1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tạo biểu tượng vầ nhân vật trong dạy học lịch sử việt nam ở lớp 11 thpt chương trình chuẩn

147 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tạo biểu tượng về nhân vật trong dạy học lịch sử Việt Nam ở lớp 11 THPT Chương trình chuẩn
Tác giả Hoàng Thị Cần
Người hướng dẫn PGS. TS. Trần Viết Thụ
Trường học Trường đại học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Luận văn thạc sĩ giáo dục học
Năm xuất bản 2012
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 147
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nam” của Nguyễn Quyết Thắng – Nguyễn Bá Thế , “Từ điển tri thức lịch sử phổ thông thế kỷ XX” do Phan Ngọc Liên chủ biên… Tất cả các công trình và tài liệu nêu trên là cơ sở quan trọng, c

Trang 1

HOÀNG THỊ CẦN

TẠO BIỂU TƢỢNG VỀ NHÂN VẬT

TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM

PGS.TS Trần Viết Thụ

Vinh-2012

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, đƣợc các tác giả cho phép

sử dụng và chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

TÁC GIẢ

HOÀNG THỊ CẦN

Trang 3

thành đến:

Ban Giám hiệu Trường Đại học Sài Gòn; Phòng tổ chức cán bộ Trường Đại học Sài Gòn; Ban Giám hiệu Trường Đại học Vinh; Phòng Đào tạo Sau Đại học Trường Đại học Vinh

Quý thầy cô trong Tổ Lý luận và Phương pháp dạy học môn Lịch sử, Khoa Lịch sử - Đại học Vinh; Thư viện Tổng hợp TP.HCM

đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện

đề tài

Các trường: Trường THPT Ngô Sĩ Liên, THPT Thống Nhất A (Đồng Nai) đã giúp đỡ tôi trong quá trình tiến hành thực nghiệm sư phạm

Đặc biệt, xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS TS Trần Viết Thụ đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành luận văn

Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, đồng nghiệp và bạn bè đã luôn

ở bên cạnh, quan tâm giúp đỡ và ủng hộ tôi

Vinh, tháng 09 năm 2012

Tác giả

Hoàng Thị Cần

Trang 5

39

Trang 6

TRANG PHỤ BÌA I Lời cam đoan II

Lời cảm ơn iii

Danh mục chữ viết tắt iv

Danh mục bảng v

Danh mục sơ đồ v

Mục lục 1

MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Lịch sử vấn đề 7

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 10

4 Mục đích nghiên cứu 11

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 11

6 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 12

7 Giả thuyết khoa học 13

8 Những đóng góp của luận văn 13

9 Cấu trúc luận văn 13

NỘI DUNG 14

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TẠO BIỂU TƯỢNG VỀ NHÂN VẬT TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN) 14

1.1 Cơ sở lý luận 14

1.1.1 Khái niệm “nhân vật lịch sử” 14

1.1.2 Biểu tượng lịch sử và phân loại biểu tượng 17

1.1.2.1 Khái niệm “biểu tượng” 17

1.1.2.2 Khái niệm “biểu tượng lịch sử” 19

1.1.2.3 Các loại biểu tượng lịch sử 22

1.1.3 Đặc điểm tâm lí HS THPT trong quá trình tạo biểu tượng nhân vật 28

Trang 7

1.1.4.2 Biểu tượng nhân vật lịch sử với việc bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm 34

1.1.4.3 Biểu tượng nhân vật lịch sử với việc phát triển tư duy HS 36

1.2 Cơ sở thực tiễn 41

1.2.1 Mục đích điều tra 41

1.2.2 Đối tượng điều tra 41

1.2.3 Phương pháp điều tra 41

1.2.4 Nội dung điều tra 42

1.2.5 Kết quả điều tra 42

1.2.5.1 Đối với GV 42

1.2.5.2 Đối với HS 46

CHƯƠNG 2: KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ CÁC NHÂN VẬT TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM Ở LỚP 11 – CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN 52

2.1 Vị trí, mục tiêu dạy học phần LSVN lớp 11 THPT 52

2.1.1 Vị trí 52

2.1.2 Mục tiêu 53

2.2 Nội dung cơ bản của LSVN (1858 – 1918) ở trường THPT 57

2.2.1 Sự khủng hoảng của chế độ phong kiến thời nhà Nguyễn và cuộc xâm lược Việt Nam của tư bản Pháp 57

2.2.2 Chính sách thống trị của thực dân Pháp ở Việt Nam và những tác động hai mặt của nó 58

2.2.3 Quá trình đấu tranh chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam 59

2.3 Các nhân vật lịch sử HS THPT cần nắm vững khi dạy học lịch sử Việt Nam (giai đoạn 1858-1918) 62

2.3.1 Nguyên tắc lựa chọn nhân vật lịch sử Việt Nam trong dạy học 62

2.3.1.1 Phải đảm bảo tính khách quan 62

2.3.1.2 Phải là những nhân vật cơ bản gắn với sự kiện cơ bản của bài học 62

2.3.1.3 Đảm bảo tính Đảng và tính khoa học khi lựa chọn nhân vật 63

2.3.1.4 Phù hợp với yêu cầu của chương trình và nội dung của bộ môn 65

Trang 8

2.4 Các kiến thức cơ bản về nhân vật lịch sử tiêu biểu cần tạo biểu tượng cho

HS trong chương trình lịch sử Việt Nam (1858-1918) ở trường THPT 69 CHƯƠNG 3: SỬ DỤNG BIỆN PHÁP TẠO BIỂU TƯỢNG VỀ NHÂN VẬT TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM Ở LỚP 11 90 3.1 Những yêu cầu chung khi sử dụng biện pháp tạo biểu tượng nhân vật 90 3.1.1 Đảm bảo tính chính xác, khoa học của các tài liệu về nhân vật lịch sử 90 3.1.2 Tạo biểu tượng nhân vật lịch sử phải chú trọng vai trò giáo dục và phát triển HS 94 3.1.3 Phát huy tính tích cực học tập của HS, góp phần đổi mới phương pháp dạy học trong quá trình tạo biểu tượng nhân vật lịch sử 95 3.1.4 Tạo biểu tượng nhân vật lịch sử phải đảm bảo tính trực quan sinh động101 3.1.5 Tạo biểu tượng trong dạy học nhân vật lịch sử phải đảm bảo tính cơ bản, điển hình và vừa sức 103 3.1.6 Tạo biểu tượng trong dạy học nhân vật lịch sử phải đảm bảo yêu cầu về mặt phương pháp dạy học 107 3.2 Một số biện pháp tạo biểu tượng nhân vật lịch sử trong bài nội khóa 109 3.2.1 Hình thành mối quan hệ giữa nhân vật lịch sử với không gian và thời gian 109 3.2.2 Sử dụng tiểu sử, những nhận định, đánh giá về nhân vật trong tạo biểu tượng nhân vật lịch sử 111 3.2.3 Kết hợp sử dụng tranh ảnh, chân dung nhân vật lịch sử với lời nói sinh động nhằm tạo biểu tượng nhân vật lịch sử 113 3.2.4 Sử dụng câu hỏi nhận thức, bài tập, kiểm tra kiến thức về nhân vật lịch

sử để tạo biểu tượng nhân vật 117 3.2.5 Sử dụng biện pháp “dùng người để chỉ việc” và “lấy việc để nói người” nhằm tạo biểu tượng nhân vật 122 3.2.6 Sử dụng tài liệu - sự kiện để tạo biểu tượng nhân vật 124 3.3 Thực nghiệm sư phạm 127

Trang 9

3.3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 127

3.3.2 Phương pháp thực nghiệm 127

3.3.3 Đối tượng thực nghiệm 127

3.3.4 Nội dung thực nghiệm 128

3.3.5 Kết quả thực nghiệm 128

KẾT LUẬN 132

TÀI LIỆU THAM KHẢO 135

PHỤ LỤC 142

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong dạy học lịch sử ở bậc THPT, việc hình thành tri thức, giáo dục tư tưởng tình cảm và rèn luyện các kĩ năng cho HS qua dạy học các nhân vật lịch sử đóng vai trò quan trọng Dạy học nhân vật lịch sử không chỉ là truyền đạt kiến thức

mà còn giúp HS nhận thức một cách sâu sắc vai trò của nhân vật liên quan đến sự kiện và mối quan hệ của nhân vật với hoàn cảnh lịch sử Đây là phương pháp cần thiết giúp cho HS lĩnh hội kiến thức đầy đủ và tích cực Nhưng thực tế có không ít

HS phổ thông chưa hiểu rõ và đánh giá đúng về nhân vật lịch sử, kể cả các nhân vật tiêu biểu trong lịch sử dân tộc, nhầm lẫn nhân vật này với nhân vật khác Nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó có nhiều nhưng có lẽ trước hết vẫn là do GV không thực hiện tốt các phương pháp dạy học về nhân vật lịch sử Một số GV khi giảng dạy các nhân vật lịch sử thường hay mắc phải những thiếu sót như “thần thánh hóa” hoặc sa đà vào các chi tiết vụn vặt, ly kì về đời tư của nhân vật, không coi trọng việc hiểu đúng và đánh giá khoa học về nhân vật lịch sử là một yêu cầu quan trọng của việc nắm kiến thức lịch sử của HS Do vậy, sự nhận thức lịch sử của HS không sâu sắc, sai lệch và dĩ nhiên ảnh hưởng đến thái độ, tư tưởng, tình cảm và hành động của các em trong cuộc sống

Dạy học nhân vật lịch sử có nhiều biện pháp sư phạm khác nhau, trong đó tạo biểu tượng là một biện pháp quan trọng Do đặc điểm của việc học tập lịch sử, HS không thể “trực quan sinh động” các sự kiện đã xảy ra trong quá khứ Vì vậy, quá trình dạy học lịch sử phải được tiến hành trên cơ sở tài liệu - sự kiện khoa học để tạo biểu tượng cụ thể, từ đó hình thành khái niệm, nêu quy luật và rút ra bài học lịch sử Để hình thành trí tưởng tượng thì “biểu tượng” sẽ là cái được hình thành đầu tiên trong não bộ của chúng ta, nó là cái mắt xích, cửa ngõ vô cùng quan trọng

để làm cầu nối giữa trực quan sinh động và tư duy trừu tượng và ngược lại Qua

đó, ta cũng thấy được vai trò quan trọng của “biểu tượng” trong quá trình tư duy Trong các loại biểu tượng thì biểu tượng về nhân vật có vị trí và ý nghĩa quan trọng Nó giúp HS hiểu đúng lịch sử, thấy được mối quan hệ giữa cá nhân anh hùng và quần chúng nhân dân trong tiến trình phát triển hợp quy luật của lịch

Trang 11

sử dân tộc và thế giới Biểu tượng các nhân vật lịch sử về những tấm gương người thật việc thật có sức thuyết phục đặc biệt đối với HS, gây cho các em hứng thú học tập lịch sử, khơi dậy mạnh mẽ những xúc cảm lịch sử đúng đắn, tác động sâu sắc đến tâm tư tình cảm và góp phần hình thành nhân cách HS Không dừng ở đó, biểu tượng các nhân vật lịch sử cho phép HS lý giải và hiểu sâu sắc nhiều sự kiện, vấn

đề lịch sử, góp phần phát triển năng lực nhận thức độc lập ở các em

Hơn nữa, lịch sử Việt Nam (giai đoạn 1858-1918) có những dấu mốc lớn, tạo

ra những bước chuyển của lịch sử dân tộc về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, các trào lưu tư tưởng và những cuộc đấu tranh chống lại sự xâm lược của thực dân Pháp Sự chuyển biến trên tất cả các mặt của lịch sử dân tộc trong giai đoạn này đều gắn với những nhân vật lịch sử cụ thể Lịch sử Việt Nam (giai đoạn 1858-1918) là một giai đoạn đầy biến động nhưng vô cùng oanh liệt của dân tộc ta Đây

là thời kì xuất hiện nhiều nhân vật lịch sử cả chính diện và phản diện Hiểu lịch sử giai đoạn này cũng như việc tạo biểu tượng về các nhân vật sẽ giúp người học nắm được giai đoạn đầy biến động này Như vậy, hoạt động của cá nhân (nhân vật chính diện hay nhân vật phản diện) là một trong những nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy hay kìm hãm sự vận động của lịch sử nhân loại Do đó, việc dạy học các nhân vật lịch sử Việt Nam (giai đoạn 1858-1918) ở trường THPT có ý nghĩa hết sức to lớn Trên cơ sở kiến thức lịch sử ấy, tiến hành giáo dục cho các em lòng kính yêu các anh hùng dân tộc nói riêng và lòng yêu nước nói chung

Mặt khác, thực tiễn dạy học lịch sử ở các trường phổ thông hiện nay cho thấy,

GV ít quan tâm đến việc tạo biểu tượng lịch sử nói chung và biểu tượng về nhân vật lịch sử nói riêng cho HS, nếu có thì vẫn còn nghèo nàn, khô khan, thiếu hình ảnh nên kém hiệu quả Đặc biệt, lịch sử càng lùi xa thì càng khó nhận thức, nên việc tạo biểu tượng lịch sử cho HS về nhân vật lịch sử trong dạy học lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX lại càng gặp nhiều khó khăn hơn

Với những lí do nêu trên, chúng tôi thấy cần thiết phải nghiên cứu đề tài:

“Tạo biểu tượng về nhân vật trong dạy học lịch sử Việt Nam ở lớp 11 THPT - Chương trình Chuẩn”

Trang 12

2 Lịch sử vấn đề

Liên quan tới đề tài này, có nhiều công trình khoa học đã nghiên cứu, giải quyết những vấn đề chủ yếu sau đây:

Loại thứ nhất: Các công trình khoa học lịch sử nói chung, đặc biệt biệt là các

công trình nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của các nhân vật lịch sử Việt Nam (giai đoạn 1858-1918) và những tài liệu mang tính chất phổ biến khoa học dùng cho GV và trong chừng mực nhất định dùng cho HS, bao gồm:

- Các giáo trình lịch sử Việt Nam, các tài liệu chuyên khảo về các nhân vật lịch sử ở bậc đại học và sau đại học liên quan đến đề tài nghiên cứu

- Cuộc đời và sự nghiệp của các anh hùng dân tộc, chiến sĩ yêu nước, qua các loại sách, tài liệu viết về các nhân vật lịch sử mang tính chất phổ biến tri thức, như:

được lưu truyền trong dân gian (chứa đựng yếu tố tưởng tượng, nhân cách hóa…)

kể về các nhân vật lịch sử tiêu biểu từ khi dựng nước cho đến giữa thế kỉ XIX Cuốn sách đã miêu tả khá kĩ ngoại hình, kể những câu chuyện kì lạ liên quan đến nhân vật

Nguyễn Khắc Thuần

biên

- Tiểu sử và sự nghiệp của các danh nhân văn hóa lớn của dân tộc, đặc biệt là các sách, tài liệu viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh, các bài viết về các nhân vật lịch sử giai đoạn này

- Các loại từ điển về nhân vật lịch sử, như từ điển “Nhân vật lịch sử Việt Nam” của Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh, “Từ điển nhân vật lịch sử Việt

Trang 13

Nam” của Nguyễn Quyết Thắng – Nguyễn Bá Thế , “Từ điển tri thức lịch sử phổ thông thế kỷ XX” do Phan Ngọc Liên chủ biên…

Tất cả các công trình và tài liệu nêu trên là cơ sở quan trọng, cung cấp những thông tin, kiến thức cơ bản, chính xác để chúng tôi tập hợp tư liệu khoa học để giải quyết vấn đề tạo biểu tượng về nhân vật trong dạy học lịch sử Việt Nam ở lớp 11- chương trình chuẩn

Loại thứ hai: Các tài liệu, công trình nghiên cứu đề cập lí luận về biểu tượng,

biểu tượng lịch sử và con đường tạo biểu tượng lịch sử cho HS Chủ yếu là các tài liệu, công trình nghiên cứu về tâm lý, giáo dục học, giáo dục lịch sử, liên quan đến dạy học các nhân vật lịch sử ở trường phổ thông Trong tác phẩm “Tâm lý học” do Phạm Minh Hạc (chủ biên) đã đưa ra định nghĩa về biểu tượng nói chung, phân biệt mức độ khác nhau giữa biểu tượng và tri giác, biểu tượng và hình ảnh trực quan Giáo trình “Tâm lý học đại cương” (2007) do GS.TS Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên), TS Nguyễn Văn Lũy, TS Đinh Văn Vang đã xác định con đường nhận thức từ mức độ thấp đến cao, cảm giác, tri giác và biểu tượng … Các tác giả đã nêu ra những đặc điểm chung của quá trình nhận thức cảm tính “là những thuộc tính, trực quan, cụ thể, bề ngoài của sự vật, những mối liên hệ về không gian, thời gian chứ chưa phải là những thuộc tính bên trong, bản chất, những mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của hàng loạt sự vật trong thế giới” Đồng thời các tác giả cũng xác định vai trò của quá trình nhận thức cảm tính, “là viên gạch xây nên toàn

bộ lâu đài nhận thức” là một điều kiện quan trọng cho sự định hướng hành vi và hoạt động của con người trong môi trường xung quanh và hình ảnh của tri giác (biểu tượng) thực hiện chức năng điều chỉnh các hành động… Để nhấn mạnh ý nghĩa của việc tạo biểu tượng trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông, trong cuốn

"Bài học là gì?", tác giả Hồ Ngọc Đại đã trích dẫn lời của nhà giáo dục học nổi tiếng người Nga, K.Đ Usinki: “Việc học tập không phải xây dựng trên lời nói, những quan niệm rời rạc mà phải trên cơ sở hình ảnh cụ thể mà trẻ con trực tiếp thu nhận”[19, tr 33] Nhà tâm lí học M.N Sác-đa-cốp trong cuốn “Tư duy HS” cũng khẳng định: “Tư duy trở nên sinh động, gợi cảm, say sưa, hồi hộp và khẩn trương Điều này góp phần làm cho việc vạch ra nội dung khái niệm của đối tượng

Trang 14

tư duy được đầy đủ, sâu sắc hơn Đồng thời, biểu tượng mở rộng làm phong phú thêm ý, làm cho nó có sức mạnh thuyết phục trực tiếp và sự hấp dẫn đầy xúc cảm”[62, tr.76] Như vậy, qua tiếp cận một số tài liệu, chúng tôi thấy, các nhà giáo dục học có những cách tiếp cận khác nhau Tuy vậy, họ đều thống nhất và khẳng định vị trí đặc biệt quan trọng của việc tạo biểu tượng trong quá trình nhận thức, không có quá trình tạo biểu tượng thì không thể có những bước nhận thức tiếp theo

Nhìn chung, các nhà tâm lý học, giáo dục học đều khẳng định tầm quan trọng của quá trình nhận thức cảm tính, trong đó đề cập đến việc tạo biểu tượng, xác định vai trò của quá trình nhận thức cảm tính quyết định đến quá trình hình thành khái niệm – bước cao hơn của nhận thức (nhận thức lý tính- tư duy trừu tượng)

Loại thứ ba: Các công trình nghiên cứu về những nguyên tắc, con đường và

biện pháp sư phạm nhằm tạo biểu tượng lịch sử trong dạy học Các nhà lý luận dạy học lịch sử đã có nhiều công trình nghiên cứu về phương pháp dạy học lịch sử nói chung; đề cập đến việc giảng dạy về cá nhân và quần chúng nhân dân trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông Đó là các giáo trình về phương pháp dạy học lịch

sử như: “Phương pháp dạy học lịch sử” xuất bản trong các năm 1976, 1980, 1992

và tái bản năm 1998, 1999, 2001 do Phan Ngọc Liên và Trần Văn Trị (Chủ biên);

bộ giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử” (2002) (hai tập), nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội, do Phan Ngọc Liên (Chủ biên) Hay các giáo trình „Hình thành tri thức lịch sử cho HS THPT do Phan Ngọc Liên chủ biên, đã nêu lên định nghĩa biểu tượng lịch sử, phân loại biểu tượng lịch sử, từ đó đề xuất những con đường cơ bản để hình thành biểu tượng lịch sử cho HS… Đặc biệt N.G.Đairri trong công trình tiêu biểu “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào” đã nhấn mạnh tính hình ảnh cụ thể trong dạy học lịch sử: “ Thiếu hình ảnh thì không hình dung được quá khứ lịch sử” [28, tr.8] Các giáo trình trên đã nêu lên những yêu cầu lí luận chung và biện pháp dạy học nhân vật lịch sử ở trường THPT như tạo biểu tượng nhân vật, kể chuyện nhân vật, dạy học nhân vật lịch sử thế giới, lịch sử địa phương

Trang 15

Loại thứ tư: Một số luận án Tiến sĩ và luận văn về Phương pháp giảng dạy

lịch sử đã đi sâu về dạy học nhân vật lịch sử Việt Nam và thế giới như: Tạo biểu tượng về hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh qua dạy học lịch sử lớp 12 trường THPT (Luận án Tiến sĩ của Đặng Văn Hồ, 1996); Dạy học các nhân vật lịch sử trong chương trình lịch sử Việt Nam 1858 - 1930 ở trường THPT(Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Văn Phong, 2006); Dạy học các nhân vật lịch sử dân tộc giai đoạn

1945 - 1975 ở trường THPT Lào (Luận văn Thạc sĩ của Bunmy Asa, 2010); Tạo biểu tượng nhân vật lịch sử thông qua sử dụng tranh ảnh - Vận dụng vào dạy học phần lịch sử Việt Nam lớp 10 THPT, (Luận văn Thạc sĩ Khoa học giáo dục của Nguyễn Thị Thanh Thúy) Những công trình này đã góp phần rất quan trọng giúp chúng tôi xác định cơ sở lí luận cũng như nguyên tắc chung, con đường và biện pháp sư phạm để tạo biểu tượng lịch sử về nhân vật trong dạy học lịch sử Việt Nam ở lớp 11- chương trình Chuẩn

Tóm lại, những kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước được chúng tôi tham khảo khi chúng tôi giải quyết các nhiệm vụ đề tài luận văn đưa ra Tuy nhiên, chưa có một công trình nào nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống về đề tài “Tạo biểu tượng về nhân vật trong dạy học lịch sử Việt Nam ở lớp 11 THPT - chương trình Chuẩn”

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quá trình tạo biểu tượng về nhân vật trong dạy học lịch sử Việt Nam ở lớp 11 THPT (chương trình Chuẩn)

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài không đi sâu nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp của các nhân vật lịch

sử mà chủ yếu là phương pháp tạo biểu tượng về nhân vật lịch sử trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn này ở lớp 11 (chương trình Chuẩn) chủ yếu là trong dạy học bài nội khóa Nghĩa là chỉ xác định những biểu tượng của các nhân vật được phản ánh trong các sự kiện ở trong SGK Lịch sử lớp 11 và đề xuất con đường biện pháp sư phạm tạo các biểu tượng đó Đương nhiên, để xác định nội dung kiến

Trang 16

thức cơ bản và đề xuất các biện pháp tạo biểu tượng có hiệu quả, trong một chừng

mực cần thiết, chúng tôi phải tìm hiểu sâu sắc về các nhân vật lịch sử…

Trong chương trình, SGK, khóa trình lịch sử Việt Nam (1858-1918) đề cập rất nhiều nhân vật chính diện và phản diện, trên nhiều lĩnh vực khác nhau của xã hội Đề tài chỉ tập trung làm sáng tỏ việc tạo biểu tượng những nhân vật lịch sử tiêu biểu trong giai đoạn này mà thôi

Công việc và kết quả nghiên cứu của đề tài thuộc chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Lịch sử, đòi hỏi phải tiến hành việc điều tra cơ bản

và thực nghiệm sư phạm Trong điều kiện cho phép chúng tôi thực nghiệm chủ yếu

ở một số trường THPT thuộc địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai; trên cơ sở

đó rút ra kết luận của đề tài

4 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này chúng tôi nhằm làm rõ các vấn đề sau:

Thứ nhất: Khẳng định lại vai trò, ý nghĩa của việc tạo biểu tượng về nhân vật

lịch sử trong dạy học lịch sử Việt Nam (giai đoạn 1858-1918)

Thứ hai: Làm rõ thực trạng của việc tạo biểu tượng về nhân vật lịch sử trong

dạy học lịch sử Việt Nam (giai đoạn 1858-1918) ở địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai

Thứ ba: Đề xuất các biện pháp tạo biểu tượng nhân vật nhằm góp phần nâng

cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường THPT

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện đề tài luận văn, chúng tôi thực hiện các nhiệm vụ sau đây:

Thứ nhất: Tìm kiếm và đọc các tài liệu làm cơ sở nghiên cứu lý luận đồng

thời nghiên cứu chương trình SGK Lịch sử lớp 11 (chương trình Chuẩn) để xác định mức độ, nội dung, ý nghĩa các biểu tượng về nhân vật lịch sử, hệ thống các nhân vật lịch sử tiêu biểu có trong chương trình, SGK lịch sử lớp 11

Thứ hai: Tiến hành điều tra xã hội học về thực trạng tạo biểu tượng các nhân

vật lịch sử giai đoạn 1858-1918 ở các trường học trên địa bàn Huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai

Trang 17

Thứ ba: Đề xuất các biện pháp sư phạm để tiến hành tạo biểu tượng về các

nhân vật lịch sử trong giai đoạn 1858-1918

Thứ tư: Tiến hành thực nghiệm sư phạm để tiến hành kiểm tra, đánh giá tính

khoa học và tính khả thi của các biện pháp mà chúng tôi đề xuất trong đề tài

6 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

6.1 Cơ sở phương pháp luận

Cơ sở phương pháp luận của luận văn là lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm đường lối của Đảng và nhà nước ta về lịch sử, giáo dục, giáo dục lịch sử, đặc biệt về dạy học lịch sử Cơ sở phương pháp luận và quan điểm trên được thể hiện trong các công trình nghiên cứu của các nhà giáo dục học, giáo dục lịch sử Việt Nam mà chúng tôi đã tiếp thu và vận dụng trong khi thực hiện đề tài

6.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện những nhiệm vụ mà đề tài đặt ra, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu các tài liệu về Giáo dục học, Tâm lý học, PPHDLS, tài liệu về Phương pháp luận sử học và Lịch sử có liên quan Chương trình SGK, SGV, sách tham khảo lịch sử ở trường phổ thông và các tài liệu tham khảo khác… để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài và xây dựng các mô hình lý thuyết

Phương pháp điều tra thực tế việc dạy học lịch sử ở trường THPT: Điều tra cơ bản bằng nhiều hình thức khác nhau, như dự giờ, biên soạn phiếu điều tra GV và

HS, trao đổi với GV … Trong đó, tập trung điều tra hiểu biết lịch sử của HS sau thực nghiệm sư phạm; điều tra thực trạng việc dạy học môn Lịch sử, việc tạo biểu tượng nhân vật lịch sử ở trường THPT để có kết luận chính xác, khoa học về thực trạng dạy học lịch sử ở trường THPT nói chung, của việc tạo biểu tượng các nhân vật lịch sử trong dạy học lịch sử nói riêng

Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Mục đích của thực nghiệm là nhằm đánh giá hiệu quả tác động của những biện pháp đề xuất về việc dạy học các nhân vật lịch sử trong chương trình, SGK lịch sử (phần lịch sử Việt Nam 1858-1918)

Trang 18

Chúng tôi tiến hành thực nghiệm sư phạm từng phần để kiểm chứng tính khoa học

và tính khả thi của những biện pháp mà luận văn đề xuất Thực nghiệm dạy một bài cụ thể ở lớp 11, qua đó áp dụng các biện pháp cơ bản để tạo biểu tượng về nhân vật lịch sử Trong khi tiến hành thực nghiệm có lựa chọn đối tượng thực nghiệm và đối tượng đối chứng Thực nghiệm chủ yếu được thực hiện ở một số trường THPT thuộc địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai

Phương pháp toán học thống kê: Tập hợp và xử lý các số liệu thu được qua điều tra, thực nghiệm bằng cách sử dụng các công cụ toán học như bảng biểu, giá trị trung bình cộng, công thức tính phương sai, độ lệch chuẩn và giá trị tương quan

t từ đó rút ra nhận xét khái quát

7 Giả thuyết khoa học

Nếu tạo biểu tượng nhân vật lịch sử theo những biện pháp mà chúng tôi đề xuất sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học phần LSVN trong SGK lịch sử lớp 11 (chương trình Chuẩn) ở trường THPT

8 Những đóng góp của luận văn

Thứ nhất: Tiến hành đánh giá một cách khách quan về tình hình tạo biểu

tượng về nhân vật lịch sử trong việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông

Thứ hai: Xác định được vai trò của việc tạo biểu tượng trong dạy học lịch sử

nói chung và về nhân vật lịch sử nói riêng

Thứ ba: Đề xuất được những yêu cầu, biện pháp sư phạm và hình thức dạy

học để tạo biểu tượng về nhân vật lịch sử một cách khoa học sáng tạo

9 Cấu trúc của luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tạo biểu tượng về nhân vật trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường THPT - Chương trình Chuẩn

Chương 2 Kiến thức cơ bản về các nhân vật trong dạy học lịch sử Việt Nam

ở lớp 11- Chương trình Chuẩn

Chương 3 Một số biện pháp tạo biểu tượng về nhân vật trong dạy học lịch sử

Việt Nam ở lớp 11- Chương trình Chuẩn

Trang 19

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TẠO BIỂU TƯỢNG

VỀ NHÂN VẬT TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM

Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN)

Lịch sử xã hội loài người là lịch sử của quần chúng nhân dân, song vai trò của

cá nhân cũng có ý nghĩa to lớn Vì vậy, trong nghiên cứu, dạy học lịch sử không thể không tìm hiểu về các nhân vật lịch sử Sự hiểu biết về nhân vật lịch sử là một thành phần quan trọng của kiến thức lịch sử Do đặc điểm của bộ môn, tạo biểu tượng về nhân vật là một nội dung quan trọng của dạy học lịch sử ở trường THPT Công việc này tùy thuộc nhiều điều kiện, trước hết là nhận thức về lý luận bộ môn,

về năng lực và trình độ của GV, về điều kiện và phương tiện dạy học Chương này

sẽ đề cập những cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nhận thức về tạo biểu tượng nhân vật trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường THPT

1.1 Cơ sở lý luận 1.1.1 Khái niệm “nhân vật lịch sử”

Ngay từ thời nguyên thủy, trong suy nghĩ của mỗi người dân Việt Nam đã có lòng tôn kính các lực lượng siêu nhiên có tác động mạnh mẽ đến đời sống của cộng đồng – đem lại những lợi ích lớn hoặc gây ra những tai họa Những lực lượng siêu nhiên, thần bí như vậy được hiện ra dưới dạng những con người hay nói cách khác là những “Thần – Người” tuy có phần kì bí khác thường mà một người trần tục không thể nào làm được, song vẫn mang rất nhiều nét của đời thường, phản ánh khá trung thực những sinh hoạt đời thường Không phải ngẫu nhiên mà trong dân gian xuất hiện những câu chuyện thần thoại về “Sơn Tinh – Thủy Tinh”, diễn

ra cuộc chiến quyết liệt để giành lấy con gái của vua Hùng, nhưng thực chất ở đây

là cuộc đấu tranh giữa con người với thiên nhiên Câu chuyện này phản ánh cuộc đấu tranh của con người chống lại sự phá hoại tàn khốc của thiên nhiên, khi mà họ còn lệ thuộc quá nhiều vào tự nhiên Hay câu chuyện Thánh Gióng đánh tan giặc

Ân bằng ngựa sắt, roi tre nêu cao lòng yêu quê hương, đất nước, quyết tâm

Trang 20

chống giặc ngoại xâm của cư dân trên đất nước Việt Nam, thể hiện sức mạnh to lớn của dân tộc

Khi nước ta bước vào thời kì xã hội có giai cấp, với sự ra đời của nhà nước Văn Lang rồi Âu Lạc, từ những Thần –Người mang vẻ thần bí, song có tính hiện thực, lại dần dần xuất hiện những con người lao động và chiến đấu trong cuộc sống đời thường Những con người thực này, do có nhiều công lao to lớn trong việc xây dựng cũng như bảo vệ Tổ quốc, đã được nhân dân tôn thờ như những anh hùng dân tộc Những anh hùng dân tộc này lại được thần thánh hóa, trở thành những Người – Thần được thờ phụng, cúng tế Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn là người anh hùng dân tộc có công lớn trong việc đánh tan quân xâm lược Nguyên Mông làm nên chiến công lẫy lừng ở trận Bạch Đằng năm 1287 và đã trở thành Đức Thánh Trần

Việc nhắc lại công lao của các nhân vật lịch sử có tác dụng mạnh mẽ trong việc giáo dục lòng yêu quê hương, đất nước, lòng tự hào, biết ơn đối với tổ tiên và các anh hùng dân tộc Hồ Chí Minh trong quá trình hoạt động cứu nước chống thực dân Pháp xâm lược, giải phóng dân tộc cũng dùng lịch sử, thơ văn để giáo dục thế hệ hôm nay phải ghi nhớ công lao to lớn của ông cha trong đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, giữ vững nền độc lập của đất nước

Qua việc tôn thờ, noi gương các anh hùng dân tộc, chúng ta nhận thấy quan điểm đúng đắn, rõ rệt của tổ tiên ta trong việc nhận định, đánh giá các nhân vật lịch sử Trên cơ sở bài học kinh nghiệm về giáo dục truyền thống dân tộc, tôn thờ, noi gương các anh hùng dân tộc của tổ tiên, chúng ta tiếp thu quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về việc đánh giá các nhân vật lịch sử

Việc đánh giá các nhân vật lịch sử cần tuân thủ những nguyên tắc của phương pháp luận sử học Mác-xít-Lêninnít, đó là: xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa quan điểm lịch sử và quan điểm giai cấp trong đánh giá nhân vật lịch sử

Quan điểm giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin không trái ngược mà thống nhất với quan điểm lịch sử khi nhận định, đánh giá về lịch sử nói chung, về nhân

Trang 21

vật lịch sử nói riêng Cũng như vậy, người nghiên cứu, học tập lịch sử muốn nhận thức đúng sự kiện, nhân vật lịch sử phải đứng vững trên lập trường giai cấp vô sản

Về việc đánh giá nhân vật lịch sử, V.I.Lênin đã nêu một nguyên tắc phương pháp chỉ đạo cho việc nghiên cứu và học tập lịch sử, cũng như đối với các môn khoa học xã hội và nhân văn khác, đặc biệt đối với hoạt động thực tiễn Đó là:

“Khi xem xét công lao lịch sử của một vĩ nhân, của các vĩ nhân, người ta không căn cứ vào chỗ họ cống hiến được gì với nhu cầu của thời đại chúng ta mà căn cứ vào chỗ họ đã cống hiến được gì mới so với các bậc tiền bối của họ” [71, tr.17]

Lời chỉ dẫn của Lênin giúp cho chúng ta khi xem xét, đánh giá một nhân vật lịch

sử, thì phải đặt nhân vật đó vào hoàn cảnh sinh sống, hoạt động của họ, phải xem xét những cống hiến của họ đối với xã hội lúc bấy giờ

Khi đánh giá, nhận định về một nhân vật lịch sử, chúng ta cần quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về bối cảnh, điều kiện lịch sử mà họ ra đời

và hoạt động Sự xuất hiện của một cá nhân ở một thời điểm, tại một địa phương nào đó, với những khả năng vốn có và phẩm chất nhất định đều chịu ảnh hưởng của những điều kiện, yêu cầu cụ thể Sự ra đời và hoạt động của một nhân vật nào

đó đều xuất phát từ một yêu cầu của thời đại, đang đặt ra những vấn đề cần phải giải quyết Bởi vì, như C.Mác đã khẳng định, lịch sử không bao giờ đặt ra một vấn

đề gì mà không được giải quyết Điều này có nghĩa là một vấn đề nào đấy được đặt

ra thì phải có những điều kiện để giải quyết mà một trong những điều kiện quan trọng bậc nhất là có người nhận trách nhiệm, sứ mệnh để tổ chức, lãnh đạo thực hiện

Vậy chúng ta hiểu thế nào về nhân vật lịch sử cho đúng? Theo sách Thuật

ngữ - Khái niệm lịch sử phổ thông thì “nhân vật lịch sử” là “người có một vai trò

nhất định trong một số sự kiện lịch sử, trong một thời kì lịch sử” [32, tr.135] Như

vậy, nhân vật lịch sử là sản phẩm của một hoàn cảnh lịch sử cụ thể, được ghi dấu

ấn bởi những hoạt động ở một sự kiện, một thời kì lịch sử cụ thể; chịu sự chi phối bởi các yếu tố, đặc điểm lịch sử và điều kiện xã hội mà người đó sinh sống và hoạt động Vì vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, khi đánh giá một nhân vật lịch sử, chúng ta phải xem xét hoàn cảnh lịch sử mà họ sinh sống, hoạt động cụ thể, phải

Trang 22

tìm hiểu họ đấu tranh cho quyền lợi của giai cấp nào Lịch sử xã hội đã chỉ ra rằng, trong một thời điểm nhất định, cần phải có một cá nhân, một nhân vật lỗi lạc xuất hiện để lãnh đạo quần chúng nhân dân thực hiện một nhiệm vụ cấp bách mà thời đại đặt ra Sự xuất hiện của các nhân vật lịch sử kiệt xuất trong từng thời điểm lịch

sử nhất định là tất yếu, hợp quy luật Tuy nhiên, nhân vật mà lịch sử yêu cầu đó là

ai thì lại ngẫu nhiên, ngẫu nhiên nhưng lại phù hợp với quy luật và thời đại nên nó phải là tất yếu

Tóm lại, nhân vật lịch sử là những cá nhân có vai trò quan trọng đối với một

sự kiện, một thời kì lịch sử nhất định, trong một hoàn cảnh lịch sử cụ thể Trong bối cảnh lịch sử đó, hoạt động của họ có tác dụng thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển của sự kiện, hiện tượng, hay quá trình lịch sử Hoạt động của nhân vật lịch sử

để lại nhiều dấu ấn trên nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội Có những nhân vật lịch sử chỉ giới hạn sự hoạt động và ảnh hưởng ở một lĩnh vực nhất định Nhưng có những nhân vật lịch sử lại phát huy tác động trên nhiều lĩnh vực khác nhau Có những nhân vật thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển của xã hội Như vậy, chính sự phong phú, đa dạng trong hoạt động các nhân vật giúp HS hiểu biết sâu sắc hơn về lịch sử và có cái nhìn khái quát hơn, toàn diện hơn mối quan hệ giữa nhân vật với sự kiện, giữa sự kiện với nhân vật, qua đó dạy học nhân vật lịch sử có

ý nghĩa quan trọng về mặt giáo dưỡng (kiến thức lịch sử), giáo dục (thái độ, tình cảm) và phát triển (kĩ năng tư duy và thực hành bộ môn)

1.1.2 Biểu tượng lịch sử và phân loại biểu tượng 1.1.2.1 Khái niệm “biểu tượng”

Theo tâm lí học Mác-xít, xét về phương thức phản ánh thì nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan với các cấp độ: Phản ánh trực tiếp sự vật, hiện tượng bằng cảm giác và tri giác Phản ánh gián tiếp sự vật, hiện tượng ở mức độ khái quát đơn giản bằng trí nhớ và tưởng tượng dưới dạng các biểu tượng Phản ánh sự vật, hiện tượng ở mức độ khái quát cao nhất với những thuộc tính bản chất bên trong của sự vật, hiện tượng dưới dạng các khái niệm, quy luật

Trang 23

Theo cách hiểu này thì biểu tượng là hình thức cao nhất và phức tạp nhất của giai đoạn nhận thức cảm tính, là khâu trung gian giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính

Trong quá trình tri giác thế giới bên ngoài, con người phản ánh sự vật, hiện tượng xung quanh mình dưới dạng hình ảnh của các vật thể Các hình ảnh này phản ánh và lưu giữ trong ý thức các đặc điểm bên ngoài của sự vật Hình ảnh được lưu giữ đó là biểu tượng Vậy biểu tượng là “hình ảnh của sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh được tạo ra từ quá trình cảm giác và tri giác trước đó và được lưu giữ lại bằng trí nhớ trong ý thức của con người Hay, nói cách khác thì

“biểu tượng là những hình ảnh trực quan nảy sinh trong óc người về những sự vật

và hiện tượng đã được tri giác trước đây”[29, tr.16]

Biểu tượng được hình thành trên cơ sở những hình ảnh được lưu giữ lại ở vỏ não do cảm giác, tri giác phản ánh trực tiếp những thuộc tính bên ngoài của sự vật, hiện tượng Tuy nhiên, trong những trường hợp riêng lẻ, biểu tượng cũng phản ánh những thuộc tính bên trong của sự vật, hiện tượng, chẳng hạn biểu tượng về tình trạng bị áp bức bóc lột của người nông dân trong xã hội phong kiến, biểu tượng về mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân với quý tộc phong kiến

Cũng giống như tri giác, biểu tượng ban đầu của con người chỉ mang tính chất đầy đủ tương đối Trong biểu tượng có những nét không rõ ràng, thậm chí không đúng và ít liên quan tới nhau Trong quá trình sinh sống, học tập, giao tiếp

và tham gia các hoạt động khác nhau của con người, biểu tượng ngày càng sinh động, rõ ràng, đầy đủ và chính xác, có liên quan với nhau, đồng thời có phân biệt với nhau Tuy nhiên, rất ít khi có biểu tượng đầy đủ vì một biểu tượng đầy đủ phải bao gồm lịch sử tự nhiên của sự vật, hiện tượng tương ứng Điều này khó làm được trong thực tế cuộc sống của mỗi con người Do vậy biểu tượng trong đời sống thực

tế về bản chất chỉ là những “trích đoạn” từ một biểu tượng được xem là đầy đủ nhất ở một thời điểm cụ thể mà nội dung những “trích đoạn” đó là khác nhau đối với những cá nhân khác nhau, thậm chí ngay ở cả một người cũng có thể khác nhau, tùy trường hợp, tùy hoàn cảnh và điều kiện cụ thể

Trang 24

Biểu tượng có vai trò quan trọng trong quá trình nhận thức thế giới xung quanh của con người, trong việc hình thành và phát triển tư duy, kích thích, bồi dưỡng trí tưởng tượng của con người Nếu không có biểu tượng, nội dung nhận thức cảm tính của của con người chỉ là những cảm giác, tri giác, hơn nữa chỉ dừng lại ở mức phản ánh thế giới trong thời điểm khi các sự kiện, hiện tượng trực tiếp tác động tới giác quan Sau thời điểm đó, ý thức con người ngừng hoạt động và không lưu giữ được gì vì trong trí nhớ không còn hình ảnh nào của sự vật, hiện tượng

Trong hoạt động nhận thức, biểu tượng luôn có mặt ở mọi lúc, mọi nơi, từ cảm giác, tri giác, đến tư duy và cả tưởng tượng nữa Biểu tượng tạo nên nội dung

cơ bản của các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo Mặt khác, do gắn với các yếu tố tổng hợp nên các biểu tượng là bậc thang kế tiếp từ các hình ảnh cụ thể đến các khái niệm trừu tượng, là khâu trung gian chuyển, là bước quá độ cảm giác, tri giác (nhận thức cảm tính) sang lĩnh vực tư duy (nhận thức lý tính) Hơn nữa, do mang tính biến đổi rộng rãi (là điều kiện để xây dựng hình ảnh mới), biểu tượng đóng vai trò quan trọng và cần thiết trong hoạt động sáng tạo và phát triển tư duy của con người Biểu tượng càng phong phú, giàu hình ảnh thì quá trình tư duy và nhận thức của con người càng nhạy bén, chính xác Vì vậy, trong hoạt động học tập của HS, việc tạo cho HS những biểu tượng cụ thể về các nội dung trong bài học là việc làm

có ý nghĩa và mang lại hiệu quả to lớn

1.1.2.2 Khái niệm “biểu tượng lịch sử”

Trong quá trình nhận thức thế giới khách quan, con người phải bắt đầu từ trực quan sự vật, hiện tượng, tìm hiểu những cái cụ thể để làm cơ sở khám phá bản chất của sự vật, hiện tượng Đối với việc học tập lịch sử cũng vậy, HS phải biết được các sự kiện một cách cụ thể chính xác thì mới có cơ sở để hiểu bản chất, sự vận động bên trong của nó Tuy nhiên, giữa nhận thức sự vật, hiện tượng trong thiên nhiên với nhận thức sự việc, con người diễn ra trong xã hội là có điểm khác nhau Do đó, khi nhận thức về biểu tượng nói chung, biểu tượng lịch sử nói riêng cần phải lưu ý điểm khác biệt giữa chúng

Trang 25

Việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông nhằm mục đích cung cấp cho HS những kiến thức về lịch sử xã hội loài người, từ đó hình thành cho các em thế giới quan khoa học, phẩm chất đạo đức, tư tưởng, tình cảm đúng đắn, trong sáng cho các em Muốn vậy, cần phải cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản, để tạo cho các em những cái nhìn cụ thể nhưng toàn diện và chính xác về các sự kiện, hiện tượng của lịch sử

Nhưng lịch sử diễn ra và không lặp lại, cũng không thể tiến hành các thí nghiệm để dựng lại hiện tượng lịch sử quá khứ khách quan (trừ một vài trường hợp) Vì vậy, khi học tập không thể trực tiếp quan sát (trực quan sinh động) đối tượng nghiên cứu như trong khoa học tự nhiên Việc nhận thức đó phải dựa trên những tài liệu chính xác và những sự kiện cơ bản Nguồn sử liệu càng phong phú, chính xác bao nhiêu thì nhận thức lịch sử càng chính xác, sinh động bấy nhiêu Những di chỉ khảo cổ, những di tích lịch sử còn lại, những tấm bia, những trang nhật ký, tác phẩm văn học là những “mảnh quá khứ”, mà trên cơ sở đó nhà Sử học có nhiệm vụ khôi phục lại quá khứ lịch sử sao cho gần với hiện thực nhất Không có biểu tượng nảy sinh từ tri giác trực tiếp với sự kiện, hiện tượng Vì vậy,

biểu tượng lịch sử chính là “hình ảnh về những sự kiện, nhân vật lịch sử, điều kiện

địa lý được phản ánh trong óc HS với những nét chung nhất, điển hình nhất”

[29, tr.17] Biểu tượng lịch sử là một dạng đặc biệt của nhận thức thế giới khách quan Ví như, khi tạo biểu tượng về chiến thắng Bạch Đằng năm 938 cần có hình ảnh (do HS “tưởng tượng tái tạo” trên cơ sở tư liệu khoa học) về một trận thủy chiến oanh liệt diễn ra tại cửa sông Bạch Đằng với các nét cơ bản nhất: thuyền của giặc Hán xâm lược bị những chiếc cọc nhọn đâm thủng làm nước ào vào, quân giặc trên thuyền hoảng sợ giữa làn tên, mũi giáo của quân ta… Hoặc tạo biểu tượng về con đường Trường Sơn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước phải làm cho HS hình dung về một con đường mòn xuyên qua đèo, qua suối, lởm chởm

đá, len giữa núi rừng hoang vu, và những hi sinh, gian khổ trong chiến đấu của quân đội, cán bộ, thanh niên xung phong Tuy nhiên, những hình ảnh như vậy lại không diễn ra trực tiếp trước mắt HS, nó chỉ được lưu giữ trong các nguồn tư liệu

Trang 26

Đặc điểm của biểu tượng lịch sử được quy định bởi đặc trưng của lịch sử: Sự kiện là hiện thực khách quan, chỉ diễn ra một lần và để lại dấu vết một cách riêng

lẻ Để có được biểu tượng lịch sử, con người không thể trực tiếp tri giác sự kiện có sẵn mà phải trên cơ sở phương pháp khoa học (sưu tầm tư liệu, xử lý, phán đoán,

mô phỏng sự kiện) tái tạo sự kiện lịch sử, phản ánh lịch sử gần giống với hiện thực khách quan Biểu tượng lịch sử chính là hình ảnh của sự tri giác gián tiếp từ các hình ảnh riêng lẻ về một sự kiện nhân vật cụ thể Ví như, khi dạy về sự kiện Bác

Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945 chúng ta có thể dựa vào ảnh tư liệu, phim tư liệu, văn kiện lịch sử, tác phẩm văn học, tác phẩm hội họa, tác phẩm âm nhạc, lời kể của nhân chứng lịch sử kết hợp với các di vật lịch sử… để giúp HS hình dung được thời gian, địa điểm, quá trình diễn ra buổi lễ, không khí buổi lễ, hình ảnh Bác Hồ trong buổi lễ, tình cảm của nhân dân đối với Bác Hồ và Chính phủ lâm thời

Tính chính xác của nhận thức thể hiện ở việc phản ánh được đối với thực tế khách quan qua việc nắm vững các sự kiện, nhân vật đã xảy ra trong quá khứ Như vậy, hình ảnh lịch sử được phản ánh trong óc HS (qua tri giác tư liệu) là những nét phác họa “chân dung” sự kiện, nhân vật bằng lăng kính cảm quan của người học Biểu tượng lịch sử là kết quả tri giác gián tiếp sự kiện, nhân vật, vì thế mức độ chất lượng (đơn giản hay phong phú) của biểu tượng phụ thuộc vào khả năng, kinh nghiệm và phương pháp tri giác phù hợp với đặc điểm nhận thức, yêu cầu học tập của HS ở từng cấp học Để có được hình ảnh chân xác về sự kiện, nhân vật đòi hỏi phải có nguồn tư liệu phong phú làm đối tượng tri giác Đối với HS THPT, nguồn

tư liệu có tác dụng tích cực trong việc tạo biểu tượng lịch sử là các loại tranh ảnh,

di vật, mô hình, bài viết giàu hình ảnh Như vậy, nội dung của một sự kiện lịch sử được HS nhận thức thông qua việc tạo nên hình ảnh về quá khứ, bằng những hoạt động của các giác quan: thị giác tạo nên những hình ảnh trực tiếp, thính giác đem lại những hình ảnh về quá khứ thông qua lời giảng của GV

Mặt khác, về mặt phương pháp luận, sự kiện, hiện tượng lịch sử có thể phân loại như sau: Sự kiện khách quan (đã xảy ra trong quá khứ và chỉ để lại “dấu vết” riêng lẻ); Sự kiện - tư liệu (được dựng lại, ghi lại dưới nhiều hình thức tư liệu); Sự

Trang 27

kiện nhận thức (được con người nhận thức qua nghiên cứu sự kiện - tư liệu) Các loại sự kiện này luôn có khoảng cách nhất định, song lại thâm nhập vào nhau Khi nào sự kiện nhận thức và sự kiện tư liệu tiếp cận gần nhất với sự kiện khách quan, khi đó lịch sử được phản ánh khách quan nhất Nhận thức lịch sử luôn có đối tượng trung gian (sự kiện tư liệu) Vì vậy, biểu tượng lịch sử là “biểu tượng của trí tưởng tượng”

Như vậy, việc tạo biểu tượng là cần thiết đối với việc học tập lịch sử, dù cho

HS không thể trực tiếp tri giác, quan sát hiện thực quá khứ nhưng vẫn phải tuân theo qui luật nhận thức từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn Trực quan sinh động trong học tập lịch sử là tạo biểu tượng lịch sử Bởi vì, trên cơ sở nắm vững các sự kiện lịch sử, dựa vào những phương tiện trực quan và các nguồn kiến thức khác, sử dụng các biện pháp sư phạm có hiệu quả, GV tạo cho HS các biểu tượng cụ thể, và trên cơ sở đó hình thành khái niệm lịch sử, nêu quy luật và rút bài học kinh nghiệm quá khứ cho hiện tại

1.1.2.3 Các loại biểu tượng lịch sử

Biểu tượng lịch sử có thể phân thành các loại cơ bản sau:

Biểu tượng về hoàn cảnh địa lý, tức là biểu tượng về không gian xảy ra sự kiện, hiện tượng lịch sử: Một sự kiện lịch sử bao giờ cũng diễn ra trong một không gian nhất định Không gian của sự kiện có thể là một địa bàn rộng lớn, như chiến trường châu Âu trong Chiến tranh Thế giới thứ hai (1939-1945), hoặc diễn ra ở phạm vi hẹp như địa điểm của một trận đánh hay một cuộc khởi nghĩa Vì vậy, tạo biểu tượng - về hoàn cảnh địa lí nơi xảy ra sự kiện là một yêu cầu trong dạy học lịch sử để xác định không gian lịch sử

Biểu tượng về nền văn hóa vật chất trong lịch sử: Đó là những hình ảnh về những thành tựu của loài người trong việc chế ngự thiên nhiên, trong lao động sáng tạo sản xuất ra của cải vật chất cũng như văn hóa tinh thần của xã hội loài người

Biểu tượng về thời gian, về những mối quan hệ xã hội của con người

Trang 28

Biểu tượng về nhân vật lịch sử (chính diện cũng như phản diện), những đại biểu điển hình của một giai cấp, một tập đoàn xã hội, những nhân vật kiệt xuất Trong các loại biểu tượng cần tạo cho HS, biểu tượng về nhân vật lịch sử có ý nghĩa, vai trò và vị trí quan trọng của nhận thức lịch sử Bởi vì con người là trung tâm của đời sống xã hội, của lịch sử Lịch sử là lịch sử của con người tồn tại, hoạt động và phát triển qua các thời đại lịch sử kế tiếp nhau một cách hợp quy luật Việc tạo biểu tượng về nhân vật lịch sử không tách khỏi mối quan hệ với các loại biểu tượng lịch sử khác đã nêu trên Bởi vì, con người hoạt động phải gắn liền với thời gian, không gian, với cả cộng đồng và bị chi phối bởi những quan hệ xã hội khác nhau qua các thời đại, bởi quy luật chung của sự phát triển xã hội

Theo phân loại biểu tượng, biểu tượng về nhân vật là một bộ phận của biểu tượng lịch sử, có những nét riêng biệt Đây là vấn đề gây ra nhiều cuộc tranh luận khoa học Một số trường phái sử học tư sản cho rằng lịch sử là lịch sử của các cá nhân anh hùng Vì vậy, theo họ học tập lịch sử chủ yếu là nắm vững về nhân vật

Từ quan niệm như thế, họ chủ trương lấy việc viết hồ ký, viết tiểu sử cá nhân thay cho việc viết lịch sử chung của một dân tộc Vì vậy, trình bày hoạt động của nhân vật, các sử gia và tác giả SGK thường chỉ tập trung vào những chi tiết vụn vặt làm nổi bật “cái phi thường” mà không phản ánh đúng bản chất các hoạt động của nhân vật và vai trò, vị trí của họ trong tiến trình phát triển của lịch sử, nhiều khi xuyên tạc lịch sử Phạm Cao Dương trong SGK lịch sử lớp 11, thời Mỹ - Ngụy ở Miền Nam, đã vẽ lên hình ảnh các vua đầu nhà Nguyễn như là những vị anh hùng đã

“giải quyết được nguồn gốc của mọi bất công áp bức và bất mãn cho các tầng lớp

xã hội – công cuộc này đã được thực hiện ngay từ thời Gia Long và liên tiếp các vị vua kế vị” [29, tr.31] Để đạt được mục đích nêu trên, phương pháp giảng dạy lịch

sử ở các trường THPT do Mỹ - Ngụy thống trị ở miền Nam Việt Nam đã dùng nhiều thủ thuật xuyên tạc lịch sử như miêu tả, tường thuật, sử dụng đồ dùng trực quan không nhằm phản ánh sự thật lịch sử Trái lại, giáo dục lịch sử mác – xít với quan điểm khoa học xem bản chất con người là “tổng hòa các mối quan hệ xã hội”, con người là sản phẩm của hoàn cảnh lịch sử và điều kiện lịch sử - xã hội nhất định Vì vậy, cần phải giúp HS hiểu nhân vật trong bối cảnh chung của lịch sử dân

Trang 29

tộc, trong mối quan hệ chặt chẽ với quần chúng nhân dân Trong dạy học lịch sử theo quan điểm mác – xít cần làm cho HS hiểu rằng nhân vật nào cũng là một thực thể vừa có cái riêng của mình vừa có cái chung của giai cấp hay tập đoàn xã hội

mà cá nhân đó đại diện Cá nhân nào hoạt động phù hợp xu thế phát triển của thời đại, yêu cầu nguyện vọng của quần chúng nhân dân sẽ có tác dụng tích cực đối với

sự phát triển xã hội, có thể trở thành anh hùng, vĩ nhân Ngược lại kẻ nào đi ngược lại xu thế phát triển của xã hội, trái với quy luật thời đại, có thể tạm thời ngăn trở

sự phát triển xã hội, thu được một số kết quả nào đấy song cuối cùng cũng sẽ thất bại, bị xã hội đào thải Nói cách khác, giáo dục Lịch sử mác – xít xác định phương pháp đúng đắn trong việc tạo cho HS biểu tượng cụ thể về hoạt động của cá nhân trong mối quan hệ chặt chẽ với giai cấp trong bối cảnh lịch sử cụ thể nhất định

Ở đây, biểu tượng về nhân vật lịch sử không phải là về quần chúng nhân dân nói chung- nhân tố quyết định nội dung và sự phát triển của lịch sử - mà là biểu tượng về một con người cụ thể Vậy con người như thế nào được xem là nhân vật lịch sử Điều này được các nhà sử học nghiên cứu và xác định những yêu cầu, nguyên tắc phương pháp luận Những kết quả nghiên cứu này được vận dụng vào dạy học lịch sử ở trường phổ thông với những yêu cầu, nguyên tắc của phương pháp dạy học phù hợp, có hiệu quả sư phạm

Hoạt động của nhân vật lịch sử để lại dấu ấn trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, có nhân vật lịch sử chỉ giới hạn hoạt động và ảnh hưởng ở một lĩnh vực nhất định Có nhân vật lịch sử phát huy tác dụng trên nhiều lĩnh vực khác nhau Vì vậy, trong dạy học lịch sử, chúng ta cần hướng dẫn cho HS hiểu biết các nhân vật lịch sử trên các lĩnh vực khác nhau Tính phong phú, đa dạng trong hoạt động của các nhân vật lịch sử, giúp HS hiểu sâu sắc hơn lịch sử, tập trung chủ yếu trên các mặt kinh tế, quân sự, chính trị, văn hóa…

Việc tạo biểu tượng về một nhân vật lịch sử không phải chỉ để biết cụ thể về cuộc đời hoạt động của nhân vật ấy mà phải giúp HS có biểu tượng đầy đủ hơn về

xã hội, thời đại, các sự kiện có liên quan đang được học tập Việc tạo biểu tượng

về nhân vật lịch sử phải sử dụng các biện pháp sư phạm của việc tạo biểu tượng lịch sử nói chung, tính tới nội dung và đặc điểm của việc nhận thức về nhân vật

Trang 30

lịch sử Từ nguyên tắc chung về tạo biểu tượng lịch sử, các nhà giáo dục lịch sử đã nêu ra một số nguyên tắc có tính phổ biến, phù hợp với việc tạo biểu tượng về nhân vật lịch sử

Một là, phải cụ thể hóa bối cảnh lịch sử (thời đại, xã hội, quê hương, gia đình)

mà nhân vật xuất hiện và hoạt động Trước hết những kiến thức lịch sử làm cơ sở cho việc tạo biểu tượng phải phản ánh những thành tựu mới, hiện đại của sử học Những sự kiện được trình bày phải chính xác, đầy đủ các yếu tố của kiến thức cơ bản như thời gian, bối cảnh xuất hiện nhân vật lịch sử, những nét chủ yếu về hình dáng, cá tính, hành động của nhân vật, đặc biệt là những nét phản ánh chung về giai cấp hoặc tầng lớp xã hội mà nhân vật ấy đại diện Tiếp đó cần rút ra những kết luận khái quát về công lao, vai trò của nhân vật đối với tiến trình phát triển hợp quy luật của lịch sử

Hai là, phác họa bức chân dung của nhân vật lịch sử với những nét khái quát,

biểu lộ những nét đặc trưng về phẩm chất, tính tình, tài trí của nhân vật Qua đó thấy được nhân vật này đại diện cho ai, hoạt động có phù hợp với quy luật phát triển của xã hội hay không… Sau khi chọn được sự kiện cơ bản, chính xác, tương đối đầy đủ phải có phương pháp trình bày cụ thể, sinh động với việc sử dụng những tài liệu tham khảo, đồ dùng trực quan và các phương tiện khác Nội dung biểu tượng về hoạt động nhân vật được trình bày chủ yếu thông qua ngôn ngữ, có hình ảnh, gợi tả, sinh động kết hợp phân tích chân dung nhân vật, song không rườm rà mà phải ngắn gọn và có sức lôi cuốn HS Vì vậy, việc miêu tả, tường thuật

có hình ảnh đòi hỏi phải lựa chọn chi tiết đắt giá, có tác dụng gợi cảm, gây ấn tượng, kích thích suy nghĩ của HS cũng như chuẩn bị khả năng vận dụng kiến thức vào đời sống thực tiễn Ở đây cần chú ý giải quyết vấn đề thời gian, trình độ HS với việc lựa chọn lượng thông tin, mức độ kiến thức dùng để tạo biểu tượng cho

HS Điều này đòi hỏi GV vừa có kiến thức sâu, rộng vừa có nghiệp vụ sư phạm để trong một thời gian cho phép, cung cấp cho HS một lượng thông tin chính xác, khoa học, tạo ở HS một biểu tượng rõ nét về nhân vật lịch sử cần nắm vững có tác dụng giáo dục tình cảm, đạo đức, thẩm mỹ cao và phát triển năng lực tư duy lịch

Trang 31

sử ở các em Kết quả đó là biểu hiện trình độ của GV đã thống nhất tính khoa học

và tính sư phạm trong dạy-học lịch sử

Ba là, miêu tả khôi phục lại những nét chủ yếu, tiêu biểu trong hoạt động cụ

thể của nhân vật (chú ý các mối quan hệ xã hội – với giai cấp, với quần chúng nhân dân…) Qua hình ảnh về các hoạt động chủ yếu của nhân vật, HS sẽ hình dung rõ hơn xã hội, thời đại, các sự kiện lịch sử cơ bản liên quan Khi tạo biểu tượng về nhân vật lịch sử cần tuân thủ quan điểm lịch sử cụ thể, tức là làm cho HS hình dung được hoàn cảnh cụ thể mà nhân vật ấy đang sinh sống, hoạt động và từ

đó đánh giá đúng công lao của họ Quan điểm lịch sử cụ thể đòi hỏi trong quá trình tạo biểu tượng các nhân vật lịch sử phải lựa chọn những chi tiết phản ánh mối quan

hệ giai cấp hay tập đoàn xã hội mà nhân vật ấy đại diện quyền lợi và phục vụ, không được quên nội dung giai cấp trong hoạt động của nhân vật Tuy nhiên cần làm cho HS hiểu rằng nhiều nhân vật thuộc giai cấp tiến bộ, khi phục vụ cho giai cấp mình, trong một chừng mực nhất định, họ đều phục vụ lợi ích của nhân dân

Bốn là, sử dụng tốt, có lựa chọn các nguồn tài liệu, phương tiện trực quan, với

sự tham gia tích cực của HS, để tạo biểu tượng về nhân vật lịch sử

Năm là, việc tạo biểu tượng về nhân vật lịch sử, phải chuẩn bị cơ sở, điều

kiện cho việc hình thành khái niệm, khái quát trong nhận định, đánh giá, rút bài học kinh nghiệm Việc tạo biểu tượng về nhân vật lịch sử trong dạy học lịch sử ở mức độ nhất định đã đạt tới việc nắm được nội dung sơ giản của các khái niệm tương ứng sẽ được hình thành tiếp theo

Biểu tượng về nhân vật lịch sử có ý nghĩa quan trọng trong việc nhận thức của các em Bởi vì, nhân vật lịch sử có vai trò không nhỏ đến sự phát triển của lịch

sử dù không quyết định như quần chúng nhân dân Trong mỗi thời kì, mỗi giai đoạn, mỗi sự kiện lịch sử đều có hoạt động của những cá nhân xuất chúng, nắm bắt được quy luật vận động của lịch sử, hiểu được nguyện vọng của quần chúng nhân dân, biết đề ra đường lối đúng đắn để tổ chức, vận động quần chúng hành động vì lợi ích của giai cấp, của đất nước và thu được thành công trong hoạt động Tạo biểu tượng về nhân vật lịch sử là tạo biểu tượng về hành động cụ thể của một cá nhân – trong mối quan hệ chặt chẽ với quần chúng nhân dân trong một bối cảnh

Trang 32

lịch sử cụ thể, tại một địa điểm, thời điểm cụ thể, góp phần không nhỏ vào sự phát triển lịch sử Đây là yếu tố cần làm cho HS lớp 11 nắm vững trong quá trình tạo biểu tượng về hoạt động của quần chúng nhân dân và của nhân vật lịch sử

Có thể minh họa nội dung biểu tượng về một nhân vật lịch sử bằng sơ đồ sau

Trong sơ đồ trên hoàn cảnh lịch sử (1) là hoàn cảnh cụ thể của nhân vật lịch

sử, bao gồm các yếu tố: thời gian, địa điểm và bối cảnh cụ thể trong thời điểm mà nhân vật trực tiếp tham gia vào sự kiện lịch sử Yêu cầu của lịch sử (2) là nhiệm vụ lịch sử nảy sinh trong bối cảnh mà nhân vật đang sống Nhân vật lịch sử (3) là con người có thật (tên, nơi sống, địa vị xã hội, nguyện vọng thay đổi hoàn cảnh lịch sử) Đóng góp của nhân vật lịch sử (4) là những suy nghĩ, hành động cụ thể của nhân vật tác động trực tiếp vào hoàn cảnh làm biển đổi hoàn cảnh lịch sử theo chiều hướng tiến bộ hơn Hành động của nhân vật lịch sử luôn gắn với sự kiện lịch

sử Chiều của mũi tên tác động từ (1) đến (4) theo mối liên hệ chuỗi; (4) và (1) biểu thị mối quan hệ nhân - quả, đồng thời thể hiện động lực phát triển nội tại của lịch sử [62, tr.76]

Tóm lại, việc tạo biểu tượng lịch sử nói chung, biểu tượng về nhân vật lịch sử nói riêng là giai đoạn nhận thức cảm tính trong dạy học lịch sử ở trường phổng thông, có ý nghĩa và tác dụng quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục

Trang 33

bộ môn Những biểu tượng lịch sử nêu trên không tách rời nhau mà có mối quan

hệ mật thiết với nhau, tạo thành một hệ thống trọn vẹn về một bức tranh lịch sử

1.1.3 Đặc điểm tâm lí HS THPT trong quá trình tạo biểu tượng nhân vật lịch

sử

Chủ thể của quá trình tạo biểu tượng nhân vật trong dạy học lịch sử ở THPT

là HS lớp 11, vì vậy muốn xây dựng thành công các biện pháp tạo biểu tượng trước hết cần phải nắm vững một số nét cơ bản về đặc điểm tâm lí HS

Trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu tâm lí học, tâm lí học lứa tuổi, chúng tôi nêu ra một số điểm sau: Do cấu trúc của não phức tạp và chức năng của não phát triển, sự phát triển của quá trình nhận thức nói chung ảnh hưởng đến hoạt động nhận thức và học tập cũng như tư duy HS Các nhà tâm lý học đã chứng minh, lứa tuổi HS THPT (từ 15- 17 tuổi) đang phát triển và có những thay đổi quan trọng về mặt tâm lý, sinh lý Đây là thời kì mà các em muốn khẳng định mình trong cuộc sống, như ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá cái mới, đồng thời tư duy các em cũng phát triển lên một bước Nếu như ở bậc trung học cơ sở, tư duy của HS chủ yếu là cụ thể, với nhận thức cảm tính, thì lên bậc THPT, tư duy các em đã có bước phát triển mới Ở lứa tuổi này nhận thức lý tính, nhất là khả năng tư duy độc lập bắt đầu phát triển mạnh mẽ Đặc biệt, đặc điểm tâm, sinh lí và nhận thức của HS THPT ngày nay đã có những biến đổi về chất Năng lực quan sát sâu sắc, nhạy bén hơn, khả năng tư duy trừu tượng cao hơn, đặc biệt là khả năng phân tích, tổng hợp,

so sánh, trừu tượng, khái quát hóa cao HS tuổi này rất năng động, sáng tạo nên không thích chấp nhận một cách đơn giản những áp đặt của GV, các em thích tranh luận, bày tỏ những ý kiến cá nhân về những vấn đề lí luận và thực tiễn

Cũng vì vậy, nội dung và tính chất của hoạt động học tập ở lứa tuổi HS THPT khác rất nhiều so với HS THCS Sự khác nhau cơ bản không phải ở chỗ nội dung lịch sử nhiều hơn mà ở chỗ hoạt động học tập của các em đòi hỏi tính năng động và tính độc lập ở mức độ ngày càng cao hơn nhiều Đồng thời cũng đòi hỏi, muốn nắm được chương trình một cách sâu sắc thì cần phải phát triển tư duy lí luận nhiều hơn

Trang 34

Do vậy, khi tạo biểu tượng cho HS nói chung và biểu tượng nhân vật lịch sử nói riêng trong quá trình học tập lịch sử, GV phải quan tâm tới đặc điểm lứa tuổi cũng như tâm lý của các em, để có những chọn lựa biểu tượng, phương pháp cũng như mức độ biểu tượng để các em tiếp cận được vấn đề của bài học một cách tốt nhất Điều này có nghĩa là, cũng như trong dạy học lịch sử, việc lựa chọn kiến thức vừa sức đối với HS là một nguyên tắc quan trọng, giúp các em nắm vững diễn biến của lịch sử, hiểu rõ bản chất của sự kiện, những sự kiện đó phù hợp với khả năng nhận thức của HS ở mỗi lớp, mỗi cấp Sự phân biệt này không chỉ ở khối lượng kiến thức mà còn ở trình độ hiểu biết của HS Biểu tượng nhân vật lịch sử cũng vậy, với mỗi đối tượng HS, GV phải lựa chọn những biểu tượng phù hợp với khả năng nhận thức của các em Biểu tượng phải không quá đơn giản, vì sẽ dễ gây nhàm chán, đơn điệu Nhưng đồng thời, những biểu tượng được chọn lựa cũng không được quá phức tạp, vượt quá khả năng nhận thức của HS Ví như khi giảng dạy bài 21 “ Phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Việt Nam trong những năm cuối thế kỉ XIX”, có rất nhiều nhân vật để tạo biểu tượng như Tôn Thất Thuyết, Hàm Nghi, Nguyễn Thiện Thuật, Phạm Bành, Đinh Công Tráng, Phan Đình Phùng, Cao Thắng, Hoàng Hoa Thám nhưng GV nên chọn lọc để tạo biểu tượng về nhân vật tiêu biểu như Tôn Thất Thuyết, Phan Đình Phùng, Hàm Nghi GV cần phải sử dụng những biện pháp

sư phạm khác nhau để tạo biểu tượng về nhân vật nhằm tác động đến xúc cảm, đến tình cảm nhận thức của các em bằng chính vẻ đẹp của nội dung tri thức lịch sử, bằng các hình tượng nhân vật lịch sử Có như vậy thì không những có thể giúp HS hiểu một cách rõ ràng, cụ thể về những chiến công của từng anh hùng trong chiến đấu và lao động sản xuất, mà thông qua những hình tượng nhân vật lịch sử đó GV còn có thể bồi dưỡng lòng kính trọng và biết ơn những hy sinh của các anh hùng đối với sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc ta

Đối với đối tượng nghiên cứu mà chúng ta đang hướng tới, tức là HS lớp 11 ở trường THPT, ngoài những đặc điểm tâm lí, lứa tuổi như chúng ta đã phân tích ở trên, các em còn có một đặc điểm riêng cần chú ý Đó là, các em là những HS giữa cấp, các em có năng lực hoạt động độc lập, nhận thức lý tính, có khả năng tư duy trừu tượng hóa cao hơn so với lớp 10 Hơn nữa, kiến thức lịch sử mang tính không

Trang 35

lặp lại Kiến thức lịch sử như vậy theo thời gian cứ chồng chất lên nhau mà không được lặp lại, điều đó gây khó khăn cho HS trong việc ghi nhớ kiến thức lịch sử, hiện tượng lịch sử Do đó, người GV cần phải nghiên cứu những phương pháp giảng dạy tích cực để làm sao cho HS ghi nhớ nhanh chóng cái lịch sử đã xảy ra, hướng dẫn hợp lý để các em tự giác học tập Đó chính là việc người GV phải khơi gợi được hứng thú, khiến các em tự tin, say mê nghiên cứu, từ đó các em sẽ chủ động lĩnh hội kiến thức Vì thế, trong tạo biểu tượng nhân vật lịch sử, GV có thể lôi cuốn HS bằng tranh ảnh, bằng lời kể, bằng diễn giải, bằng tổ chức các hình thức dạy học vừa sức, sinh động, hấp dẫn GV với biện pháp phù hợp, hiệu quả sẽ giúp các em vừa tiếp nhận kiến thức, vừa hình thành kĩ năng, phương pháp học tập cho các em Chẳng

hạn, trong dạy học mục II.2 “Phan Châu Trinh và xu hướng cải cách” (bài 23),

GV dựa vào SGK giới thiệu một cách khách quan, sinh động về những suy nghĩ và hành động cứu nước của Phan Châu Trinh, sau đó khi GV đặt HS trước một vấn đề

nhận thức “So sánh sự giống nhau và khác nhau giữa chủ trương cứu nước của

Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu” HS buộc phải tích cực tìm hiểu nội dung có

trong SGK và tích cực suy nghĩ để có thể trả lời câu hỏi để rồi từ đó đi đến giải

quyết vấn đề nhận thức Thông qua quá trình nhận thức tích cực đó, HS không những nhớ lâu và hiểu sâu sắc nội dung tri thức lịch sử mà các kỹ năng phân tích, đánh giá, liên kết các sự kiện để khái quát, nhận định của HS được củng cố và phát triển

1.1.4 Vai trò và ý nghĩa của việc tạo biểu tượng nhân vật lịch sử trong dạy

học lịch sử Việt Nam ở trường THPT

Ngoài việc cung cấp kiến thức, một mục tiêu quan trọng khác của giáo dục là hình thành nhân cách HS theo yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Trong quá trình học tập ấy, biểu tượng nhân vật lịch sử có vai trò quan trọng trong việc giáo dục thế hệ trẻ Cũng như các loại biểu tượng khác, biểu tượng nhân vật lịch sử cũng phải thực hiện ba chức năng giáo dục: trí dục, đức dục, mỹ dục

1.1.4.1 Biểu tượng nhân vật lịch sử với việc hình thành tri thức lịch sử cho HS

Có thể nói, tạo biểu tượng lịch sử là giai đoạn nhận thức cảm tính của quá trình học tập lịch sử Các thao tác của quá trình nhận thức bao gồm các thành phần

Trang 36

được xác định và sắp xếp theo trình tự: cảm giác, tri giác, biểu tượng, khái niệm, phán đoán, suy luận Theo đó thì cảm giác, tri giác và biểu tượng là hình thức đầu tiên của nhận thức lịch sử Cho nên, biểu tượng liên hệ chặt chẽ với tri giác và với quá trình tư duy Đối với việc học tập lịch sử, biểu tượng là giai đoạn khởi đầu của nhận thức cảm tính để chuyển sang nhận thức lý tính Không có tư duy trừu tượng thì không có nhận thức cảm tính, không có biểu tượng lịch sử thì không có khái niệm Đúng như lý luận dạy học đã khẳng định: Trong quá trình nhận thức bao giờ cũng nảy sinh biểu tượng chung Đó là một kiểu quá độ từ tri giác qua tư duy Trong biểu tượng chung này, bên cạnh những dấu hiệu đơn nhất được thể hiện cụ thể, còn có một số thuộc tính chung vốn có của tất cả các sự vật cùng loại Nói về vai trò của biểu tượng trong dạy học nói chung, nhà giáo dục nổi tiếng người Nga

K.Đ.Usinxki đã khẳng định: “Việc học tập không phải xây dựng lời nói, những

quan niệm rời rạc, mà phải trên cơ sở hình ảnh cụ thể mà trẻ con trực tiếp thu nhận” [21, tr.33] Từ đó chúng tôi đi đến kết luận rằng: không tạo biểu tượng về

quá khứ thì sẽ không biết lịch sử và không hiểu lịch sử

Việc tạo biểu tượng là cần thiết đối với việc học tập lịch sử, dù cho HS không thể trực tiếp tri giác, quan sát hiện thực quá khứ nhưng vẫn phải tuân theo quy luật nhận thức từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn Trực quan sinh động trong học tập lịch sử là tạo biểu tượng lịch sử Bởi

vì trên cơ sở nắm vững các sự kiện lịch sử, dựa vào những phương tiện trực quan

và các nguồn kiến thức khác, sử dụng các biện pháp sư phạm có hiệu quả, GV tạo cho HS các biểu tượng cụ thể, và trên cơ sở đó hình thành khái niệm lịch sử, nêu quy luật và rút bài học kinh nghiệm quá khứ cho hiện tại

Rõ ràng việc tạo biểu tượng lịch sử có vai trò quan trọng trong việc hình thành tri thức lịch sử cho HS Có biểu tượng lịch sử, HS lĩnh hội, tiếp cận khái niệm một cách dễ dàng hơn Những biểu tượng xuất hiện trong ý thức HS giúp các

em tìm ra nội dung chung, cơ bản của mọi sự vật, hiện tượng, giúp các em vận dụng được khái niệm

Những điều đã nêu trên về vai trò, ý nghĩa biểu tượng nói chung cũng đúng với biểu tượng nhân vật lịch sử Mỗi nhân vật lịch sử đều đại diện cho một giai cấp

Trang 37

nhất định Nhiều đặc điểm cá nhân tiêu biểu là đặc trưng chung cho giai cấp mà cá nhân phục vụ Cho nên trong học tập lịch sử, phải hình dung một cách tương đối đầy đủ và rõ ràng từng nhân vật cụ thể, qua đó hiểu bản chất của từng giai cấp, hay tầng lớp xã hội nhất định Việc lý giải các quan hệ xã hội của các cá nhân thông qua những sự kiện, hiện tượng lịch sử giúp HS hình thành khái niệm “ giai cấp”,

“đấu tranh giai cấp”, “cách mạng” Các em hiểu rằng, hoạt động của một nhân vật lịch sử, nhất là những nhân vật đại diện cho quyền lợi dân tộc, nhân loại đều phản ánh ở mức độ nhất định lịch sử dân tộc, của đông đảo quần chúng nhân dân Nó có tác dụng cụ thể hóa một sự kiện lịch sử, làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản của lịch

sử dân tộc Ví như, khi chúng ta dạy học bài 23 “Phong trào yêu nước và cách mạng ở Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến chiến tranh Thế giới thứ nhất”, GV hướng dẫn HS tạo biểu tượng cụ thể về Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh, vận dụng các khái niệm chung “nhà yêu nước”, “chí sĩ”,… để rút ra những nét khái quát về hai ông Qua đó, giúp HS nhận thức rõ hơn các khuynh hướng cách mạng, yêu nước trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc vào những thập kỷ đầu của thế kỷ

XX Trên cơ sở biểu tượng cụ thể về Phan Châu Trinh, hoạt động đấu tranh cứu

nước, song đều thất bại, rơi vào cảnh “ như hoa sắp tàn, hiềm vì quốc phá gia vong

mà hơi tàn cũng phải gào cho hả dạ, may ra có tỉnh giấc hôn mê” [29, tr.21] và

biểu tượng về Phân Bội Châu – với những hoạt động yêu nước sôi nổi, kết thúc

cuộc đời với cảnh “thân cá chậu chim lồng” bị giam lỏng ở Bến Ngự (Huế) – HS

sẽ hình dung được phong trào yêu nước chống Pháp vào cuối thế kỉ XIX, đầu thế

kỉ XX “dường như trong đêm tối không có đường ra”

Tạo biểu tượng về nhân vật lịch sử, sẽ giúp HS tránh được sai lầm của bệnh “ hiện đại hóa lịch sử”, những nhận thức chủ quan, phiến diện và những đánh giá, nhận định tình hình thiếu cơ sở khoa học Những biểu tượng chân thật và sinh động về các nhân vật lịch sử sẽ giúp HS nhận thức đúng vai trò của cá nhân lịch sử

và mối quan hệ giữa cá nhân với quần chúng nhân dân Về mối quan hệ này, Ph.Ăngghen từng nói: Sự xuất hiện của một vĩ nhân là do yêu cầu của lịch sử, cho nên nếu chúng ta phế bỏ người đó đi thì lại xuất hiện sự đòi hỏi phải có một người khác thay thế và người thay thế này sẽ xuất hiện – thích hợp ít hay nhiều, nhưng

Trang 38

cuối cùng thì cũng xuất hiện Quan điểm phương pháp luận này không chỉ có ý nghĩa quan trọng cho việc nghiên cứu lịch sử mà còn đối với việc học tập lịch sử của HS

Tạo biểu tượng nhân vật trong dạy học nhân vật lịch sử còn góp phần cụ thể hóa những hoạt động của nhân vật và cụ thể hóa những sự kiện lịch sử cơ bản liên quan đến nhân vật Việc tạo biểu tượng nói chung, biểu tượng nhân vật lịch sử nói riêng làm cho tri thức lịch sử của HS đạt tới mức độ khái quát về các sự kiện, nhân vật trong quá khứ, chứ không phải chỉ dừng ở việc ghi nhớ sự kiện Vì vậy, trong dạy học GV phải kết hợp sử dụng các loại phương tiện, như sử dụng lời nói sinh động, tranh ảnh tư liệu… để trước hết làm “sống lại” sự kiện, nhân vật, rồi tìm hiểu nội dung của nó một cách vừa sức Tri thức lịch sử ở dạng biểu tượng sẽ rất sinh động Bởi vì, nhờ có tri giác các nguồn tư liệu phong phú mà những sự kiện liên quan đến nhân vật, hoạt động của nhân vật cách xa về thời gian, địa điểm, chỉ còn lưu lại vết tích riêng lẻ, được “sống lại”, được “xích lại” gần với nhận thức của các

em Qua biểu tượng, sự kiện liên quan đến nhân vật, nhân vật lịch sử được tái tạo, được hành động trong một bối cảnh lịch sử cụ thể với đầy đủ các yếu tố: thời gian, địa điểm, diễn biến, lực lượng tham gia…Trên cơ sở tạo biểu tượng về nhân vật với những hình ảnh cụ thể, sinh động, HS tiếp tục tự tri giác có chủ định về sự kiện, nhân vật Nhờ có sự tri giác này mà nhận thức của HS có được sự khái quát cao hơn – khi đó biểu tượng lịch sử đạt tới mức độ cô động nhất, với những nét đặc trưng nhất, có nghĩa là: biểu tượng đã gần với khái niệm, hoặc đã chứa đựng nội dung của khái niệm đơn giản SGK thường trình bày những sự kiện lịch sử rất

cô động và súc tích Vì vậy, trong dạy học việc tạo biểu tượng nhân vật lịch sử giúp HS có điều kiện và cơ sở để hiểu sâu sắc hơn bài học Lịch sử là lịch sử quần chúng nhân dân, nhưng cá nhân, đặc biệt các anh hùng, các nhà yêu nước tiến bộ

có vai trò không nhỏ trong sự phát triển xã hội Vì vậy, việc tạo biểu tượng chính xác về các nhân vật lịch sử có ý nghĩa giáo dục rất lớn Việc tạo biểu tượng về nhân vật đúng đắn và chính xác sẽ giúp HS có hứng thú lĩnh hội tri thức để hình thành khái niệm, từ đó rút ra quy luật lịch sử nhanh chóng hơn Ví như khi chúng

ta dạy học bài 21 “Phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Việt Nam trong

Trang 39

những năm cuối thế kỉ XIX”, GV sử dụng tranh ảnh để tạo biểu tượng nhân vật Tôn Thất Thuyết và Hàm Nghi: Tôn Thất Thuyết (1835-1913) là vị tướng giỏi, giàu lòng yêu nước, từng giúp Hoàng Tá Viêm và Lưu Vĩnh Phúc trong chiến thắng cầu giấy Ông là người giữ lập trường cương quyết chủ chiến trong triều đình, đối với đất nước ông tiêu biểu cho ý chí chiến đấu ngoan cường đến kẻ địch cũng phải thừa nhận lòng hi sinh cao cả của ông và nhân dân ca ngợi ông; Hàm Nghi là nhà vua trẻ tuổi nhưng có lòng yêu nước nồng nàn, ý thức tự cường cao, ông đã theo Tôn Thất Thuyết lên vùng rừng núi Quảng Trị lập căn cứ kháng Pháp, đến khi bị bắt, ông vẫn giữ lập trường kiên quyết bất hợp tác với kẻ thù Sau đó dẫn dắt HS hình thành khái niệm Cần Vương, Phong trào Cần Vương

Biểu tượng về nhân vật lịch sử có sức lôi cuốn mạnh mẽ đối với HS, gây hứng thú học tập bộ môn Vì vậy, trong quá trình dạy học lịch sử ở trường phổ thông, người GV cần có những biện pháp tích cực để phát huy tác dụng của việc tạo biểu tượng về nhân vật cho HS

1.1.4.2 Biểu tượng nhân vật lịch sử với việc bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm cho

HS

Biểu tượng lịch sử nói chung, biểu tượng nhân vật lịch sử nói riêng có tác dụng không nhỏ trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm cho HS Bởi vì, khi nhận thức về hiện thực quá khứ, các em không chỉ tri giác (nghe, nhìn, biết…) mà còn

có những “rung động”, “rạo rực”, “xao xuyến” Những hiện tượng tâm lý đó thể hiện sự “ nhập thân vào lịch sử”, biểu thị thái độ của HS đối với những gì mà các

em nhận thức được

Biểu tượng lịch sử nói chung, biểu tượng về nhân vật lịch sử nói riêng có nhiều ưu thế trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm cho HS Khi biểu tượng tham gia vào hoạt động của tư duy thì tư duy trở nên sinh động, gợi cảm, say sưa, hồi hộp và khẩn trương Điều này góp phần làm cho việc vạch ra nội dung khái niệm của đối tượng tư duy đầy đủ, sâu sắc hơn Đồng thời biểu tượng mở rộng làm phong phú thêm ý, làm cho nó có sức mạnh thuyết phục trực tiếp và sự hấp dẫn đầy cảm xúc Từ chỗ thấy rõ những chiến công, những gương anh hùng chiến đấu của quê hương, những sự kiện gắn liền với tên đất, tên người gần gũi với mình sẽ

Trang 40

khơi dậy ở các em niềm tự hào, niềm kiêu hãnh, lòng biết ơn những con người, những chiến sĩ đã ngã xuống vì quê hương, đất nước thân yêu của mình Nó không chỉ tái tạo lịch sử quá khứ mà còn có chức năng điều chỉnh mọi hành động Trên

cơ sở những tuyến nhân vật khác nhau (nhân vật chính diện, phản diện ), GV hình thành cho HS lòng tự hào, kính phục các vĩ nhân, lãnh tụ, anh hùng đối với những nhân vật chính diện Ngược lại, HS sẽ có thái độ căm ghét những gì tàn bạo, độc ác của các nhân vật đại diện cho giai cấp thống trị, đi ngược lại quyền lợi của quần chúng nhân dân Qua những sự kiện cụ thể về nhân vật đang học, GV hướng dẫn

để các em nêu lên được những tính cách, phẩm chất đạo đức của nhân vật, liên hệ với tình hình và nhiệm vụ hiện nay để rút ra những điều có thể học tập, noi gương, những điều cần khắc phục, những lời răn đe Trong giáo dục tư tưởng, đạo đức cho

HS qua môn Lịch sử, việc noi gương người xưa, việc xưa là một biện pháp sư phạm rất có hiệu quả Đó là cội nguồn của lòng tự hào dân tộc, là cơ sở của tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Khi dạy học bài 19 “Nhân dân Việt Nam kháng chiến chống Pháp xâm lược (Từ năm 1858 đến trước năm 1873)”, chúng tôi nhận thấy việc tạo biểu tượng về Trương Định gương chiến đấu hy sinh anh dũng vì nước vì dân có tác động sâu sắc đối với các em trong việc giáo dục truyền thống yêu nước, phản ánh tinh thần kiên quyết đấu tranh chống xâm lược của nhân dân ta Tìm hiểu về nhân vật Trương Định không phải chỉ tìm hiểu về một người yêu nước, một trong những người lãnh đạo cuộc đấu tranh chống Pháp đầu tiên ở Nam Kỳ mà còn để nhận thức thêm về phong trào đấu tranh của nhân dân ta Tuy nhân dân có mâu thuẫn với phong kiến, song trước nạn ngoại xâm đã gác mâu thuẫn giai cấp, đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, cùng triều đình chống Pháp Khi vua quan nhà Nguyễn không kiên quyết tiếp tục kháng chiến mà nhượng

bộ, thì nhân dân ta không tuân lệnh triều đình, vẫn không ngừng chiến đấu – Trương Định là nhân vật tiêu biểu cho tinh thần, ý chí của nhân dân Việt Nam chống xâm lược

Qua tìm hiểu về Trương Định, học sinh hiểu rõ rằng, ông là tiêu biểu cho tinh thần chiến đấu của nhân dân Việt Nam chống Pháp lúc bấy giờ với các lãnh tụ nghĩa quân nổi tiếng khác như Âu Dương Lân, Nguyễn Hữu Huân, Phan Văn Trị

Ngày đăng: 21/08/2023, 01:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Đình Ba, Trắc nghiệm lịch sử Việt Nam thời kỳ 1858 đến 1945, NXB Quân đội nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: rắc nghiệm lịch sử Việt Nam thời kỳ 1858 đến 1945
Nhà XB: NXB Quân đội nhân dân
2. Phan Trọng Báu (1971), Đinh Công Tráng với khởi nghĩa Ba Đình, Tạp chí nghiên cứu Lịch Sử, số 141 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đinh Công Tráng với khởi nghĩa Ba Đình
Tác giả: Phan Trọng Báu
Năm: 1971
3. Bộ giáo dục và Đào tạo (2006), Chương trình giáo dục phổ thông môn lịch sử, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình giáo dục phổ thông môn lịch sử
Tác giả: Bộ giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), SGK lịch sử lớp 11, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK lịch sử lớp 11
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Sách GV lịch sử lớp 11, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách GV lịch sử lớp 11
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
6. Trương Bá Cần (1988), Nguyễn Trường Tộ, con người và di cảo, NXB TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trường Tộ, con người và di cảo
Tác giả: Trương Bá Cần
Nhà XB: NXB TP Hồ Chí Minh
Năm: 1988
7. Nguyễn Hữu Chí (1996), Suy nghĩ về dạy học lấy HS làm trung tâm, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy nghĩ về dạy học lấy HS làm trung tâm
Tác giả: Nguyễn Hữu Chí
Năm: 1996
8. Hoàng Chúng (1983), Phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục
Tác giả: Hoàng Chúng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1983
9. Nguyễn Thị Côi (1993), Mấy ý kiến về đổi mới biên soạn và giảng dạy Lịch sử Việt Nam thời kỳ 1858-1945, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy ý kiến về đổi mới biên soạn và giảng dạy Lịch sử Việt Nam thời kỳ 1858-1945
Tác giả: Nguyễn Thị Côi
Năm: 1993
10. Nguyễn Thị Côi, Nguyễn Hữu Chí (1999), Bài học lịch sử và việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập lịch sử ở trường THPT sách BDTX chu kỳ 1997- 2000 cho GV THPT, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài học lịch sử và việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập lịch sử ở trường THPT sách BDTX chu kỳ 1997-2000 cho GV THPT
Tác giả: Nguyễn Thị Côi, Nguyễn Hữu Chí
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 1999
11. Nguyễn Thị Côi (2000), Kênh hình trong dạy học lịch sử ở trường THPT tập 1 (Lịch sử Việt Nam), NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kênh hình trong dạy học lịch sử ở trường THPT tập 1 (Lịch sử Việt Nam)
Tác giả: Nguyễn Thị Côi
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 2000
12. Nguyễn Thị Côi (2008), Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông, NXB Đại học Sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thị Côi
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm
Năm: 2008
13. Nguyễn Thị Côi (chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Trần Viết Thụ, Nguyễn Mạnh Hưởng, Đoàn Văn Hưng... (2009), Rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm môn Lịch sử, NXB Đại học Sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm môn Lịch sử
Tác giả: Nguyễn Thị Côi (chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Trần Viết Thụ, Nguyễn Mạnh Hưởng, Đoàn Văn Hưng
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm
Năm: 2009
14. Nguyễn Ngọc Cơ (1993), Vài ý kiến về nội dung giảng dạy Lịch sử Việt Nam, thời kỳ 1858-1945, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài ý kiến về nội dung giảng dạy Lịch sử Việt Nam, thời kỳ 1858-1945
Tác giả: Nguyễn Ngọc Cơ
Năm: 1993
15. Nguyễn Ngọc Cơ (chủ biên), Phạm Thị Tuyết - Đào Thu Vân - Phạm Ngọc Anh - Trần Xuân Trí - Nguyễn Thị Phương Thanh (2008), Tri thức lịch sử phổ thông lịch sử Việt Nam từ 1858 đến 1930, tập 3, NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tri thức lịch sử phổ thông lịch sử Việt Nam từ 1858 đến 1930
Tác giả: Nguyễn Ngọc Cơ (chủ biên), Phạm Thị Tuyết - Đào Thu Vân - Phạm Ngọc Anh - Trần Xuân Trí - Nguyễn Thị Phương Thanh
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2008
16. Trần Văn Cường (1997), Vận dụng nguyên tắc liên môn trong dạy học lịch sử, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục số 7, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng nguyên tắc liên môn trong dạy học lịch sử
Tác giả: Trần Văn Cường
Năm: 1997
17. Võ Xuân Đàn, Đặng Văn Hồ (1994), Tạo biểu tượng các anh hùng dân tộc trong dạy học Lịch sử, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạo biểu tượng các anh hùng dân tộc trong dạy học Lịch sử
Tác giả: Võ Xuân Đàn, Đặng Văn Hồ
Năm: 1994
18. Hồ Ngọc Đại (1983), Tâm lý dạy học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý dạy học
Tác giả: Hồ Ngọc Đại
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1983
19. Hồ Ngọc Đại (1993), Bài học là gì?, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài học là gì
Tác giả: Hồ Ngọc Đại
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1993
20. M.A Đanhilôp, N.N Xcatkin (1980), Lý luận dạy học ở trường phổ thông, một số vấn đề của lý luận dạy học hiện đại (trích dịch), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học ở trường phổ thông
Tác giả: M.A Đanhilôp, N.N Xcatkin
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1980

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2  Sơ đồ minh họa hoạt động - Tạo biểu tượng vầ nhân vật trong dạy học lịch sử việt nam ở lớp 11 thpt chương trình chuẩn
2 Sơ đồ minh họa hoạt động (Trang 5)
Bảng 1: Kết quả điều tra việc tạo biểu tượng nhân vật lịch sử ở trường phổ - Tạo biểu tượng vầ nhân vật trong dạy học lịch sử việt nam ở lớp 11 thpt chương trình chuẩn
Bảng 1 Kết quả điều tra việc tạo biểu tượng nhân vật lịch sử ở trường phổ (Trang 47)
Bảng 2: Kết quả điều tra mức độ hứng thú học tập của HS - Tạo biểu tượng vầ nhân vật trong dạy học lịch sử việt nam ở lớp 11 thpt chương trình chuẩn
Bảng 2 Kết quả điều tra mức độ hứng thú học tập của HS (Trang 51)
Bảng 3: Tổng hợp các kiến thức cơ bản về nhân vật lịch sử tiêu biểu.   Bài  Nhân - Tạo biểu tượng vầ nhân vật trong dạy học lịch sử việt nam ở lớp 11 thpt chương trình chuẩn
Bảng 3 Tổng hợp các kiến thức cơ bản về nhân vật lịch sử tiêu biểu. Bài Nhân (Trang 74)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w