1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống bí ngồi hàn quốc f1 tn 220 vụ đông 2011 trên đất cát nghi phong nghi lộc nghệ an

73 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống bí ngồi Hàn Quốc F1 TN 220 vụ đông 2011 trên đất cát Nghi Phong - Nghi Lộc - Nghệ An
Tác giả Trịnh Thị Thương
Người hướng dẫn ThS. Phan Thị Thu Hiền
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Nông học
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2012
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRỊNH THỊ THƯƠNG ẢNH HƯỞNG CỦA VẬT LIỆU CHE PHỦ ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG BÍ NGỒI HÀN QUỐC F1 TN 220 VỤ ĐÔNG 2011 TRÊN ĐẤT CÁT NGHI PHONG - NGHI LỘC

Trang 1

TRỊNH THỊ THƯƠNG

ẢNH HƯỞNG CỦA VẬT LIỆU CHE PHỦ

ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN

VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG BÍ NGỒI HÀN QUỐC

F1 TN 220 VỤ ĐÔNG 2011 TRÊN ĐẤT CÁT

NGHI PHONG - NGHI LỘC - NGHỆ AN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

KỸ SƯ NGÀNH NÔNG HỌC

Trang 2

ẢNH HƯỞNG CỦA VẬT LIỆU CHE PHỦ

ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN

VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG BÍ NGỒI HÀN QUỐC

F1 TN 220 VỤ ĐÔNG 2011 TRÊN ĐẤT CÁT

NGHI PHONG - NGHI LỘC - NGHỆ AN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Trang 3

quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Vinh, tháng 5 năm 2012

Sinh viên

Trịnh Thị Thương

Trang 4

tôi còn nhận được sự giúp đỡ tận tình của thầy cô giáo khoa Nông Lâm Ngư - Trường Đại học Vinh cũng như sự động viên của gia đình, bạn bè

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu và Ban chủ nhiệm khoa Nông Lâm Ngư - Trường Đại học Vinh đã sắp xếp, bố trí và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quãng thời gian tôi làm thực tập tốt nghiệp Đặc biệt, tôi xin tỏ lòng biết

ơn sâu sắc tới cô giáo ThS Phan Thị Thu Hiền - người đã hướng dẫn trực tiếp và

đóng góp ý kiến giúp tôi để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Cảm ơn gia đình, bạn bè và người thân đã luôn bên tôi, động viên, giúp đỡ tôi trong thời gian qua

Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, Tôi rất mong được những ý kiến đóng góp của thầy cô giáo và bạn bè

Vinh, tháng 5 năm 2012

Sinh viên

Trịnh Thị Thương

Trang 5

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ CÁI VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 3

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 4

1.1.1 Cơ sở lý luận 4

1.1.2 Cơ sở thực tiễn của việc sử dụng vật liệu che phủ cho cây bí 6

1.2 Giá trị dinh dưỡng của cây bí ngồi 7

1.3 Tình hình sản xuất bí trên thế giới và trong nước 9

1.3.1 Tình hình sản xuất bí trên thế giới 9

1.3.2 Tình hình sản xuất bí ở Việt Nam 10

1.3.3 Tình hình sản xuất bí ở Nghệ An 12

1.4 Tình hình nghiên cứu, sử dụng vật liệu che phủ cho cây trồng trên thế giới và ở Việt Nam 13

1.4.1 Trên Thế giới 13

1.4.2 Ở Việt Nam 14

Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

2.1 Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu 18

2.1.1 Vật liệu nghiên cứu 18

2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 18

2.2 Nội dung nghiên cứu 19

Trang 6

2.3 Phương pháp bố trí thí nghiệm 19

2.3.1 Công thức thí nghiệm 19

2.3.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 20

2.3.3 Diện tích thí nghiệm 20

2.4 Quy trình kỹ thuật áp dụng 20

2.4.1 Thời vụ 20

2.4.2 Chuẩn bị giống 21

2.4.3 Làm đất 21

2.4.4 Mật độ trồng 21

2.4.5 Kỹ thuật bón phân 21

2.4.6 Vật liệu che phủ 22

2.4.7 Chăm sóc 23

2.5 Các chỉ tiêu theo dõi ngoài đồng ruộng và phương pháp theo dõi 25

2.5.1 Các giai đoạn phát triển của Bí ngồi 25

2.5.2 Các chỉ tiêu sinh trưởng phát triển 26

2.5.3 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 26

2.5.4 Tình hình sâu bệnh 26

2.6 Tính toán và xử lý số liệu 27

2.7 Đặc điểm khí tượng trong thời điểm tiến hành đề tài 27

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29

3.1 Ảnh hưởng của các loại vật liệu che phủ đến thời gian sinh trưởng của giống Bí ngồi F1 TN 220 29

3.2 Ảnh hưởng của các loại vật liệu che phủ đến các chỉ tiêu sinh trưởng của giống Bí ngồi 32

3.2.1 Ảnh hưởng các loại vật liệu che phủ đến chiều cao thân chính 32

3.2.2 Ảnh hưởng của các loại vật liệu che phủ đến sự phát triển số lá trên thân chính 36

3.2.3 Ảnh hưởng của các loại vật liệu che phủ đến đường kính tán cây bí ngồi 39

3.3 Ảnh hưởng của các loại vật liệu che phủ đến các chỉ tiêu phát triển 41

Trang 7

3.3.1 Ảnh hưởng của các loại vật liệu che phủ đến tổng số hoa/cây 41

3.3.2 Ảnh hưởng của các loại vật liệu che phủ đến tổng số hoa cái/cây 42

3.4 Ảnh hưởng của các loại vật liệu che phủ đến một số chỉ tiêu sinh trưởng quả bí ngồi 43

3.5 Ảnh hưởng của các loại vật liệu che phủ đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất Bí ngồi 43

3.5.1 Ảnh hưởng của các loại vật liệu che phủ đến số quả/cây 44

3.5.2 Ảnh hưởng của các loại vật liệu che phủ đến năng suất cá thể 44

3.5.3 Ảnh hưởng của các loại vật liệu che phủ đến năng suất lý thuyết 46

3.5.4 Ảnh hưởng của các loại vật liệu che phủ đến năng suất thực thu Bí ngồi 46

3.6 Ảnh hưởng của các loại vật liệu che phủ đến khả năng chống chịu sâu bệnh 46

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 51

PHỤ LỤC 53

Trang 8

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ CÁI VIẾT TẮT

NSCT : Năng suất cá thể NSLT : Năng suất lý thuyết NSTT : Năng suất thực thu KLTB : Khối lượng trung bình

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Tình hình sản xuất bí trên thế giới 9Bảng 1.2 Tình hình sản xuất bí của một số nước trên thế giới (2007 - 2009) 10Bảng 1.3 Tình hình sản xuất bí ở Nghệ An 13Bảng 3.1 Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến thời gian sinh trưởng cây

bí ngồi vụ đông 2011 30Bảng 3.2 Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến chiều cao thân chính 35Bảng 3.3 Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến số lá trên thân chính 37Bảng 3.4 Ảnh hưởng của các loại vật liệu che phủ đến đường kính tán

cây bí ngồi 40Bảng 3.5 Ảnh hưởng của các loại vật liệu che phủ đến tổng số hoa/cây và

tổng số hoa cái/cây 42Bảng 3.6 Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến một số chỉ tiêu sinh trưởng

của quả bí ngồi 43Bảng 3.7 Ảnh hưởng của các loại vật liệu che phủ đến các yếu tố cấu

thành năng suất và năng suất bí ngồi 45Bảng 3.8 Ảnh hưởng của các loại vật liệu che phủ đến khả năng chồng

chịu sâu bệnh của bí ngồi 47

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Ảnh hưởng của các loại vật liệu che phủ đến chiều cao thân

chính cây bí ngồi 35Biểu đồ 3.2 Ảnh hưởng của các loại vật liệu che phủ đến số lá trên thân chính 37Biểu đồ 3.3 Ảnh hưởng của các loại vật liệu che phủ đến đường kính tán

cây bí ngồi 40Biểu đồ 3.4 Ảnh hưởng của các loại vật liệu che phủ đến năng suất lý thuyết

và năng suất thực thu của bí ngồi 45

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Trước xu thế hội nhập và phát triển, đất nước ta đang nỗ lực thực hiện thành công tiến trình công nghiệp hoá hiện đại hoá để từ đó xây dựng thành một nước công nghiệp Và ngành nông nghiệp được coi là cơ sở, là tiền đề và có vai trò rất quan trọng trong tiến trình phát triển đó Chính vì thế mà yêu cầu đặt ra cho chúng

ta là phải nghiên cứu, tạo ra các giống cây trồng, các biện pháp kỹ thuật thích hợp (thời vụ, bón phân, chăm sóc…) cho từng loại cây trồng và ở từng khu vực, vùng miền để không ngừng năng cao năng suất, chất lượng sản phẩm đồng thời mang lại hiệu quả kinh tế cao

Trong những năm gần đây, nông dân một số tỉnh phía Bắc đã triển khai trồng giống bí ngồi Hàn Quốc tương đối rộng rãi Giống được sử dụng phổ biến tên là: Bulam House sản xuất tại Hàn Quốc bởi Cty Hùng Nông thuộc tập đoàn Seminis, được nhập nội và phân phối bởi Cty Giống cây trồng Đất Việt

Bí ngồi được cho là nhà máy tổng hợp viamin C, vitamin A (bí ngồi chứa rất cao hàm lượng các chất carotenoid, chẳng hạn như beta carotene, đây là những loại tiền vitamin A), các nguyên tố khoáng vi lượng như magnesium, manganese, potassium (kali), đồng, chất xơ, chứa nhiều vitamin nhóm B (B1, B2, B3, B6) Ngoài

ra còn có thêm protein, kẽm, calcium, sắt, tryptophan, vitamin K, folate

Bởi vậy chúng không những làm thực phẩm mà còn được sử dụng trong các ngành công nghiệp thực phẩm, mỹ phẩm và y học

Bí ngồi được cho là thực phẩm lý tưởng ngăn ngừa bệnh hoại huyết, thâm tím do thiếu hụt vitamin C và nó có khả năng ngăn ngừa chứng đa xơ cứng, ung thư ruột già Thành phần dinh dưỡng có trong bí ngồi kiêm thêm nhiệm vụ ngăn ngừa xơ vữa mạch, làm hạ huyết áp Chúng cũng có tác dụng ngăn chặn sự oxy hóa cholesterol - nguyên nhân làm những mảng cholesterol đu bám vào thành mạch

Rau sạch đang là vấn đề nóng và được quan tâm nhiều trong lĩnh vực lương thực thực phẩm Cho đến nay bầu bí vẫn được xem là nguồn rau sạch, an toàn và

Trang 12

hiện đang được khuyến cáo đưa vào sản xuất trên diện rộng ở các vùng sản xuất chuyên canh 4 mùa [15]

Vùng đất ven biển Nghi Lộc - Nghệ An có độ ẩm đất rất thấp, dao động trong khoảng 1,26-1,54%; Độ ẩm cây héo cũng rất thấp, thấp nhất là 7,1% và cao nhất là 8,3%; Thành phần cơ giới của đất chủ yếu là cát, chiếm tỉ lệ thấp nhất là 88,06% và cao nhất là 97,05%; Tỉ lệ limon cũng thay đổi, dao động trong khoảng 1,22-6,70% Hàm lượng sét trong đất rất thấp (1,53-5,24%) Tính chất vật lý cho thấy đất có thành phần cơ giới nhẹ, không có kết cấu, thấm nước nhanh, giữ nước kém, thường xuyên có hiện tượng thiếu nước [11]

Các loại cây trồng nông nghiệp nói chung và cây bí ngồi nói riêng muốn đạt được năng suất cao và mang lại hiệu quả kinh tế thì bên cạnh điều kiện về giống, điều kiện thời tiết đòi hỏi chúng ta cần phải đáp ứng được các điều kiện thích hợp tạo môi trường thuận lợi cho chúng sinh trưởng và phát triển bằng cách tác động các biện pháp kỹ thuật hợp lý

Các yếu tố vô sinh: Nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng và các yếu tố hữu sinh: vi sinh vật chúng có mối quan hệ mật thiết, tương tác qua lại với nhau và có tác dụng thúc đẩy hoặc kìm hãm sự sinh trưởng phát triển của cây trồng

Sử dụng vật liệu che phủ đất trong quá trình canh tác là một trong những biện pháp kỹ thuật thực sự có hiệu quả cả trước mắt và lâu dài Một

số vật liệu che phủ qua quá trình phân hủy đã tác động làm cải thiện đáng

kể môi trường đất theo hướng sinh học có lợi cho cây trồng một cách bền vững, làm tăng năng suất cây trồng, giảm thiểu sự ô nhiễm môi trường sinh thái so với một số kỹ thuật thâm canh hiện nay (lạm dụng sử dụng phân vô cơ, thuốc bảo vệ thực vật ) đồng thời mang lại hiệu quả kinh tế cao như: giảm chi phí đầu tư, giảm công lao động, tận dụng nguồn chất hữu cơ dư thừa

Cây bí ngồi mặc dù vẫn còn khá lạ lẫm với người dân ở một số địa phương nhưng trong những năm gần đây bí ngồi đã được phổ biến sản xuất

Trang 13

đại trà tuy nhiên năng suất của nó chưa cao chỉ đạt mức 40-50% so với năng suất trung bình trên thế giới

Do vậy để tăng sản lượng bí ngồi đáp ứng nhu cầu trong nước và chế biến xuất khẩu, bên cạnh sử dụng giống mới, chăm sóc, bón phân cho năng suất cao thì việc sử dụng vật liệu che phủ cho đất nhằm bảo vệ môi trường, làm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm đặc biệt góp phần mở rộng diện tích trồng bí ngồi ở nhiều địa phương trong cả nước

Để xác định vật liệu phủ thích hợp, đưa ra những định mức vật liệu che phủ hợp lý mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất nhằm phổ biến cho sản xuất chúng tôi tiến

hành thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến khả năng sinh

trưởng, phát triển và năng suất của giống bí ngồi hàn quốc F1 TN 220 vụ đông

2011 trên đất cát Nghi Phong - Nghi Lộc - Nghệ An “

2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2.1 Mục đích của đề tài

- Đánh giá ảnh hưởng của các loại vật liệu che phủ đến khả năng sinh trưởng,

phát triển và năng suất giống bí ngồi F1 TN 220

- Xác định loại vật liệu che phủ thích hợp mang lại năng suất, hiệu quả kinh

tế cao cho giống bí ngồi F1 TN 220 trồng trên đất cát Nghi Lộc_Nghệ An

2.2 Yêu cầu của đề tài

- Nghiên cứu ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến một số chỉ tiêu sinh trưởng,

phát triển của giống Bí ngồi F1 TN 220

- Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại vật liệu che phủ đến mức độ gây hại

của sâu bệnh đối với giống Bí ngồi F1 TN 220

- Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại vật liệu che phủ đến các yếu tố cấu

thành năng suất, năng suất của giống Bí ngồi F1 TN 220.

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 1.1.1 Cơ sở lý luận

Hiện nay, để nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp thì việc

áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất là một yêu cầu tất yếu Cây

bí ngồi là một cây trồng mới đưa vào sản xuất Do vậy việc áp dụng những ứng dụng khoa học kỹ thuật là rất cần thiết để nâng cao hơn nữa hiệu quả kinh tế khi

chúng ta từng bước thực hiện thâm canh cây Bí ngồi

Trong nông nghiệp và làm vườn, vật liệu che phủ là một lớp bảo vệ được đặt trên đất để giữ độ ẩm, giảm xói mòn, cung cấp chất dinh dưỡng, ngăn chặn cỏ dại

phát triển và thúc đẩy sự nảy mầm của hạt

Sử dụng vật liệu che phủ đất là một trong những kỹ thuật hiệu quả và bền vững nhất cho đất canh tác và đang ngày càng được chú ý và áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới

Khi che phủ, các loại cây trồng đều sinh trưởng tốt hơn và cho năng suất cao hơn Tuy nhiên để nâng cao hiệu quả của việc che phủ, khi sử dụng cần căn cứ vào thời vụ, diễn biến thời tiết, đồng thời căn cứ vào đặc tính sinh lý của từng loại cây trồng, từng giống cây trồng và ở từng giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây

Vật liệu lớp phủ có thể là hữu cơ, từ các nguồn phụ phế phẩm nông nghiệp như rơm, thân cây lạc, thân cây đậu đây là lớp phủ bằng chất tự nhiên, loại này bị phân hủy theo thời gian và cần phải được thay thế sau các vụ trồng Hoặc có thể là

vô cơ chẳng hạn như nilon loại này không thu hút sâu bệnh và ít bị phân hủy trong thời gian ngắn, có thể dùng cho nhiều vụ trồng

Khi áp dụng một cách chính xác, vật liệu che phủ có tác dụng mang lại những lợi ích cho thực vật và đất:

- Lớp phủ ngăn ngừa mất nước từ đất do bốc hơi

- Lớp phủ giảm sự phát triển của cỏ dại

Trang 15

- Lớp phủ giữ nhiệt độ đất lạnh hơn trong mùa hè và ấm vào mùa đông, do đó duy trì một nhiệt độ đất thích hợp hơn cho cây trồng sinh trưởng

- Lớp phủ còn ngăn chặn sự lây lan của sâu bệnh trong đất

- Vật liệu che phủ hữu cơ có thể cải thiện cấu trúc đất Khi vật liệu che phủ phân hủy cũng cung cấp thêm chất dinh dưỡng cho đất

- Che phủ đất cũng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón thông qua việc chống xói mòn rửa trôi đất, tăng dung tích hấp thụ của đất

- Lớp phủ giúp ngăn chặn sự nén chặt đất

- Độ xốp của đất được cải thiện nhanh từ đó làm tăng khả năng hấp thụ và giữ nước của đất, tăng cường hoạt tính sinh học của đất, tạo điều kiện cho bộ rễ cây trồng phát triển tốt

- Lớp phủ có thể giúp hạt mọc mầm nhanh hơn, cây sinh trưởng tốt hơn và

do đó có thể rút ngắn thời gian sinh trưởng của cây trồng trên đồng ruộng

- Lớp phủ có thể làm tăng thêm vẻ đẹp của cảnh quan khí áp dụng hợp lý trên bề mặt đất

Các loại vật liệu che phủ nó ảnh hưởng khác nhau tới tính chất trạng thái đất, hoạt động của vi sinh vật đất cũng như ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng phát triển của cây trồng là khác nhau

Từ xưa đến nay, rơm rạ luôn là sản phẩm rất hữu ích Nó là nguồn nhiên liệu, nguyên liệu cho rất nhiều lĩnh vực sản xuất và là vật phẩm phục vụ muôn mặt trong đời sống sinh hoạt của chúng ta Rơm rạ còn được dùng làm vật liệu che phủ cho cây để vừa giữ ẩm vừa giữ ấm vào ngày lạnh, làm mát vào ngày nắng nóng Và khi vật liệu che phủ là rơm rạ hoai mục thì nó được cây trồng sử dụng làm phân bón

Vật liệu che phủ bằng nilon có thể xem là loại được áp dụng nhiều nhất hiện nay đối với các loại cây trồng như cây dứa, dưa hấu, lạc…điều đó lý giải là nhờ những ưu điểm mà nó mang lại:

- Ngăn ngừa sự phát triển tối đa của cỏ dại từ đó giảm công lao động làm cỏ

và góp phần tăng năng suất cây trồng

Trang 16

- Ngăn ngừa tối đa sự phát triển của các vi sinh vật gây hại, nấm bệnh hại trong đất

- Giữ cho đất trồng luôn được tơi xốp, đảm bảo cho bộ rế của cẩy phát triển được tốt nhất không bị nấm bệnh tấn công [12]

Vật liệu che phủ bằng việc tận dụng nguồn phụ phế phẩm nông nghiệp như thân cây lạc, ngoài việc che phủ đất còn cung cấp một hàm lượng dinh dưỡng N nhờ

hệ thống nốt sần ở bộ rễ để bổ sung một phần nhỏ vào lượng dinh dưỡng mà cây trồng đẫ lấy đi [20]

Từ những cơ sở lý luận trên, đã cho chúng ta hiểu hơn về tác dụng của vật liệu che phủ Từ đó làm cơ sở khoa học cho việc áp dụng các loại vật liệu che phủ khác nhau tới từng loại cây trồng một cách hợp lý, để đạt năng suất và hiệu quả kinh

tế cao nhất

1.1.2 Cơ sở thực tiễn của việc sử dụng vật liệu che phủ cho cây bí

Hiện nay, trong công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng, những người trồng rau

đã quan tâm nhiều hơn đến cây bí Do bí là một loại rau có thời gian sinh trưởng ngắn, dễ trồng và mang lại hiệu quả kinh tế cao Nhưng năng suất bí còn thấp và chưa ổn định, một trong những nguyên nhân chính là do việc tác động của các biện pháp kỹ thuật chưa hợp lý

Mặt khác vụ đông ở tỉnh Nghệ An trong điều kiện nhiệt độ thấp, từ 15-20oC

và có những đợt mưa lớn Do đó có ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp của vùng [20]

Nhiệt độ thấp làm cho quá trình vận chuyển nước, chất dinh dưỡng trong cây bị giảm Các tế bào trong cây cũng bị ảnh hưởng, đe doạ sự ổn định và hoạt động bình thường của màng tế bào, sinh ra các chất ô xi hoá hoạt tính rất có hại và tạo ra một số chất gây độc khác cho cây… và làm thay đổi một số quá trình sinh lý và sinh hoá trong cây, hậu quả là ảnh hưởng tiêu cực tới sự phát triển của cây trồng

Mưa được xem là nhân tố có ảnh hưởng lớn tới xói mòn đất, hạn hán và dòng chảy Mưa to làm phá vỡ cấu trúc đất, đất bị bào mòn mạnh, làm các chất màu mỡ bị

Trang 17

cuốn trôi theo dòng chảy Đồng thời thì mưa lớn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của cây trồng nó làm dập, rách lá và làm trôi phấn hoa

Ngoài ra mưa kéo dài làm hư hại hạt giống, mất sức sống hạt phấn, giảm tỷ lệ đậu quả, mưa quá nhiều trong thời kỳ sinh trưởng làm cho cây chậm lớn và tạo điều kiện cho sâu bệnh phát triển

Qua nghiên cứu ta thấy được sự cần thiết của việc sử dụng vật liệu che phủ cho cây trồng vụ đông nói chung và cho cây bí ngồi nói riêng đặc biệt vấn đề này càng có ý nghĩa đối với vùng đát cát Vào mùa đông khi ta dùng vật liệu che phủ trên mặt đất hoặc quanh gốc cây thì sẽ hạn chế bức xạ sóng dài của mặt đất vào ban đêm và tăng khả năng hấp thụ bức xạ mặt trời vào ban ngày để tăng nhiệt độ của đất và từ đó cải thiện đựợc nhiệt độ không khí trên mặt đất

Ngoài ra muốn cây trồng có được sản lượng cao trước hết phải thỏa mãn nhu cầu nước ở các thời kỳ sinh trưởng Do đó chúng ta áp dụng biện pháp che phủ để giữ cho độ ẩm đất thích hợp Và nhiệm vụ chủ yếu là tạo ra trạng thái cân bằng nước của đất phù hợp với nhu cầu của từng giai đoạn sinh trưởng của cây trồng, tạo cho cây trồng luôn có độ ẩm hữu hiệu cao [1]

Khi sử dụng vật liệu che phủ đất thì sẽ làm giảm được sự tác động của các hạt nước mưa xuống bề mặt đất, làm giảm tình trạng xói mòn đất như hiện nay nhất là đối với vùng đất cát ở Nghi Phong - Nghi Lộc - Nghệ An

Qua nghiên cứu ta thấy được sự cần thiết của việc che phủ đất và đưa ra loại vật liệu che phủ thích hợp cho từng loại cây trồng, từng mùa vụ Từ đó phổ biến cho người dân áp dụng để có thể mang lại lợi ích kinh tế cao nhất và hướng tới một nền sản xuất nông nghiệp bền vững

1.2 Giá trị dinh dưỡng của cây bí ngồi

Bí ngồi là loại cây thuộc họ bầu, bí nhưng thân cây thẳng, cuống lá dài như

lá đu đủ và cây chỉ thấp khoảng 0,5 - 0,8 mét Quả bí dài và nhỏ như quả dưa chuột, vỏ quả màu xanh đậm, mọc từ thân cây ra Bí ngồi là loại rau sạch rất được ưa chuộng, dùng để chế biến các món xào, luộc, nấu canh ăn rất thơm ngon

Trang 18

Bí ngồi được các nhà dinh dưỡng học cho vào “sách đỏ” vì giá trị dinh dưỡng cao và mang nhiều lợi ích cho sức khỏe

Bí ngồi được cho là nhà máy tổng hợp viamin C, vitamin A (bí ngồi chứa rất cao hàm lượng các chất carotenoid, chẳng hạn như beta carotene, đây là những loại tiền vitamin A), các nguyên tố khoáng vi lượng như magnesium, manganese, potassium (kali), đồng, chất xơ, chứa nhiều vitamin nhóm B (B1, B2, B3, B6) Ngoài ra còn có thêm protein, kẽm, calcium, sắt, tryptophan, vitamin K, folate

Bí ngồi được dùng trong bữa ăn dành cho bệnh nhân hen suyễn do có nhiều vitamin C Ăn bí ngồi thường xuyên sẽ làm giảm nồng độ homocysteine và hỗ trợ cấu trúc các mao mạch Sự tăng hàm lượng homocysteine thường là những nguyên nhân gây nhồi máu cơ tim và đột quỵ Do chứa hàm lượng cao các vitamin và chất luetin nên bí ngồi được xem là một “kính mát thiên nhiên” Dịch chiết từ bí ngồi có tác dụng hữu hiệu trong những trường hợp phì đại tiền liệt tuyến lành tính, vốn gây khó khăn cho việc “thoát nước” và sinh hoạt tình dục Khoáng tố đồng có trong bí ngồi cũng giúp cải thiện những cơn đau buốt đối với bệnh nhân viêm khớp dạng thấp

Mặt khác bí ngồi được cho là thực phẩm lý tưởng ngăn ngừa bệnh hoại huyết, thâm tím do thiếu hụt vitamin C Bí ngồi cũng có khả năng ngăn ngừa chứng

đa xơ cứng, ung thư ruột già Thành phần dinh dưỡng có trong bí ngồi kiêm thêm nhiệm vụ ngăn ngừa xơ vữa mạch, làm hạ huyết áp Chúng cũng có tác dụng ngăn chặn sự oxy hóa cholesterol - nguyên nhân làm những mảng cholesterol bám vào thành mạch Do có chứa hàm lượng nước và chất xơ cao nên ăn bí ngồi sẽ giúp quá trình tiêu hoá thức ăn tốt hơn

Với những giá trị dinh dưỡng mà bí ngồi mang lại chúng ta cần tiến hành mở rộng quy mô trồng bí ngồi hơn và áp dụng các biện pháp kỹ thuật hợp lý đặc biệt là biện pháp sử dụng vật liệu che phủ đất, che phủ xung quanh gốc bí để đạt được năng suất, hiệu quả kinh tế cao nhất

Trang 19

1.3 Tình hình sản xuất bí trên thế giới và trong nước 1.3.1 Tình hình sản xuất bí trên thế giới

Họ bầu bí trên thế giới được phân bố khá rộng rãi, nó thích nghi với các điều kiện tự nhiên khác nhau từ vùng nhiệt đới có khí hậu khô nóng đến vùng ôn đới tương đối ẩm và có nhiều mưa

Các loại thuộc họ bầu bí thường có dạng thân leo, có tua cuốn, lá xẻ thùy, hoa đơn tính cùng gốc và sản phẩm thu được chủ yếu từ chúng là lá và quả Cây bầu

bí nó không đòi hỏi nghiêm ngặt về khâu chăm sóc và điều kiện tự nhiên

Khoảng 80% diện tích trồng bí tập trung ở chủ yếu các châu lục: Châu Á, Châu Phi

Theo số liệu thống kê của FAO: Năm 2007 diện tích trồng bí trên thế giới là 1.503.336 ha, năng suất đạt 13,50 tấn/ ha, sản lượng đạt 20.296.443 tấn, trong đó 2 nước trồng bí nhiều nhất là Ấn Độ đạt 360.000 ha, Trung Quốc đạt 328.000 ha

Năm 2009 diện tích trồng bí trên thế giới là 1.556.143 ha, năng suất đạt 13,62 tấn/ha, sản lượng đạt 21.201.379 tấn

Bảng 1.1 Tình hình sản xuất bí trên thế giới

Nước Chỉ tiêu

Năm Châu Phi Châu Mỹ Châu Âu Châu Đại

Dương Châu Á

Diện tích (Nghìn/ha)

2008

2009

250,66 254,66

202,97 197,92

124,72 127,55

176,35 160,56

936,54 959,65

Năng suất (Tấn/ha)

2008

2009

7,06 7,33

12,48 12,65

23,73 23,85

17,73 17,87

14,29 14,06

Sản lượng (triệu tấn)

2008

2009

1,77 1,86

2,53 2,50

2,96 3,04

0,31 0,28

13,39 13,49

Trang 20

Bảng 1.2 Tình hình sản xuất bí của một số nước trên thế giới (2007 - 2009)

Nước Chỉ tiêu Năm Australia Chile Cuba China Indonexia Diện tích

5,08 5,08 5,49

722,40 730,38 666,44

328,21 330,21 353,21

11,01 11,30 11,50 Năng suất

21,62 21,62 23,31

6,30 5,78 6,19

19,22 19,25 18,42

23,05 34,89 27,27

Sản lượng (triệu tấn)

2007

2008

2009

0,16 0,11 0,10

0,11 0,11 0,12

0,45 0,42 0,41

6,30 6,35 6,50

0,25 0,39 0,31

(Nguồn: http://www.Fao.org ) [16]

1.3.2 Tình hình sản xuất bí ở Việt Nam

Hiện nay, đất nước chúng ta đã bước vào sân chơi lớn của thế giới, nông sản Việt Nam phải cạnh tranh quyết liệt với nông sản đến từ các nước khác Chất lượng sản phẩm là nhân tố sẽ quyết định chủ yếu đến sự lựa chọn của thị trường Để có chất lượng sản phẩm nông sản tốt thì nó phải được sản sinh từ một nền sản xuất nông nghiệp tốt, đó là “Sản xuất sạch, an toàn, bền vững, Sản xuất phải bảo vệ sức khỏe con người và môi trường ”

Sản xuất thâm canh bí là một trong những hướng đi mang lại hiệu quả thiết thực mặc dù hiện nay tình hình sản xuất bí ở nước ta còn thấp, và đây cũng là một loại cây trồng mới với bà con nông dân

Cây rau thuộc họ bầu bí có khả năng sinh trưởng phát triển khỏe, thích ứng rộng, chống chịu sâu bệnh rất tốt, trồng bí ít phải dùng thuốc bảo vệ thực vật nên sản xuất bí được coi là sản phẩm sạch

Cây bí không đòi hỏi yêu cầu quá khắt khe về điều kiện thời tiết, chăm sóc cũng như nhu cầu dinh dưỡng Mặt khác nó còn cho năng suất cao, chất lượng tốt,

Trang 21

được người dân ưa chuộng Chính vì thế mà đã dần hình thành nhiều vùng trồng bí với diện tích lớn trên cả nước: Hải Dương, Bắc Giang, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình

Hiện nay ở nước ta có 3 giống bí chủ yếu được bà con nông dân sử dụng, triển khai rộng rãi đó là : Bí Đỏ, Bí Ngồi, Bí Đao

Vụ đông năm 2011, bằng nguồn vốn hỗ trợ của Trung tâm Khuyến nông Quốc Gia, Trung tâm khuyến nông Yên Bái đã phối hợp với xã Y Can, Quy mông huyện Trấn Yên và xã Hợp Minh thành phố Yên Bái triển khai mô hình sản xuất bí đỏ an toàn bằng giống bí đỏ hạt đậu lai F1-868 Quy mô thực hiện mô hình 22 ha với 220 hộ tham gia Bí sinh trưởng phát triển tốt năng suất đạt trên 15 tấn/ha, thời gian sinh trưởng ngắn từ 96 – 100 ngày rất phù hợp cho sản xuất vụ đông, hạch toán kinh tế 1ha sản xuất bí đỏ cho thu nhập trên 60 triệu đồng trừ chi phí lãi trên 40 triệu đồng Qua bước đầu thực hiện chương trình sản xuất bí đỏ an toàn được nhiều người dân trong và ngoài mô hình đồng tình ủng hộ và đề nghị nhân rộng mô hình ở địa phương [17]

Hiện nay bên cạnh công tác nghiên cứu tạo ra giống mới, giống có năng suất cao, chống chịu được với sâu bệnh, với điều kiện thời tiết bất lợi thì việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật như: thời vụ, mật độ, tưới tiêu, bón phân…cũng đang được chú trọng trong quá trình sản xuất trong đó việc sử dụng vật liệu che phủ cho bí có ý nghĩa hết sức to lớn, mang lại năng suất, chất lượng cao, tránh sự phá hoại của sâu bệnh và bảo vệ môi trường

Vụ Đông năm 2004, huyện Hậu Lộc là huyện đầu tiên và duy nhất của tỉnh Thanh Hoá trồng thử nghiệm thành công giống bí ngồi có năng suất, chất lượng cao, cho thu nhập hơn 50 triệu đồng/ha/vụ

Năm 2006, diện tích trồng bí ngồi ở Hải Dương 2.138 ha, năng suất đạt 21,1 tấn, sản lượng 45,169 tấn

Theo tiến sĩ Đào Xuân Thảng, phó viện trưởng viện cây lương thực Việt Nam thì cây bí ngồi phù hợp với vụ Thu Đông và vụ Xuân Hè Giống cho Năng

Trang 22

suất cao Vụ Thu Đông đạt 45-48 tấn/ha, vụ Xuân Hè đạt 50-55 tấn/ha Bí là loại cây trồng có giá trị kinh tế cao và có giá trị sử dụng đa dạng về nhiều mặt

Cây bí ngồi đã và đang được sản xuất và mở rộng quy mô lớn đáp ứng nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước

1.3.3 Tình hình sản xuất bí ở Nghệ An

Trong những năm gần đây các mô hình trồng bí thâm canh theo hướng sạch,

an toàn cho người tiêu dùng đã và đang được áp dụng, đưa vào sản xuất hầu hết các huyện trên địa bàn Tỉnh Nghệ An Thành công từ các mô hình trồng bí ngoài việc đem lại thu nhập cao cho bà con nông dân còn góp phần đẩy mạnh việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, tạo ra các sản phẩm hàng hoá, chất lượng cao

Năm 2007 Xã Tân Sơn, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An có tổng diện tích 513

ha, trong đó diện tích chuyên rau màu có 92 ha Với cơ cấu trên diện tích màu chỉ trồng một vụ xuân bí xanh, sau đó trồng rau hè thu rồi đến cây vụ đông Hoặc sau thu hoạch bí xanh là trồng lúa hè thu và tiếp đến vụ đông, nhờ vậy giúp tránh được tình trạng đất bị xơ cứng Với cách làm này, các loại cây trồng ở xã Tân Sơn luôn đạt năng suất cao Cây bí xanh gieo hạt từ cuối tháng 12 âm lịch, khoảng nửa tháng giêng đem trồng và thu hoạch vào tháng 3 năm sau Với cây bí xanh trồng vụ xuân, nhiều năm gần đây, trên diện tích 1 sào có thể cho thu hoạch từ 2- 2,5 tấn quả Ở xóm 7, xóm 8, có 80% số hộ trồng bí xanh tại vườn nhà, nhà ít 1 sào, nhiều nhất 4 sào Mỗi vụ bí xanh ở đây thu hoạch khoảng 500 tấn bí Những năm được mùa có thể đạt năng suất cao hơn nữa [18]

Tháng 6/2011 Trạm Khuyến nông Quỳ Hợp đã triển khai mô hình trồng thử nghiệm giống bí xanh NV45 tại xóm Sơn Thành, xã Tam Hợp, quy mô 3ha với 30

hộ tham gia Bước đầu mô hình đã đem lại hiệu quả thiết thực Trong quá trình triển khai thực hiện mặc dù gặp điều kiện thời tiết bất lợi và xuất hiện một số loại sâu bệnh Nhưng nhờ áp dung đúng các quy trình kỹ thuật, được đầu tư chăm sóc tốt cho nên cây sinh trưởng và phát triển tốt cho năng suất cao, chất lượng tốt Bình quân cho năng suất từ 3-4 tạ quả/sào mỗi lứa Đầu ra được thị trường tiêu thụ ổn định với giá sản phẩm hiện tại các thương lái thu mua tại chỗ 4.500 - 5.000 đồng/kg Phương

Trang 23

thức trồng và phát triển cây bí xanh trên đất màu, vườn cao không chủ động được nước, rất phù hợp với điều kiện sản xuất của bà con nông dân và đã thực sự là những mô hình phát triển kinh tế đạt hiệu quả cao ở Sơn Thành

(Nguồn: Tổng cục thống kê Nghệ An, 2008)

Nhìn vào bảng trên ta có thể thấy diện tích trồng cũng như năng suất, sản lượng bí ở Nghệ An không ngừng tăng lên qua các năm

1.4 Tình hình nghiên cứu, sử dụng vật liệu che phủ cho cây trồng trên thế giới và ở Việt Nam

Trang 24

theo Buldelman (1989) kết quả nghiên cứu cho thấy che phủ đất có tác dụng rất tốt đến việc tăng độ ẩm trong đất [23].

Cheng Dong Wean (1990) cho biết các tỉnh miền Bắc Trung Quốc kỹ thuật che phủ trồng lạc bằng nilông đã mở ra thời vụ trồng lạc xuân sớm khi nhiệt độ còn thấp mặt khác kỹ thuật này đã tăng năng suất lạc lên 36,6% [21]

Còn ở Ấn Độ (1997) nhiều công trình nghiên cứu cho thấy năng suất lạc trồng thí nghiệm che phủ nilon đã đạt từ 5,4-9,5 tấn/ha trong khi đó năng suất trung bình trồng đại trà không áp dụng kỹ thuật che phủ chỉ đạt 2,6 tấn/ha Tại Hàn Quốc nhờ kết hợp các biện pháp kỹ thuật cùng với việc che phủ nilông thì đầu năm 1990 năng suất lạc tăng gấp 4 lần so với năm 1960 [22]

Duan Shufen (1999) khi nghiên cứu về kỹ thuật che phủ nilông cho lạc đã khẳng định kỹ thuật che phủ nilon làm tăng nhiệt độ đất, duy trì độ ẩm, cải thiện kết cấu đất, tạo môi trường thuận lợi cho vi sinh vật hoạt động, hạn chế sự thoát hơi nước và dinh dưỡng, tăng khả năng phát triển của hệ thống rễ, làm cho cây sinh trưởng phát triển tốt và cho năng suất cao[22]

1.4.2 Ở Việt Nam

Việt Nam là một nước có nền nông nghiệp từ lâu đời chính vì vậy mà các kiến thức, kinh nghiệm của bà con nông dân đã góp một phần không nhỏ vào sự thành công của các công trình nghiên cứu khoa học nông nghiệp Các nghiên cứu về vật liệu che phủ cho cây trồng hướng nền nông nghiệp Việt Nam theo hướng bền vững và đạt hiệu quả kinh tế cao đang ngày càng được chú trọng

Theo Trần đình Long và cộng sự (1999) khẳng định lạc trồng che phủ nilông mọc nhanh, phân cành sớm, sinh trưởng khoẻ, tỷ lệ chín cao, rút ngắn thời gian sinh trưởng 8 ÷ 10 ngày, năng suất tăng từ 30 ÷ 60%, trên diện tích hẹp có thể lên tới 80% so với không che phủ [6]

Theo ThS Hà Đình Tuấn, et al (2004) qua nghiên cứu “Áp dụng các biện

pháp che phủ đất phục vụ phát triển bền vững nông nghiệp vùng cao” kết quả cho

Trang 25

thấy che phủ đất là một biện pháp hữu hiệu tăng năng suất cây trồng 13,9% đối với lạc, 62,6 % đối với ngô, 42,6 % đối với sắn Và che phủ làm giảm mức độ xói mòn

từ 73% ÷ 94% so với không che phủ Ngoài ra nghiên cứu còn cho thấy sử dụng vật liệu che phủ cho ngô trên đất dốc đã giảm đáng kể sự phát triển của cỏ dại Cụ thể là trong công thức đối chứng không che phủ lượng cỏ dại rất lớn (1704,2 kg/ha/vụ), còn các công thức che phủ thì lượng cỏ dại thấp hơn hẳn Đặc biệt trong công thức phủ thân ngô và rơm, lượng cỏ dại giảm xuống chỉ còn 1/3 so với không phủ [10]

Theo PGS.TS Đoàn Thị Thanh Nhàn, et al (2004), khi nghiên cứu xây dựng

quy trình trồng xen đậu tương và lạc (điều kiện có che phủ nilông tự hủy) với mía vụ Đông Xuân Vùng khô hạn miền Trung cho kết quả rằng: Trong điều kiện che phủ nilông tự hủy cho cây trồng xen là lạc, đậu tương không những giúp cho lạc và đậu tương mọc mầm nhanh mà còn làm giảm lượng nước bốc hơi ở ruộng mía Trên

cơ sở đó giúp cho cây mía có đủ ẩm để mọc mầm nhanh và sớm, tỷ lệ mọc mầm ở công thức có trồng xen đậu tương đạt 79,90%, xen lạc đạt 77,67%, trong khi đó ở công thức đối chứng không trồng xen chỉ đạt 66,95%

Trồng xen lạc, đậu tương (có che phủ nilông tự hủy) với mía, đã cho mía, lạc, đậu tương đều sinh trưởng tốt, không có sự cạnh tranh về dinh dưỡng và ánh sáng giữa các cây trồng

Ngoài ra thì trong điều kiện trồng xen (che phủ ni lông tự hủy) đất mía được tăng độ ấm, ẩm, tạo điều kiện mía sinh trưởng tốt do đó có số lóng, đường kính thân, chiều cao phát triển tốt hơn hẳn đối chứng (trồng thuần), mức độ sâu bệnh hại giảm, đặc biệt là sâu đục thân, lụy (ấu trùng xén tóc), mức độ hại ít hơn so với trồng thuần Đặc biệt là năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của cây trồng xen và mía đều cao hơn hẳn so với đối chứng trồng thuần [7]

Theo Nguyễn Quang Tin, et al (2005), đã nghiên cứu sử dụng các loại vật

liệu che phủ đất phục vụ sản xuất ngô bền vững trên đất dốc ở Huyện Văn Chấn Tỉnh Yên Bái: Cho kết luận rằng che phủ đất dốc bằng xác hữu cơ có tác dụng rõ rệt đến hạn chế rửa trôi, xói mòn đất giảm 18,9% ÷ 94,8 % lượng đất bị xói mòn

Trang 26

so với đối chứng (không che phủ) Và nghiên cứu cũng cho kết luận rằng các loại vật liệu che phủ đều cho năng suất ngô cao hơn so với đối chứng tăng từ 8,9 ÷ 54,41% [9]

Trong năm 2006, trung tâm ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ Bắc Giang triển khai thử nghiệm mô hình trồng lạc vụ thu đông bằng phương pháp che phủ xác thực vật (rơm rạ, trấu, thân cây ngô, lạc ) khẳng định phương pháp này có nhiều ưu điểm như tận dụng nguyên liệu sẵn có, tiết kiệm chi phí, tránh ô nhiễm môi trường

Theo Vũ Ngọc Thắng, Vũ Đình Chính (2006), khi nghiên cứu ảnh hưởng của một số vật liệu che phủ (nilông, rơm rạ, trấu, thân lá ngô) đến sinh trưởng, phát triển, năng suất của giống lạc L14 trong điều kiện vụ thu trên đất Gia Lâm - Hà Nội cho kết luận rằng: các công thức che phủ giữ được độ ẩm cao và ổn định hơn so với không che phủ Khi được che phủ đã làm giảm lượng nước bốc hơi qua bề mặt đất Các vật liệu che phủ đã làm giảm nhiệt độ của ánh sáng mặt trời khi chiếu xuống đất Trong các vật liệu che phủ thì nilông có khả năng giữ được độ ẩm tốt nhất, tiếp đến là trấu Mặt khác năng suất cá thể, năng suất lý thuyết, năng suất thực thu ở các công thức che phủ cao hơn công thức không che phủ và đạt cao nhất ở công thức che phủ nilông [8]

Theo Lê Quốc Doanh (2007), kết quả nghiên cứu cho thấy trên đất dốc nếu càng được cày bừa kỹ và dọn sạch thì càng nhanh bị thoái hoá do xói mòn và rửa trôi Che phủ đất tăng thu nhập, giảm đầu tư, cải thiện đời sống nông dân vùng cao; đồng thời giảm nhẹ gánh nặng cho phụ nữ và trẻ em khỏi những lao động nặng nhọc như phải làm đất, dọn cỏ, bón phân vừa bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường [13]

Theo Phạm Văn Linh (2007), khi nghiên cứu đặc tính lý hoá của đất cát ven biển điển hình vùng duyên hải Bắc Trung Bộ bằng các phương pháp che phủ cho đất trồng lạc và hiệu quả kinh tế của nó cho kết quả rằng: Mật độ cây mọc, trọng lượng trăm quả, trọng lượng trăm hạt, năng suất lý thuyết, năng suất quả khô ở các

Trang 27

công thức có che phủ (nilông, rơm rạ) đều cao hơn so với công thức đối chứng (không che phủ) Ngoài ra còn cho kết luận rằng che phủ cho lạc bằng rơm rạ, nilông đã đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với đối chứng từ 700.000 ÷ 900.000 đồng/ha [5]

Theo Nguyễn Thị Ngọc Bình, et al (2008), Qua nghiên cứu “sử dụng vật liệu

hữu cơ phủ ( che phủ bằng rơm rạ, tế, cỏ ghi - nê, cỏ dại tổng hợp) cho một số loại hình chè Trung Quốc nhập nội” và đưa ra kết quả là độ ẩm trung bình của các công thức che phủ luôn cao hơn so với đối chứng Trung bình độ ẩm ở các công thức che phủ đạt từ 27,8% ÷ 29,32% trong khi đó công thức đối chứng chỉ là 22,95% Ngoài

ra nghiên cứu còn cho kết luận sản lượng chè cho thu hoạch các công thức che phủ

so với công thức không che phủ tăng từ 22,7% ÷ 58,8% (tương đương 2,3-3,0 tấn/ha)

Việc che phủ trong sản xuất lạc tại các tỉnh Bắc Trung Bộ là phổ biến Che phủ cho lạc có tác dụng hạn chế cỏ dại, giảm công chăm sóc, vun xới, bón phân tập trung làm tăng thu nhập cho nông dân [3]

Theo Vũ Văn Liết (2009), khi nghiên cứu tuyển chọn giống và vật liệu che phủ thích hợp (nilông tự huỷ, nilông thường, rơm rạ) cho cây cà tím tại xã Giao Liêm – Sơn Động - Bắc Giang cho kết luận rằng: Khi sử dụng vật liệu che phủ nilông cho cà tím thì cà tím có chiều dài, chiều rộng, khối lượng quả, số quả/ cây cao hơn so với công thức đối chứng không che phủ và tăng khả năng giữ ẩm, chống hạn do đó làm năng suất tăng thêm từ 5,03 đến 7,18 tấn/ha Khi sử dụng vật liệu che phủ bằng rơm rạ là nguồn vật liệu có sẵn từ địa phương làm tăng năng suất và hiệu quả kinh tế từ việc trồng cà tím so với không che phủ là 10.540.000 đồng/ha [4]

Trang 28

Chương 2

VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu 2.1.1 Vật liệu nghiên cứu

* Nguồn gốc giống Bí ngồi F1 TN 220: là giống bí nhập nội, có nguồn gốc

từ Hàn Quốc

+ Đặc điểm hình thái:

- Dạng thân đứng, lá xẻ, thùy sâu, cuống lá dài, góc lá hẹp

- Dạng quả dài, màu vỏ quả xanh nhạt hoặc vàng nhạt

- Chiều cao cây 60 – 65 cm

- Thích hợp trồng quanh năm, những thời vụ khác nhau

- Thời gian sinh trưởng 60 –70 ngày

- Tỷ lệ đậu quả từ 6-7 quả, trọng lượng mỗi quả từ 2-3 kg

- Năng suất bình quân: 1.200 – 1.400 kg/sào

* Các loại vật liệu che phủ sử dụng trong thí nghiệm

+ Vật liệu che phủ nilông (nilon) + Vật liệu che phủ là thân lá lạc + Vật liệu che phủ là rơm + Vật liệu che phủ là trấu mun + Vật liệu che phủ là thân lá lạc + rơm+ rác hữu cơ

2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Thí nghiệm được tiến hành trên đất cát pha tại trại thực nghiệm Nông học -

xã Nghi Phong - Huyện Nghi Lộc - Tỉnh Nghệ An

Một số chỉ tiêu sinh trưởng, các yếu tố cấu thành năng suất được tiến hành trong phòng thí nghiệm bộ môn khoa học cây trồng - Khoa Nông Lâm Ngư - Đại học Vinh

Trang 29

Thời gian tiến hành:

Ngày 23/10/2011: Làm cỏ, cày đất Ngày 24/10/2011: Lên luống, bón lót Ngày 25/10/2011: Gieo hạt

Ngày 21/12/2011: Thu hoạch lần 1 Ngày 04/01/2012: Thu hoạch lần 2, kết thúc thí nghiệm

2.2 Nội dung nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu với các nội dung sau:

- Nghiên cứu ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến quá trình sinh trưởng, phát triển của giống Bí ngồi F1 TN 220

- Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại vật liệu che phủ đến các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất của giống Bí ngồi F1 TN 220

- Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại vật liệu che phủ đến khả năng chống chịu sâu bệnh của giống bí ngồi F1 TN 220

2.3 Phương pháp bố trí thí nghiệm 2.3.1 Công thức thí nghiệm

Thí nghiệm gồm 6 công thức, với 3 lần nhắc lại theo kiểu RCB (theo khối ngẫu nhiên đầy đủ )

Thí nghiệm gồm 6 công thức với các loại vật liệu che phủ khác nhau:

Công thức I: Không che phủ (Đối chứng ) Công thức II: Phủ thân lá lạc

Công thức III: Phủ rơm Công thức IV: Phủ mun trấu Công thức V: Phủ nilông Công thức VI: Phủ thân lá lạc + rơm + rác hữu cơ

Trang 30

2.3.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm

2.3.3 Diện tích thí nghiệm

Diện tích mỗi ô thí nghiệm: 10 m2

Trang 31

2.4.2 Chuẩn bị giống

Giống bí ngồi là một trong những nhân tố quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất cây trồng, đến hiệu quả kinh tế Chính vì vậy mà chúng ta cần có biện pháp hợp lý trong ngâm ủ, xử lý hạt giống trước khi gieo

Phơi hạt giống dưới nắng nhẹ Chọn hạt giống: Khỏe mạnh, sạch sâu bệnh, loại bỏ hạt lép, hạt kém chất lượng

Xử lý hạt giống : Ngâm hạt giống vào nước ấm 35 ÷ 40oC khoảng 2 tiếng sau đó vớt ra, để ráo rồi mang đi gieo

2.4.3 Làm đất

Ruộng thí nghiệm được làm trên chân đất cát pha, có thành phần cơ giới nhẹ,

dễ thoát nước Đất trồng cần cày bừa kỹ, cuốc lật, nhặt sạch cỏ dại

Xung quanh khu đất thí nghiệm cần dọn dẹp sạch sẽ tránh sự ẩn nấp của sâu bệnh hại

Lên luống: Sau khi làm đất xong thì tiến hành lên luống, chia khu thí nghiệm thành các luống theo công thức thí nghiệm Lên luống cao nhằm thoát nước, tránh ngập úng cho cây khi có mưa lớn

Lên luống rộng : 0,9 m Lên luống dài : 1,1m

2.4.4 Mật độ trồng

Mỗi ô thí nghiệm trồng 1 hàng Mật độ 10 cây/hàng, mỗi hàng đo 5 cây Cây cách cây: 0,7m

Hàng cách hàng: 1,1m Mật độ cây/ha: 12.987 cây/ha Tiến hành giặm cây khi cây có 2-3 lá thật (khoảng 10 ngày sau mọc) để bảo đẩm mật độ cho thí nghiệm

2.4.5 Kỹ thuật bón phân

Trước khi làm đất 1-2 ngày ta tiến hành bón vôi để xử lý đất

Trang 32

Bón phân cho bí ngồi được chia làm 3 đợt:

Bón lót: Sau khi rạch hàng bón phân trực tiếp vào hố: 100% phân chuồng + 100% phân vi sinh + 100% phân Lân Sau đó tiến hành lấp một lớp đất mỏng để tránh sự tiếp xúc của hạt bí với phân gây thối hạt, nhiễm bệnh đảm bảo cho tỉ lệ nảy mầm là cao nhất

Bón thúc lần 1: Sau khi trồng 20-25 ngày ta tiến hành bón thúc cho bí Lượng bón: 50% N + 50% K Bón phân kết hợp với vun gốc nhẹ cho cây, giúp bộ

rễ bám sâu vào đất, cấy hấp thụ dinh dưỡng tốt hơn Bón phân lúc này nhằm cung cấp dinh dưỡng kịp thời cho cây con sinh trưởng phát triển

Bón thúc lần 2: Sau trồng 35-40 ngày Bón 50% N + 50% K lượng phân còn lại

Sau mỗi lần thu hái, ta có thể bổ sung thêm dinh dưỡng cho cây bằng phương pháp bón qua rễ qua lá

Chú ý: Khi bón phân nếu trời không mưa ta nên kết hợp tưới nước và khi bón thì tránh sự tiếp xúc của phân với tán lá

2.4.6 Vật liệu che phủ

Sau khi gieo xong thì tiến hành che phủ cho bí theo các công thức thí nghiệm

Chúng ta cần phải chuẩn bị các loại vật liệu che phủ trước khi gieo 1 ngày để chủ động che phủ tránh gặp mưa ngay sau trồng ảnh hưởng đến hạt giống

Đối với vật liệu che phủ là nilon thì chúng ta có thể mua mới hoặc dùng lại

từ nilon che phủ cho mạ, cho cây trồng khác để tiết kiệm chi phí đầu vào

Đối với vật liệu che phủ là rơm rạ chúng ta cần chặt nhỏ thành từng đoạn khoảng 20-25cm Nhằm che phủ kín được cả luống thí nghiệm và chủ động cho việc làm cỏ, tưới tiêu, bón phân cho cây

Đối với vật liệu là thân lá cây lạc thì ta cũng chặt nhỏ thành các đoạn ngắn và cần dữ trữ một lượng vật liệu này để chủ động đề phòng khi có mưa

Đối với rác hữu cơ có thể mua ở các công ty rác Loại rác này đã được xử lý

và ngoài tác dụng che phủ nó còn cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng

Trang 33

Vật liệu là mun trấu thì sử dụng trấu sau đó hun khói để diệt mầm mống sâu bệnh Nên đốt trước 1 ngày để đảm bảo mun trấu đã nguội không gây ảnh hưởng tới hạt giống và trong quá trình đốt không để lửa to sẽ làm cho trấu biến thành tro, làm giảm tác dụng che phủ của mun trấu

2.4.7 Chăm sóc

 Vun xới và làm cỏ:

Lần thứ 1: Khi cây hồi xanh sau khi trồng khoảng 20-25 ngày tiến hành xới phá váng, vun nhẹ kết hợp làm cỏ, bón thúc lần 1

Lần thứ 2: Khi cây ra hoa, sau khi trồng khoảng 35- 40 ngày tiến hành xới nhẹ, vun cao kết hợp làm cỏ, bón thúc lần 2

Trong qua trình làm cỏ, vun xới cần phải nhẹ nhàng tránh làm tổn thương bộ

rễ tạo điều kiện cho sâu bệnh xâm nhập gây ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng, phát triển và làm giảm năng suất của cây trồng

 Tỉa cây, tỉa cành, tỉa lá, buộc cây, thụ phấn bổ sung, lót quả

- Tỉa cây: Tán cây Bí ngồi rất rộng, nên ta tiến tỉa bớt cây khi mật độ dày, chỉ nên để mật độ cây cách cây 70-80 cm, làm cho không khí trong tán cây, trong khu đất trồng được thoáng mát, ánh sáng đảm bảo cho cây quang hợp được tốt, hạn chế được sâu bệnh hại

- Tỉa cành: Cắt bỏ thân cây phụ mọc từ nhánh thân chính giữ 1 thân cây chính nhằm để tập trung dinh dưỡng cho thân chính Khi tỉa chú ý không làm tổn thương thân, lá của thân chính tránh sự xâm nhiễm của sâu bệnh và nước mưa

- Tỉa lá: Loại bỏ những lá già, lá bị sâu bệnh, vàng, héo, giữ lại lượng lá nhất

Trang 34

- Buộc cây: Bí ngồi có thân cây mọng nước nên khá yếu nếu gặp gió, mưa to nên ta thực hiện buộc cây giúp cây đứng vững hơn, không bị đỗ ngã sẽ tạo điều kiện xâm nhập sâu bệnh từ đất và gây thối quả

- Thụ phấn bổ sung: Bí ngồi là loại có hoa đơn tính cùng gốc, hoa đực hoa cái riêng biệt, nở không đồng loạt nên khi gặp điều kiện không thuận lợi như mưa, gió, côn trùng như ong, bướm ít xuất hiện sẽ ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu quả, dẫn đến năng suất thấp vì thế ta phải tiến hành thụ phấn bổ sung Ta tiến hành thụ phấn bổ sung vào 7 ÷ 9 giờ sáng Cách làm là lấy hoa đực ngắt hết cánh rồi cầm hoa đực xát nhẹ lên đầu nhụy hoa cái Tuy nhiên cách này còn hạn chế vì nó gây tổn thương cho cây nên chúng ta có thể dùng que bông sạch lấy phấn ở đầu hoa đực đã nở hết sang thụ phấn cho hoa cái

- Lót quả: Dùng xốp, cỏ khô, rơm rạ nhằm ngăn cách quả bí tiếp xúc với đất gây hiện tượng thối quả, sự xâm nhập của sâu bệnh tới quả ảnh hưởng đến năng suất, phẩm chất của quả

 Phòng trừ sâu bệnh:

Một số sâu bệnh hại trên bí ngồi:

- Sâu đất, sâu xám hại bí ở giai đoạn cây con, từ khi mọc đến lúc cây có 2 ÷ 3

lá thật biện pháp hữu hiệu là bắt giết vào lúc sang sớm hoặc chiều tối

- Sâu róm, sâu xanh ăn lá chúng thường ăn bề mặt lá làm giảm hiệu suất quang hợp của cây biện pháp phòng trừ là bắt giết

- Bệnh thối thân, thối cổ rễ, héo xanh, thối quả những bệnh này dễ lây lan nhờ gió, mưa và trong điều kiện thời tiết nóng ẩm Biện pháp chủ yếu là làm sạch cỏ dại, tỉa bớt cành, lá già ,lá vàng tạo sự thông thoáng cho ruộng, tỉa các lá bị bệnh hạn chế sự lây lan của bệnh và cần phun thuốc kịp thời khi bệnh xuất hiện [19]

- Bệnh phấn trắng: do nấm Erysiphe cichoarcearum gây ra Bệnh xuất hiện

phá hại ngay từ thời kỳ cây con Bệnh nặng lớp phấn trắng xuất hiện trên cả thân, cành, hoa làm hoa khô và chết Cây bị bệnh sinh trưởng yếu, phẩm chất kém, năng suất thấp

- Bệnh giả sương mai do nấm Pseudoperonospora cubensis gây ra Bệnh

phát sinh gây hại trên tất cả các bộ phận của cây, nhưng phổ biến nhất là trên lá

Trang 35

Bệnh nặng gây rách các mô tế bào, thậm chí làm lá biến dạng, cây phát triển yếu, toàn lá héo khô và chết

+) Biện pháp quản lý bệnh:

- Vệ sinh đồng ruộng, ngắt bỏ lá bị bệnh thu gom đem tiêu hủy

- Lên luống cao, thoát nước tốt để tránh ẩm độ cao trên ruộng

- Trồng mật độ hợp lý, không trồng quá dày dễ làm cho bệnh gây hại nặng

- Chọn giống tốt, sạch, có khả năng kháng bệnh

- Dọn sạch tàn dư cây bệnh sau khi thu hoạch

- Xử lý hạt giống bằng những loại thuốc đặc hiệu cho từng loại bệnh trước khi trồng

- Có thể dùng một số loại thuốc BVTV để phun trừ khi bệnh chớm xuất hiện

và gặp điều kiện thời tiết thuận lợi cho sự phát sinh gây hại của bệnh:

+ Score, Topsin M, Anvil để phun trừ bệnh phấn trắng

+ Mataxyl, Aliette, Ridomil Gold, Agri-phos, Phosphonate để phun trừ bệnh giả sương mai

Chú ý: Khi phun phải đảm bảo đủ lượng nước và liều lượng khuyến cáo [14]

2.5 Các chỉ tiêu theo dõi ngoài đồng ruộng và phương pháp theo dõi 2.5.1 Các giai đoạn phát triển của Bí ngồi

+ Thời gian và tỷ lệ mọc mầm:

- Thời gian mọc mầm: Từ khi gieo đến 50% số cây mọc

- Tỷ lệ mọc mầm (%) = (số cây mọc/ tổng số hạt gieo)*100 + Thời gian từ gieo đến khi cây có 3 lá: Tính từ ngày trồng đến khi có 50 % số cây trong ô thí nghiệm có 3 lá

+ Thời gian từ trồng đến ra hoa: Tính từ ngày trồng đến khi có 30 % số cây trong ô thí nghiệm có số hoa nở

+ Thời gian từ trồng đến ra hoa rộ: Tính từ ngày trồng đến khi có 70 - 80 %

số cây trong ô thí nghiệm có hoa nở

+ Thời gian từ trồng đến đậu quả: Tính từ ngày trồng đến khi có 70 - 80 % số cây trong ô thí nghiệm đậu quả đầu tiên

Trang 36

+ Thời gian từ trồng đến khi thu hoạch: Tính từ ngày trồng đến khi trong ô thí nghiệm có quả cho thu hoạch đợt một đạt 70 %

+ Thời gian từ trồng đến khi kết thúc thu hoạch: Tính từ ngày trồng đến khi trong ô thí nghiệm các cây đều cho thu hoạch đạt 100%

+ Thời gian sinh trưởng được tính từ khi gieo hạt đến khi thu hoạch quả lần cuối

2.5.2 Các chỉ tiêu sinh trưởng phát triển

+ Chiều cao cây (cm): Đo từ gốc đến đỉnh sinh trưởng ngọn, theo dõi 5 cây trên mỗi ô thí nghiệm Đo từ khi cây có 4 lá, sau đó 7 ngày đo 1 lần

+ Số lá trên thân chính: Mỗi ô thí nghiệm theo dõi 5 cây đã được đánh dấu trước Định kỳ 7 ngày theo dõi 1 lần

+ Đường kính cây (cm): Đo đường kính bề ngang của cây, sự vươn dài của tán lá Đo từ mút điểm lá dài nhất bên này, đến điểm mút dài nhất của lá bên kia

2.5.3 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất

- Theo dõi số hoa đực, hoa cái/cây

- Tỷ lệ đậu quả/cây

- Đếm tổng số quả/cây

- Khối lượng quả/cây

- Năng suất cá thể

- Năng suất lý thuyết (NSLT) (tạ/ha) = NSCT  Mật độ  10000 m2

- Năng suất thực thu (NSTT) (tạ/ha) =

Năng suất ô

x 10.000 m2Diện tích ô

2.5.4 Tình hình sâu bệnh

- Sâu hại + Sâu róm ăn lá: Theo dõi 5 cây ngẫu nhiên/ô thí nghiệm, đếm số sâu róm trên cây Điều tra định kỳ, mỗi lần cách nhau 1 tuần

- Bệnh hại

Ngày đăng: 21/08/2023, 01:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Nguyễn Thanh Bình, Hoàng Văn Điếm, Trần Đức Hạnh, Lê Quang Vĩnh (2005), Giáo trình khí tượng Nông nghiệp. Nhà xuất bản nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình khí tượng Nông nghiệp
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình, Hoàng Văn Điếm, Trần Đức Hạnh, Lê Quang Vĩnh
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp
Năm: 2005
[2]. Nguyễn Ngọc Bình, Lê Quốc Doanh (2008), nghiên cứu vật liệu che phủ cho một một số loại hình chè trung quốc nhập nội. Kết quả nghiên cứu và chuyển giao công nghệ giai đoạn 2001 - 2005 viện khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía bắc Sách, tạp chí
Tiêu đề: nghiên cứu vật liệu che phủ cho một một số loại hình chè trung quốc nhập nội
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bình, Lê Quốc Doanh
Năm: 2008
[3]. Nguyễn Thị Ngọc Bình, Hà Đình Tuấn, Lê Quốc Doanh (2008) nghiên cứu sử dụng vật liệu hữu cơ phủ ( che phủ bằng rơm rạ, tế, cỏ ghi - nê, cỏ dại tổng hợp) cho một số loại hình chè Trung Quốc nhập nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: nghiên cứu sử dụng vật liệu hữu cơ phủ ( che phủ bằng rơm rạ, tế, cỏ ghi - nê, cỏ dại tổng hợp) cho một số loại hình chè Trung Quốc nhập nội
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Bình, Hà Đình Tuấn, Lê Quốc Doanh
Năm: 2008
[4]. Vũ Văn Liết, Nguyễn Mai Thơm, Nguyễn Ngọc Dũng (2009), nghiên cứu tuyển chọn giống và vật liệu che phủ thích hợp (nilông tự huỷ, nilông thường, rơm rạ) cho cây cà tím tại xã Giao Liêm - Sơn Động - Bắc Giang. Tạp chí khoa học và phát triển 2009, tập 7, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: nghiên cứu tuyển chọn giống và vật liệu che phủ thích hợp (nilông tự huỷ, nilông thường, rơm rạ) cho cây cà tím tại xã Giao Liêm - Sơn Động - Bắc Giang
Tác giả: Vũ Văn Liết, Nguyễn Mai Thơm, Nguyễn Ngọc Dũng
Nhà XB: Tạp chí khoa học và phát triển
Năm: 2009
[6]. Trần Đình Long, Nguyễn Thị Chinh, Nguyễn Văn Thông, Hoàng Minh Tâm (1999), Tổng quan tình hình nghiên cứu và phát triển kỹ thuật tiến bộ trồng lạc ở Việt Nam trong thời gian qua và phương hướng trong thời gian tới. Hội thảo về kỹ thuật trồng lạc tổ chức tại Thanh Hoá từ 2-4/6/1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan tình hình nghiên cứu và phát triển kỹ thuật tiến bộ trồng lạc ở Việt Nam trong thời gian qua và phương hướng trong thời gian tới
Tác giả: Trần Đình Long, Nguyễn Thị Chinh, Nguyễn Văn Thông, Hoàng Minh Tâm
Năm: 1999
[7]. Đoàn Thị Thanh Nhàn, Vũ Đình Chính, Bùi Xuân Sửu, ThS. Nguyễn Mai Thơm (2004), nghiên cứu xây dựng quy trình trồng xen đậu tương và lạc (điều kiện có che phủ nilông tự hủy) với mía vụ Đông Xuân - Vùng khô hạn miền Trung Sách, tạp chí
Tiêu đề: nghiên cứu xây dựng quy trình trồng xen đậu tương và lạc (điều kiện có che phủ nilông tự hủy) với mía vụ Đông Xuân - Vùng khô hạn miền Trung
Tác giả: Đoàn Thị Thanh Nhàn, Vũ Đình Chính, Bùi Xuân Sửu, ThS. Nguyễn Mai Thơm
Năm: 2004
[9]. Nguyễn Quang Tin, Lê Quốc Doanh, Hà Đình Tuấn (2005), Nghiên cứu sử dụng các loại vật liệu che phủ đất phục vụ sản xuất ngô bền vững trên đất dốc ở Huyện Văn Chấn Tỉnh Yên Bái Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sử
Tác giả: Nguyễn Quang Tin, Lê Quốc Doanh, Hà Đình Tuấn
Năm: 2005
[10]. Hà Đình Tuấn, Lê Quốc Doanh và CTV (2004) nghiên cứu áp dụng các biện pháp che phủ đất phục vụ phát triển bền vững nông nghiệp vùng cao Sách, tạp chí
Tiêu đề: nghiên cứu" á
[21]. Chen Dong Wean (1990), Review of groundnut production development in ShangDong province. Peanut science and technique, tr 12-14.h Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Review of groundnut production development in ShangDong province
Tác giả: Chen Dong Wean
Năm: 1990
[22]. International Arachis New sletter (1997), New and view IRISAT. Patancheru, 502324 .Andhra Pradesh India No 17, tr 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: New and view IRISAT
Tác giả: International Arachis New sletter
Năm: 1997
[23]. Lai, R. 1977. Soil convering versus soil-degrading crops and soil management for erosion control. In: As above, PP.81-86 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Soil convering versus soil-degrading crops and soil management for erosion control
Tác giả: R. Lai
Năm: 1977
[5]. Phạm Văn Linh (2007), Nghiên cứu đặc tính lý hoá của đất cát ven biển điển hình vùng duyên hải Bắc Trung Bộ bằng các phương pháp che phủ cho đất trồng lạc và hiệu quả kinh tế của nó Khác
[8]. Vũ Ngọc Thắng, Vũ Đình Chính (2006), nghiên cứu ảnh hưởng của một số vật liệu che phủ đến sinh trưởng, phát triển, năng suất của giống lạc L14 trong điều kiện vụ thu trên đất Gia Lâm - Hà Nội Khác
[11]. Đánh giá chất lượng đất chuyên lúa ở vùng đất cát ven biển huyện Nghi Lộc, Tạp chí khoa học và công nghệ Nghệ An Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w