng ( 21,70 triệu tấn) Tiếp theo là châu Phi với diện tích khoảng 45% ( 10,60 triệu ha) và sản lượng chiếm khoảng 31% ( 10,88 triệu tấn)
Trong các nước sản xuất lạc trên thế giới, sản lượng lạc của Trung Quốc là lớn nhất ( 13 triệu tấn) và thấp nhất là Chad ( 450 nghìn tấn)
Yêu cầu về nhập khẩu lạc cũng tăng nhiều do dầu lạc có thể thay thế cho mỡ
Nước Diện tích
( triệu ha )
Năng suất ( Tạ/ha )
Tổng sản lượng (Triệu tấn)
Trang 11động vật Dầu lạc là sản phẩm chính và cần thiết cho con người
1.2.2 Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam
Ở Việt Nam lạc là sản phẩm quan trọng để xuất khẩu và sản xuất dầu ăn mà hiện nay nước ta còn phải nhập khẩu Hơn thế nữa cây lạc đóng vai trò đặc biệt quan trong trong hệ thống nông nghiệp ở vùng nhiệt đới bán khô hạn như Việt Nam nơi
có nền khí hậu và canh tác khó khăn
Trong số 25 nước tròng lạc ở châu Á Việt Nam đứng thứ 5 về sản lượng nhưng năng suất còn thấp
Lạc ở nước ta được trồng rải rác khắp các vùng Diện tích trồng lạc chiếm 40% diện tích cây công nghiệp ngắn ngày Trong đó, vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ chiếm tới 30% diện tích trồng lạc của cả nước và được trồng chủ yếu trên đât đỏ bazan, đất phù sa không được bồi hàng năm
Sáu vùng trồng lạc chính trong nước:
Vùng đồng bằng sông Hồng lạc được trồng chủ yếu ở Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Nam Định, Ninh Bình với diện tích 31400 ha
Vùng Đông Bắc lạc được trồng chủ yếu ở Bắc Giang, Phú Thọ, Thái Nguyên với diện tích 30300 ha
Vùng duyên hải Bắc Trung Bộ là vùng trọng điểm với diện tích 74000 ha, chủ yếu tập trung ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa
Vùng duyên hải Nam Trung Bộ tập trung ở Quảng Nam, Bình Định với diện tích 2312 ha
Tây Nguyên diện tích trông 22900 ha tập trung chủ yếu ở Đăclak (18200 ha) Vùng Đông Nam Bộ được trồng ở Tây Ninh, Bình Thuận, Bình Dương với diện tích 42010 ha
Trong những năm gần đây sản lượng và năng suất lạc ngày càng được nâng cao
Trang 12Bảng 1.2 Tình hình sản xuất lạc trong những năm vừa qua
Năm Diện Tích Năng suất Sản Lượng ( Nghìn ha) ( Tạ/ha ) ( Nghìn tấn)
Bảng 1.3 Diện tích, năng suất và sản lượng các vùng 2010
Vùng Diện Tích Năng suất Sản lượng
(ha) (tạ/ha) (nghìn tấn) Đồng bằng sông Hồng 28,3 24,0 71,4
Bắc Trung Bộ 74,9 20,4 152,5 Nam Trung Bộ 26,5 19,1 50,7 Tây Nguyên 17,7 17,2 30,4 Đông Nam Bộ 35,9 25,3 91 Đồng bằng sông 13,3 33,1 42,3 Cửu Long
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
1.2.3 Tình hình sản xuất lạc ở Nghệ An
Nghệ An là tỉnh có diện tích lớn nhất cả nước, đồng thời cũng là tỉnh đứng đầu về diện tích trồng lạc Diện tích, năng suất và sản lượng lạc trong những năm
Trang 13vừa qua được biểu diễn dưới bảng sau:
Bảng 1.4 Tình hình sản xuất lạc ở Nghệ An trong những năm vừa qua
Năm Diện Tích Năng suất Sản Lượng (Nghìn) (Tạ/ha ) (Nghìn tấn)
Hiện nay Nghệ An sản xuất 3 vụ lạc/năm Vụ lạc Xuân (Vụ chính) có diện tích trên dưới 20 nghìn ha, sản phẩm chủ yếu phục vụ cho xuất khẩu, vụ Thu – Đông chủ yếu cung cấp giống cho vụ chính và một phần làm hàng hóa các tỉnh bạn, vụ lạc
hè có diện tích trồng hàng năm trên 2000 ha, chủ yếu phục vụ cho tiêu dùng, chế biến và một phần được để làm giống
Trên địa bàn huyện Diễn Châu hiện nay có tới trên một nghìn hộ nhỏ lẻ thu mua lạc và ba doanh nghiệp vừa thu vừa mua, chế biến và xuất khẩu lạc Các năm trước lạc Diễn Châu xuất khẩu sang Trung Quốc theo đường tiểu ngạch nên gặp nhiều rủi ro về giá Hiện nây hầu hết sản phẩm lạc đã tìm được hướng xuất khẩu chính ngạch sang các nước Thái Lan, Indonexia ổn định được cả giá cả và thị trường
1.3 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam 1.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Bệnh héo, chết cây là một hiện tượng tổng hợp do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra, cùng xen lấn và phát sinh trên đồng ruộng Những loại hình héo rũ gây chết cây tuy có đặc thù riêng nhưng đều có triệu chứng chung là cây héo khô, chết rũ nên được gọi chung là triệu chứng bệnh héo rũ Những cây bị nhiễm bệnh phần lớn
Trang 14bị héo và chết, nếu còn sống cũng mất khả năng cho năng suất hoặc cho năng suất thấp, phẩm chất hạt kém.Nguyên nhân gây bệnh đã được rất nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu, sau đây là một số nghiên cứu trên thế giới
Nấm bệnh A niger tồn tại trong đất, trên hạt giống với tỷ lệ hạt bị nhiễm bệnh
lên tới 90% Nấm bệnh truyền qua đất và có khả năng phát triển mạnh trong điều kiện biến động lớn của độ ẩm đất, chất lượng hạt giống kém và tỷ lệ sát thương cao Độc tố
do nấm sản sinh gây ra ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây như rễ quăn xoắn, biến dạng ngọn, thậm chí cả các axit béo tự do trong hạt cũng chứa độc tố Nhóm bệnh héo rũ gây chết cây hại lạc là một trong những nhóm bệnh gây hại nguy hiểm và làm thiệt hại năng suất một cách rõ rệt của các vùng trông lạc trên thế giới
Những nghiên cứu về nhóm bệnh héo rũ chết cây có thể tóm tắt như sau:
1.3.1.1 Bệnh héo rũ gốc mốc đen (Aspergillus niger) Nấm A niger là loài nấm tồn tại trong đất gây bệnh héo rũ lạc đồng thời là
loài nấm hại hạt điển hình (John Damicone, 1999) [19] Trên thế giới, đã có rất
nhiều những nghiên cứu về nấm A niger, người ta đã phân lập được 37 loài gây hại trên thực vật Nấm A niger không chỉ gây hại trên cây trồng mà chúng còn được
quan tâm như là một nguyên nhân gây bệnh cho người và động vật Ngoài ra, chúng còn được sử dụng như một nguồn vi sinh vật cho sản xuất một số loại enzyme của ngành công nghệ chế biến
Năm 1998, D.J Allen và J.M Lenne cho biết bệnh héo rũ gốc mốc đen được phát hiện lần đầu tiên tại Sumatra vào năm 1926, nhưng thực tế loài nấm gây bệnh này đã được ghi nhận từ những năm 1920, gây biến dạng mầm củ và biến màu vỏ lạc, hạt lạc Còn ở Châu Á, bệnh được ghi nhận đầu tiên tại Andhara Pradesh năm
1980 theo N Kokalis Burelle (1997).[21]
Ở Mỹ, bệnh héo rũ gốc mốc đen ngày càng trở nên quan trọng từ đầu những năm 1970 khi việc xử lý hạt bằng thuốc có chứa thuỷ ngân bị cấm và nó đã trở thành một vấn để ở Florida đầu những năm 1980
Ở Ấn Độ, tổn thất do bệnh hại lạc ngoài đốm lá và gỉ sắt thì bệnh héo rũ gốc mốc đen là một trong những nhân tố quan trọng gây nên năng suất thấp với tỷ lệ
Trang 15nhiễm khoảng từ 5 – 10% Nếu nhiễm trong khoảng 50 ngày sau gieo sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng và có thể gây chết tới 40% số cây
Nấm A niger tồn tại trong đất, trên hạt giống với tỷ lệ hạt bị nhiễm bệnh lên
tới 90% Nấm bệnh truyền qua đất và có khả năng phát triển mạnh trong điều kiện biến động lớn của độ ẩm đất, chất lượng hạt giống kém và tỷ lệ sát thương cao (N – Kokalis et al., 1984)[21] Độc tố do nấm sản sinh gây ra ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây như rễ quăn xoắn, biến dạng ngọn, thậm chí cả các axit béo tự do trong hạt cũng chứa độc tố (D.J Allen and J.M LennÐ,1998).[20]
1.3.1.2 Bệnh héo rũ gốc mốc trắng (Sclerotium rolfsii)
Bệnh héo rũ gốc mốc trắng gây hại phổ biến ở các vùng trồng lạc trên thế giới Thiệt hại về năng suất do bệnh gây ra ước tính khoảng 25 - 80% (Jackson, C.R ,1962) Bệnh phát triển thuận lợi trong điều kiện nhiệt độ 25 – 300 C và ẩm độ cao Bệnh lan truyền qua đất, qua hạt giống Sự phát sinh, phát triển của bệnh phụ thuộc vào nhiều yếu tố Sự tác động qua lại của các chất khoáng, độ pH đất và kỹ thuật trồng trọt đều có ảnh hưởng đến sự phát sinh phát triển của bệnh
Sợi nấm màu trắng phát triển rất mạnh trên vết bệnh, từ sợi nấm hình thành nên hạch nấm Hạch nấm lúc đầu có màu trắng, về sau chuyển thành màu nâu, có thể hình tròn đường kính 1- 2 mm (Purseglove J.W, 1968) Hạch nấm có thể tồn tại từ năm này sang năm khác ở tầng đất mặt (Aycook R, 1974) Nấm sử dụng chất hữu cơ làm dinh dưỡng, sản sinh ra axit oxalic và enzyme phân huỷ mô ký chủ Nấm này thuộc loại háo khí ưa ẩm và nhiệt độ cao 300
xâm nhập vào cây (Kokalis N et al., 1997)
Rhizoctonia solani là một trong những loài nấm có nguồn gốc trong đất quan
Trang 16trọng, có phạm vi ký chủ rất rộng với những triệu chứng gây hại phong phú trên những
bộ phận khác nhau của cây trồng Rhizoctonia solani được phát hiện lần đầu tiên trên
cây khoai tây ở Châu Âu và được Kulh mô tả chi tiết năm 1858
Ngoài truyền bệnh qua đất và tàn dư cây trồng, R.solani còn có khả năng
truyền qua hạt giống Theo những nghiên cứu ở Scotland,
R solani có khả năng truyền qua hạt giống lạc với tỷ lệ 11%, còn ở Mỹ tỷ lệ này lên
tới 30% (Kokalis N et al., 1997)
Trong những năm gần đây, bệnh do nấm Rhizoctonia solani gây ra tương đối
nguy hiểm đối với các vùng trồng lạc trên thế giới Ở miền Nam nước Mỹ, lở cổ rễ lạc đã trở thành một vấn đề cấp bách Hàng năm ở Geogia (Mỹ) thiệt hại do bệnh
gây ra ước tính khoảng hơn 1 tỷ USD (Kokalis N et al., 1997) 1.3.1.4 Bệnh héo vàng (Fusarium sp)
Các loài nấm Fusarium sp đã được nghiên cứu từ khoảng đầu thế kỉ XIX Đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về nâm Fusarium sp đã được công bố và
có ý nghĩa lớn trong sự phát triển của khoa học kĩ thuật Nấm Fusarim spp có mặt
nhiều trên các vùng trồng lạc trên thế giới Trong 17 loài Fusarium sp đã được phân
lập từ đất trồng lạc, chỉ có 6 loài gây bệnh cho lạc (Kokalis N et al., 1984)[21] Trên thân lạc, nấm Fusarium sp xâm nhiễm làm cho cây non, rễ và trụ dưới lá
mầm bị biến mầu xám, mọng nước Cây con bị bệnh sẽ bị ức chế sinh trưởng, chóp rễ
bị hoá nâu, dẫn đến bị thối khô do F solani Khi cây đã trưởng thành F oxysporum gây
hiện tượng thối rễ làm cho cây héo từ từ hoặc héo rũ, lá cây chuyến sang màu vàng
hoặc xanh xám (N Kokalis et al., 1984)[21]
Burgess (1983- 1985) khi nghiên cứu về độc tố của nấm Fusarium
oxysporum cho thấy chỉ có một số ít loài nấm có khả năng gây độc như Fusarium compactum là loại nấm hoại sinh nhưng sản sinh ra hàm lượng độc tố cao thuộc
nhóm Trichothecene (Wing et al, 1993)
Ở Libya, nấm F solani và nấm F scirpi đã được xác định là nguyên nhân chính gây thối quả Tản nấm Fusarium sp có màu trắng kem, sợi nấm đa bào mảnh
và xốp, có thể hình thành nhiều bào tử phân sinh khi có mặt của giọt nước Biện pháp
Trang 17phòng trừ bệnh héo vàng do nấm Fusarium sp chủ yếu là làm ải và luân canh cây trồng
cho hiệu quả cao
1.4.1 Nghiên cứu thành phần bệnh trên lá
Lá là bộ phận giữ chức năng quang hợp của cây Bệnh hại trên lá làm giảm diện tích quang hợp do tạo ra các vết thương và kích thích rụng lá Tùy nơi, tùy từng thời điểm mà bệnh hại lá có thể làm giảm từ 10-50% năng suất
Trong nhóm bệnh này thì phổ biến nhất là bệnh đốm đen, đốm nâu và gỉ sắt, v.v gây hại phổ biến ở các vùng trồng lạc trên thế giới
1.4.1.1 Bệnh đốm nâu (Cercospora arachidicola Hori)
Bệnh đốm nâu chủ yếu gây hại trên lá, nếu bệnh nặng có thể lan xuống cuống
lá, cành và thân Vết bệnh có dạng gần tròn, đường kính 1- 1-mm, có màu nâu tối Xung quanh vết bệnh có quầng vàng, trên bề mặt lá, nơi bào tử được sinh ra nhiều nhất thường có bệnh nâu sáng ở dưới Trong quá trình xâm nhiễm gây hại nấm
Cercospora arachidicola còn sản sinh độc tố Cercospora ức chế sự hoạt động của lá
làm lá già cỗi, chóng tàn và khô rụng sớm
Theo Jenkins (1939) và Chupp (1953): giai đoạn sinh sản vô tính của nấm Cercospora arachidiola cá cành bào tử phân sinh đâm thẳng, đa bào có 4- 14 vách ngăn ngang, không màu
Giai đoạn sinh sản hữu tính của nấm này có tên là Mycosphaerella arachidis Deighton thường tạo quả thể bầu, màu đen Đây chính là dạng bảo tồn qua đông của nấm trong đất và tàn dư cây bệnh
1.4.1.2 Bệnh đốm đen (Cercospora personata Berk & Curtis)
Năm 1985, Ellis và Everhad khi kiểm tra mẫu bệnh ở Alabama và Nam
Carolina đã có kết luận rằng nấm bệnh thuộc loại Cercospora sp và đặt tên là
Cercospora personatum Hiện nay, tên nấm này được đổi thành Cercospora personata
Bệnh xuất hiện muộn và có triệu chứng tương đối giống bệnh đốm nâu nên còn gọi là bệnh đốm là muộn (late leaf spot ) Bệnh đốm đen có mức độ nguy hiểm hơn bệnh đốm nâu
Trang 18Ở Ấn độ, bệnh đốm đen đã gây tổn thất về năng suất từ 20 - 70% tuỳ theo từng vùng và từng thời vụ gieo trồng (Sharief, 1972), ở Thái Lan năng suất giảm 27 - 85% (Schiller, 1978), ở Trung Quốc thiệt hại là 15 - 59% (Ehouliang, 1987)
Bệnh đốm đen có thể gây hại ở tất cả các bộ phận trên mặt đất của cây lạc như thân, cành nhưng lá là bộ phận bị hại nặng nhất Nấm cũng sản sinh ra độc tố Cercosporin kìm hãm sự hoạt động của lá gây hiện tượng rụng lá sớm Trong giai đoạn sinh sản hữu tính, nấm tạo quả thể bầu Đây chính là dạng bảo tồn qua đông của nấm trong đất và tàn dư cây bệnh
Nguồn bệnh có thể tồn tại từ mùa này sang mùa khác trên cây lạc dại hoặc lạc trồng Bệnh có thể lan truyền qua tàn dư thực vật đã bị nhiễm hoặc do di chuyển qua hạt bị nhiễm bào tử
1.4.1.3 Bệnh gỉ sắt Puccinia arachidis Speg
Bệnh có thể gây thiệt hại đến 50% năng suất, khi kết hợp với bệnh đốm đen
có thể gây thiệt hại tới 70% năng suất đôi khi thất thu hoàn toàn (N- Kokalis et al., 1984)
Bào tử nảy mầm tốt nhất ở điều kiện nhiệt độ và ẩm độ: 29 - 310
C, 75 - 78% Trong điều kiện nhiệt độ ánh sáng yếu hạ bào tử phát triển thuận lợi nhất, nước đọng lại trên lá bệnh dễ dàng lây lan Thời gian ủ bệnh thường 7-20 ngày phụ thuộc vào môi trường và giống lạc Những cơn mưa đứt quãng với ẩm độ tương đối trên 87%
và nhiệt độ 23-240C trong nhiều ngày là điều kiện thuận lợi cho dịch hại phát triển Sau khi thời tiết trở nên khô hanh nhiệt độ trên 260C, ẩm độ tương đối dưới 75% sẽ
làm giảm mức độ gây bệnh Nấm Puccinia arachidis không qua đông trên tàn dư
Trang 191.4.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Trong những năm 1990 – 1996 các cán bộ khoa học ở Việt Nam đã phối hợp với chuyên gia của ICRISAT điều tra có hệ thống để xác định tình hình bệnh hại lạc
ở các vùng lạc trọng điểm của Việt Nam Có 30 loại bệnh đã được ghi nhận với các mức độ tác hại khác nhau Trong số đó có khoảng 10 bệnh hại được xác định phổ biến như: Héo xanh vi khuẩn, đốm đen, đốm nâu, gỉ sắt, thối đen, lở cổ rễ, héo rũ gốc mốc trắng, mốc xám, mốc vàng, thối quả
Tập đoàn bệnh hại lạc ở Việt Nam khá phong phú với khoảng hơn 30 loại bệnh với mức độ gây hại khác nhau, trong đó có khoảng 10 bệnh được xác định là phổ biến như: Bệnh héo xanh vi khuẩn, đốm đen, đốm nâu, gỉ sắt, thối đen, lở cổ rễ, thối thân trắng, mốc xám, mốc vàng, thối quả (Nguyễn Văn Viết, 2002).[12]
Tại miền Nam Việt Nam, Hanson Herbet (Mỹ) đã mô tả các bệnh đốm đen, đốm nâu, gỉ sắt, cháy lá trên lạc
Viện bảo vệ thực vật (1970) đã xác định nhóm bệnh hại lá là nhóm bệnh hại chủ yếu và gây khó khăn cho công tác phòng trừ chúng
Kết quả điều tra nguyên nhân gây chết héo lạc của Nguyễn Thị Ly, Phan Bích Thu (1993)[10] và kết quả điều tra thành phần bệnh hại lạc của Nguyễn Xuân Hồng,
Nguyễn Thị Xuyến (1991)[13] đều xác định bệnh chết héo do Sclerotium rolfsii gây
ra là một trong những bệnh phổ biến và là một trong những nguyên nhân làm giảm năng suất lạc Ở vùng Đông Nam Bộ trước thu hoạch tỷ lệ bệnh có nơi lên dến 8 –
10 % Ở Miền Bắc Việt Nam đã phát hiện những ruộng cục bộ có tỷ lệ cây bệnh lên đến 20 – 25%.[16]
Trong danh mục bệnh hại lạc ở Việt Nam 2000, Lê Song Dự đã thông báo
danh sách 10 loại vi sinh vật gây bệnh héo chết cây trên lạc là: Thối gốc mốc đen (A
Niger), thối gốc mốc trắng (S Phaseoli), thối nâu rễ (Fusarium spp.), thối đen (Pythium spp.), thối rễ (M.phaselina), héo xanh vi khuẩn (P.solanaearum), khô thân (Diplodia), héo cây (Verticium dahiae), mốc vàng (A.flavus) và lở cổ rễ (R.solani)[6] Danh sách này đã được Nguyễn Thị Ly và cộng sự thông báo vào năm
Trang 201996, đây là nguyên nhân gây bệnh chết héo cây lạc ở một số địa phương Hà Bắc, Nghệ An.[9]
Theo kết quả nghiên cứu của Lê Như Cương ( 2004)[5], tại một số vùng sinh
thái ở tỉnh Thừa Thiên Huế có 6 loại bệnh héo rũ lạc là: Lở cổ rễ (R.solani, thối gốc mốc đen (A Niger), héo rũ gốc mốc trắng (S.rolfsii), héo rũ vàng (Fusarium spp.), héo rũ tái xanh (Ralstonia Solanaearum), héo do tuyến trùng (Meloidogyne sp.) Tại Việt Nam hiện nay đã tìm thấy 4 loài Fusarium gây bệnh cho lạc là: F.oxysporum,
F.solani, F.roseum và F.tricinetum (Nguyễn Kim Vân và cộng sự, 2000).[8]
Đỗ Tấn Dũng (2001)[3] cho biết: A Niger là một trong ba tác nhân chính gây
bệnh héo rũ chết cây phổ biến và có tác hại nghiêm trọng trên các vùng trồng lạc
Theo kết quả nghiên cứu của Ngô Bích Hảo về bệnh hại lạc cho biết nấm A Niger
lây nhiễm trên nhiều hạt giống như: đậu đỗ, lạc, ngô với tỉ lệ hạt bị nhiễm tới trên 30% Theo tác giả Nguyễn Khánh Ly (1993)[10] đã xác định có khoảng 30 – 85%
số mẫu lạc kiểm tra có khả năng sản sinh độc tố Aflatoxin do nấm Aspergillus flavus
gây ra
Năm 1965, ở hợp tác xã Kiều Thượng – Nam Đàn – Nghệ An và một số vùng khác, lạc chết héo giảm 70% năng suất Ở vùng trung du Bắc Bộ, bệnh khá phổ biến nhưng tỉ lệ héo và gây chết thường ít hơn khoảng 10% ( Lê Lương Tề, 1967).[6]
Nhiều kết quả nghiên cứu trong nước gần đây cho thấy Aspergillus flavus
thường tấn công vào lạc từ khi còn trên đồng ruộng Ngay sau khi thu hoạch đã có tới hơn 66% mẫu thu thập bị nhiễm bệnh Trong đó lạc thu hoạch vụ đông xuân nhiễm bệnh nặng hơn lạc thu và lạc thu hoạch muộn có tỉ lệ bệnh cao hơn lạc thu hoạch sớm ( Nguyễn Văn Viết, 2002).[13]
Năm 1988 – 1990, nghiên cứu của Nguyễn Xuân Hồng và nhóm cộng tác viên đã xác nhận nhóm bệnh hại lá bao gồm: Đốm nâu, đốm đen, gỉ sắt là bệnh hại lạc phổ biến nhất nước ta Thiệt hại do bệnh gây ra trên 40% năng suất, hầu hết các giống đang trồng trên miền Bắc nước ta đều có khả năng nhiễm các bệnh nói trên.[14]
Trang 211.3.3 Biện pháp phòng trừ bệnh hại lạc ở Việt Nam
Biện pháp sinh học (BPSH) phòng chống dịch hại là một lĩnh vực khoa học tương đối mới ở nước ta Mặc dù BPSH phòng trừ dich hại trên thế giới đã có kết quả thành công cách đây hơn 100 năm, nhưng những nghiên cứu đầu tiên về BPSH
ở Việt Nam mới chỉ bắt đầu từ những năm đầu thập kỷ 70 của thế kỷ XX (Phạm Văn Lầm, 1995)[15]
Từ lâu, việc nghiên cứu ứng dụng BPSH trừ dịch hại nông nghiệp được nhiều nhà khoa học, nhiều cơ quan quan tâm, xúc tiến mạnh mẽ ở nước ta Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào BPSH trừ sâu hại: nghiên cứu khu hệ thiên địch của sâu hại, đánh giá vai trò của thiên địch trong hạn chế số lượng sâu hại, nghiên cứu sinh học, sinh thái học của một số thiên địch phổ biến, nghiên cứu sử dụng ong mắt đỏ,
chế phẩm virus, nấm,… , (Trung tâm đấu tranh sinh học, 1996)[17]
Trong những năm gần đây, bệnh hại lạc đã gây hại rất phổ biến ở nhiều vùng trong cả nước Để hạn chế tác hại của bệnh gây ra thì đã có nhiều biện pháp phòng trừ được nghiên cứu và công bố
Trong tất cả các biện pháp đưa ra thì biện pháp hoá học vẫn được người dân
sử dụng nhiều nhất do chi phí thấp, giá thành rẻ và tiện lợi hơn trong việc sử dụng cũng như hiệu quả về mặt tức thì
Đối với bệnh đốm lá, dùng thuốc Anvil 5 - 10EC, Carbenzim 50 WP, super 300 ND,… để phun trừ [13]
Bệnh thối gốc thân lạc lần đầu được ghi nhận và nghiên cứu trên lạc tại nước
ta Công tác phòng trừ bệnh chết cây thường gặp khó khăn do nấm gây bệnh xâm nhập vào bộ phận nằm dưới mặt đất như rễ, quả, tia quả, Xử lý hạt giống bằng thuốc hoá học là biện pháp rất hiệu quả và kinh tế với nhóm bệnh chết cây lạc Các thuốc sử dụng trong nghiên cứu là Rovral 750WG (Iprodione); Vicarben 50WP (Carbendazime); Topsin M 70WP (Thiophanate - metyl) và Viben C 50 WP (Benomyl) Kết quả nghiên cứu đã cho thấy biện pháp xử lý hạt có tác dụng trong tăng tỷ lệ nảy mầm, hạn chế sự xuất hiện của nấm ký sinh trên hạt, từ đó làm tăng tỷ
lệ mọc trên đồng ruộng và làm giảm tỷ lệ bệnh chết cây con (kết quả rõ nhất với
Trang 22bệnh thối đen cổ rễ) [12]
Bệnh héo rũ do vi khuẩn chưa có thuốc đặc trị nên biện pháp hạn chế thiệt hại
và tránh lây lan bằng cách phun hoặc rắc 2 - 3 gói Penac P khi làm đất Dùng Staner
20 WP hoặc Kasugamycin 5% BTN, Kasuran 5% BTN kịp thời khi bệnh chớm xuất hiện
Với các bệnh đốm nâu do nấm Cercospora arachidicola gây ra, bệnh đốm đen do nấm Cercospora personata gây ra thì có thể sử dụng các loại thuốc trừ nấm
như Opus 75 EC, Carbenda 50 SC, Basvitin 50 FL pha 10 - 15ml/bình 8 lít; Polyram
80 DF, Manozeb 80 WP, dithane xanh M 45 - 80 WP: pha 30 g/bình 8 lít; Sumi Eight 12,5 WP: pha 3 - 5 g/bình 8 lít phun kỹ trên tán và cả phần gốc khi có triệu chứng bệnh
Một trong những tồn tại lớn của sản xuất nông nghiệp đang được quan tâm hiện nay là việc sử dụng quá nhiều thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) có nguồn gốc hóa học Tình trạng này nếu cứ tiếp diễn sẽ đi ngược lại mục tiêu xây dựng một nền nông nghiệp bền vững và an toàn mà chúng ta đang nỗ lực tiến tới
Trang 23CHƯƠNG 2:
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Các loại bệnh hại trên hạt giống lạc: Aspergillus niger gây hại trên lạc
2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành tại:
+ Các vùng trồng lạc thuộc huyện Diễn Châu - Nghệ An
+ Phòng thí nghiệm tổ THTN Nông Lâm Ngư – Trung tâm THTN Trường Đại học Vinh
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 12/2011 đến tháng 5/2012
2.1.3 Vật liệu nghiên cứu
Giống lạc trồng phổ biến trong sản xuất: L14
Mẫu hạt giống thu thập tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
Mẫu đất thu thập tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
Các loại thuốc hóa học
Môi trường nuôi cấy: WA, PDA, v.v
Dụng cụ thí nghiệm: gồm các trang thiết bị đơn giản phục vụ cho nghiên cứu: kính hiển vi, kính lúp điện, tủ sấy, buồng cấy, nồi hấp, đèn cồn, đĩa petri, bếp từ, cân điện tử, bình tam giác, lọ thuỷ tinh, v.v
2.2 Nội dung nghiên cứu 2.2.1 Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
Xác định thành phần bệnh nấm gây hại trên hạt giống lạc thu thập tại các vùng trồng lạc thuộc huyện Diễn Châu - Nghệ An
Xác định tình hình và mức độ nhiễm nấm trên các mẫu hạt giống thu thập ở một số xã thuộc huyện Diễn Châu - Nghệ An
Xác định tình hình (tỷ lệ mẫu) đất nhiễm Aspergillus niger thu thập ở một số
xã thuộc huyện Diễn Châu - Nghệ An
Trang 24 Thử nghiệm một số thuốc hóa học (Rovral 50WP, Vicarben S70 BTN, Enaldo 40FS) trong việc phòng trừ nấm bệnh hại hạt giống lạc trong điều kiện phòng thí nghiệm
2.2.2 Nghiên cứu trong nhà lưới
Theo dõi ảnh hưởng của thuốc hóa học đến mức độ nhiễm nấm Aspergillus
niger gây bệnh héo rũ gốc mốc đen hại lạc và một số chỉ tiêu sinh trưởng và phát
triển của lạc trong chậu vại, nhà lưới
2.2.3 Điều tra, nghiên cứu ngoài đồng ruộng
Xác định thành phần bệnh gây hại trên cây lạc và mức độ phổ biến của bệnh tại huyện Diễn Châu - Nghệ An vụ xuân 2012
Điều tra diễn biến của nấm gây bệnh héo rũ gốc mốc đen (A niger) tại huyện
Diễn Châu - Nghệ An vụ xuân 2012
2.3 Phương pháp nghiên cứu 2.3.1 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
2.3.1.1 Phương pháp nấu môi trường
* Môi trường PGA (Potato- Glucose- Agar) Thành phần: + Khoai tây 200 g + Glucose 20 g
+ Agar 20 g + Nước cất 1000 ml Cách điều chế: Khoai tây gọt vỏ, rửa sạch, thái lát mỏng cho vào nồi cùng với
1000 ml nước cất đun sôi khoảng 1 giờ Lọc qua vải lọc, bổ sung nước cất cho đủ
1000 ml Cho agar và glucose vào khuấy đều cho agar tan hết, đun cho đến khi sôi Cho môi trường này vào bình tam giác đậy nắp bằng giấy bạc, sau đó đem hấp khử trùng ở 1210C (1,5 atm) trong vòng 45 phút Để nguội 55 - 600C trước khi rót ra đĩa petri đã khử trùng
* Môi trường WA (Water Agar) Thành phần: +Agar 20 g
+ Nước cất 1000 ml Cách điều chế: tương tự như môi trường PGA
2.3.1.2 Phương pháp phân lập đất
Trang 25a, Phương pháp thu thập mẫu đất
- Lấy mẫu đất tại huyện Diễn Châu - Nghệ An: Chọn 5 xã có diện tích trồng lạc lớn, có địa thế đất, công thức luân canh, mật độ gieo trồng và điều kiện sinh thái đại diện cho vùng, mỗi xã thu thập 15 mẫu từ 15 ruộng có diện tích từ 300 – 500m2
- Trên mỗi ruộng tiến hành lấy mẫu theo 5 điểm chéo góc, mỗi điểm 100g, trộn đều thành mẫu tổng hợp đem về phòng thí nghiệm và tiến hành phân lập đất để
xác định sự tồn tại của nấm A.niger có trong mẫu
b, Phương pháp phân lập đất và giám định nấm A.niger trong đất:
+ Phơi mẫu đất cho khô, dùng cối chày nghiền sơ đất (loại cối chày làm bằng
đá dùng trong nấu bếp) và trộn đều
+ Cho 10g mẫu đất vào một lọ có chứa 100ml WA 0,01% đã hấp tiệt trùng, tạo dung dịch 1:10
+ Đổ 10ml dung dịch sang lọ thứ 2 chứa 90ml WA 0,01% tạo dung dịch 1:100 và lắc đều để đảm bảo đất được phân tán đều trong dung dịch Lặp lại bước này để có dung dịch với nồng độ 1:1000
+ Phân tán đều 1ml dung dịch đất trên bề mặt môi trường phân lập trong đĩa Petri đường kính 90mm:
- Chuẩn bị các đĩa môi trường phân lập và để khô trong vài ngày để loại bỏ hơi nước đọng trên bề mặt đĩa
- Dùng pipette cẩn thận hút 1ml dung dịch đất cho vào một phía ở rìa của đĩa môi trường
- Cầm đĩa hơi nghiêng từ mép có dung dịch và lắc nhẹ vuông góc với chiều dốc để dung dịch ướt đều trên bề mặt đĩa
+ Đặt các đĩa phân lập này dưới ánh sáng trong 5 -7 ngày cho đến khi các tản nấm phát triển
- Tiến hành kiểm tra, giám định sự tồn tại của nấm A.niger trên các đĩa phân
lập
Trang 26Hình 2.1 Sơ đồ các nồng độ sử dụng trong phương pháp pha loãng đất
Chỉ tiêu theo dõi: Tỉ lệ mẫu đất nhiễm nấm A.niger
TLMN (%) = Số mẫu nhiễm/ tổng số mẫu điều tra x 100
2.3.1.3 Phương pháp thu thập mẫu hạt giống lạc
Lấy mẫu hạt giống tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An: Chọn 5 xã có diện tích trồng lạc lớn, có địa thế đất, công thức luân canh, mật độ gieo trồng và điều kiện sinh thái đại diện cho vùng, mỗi xã thu thập 09 mẫu từ 09 nông hộ Mẫu thu được trộn theo xã, trộn tiếp theo huyện thành mẫu tổng hợp, lấy mẫu phân tích từ mẫu tổng hợp, lượng mẫu phân tích là 500 gam củ hoặc 300g hạt giống
2.3.1.4 Phương pháp giám định bệnh hại trên hạt giống lạc
* Chúng tôi tiến hành thu thập các mẫu hạt giống năm 2011 và tiến hành thí
nghiệm vào vụ xuân 2012
* Giám định nấm gây hại hạt giống theo tài liệu giám định bệnh hại hạt giống của Viện nghiên cứu bệnh hạt giống Đan Mạch (Mathur S.B và Olga K., 2001), kiểm tra nấm bệnh tồn tại trên hạt giống bằng phương pháp giấy thấm
* Phương pháp chia mẫu: mẫu hạt giống được trải đều trên mặt phẳng theo
hình tròn Chia mặt phẳng làm 4 phần đều nhau Lấy mỗi phần một lượng nhất định sau đó trộn đều sao cho đủ lượng mẫu kiểm tra Lượng mẫu kiểm tra: 200 hạt
* Phương pháp giám định bệnh hại trên hạt giống bằng phương pháp giấy thấm: Đặt 10 hạt trên giấy thấm đã được làm ẩm bằng nước cất vô trùng trong đĩa petri đã được khử trùng Sau đó đặt chúng trong phòng ủ đảm bảo 12 giờ sáng, 12
Trang 27giờ tối ở nhiệt độ 22 - 250C Sau 7 ngày kiểm tra mẫu, soi hạt dưới kính lúp điện lần lượt từ vòng ngoài vào trong theo tâm đĩa, đối với những nấm chưa xác định rõ thì phải khều được bào tử nấm để soi dưới kính hiển vi, hoặc cho lên môi trường WA
để làm thuần nấm, sau đó chuyển sang môi trường PGA để quan sát tản nấm
* Các chỉ tiêu theo dõi: TL bệnh, TL nảy mầm, TL mầm dị dạng, TL mầm bình thường
2.3.1.5 Thử nghiệm một số thuốc hóa bảo vệ thực vật trong việc phòng trừ nấm bệnh hại hạt giống lạc
* Rovral 50WP Phương pháp tạo dung dịch Rovral 50WP: Rovral 50WP pha loãng ra thành các nồng độ 1%, 2%, 3% và dùng ngay sau khi pha
Ngâm hạt trong mỗi nồng độ dung dịch ở các khoảng thời gian 5 phút, 10 phút và 15 phút Đặt hạt trên giấy thấm được phun ẩm bằng nước cất vô trùng để trong hộp petri, mỗi hộp petri đặt 10 hạt, sau 7 ngày kiểm tra theo phương pháp giám định bệnh hại hạt giống trên hạt
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên (CRD), gồm 4 công thức, mỗi công thức là 30 hạt, nhắc lại 3 lần, thử nghiệm trên giống L14
+ Thí nghiệm với dung dịch Rovral 50WP 1%
CT1: Đối chứng (ngâm hạt trong nước cất)
CT2: Ngâm hạt với Rovral 50WP 1% trong 5 phút
CT3: Ngâm hạt với Rovral 50WP 1% trong 10 phút
CT4: Ngâm hạt với Rovral 50WP 1% trong 15 phút
+ Thí nghiệm Rovral 50WP 2%
CT1: Đối chứng (ngâm hạt trong nước cất)
CT2: Ngâm hạt với Rovral 50WP 2% trong 5 phút
CT3: Ngâm hạt với Rovral 50WP 2% trong 10 phút
CT4: Ngâm hạt với Rovral 50WP 2% trong 15 phút
+ Thí nghiệm với dung dịch Rovral 50WP 3%
CT1: Đối chứng (ngâm hạt trong nước cất)
Trang 28CT2: Ngâm hạt với Rovral 50WP 3% trong 5 phút
CT3: Ngâm hạt với Rovral 50WP 3% trong 10 phút
CT4: Ngâm hạt với Rovral 50WP 3% trong 15 phút
* Thuốc Vicarben S70 BTN và thuốc Enaldo 40FS Tiến hành thí nghiệm và bố trí các công thức tương tự như đối với Vicarben S70 BTN 0,1%, 0,2% và 0,3%
Tiến hành thí nghiệm và bố trí các công thức tương tự như đối với thuốc Enaldo 40FS 0,01%, 0,02% và 0,03%
Chỉ tiêu theo dõi: TL nảy mầm, TL mầm bình thường, TL mầm dị dạng và
TL mầm và hạt nhiễm nấm
2.3.2 Phuơng pháp nghiên cứu trong nhà lưới
Chúng tôi tiến hành thí nghiệm với giống lạc L14, chọn nồng độ và thời gian
xử lý có hiệu quả nhất trong các loại thuốc hóa học trong phòng thí nghiệm để sử dụng cho thí nghiệm trong điều kiện chậu vại, nhà lưới
Đất trồng được hấp khử trùng ở 1210C và 1,5 atm trong 1 giờ
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên (CRD), gồm 4 công thức, mỗi công thức gồm 30 cây, lặp lại 3 lần
* Thuốc Rovral 50WP 2%
CT1 (Đối chứng): không xử lý
CT2: Ngâm hạt giống với Rovral 50WP 2% trong 5 phút trước khi gieo
CT3: Ngâm hạt giống với Rovral 50WP 2% trong 5 phút trước khi gieo và phun Rovral 50WP 2% lúc cây vừa mọc
CT4: Phun Rovral 50WP 2% lúc cây vừa mọc
.Các chỉ tiêu theo dõi: Tỷ lệ cây mọc, tỷ lệ cây chết héo do nấm, tỷ lệ mầm dị
dạng và tỷ lệ mầm bình thường
2.3.3 Phương pháp điều tra ngoài đồng ruộng
2.3.3.1 Phương pháp điều tra bệnh
Chọn ruộng điều tra đại diện cho vùng, giống, địa thế đất, công thức luân canh, mật độ trồng, có diện tích từ 300 m2
trở lên Điều tra định kỳ 7 ngày/lần, theo
Trang 29phương pháp điều tra phát hiện sâu bệnh hại cây trồng của Cục Bảo vệ thực vật (2002)
Để xác định thành phần bệnh hại lạc, tại mỗi điểm điều tra chúng tôi tiến hành điều tra theo phương pháp ngẫu nhiên không cố định điểm, định kỳ 7 ngày/1 lần
Để điều tra diễn biến bệnh héo rũ gốc mốc đen (A.niger): Điều tra cố định
theo phương pháp 5 điểm chéo góc, mỗi điểm điều tra 50 cây Điều tra định kỳ 7 ngày/1 lần, Đánh giá mức độ thiệt hại (tính TLB %)
Định kỳ điều tra theo thời gian sinh trưởng của cây lạc:
Giai đoạn cây con (từ khi mọc đến 7 – 8 lá)
Giai đoạn ra hoa
Giai đoạn hình thành quả
Giai đoạn quả vào chắc đến thu hoạch
2.4 Xử lý số liệu
Các số liệu thí nghiệm được xử lý theo chương trình thống kê Statistix 9.0, Excel, các công thức tính toán
Trang 30Chương III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Thành phần và mức độ nhiễm nấm trên hạt giống lạc
Lạc là cây công nghiệp ngắn ngày rất thuận lợi cho việc trồng xen, trồng gối, luân canh trên các vùng đất khác nhau, có tác dụng giữ ẩm, chống xói mòn, cải tạo đất, bảo vệ đất, đồng thời thu được lượng sản phẩm đáng kể
Trên các ruộng trồng lạc, các loài sinh vật gây hại có khả năng gây hại cho tất cả các bộ phận của cây lạc: lá, thân, rễ, quả… thường xuyên xuất hiện Trong
số các vi sinh vật gay hại thì nhóm bệnh nấm là nhóm gây hại quan trọng nhất vì mức độ phổ biến, khả năng thích ứng, gây hại, khả năng bảo tồn, tích lũy luôn ở mức cao Mặt khác, diễn biến phát sinh, phát triển của chúng trên đồng ruộng rất phức tạp và biến động theo mùa vụ, theo năm Đây cũng là nhóm bệnh gây hại nguy hiểm, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất cây trồng cũng như chất lượng hạt Nấm gây bệnh cho lạc có nhiều loài, từ thời kì cây con cho đến khi thu hoạch, bảo quản Việc nắm vững thành phần bệnh nấm hại, tình hình phát sinh, phát triển và mức độ nguy hại của chúng đối với giai đoạn phát sinh phát triển của cây lạc là cơ
sở khoa học quan trọng để nghiên cứu các biện pháp phòng trừ chúng
Bệnh hại lạc bắt nguồn từ đất, từ hạt giống hay từ vi sinh vật đều ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất của sản phẩm Vì thế để có được giống có năng suất phẩm chất cao nhất, tốt nhất cần qua bước kiểm tra hạt giống lạc Vậy nên chúng tôi đã tiến hành điều tra, xác định thành phần bệnh nấm hại hạt giống lạc vùng Diễn Châu- Nghệ An bằng phương pháp đặt ẩm Đây là phương pháp đơn giản, dễ làm, hiệu quả kinh tế cao
Qua quá trình kiểm tra và giám định bệnh nấm hại hạt giống lạc, chúng tôi
đã xác định được 7 loài nấm gây hại chính trên 12 mẫu hạt giống lạc được thu thập tại huyện Diễn Châu - Nghệ An Kết quả được thể hiện ở bảng 3.1
Trang 31Bảng 3.1 Thành phần bệnh nấm hại trên hạt giống lạc thu thập
ở vùng Diễn Châu - Nghệ An vụ Xuân Hè năm 2011
nhiễm bệnh
1 Aspergillus niger Van Tiegh Plectascales +++
2 Aspergillus flavus Link Plectascales ++
3 Aspergillus parasiticus Speare Plectascales ++
Qua bảng 3.1 cho thấy, có 8 loại nấm gây hại chính trên hạt giống lạc với
mức độ nặng nhẹ khác nhau Trong đó, xuất hiện phổ biến nhất là các loại nấm,
Aspergillus niger và Fusarium sp Một số loài nấm ít phổ biến hơn là Penicillium
sp, Aspergillus parasiticus, Aspergillus flavus Ít phổ biến nhất là nấm Sclerotium rolfsii, Rhizopus sp., Pythyum sp
Trước khi đặt ẩm hạt thì không nhận thấy sự khác biệt giữa hạt khoẻ và hạt
bị nhiễm nấm bệnh Do vậy, chúng tôi đặt ẩm hạt bằng phương pháp giấy thấm sau
đó kiểm tra, giám định từng loại nấm bệnh
Triệu chứng và mức độ gây hại trên hạt của một số loài nấm hại chính như sau:
3.1.1 Nấm Aspergillus niger (Héo rũ gốc mốc đen)
A.niger gây hại trên hạt tạo ra lớp nấm màu đen hoặc nâu đen bao phủ
một phần hoặc toàn bộ hạt Cành bào tử phân sinh không màu, cuống dài Đỉnh cành hình cầu, màu nâu đen, hơi sần sùi Nấm sinh ra độc tố: Malformin C,
Trang 32Naphthoquinnone
3.1.2 Nấm Aspergillus parasiticus (Nấm mốc) Tản nấm của A.parasiticus có màu xanh đến xanh tối Đầu cành toả xoè
hình quạt Cành bào tử phân sinh dài, trên đầu đính quả cành hình cầu, hơi thon, gợn gai Nấm sinh độc tố: Aflatoxin B2 gây bệnh cho người và gia súc
3.1.3 Nấm Aspergillus flavus (Mốc vàng)
A.flavus bị bao phủ bởi lớp nấm màu vàng xanh, khi còn non nấm có màu
trắng Cành bào tử phân sinh mọc thành cụm, đỉnh cành phình to, bào tử phân sinh hình cầu, đơn bào, màu vàng xanh mọc thành chuỗi
3.1.4 Nấm Fusarium sp (Thối nâu)
Qua quá trình đặt ẩm cho thấy trên hạt tản nấm xốp giống tuyết, màu trắng đến trắng kem Nấm tạo hai loại bào tử phân sinh Bào tử phân sinh lớn hình lưỡi liềm, trong 3 - 5 ngăn Bào tử phân sinh nhỏ hình trứng hoặc thận đơn hoặc 2 tế bào hình thành dưới dạng bọc giả trên cành bào tử phân sinh không phân nhánh mọc trực tiếp
từ sợi nấm
3.1.5 Nấm Penicillium sp (Mốc Xanh)
Tản nấm có màu từ xanh lá cây đến xanh vàng, xanh xám, xanh tối,v.v Cành bào tử phân sinh phân nhánh 2 - 4 lần theo nhiều kiểu khác nhau tuỳ thuộc vào từng loại Đỉnh cành hình cầu, nhẵn hoặc gợn gai
3.1.6 Nấm Rhizopus sp ( Lở cổ rễ) Tản nấm Rhizopus sp có màu từ nâu đến nâu tối mọc tỏa xòe ra xung
quanh hạt bị nhiễm Đặc điểm của nấm là sợi phân cành vuông góc với sợi chính
và cành hơi thắt lại ở nơi tế bào bắt đầu phân cành Sợi nấm mọc lan tỏa nhanh sang các hạt nấm khác và bao phủ toàn bộ mặt đĩa
3.1.7 Nấm Sclerotium rolfsii (Héo rũ gốc mốc trắng) Tản nấm Sclerotium rolfsii màu trắng mịn mượt mọc toả xoè ra xung
quanh, đầu sợi có dạng đâm tia Sợi nấm kết lại như bện, mọc lan toả rất nhanh, bao phủ toàn bộ hạt nhiễm và lan sang các hạt khác Nấm có khả năng hình thành nhiều hạch, hạch còn non có màu trắng hơi vàng, sau chuyển sang
Trang 33màu cánh dán rồi màu nâu tối, hơi dẹt đều như hạt cải, kích thước từ 2 – 3
mm
3.1.8 Nấm Pythium sp.(Bệnh héo rũ) Tản nấm Pythium sp.có màu vàng nhạt, về sau hạt chuyển sang màu
nâu, ngấm nước và bị thối
Như vậy, qua kết quả giám định trên cho thấy, tuy có sự phong phú về hình dạng nhưng mỗi loài nấm đều có đặc điểm đặc trưng riêng để chúng ta có thể nhận
Trang 343.2 Tình hình nhiễm nấm trên các mẫu hạt giống thu thập ở một số xã thuộc Huyện Diễn Châu - Nghệ An vụ xuân năm 2011
Do mức độ phổ biến và khả năng gây hại của các loài nấm bệnh trên hạt giống khá lớn, vì vậy chúng tôi tiến hành điều tra tình hình nhiễm nấm của các mẫu hạt giống lạc thu thập tại Diễn Châu - Nghệ An, kết quả được thể hiện ở bảng 3.2 và biểu đồ 3.1
Bảng 3.2 Tình hình nhiễm nấm trên các mẫu hạt giống thu thập ở một số
xã thuộc Diễn Châu - Nghệ An vụ xuân năm 2011
Ghi chú: Mỗi xã tiễn hành kiểm tra 09 mẫu
Xã Diễn Thịnh
Xã Diễn Hồng
Xã Diễn Hải
Trang 350 20 40 60 80 100 120
Xã Diễn Kỷ Xã Diễn
Phong
Xã Diễn Thịnh
Xã Diễn Hồng
Rhizopus sp.
Scletium rolfsii Sacc Fusarium sp.
Pythyum sp.
Hình 3.1 Tình hình nhiễm nấm trên các mẫu hạt giống thu thập ở một số xã
thuộc Diễn Châu - Nghệ An vụ xuân năm 2011
Qua bảng 3.2 và biểu đồ 3.1 cho thấy, ở cả 5 xã tiến hành điều tra,
tỷ lệ % mẫu hạt giống nhiễm nấm A.niger trên tổng số mẫu kiểm tra rất cao, đạt tới 100% Tiếp đến là nấm và nấm Fusarium sp biến động từ 76,6% đến 87,8% sau đó là Penicillium sp với tỷ lệ mẫu nhiễm trên tổng
số mẫu kiểm tra biến động từ 50,6 – 68,9%
Nấm A.parasiticus cũng có tỷ lệ mẫu nhiễm khá cao, cao nhất là ở xã
Diễn Phong với tỷ lệ mẫu nhiễm là 55,6%, tiếp đến là 2 xã Diễn Kỷ và xã Diễn Hồng với tỷ lệ mẫu nhiễm là 54,4% và 51,1% còn ở Diễn Thịnh và Diễn Hải tỉ lệ mẫu nhiễm dưới 50% là 48,9% và 46,7%
Nấm Rhizopus sp và nấm có tỷ lệ mẫu nhiễm thấp hơn các loài nấm trên Tỷ lệ mẫu nhiễm nấm Rhizopus sp và Rhizopus sp và tỷ lệ mẫu nhiễm nấm Rhizopus sp biến động từ 20 – 27,8%
Nấm S.rolfsii có tỷ lệ mẫu nhiễm tương đối thấp Ở cả 5 xã có tỷ lệ mẫu
nhiễm là 11,11% - 17,8% Cao nhất là Diễn Kỷ với tỷ lệ nhiễm là 17,8%
Nấm Pythyum sp có tỷ lệ mẫu nhiễm trên tổng số mẫu kiểm tra thấp nhất
Ở cả 4 xã có tỷ lệ mẫu nhiễm là 11,11% - 12,2%
Trang 36Nhìn chung, ở xã Diễn Phong có tỷ lệ mẫu nhiễm các loài nấm khá cao, xã Diễn Kỷ có tỷ lệ mẫu nhiễm các loài nấm ở mức cao nhất và tiếp theo là các xã Diễn Phong, Diễn Hồng, Diễn Thịnh còn xã Diễn Hải có tỷ lệ mẫu nhiễm các loài nấm ở mức thấp nhất
3.3 Mức độ nhiễm nấm trên các mẫu hạt giống thu thập ở một số xã thuộc Diễn Châu - Nghệ An vụ xuân năm 2011
Do tỷ lệ nhiễm nấm bệnh của các mẫu hạt giống thu thập tại 5 xã thuộc huyện Diễn Châu - Nghệ An khá cao Vì vậy, chúng tôi tiến hành xác định mức độ nhiễm nấm của các mẫu hạt giống thu thập được, tính tỷ lệ trung bình số hạt nhiễm từng loài nấm ở các địa điểm Kết quả được thể hiện ở bảng 3.3
Bảng 3.3 Mức độ nhiễm nấm gây hại trên các mẫu hạt giống thu thập ở một số xã thuộc huyện Diễn Châu - Nghệ An vụ Xuân 2011
Xã Diễn Thịnh
Xã Diễn Hồng
Xã Diễn Hải
Trang 370 5 10 15 20 25 30 35
Xã Diễn Kỷ Xã Diễn
Phong
Xã Diễn Thịnh
Xã Diễn Hồng
Hình 3.2 Mức độ nhiễm nấm gây hại trên các mẫu hạt giống thu thập ở một số
xã thuộc huyện Diễn Châu - Nghệ An vụ Xuân 2011
Từ bảng 3.3 và biểu đồ 3.2 cho thấy, A.niger là loài nấm gây hại nặng nhất
trên các mẫu hạt giống thu thập được và tỷ lệ nhiễm nấm cao nhất là 30,0% ở các mẫu thu thập tại xã Diễn Kỷ, tiếp theo là xã Diễn Hồng với 27% số mẫu nhiễm Trên các mẫu thu thập tại xã Diễn Phong và Diễn Thịnh có tỷ lệ nhiễm là 22,5%
và 23,5% Thấp nhất là xã Diễn Hải với 18%
Fusarium sp cũng là loài nấm gây hại nặng ở các mẫu điều tra Các mẫu thu
thập ở Diễn Kỷ có TLB cao nhất (26,0%) và các mẫu thu thập ở Diễn Thịnh có TLB thấp nhất (11,5%), các mẫu thu thập ở xã Diễn Phong TLB bình 21,5% Còn
ở Diễn Hồng và Diễn Hải tỉ lệ bệnh là 13,5% và 14,5%
A paraciticus gây hại ở mức độ nhẹ hơn ở tất cả các mẫu thu thập tại cả 5
địa điểm Các mẫu thu thập ở xã Diễn Kỷ có tỷ lệ hạt nhiễm tương đối thấp (6,5%), các mẫu thu thập ở xã Diễn Thịnh có tỷ lệ hạt nhiễm cao nhất (8,0%) và các mẫu thu thập ở xã Diễn Phong có tỷ lệ hạt nhiễm là 7,5%, khi đó tỉ lệ hạt nhiễm thấp nhất ở Diễn Hải với 5,0% và Diễn Hùng cao hơn một chút vơi 5,5%
Nấm Penicilium spp cũng là loại nấm xuất hiện nhiều ở các mẫu hạt giống
thu thập tại các địa điểm điều tra Ở xã Diễn Phong, nấm bệnh gây hại ở mức độ
Trang 38tương đối nặng với TLB là 14,5% Ở xã Diễn Hải có tỷ lệ hạt nhiễm thấp nhất là 6,5% và xã Diễn Phong, Diễn Hùng, Diễn Thịnh có tỷ lệ hạt nhiễm nấm là 10,5%,
10% và 8,0%
Nấm S rolfsii gây hại ở mức độ nhẹ hơn Các mẫu hạt giống thu thập ở địa
bàn 3 xã có TLB là 2,0% - 4,0%
Nấm Rhizopus sp và nấm A.flavus xuất hiện trên các mẫu thu thập ở cả 5 địa
điểm với mức độ nhiễm trung bình Xã Diễn Kỷ có tỷ lệ nhiễm 2 loài nấm này cao nhất với TLB là 4,0% và 8,0% Và tại xã Diễn Phong tỷ lệ nhiễm 2 loài nấm này lần lượt là 3,0% và 5,5% Các mẫu thu thập tại xã Diễn Hải có tỷ lệ nhiễm 2 loài nấm này
ở mức độ thấp nhất với TLB là 2,0% và 3,5% Cao hơn là Diễn Thịnh với tỉ lệ nhiễm nấm là 3,5% và 4,5% Còn ở Diễn Hùng tỉ lệ cao hơn 1 chút là 3,0% và 6,0%
Đối với nấm Pythyum sp ở tất cả các vùng mức độ nhiễm nấm thấp Riêng
xã Diễn Hải mức độ nhiễm chỉ ở mức 1% và cao nhất là Diễn Kỷ cũng chỉ ở mức 3% Còn ở 3 xã còn lại tỷ lệ nhiễm nấm chỉ từ 2 – 2,5%
Qua kết quả phân tích trên cho thấy tỷ lệ hạt nhiễm các loài nấm ở các mẫu thu thập tại Diễn Kỷ là cao nhất, thứ hai là mẫu hạt ở Diễn Phong và thấp nhất là mẫu hạt ở Diễn Hải
3.4 Tỷ lệ nhiễm nấm Aspergillus niger trên các mẫu đất thu thập tại
một số xã tại vùng Diễn Châu – Nghệ An vụ Xuân 2012
Đất là môi trường để cây trồng sinh trưởng và phát triển, nhưng đất cũng là nguồn sống của mầm bệnh Nấm bệnh có thể tồn tại từ năm này qua năm khác, hay
từ vụ này qua vụ khác đều nhờ vào đất Vì thế chúng tôi tiến hành đánh giá tỉ lệ
nấm bệnh A.niger tồn tại trong đất gây hại cho lạc Mẫu đất được thu thập tại 5 xã
trên địa bàn huyện Diễn Châu, Nghệ An,
Tỉ lệ bệnh trong đất được đánh giá qua bảng 3.4
Trang 39Bảng 3.4 Tỉ lệ nhiễm nấm Aspergillus niger trên các mẫu đất thu thập
tại một số xã tại huyện Diễn Châu, Nghệ An
thu thập
Số mẫu nhiễm
địa điểm
tỷ lệ (%)
Tỉ lệ nhiễm A.niger (%)
Biểu đồ 3.3 Tỉ lệ nhiễm nấm Aspergillus niger trên các mẫu đất thu thập tại một
số xã thuộc huyện Diễn Châu, Nghệ An
Trang 40Qua bảng 3.4 và biểu đồ 3.3 trên ta thấy:
- Nấm bệnh Aspergillus niger có thể tồn tại trong đất từ vụ này qua vụ khác
- Hầu hết vùng trông lạc đều có tỷ lệ nấm Aspergillus niger tuông đối cao trên 60% (Diễn Hải) và vùng có tỷ lệ nấm Aspergillus niger trong đất cao nhất là
Diễn Kỷ (đều 100% số mẫu đất thu thập bị nhiễm) Tiếp đến là xã Diễn Phong (93,3%), Diễn Hồng (80%), Diễn Thịnh (73,3%)
- Tỷ lệ nhiễm nấm ở xã Diễn Kỷ cao là do đất trồng ở đây chuyên canh trồng
lạc, nên lượng nấm bệnh còn tồn tại trên đồng ruộng là rất lớn.Ở các xã còn lại tỷ
lệ nấm ở trong đất có sự giảm sút do ở những vùng đó họ trồng luân canh, riêng ở Diễn Hải và Diễn Thịnh tỷ lệ nấm còn trên đất giảm rõ do ở các vùng này họ trồng
luân canh lúa lạc
3.5 Kết quả nghiên cứu ngoài đồng ruộng 3.5.1 Thành phần bệnh hại lạc tại huyện Diễn Châu - Nghệ An 2012
Lạc đòi hỏi một nhiệt lượng khá cao để phát triển, ở mức 3700 – 4000 với nhiệt độ thích hợp để phát triển là 25 – 270C Với nước, cây lạc đòi hỏi không quá nhiều, để phát triển chúng chỉ cần lượng mưa trung bình 500 – 600 mm/năm và chủ yếu trong thời gian đầu của thời kì phát triển gặp trường hợp không khí quá
ẩm, cây lạc thường bị bệnh hại xâm nhập nhiều trong sản xuất
Điều kiện vụ Xuân Hè 2012 diễn ra trong điều kiện thời tiết ở đầu vụ nhiệt
độ thấp, ẩm độ cao, ánh sang yếu, trong thời gian lạc ra hoa, hình thành củ và cho thu hoạch nhiệt độ tăng cao, ít mưa Đây là điều kiện để các loài nấm bệnh, vi sinh vật xâm nhiễm, gây hại ảnh hưởng tới năng suất và chất lượng củ Với mục đích xác định mức độ phổ biến và thành phần gây hại của một số bệnh hại lạc nhằm góp phần vào công tác phòng trừ dịch hại bảo vệ năng suất và phẩm chất lạc, chúng tôi đã tiến hành điều tra, theo dõi thành phần bệnh hại lạc ở một số vùng khác nhau trên địa bàn Huyện Diễn Châu – Nghệ An như xã Diễn Hồng - Diễn Châu – Nghệ An, Diễn Phong - Diễn Châu – Nghệ An, Diễn Kỷ - Diễn Châu – Nghệ An Kết quả điều tra, theo dõi từ ngày 20/1/2012 đến ngày 26/4/2012 được trình bày ở bảng 1