1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu bệnh héo rũ gốc mốc đen (aspergillus niger van tiegh) hại lạc vụ xuân 2012 tại huyện hưng nguyên, tỉnh nghệ an và biện pháp sinh học phòng trừ

127 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu bệnh héo rũ gốc mốc đen (Aspergillus niger Van Tiegh) hại lạc vụ xuân 2012 tại huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An và biện pháp sinh học phòng trừ
Tác giả Phạm Thị Loan
Người hướng dẫn Th.S Ngô Thị Mai Vi
Trường học Trường đại học Vinh
Chuyên ngành Nông học
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2012
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 1,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó, hạt lạc là nơi tiềm ẩn nhiều loài nấm gây bệnh, đặc biệt là các loài nấm có nguồn gốc trong đất và truyền qua hạt giống như Aspergillus sp., Sclerotium rolfsii,v.v… Nhóm nấm nà

Trang 1

NGHI£N CøU BÖNH HÐO Rò GèC MèC §EN (Aspergillus niger)

h¹i l¹c vô xu©n 2012 t¹i huyÖn h-ng nguyªn, tØnh nghÖ an vµ biÖn ph¸p sinh häc phßng trõ

Trang 2

Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, các số liệu được thu thập qua các thí nghiệm do bản thân tiến hành và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan các thí nghiệm để thu thập số liệu trong luận văn đã được chính bản thân tôi tiến hành tại phòng thí nghiệm tổ THTN Nông Lâm Ngư – Trung tâm THTN Trường Đại Học Vinh với sự đồng ý và hướng dẫn của Th.S Ngô Thị Mai Vi và các kỹ thuật viên phụ trách phòng thí nghiệm

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Nghệ An, ngày 15 tháng 05 năm 2012

Tác giả

Phạm Thị Loan

Trang 3

Trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài luận văn tốt nghiệp ngành kỹ sư Nông học, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ quý báu từ phía các thầy cô giáo, bạn bè, người thân

Với tấm lòng chân thành và sự biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin được gửi lời cảm ơn đặc biệt tới Th.S Ngô Thị Mai Vi đã hướng dẫn tôi trong suốt cả quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Thị Thanh đã nhiệt tình truyền đạt những kỹ năng, kinh nghiệm trong nghiên cứu khoa học cho tôi Đặc biệt cô luôn động viên khuyến khích và mang đến cho tôi niền tin, lòng say mê nghiên cứu khoa học

Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo trong tổ bộ môn Bảo vệ thực vật, các giáo viên phụ trách, các kỹ thuật viên phòng thí nghiệm đã tạo mọi điều kiện về cơ sở vật chất cũng như những sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý kiến cho tôi trong suốt quá trình làm đề tài

Và tôi xin được chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn

bè đã động viên khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn!

Nghệ An, ngày 15 tháng 05 năm 2012

Tác giả

Phạm Thị Loan

Trang 4

LỜI CẢM ƠN iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC BẢNG viii

DANH MỤC HÌNH x

BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT xi

MỞ ĐẦU 1

1.1.Đặt vấn đề 1

1.2.Mục đích và yêu cầu của đề tài 3

2.1 Mục đích 3

2.2 Yêu cầu 3

Chương I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

1.1.Tình hình nghiên cứu ngoài nước 5

1.1.1 Nghiên cứu thành phần bệnh trên hạt giống lạc 5

1.1.1.1 Bệnh héo rũ gốc mốc trắng (Sclerotium rolfsii) 6

1.1.1.2 Bệnh héo vàng do nấm Fusarium sp. 7

1.1.1.3 Bệnh lở cổ rễ (Rhizoctonia solani Kuhn) 7

1.1.2 Nghiên cứu thành phần bệnh trên lá 8

1.1.2.2 Bệnh đốm đen (Cercospora personata Berk & Curtis) 9

1.1.2.3 Bệnh gỉ sắt Puccinia arachidis Speg 10

1.1.3.Nghiên cứu về nấm Aspegillus niger gây bệnh héo rũ gốc mốc đen lạc 10

1.1.3.1 Tính phổ biến và tác hại của nấm A niger 10

1.1.3.2 Phân bố và phạm vi ký chủ của nấm A niger 11

1.1.3.3 Đặc điểm sinh học, sinh thái học nấm A niger 12

1.1.3.4 Đặc điểm phát sinh phát triển của nấm A niger 13

1.1.3.5 Triệu chứng bệnh héo rũ gốc mốc đen hại lạc 15

1.1.3.6 Nguyên nhân gây bệnh héo rũ gốc mốc đen hại lạc 17

1.1.3.7 Phòng trừ nấm A.niger gây bệnh héo rũ gốc mốc đen 19

Trang 5

1.2.1Thành phần bệnh hại hạt giống 22

1.2.2Biện pháp phòng trừ bệnh hại lạc ở Việt Nam 24

Chương II ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 Đối tượng, vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu 27

2.1.1Đối tượng nghiên cứu 27

2.1.2Địa điểm và thời gian nghiên cứu 27

2.2 Nội dung nghiên cứu 27

2.2.2 Nghiên cứu trong nhà lưới 28

2.2.3 Điều tra, nghiên cứu ngoài đồng ruộng 28

2.3 Phương pháp nghiên cứu 28

2.3.1Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm 28

2.3.1.2 Phương pháp phân lập đất 28

2.3.1.3 Phương pháp thu thập mẫu hạt giống lạc 30

2.3.1.4 Phương pháp giám định bệnh hại trên hạt giống lạc 30

2.3.1.5 Thử nghiệm một số dịch chiết thực vật trong việc ức chế nấm bệnh hại hạt giống lạc 31

2.3.2Phuơng pháp nghiên cứu trong nhà lưới 32

2.3.3Phương pháp điều tra ngoài đồng ruộng 33

2.3.3.1 Phương pháp điều tra bệnh 33

2.3.3.2 Phương pháp chẩn đoán bệnh 33

2.3.4Các công thức sử dụng và chỉ tiêu theo dõi 34

2.4 Xử lý số liệu 34

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35

3.1 Thành phần và mức độ nhiễm bệnh nấm hại trên hạt giống lạc 35

3.1.1Thành phần bệnh hại trên hạt giống lạc thu thập ở vùng Hưng Nguyên - Nghệ An vụ xuân 2011 35

Trang 6

3.1.3 Mức độ nhiễm nấm trên các mẫu hạt giống thu thập ở một số xã

thuộc Hưng Nguyên - Nghệ An vụ xuân năm 2011 43

3.2 Tỷ lệ nhiễm nấm hại đất trồng lạc thu thập ở vùng Hưng Nguyên - Nghệ An vụ xuân 2012 45

3.3 Thành phần bệnh hại lạc và diễn biến bệnh héo rũ gốc mốc đen, vụ Xuân 2012 tại huyện Hưng Nguyên - Nghệ An 48

3.3.1 Thành phần bệnh hại lạc vụ Xuân 2012 tại Hưng Nguyên - Nghệ An 48

3.3.1.1 Bệnh héo rũ gốc mốc đen Aspergillus niger van Tiegh 50

3.3.1.2 Bệnh héo rũ gốc mốc trắng Sclerotium rolfsii 50

3.3.1.3 Bệnh mốc vàng Aspergillus flavus Link 51

3.3.1.4 Bệnh mốc xanh Penicillium spp 51

3.3.1.5 Bệnh lở cổ rễ Rhizoctonia solani Kuhn 51

3.3.1.6 Bệnh thối nâu Fusarium spp 51

3.3.1.7 Bệnh gỉ sắt Puccinia arachidis Speg. 51

3.3.1.8 Bệnh đốm nâu Cercospora arachidicola Hori 52

3.3.1.9 Bệnh đốm đen Cercospora personata Beck & Curtis 52

3.3.1.10 Bệnh cháy lá Pestalotiopsis sp. 52

3.3.1.11 Bệnh thối tia, thối quả Pythium sp. 52

3.4.Diễn biến của bệnh héo rũ gốc mốc đen hại cây lạc giống L14 vụ Xuân 2012 tại huyện Hưng Nguyên - Nghệ An 53

3.5 Ảnh hưởng của một số dịch chiết thực vật đến khả năng nảy mầm và mức độ nhiễm bệnh của hạt giống lạc 55

3.5.1Ảnh hưởng của dịch chiết từ trinh nữ đến khả năng nảy mầm và mức độ nhiễm bệnh của hạt giống lạc L14 61

3.6 Ảnh hưởng của dịch chiết cà độc dược đến mức độ nhiễm bệnh và một số chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển của cây lạc giống L14 trong điều kiện chậu vại, nhà lưới 70

Trang 7

Đề nghị 75 TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Thành phần bệnh nấm hại trên hạt giống lạc thu thập 36

ở vùng Hưng Nguyên - Nghệ An vụ xuân năm 2011 36 Bảng 3.2 Tình hình nhiễm nấm trên các mẫu hạt giống thu thập ở

một số xã thuộc Hưng Nguyên - Nghệ An vụ xuân năm 2011 42 Bảng 3.3 Mức độ nhiễm nấm gây hại trên các mẫu hạt giống thu

thập ở một số xã thuộc huyện Hưng Nguyên - Nghệ An vụ Xuân 2011 44 Bảng 3.5 Thành phần bệnh nấm hại lạc vụ Xuân 2012 tại Hưng

Nguyên - Nghệ An 49 Bảng 3.6 Diễn biến bệnh héo rũ gốc mốc đen trên cây lạc giống L14

tại huyện Hưng Nguyên - Nghệ An vụ Xuân 2012 54 Bảng 3.7 Ảnh hưởng của dịch chiết cà độc dược 5% đến khả năng

nảy mầm và mức độ nhiễm bệnh của hạt giống lạc L14 57 Bảng 3.8 Ảnh hưởng của dịch chiết từ cà độc dược 10% đến khả

năng nảy mầm và mức độ nhiễm bệnh của hạt giống lạc 58 Bảng 3.9 Ảnh hưởng của dịch chiết từ cà độc dược 15% đến khả

năng nảy mầm và mức độ nhiễm bệnh của hạt giống lạc 59 Bảng 3.10 Ảnh hưởng của dịch chiết từ trinh nữ 5% đến khả năng

nảy mầm và mức độ nhiễm bệnh của hạt giống lạc L14 61 Bảng 3.11 Ảnh hưởng của dịch chiết từ trinh nữ 10% đến khả năng

nảy mầm và mức độ nhiễm bệnh của hạt giống lạc 63 Bảng 3.12 Ảnh hưởng của dịch chiết từ trinh nữ 15% đến khả năng

nảy mầm và mức độ nhiễm bệnh của hạt giống lạc 64 Bảng 3.13 Ảnh hưởng của dịch chiết từ bưởi 5% đến khả năng nảy

mầm và mức độ nhiễm bệnh của hạt giống lạc L14 66

Trang 9

Bảng 3.14 Ảnh hưởng của dịch chiết từ bưởi 10% đến khả năng nảy

mầm và mức độ nhiễm bệnh của hạt giống lạc L14 67 Bảng 3.15 Ảnh hưởng của dịch chiết từ bưởi 15% đến khả năng nảy

mầm và mức độ nhiễm bệnh của hạt giống lạc L14 68 Bảng 3.16 Ảnh hưởng của dịch chiết cà độc dược 15% đến mức độ

nhiễm bệnh và một số chỉ tiểu sinh trưởng, phát triển của cây lạc giống L14 trong điều kiện chậu vại, nhà lưới 72

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Sơ đồ các nồng độ sử dụng trong phương pháp pha

loãng đất 30

Hình 3.1 : Thí nghiệm xác định thành phần bệnh hại trên hạt giống lạc 35

Hình 3.2 Nấm bệnh Aspergillus flavus trên hạt lạc 40

Hình 3.3 Nấm bệnh Aspergillus niger trên hạt lạc 40

Hình 3.4 Nấm bệnh Fusarium solani trên hạt lạc 41

Hình 3.5 Nấm bệnh Penicillium spp trên hạt lạc 41

Hình 3.6 Tình hình nhiễm nấm trên các mẫu hạt giống thu thập ở một số xã thuộc Hưng Nguyên - Nghệ An vụ xuân năm 2011 42

Hình 3.7 Mức độ bệnh nấm hại trên hạt lạc thu thập từ các vùng trồng lạc tại Hưng Nguyên- Nghệ An vụ Xuân năm 2011 44

Hình 3.8 Tỷ lệ nhiễm nấm hại đất trồng lạc thu thập ở vùng Hưng Nguyên - Nghệ An vụ xuân 2012 46

Hình 3.9 Thí nghiệm xác định tỷ lệ nhiễm nấm hại đất trồng 48

Hình 3.10 Triệu chứng 1 số bệnh hại lạc 53

Hình 3.12 Diễn biến bệnh héo rũ gốc mốc đen trên cây lạc giống L14 tại huyện Hưng Nguyên - Nghệ An vụ Xuân 2012 54

Hinh 3.13 Cà độc dược 56

Hình 3.14 Dịch chiết cà độc dược 56

Hình 3.15 Trinh Nữ 61

Hình 3.16 Dịch chiết trinh nữ 61

Hình 3.17 Bưởi Hình 3.18 Dịch chiết từ bưởi 65

Hình 3.19.Xử lý hạt giống bằng dịch chiết thực vật (cà độc dược) 71

Trang 11

BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Trang 12

MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Cây lạc (Arachis hypogaea L.) có nguồn gốc từ Nam Mỹ được trồng phổ

biến và trở thành một trong những cây nông nghiệp truyền thống Lạc là cây công nghiệp thực phẩm ngắn ngày, có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao

Nó được xem là những cây mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế của nền nông nghiệp Việt Nam

Trên thế giới, lạc là cây lấy dầu đứng thứ 2 về năng suất và sản lượng (sau cây đậu tương) Theo số liệu thống kê của FAO, từ năm 1999 – 2004 diện tích trồng lạc trên thế giới đạt từ 23 - 26 triệu ha, năng suất từ 1,3 - 1,5 tấn/ha, sản lượng dao động từ 32 - 36 triệu tấn/năm Bên cạnh đó lạc là cây thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao Toàn bộ cây lạc đều được sử dụng, hạt lạc chứa 44 - 56% Lipit, 25 - 34% Protein, 6 - 22% Gluxit, nhiều vitamin nhóm B Bởi vậy cây lạc

là nguồn bổ sung quan trọng các chất đạm, chất béo cho con người ( Lê Song Dự, Nguyễn Thế Côn, 1997) [7]

Về giá trị kinh tế có thể nói sản phẩm từ lạc có giá trị thương mại lớn Trên thế giới có khoảng 80% số lạc sản xuất ra được dùng dưới dạng dầu ăn, khoảng 12% được chế biến thành các sản phẩm khác nhau như bánh, mứt, kẹo, bơ khoảng 6% dùng cho chăn nuôi, 1% dùng cho xuất khẩu ( Phạm Văn Thiều, 2000) [16]

Trong y học lạc có axit béo không no bão hoà có tác dụng phòng ngừa bệnh tim Chất lêctin (photphatidy choline) làm giảm hàm lượng cholesterol trong máu chống hiện tượng xơ vữa động mạch máu Cây lạc không chỉ là một cây thực phẩm

mà còn được xem như là một cây thuốc quý, từ lá, vỏ, hạt cho đến màng hạt đều

có tác dụng chữa bệnh, từ dưỡng huyết, bổ tỳ, bổ phổi, chữa viêm phế quản đến viêm mũi (Nguyễn Tiến Phong, Phạm Thị Tài và ctv, 2000) [20]

Đặc biệt cây lạc còn có giá trị về mặt sinh học Rễ lạc có khả năng cố định

N2 tự do trong khí trời nhờ sự cộng sinh với vi khuẩn Rhizobium vigna trong các

nốt sần nhờ đó cung cấp một lượng đạm đáng kể cho đất

Trang 13

Nghệ An là tỉnh có diện tích trồng lạc lớn với gần 30.000 ha, tập trung ở các huyện như Diễn Châu, Hưng Nguyên, Nghi Lộc, Quỳnh Lưu, và ở đây cây lạc được xem là một trong những cây trồng chủ lực

Tuy nhiên, trên thực tế sản xuất lạc còn nhiều hạn chế, năng suất lạc còn thấp và không ổn định, mà nguyên nhân chủ yếu là do bệnh hại Theo El- Wakil [29]: đối với cây lạc sản lượng giảm do bệnh hại là 11.5% tương đương với 550 triệu tấn mỗi năm Trong đó, hạt lạc là nơi tiềm ẩn nhiều loài nấm gây bệnh, đặc biệt là các loài nấm có nguồn gốc trong đất và truyền qua hạt giống như

Aspergillus sp., Sclerotium rolfsii,v.v… Nhóm nấm này phát sinh và gây hại

trong cả chu kỳ sống của cây trên đồng ruộng và trong kho bảo quản, ảnh hưởng đến chất lượng hạt giống và là nguyên nhân gây ra các bệnh nguy hiểm cho con người và vật nuôi

Nấm Aspergillus niger là một trong những loài nấm gây hại quan trọng

trên hạt, thiệt hại do nấm này gây ra biến động và rất khó đánh giá Sản lượng

trên hạt do nấm Aspergillus niger gây ra cá biệt tới 50% Trên hạt lạc tỷ lệ nhiễm nấm Aspergiluus niger có thể tới 90% Bệnh gây hại nặng ở giai đoạn

mầm và giai đoạn cây con.: khi nhiễm bệnh trong khoảng dưới 50 ngày sau gieo gây thiệt hại rất nghiêm trọng, tỉ lệ chết có thể lên tới 40% cây trồng (R.J.Hillocks) [38]

Bởi vậy vấn đề phòng trừ bệnh hại lạc nói chung và bệnh héo rũ gốc mốc

đen do nấm Aspergillus niger nói riêng là mối quan tâm hàng đầu của các nhà

sản xuất Hiện nay, thuốc hoá học ngày càng được sử dụng rộng rãi với liều lượng và tần suất sử dụng thường vượt ngưỡng cho phép, số lần phun thuốc trong một vụ có thể lên tới 2 – 5 lần/ vụ lạc Do chưa nhận thức đầy đủ được vai trò của các loài thiên địch và việc lạm dụng thuốc hoá học trong phòng trừ bệnh hại trên đồng ruộng nên gây hiện tượng mất cân bằng sinh thái hình thành tính kháng thuốc của bệnh hại, xuất hiện nhiều chủng loại nấm bệnh mới, gây ảnh hưởng đến cây trồng Đặc biệt ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ con người cũng như gây thiệt hại về mặt kinh tế thông qua các sản phẩm nông nghiệp

Trang 14

Mục tiêu của chúng ta hiện nay là xây dựng một nền nông nghiệp bền vững và hiệu quả Do đó, phát triển và thực hiện hệ thống biện pháp quản lý tổng hợp dịch hại (IPM và IPM-B) là mối quan tâm hàng đầu của nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, để góp phần vào việc phòng trừ bệnh hại hạt giống lạc an toàn, hiệu quả, đồng thời giảm tác hại của bệnh héo rũ lạc trên đồng ruộng, nâng cao năng suất và phẩm chất lạc, chúng tôi tiến hành

nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu bệnh héo rũ gốc mốc đen (Aspergillus niger)

hại lạc vụ xuân 2012 tại huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An và biện pháp sinh học phòng trừ bệnh "

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 1.2.1 Mục đích

- Xác định thành phần và đánh giá mức độ nhiễm bệnh do nấm gây hại trên hạt giống lạc thu thập tại vùng Hưng Nguyên - Nghệ An

- Xác định tình hình nhiễm nấm Aspergillus niger trên các mẫu đất thu

thập tại vùng Hưng Nguyên - Nghệ An

- Đánh giá mức độ gây hại, nghiên cứu đặc điểm phát sinh phát triển của

nấm Aspergillus niger gây bệnh héo rũ gốc mốc đen hại lạc vụ xuân 2012 và

khảo sát biện pháp sinh học phòng trừ bệnh tại vùng Hưng Nguyên - Nghệ An

- Đánh giá tình hình (tỷ lệ mẫu) nhiễm nấm Aspergillus niger của các

mẫu đất thu thập tại vùng Hưng Nguyên - Nghệ An

- Điều tra giám định thành phần bệnh hại lạc vụ xuân 2012 tại vùng Hưng Nguyên - Nghệ An

Trang 15

- Điều tra diễn biến bệnh bệnh héo rũ gốc mốc đen (Aspergillus niger)hại

lạc trong vụ xuân 2012 tại vùng Hưng Nguyên - Nghệ An

- Đánh giá khả năng ức chế nấm Aspergillus niger hại lạc bằng dịch chiết

thực vật trong điều kiện phòng thí nghiệm và chậu vại, nhà lưới

Trang 16

Chương I TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Bệnh hại lạc là vấn đề đã và đang được quan tâm ở tất cả các nước sản xuất lạc trên thế giới Bệnh hại lạc do một số lượng lớn các loài nấm, vi khuẩn, phytoplasma, virus và tuyến trùng gây ra Trong đó nhóm bệnh nấm hại lạc chiếm đa số và gây ra thiệt hại nguy hiển nhất Thành phần nấm hại lạc rất phong phú và đa dạng, có khoảng 50 loài nấm gây hại trên lạc.Theo D.J Allen and J.M Lenne (1998),[21], Có khoảng 40 loại bệnh bệnh hại lạc đáng chú ý, được chia ra làm 5 nhóm bệnh hại, bao gồm:

- Nhóm bệnh trên hạt và trên cây mầm: nhóm này rất phổ biến và quan trọng

- Nhóm gây chết héo: nhóm này cũng rất phổ biến và gây thiệt hại nghiêm trọng trên toàn thế giới

- Nhóm gây thối thân và rễ: nhóm này thường phổ biến nhưng chỉ hại cục bộ

- Nhóm gây thối củ: nhóm này thường phổ biến cục bộ ở một số vùng và

là bệnh thứ yếu

- Nhóm gây bệnh trên lá: gồm rất nhiều loài, trong đó chỉ một số loài gây hại phổ biến và quan trọng

Tuy nhiên, nấm bệnh hại lạc chỉ chia làm 3 nhóm chính dựa vào bộ phận

bị gây hại trong các giai đoạn sinh trưởng khác nhau:

- Nhóm bệnh héo rũ, chết cây

- Nhóm bệnh hại lá

- Nhóm bệnh hại quả, hạt

1.1.1 Nghiên cứu thành phần bệnh trên hạt giống lạc

Trên hạt giống có nhóm bệnh hại hạt và truyền qua hạt, nhóm bệnh hại hạt và không truyền qua hạt Sự tồn tại của nguồn bệnh trên hạt giống là phương thức tồn tại bảo đảm và quan trọng nhất của nguồn bệnh, chúng có thể truyền

Trang 17

sang cây con làm ảnh hưởng tới sức sống của cây con sau này, nguồn bệnh tồn tại trên hạt giống bao gồm: các loại bào tử nấm, sợi nấm tiềm sinh, keo vi khuẩn

và các tinh thể virus Trong các bệnh truyền qua hạt giống, nhóm bệnh nấm chiếm đa số, đặc biệt là ở những vùng khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới Có khoảng 29 loại bệnh hại truyền qua hạt lạc, trong đó nấm bệnh chiếm 17 loại bao

gồm: Aspergilus niger, Aspergiluss flavus, Sclerotium sp., Botrytis sp., Diplodia sp., Fusarium spp, Rhizoctonia sp., v.v Các loại nấm trên thường xuất hiện

đồng thời và cùng kết hợp với nhau gây hại trên hạt Có những loài không chỉ gây hại trên hạt giống mà còn truyền qua hạt giống gây hại cho cây con

Phần lớn các loài nấm bệnh trên hạt giống thuộc các nhóm bán ký sinh

và bán hoại sinh, một số ít trong số chúng là ký sinh chuyên tính Nhiều loài nấm trong số chúng còn có khả năng sản sinh độc tố mà tiêu biểu và quan trọng nhất

trong số đó là nhóm các loài nấm Aspergilus sp., Fusarium sp và Penicilium sp

1.1.1.1 Bệnh héo rũ gốc mốc trắng (Sclerotium rolfsii)

S rolfsii gây hại phổ biến ở các vùng trồng lạc trên thế giới Thiệt hại về

năng suất do bệnh gây ra ước tính khoảng 25 - 80% Ở vùng Georgia của Mỹ, tổn thất do bệnh gây ra ước tính 43 triệu USD/năm (N.KoKalis-Burelle, 1997) [25]

Theo [19], nấm Sclerotium rolfsii là một nấm đa thực, có phổ ký chủ rất

rộng, chúng có khả năng xâm nhiễm trực tiếp qua biểu bì hoặc qua vết thương cơ giới Chúng có khả năng lây nhiễm trên 500 cây ký chủ thuộc nhóm cây một lá mầm và hai lá mầm, đặc biệt trên những cây thuộc họ đậu đỗ, bầu bí và một số rau trồng luân canh với cây họ đậu

Sợi nấm màu trắng phát triển rất mạnh trên vết bệnh, từ sợi nấm hình thành nên hạch nấm Hạch nấm lúc đầu có màu trắng, về sau chuyển thành màu nâu, có thể hình tròn đường kính 1- 2 mm Hạch nấm có thể tồn tại từ năm này sang năm khác ở tầng đất mặt (Aycook R, 1974) Nấm sử dụng chất hữu cơ làm dinh dưỡng, sản sinh ra axit oxalic và enzyme phân huỷ mô ký chủ Nấm này thuộc loại háo khí ưa ẩm và nhiệt độ cao 300C (Mc.Carter S.M, 1993) Nấm sản sinh một lượng lớn axit oxalic gây biến mầu trên hạt lạc và gây ra những điểm chết hoại của lá ở giai đoạn đầu khi bệnh mới phát triển

Trang 18

Bệnh phát triển thuận lợi trong điều kiện nhiệt độ 25 – 300 C và ẩm độ cao Bệnh lan truyền qua đất, qua hạt giống Sự phát sinh, phát triển của bệnh phụ thuộc vào nhiều yếu tố Sự tác động qua lại của các chất khoáng, độ pH đất và kỹ thuật trồng trọt đều có ảnh hưởng đến sự phát sinh phát triển của bệnh [28]

1.1.1.2 Bệnh héo vàng do nấm Fusarium sp

Nấm Fusarium sp có mặt nhiều ở các vùng trồng lạc trên thế giới

Trong 17 loài Fusarium sp đã được phân lập từ đất trồng lạc, chỉ có 6 loài gây

bệnh cho lạc (Kokalis N et al., 1984) [25]

Theo Burgess (1983- 1985) khi nghiên cứu về độc tố của nấm Fusarium

oxysporum cho thấy chỉ có một số ít loài nấm có khả năng gây độc như Fusarium compactum là loại nấm hoại sinh nhưng sản sinh ra hàm lượng độc tố cao thuộc

nhóm Trichothecene (Wing et al, 1993)

Trên thân lạc, nấm Fusarium sp xâm nhiễm làm cho cây non, rễ và trụ

dưới lá mầm bị biến mầu xám, mọng nước Cây con bị bệnh sẽ bị ức chế sinh

trưởng, chóp rễ bị hoá nâu, dẫn đến bị thối khô do F solani Khi cây đã trưởng thành F oxysporum gây hiện tượng thối rễ làm cho cây héo từ từ hoặc héo rũ, lá cây chuyến sang màu vàng hoặc xanh xám (N Kokalis et al., 1984) [25]

Trên quả lạc, nấm Fusarium sp gây ra triệu chứng thối quả, làm cho vỏ quả xù xì, xấu xí, làm mất màu vỏ quả Ở Libya, nấm F solani và nấm

F scirpi đã được xác định là nguyên nhân chính gây thối quả Tản nấm Fusarium

sp có màu trắng kem, sợi nấm đa bào mảnh và xốp, có thể hình thành nhiều bào

tử phân sinh khi có mặt của giọt nước Biện pháp phòng trừ bệnh héo vàng do nấm

Fusarium sp chủ yếu là làm ải và luân canh cây trồng cho hiệu quả cao [28]

Ngoài ra có thể xử lý đất bằng hóa chất Mentansdum hoặc phun Bavistin khi bệnh xuất hiện cũng có tác dụng ngăn ngừa bệnh phát sinh

1.1.1.3 Bệnh lở cổ rễ (Rhizoctonia solani Kuhn)

Trong những năm gần đây, bệnh do nấm Rhizoctonia solani gây ra tương đối

nguy hiểm đối với các vùng trồng lạc trên thế giới Ở miền Nam nước Mỹ, lở cổ rễ lạc

đã trở thành một vấn đề cấp bách Hàng năm ở Geogia (Mỹ) thiệt hại do bệnh gây ra

Trang 19

ước tính khoảng hơn 1 tỷ USD (Kokalis N.eat., 1997) [25]

Rhizoctonia solani sản sinh ra một lượng lớn enzyme cellulilitic,

pectinolitic và các độc tố thực vật Đây chính là nguyên nhân gây ra bệnh thối hạt làm chết cây con, thối lá mầm, thối rễ, thối tia củ và gây cháy lá lạc khi nấm này

xâm nhập vào cây (Kokalis N et al., 1997) [25]

Nấm Rhizoctonia solani cùng với Fusarium sp gây ra bệnh chết vàng lạc,

làm cho cây con héo vàng từ từ, ở phần gốc thân biến mầu nâu và có thể làm cho lớp

vỏ thân cây hơi bị nứt

Rhizoctonia solani là loài nấm đất, sản sinh ra nhiều hạch nấm trên mô

cây kí chủ, chúng tồn tại trong đất và nẩy mầm khi được kích thích bởi những dịch rỉ ra từ cây chủ bị bệnh hoặc việc bổ sung chất hữu cơ vào trong đất

(Kokalis N et al., 1997) [25]

Nấm Rhizoctonia solani là một trong những loài nấm có nguồn gốc trong đất

quan trọng, có phạm vi ký chủ rất rộng với những triệu chứng gây hại phong phú

trên những bộ phận khác nhau của cây trồng Rhizoctonia solani được phát hiện lần

đầu tiên trên cây khoai tây ở Châu Âu và được Kulh mô tả chi tiết năm 1858

Ngoài truyền bệnh qua đất và tàn dư cây trồng, R solani còn có khả năng truyền qua hạt giống Theo những nghiên cứu ở Scotland, R.solani có

khả năng truyền qua hạt giống lạc với tỷ lệ 11%, còn ở Mỹ tỷ lệ này lên tới 30%

(Kokalis N et al., 1997) [25]

1.1.2 Nghiên cứu thành phần bệnh trên lá

Lá là bộ phận giữ chức năng quang hợp của cây Bệnh hại trên lá làm giảm diện tích quang hợp do tạo ra các vết thương và kích thích rụng lá Tùy nơi, tùy từng thời điểm mà bệnh hại lá có thể làm giảm từ 10-50% năng suất

Trong nhóm bệnh này thì phổ biến nhất là bệnh đốm đen, đốm nâu và gỉ sắt, v.v gây hại phổ biến ở các vùng trồng lạc trên thế giới

1.1.2.1 Bệnh đốm nâu (Cercospora arachidicola Hori)

Bệnh xuất hiện sớm và không gây nguy hiểm như bệnh đốm đen do nấm

Cercospora personata Ellis (D.Mc Donald, 1985) Bệnh đốm nâu chủ yếu gây

Trang 20

hại trên lá, nếu bệnh nặng có thể lan xuống cuống lá, cành và thân

Mặt lá vết bệnh có dạng gần tròn, đường kính 1- 10mm, có màu nâu tối Xung quanh vết bệnh có quầng vàng, trên bề mặt lá, nơi bào tử được sinh ra nhiều nhất thường có màu nâu sáng ở dưới [28] Trong quá trình xâm nhiễm gây

hại nấm Cercospora arachidicola còn sản sinh độc tố Cercospora ức chế sự hoạt

động của lá làm lá già cỗi, chóng tàn và khô rụng sớm

Nguồn bệnh tồn tại chủ yếu trên tàn dư cây bệnh, nằm trong đất, đôi khi bào tử túi, bào tử hậu và sợi nấm cũng là nguồn xâm nhiễm Bào tử phân sinh có thể lan truyền nhờ gió, mưa Nhiệt độ để nấm hình thành bào tử là 25-310

C

1.1.2.2 Bệnh đốm đen (Cercospora personata Berk & Curtis)

Ở Ấn độ, bệnh đốm đen đã gây tổn thất về năng suất từ 20 - 70% tuỳ theo từng vùng và từng thời vụ gieo trồng (Sharief, 1972), ở Thái Lan năng suất giảm 27

- 85% (Schiller, 1978), ở Trung Quốc thiệt hại là 15 - 59%

Bệnh trở nên đặc biệt nguy hiểm khi có sự gây hại đồng thời của bệnh gỉ sắt Vết bệnh của bệnh đốm nâu gây ra có quầng vàng, bào tử phân sinh hình thành

ở mặt trên của lá, vết bệnh của bệnh đốm đen không có quầng vàng, bào tử phân sinh hình thành ở mặt dưới của lá Đôi khi vết bệnh có thể nhầm lẫn với vết thương

do cây bị ngộ độc thuốc hóa học

Bệnh đốm lá lạc phát sinh, phát triển mạnh trong điều kiện nhiệt độ tương đối cao, trời ẩm ướt, vào cuối giai đoạn sinh trưởng của cây lạc

Năm 1985, Ellis và Everhad khi kiểm tra mẫu bệnh ở Alabama và Nam

Carolina đã có kết luận rằng nấm bệnh thuộc loại Cercospora sp và đặt tên là

Cercospora personatum Hiện nay, tên nấm này được đổi thành Cercospora personata [28]

Bệnh xuất hiện muộn và tương đối giống với triệu chứng của bệnh đốm nâu nên còn được gọi là bệnh đốm lá muộn Bệnh phổ biến ở tất cả các vùng trồng lạc trên thế giới, có mức nguy hiểm hơn với bệnh đốm nâu, năng suất thất thu thường lên tới 50% [21]

Bệnh đốm đen có thể gây hại ở tất cả các bộ phận trên mặt đất của cây

Trang 21

lạc như thân, cành nhưng lá là bộ phận bị hại nặng nhất Nấm cũng sản sinh ra độc tố Cercosporin kìm hãm sự hoạt động của lá gây hiện tượng rụng lá sớm Trong giai đoạn sinh sản hữu tính, nấm tạo quả thể bầu Đây chính là dạng bảo tồn qua đông của nấm trong đất và tàn dư cây bệnh

1.1.2.3 Bệnh gỉ sắt Puccinia arachidis Speg

Bệnh có thể gây thiệt hại đến 50% năng suất, khi kết hợp với bệnh đốm đen có thể gây thiệt hại tới 70% năng suất đôi khi thất thu hoàn toàn (N- Kokalis

et al., 1984)

Nấm bệnh gây hại làm giảm chất lượng, kích thước hạt (Anthur, 1929) và làm giảm hàm lượng dầu trong hạt (Castcellani, 1959) Nấm gây hại trên tất cả các bộ phận trên mặt đất của cây, trừ hoa Vết bệnh trên lá là những ổ nổi màu vàng nâu, màu rỉ sắt, xung quanh có quầng nhạt [20]

Bào tử nảy mầm tốt nhất ở điều kiện nhiệt độ và ẩm độ: 29 - 310

C, 75 - 78% Trong điều kiện nhiệt độ ánh sáng yếu hạ bào tử phát triển thuận lợi nhất, nước đọng lại trên lá bệnh dễ dàng lây lan Thời gian ủ bệnh thường 7-20 ngày phụ thuộc vào môi trường và giống lạc Những cơn mưa đứt quãng với ẩm độ tương đối trên 87% và nhiệt độ 23-240C trong nhiều ngày là điều kiện thuận lợi cho dịch hại phát triển Sau khi thời tiết trở nên khô hanh nhiệt độ trên 260C, ẩm

độ tương đối dưới 75% sẽ làm giảm mức độ gây bệnh Nấm Puccinia arachidis

không qua đông trên tàn dư cây trồng

Bệnh thường gây chết hoại và làm lá khô đi mà không rụng xuống Tuy nhiên, những lá bệnh như vậy cũng coi như bị rụng bởi nó không còn tác dụng cho cây nữa [20]

1.1.3.Nghiên cứu về nấm Aspegillus niger gây bệnh héo rũ gốc mốc đen lạc

1.1.3.1 Tính phổ biến và tác hại của nấm A niger

Nấm A niger là loài nấm tồn tại trong đất, gây bệnh héo rũ lạc đồng thời

là loài nấm hại hạt điển hình (John Damicone, 1999) [24] Trên thế giới, đã có rất

nhiều những nghiên cứu vế nấm A niger, người ta đã phân lập được 37 loài gây hại trên thực vật Nấm A niger không chỉ gây hại trên cây trồng mà chúng còn

Trang 22

được quan tâm như là một nguyên nhân gây bệnh cho người và động vật Ngoài

ra, chúng còn được sử dụng như một nguồn vi sinh vật cho sản xuất một số loại enzyme của ngành công nghệ chế biến [23]

Bệnh héo rũ gốc mốc đen hại lạc được báo cáo chính thức lần đầu tiên vào năm 1926 ở Sumatra và Java (D.J Allen and J.M Lenne, 1998 [21] Thực tế bệnh

đã được ghi nhận từ năm 1920, do bệnh gây biến màu vỏ và hạt lạc Cho đến nay, bệnh thối gốc mốc đen vẫn là một bệnh quan trọng ở hầu hết các vùng trồng lạc chính trên thế giới Thiệt hại về năng suất lạc đã được ghi nhận cụ thể ở Malawi, Senegal, Sudan v.v Ở Ấn Độ, bệnh héo rũ gốc mốc đen là một trong những nhân tố quan trọng gây nên năng suất thấp, với tỷ lệ nhiễm khoảng từ 5 – 10% Nếu nhiễm trong khoảng 50 ngày sau gieo sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng và có thể gây chết tới 40% số cây Ở Mỹ, bệnh héo rũ gốc mốc đen ngày càng trở nên quan trọng

từ đầu những năm 1970, khi việc xử lý hạt bằng thuốc hóa học có chứa thuỷ ngân bị cấm và nó đã trở thành một vấn để ở Florida đầu những năm 1980

Nghiên cứu của [25] cho biết: nấm dễ dàng truyền từ hạt sang cây trong điều kiện nóng ẩm, độc tố do nó sản sinh gây ảnh hưởng tới sinh trưởng của cây như rễ quăn xoắn, biến dạng ngọn Cây bị nhiễm bệnh có thể sống sót, sinh củ nhưng khi bị nhiễm nặng có thể chết hơcj trở nên bị nặng hơn cho tới cuối vụ và hạt của nó có thể bị nhiễm bởi một loài nấm khác, kết quả là ngay cả các axit béo

tự do trong hạt cũng chứ độc tố (D.J Allen and J.M Lenne, 1998[21])

Là loài nấm cư trú phổ biến trong đất, là một tác nhân gây bệnh cơ hội, phá hoại và phát triển trên tế bào sống, gây bệnh thối gốc mốc đen ở lạc và gây bệnh trên nhiều cây trồng khác, có thể gây bệnh cho người và động vật, tên thường gọi

là Aspergillus niger Tiegh

1.1.3.2 Phân bố và phạm vi ký chủ của nấm A niger

Phân bố: Nấm A niger phân bố rộng khắp trên thế giới Theo [20]: nó xuất hiện ở trên 100 nước thuộc khắp các châu lục, đặc biệt là ở Australia, Iran,

Ấn Độ, Sudan, Nam Mỹ, v.v

Phạm vi ký chủ: nấm A Niger gây hại trên rất nhiều họ thực vật trong đó

Trang 23

khoảng trên 90 cây trồng và trên 11 ký chủ dại Ký chủ chính trên khoảng 10 họ thực vật trên nhiều cây trồng, trong đó đáng chú ý nhất phải kể đến lạc, ngô, hành, tỏi, xoài, đậu, đỗ, điều, v.v

1.1.3.3 Đặc điểm sinh học, sinh thái học nấm A niger

Nấm A Niger gây hại trên rất nhiều họ thực vật, trong đó có khoảng trên

90 loại cây trồng và trên 11 ký chủ dại, trong đó đáng chú ý nhất phải kể đến lạc, ngô, hành tỏi, xoài, đậu đỗ, điều.v.v

Nấm A niger hại trên lạc gây nên thối hạt, thối mầm và chết héo ở các

giai đoạn sau (D.J Allen, 1998[21]) Dạng tồn tại của nấm A niger (chủ yếu là bào tử) phổ biến ở trong hệ nấm đất và hệ nấm không khí của những vùng khí hậu nóng Vì vậy, giai đoạn mầm có thể bị nhiễm từ đất, từ không khí hoặc từ nguồn bệnh ban đầu trên hạt

Nghiên cứu của Vannacci [30] cho biết: dễ dàng tìm được nấm A niger trong vùng rễ của lạc và trên cánh đồng trồng lạc, mầm bệnh của nấm A niger

ngay sau vụ lạc

Các tác giả [23] nhận định: nấm A niger không phổ biến ở vùng khí

hậu ôn đới, bào tử cua nó có nhiều trong không khí ở những vùng nóng như Ấn

Độ Theo [21]: sự gia tăng mầm bệnh nấm A niger khi có mưa kéo dài do sự tập

trung bào tử nấm tăng trong thới kỳ khô nóng và bị rửa trôi xuống theo nước mưa, tuy nhiên sức sống của mầm bệnh sẽ giảm khi lượng mưa tăng Khi mầm

bệnh trong không khí của nấm A niger tiếp xúc được với tán cây, tế bào cây

cũng có thể bị nhiễm nếu điều kiện phù hợp xuất hiện như tế bào bị tổn thương, nhiệt độ và ẩm độ cao

Dù nước không bắt buộc cho sự nảy mầm của bào tử nấm A niger

nhưng độ ẩm tới hạn là cần thiết Độ ẩm yêu cầu cho bào tử nảy mầm thay đổi theo nhiệt độ nhưng độ ẩm thích hợp cho bào tử nảy mầm là 93% và nhiệt độ dưới 400C Nếu độ ẩm 100% thì sự nảy mầm thích hợp nhất ở 300C Khi bào tử bắt đầu nảy mầm, chúng đặc biệt mẫn cảm với sự thay đổi điều kiện sinh thái đặc biệt là yếu tố nhiệt độ Tỷ lệ bào tử nảy mầm là rất quan trọng cho sự xâm nhiễm

Trang 24

của bệnh lên cây sau này Trong điều kiện invitro, khoảng 90% bào tử nảy mầm trong vài giờ ở 30- 340

C Bào tử có thể duy trì được ở 470C và nảy mầm RH < 70% nhưng tỷ lệ nảy mầm rất thấp Sự nảy mầm của bào tử cũng đã được phát hiện sau 15 giờ ở độ ẩm được duy trì ở 78 - 81% nhưng thường bào tử nảy mầm chỉ sau vài giờ ở điều kiện ẩm độ cao (Compendium of Crop Protection 2001[21]) Vì vậy, theo [21]: ở những vùng khí hậu nóng, ẩm như vùng nhiệt đới

và cận nhiệt đới là thích hợp cho sự nảy mầm của bào tử hơn là những vùng khí hậu ôn đới

Tản nấm phát triển thích hợp nhất ở nhiệt độ 32.5 - 37.50C trên môi trường nuôi cấy axenic Tản nấm hầu như không phát triển ở nhiệt độ dưới 100C và trên 450C khi ủ trên môi trường agar, bào tử sẽ hình thành nhiều khi cấy trên môi trường axenic

ở 20 – 350C Bào tử hình thành ít hoặc không xuất hiện cho tản nấm phát triển ở nhiệt

độ 150

C và 400C (Compendium of Crop Protection 2001)

Rất nhiều nghiên cứ về ảnh hưởng của pH đến sự nảy mầm của bào tử

nấm A nige Theo [21]: có nghiên cứ đã xác định pH = 4 là thích hợp nhất cho

bào tử nảy mầm là ở pH = 6.2 với giá trị pH cực đại là pH = 7 Tuy nhiên, nhiều kết quả thực nghiệm sau này của các nhà nghiên cứu Ai Cập đều đưa đến kết luận: pH thích hợp nhất cho sự nảy mầm của bào tử từ pH = 4.1 – 4.5 và hoàn toàn bị ức chế ở pH = 3.5

Kết quả [25] cho biết dạng hạc nấm A niger có thể xuất hiện khi không

có mặt của hợp chất hữu cơ trong một thời gian dài và bào tử có thể bảo tồn sức sống từ 1 -2 năm

1.1.3.4 Đặc điểm phát sinh phát triển của nấm A niger

Nấm A niger phân bố rộng khắp trên thế giới Tốc độ sinh trưởng của nấm A niger nhanh, sự phát triển và hình thành bào tử của nấm thích hợp trong

điều kiện nóng ẩm do đó khi gặp điều kiện thuận lợi chỉ một lượng nhỏ nguồn lây nhiễm cũng có thể phát trieenr sự gây nhiễm nghiem trọng Theo [29]: mầm

bệnh của A niger được tìm thấy ở đất ẩm nhiều hơn là ở đất khô và nó có khả

năng chịu được điều kiện đất có độ ẩm thấp Theo kết quả của [27]: đất ướt dễ

Trang 25

dàng cho nấm gây thối hạt ở cuối vụ trong khi điều kiện đất khô, khí hậu nóng tạo điều kiện thuận lợi cho thối mầm và thối sau giai đoạn mầm

Kết quả nghiên cứu của [25] cho rằng: thành phần cơ giới của đất ít liên

quan đến sự tồn tại nhiều hay ít của mầm bệnh nấm A niger trong đất nhưng nó

lại dễ tìm thấy trên đất cát có hàm lượng chất hữu cơ thấp Đây là kết quả khá bất

ngờ vì A niger là nấm hoại sinh và những nghiên cứu trước đó đều khẳng định

nó có nhiều ở đất có hàm lượng chất hữu cơ cao Còn theo R.J Hillocks,

1997[27]: nấm A.niger có thể tìm thấy được ở tất cả các loại đất vùng nhiệt đới

Nấm A niger là loại nấm gây hại trên hạt Theo [21]: A niger đã được

tìm thấy trên rất nhiều loại hạt cây trồng như ngô, lúa, cao lương, v.v, nhưng được ghi nhận nhiều nhất là trên hạt lạc và họ hành tỏi Nghiên cứu của [27] cho biết: hạt lạc dễ bị nhiễm trong suốt giai đoạn củ già trong đất và giai đoạn thu hoạch, bóc vỏ và mua bán

Trên thế giới, đã có nhiều kết quả nghiên cứu về tỷ lệ nhiễm nấm

A.niger trên hạt giống lạc cũng như đánh giá mối tương quan giữa tỷ lệ nhiễm và

sự truyền bệnh qua hạt giống Những kết quả nghiên cứu từ [21]: hạt lạc thu từng

3 vùng sản xuất lạc chính ở Sudan (Gezira, Kosti and El Obeid) đều bị nhiễm nấm

A.niger đặc biệt ở là củ không lành lặn Theo kết quả điều tra (Subrahmanyam and Rao, 1976) trên hạt lạc : nấm A niger chiếm tới 60% trong tổng số các loài nấm thu được từ hạt bằng phương pháp ly tâm Theo [25]: mức nhiễm nấm A niger trên hạt

lạc có thể trên 90%, mầm mọc từ những hạt bị nhiễm nấm A niger thì có tỷ lệ cây

bị nhiễm bệnh cao hơn so với mầm mọc từ hạt khoẻ

Sự gây hại của A niger trên hạt không chỉ là sự truyền bệnh qua hạt mà

còn là sự ảnh hưởng đến chất lượng hạt và sức nảy mầm của hạt Theo [21]: có tới 60% số hạt nhiễm nấm bị ôi, hạt thường có tỷ lệ mọc thấp và hàm lượng dầu

giảm Nấm A niger còn gây ra sự thay đổi một số thuộc tính hoá lý cuả hạt

nhiễm trong suốt thời gian bảo quản như lượng axit, hàm lượng bột, hàm lượng Iodine, lượng xà phòng hoá, chỉ số khúc xạ, màu ắc của dầu và lượng axit béo so với hạt khoẻ

Trang 26

Nghiên cứu của [25] đã chứng minh rằng nguồn bệnh trên hạt và trong đất đều là nguồn gây nhiễm ban đầu Tuy nhiên, tỉ lệ mắc bệnh có liên quan thuận với mức nguồn bệnh cao trong đất và bệnh phổ biến hơn trên đất trồng chuyên trồng lạc Đất trồng lạc ít luân canh có tỷ lệ nguồn bệnh cao Có nhiều kết luận khác nhau về nguồn lây lan của A niger từ vụ này sang vụ khác Theo [27]: Nguồn lây lan từ vụ này sang vụ khác thông qua tàn dư cay trồng trong đất Nhưng

cả [25][27] đều cho rằng: xu hướng xuất hiện (bẩm chất) là nhân tố chính trong sự phát triển của bệnh héo rũ gốc mốc đen và sự bùng phát của bệnh là ít gặp

Một số tác giả[25][27] nhận định: khô hạn và điều kiện nhiệt độ cao ngay đầu vụ tao phù hợp cho sự bùng phát của bệnh thối gốc mốc đen Những điều kiện bất lợi khác như sự thay đổi quá mức độ ẩm đất và nhiệt độ, chất lượng hạt giống kém, cây giống bị tổn thương bởi thuốc trừ sâu, côn trùng ăn rễ và các nhân tố mà làm trở ngại đến sự phát triển của cây giống tạo điều kiện cho bệnh biểu lộ sớm

Quá trình xâm nhiễm của nấm kéo dài khoảng 10 ngày Bệnh thể hiện triệu chứng rất sớm ở cây mầm hoặc cây con Tuy nhiên, bệnh cũng có thể phát sinh muộn vào tháng 7, tháng 8 với triệu chứng cây héo đột ngột, xuất hiện với một số lượng lớn [20]

1.1.3.5 Triệu chứng bệnh héo rũ gốc mốc đen hại lạc

Bệnh héo rũ gốc mốc đen có thể xuất hiện ở bất kỳ giai đoạn sinh trưởng nào của cây lạc và thường bị nhiễm chủ yếu ở hạt, mầm, cây con, cổ rễ và thân

Một loạt các nghiên cứu [21][25] cho biết: bệnh xuất hiện phổ biến ở đầu vụ Giai đoạn mầm và cây con là mẫn cảm nhất với sự xâm nhiễm của bệnh,

ở giai đoạn cây con khi bị nhiễm bệnh thì tỷ lệ chết cao hơn so với giai đoạn cây trưởng thành Ở một vài năm, cây có thể bị chết do nấm ngay sau khi gieo

Theo [20][25]: khi theo dõi và quan sát trên hạt nhiễm bệnh trồng trên đất khử trùng trong điều kiện nhà lưới thấy sự nhiễm bệnh đầu tiên là ở trụ dưới

lá mầm và lá mầm Sợi nấm phát triển từ lá mầm vào trong vùng cổ thắt của lá mầm Luôn quan sát thấy vết thối ướt suốt giai đoạn đầu của quá trình xâm

Trang 27

nhiễm nhưng ở giai đoạn sau xuất hiện vết thối khô, mô bệnh nứt nẻ Vết thối ướt

có thể tiến triển nhanh xuyên từ trụ dưới lá mầm hoặc vùng cổ lá mầm gây nên

sự teo quắt và chết Phần thân của trụ dưới lá mầm bị nhiễm vào khoảng 10 ngày sau mọc khi chúng đội đất lên Ở nhiệt độ trên 300C, sự nhiễm bệnh của của trụ dưới lá mầm và rễ của mầm gây hiện tượng thối cổ rễ hay còn gọi là thối vòng Khởi đầu, trụ dưới lá mầm trở nên mọng nước sau đó có màu nâu sáng rồi cánh bào tử phân sinh màu đen xuất hiện rõ

Theo D.J Allen and Lenne(1998)[21]: mầm bị héo rất nhanh đặc biệt trong điều kiện thời tiết khô Lá mầm và điểm sinh trưởng bị bao phủ bởi cụm các cành bào tử phân sinh kèm theo sự xuất hiện một khối bột màu đen Trong quá trình bệnh phát triển, vùng mô bệnh đặc biệt là vùng mô cổ lá mầm bị xé nứt

ra nhiều mảnh, mất màu và mầm nhiễm bệnh bị chết héo Hạt có thể bị tấn công ngay khi gieo trong điều kiện ẩm, đất nhiễm bệnh Triệu chứng xuất hiện trên hạt

bị thối là một khối xốp lỗ rỗ các mô tế bào phân huỷ được bao phủ bởi khối các cành bào tử phân sinh màu nâu hoặc màu đen

Hiện tượng hạt bị thối hoặc chết úng sớm là biểu hiện triệu chứng điển hình ở hạt bị nhiễm bệnh khi trồng đặc biệt tỷ lệ hạt chết cao ở những củ thu từ cây bị nhiễm bệnh

Các kết quả nghiên cứu của [23][25] đều cho rằng: triệu chứng điển hình của bệnh ở giai đoạn cây con là cây héo đột ngột và thường bị chết trong khoảng

30 ngày sau trồng Sự mất màu của các mô thể hiện rõ nét ở trên ngọn và rễ cây

bị héo Bệnh héo rũ gốc mốc đen xuất hiện ít khi cây đã phát triển thân gỗ và rễ trụ.Tuy nhiên, theo [27]: khi gặp thời tiết nóng và khô, đặc biệt trên đất khô, bệnh có thể gây nhiễm lên cả cây già

Khi nghiên cứ triệu chứng trên cây các nghiên cứu [21][25][27] đều đưa

ra quá trình biểu hiện như sau: bẹnh không nhận thấy được cho đến khi một vài nhánh hoặc toàn bộ cây có biểu hiện héo Khi vết bệnh phát triển, toàn bộ vùng

mô cổ rễ bị nứt thnahf nhiều mảnh nhỏ và có màu nâu tối Dấu hiệu quan trọng

để nhận biết sự có mặt của nấm A niger trên đồng ruộng là xuất hiện đám mốc

Trang 28

màu tối với khối bào tử màu đen trên mô bệnh ( Amada Huber,2002[20])

Kết quả nghiên cứu của [23][27] cho biết: Khi cây bị nhiễm bệnh, vùng chóp rễ phía dưới mặt đất có thể bị sưng phồng và thậm chí còn bao phủ bởi một khối sợi nấm đen như bòng hóng Sự thối rữa đôi khi còn tiếp tục ở một phần dưới của rễ chính và trong trường hợp này cây sinh ra rễ bất định phía trên vùng bệnh Tuy nhiên những cây này thường chết khi gặp thời tiết khô hạn Khi giải phẫu rễ và thân cây bệnh thấy hệ thống mạch dẫn biến màu và có màu xám tối

Một số cây khác có thể sống sót nhưng trọng lượng chất khô có thể giảm

và tế bào vùng rễ thường bị nứt nẻ Trên giống lạc Spanish, triệu chứng của héo

rũ gốc mốc đen do nấm Aspergillus niger trên cây già biểu hiện ở phần thân giữa

mặt đất và tầng lá tháp nhất (N Kokalis-Bủelle,1997[25])

1.1.3.6 Nguyên nhân gây bệnh héo rũ gốc mốc đen hại lạc

Khi nghiên cứu nguyên nhân gây bệnh héo rũ gốc mốc đen trên lạc, các

nghiên cứu đều kết luận nấm Aspergillus niger Tiegh là nguyên nhân gây ra

bệnh Nó có mặt phổ biến trong đất trên khắp thế giới và là nấm hoại sinh rất

hiệu quả kí sinh trên lạc và rất nhiều cây trồng khác Theo [21]: Nấm A niger có

sự biến đổi mang tính hình thái và sinh lý nhưng ít có sự thay đổi về sự phát sinh

bệnh Nấm Aspergillus pulverulentus (McAlpin) Thom, là một dạng đột biến của

A niger, nhiều khi cũng phân lập được trên cây bị bệnh Nấm A niger phát triển

tốt ở 250C ở trên nhiều loại môi trường khác nhau tạo ra vô số cành bào tử phân sinh mang bào tử phân sinh lớn màu đen

Theo [21]: đặc trưng của nấm A niger có đầu của bào tử phân sinh (bào

tử đính) hình cầu đến hình toả xoè dạng cột đường kính 700 - 800 µm Cuống bào tử phân sinh (cuống bào tử đính) thay đổi, đo được từ 1.5 – 1.3 mm x 15 – 20

µm Đầu cành phình to hình cầu, vách dày màu hơi nâu có khả năng sinh sản trên toàn bộ bề mặt, đường kính từ 45 – 75 µm tuy nhiên có khi nhỏ hơn hoặc đạt tới

80 µm Cuông đính bào tử có 2 loại: nguyên sinh và thứ sin

Dạng nguyên sinh đạt kích thước từ 20 – 30 x 5 – 6 µm khi non, đạt tới

60 – 70 x 8 – 10 µm khi thành thục Dạng thứ sinh đồng nhất hơn, kích thước đo

Trang 29

được từ 7 – 10 x 3.0 – 3.5 µm Khi nuôi cấy trên môi trường Malt agar: sinh sản tán nấm xốp màu trắng đến hơi vàng sau đó phát triển nhanh thành màu đen hay nâu tối do bào tử hình thành

IUMS ( 2004) [22] khi cấy nấm A niger trên môi trường CYA sau ủ 7

ngày: đường kính tản nấm là 60 – 65 mm, bào tử màu đen, không xuất hiện sắc

tố hoà tan và tiết dịch Mặt dưới, tản nấm màu vàng nhạt đường kính từ 55 – 64

mm Khi cấy trên môi trường CZ 20S:đường kính tản nấm đạt 60 – 70 mm, bào

tử màu đen, không có sắc tố hoà tan và tiết dịch, mặt dưới tản nấm từ không màu đến vàng nhạt Cuống cành bào tử phân sinh dài 900 – 1600 µm, vách nhẵn màu

từ trong suốt đến hơi nâu

Kulwant Singh và ctv (1991)[23] : khi nuôi cấy trên môi trường CZ

agar, nấm A niger có đặc điểm bào tử phân sinh màu đen trên tản nấm có màu

trắng đến vàng nhạt, đầu của bào tử phân sinh hình cầu đường kính từ 500 – 600

am dạng xoè hoặc phân chia dạng cột Cành bào tử phân sinh trong suốt có màu sắc hơn về phía đầu cành, đầu cành hình cầu hoặc hơi hình cầu, đường kính khoảng 75 am, có khả năng sinh sản trên toàn bộ bề mặt Bào tử phân sinh màu tối, hình cầu xù xì hoặc có gai nhỏ đường kính khoảng 4 – 5 am Tản nấm quan sát ở mặt trên màu trắng, có sự xoắn kết vừa phải và hơi xốp lên, hầu hết bề mặt tản được bao phủ bởi các bào tử tử màu đen Quan sát tản nấm từ mặt dưới thấy: ban đầu tản nấm có màu trắng hoặc hơi sám sau đó có màu vàng bẩn

Theo [20]: nấm A niger phát triển chậm trên môi trường nghèo dinh

dưỡng như CZ agar Trong điều kiện phòng 24 – 260C: bán kính chỉ phát triển 2.5 – 3.5 mm/ngày nhưng nếu nhiệt độ cao hơn hoặc môi trường giàu dinh dưỡng

hơn thì tốc độ phát triển nhanh hơn Khi cấy nấm A.niger trên môi trường Malt

agar ở cùng nhiệt độ trên tản nấm bán kính tới 10 mm/ngày và xuất hiện bào tử ngay với mật độ thấp Khi cấy trên môi trường PLYSE thấy tỉ lệ phát triển bán kính đạt 4 mm/ngày khi ủ ở 200C và đạt tới 16 mm/ngày ở 350

C

Theo nhận định của D.J Allen [21]: sự phát sinh bào tử của nấm A.niger

thích hợp nhất trong điều kiện ấm áp, đất ẩm đặc biệt là điều kiện vùng nhiệt đới, khoảng nhiệt độ phù hợp là tử 30 – 400

C

Trang 30

Bào tử nảy mầm trực tiếp từ bào tử phân sinh tách rời tản có thể được dưới điều kiện phòng thí nghiệm khi thay đổi các yếu tố sinh thái đặc biệt là trong điều kiện nhiêth độ cao Điều này có thể cung cấp một phương thức bảo tồn

của bào tử trong điều kiện bất lợi Sắc tố đen của bào tử nấm A niger giúp nó

sống sót khi đặt nó vào ánh sáng cực tím UV Tiến hành thí nghiệm người ta đã phát minh rằng: những bào tử có nhiều sắc tố hơn có khả năng kéo dài sự sống hơn so với bào tử ít sắc tố khi đặt trong cùng điều kiện ánh sáng mặt trời mô phỏng (Compendium of Crop Protection 2001) [20]

1.1.3.7 Phòng trừ nấm A.niger gây bệnh héo rũ gốc mốc đen

Phòng trừ bệnh héo rũ gốc mốc đen lạc gặp rất nhiều khó khăn do nấm

A.niger là nấm bệnh hại hạt nhưng lại là nấm đất điển hình gây hại cây trồng,

nấm A niger có mặt 100% số mẫu đất đem kiểm tra

Trong hệ thống các biện pháp phòng trừ bệnh héo rũ gốc mốc đen, biện pháp dùng thuốc hoá học để xử lý hạt giống là biện pháp hữu hiệu nhất Theo những kết quả nghiên cứu của[19]: bệnh héo rũ gốc mốc đen xuất hiện nhiều hơn trên hạt không xử lý so với hạt có xử lý Các kết luận của [20][25] đều cho rằng: dùng thuốc trừ nấm trên hạt có thể phòng trừ bệnh héo rũ gốc mốc đen hiệu quả nếu áp dụng đúng kỹ thuật khi xử lý hạt giống

Theo kết quả nghiên cứu của [20][21]: nhóm thuốc hoá học dùng xử lý hạt giống khuyến cáo nên dùng và thực tế đang được dùng hiện nay là thuốc Thiram, Carbendazim, hợp chất chứa hoạt chất benomyl và hỗn hợp của một vài loại trong chúng

Biện pháp sử dụng giống kháng bệnh héo rũ gốc mốc đen hầu như không đem lại hiệu quả Theo [21] [25]: chưa có tài liệu cụ thể nào về giống kháng bệnh, hầu hết các giống lạc phổ bến hiện nay đều mẫn cảm với bệnh thối gốc mốc đen Tuy nhiên qua khảo nghiệm người ta nhận thấy giống lạc dạng thân đứng mẫn cảm với bệnh hơn so với dạng thân bò D.J.Allen [21] nhận định: một

số giống đang nghiên cứu có khả năng kháng được sự xâm nhiễm của độc tố

aflatoxin của nấm A flavus cũng có thể kháng được nấm A niger và một số nấm

Trang 31

đất khác Những gống này có thể dùng được ở vùng bị bệnh héo rũ gốc mốc đen nặng hoặc những vùng hay bị tái xuất hiện

Chưa có những nghiên cứu cụ thể về sử dụng biện pháp vật lý cho nấm

đối với nấm A.niger gây bệnh héo rũ gốc mốc đen lạc Tuy nhiên, theo [20]: có

thể điều khiển sự phát sinh của bệnh thông qua yếu tố nhiệt và ẩm độ Nhưng khi

nhưng có 2 hướng trong phòng trừ nấm A.niger gồm: cạnh tranh và kí sinh Những nghiên cứu về nấm A.niger gây bệnh trên hành đã chỉ ra rằng có khả năng cạnh tranh lớn giữa Aspergillus spp Như vậy, đối với nấm A.niger xuất hiện sự

cạnh tranh cùng loài, khác loài và khả năng ký sinh trong cùng một dòng Một số

vi sinh vật đối kháng của nấm A.niger đã được ghi nhận như nấm Bacillus

subtilis, Xanthomonas campestrisoryzea, Acremonium rutilum

Biện pháp canh tác là biện pháp truyền thống khá hữu hiệu trong phòng trừ bệnh nói chung và bệnh héo rũ gốc mốc đen nói riêng Theo các tác giả của [19][21][25]: hạt giống tốt là điều kiện cần thiết hàng đầu trong phòng chống bệnh vì khi hạt giống tốt sẽ tạo điều kiện cho mầm mọc nhanh, khoẻ ngay trong điều kiện bất lợi Đảm bảo độ ẩm đất đồng đều, thích hợp và trong quá trình trồng không nên có sự luân chuyển đất

Luân canh là một biện pháp cần thiết để phòng trừ bệnh, tỉ lệ bệnh giảm

và tỉ lệ thuận với thời gian luân canh Theo [21]: khi luân canh với cây trồng khác đặc biệt là cây ngũ cốc tỉ lệ bệnh giảm rõ rệt, kiểm tra mẫu đất trên các cánh

đồng luân canh cũng thấy mầm bệnh của nấm A.niger giảm rõ

Tưới là cần thiết để giảm tỉ lệ bệnh héo rũ gốc mốc đen lạc Tưới tiêu sẽ làm giảm sự tồn tại của bệnh, giúp cây nảy mầm và mọc mầm nhanh, rút ngắn được thời gian cảm nhiễm Tưới còn đảm bảo khả năng ẩm đất, tạo điều kiện cho

Trang 32

cây sinh trưởng thuận lợi từ đó tăng khả năng chống bệnh

Qua hàng loạt các biện pháp riêng biệt nói trên, một biện pháp phòng trừ tổng hợp đã được nghiên cứu đề ra Theo [21][25]: hệ thống các biện pháp cụ thể hữu hiệu trong phòng trừ bệnh hoé rũ gốc mốc đen là tạo mọi điều kiện thuận lợi cho đẩy nhanh tốc độ nảy mầm và sự phát triển của mầm bằng: sử dụng hạt giống có chất lượng tốt đã được xử lý, đất trồng cây có độ ẩm đồng đều, thích hợp, phải có biện pháp tưới khi cần, phòng trừ sâu hại quanh rễ và thân, làm giảm tối thiểu ảnh hưởng của thuốc trừ dịch hại tới cây mầm, luân canh với cây ngũ cốc để giảm nguồn bệnh, dùng thuốc trừ bệnh khi cần

1.1.4 Những nghiên cứu về biện pháp sinh học phòng trừ nấm gây hại

Biện pháp sinh học là trung tâm của hệ thống các biện pháp trong phòng trừ tổng hợp dịch hại cây trồng nông nghiệp Sử dụng các sinh vật đối kháng là một trong những hướng chính của biện pháp sinh học trừ bệnh hại cây trồng

Năm 1957, ở Hà Lan lần đầu tiên người ta phát hiện ra hoạt động đối kháng của cây cúc vạn thọ đối với tuyến trùng gây tổn thương rễ hại cây trồng

Ở Nhật Bản, qua nhiều thử nghiệm ứng dụng cây cúc vạn thọ trong phòng trừ tuyến trùng hại rễ cây trồng đều cho kết quả tốt Đây được coi như là một biện pháp phòng trừ tuyến trùng lý tưởng trong sản xuất nông nghiệp bền vững và được

áp dụng như một thói quen ở nhiều vùng sản xuất rau của Nhật Bản [29]

Một số loại cây khác như yến mạch, cỏ guinea, cũng được sử dụng để trừ tuyến trùng gây tổn thương rễ và tuyến trùng nốt sần nhờ tính đối kháng của chúng

Năm 2001, nhóm tác giả của trường Đại học Kampus Bukin Jimbaran - Indonesia đã phát hiện ra rễ gừng và lá đu đủ có tác dụng hạn chế sự phát triển

của nấm Ceratocystis sp gây thối quả Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự phát triển của nấm Ceratocystis sp trên môi trường PDA (Potato dextrose agar) có bổ

sung 5% dịch chiết thô sẽ giảm 92,5% (đối với dịch chiết là rễ gừng), giảm

73,3% (đối với dịch chiết là lá đu đủ) Sự phát triển của nấm Ceratocystis sp

cũng bị giảm rõ ràng khi ta cấy dịch chiết trên vào thịt quả trước sự xuất hiện của nấm Điều này đã làm tăng thời hạn sử dụng của quả lên rất nhiều kể cả trong

Trang 33

điều kiện tự nhiên và điều kiện nhân tạo (Dewa N.S et al., 2001)

Năm 2001 – 2002, Viện Nghiên cứu bệnh hại hạt giống ở Đan Mạch đã

có một số kết quả nghiên cứu sử dụng tinh dầu thực vật: chiết xuất từ củ tỏi, gừng để xử lý hạt giống cho kết quả tốt

1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 1.2.1 Thành phần bệnh hại hạt giống

Tập đoàn bệnh hại lạc ở Việt Nam khá phong phú với khoảng hơn 30 loại bệnh với mức độ gây hại khác nhau, trong đó có khoảng 10 bệnh được xác định là phổ biến như: Bệnh héo xanh vi khuẩn, đốm đen, gỉ sắt, đốm nâu, thối đen, lở cổ

rễ, thối thân trắng, mốc xám, mốc vàng, thối quả (Nguyễn Văn Viết, 2002)

Trong danh mục bệnh hại lạc ở Việt Nam năm 2000, Lê Cao Nguyên đã thông báo danh sách 10 loại vi sinh vật gây bệnh héo chết cây trên lạc là: Thối

gốc mốc đen (A niger), thối gốc mốc trắng (S phaseoli), thối nâu rễ (Fusarium sp.), thối đen (Pythium spp.), thối rễ (M phaselina), héo xanh vi khuẩn (Pseudomonas solanaearum), khô thân (Diplodia), héo cây (Verticicum dahiae), mốc vàng (A flavus) và lở cổ rễ (R solani) Danh sách này đã được Nguyễn Thị

Ly và cộng sự thông báo vào năm 1996, đây là nguyên nhân gây bệnh chết héo cây hại lạc ở một số địa phương trong đó có Nghệ An

Có sự liên quan chặt chẽ giữa nấm bệnh với những hư hại của hạt lạc trong quá trình củ già, phơi khô hoặc cất giữ Khi phơi khô trong điều kiện tự nhiên, nếu độ ẩm không khí cao hoặc gặp mưa vào thời gian đó, củ lạc và hạt lạc

bị ẩm trong thời gian dài thuận lợi cho sự phát triển của nấm bệnh Thường gặp

trên củ và hạt giống là những loại nấm Aspergillus sp (Aspergillus niger, Aspergillus

flavus, Aspergillus nidulans…), Macrophomina phaseoline, Trichothecium sp., Fusarium

sp., Sclerotium sp., Botryodiphodia sp., Rhizopus sp., Trichoderma sp, v.v [31]

Hạt lạc còn nằm trong đất hoặc đang được phơi sấy đều có thể bị nấm xâm nhiễm vào khoảng giữa 2 lá mầm và gây ra những vết bệnh ở mặt trong lá mầm Những loài nấm hại trên hạt nếu gặp điều kiện thuận lợi chúng còn làm giảm axit béo tự do trong thành phần dầu và gây mất sức nảy mầm của hạt

Trang 34

Theo Nguyễn Xuân Hồng, Nguyễn Thị Xuyến (1991) [13], trong những năm qua, tại Việt Nam bệnh héo xanh được nghiên cứu một cách có hệ thống

nhưng những nghiên cứu về bệnh héo do A niger, S rolfsii gây ra mới chỉ dừng

lại ở việc thông báo triệu chứng và nguyên nhân gây bệnh, chứ chưa đi vào việc khảo sát các biện pháp phòng trừ

A niger hại lạc gây ra bệnh thối đen cổ rễ, là một trong 3 tác nhân gây

bệnh héo rũ chết cây rất phổ biến và có tác hại nghiêm trọng ở những vùng trồng lạc (Đỗ Tấn Dũng, 2001) [4]

Còn S rolfsii hại phổ biến là nguyên nhân làm giảm năng suất lạc ở

Đông Nam Bộ, tỷ lệ bệnh 8 - 10% Ở miền Bắc Việt Nam, trên những ruộng cục

bộ tỷ lệ bệnh có thể lên tới 20 - 25% (Nguyễn Thị Ly, 1996) [10]

Nhiều kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy Asperillus flavus thường tấn

công vào lạc ngay từ trên đồng ruộng Ngay sau khi thu hoạch đã có tới 66% mẫu thu thập bị nhiễm bệnh với tỷ lệ hạt nhiễm bệnh từ 1 - 30% Trong đó, lạc thu hoạch

vụ xuân bị nhiễm nặng hơn lạc vụ thu và lạc thu hoạch muộn có tỷ lệ bệnh cao hơn lạc thu hoạch sớm [17]

Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Hồng và CTV (1998) [14] đã xác nhận nhóm bệnh hại lá bao gồm đốm đen, đốm nâu, gỉ sắt là nhóm bệnh hại phổ biến ở nước ta Thiệt hại do bệnh gây ra lớn hơn 40% năng suất, hầu hết các giống đang trồng ở miền Bắc đều có khả năng nhiễm bệnh

Theo kết quả nghiên cứu của Ngô Bích Hảo về bệnh hại lạc cho biết

nấm A niger lây nhiễm trên nhiều hạt giống như: Đậu đỗ, lạc, ngô, với tỷ lệ hạt

bị nhiễm tới trên 30% [7] Theo tác giả Nguyễn Thị Ly (1993) [11] đã xác định

có khoảng 30 – 85% số mẫu lạc kiểm tra có khả năng sản sinh độc tố Aflatoxin

do nấm Aspergillus flavus gây ra

Nhiều kết quả nghiên cứu trong nước gần đây cho thấy: Aspegillus

flavus thường tấn công vào lạc từ khi còn trên đồng ruộng Ngay sau khi thu

hoạch đã có tới hơn 66% mẫu thu thập bị nhiễm bệnh Trong đó, lạc thu hoạch vụ đông xuân nhiễm bệnh nặng hơn lạc thu và lạc thu hoạch muộn có tỷ lệ bệnh cao

Trang 35

hơn lạc thu hoạch sớm [6]

Nhóm các loài nấm Aspergillus spp còn là một trong những loài nấm gây

viêm xoang mũi ở người Trên lạc sau thu hoạch, trong những điều kiện nhất định một

số loài nấm như Aspergillus flavus, Aspergillus parasiticus có khả năng sản sinh độc

tố rất độc cho người và gia súc, gia cầm Đặc biệt, độ tố aflatoxin do A.flavus sản sinh

là một trong những chất gây ung thư ở người Những độc tố này không tan trong dầu, chúng nằm lại trong khô dầu Nếu dùng khô dầu này làm thức ăn cho gia súc thì tuỳ lượng mà gia súc có thể ngộ độc, chậm phát triển, thậm chí có thể chết (Đặng Trần Phú và cộng sự, 1977) [3]

Kết quả của Ngô Bích Hảo [7] về bệnh hại hạt cho biết trong một số loại hạt

giống như ngô, lạc, đậu đỗ thì tỷ lệ hạt giống lạc nhiễm A.flavus là cao nhất với

30,12% Trong khi, tác giả Nguyễn Thị Ly (1993) [11] đã xác định có khoảng 33% - 85% số mẫu lạc kiểm tra có khả năng sinh độc tố aflatoxin

Năm 1965, ở hợp tác xã Kiều Thượng - Nam Đàn - Nghệ An và một số vùng khác, lạc chết héo làm giảm 70% năng suất Ở vùng Trung du Bắc bộ, bệnh khá phổ biến nhưng tỷ lệ héo và gây chết thường ít hơn khoảng 10% (Lê Lương

Tề, 1967) [31]

1.2.2 Biện pháp phòng trừ bệnh hại lạc ở Việt Nam

Biện pháp sinh học (BPSH) phòng chống dịch hại là một lĩnh vực khoa học tương đối mới ở nước ta Mặc dù BPSH phòng trừ dich hại trên thế giới đã

có kết quả thành công cách đây hơn 100 năm, nhưng những nghiên cứu đầu tiên

về BPSH ở Việt Nam mới chỉ bắt đầu từ những năm đầu thập kỷ 70 của thế kỷ

XX (Phạm Văn Lầm, 1995) [15]

Trong khoảng 1/4 thế kỷ qua, việc nghiên cứu ứng dụng BPSH trừ dịch hại nông nghiệp được nhiều nhà khoa học, nhiều cơ quan quan tâm, xúc tiến mạnh mẽ ở nước ta Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào BPSH trừ sâu hại: nghiên cứu khu hệ thiên địch của sâu hại, đánh giá vai trò của thiên địch trong hạn chế số lượng sâu hại, nghiên cứu sinh học, sinh thái học của một số thiên địch phổ biến, nghiên cứu sử dụng ong mắt đỏ, chế phẩm virus, nấm,… , (Trung

Trang 36

tâm đấu tranh sinh học, 1996) [17]

Trong những năm gần đây, bệnh hại lạc đã gây hại rất phổ biến ở nhiều vùng trong cả nước Để hạn chế tác hại của bệnh gây ra thì đã có nhiều biện pháp phòng trừ được nghiên cứu và công bố

Trong hàng loạt các biện pháp đưa ra thì biện pháp hoá học vẫn được người dân sử dụng nhiều nhất do chi phí thấp, giá thành rẻ và tiện lợi hơn trong việc sử dụng cũng như hiệu quả về mặt tức thì

Đối với bệnh đốm lá, dùng thuốc Anvil 5 - 10EC, Carbenzim 50 WP, Til-super 300 ND,… để phun trừ [14]

Bệnh thối gốc thân lạc lần đầu được ghi nhận và nghiên cứu trên lạc tại nước ta Công tác phòng trừ bệnh chết cây thường gặp khó khăn do nấm gây bệnh xâm nhập vào bộ phận nằm dưới mặt đất như rễ, quả, tia quả, Xử lý hạt giống bằng thuốc hoá học là biện pháp rất hiệu quả và kinh tế với nhóm bệnh chết cây lạc Các thuốc sử dụng trong nghiên cứu là Rovral 750WG (Iprodione); Vicarben 50WP (Carbendazime); Topsin M 70WP (Thiophanate - metyl) và Viben C 50 WP (Benomyl) Kết quả nghiên cứu đã cho thấy biện pháp xử lý hạt

có tác dụng rõ rệt trong tăng tỷ lệ nảy mầm, hạn chế sự xuất hiện của nấm ký sinh trên hạt, đồng thời bảo vệ hạt từ nguồn bệnh bên ngoài, từ đó làm tăng tỷ lệ mọc trên đồng ruộng và làm giảm tỷ lệ bệnh chết cây con (kết quả rõ nhất với bệnh thối đen cổ rễ) [12]

Bệnh héo rũ do vi khuẩn chưa có thuốc đặc trị nên biện pháp hạn chế thiệt hại và tránh lây lan bằng cách phun hoặc rắc 2 - 3 gói Penac P khi làm đất Dùng Staner 20 WP hoặc Kasugamycin 5% BTN, Kasuran 5% BTN kịp thời khi bệnh chớm xuất hiện [14]

Với các bệnh đốm nâu do nấm Cercospora arachidicola gây ra, bệnh đốm đen do nấm Cercospora personata gây ra thì có thể sử dụng các loại thuốc

trừ nấm như Opus 75 EC, Carbenda 50 SC, Basvitin 50 FL pha 10 - 15ml/bình 8 lít; Polyram 80 DF, Manozeb 80 WP, dithane xanh M 45 - 80 WP: pha 30 g/bình

8 lít; Sumi Eight 12,5 WP: pha 3 - 5 g/bình 8 lít phun kỹ trên tán và cả phần gốc khi có triệu chứng bệnh [12]

Một trong những tồn tại lớn của sản xuất nông nghiệp đang được quan tâm

Trang 37

hiện nay là việc sử dụng quá nhiều thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) có nguồn gốc hóa học Tình trạng này nếu cứ tiếp diễn sẽ đi ngược lại mục tiêu xây dựng một nền nông nghiệp bền vững và an toàn mà chúng ta đang nỗ lực tiến tới

Để khắc phục những mặt trái của thuốc hoá học gây ra và hướng tới một nền nông nghiệp sạch và bền vững thì biện pháp sinh học được quan tâm hàng đầu và bắt đầu được các nhà khoa học nghiên cứu Biện pháp này đòi hỏi cần có

sự hiểu biết về các đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài côn trùng, các loài nấm, vi sinh vật có ích, các loại cây trồng có khả năng úc chế sự phát triển của sâu bệnh hại [9]

Cho đến nay, tác nhân sinh học trừ bệnh hại được chú ý nghiên cứu nhiều hơn là sử dụng dịch chiết từ thực vật ( tỏi, sả, gừng, trầu không ) là một hướng mới đầy triển vọng [33]

* Chế phẩm từ dịch chiết thực vật

Đã có nhiều nghiên cứu sử dụng các loại thuốc trừ sâu bệnh có nguồn gốc thảo mộc trong phòng trừ dịch hại cây trồng Thành phần của các loại thuốc này được chiết xuất từ các loài cây có độc tính cao gây ảnh hưởng đến dịch hại Thuốc có nguồn gốc từ thảo mộc thường có thời gian phân giải nhanh, không gây

ô nhiễm môi trường và đặc biệt làm giảm tính kháng thuốc của dịch hại (Trần Quang Hùng, 1999)

Các loại cây trong tự nhiên đã được sử dụng như: lá cây xoan, lá thanh táo, hạt na xiêm, lá lim xanh để sản xuất chế phẩm thảo mộc như SHO2 (lá xoan), SHO5 (hạt na), có thể kìm hãm hoạt động của các enzyme: Catalasie và Peroxidase, đặc biệt có khả năng diệt sâu tơ, sâu xanh, sâu khoang, ốc bươu vàng ở nồng độ chế phẩm 30- 40 mg/l trong 5 ngày (Nguyễn Quốc Khang) (2001) [9]

Cây hành và cây tỏi là những cây gia vị giúp kích thích con người ăn ngon hơn Đây cũng là những cây thuốc được sử dụng để chữa cảm cúm, chống rét,… nhờ mùi thơm nhưng hắc, vị cay nhưng hơi ngọt của chúng Riêng cây sả

(Citronella grass) ngoài sử dụng làm gia vị, tinh dầu sả còn được sử dụng trong

việc chữa bệnh và làm óng mượt tóc [5]

Trang 38

Chương II ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu 2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Các loại bệnh hại trên hạt giống lạc: Aspergillus niger gây hại trên lạc

2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

 Đề tài được tiến hành tại:

+ Các vùng trồng lạc thuộc huyện Hưng Nguyên - Nghệ An

+ Phòng thí nghiệm tổ THTN Nông Lâm Ngư – Trung tâm THTN Trường Đại học Vinh

 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 12/2011 đến tháng 5/2012

Vật liệu nghiên cứu

 Giống lạc trồng phổ biến trong sản xuất: L14

 Mẫu hạt giống thu thập tại huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An

 Mẫu đất thu thập tại huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An

 Các dịch chiết thực vật từ cà độc dược, bưởi, trinh nữ

 Môi trường nuôi cấy: WA, PDA, v.v

 Dụng cụ thí nghiệm: gồm các trang thiết bị đơn giản phục vụ cho nghiên cứu: kính hiển vi, kính lúp điện, tủ sấy, buồng cấy, nồi hấp, đèn cồn, đĩa petri, bếp từ, cân điện tử, bình tam giác, lọ thuỷ tinh, v.v

2.2 Nội dung nghiên cứu 2.2.1 Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm

 Xác định thành phần bệnh nấm gây hại trên hạt giống lạc thu thập tại các vùng trồng lạc thuộc huyện Hưng Nguyên - Nghệ An

 Xác định tình hình và mức độ nhiễm nấm trên các mẫu hạt giống thu thập

ở một số xã thuộc huyện Hưng Nguyên - Nghệ An

 Xác định tình hình (tỷ lệ mẫu) đất nhiễm Aspergillus niger thu thập ở một

số xã thuộc huyện Hưng Nguyên - Nghệ An

Trang 39

 Thử nghiệm một số dịch chiết thực vật (cà độc dược, trinh nữ, bưởi) trong việc ức chế nấm bệnh hại hạt giống lạc trong điều kiện phòng thí nghiệm

2.2.2 Nghiên cứu trong nhà lưới

Theo dõi ảnh hưởng dịch chiết từ cây cà độc dược đến mức độ nhiễm nấm

Aspergillus niger gây bệnh héo rũ gốc mốc đen hại lạc và một số chỉ tiêu sinh

trưởng và phát triển của lạc trong chậu vại, nhà lưới

2.2.3 Điều tra, nghiên cứu ngoài đồng ruộng

 Xác định thành phần bệnh gây hại trên cây lạc và mức độ phổ biến của bệnh tại huyện Hưng Nguyên - Nghệ An vụ xuân 2012

 Điều tra diễn biến của nấm gây bệnh héo rũ gốc mốc đen (A niger) tại

huyện Hưng Nguyên - Nghệ An vụ xuân 2012

2.3 Phương pháp nghiên cứu 2.3.1 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm

2.3.1.1 Phương pháp nấu môi trường

* Môi trường PGA (Potato- Glucose- Agar) Thành phần: + Khoai tây 200 g + Glucose 20 g

+ Agar 20 g + Nước cất 1000 ml Cách điều chế: Khoai tây gọt vỏ, rửa sạch, thái lát mỏng cho vào nồi cùng với 1000 ml nước cất đun sôi khoảng 1 giờ Lọc qua vải lọc, bổ sung nước cất cho đủ 1000 ml Cho agar và glucose vào khuấy đều cho agar tan hết, đun cho đến khi sôi Cho môi trường này vào bình tam giác đậy nắp bằng giấy bạc, sau đó đem hấp khử trùng ở 1210C (1,5 atm) trong vòng 45 phút Để nguội 55 - 600

C trước khi rót ra đĩa petri đã khử trùng

* Môi trường WA (Water Agar) Thành phần: +Agar 20 g

+ Nước cất 1000 ml Cách điều chế: tương tự như môi trường PGA

2.3.1.2 Phương pháp phân lập đất

Trang 40

a, Phương pháp thu thập mẫu đất

- Lấy mẫu đất tại huyện Hưng Nguyên - Nghệ An: Chọn 5 xã có diện tích trồng lạc lớn, có địa thế đất, công thức luân canh, mật độ gieo trồng và điều kiện sinh thái đại diện cho vùng, mỗi xã thu thập 15 mẫu từ 15 ruộng có diện tích từ

300 – 500m2

- Trên mỗi ruộng tiến hành lấy mẫu theo 5 điểm chéo góc, mỗi điểm 100g, trộn đều thành mẫu tổng hợp đem về phòng thí nghiệm và tiến hành phân

lập đất để xác định sự tồn tại của nấm A.niger có trong mẫu

b, Phương pháp phân lập đất và giám định nấm A.niger trong đất:

+ Phơi mẫu đất cho khô, dùng cối chày nghiền sơ đất (loại cối chày làm bằng đá dùng trong nấu bếp) và trộn đều

+ Cho 10g mẫu đất vào một lọ có chứa 100ml WA 0,01% đã hấp tiệt trùng, tạo dung dịch 1:10

+ Đổ 10ml dung dịch sang lọ thứ 2 chứa 90ml WA 0,01% tạo dung dịch 1:100 và lắc đều để đảm bảo đất được phân tán đều trong dung dịch Lặp lại bước này để có dung dịch với nồng độ 1:1000

+ Phân tán đều 1ml dung dịch đất trên bề mặt môi trường phân lập trong đĩa Petri đường kính 90mm:

- Chuẩn bị các đĩa môi trường phân lập và để khô trong vài ngày để loại

bỏ hơi nước đọng trên bề mặt đĩa

- Dùng pipette cẩn thận hút 1ml dung dịch đất cho vào một phía ở rìa của đĩa môi trường

- Cầm đĩa hơi nghiêng từ mép có dung dịch và lắc nhẹ vuông góc với chiều dốc để dung dịch ướt đều trên bề mặt đĩa

+ Đặt các đĩa phân lập này dưới ánh sáng trong 5 -7 ngày cho đến khi các tản nấm phát triển

- Tiến hành kiểm tra, giám định sự tồn tại của nấm A.niger trên các đĩa

phân lập

Ngày đăng: 21/08/2023, 01:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Sơ đồ các nồng độ sử dụng trong phương pháp pha loãng đất - Nghiên cứu bệnh héo rũ gốc mốc đen (aspergillus niger van tiegh) hại lạc vụ xuân 2012 tại huyện hưng nguyên, tỉnh nghệ an và biện pháp sinh học phòng trừ
Hình 2.1. Sơ đồ các nồng độ sử dụng trong phương pháp pha loãng đất (Trang 41)
Hình 3.1 : Thí nghiệm xác định thành phần bệnh hại trên hạt giống lạc - Nghiên cứu bệnh héo rũ gốc mốc đen (aspergillus niger van tiegh) hại lạc vụ xuân 2012 tại huyện hưng nguyên, tỉnh nghệ an và biện pháp sinh học phòng trừ
Hình 3.1 Thí nghiệm xác định thành phần bệnh hại trên hạt giống lạc (Trang 46)
Hình cầu hoặc  hơi  tròn,  bề  mặt xù xì màu  xanh  vàng   đến  xanh  lá  cây - Nghiên cứu bệnh héo rũ gốc mốc đen (aspergillus niger van tiegh) hại lạc vụ xuân 2012 tại huyện hưng nguyên, tỉnh nghệ an và biện pháp sinh học phòng trừ
Hình c ầu hoặc hơi tròn, bề mặt xù xì màu xanh vàng đến xanh lá cây (Trang 48)
Hình 3.3. Nấm bệnh Aspergillus niger  trên hạt lạc - Nghiên cứu bệnh héo rũ gốc mốc đen (aspergillus niger van tiegh) hại lạc vụ xuân 2012 tại huyện hưng nguyên, tỉnh nghệ an và biện pháp sinh học phòng trừ
Hình 3.3. Nấm bệnh Aspergillus niger trên hạt lạc (Trang 51)
Hình 3.2. Nấm bệnh Aspergillus flavus trên hạt lạc - Nghiên cứu bệnh héo rũ gốc mốc đen (aspergillus niger van tiegh) hại lạc vụ xuân 2012 tại huyện hưng nguyên, tỉnh nghệ an và biện pháp sinh học phòng trừ
Hình 3.2. Nấm bệnh Aspergillus flavus trên hạt lạc (Trang 51)
Hình 3.4. Nấm bệnh Fusarium solani  trên hạt lạc - Nghiên cứu bệnh héo rũ gốc mốc đen (aspergillus niger van tiegh) hại lạc vụ xuân 2012 tại huyện hưng nguyên, tỉnh nghệ an và biện pháp sinh học phòng trừ
Hình 3.4. Nấm bệnh Fusarium solani trên hạt lạc (Trang 52)
Hình 3.5. Nấm bệnh Penicillium sp. trên hạt lạc - Nghiên cứu bệnh héo rũ gốc mốc đen (aspergillus niger van tiegh) hại lạc vụ xuân 2012 tại huyện hưng nguyên, tỉnh nghệ an và biện pháp sinh học phòng trừ
Hình 3.5. Nấm bệnh Penicillium sp. trên hạt lạc (Trang 52)
Bảng 3.2. Tình hình nhiễm nấm trên các mẫu hạt giống thu thập ở một số xã thuộc - Nghiên cứu bệnh héo rũ gốc mốc đen (aspergillus niger van tiegh) hại lạc vụ xuân 2012 tại huyện hưng nguyên, tỉnh nghệ an và biện pháp sinh học phòng trừ
Bảng 3.2. Tình hình nhiễm nấm trên các mẫu hạt giống thu thập ở một số xã thuộc (Trang 53)
Bảng 3.3. Mức độ nhiễm nấm gây hại trên các mẫu hạt giống thu thập ở một số xã - Nghiên cứu bệnh héo rũ gốc mốc đen (aspergillus niger van tiegh) hại lạc vụ xuân 2012 tại huyện hưng nguyên, tỉnh nghệ an và biện pháp sinh học phòng trừ
Bảng 3.3. Mức độ nhiễm nấm gây hại trên các mẫu hạt giống thu thập ở một số xã (Trang 55)
Bảng 3.4 : Tỷ lệ nhiễm nấm hại đất trồng lạc thu thập ở vùng Hưng Nguyên - - Nghiên cứu bệnh héo rũ gốc mốc đen (aspergillus niger van tiegh) hại lạc vụ xuân 2012 tại huyện hưng nguyên, tỉnh nghệ an và biện pháp sinh học phòng trừ
Bảng 3.4 Tỷ lệ nhiễm nấm hại đất trồng lạc thu thập ở vùng Hưng Nguyên - (Trang 57)
Bảng 3.7. Ảnh hưởng của dịch chiết cà độc dược 5% đến khả năng nảy mầm - Nghiên cứu bệnh héo rũ gốc mốc đen (aspergillus niger van tiegh) hại lạc vụ xuân 2012 tại huyện hưng nguyên, tỉnh nghệ an và biện pháp sinh học phòng trừ
Bảng 3.7. Ảnh hưởng của dịch chiết cà độc dược 5% đến khả năng nảy mầm (Trang 68)
Bảng 3.9. Ảnh hưởng của dịch chiết từ cà độc dược 15% đến khả năng nảy mầm - Nghiên cứu bệnh héo rũ gốc mốc đen (aspergillus niger van tiegh) hại lạc vụ xuân 2012 tại huyện hưng nguyên, tỉnh nghệ an và biện pháp sinh học phòng trừ
Bảng 3.9. Ảnh hưởng của dịch chiết từ cà độc dược 15% đến khả năng nảy mầm (Trang 70)
Bảng 3.10. Ảnh hưởng của dịch chiết từ trinh nữ 5% đến khả năng nảy mầm - Nghiên cứu bệnh héo rũ gốc mốc đen (aspergillus niger van tiegh) hại lạc vụ xuân 2012 tại huyện hưng nguyên, tỉnh nghệ an và biện pháp sinh học phòng trừ
Bảng 3.10. Ảnh hưởng của dịch chiết từ trinh nữ 5% đến khả năng nảy mầm (Trang 72)
Nhận xét: Từ kết quả phân tích bảng 3.10, bảng 3.11 và bảng 3.12 cho thấy, - Nghiên cứu bệnh héo rũ gốc mốc đen (aspergillus niger van tiegh) hại lạc vụ xuân 2012 tại huyện hưng nguyên, tỉnh nghệ an và biện pháp sinh học phòng trừ
h ận xét: Từ kết quả phân tích bảng 3.10, bảng 3.11 và bảng 3.12 cho thấy, (Trang 76)
Hình  3.19.Xử lý hạt giống bằng dịch chiết thực vật (cà độc dược) - Nghiên cứu bệnh héo rũ gốc mốc đen (aspergillus niger van tiegh) hại lạc vụ xuân 2012 tại huyện hưng nguyên, tỉnh nghệ an và biện pháp sinh học phòng trừ
nh 3.19.Xử lý hạt giống bằng dịch chiết thực vật (cà độc dược) (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w