Trong cuốn Để dạy tốt học tốt tác phẩm văn chương phần trung đại ở trường phổ thông 2007, tác giả Nguyễn Thanh Hương đã đưa ra các phương pháp dạy học văn học trung đại như: Hướng dẫn
Trang 2MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 1
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Cấu trúc của luận văn 4
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 5
1.1 Khái niệm văn học trung đại Việt Nam 5
1.1.1 Tên gọi 5
1.1.2 Một số đặc điểm của văn học trung đại 5
1.2 Vị trí của phần văn học Việt Nam trung đại trong chương trình Ngữ văn ở THCS hiện nay 7
1.3 Thống kê, phân loại các văn bản văn học Việt Nam trung đại được dạy học 8
1.4 Một số ghi nhận về thực trạng của việc dạy học văn học Việt Nam trung đại ở THCS 9
Chương 2 VẤN ĐỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC VĂN HỌC VIỆT NAM TRUNG ĐẠI Ở THCS HIỆN NAY 15
2.1 Một số vấn đề của thể loại văn học trung đại Việt Nam liên quan đến việc dạy học 15
2.2 Vấn đề nâng cao chất lượng dạy học văn học Việt Nam trung đại ở THCS hiện nay 33
2.2.1 Dạy học văn học Việt Nam trung đại theo đặc trưng thể loại 34
2.2.2 Kết hợp linh hoạt các phương pháp dạy đọc - hiểu phần văn học Việt Nam trung đại ở THCS, phát huy tính tích cực của học sinh 62
2.2.3 Dạy học phần văn học Việt Nam trung đại theo hướng tích hợp 83
Chương 3 THỰC NGHIỆM 88
Trang 33.4 Đối tượng thực nghiệm 88
3.5 Thiết kế giáo án thực nghiệm 89
3.6 Kết quả thực nghiệm 133
3.6.1 Kết quả thực nghiệm bài Qua Đèo Ngang - Ngữ văn 7 133
3.6.2 Kết quả thực nghiệm bài Hịch tướng sĩ - Ngữ văn 8 133
3.6.3 Kết quả thực nghiệm bài Kiều ở lầu Ngưng Bích - Ngữ văn 9 133
3.6.4 Tổng hợp kết quả thực nghiệm 134
3.7 Nhận xét kết quả thực nghiệm 134
KẾT LUẬN 135
TÀI LIỆU THAM KHẢO 137
Trang 41.1 Văn học Việt Nam trung đại là một trong những phần chủ yếu của chương trình Ngữ văn ở THCS Nó được bố trí thời lượng lớn, ở tất cả các lớp của cấp học này Chất lượng dạy học phần này còn có ảnh hưởng đến việc dạy học văn học Việt Nam trung đại ở cấp sau
1.2 Văn học Việt Nam trung đại gồm những văn bản ra đời cách đây đã lâu so với hiện nay, trong hoàn cảnh có những điểm khác biệt lớn Những điều này tạo nên những khó khăn đáng kể khi dạy học văn học Việt Nam trung đại ở trung học cơ sở (THCS) hiện nay
1.3 Hiện tại nhận thức và tình cảm của người dạy và người học về phần văn học Việt Nam trung đại đang có những thay đổi theo cả hướng có lợi và bất lợi, bởi vậy việc dạy học phần này đang đặt ra những vấn đề cần phải giải quyết để nâng cao chất lượng dạy học
1.4 Việc dạy học văn học Việt Nam trung đại nói riêng và dạy học Ngữ văn ở THCS nói chung đang ngày càng được sự hỗ trợ của các phương tiện dạy học hiện đại Bên cạnh những kết quả khả quan cũng còn có những vấn
đề cần phải nghiên cứu thêm để phù hợp với tính chất của văn học Việt Nam trung đại Nghiên cứu đề tài này góp phần thiết thực vào việc đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn
2 Lịch sử vấn đề
Vấn đề phương pháp dạy học văn nói chung và dạy văn học trung đại Việt Nam nói riêng đã được nhiều nhà giáo học pháp và nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
Phương pháp dạy học văn của nhóm tác giả Phan Trọng Luận, Trương
Dĩnh, Nguyễn Thanh Hùng, Trần Thế Phiệt (1988) đã trình bày những vấn đề
lí luận chung về bộ môn, khoa học về phương pháp dạy học văn và phương pháp dạy học bộ môn Có thể nói đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách tổng thể, toàn diện về phương pháp dạy học văn Cuốn sách đã đưa ra các phương pháp dạy học văn ở trường phổ thông: gợi mở, nghiên cứu, tái tạo, nêu vấn đề Các tác giả đã đề cập đến vai trò của người học Cuốn sách cũng đưa ra những phương pháp cụ thể khi dạy một thể loại Hoàn cảnh hiện
Trang 5tác giả Phạm Tuấn Vũ đã đề cập tới một số vấn đề thuộc một số thể loại văn học trung đại Việt Nam, trong đó tác giả chú trọng tới một số tác phẩm văn học trung đại được dạy học ở trường phổ thông Các bài viết trong cuốn sách được sắp xếp theo bốn nhóm: về phú, về thơ, về văn tế, về văn chính luận Đây là tài liệu tham khảo rất có ích cho giáo viên dạy văn ở trường phổ thông bởi tập sách đã cung cấp cho người đọc những hiểu biết về các thể loại nói trên, thế nhưng chưa mang lại cách thức tiếp cận cụ thể cho từng thể loại
Trong cuốn Để dạy tốt học tốt tác phẩm văn chương (phần trung đại) ở
trường phổ thông (2007), tác giả Nguyễn Thanh Hương đã đưa ra các phương
pháp dạy học văn học trung đại như: Hướng dẫn học sinh đọc tác phẩm, dạy học văn học trung đại thông qua cắt nghĩa, dạy thơ trung đại thông qua chú giải sâu… Hướng dẫn học sinh đọc hiểu tác phẩm văn học trung đại, tác giả cho rằng văn học trung đại có các kiểu đọc như đọc đúng, đọc kỹ, đọc hay, đọc chéo, đọc có định hướng, mục đích, đọc bổ sung, đọc diễn cảm, kèm theo những giải thích cụ thể về các kiểu đọc và đưa ra ví dụ cụ thể về cách đọc hịch, đọc cáo…Những vấn đề mà tác giả nêu lên trong cuốn sách chưa thực
sự là phương pháp mà thực ra đó chỉ là những biện pháp, thủ pháp hơn nữa những kiểu đọc mà tác giả đưa ra không phải chỉ riêng cho văn học trung đại
mà văn học dân gian hay văn học hiện đại cũng có thể áp dụng
Công trình nghiên cứu Văn chính luận Việt Nam thời trung đại (2010)
của tác giả Phạm Tuấn Vũ đã phân tích khá cụ thể các văn bản chính luận trung đại được dạy học ở trường phổ thông và thực tế dạy học các văn bản chính luận ấy Từ đó tác giả đã đưa ra những cách thức cụ thể để người dạy người học có thể tiếp cận tốt với thể loại văn chính luận Những kiến thức mà tác giả trình bày trong cuốn sách đã giúp ích rất nhiều cho giáo viên dạy ngữ văn Tuy nhiên tác giả nghiên cứu chỉ giới hạn ở phần văn chính luận
Phương pháp dạy học ngữ văn ở trường phổ thông theo hướng tích hợp và tích cực của Đoàn Thị Kim Nhung phục vụ dạy học Ngữ văn THCS
đã đưa ra những định hướng về đổi mới phương pháp dạy học theo quan điểm tích hợp và tích cực, xây dựng được mô hình thiết kế giáo án phù
Trang 6phần văn học cụ thể: văn học dân gian, văn học trung đại và văn học hiện đại chưa được đề cập tới
Đổi mới phương pháp dạy học văn được bắt đầu bằng việc thay
đổi chương trình SGK Bộ SGK Ngữ văn đã định hướng cho giáo viên
và học sinh khám phá phân tích tác phẩm bằng hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài, bằng yêu cầu cần đạt và ghi nhớ ở đầu và cuối mỗi bài học Phần yêu cầu cần đạt giúp giáo viên xác định được trọng tâm kiến thức của bài học, giúp học sinh kiểm tra việc dạy của giáo viên và việc tiếp thu kiến thức của mình Phần hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài giúp HS từng bước khám phá, tiếp cận văn bản và đồng thời hướng dẫn giáo viên tổ chức giờ học
Các tài liệu khác là sách giáo viên, sách thiết kế bài giảng và các tài liệu tham khảo khác đều trình bày cụ thể, chi tiết các văn bản Ngữ văn được giảng dạy trong nhà trường, trong đó có các văn bản Ngữ văn thuộc phần văn học trung đại Tuy nhiên các kiến thức được trình bày riêng rẽ với từng văn bản cụ thể, chưa có cái nhìn khái quát, hình thành nên những cách thức phương pháp cụ thể để tiếp cận với từng loại văn bản thuộc những thể loại khác nhau trong chương trình văn học trung đại ở trường phổ thông
Xuất phát từ lí do, mục đích và phạm vi nghiên cứu của luận văn, do hạn chế về thời gian và nguồn tư liệu tham khảo, chúng tôi không thể xem xét tất
cả các công trình nghiên cứu của các tác giả Chúng tôi thấy đã có nhiều công trình nghiên cứu về phương pháp dạy môn Ngữ văn nói chung, giảng dạy văn học trung đại nói riêng trong nhà trường THCS với những quy mô và hướng tiếp cận khác nhau Giới nghiên cứu đã đề cập đến nhiều vấn đề, thể loại của văn học trung đại để đưa ra những cách thức tiếp cận các văn bản văn học trung đại giúp người dạy người học có thể thâm nhập vào thế giới hình tượng
để từ đó hiểu được tác phẩm Dạy học các tác phẩm văn học trung đại vẫn
còn nhiều vấn đề phải bàn luận Chính vì vậy chúng tôi chọn đề tài Một số vấn đề của dạy học văn học Việt Nam trung đại ở trung học cơ sở hiện nay để nghiên cứu
Trang 74 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu việc dạy học và đọc thêm các văn bản văn học Việt Nam trung đại trong chương trình Ngữ văn THCS hiện nay về các phương diện nhận thức văn bản, phương pháp dạy học
- Nghiên cứu đặc điểm của người dạy và người học văn học Việt Nam trung đại ở THCS hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu Ngữ văn: thống kê - phân loại, tổng hợp - phân tích, đối sánh… kết hợp với sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục: phương pháp quan sát, phương pháp điều tra, phương pháp thực nghiệm
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung của luận văn được trình bày
trong ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung
Chương 2: Vấn đề nâng cao chất lượng dạy học văn học Việt Nam
trung đại ở THCS hiện nay
Chương 3: Thực nghiệm
Trang 81.1 Khái niệm văn học trung đại Việt Nam
1.1.1 Tên gọi
Thuật ngữ “Văn học trung đại” được dùng khá phổ biến ở Việt Nam trong mấy thập kỷ gần đây Văn học trung đại là là khái niệm dùng để chỉ văn học viết của Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX
Trước đây người ta gọi thời kỳ văn học này bằng nhiều tên gọi khác nhau Trước Cách mạng tháng Tám Dương Quảng Hàm, Phạm Thế Ngũ gọi
theo triều đại; bộ Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam của nhóm Lê Quý Đôn
đã dùng thuật ngữ văn học cổ điển Trong Mấy vấn đề văn học sử Việt Nam
nhà nghiên cứu Trường Tửu gọi đây là văn học cổ điển Các bộ giáo trình lịch
sử văn học Việt Nam của đại học sư phạm, Đại học tổng hợp Hà Nội hoặc gọi theo niên đại hoặc gọi văn học thời phong kiến Có nhà nghiên cứu gọi là Văn
học Hán – Nôm Đến cuốn Đặc điểm có tính quy luật của lịch sử văn học Việt
Nam xuất bản nội bộ ở trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh năm
1984, người viết chuyên luận này mới dùng thuật ngữ văn học trung đại để gọi tên cho thời kỳ văn học dân tộc từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX Cách gọi này
đã được dùng khá phổ biến trong mấy chục năm qua, đã đi vào sách giáo khoa phổ thông, giáo trình đại học, các chuyên đề giảng dạy ở bậc cao học
Các cách gọi tên này đều có những điều hợp lí và những bất hợp lí Cách gọi tên theo triều đại Lí Trần, Hậu Lê, Lê Trung Hưng… là cách gọi theo tiến trình lịch sử không xuất phát từ văn học Cách gọi theo niên đại từ thế kỷ này đến thế kỷ khác là cách gọi lấy những mốc thời gian để đánh dấu sự chuyển biến trong văn học Gọi tên văn học phong kiến hay văn học thời phong kiến
là để phân biệt với văn học dân gian truyền miệng và với văn học thời hiện đại Thuật ngữ văn học trung đại xuất hiện từ những năm 80 đến nay, đây là tên gọi phù hợp và có cơ sở khoa học nhất
1.1.2 Một số đặc điểm của văn học trung đại
Văn học trung đại Việt Nam có ý nghĩa to lớn trong lịch sử văn học nước nhà Trong mười thế kỷ phát triển, văn học trung đại gắn liền với nền tảng mỹ
Trang 9học thời phong kiến Do đó văn học Việt Nam trung đại có những đặc điểm riêng
1.1.2.1 Quan niệm văn học
Văn học trung đại được sáng tác trên cở sở ý thức: Nho - Phật - Lão trong đó chủ yếu là đạo Nho Ảnh hưởng của các học thuyết này đã dẫn đến việc hình thành những nét đặc thù trong quan niệm của con người trung đại về bản chất vũ trụ, không gian, thời gian, thiên nhiên, con người Những quan niệm này có quan hệ đến việc hình thành những đặc trưng về nội dung và hình thức nghệ thuật của văn chương trung đại Vì vậy lí giải được những vấn
đề thuộc về bản chất của văn học trung đại, tìm hiểu được cái hay, cái đẹp của mỗi tác phẩm tất yếu phải dựa vào những quan niệm nghệ thuật đặc thù về thế giới và đời sống con người ở thời trung đại Văn học trung đại là sản phẩm của các thế hệ trí thức dân tộc đương thời Các tầng lớp tri thức ấy luôn chịu ảnh hưởng của Nho học, từ lâu Nho gia đã gắn với đạo “ văn sở dĩ tải đạo dã” Quan niệm trên coi văn là cái hình thức, cái để chứa, để chuyên chở đạo lí
Có lúc đạo ấy được hiểu là đạo lí của thánh hiền, cũng có khi hiểu cái đạo lí
ấy là đạo lí của nhân dân, mang tư tưởng thân dân Do vậy văn trở đạo ở đây
là chuyên trở đạo yêu nước thương dân Từng nghe trong Bình Ngô đại cáo
Nguyễn Trãi đã khẳng định:
Hay lời Nguyễn Đình Chiểu trong Than đạo:
Người xưa đòi hỏi tác phẩm văn học phải thật sự chân thành, phải là tiếng nói phát ra từ đáy lòng Nội dung ấy phải được thể hiện thống nhất trong một hình thưc đẹp để phục vụ để làm cho nội dung thêm hay Với nhận thức văn là dùng để biểu hiện các chân lí phổ biến, là hình thức đẹp để chuyển tải
nội dung Ngôn nhi vô văn, hành chi bất viễn (Khổng Tử) nên phạm vi của
văn học được quan niệm rất rộng Từ công việc chép sử, luận triết học, viết chế, chiếu, biếu, cáo, hịch… Đều trau chuốt hình thức câu văn sao cho ý đẹp lời hay Văn được dùng để chuyên trở đạo lí nên văn chương rất được người xưa coi trọng Nó có chức năng giáo hóa (giáo dục làm thay đổi nhân cách con người theo hướng tốt đẹp) và di dưỡng tinh thần (giúp bản thân con người
Trang 10thanh lọc tâm hồn, gạn đục, khơi trong, bày tỏ tấm lòng trung quân ái quốc, nuôi dưỡng nhân cách chính nhân quân tử)
Nhìn chung văn học trung đại quan niệm văn trở đạo đã ảnh hưởng rất rõ đến mục đích viết văn, phạm vi đề tài và hình thức thể hiện Tuy nhiên các tác giả càng tách rời khỏi những giáo điều của Nho gia càng gần với thực tế cuộc sống dân tộc thì càng phát huy được mặt tích cực của quan niệm đó, thành công
ấy ta có thể thấy trong những tác phẩm của Hồ Xuân Hương, của Nguyễn Du
1.1.2.2 Hiện tượng Văn - Sử - Triết bất phân
Hiện tượng Văn - Sử - Triết bất phân có liên quan mật thiết đến quan niệm văn chương thời trung đại Khái niệm văn gần như đồng nhất với văn hiến, văn hóa, với học thuật nói chung Mặt khác hiện tượng trên cũng bắt nguồn từ quan niệm văn dĩ tải đạo, văn dĩ quán đạo, văn dĩ minh đạo, thi dĩ ngôn chí
Hiện tượng Văn - Sử - Triết bất phân thể hiện trong phạm vi văn xuôi rõ nét hơn Trong loại hình văn xuôi các thể loại của nó có thể chia làm hai bộ phận: bộ phận thứ nhất là những thể loại thuộc văn chính luận thì hiện tượng Văn - Sử - Triết bất phân trở thành đặc trưng thể loại
1.1.2.3 Hệ thống ước lệ thẩm mỹ cổ điển
Ước lệ là thuộc tính của văn học vì các hiện tượng được phản ánh trong văn học không như nó vốn tồn tại mà đã được tổ chức lại theo những phương thức nào đó, nhằm những mục đích nào đó Trong văn học trung đại, tính ước
lệ được thể hiện phổ biến, lâu dài, sâu sắc
1.2 Vị trí của phần văn học Việt Nam trung đại trong chương trình Ngữ văn ở THCS hiện nay
Văn học trung đại Việt Nam là thời kỳ văn học đầu tiên và dài nhất, là một di sản văn học quý báu của dân tộc Nó không chỉ để lại cho đời sau những giá trị thẩm mỹ lớn lao, chứa đựng trong đó biết bao giá trị văn hóa, những vui buồn trăn trở, tâm tư của người xưa gửi gắm đến đời sau Để duy trì tiếp nối, phát huy truyền thống cha ông không thể bỏ qua chiếc cầu nối văn học này Chính vì vậy dạy học văn học trung đại được coi là nội dung quan trọng trong chương trình Ngữ văn phổ thông ở bậc THCS với sự phân bố thời lượng khá lớn Thể loại văn học trung đại được đưa vào dạy học trong chương trình Ngữ văn THCS khá đầy đủ
Trang 111.3 Thống kê, phân loại các văn bản văn học Việt Nam trung đại đƣợc dạy học ở THCS
Loại văn Hình thức văn bản Văn tự Hình thức học
Sổ tiết Lớp
Văn chương thẩm
mỹ
Văn học chức Văn xuôi Văn vần Văn ngẫu Hán Nôm
Dạy học Đọc thêm
Trang 12Toàn bộ phần văn học trung đại Việt Nam được dạy học trong chương trình là 22 bài, sắp xếp trong 26 tiết trên tổng số 595 tiết của chương trình Ngữ văn ở THCS
Văn học trung đại ở bậc THCS được dạy học cả: Văn học chức năng và văn chương thẩm mỹ, trong đó các văn bản được bố trí, sắp xếp theo thể loại
từ dễ đến khó, phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh ở từng cấp lớp Văn chương thẩm mỹ gồm các thể loại văn bản: truyện ngắn, truyện truyện truyền kỳ, thơ, tiểu thuyết chương hồi, tùy bút; Các văn bản thuộc thể loại văn học chức năng cũng đa dạng: hịch, cáo, chiếu, tấu Các văn bản thuộc loại văn chương thẩm mỹ được dạy học ở lớp 6.7.9 Các văn bản thuộc loại văn học chức năng được dạy học ở lớp 8 Hình thức văn bản cũng rất đa dạng từ văn xuôi, văn vần đến văn biền ngẫu Văn bản được dạy học có cả bằng chữ Nôm
và chữ Hán Hình thức dạy học: từ dạy chính khóa đến hướng dẫn học thêm, đọc thêm, với thời lượng phân bố khá hợp lí cho từng văn bản thuộc từng thể loại bài học
1.4 Một số ghi nhận về thực trạng của việc dạy học văn học Việt Nam trung đại ở THCS
Môn Ngữ văn là một trong những môn học chính trong nhà trường, được học ở mọi lớp học với thời lượng lớn Trong chương trình Ngữ văn THCS phần văn học trung đại là một trong những trọng tâm Và dù ở trong chương trình cải cách hay chương trình sách giáo khoa hiện hành thì phần văn học trung đại cũng có vị trí đó Tuy nhiên so với chương trình văn học được học trong bộ sách giáo khoa từ năm 2002 trở về trước, phần văn học trung đại được tập trung trong SGK văn học lớp 9 tập 1 với 30 bài học chính thức và 17 đọc thêm Các tác phẩm được sắp xếp theo trình tự phát triển của lịch sử văn học trung đại Sự sắp xếp này một mặt tạo ra cho người học có được cái nhìn tổng quan, dễ dàng nắm bắt được tiến trình phát triển của nền văn học trung đại, mặt khác số lượng tác phẩm mà học sinh phải học lại quá nhiều đó là điều hết sức nặng nề Như vậy sẽ dẫn đến tình trạng học sinh biết nhiều những không thể hiểu sâu So với SGK cũ các văn bản văn học trung đại Việt Nam trong SGK hiện hành lại nằm rải đều trên cả bốn khối lớp với số lượng văn bản cũng được giảm tải, mang tính chọn lọc hơn, chỉ còn 21 bài gồm cả chính thức và đọc thêm Mức độ khó của văn bản cũng được nâng dần lên theo từng
Trang 13khối lớp cân đối, phù hợp với trình độ sự phát triển của học sinh Những tác phẩm ấy được sắp xếp theo thể loại và cùng chủ đề cụ thể là: Lớp 6 học thể loại truyện trung đại; lớp 7 chủ yếu học các thể loại thơ trung đại; lớp 8 tập trung học các tác phẩm nghị luận trung đại; Lớp 9 có sự đa dạng hơn về thể loại nhưng trọng tâm đổ dồn chủ yếu là thể loại truyện Từ truyện truyền kỳ đến truyện thơ Nôm Sự sắp xếp và giảm tải chương trình như vậy tạo ra rất nhiều điều kiện thuận lợi cho cả người dạy và người học, nó phù hợp với trình
độ nhận thức, tâm lí lứa tuổi của học sinh SGK hiện hành xây dựng chương trình theo hướng tích hợp, chú trọng đến việc rèn luyện cả bốn kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết cho học sinh Dạy học các văn bản văn học phải đảm bảo sự tích hợp với kiến thức của hai phân môn Tập làm văn và Tiếng Việt trong cụm bài học Điều đó đòi hỏi người dạy và người học phải có những cách thức mới trong việc dạy và học Chính vì vậy cùng với sự thay đổi chương trình SGK mới việc đổi mới phương pháp dạy học ngữ văn đã được tiến hành trên diện rộng và khá triệt để Người dạy được trang bị thêm những kiến thức lí luận và thực tiễn qua các buổi tập huấn, học tập chuyên đề, và qua thực tế giảng dạy, vững vàng hơn trong việc áp dụng chuyên môn vào quá trình giảng dạy, người học cũng có thái độ tích cực, tự giác hơn trong việc tiếp cận tác phẩm trước khi nhận được sự hướng dẫn tận tình của người dạy
Cấu trúc chương trình cho thấy văn học Việt Nam trung đại được dạy học trong nhà trường một cách có hệ thống Những văn bản văn học trung đại được tuyển chọn dạy học chính thức cũng như đọc thêm không nhiều nhưng đều là những tác phẩm ưu tú thuộc những thể loại khác nhau có đóng góp lớn cho văn học dân tộc Về mặt nội dung, những văn bản này đều thể hiện nội dung tư tưởng tốt đẹp, có những biểu hiện của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo, chứa đựng những khát vọng vươn tới lí tưởng, thể hiện tình yêu quê hương đất nước, tinh thần yêu hòa bình, phản đối chiến tranh, tình bạn, tình yêu thiên nhiên và cái đẹp Đây là những giá trị trị trường tồn gắn kết người xưa với hôm nay và làm cho người dạy người học văn học Việt Nam trung đại thấy gần gũi với di sản này Về mặt nghệ thuật, các văn bản này đều có những đặc sắc về nghệ thuật Những giá trị văn chương này đã được thử thách trong thời gian dài, được lựa chọn thích hợp với tình hình mới Mặt khác cũng phải thấy được những văn bản văn học trung đại được tuyển
Trang 14chọn dạy học trong chương trình là tác phẩm của những tác giả ưu tú mà nhiều người trong số họ là những anh hùng dân tộc hoặc danh nhân văn hóa được nhân dân tôn sùng và kính trọng, lòng kính yêu tác giả cũng là động lực tích cực cho việc tiếp nhận các văn bản văn chương từ cả hai phía người học
và người dạy
Cùng với sự đổi mới chương trình SGK, sự đổi mới phương pháp dạy học đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về phương pháp dạy học văn nói chung, dạy và học văn học trung đại nói riêng của các nhà nghiên cứu, các thầy cô trực tiếp đứng lớp Chính điều đó đã tạo ra nguồn tài liệu tham khảo
vô cùng phong phú, từ sách giáo viên, sách để học tốt, sách thiết kế bài giảng, sách hướng dẫn tự học đến sáng kiến kinh nghiệm, đề tài nghiên cứu với những quy mô lớn nhỏ khác nhau Do đó người dạy và người học có nhiều điều kiện thuận lợi để tìm ra cho mình những định hướng chính xác khi tiếp cận với các văn bản văn học trung đại
Trên đây là những điều kiện thuận lợi về phía chương trình, người dạy và người học văn học trung đại ở nhà trường THCS Việc dạy văn học trung đại
ở trường THCS cũng gặp không ít khó khăn
Văn học trung đại mang dấu ấn đậm nét của một thời một đi không trở lại và mang ý nghĩa to lớn trong lịch sử văn học nước nhà Nó là nguồn động viên tinh thần lớn lao đối với thời đại bấy giờ Việc học tập văn học trung đại không chỉ đơn thuần là là tìm hiểu một giá trị văn hóa tinh thần, một thành tựu văn học nghệ thuật của dân tộc mà còn là tìm kiếm những phương tiện cách thức để khai thác và kế thừa những di sản văn hóa của cha ông Tuy nhiên nền văn học này lại chủ yếu được viết bằng chữ Hán, chữ Nôm - những
tử ngữ Người Việt Nam sau hơn một trăm năm dùng chữ Quốc ngữ la tinh
do đó phần đông người Việt Nam hiện tại không có khả năng tiếp xúc trực tiếp với các văn bản Hán, Nôm Những người biết chữ Hán, Nôm cũng không phải đều có khả năng hiểu đúng tất cả các tác phẩm văn chương Hán Nôm của người Việt Nam các thế kỷ trước Ở đây xuất hiện một khoảng cách lớn không chỉ là vấn đề ngôn ngữ - văn tự mà cả về tư duy văn hóa Văn học trung đại là sản phẩm của một không gian văn hóa khác, một không gian đã lùi hẳn vào quá khứ đồng thời cũng ít nhiều trở nên xa lạ với nhiều người,
Trang 15chính điều đó đã tạo nên những khó khăn lớn trong việc nhận thức giá trị của tác phẩm
Các tác giả văn học trung đại thường không nói hết, không nói trực tiếp ý mình mà để cho người đọc suy ngẫm cảm thụ Ngôn ngữ văn học trung đại tinh luyện hàm súc với những dư ba, lời ít ý nhiều, ý tại ngôn ngoại Bởi vậy giảng dạy văn học trung đại cho học sinh thật sự là một công việc đầy thử thách Cái khó lớn nhất là phải vượt qua hàng rào ngôn ngữ để hiểu và cảm cái hay, cái đẹp, sự thâm thúy của người xưa trong những tác phẩm Các văn bản văn học trung đại Việt Nam được dạy trong chương trình đều được viết bằng chữ Hán, Nôm, người dạy và người học tiếp xúc với tác phẩm đều phải thông qua bản dịch nên có những khúc xạ nhất định, hơn nữa trong các văn bản văn học ấy có rất nhiều điển tích, điển cố, những từ ngữ cổ, được viết dưới nhiều dạng thể loại văn học mà ngày nay không còn tồn tại, điều đó cũng tạo nên tâm lí ngại khó, ngại khổ trong cả người học lẫn người dạy
Văn học trung đại cách xa chúng ta vì ngôn ngữ, về cả không gian thời gian, cả phương thức tư duy nghệ thuật Người dạy văn và học văn hôm nay sống trong những điều kiện khác với con người Việt Nam thời trung đại trên nhiều phương diện Có những vấn đề nhân sinh trọng yếu thời trung đại, ngày nay không còn vị trí đó nữa Và cũng có những vấn đề chưa được người xưa quan tâm lắm thì ngày nay lại trở thành vấn đề sống còn Người dạy văn và người học văn hôm nay đang từng bước đi vào xã hội hiện đại với điều kiện sinh hoạt ngày càng cao và kèm theo đó là những vấn đề nhân sinh mới được đặt ra Quan niệm của họ về bản thân, về xã hội và các giá trị nhân sinh có ý nghĩa phổ quát có nhiều điều khác người xưa Quan niệm hiện thời về văn chương cũng có nhiều nội dung khác Đó cũng là lí do dẫn đến việc tiếp nhận các giá trị văn chương từ các tác phẩm văn học trung đại không phải là điều đơn giản
Nhìn ở một khía cạnh khác, hiện nay có rất nhiều phương pháp dạy học được áp dụng trong trường học theo tinh thần đổi mới, nhưng để đánh giá được đầy đủ và khách quan hiệu quả của những phương pháp này thật sự cần
sự nhìn nhận về cả phía người học và người dạy Thực tế mà nói người giáo viên dạy văn có tâm huyết nào cũng mong muốn bài giảng của mình có thể giúp học sinh nhận thức rõ cái hay, cái đẹp từ giá trị nội dung và nghệ thuật
Trang 16của tác phẩm, nhưng để làm được điều đó người giáo viên gặp không ít những khó khăn hoặc nếu như những mong muốn ấy trở thành hiện thực thì cũng chỉ mang tính chất nửa vời Từ thực tế giảng dạy của bản thân và dự giờ lên lớp của các đồng nghiệp chúng tôi nhận thấy đa số những tiết dạy này chưa tốt Không có một phương pháp giảng dạy cụ thể nào để có thể ứng dụng cho mọi bài giảng mà cần đến sự linh hoạt xử lí của giáo viên, nhưng ngay trong việc
xử trí ấy dường như còn lúng túng rất nhiều Sự lúng túng ấy xuất phát không hẳn từ phía giáo viên mà còn do áp lực từ chương trình, từ chuẩn kiến thức kỹ năng mà giáo viên phải hình thành cho học sinh qua bài giảng Các văn bản văn học trung đại được dạy trong chương trình ngữ văn THCS có những văn bản với thời lượng hợp lí, nhưng cũng có những văn bản việc bố trí thời lượng
thể hiện rõ sự bất cập, chẳng hạn chỉ trong vòng 45 phút dạy hai văn bản Sông
núi nước Nam và Phò giá về kinh ; hay khi dạy hướng dẫn đọc thêm hai văn
bản Thiên trường vãn vọng và văn bản Sau phút chia li trích Chinh phụ ngâm
khúc Dù là bài học chính thức hay đọc thêm nhưng chỉ giới hạn trong thời
gian ấy giáo viên khó có thể thực hiện những yêu cầu của bài học Đó là còn chưa đề cập đến vai trò, thái độ học tập của người học chi phối đến Khi thực hiện giảng dạy tác phẩm văn học theo phương pháp đổi mới tức là coi tác phẩm văn học luôn là một hệ thống mở, nó đa thanh, đa nghĩa Điều đó cũng
có nghĩa là cùng một tác phẩm văn học nhưng mỗi người đọc khi tiếp nhận sẽ
có những cảm nhận khác nhau tùy theo tâm trạng và nhận thức của họ Như vậy, khi áp dụng phương pháp mới học sinh cũng là một bạn đọc và các em cũng sẽ có những cảm nhận của riêng mình đối với tác phẩm được học Học sinh là chủ thể của quá trình tiếp nhận Người giáo viên lúc này sẽ giữ vai trò
là người hướng dẫn, trong giờ dạy giáo viên phải tạo ra được môi trường giao tiếp cởi mở cho học sinh để từ đó học sinh hăng hái tích cực tìm hiểu, giải mã những tín hiệu ngôn ngữ để từ đó lĩnh hội kiến thức bài học Như vậy học sinh là một nhân tố quan trọng có ảnh hưởng ít nhiều đến hoạt động dạy của giáo viên Nếu học sinh tham gia tích cực vào bài học sẽ làm cho tiết học trở nên tốt hơn và ngược lại thì chính học sinh sẽ trở thành một trở ngại lớn Mà trong thực tế, khi kinh tế, xã hội phát triển, những môn học thời thượng (Toán, Lý, Hóa, Ngoại ngữ, Tin học ) quan trọng hơn bao giờ hết thì văn chương không có tính năng ứng dụng, tương lai người học không được đảm
Trang 17bảo, học sinh ngày càng xa rời văn chương Số học sinh say mê học văn chưa nhiều, không ít học sinh thực chất năng lực yếu kém về môn văn, khả năng phân tích cảm thụ văn học còn hạn chế, lại không có thói quen chuẩn bị bài ở nhà, mà có chuẩn bị cũng chỉ là qua loa chiếu lệ nên tỏ ra chán học văn, tiếp xúc với phần văn học trung đại lại có nhiều khó khăn nên đa phần các em cảm thụ bài chưa tốt Đặc biệt một thực tế mà giáo viên dạy văn nhận thấy, đó là sách tham khảo, sách hướng dẫn, sách để học tốt quá nhiều vô hình chung
đã làm cho học sinh biết đầy đủ nội dung của tác phẩm văn chương được học dựa vào bài soạn đã được chép sẵn ở nhà nhưng chưa một lần đọc bài văn, bài thơ trong sách giáo khoa, trả lời những phát vấn của giáo viên thì các loại sách tham khảo nghĩ hộ, nói hộ tất cả
Như vậy điểm qua về thực trạng dạy học văn học trung đại ở trường THCS hiện nay để thấy rằng còn rất nhiều điều chưa đạt chất lượng tốt từ cả phía người dạy và người học Đó là những thách thức, những khó khăn mà người giáo viên đứng lớp luôn trăn trở tìm kiếm hướng đi nào để có thể dung hòa được tất cả các yếu tố nói trên, từ đó thực hiện tốt vai trò của mình - vai trò của người dẫn đường tìm kiếm những vẻ đẹp của văn chương
Trang 18Chương 2 VẤN ĐỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC VĂN HỌC VIỆT NAM TRUNG ĐẠI Ở THCS HIỆN NAY
2.1 Một số vấn đề của thể loại văn học trung đại Việt Nam liên quan đến việc dạy học
Thể loại của tác phẩm văn học là nhân tố cấu thành hình thức, là hình thái tồn tại cơ bản của văn bản văn học Thể loại là hình thức trừu tượng dùng
để phân loại văn bản văn học, đồng thời là phạm trù thẩm mĩ, là cách gọi chung
các loại văn bản văn học Thể loại văn học là dạng thức cụ thể và hình thái cụ
thể của tác phẩm văn học, là cơ sở để nắm bắt, nhận thức tác phẩm văn học Đối tượng biểu hiện, miêu tả của tác phẩm, hình thức tư duy sáng tạo của nhà văn, phương thức thể hiện tình cảm cho đến bố cục, tiết tấu của tác phẩm, đặc
điểm thủ pháp biểu hiện, vận dụng ngôn ngữ đều biểu lộ thông qua thể loại văn học Hiểu, nắm bắt một cách chính xác thể loại và đặc trưng của nó là công
việc có ý nghĩa rất quan trọng Nói như M.M Bakhtin, thể loại là nhân vật chính của đời sống văn học Đối với văn học Việt Nam trung đại như nhiều nhà nghiên cứu đã nhận thấy, trong một thời gian dài, tác phẩm văn chương Việt Nam thời trung đại chỉ được lĩnh hội ở phương diện nội dung, còn ở phương diện hình thức (trong đó nhất là cấp độ thể loại) chưa được chú ý đúng mức Ở tác phẩm văn chương, nội dung và hình thức không thể tách bạch được như ở nhiều sự vật hiện tượng khác nên một khi chưa nhìn nhận được giá trị của hình thức thì cũng không thể nhìn nhận được những giá trị nội dung theo đúng nghĩa của nó Do đó nghiên cứu văn học Việt nam thời trung đại bên cạnh ý nghĩa chung là nhận thức vai trò của phạm trù này trong đời sống văn học, còn có ý nghĩa nhận thức mối quan hệ thể loại văn học Việt Nam - Trung Quốc trong quá khứ vì mối quan hệ giữa văn học trung đại Việt Nam và Văn học Trung Quốc là mối quan hệ cơ bản, góp phần quyết định số lượng và chất lượng thể loại văn học Việt Nam trung đại, mặt khác còn có ý nghĩa nhận thức rõ vai trò của chữ Nôm, của văn học dân gian với hệ thống thể loại văn học dân tộc và góp phần lí giải những thành tựu văn chương cụ thể
Đã có nhiều công trình chuyên sâu đưa ra nhiều cách phân chia thế loại văn học trung đại Việt Nam trong đó có phân chia thể loại văn học theo chức
Trang 19năng Dựa vào tiêu chí trên hệ thống thể loại văn học trung đại Việt Nam gồm hai nhóm: Nhóm thể loại thuần văn chương tiêu biểu gồm thơ, phú, truyện, truyện truyền kì, kí sự, ghi chép, và nhóm thể loại văn học chức năng tiêu biểu gồm hịch, cáo, chiếu, biểu, tấu, sớ, văn bia, văn tế, Trên hành trình phát triển của lịch sử văn học dân tộc, loại hình văn học chức năng ngày càng thu hẹp và mất dần vị trí, nhường chỗ cho văn học nghệ thuật
Hai loại hình cơ bản của văn học trung đại Việt Nam
Văn học chức năng
Chức năng của một sự vật, hiện tượng là những yêu cầu khách quan mà sự vật hiện tượng đó có thể đáp ứng Chỉ thành những chức năng thực sự khi có sự tồn tại đồng thời cả hai mặt chủ quan và khách quan Từ xa xưa, khi sinh hoạt vật chất và sinh hoạt t inh thần của con người chưa phát triển, các hình thái ý thức xã hội chưa phân hóa cao thì văn học bên cạnh đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ còn đảm nhiệm một phần nhu cầu tổ chức xã hội một cách trực tiếp Đó là lí do trong hệ thống thể loại văn học trung đại có những thể loại văn học chức năng như cáo, hịch, chiếu, biểu, tấu, sớ,
Văn học chức năng là loại hình văn học sáng tác ra nhằm phục vụ cho mục đích tuyên truyền những tư tưởng tôn giáo chính trị hay đạo đức nào
đó Đây là loại văn học chủ yếu mang chức năng ngoài văn học
Đặc điểm của loại văn học chức năng trung đại Việt Nam
Thời trung đại các thể loại văn học thường được giao đảm nhận các chức năng rõ ràng, nhất là các thể loại văn hành chức Tên thể loại thường gắn liền tên tác phẩm nên người đọc dễ dàng nhận diện và phân loại chức năng thể loại Hịch là để kêu gọi, thuyết phục Cáo là để tổng kết một công việc hay một chủ trương chính trị, xã hội nào đó Chiếu là
để phổ biến một mệnh lệnh nào đó của nhà vua cho thần dân biết Văn học chức năng Việt Nam thời trung đại là những văn bản văn xuôi hoặc văn biền ngẫu trực tiếp viết về những vấn đề liên quan đến đời sống chính trị của quốc gia dân tộc Lọai văn bản này có những đặc điểm sau:
Thứ nhất: Tác giả do nhiệm vụ hoặc tình thế buộc phải viết chứ không chờ có cảm hứng mà viết, chẳng hạn khi người ta chép sử, lập bia, viết hịch, viết cáo, viết văn tế, tấu, sớ đều là do tình thế quyết
Trang 20định Tác giả của các tác phẩm văn học chức năng phải gắn liền với những chức danh cụ thể trong xã hội, như thiên tử, chủ soái, sứ thần
do đó văn học chức năng đều gắn với những thể loại nhất định
Thứ hai: Văn học chức năng viết cho những đối tượng nhất định, chẳng hạn viết cho vua, cho thần dân, cho tì tướng
Thứ ba: Mỗi thể loại văn học chức năng ứng với một (hoặc những) loại tác giả, ví dụ thể chiếu chỉ vua chúa mới được viết, để toàn dân thiên hạ thực thi, biểu là thể loại mà những quan lại viết để dâng lên nhà vua, chúa để tạ ơn
Thứ tư: Văn học chức năng có tính công thức, được quy định rất chặt chẽ, về cơ bản không có sự phá cách, rất ít sự sáng tạo, chịu sức ép của tư tưởng chính thống và quan niệm văn học chính thống, Văn học chức năng có yếu tố sử và triết rất đậm nét
Văn học chức năng được phân chia làm hai bộ phận:Văn học chức năng hành chính và văn học chức năng lễ nghi
Một số thể của văn học chức năng được dạy học ở THCS
Văn học chức năng hành chính là những tác phẩm văn học mang chức năng thực thi công việc mang tính chất nhà nước, hành chính quốc gia Nó bao gồm các tác phẩm thuộc thể: chế, cáo, chiếu, hịch, biểu, tấu, sớ,… Chẳng
hạn như Thiên đô chiếu của Lí Công Uẩn, Dự chu tì tướng hịch văn của Trần Quốc Tuấn, Bình Ngô đại cáo của Nguyến Trãi Các loại văn bản trực tiếp
tham gia vào các lĩnh vực khác của đời sống xã hội không phải thực hiện chức năng đích thực của văn học mà hướng đến chức năng ngoài văn học, chức năng tổ chức quản lí xã hội cũng đều là các tác phẩm văn học chức năng hành chính Chúng tôi trình bày một số thể loại cơ bản của văn học chức năng hành chính được dạy ở chương trình Ngữ văn bậc THCS
Chiếu
Văn bản hành chính là một phần không thể thiếu trong đời sống chính trị của một quốc gia Chúng gắn liền với những hoạt động mang tính chất quan phương thể hiện sự chú ý của những người lãnh đạo về mọi mặt trong xã hội
Và trong hệ thống văn bản hành chính thời trung đạị, chiếu là một loại hình văn bản có tầm quan trọng thiết yếu
Trang 21Chiếu là loại văn bản ghi mệnh lệnh của vua cho quan lại trong triều hoặc toàn dân trong nước được biết
Chiếu thường đề cập đến những vấn đề rộng lớn trọng đại như việc chọn kinh đô, việc truyền ngôi, bàn về phép tiền tệ Đây là loại văn bản được sử dụng nhiều vì ghi mệnh lệnh của vua chúa, thể hiện chủ trương, chính sách của triều đình về chính trị, kinh tế, văn hóa mà toàn thiên hạ thực hiện
Về lịch sử hình thành, phát triển của văn bản chiếu Chiếu là một loại
hình văn bản hành chính đặc biệt đã xuất hiện ở Trung Quốc từ thời cổ và được truyền sang các nước phương Đông thuộc vùng ảnh hưởng của văn hóa Hán, trong đó có Việt Nam Sở dĩ đặc biệt vì đó là một trong những loại hình văn bản hành chính có tính quan phương nhất của nhà nước đã ra đời từ rất
lâu, tồn tại trong suốt thời kì phong kiến Trong tác phẩm Lịch sử văn hóa
Trung Quốc, Đàm Gia Kiện đã viết về nguồn gốc của văn chiếu như sau: Chiếu là “cáo của triều đình ban bố gọi chung là chiếu lệnh, bắt nguồn từ thể
cáo trong Thượng thư, thời Xuân Thu gọi là mệnh, thời Chiến Quốc gọi là lệnh Sau khi Tần thống nhất, đổi mệnh thành chế, đổi lệnh thành chiếu Đầu đời Hán mệnh chia làm bốn loại, danh mục, công dụng khác nhau Chiếu là cáo với bách quan…” Như vậy, chiếu vốn được bắt nguồn từ thể cáo trong sách Thượng thư, được gọi là chiếu lệnh, trải qua các tên gọi khác nhau, đến đời Tần mới có tên gọi là chiếu như hiện nay
Về nội dung chiếu ghi mệnh lệnh của vua chúa, hình thức thì đó là sự
vận dụng phổ biến các cách diễn đạt của văn xuôi cổ thể, của biền văn, tản văn, trong đó phổ biến nhất là hình thức biền văn Từ ngữ được sử dụng trong văn chiếu cũng rất đa dạng, phong phú Điều này nhằm phù hợp với mục đích sử dụng của văn chiếu: vừa đảm bảo tính bác học vừa đảm bảo tính phổ cập, vì phải để mọi tầng lớp nhân dân đều có thể hiểu được
Hịch
Hịch là bài văn công khai minh bạch về một nội dung nào đó cho mọi người được biết Chính vì vậy nó có tên gọi là “Minh bạch chi văn” - bài văn làm sáng tỏ một điều gì đó Cũng chính vì điều đó nên nó còn có tên gọi là văn lộ bố - công bố cho mọi người cùng biết
Trang 22Về mặt nguồn gốc Hịch vốn xưa là những bài diễn thuyết quân sự gọi
là “thệ sư”, tức là những lời thế trước khi xuất chinh, “thệ sư” có nguồn gốc
từ kinh thư của Trung Quốc Theo Lưu Hiệp trong Văn tâm điêu long, từ hịch xuất hiện lần đầu tiên là từ thời chiến quốc Hịch Tề Hoàn Công đánh Sở Ở
Việt Nam hịch là thể văn được dùng rất sớm Tương truyền khi Thi Sách bị
Tô Định giết, hai Bà Trưng đã viết bài Hịch để kể tội kẻ thù và kêu gọi mọi người đồng tâm chiến đấu
Hịch là thể văn chính luận thời xưa thường là của vua chúa tướng lĩnh hay thủ lĩnh của một phong trào, dùng để cổ vũ, kêu gọi quần chúng tham gia vào một phòng trào xã hội nào đó hoặc đấu tranh chống lại một kẻ thù nào đó Hịch có thể được viết bằng tản văn, biền văn, vận văn Hịch được truyền
ra mặt trận kêu gọi tướng sỹ khi có việc khẩn cấp thì thường được cắm theo lông chim do đó còn gọi là “Vũ hịch”
Về Nội dung, một bài Hịch thì thường có hai phần chính, một phần nói
về tình hình quân địch, một phần nói về tình hình của ta Nói về kẻ thù thì vạch rõ tính chất phi nghĩa, nêu tội ác để gây lòng căm thù và tranh thủ sự đồng tình của nhân dân Nói về ta thì nêu cao tính chất chính nghĩa của ta, đề cao những gương hy sinh chiến đấu của các đời để cổ vũ tinh thần chiến đấu dũng cảm và tạo niềm tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng, kết thúc là một lời kêu gọi đoàn kết chiến đấu
Về hình thức, văn hịch thường là văn nghị luận nhưng có cũng các loại văn tự sự, miêu tả Tuy nhiên hiệu lực tổng quát vẫn là sức thuyết phục cuốn hút và cảm xúc mạnh mẽ Văn hịch phải khúc chiết, đanh thép, chính luận phải chặt chẽ, lôgic, trữ tình
Hịch là thể văn chính luận thời trung đại tồn tại lâu dài và có ý nghĩa đối với lịch sử văn học và lịch sử dân tộc, do chức năng của nó phù hợp với đặc
Trang 23thù lịch sử nước nhà luôn phải chống ngoại xâm và người Việt Nam luôn có ý chí thống nhất đất nước
Cáo
Nếu hịch thiên về cổ động thì cáo lại thiên về tổng kết một công việc hay trình bày thành quả của một sự nghiệp có tính cách tuyên ngôn để cho mọi người cùng biết Cáo là thể văn của vua chúa hoặc tướng lĩnh thời xưa dùng
để ban bố thành quả của một công việc, một sự nghiệp có liên quan đến vận mệnh dân tộc, đời sống nhân dân hoặc một sự kiện trọng đại của nhà nước phong kiến Cáo có thể được viết bằng văn xuôi hoặc văn biền ngẫu
Về nội dung, Cáo là loại văn dùng để bá cáo cho mọi người biết một công việc lớn lao đã hoàn thành trong đó nêu rõ mục đích, chủ trương, quá
trình, diễn biến và thành quả của công việc Chẳng hạn bài Bình Ngô đại cáo
của Nguyễn Trãi có nội dung như sau: Phần mở đấu thì nêu lên luận đề chính nghĩa làm cơ sở chung cho toàn bài, tiếp theo là nói về tội ác của kẻ thù, phần chính của bài cáo là tổng kết quá trình chiến đấu và thắng lợi của quân dân Đại Việt và cuối cùng là tuyên bố về nền độc lập dân tộc cho mọi người cùng biết
Về bố cục của bài cáo thường có bốn phần
Phần I: Luận đề chính nghĩa
Phần II: Xác định kẻ thù, bản cáo trạng tội ác
Phần III: Quá trình thực hiện công việc, hoặc quá trình chinh phạt và kết quả
Phần IV: Tuyên bố kết thúc
Về kết cấu, một bài cáo phải có kết cấu chặt chẽ, có sự sắp xếp hệ thống
hệ thống ý tứ nội tại chặt chẽ và logic, ý trước làm tiền đề cho ý sau, ý sau củng cố và nâng cao ý trước, trên dưới thông thuận, trước sau nhất quán, không thừa ý không thiếu ý Mặt khác phải có sự liền mạch, liền hơi, liền giọng
Về bút pháp viết cáo, cáo hướng tới cộng đồng do đó giọng phải hùng hồn trong phần kết quả và đánh giá Cần có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa bút pháp tự sự, trữ tình và chính luận vì phải kể được quá trình tạo nên kết quả và thể hiện cảm xúc của mình về quá trình tạo nên kết quả, nỗi đau và sự hân hoan (từ bi đến hùng) nhằm để đánh giá một cách đúng đắn về địch về ta, nêu
Trang 24bật được nguyên nhân thắng lợi Âm hưởng câu văn phải hài hòa, cân đối, phù hợp với nội dung cần biếu đạt Tư duy hình tượng sắc sảo, biến hóa phù hợp với cảm hứng của toàn bài
Hịch, chiếu, cáo, tấu Đây là bốn thể được đưa vào giảng dạy trong chương trình Ngữ Văn THCS Từ những kiến thức đã trình bày ở trên, chúng tôi muốn có cơ sở nền tảng cho việc tìm hiểu các văn bản được đưa vào giảng dạy trong chương trình
Văn học chức năng lễ nghi – tôn giáo là những tác phẩm thực thi nghi lễ mang tính chất tôn giáo hoặc tập tục tín ngưỡng Những tác phẩm thuộc loại này là: Văn tế, chướng, câu đối, thần phả, những tác phẩm triết học tôn giáo, những bài thơ của các thiền sư Nếu những thể loại mang tính chức năng hành chính gồm những áng văn mang phong cách hoành tráng cao thượng, thì những thể loại mang tính chức năng tôn giáo lại mang đậm dấu ấn tư tưởng triết học Phật - Lão - Nho
Văn chương thẩm mỹ
Văn học nghệ thuật là những tác phẩm nhằm thỏa mãn chức năng thẩm
mỹ cho người đọc người nghe Chức năng nhận thức thẩm mỹ là thuộc tính cơ bản của tác phẩm văn học nghệ thuật
Đặc điểm của văn chương thẩm mỹ
Thứ nhất, văn học nghệ thuật mang tính đa phương, nghĩa là văn học nghệ thuật là loại hình văn học viết cho tất cả mọi người, không dành riêng cho bất cứ ai, ai cũng có thể nghe cũng có thể đọc Nói như vậy cũng có nghĩa
là bất kỳ ai cũng có thể cầm bút sáng tác, miễn là người đó có năng lực văn chương và cảm hứng sáng tạo Chẳng hạn như thể loại thơ, bất kì ai viết, ai
Trang 25đọc cũng được từ vua, quan cho đến dân thường, có thể bình phẩm hay phê phán
Thứ hai, thể loại trong văn học nghệ thuật không có sự ràng buộc, tác giả luôn có những khoảng trống để sáng tạo Chẳng hạn như viết văn tự sự có thể lựa chọn nhiều hình thức thể loại: truyện ngắn hoặc tiểu thuyết, cũng có thể lựa chọn thể truyện thơ Thể loại văn học nghệ thuật ít chịu sức ép của tư tưởng chính thống và quan niệm văn học chính thống, có sự phá cách, thể hiện rõ cá tính sáng tạo của người sáng tác Ta biết tác giả Nguyễn Trãi khi
viết Bình Ngô đại cáo, Quân trung từ mệnh tập chịu sự chi phối của tư tưởng chính thống, nhưng khi viết Quốc âm thi tập thì chịu ít sức ép của tư tưởng
chính thống vì viết cho bản thân, cho bạn bè đọc, do đó sự phá cách sáng tạo thể hiện rõ trong việc lựa chọn đề tài, trong sử dụng thể loại
Thứ ba, người viết được tư do khi cầm bút sáng tác, miễn là có cảm hứng, chứ không phải do một nhiệm vụ, một tình thế nào quy đinh
Thứ tư, ở văn học nghệ thuật, phần chủ yếu cấu tạo nên tác phẩm là bức tranh đời sống, trong đó quan trọng nhất là hình tượng nghệ thuật, do nhà văn sáng tạo bằng hư cấu Chính vì vậy tác giả thể hiện tư tưởng tình cảm chủ yếu thông qua thế giới hình tượng
Văn học chức năng công khai đề cập đến những vấn đề của quốc gia dân tộc còn văn học nghệ thuật không nhất thiết như vậy Do đó trong giai đoạn đầu văn học chức năng chiếm vị trí chính thống, văn học nghệ thuật ở vị trí ngoại vi Sau đó văn học nghệ thuật mới dần dần chiếm vị trí quan trọng hơn văn học chức năng vì càng về giai đoạn sau chế độ phong kiến suy đồi khi mà
ý thức hệ chính thống không còn dủ sức kiềm tỏa các ý thức hệ khác Văn học nghệ thuật quan tâm đến các giá trị đó, đó là các giá trị dân tộc, dân chủ và nhân đạo Các giá trị đó đã làm cho văn học nghệ thuật chiếm vị trí trung tâm của văn học và ngày càng có vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa, trở thành bộ phận văn học thiết thực
Một số thể của văn chương thẩm mỹ được dạy học ở THCS
Thơ
Ở thời trung đại văn xuôi hình tượng chỉ chiếm một số lượng khiêm tốn
so với thơ ca
Trang 26Thơ ca trung đại là những sáng tác bằng chữ Hán, chữ Nôm ra đời (khoảng thời gian từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX) bộc lộ tâm tư, giãi bày tình cảm, suy nghĩ của thi nhân về thế giới, cuộc đời, con người và trực tiếp bày tỏ hoài bão, chí khí, ý nguyện của mình
Thơ ca trung đại sáng tạo theo truyền thống thẩm mĩ đầy những ước lệ tượng trưng Những tác phẩm ấy chịu sự chi phối của điều kiện lịch sử xã hội
và hệ tư tưởng của thời đại phong kiến nên có kiểu tư duy nghệ thuật độc đáo,
hệ thống thi pháp đặc thù với những đặc trưng riêng khác biệt so với các tác
phẩm ở giai đoạn văn học trước và sau nó
Thơ ca trung đại phát triển cùng với sự phát triển của lịch sử xã hội và vận mệnh dân tộc Ở thời kỳ đầu nội dung chủ yếu của thơ trung đại là thể hiện cảm hứng yêu nước Đến giai đoạn sau đó thơ trung đại lại chủ yếu tập trung thể hiện cảm hứng nhân đạo chủ nghĩa Từ việc phản ánh tinh thần yêu nước, ý thức quyết chiến đấu và chiến thắng vì độc lập chủ quyền của dân tộc, phản ánh niềm tự hào đân tộc với những chiến công hiển hách oai hùng đến chỗ hướng ngòi bút của mình vào việc phản ánh những hoàn cảnh éo le của số phận con người nói lên tiếng nói của cảm xúc cá nhân Sự mở rộng của nội dung phản ánh ấy đòi hỏi các thi nhân trung đại luôn luôn phải không ngừng tìm tòi các hình thức thể hiện phù hợp Chính lẽ đó đã tạo nên sự phát triển phong phú cuả hình thức thơ ca trung đại với nhiều thể loại khác nhau Dưới đây là những thể loại thơ ca trung đại được các thi nhân sử dụng để thể hiện những cảm xúc của mình trước cuộc đời và thế sự
Thơ cổ phong
Thơ cổ phong còn gọi là cổ thể, cổ thi Là thể thơ ra đời trước đời Đường hoặc trong hoặc sau nhưng không theo luật của thơ Đường Đây là thể thơ tự
do ngày xưa của Trung Quốc, không bị niêm luật ràng buộc, số chữ, số câu gò
bó Cổ phong có màu sắc tự do, phóng khoáng, có khả năng miêu tả và biểu hiện phong phú
Về số câu, số chữ trong bài thơ cổ phong không bị hạn định Có thể từ bốn câu cho đến vài trăm câu, khi dài như vậy người ta gọi là cổ phong trường thiên Số tiếng có thể là ba tiếng, năm tiếng, chín tiến, mười một tiếng hoặc nhiều hơn nữa, những ưu tiên cho những số lẻ
Trang 27Thơ cổ phong có thể dùng toàn vần bằng hoặc bằng, trắc xen kẽ có thể dùng độc vận hoặc nhiều vần thay đổi nhau, thường tránh việc sử dụng các
âm thanh, bằng, trắc, nằm trong niêm luật thơ Đường, thường sử dụng điệp thanh trắc hoặc bằng ở các chữ gần cuối câu
Cổ phong là thể thơ dùng cho tất cả mọi đề tài Đây là dạng thơ dùng để
tự sự, cũng có khi thể hiện ý chí, qua đó gửi gắm tình cảm mang tính kí thác, tâm sự nghĩa là tình cảm ấy được nâng lên thành ý chí để thể hiện Vì vậy đề tài thường là câu chuyện nào đó, cảnh sắc thiên nhiên hặc một con người, một câu chuyện nào đó Do vậy yếu tố hiện thực rất nhiều, tính khách quan của hiện thực được thể hiện rất cao Tác giả thường viết về chuyện của người khác đến khi kết thúc mới gửi gắm tâm sự của mình vào
Về các lối tiểu thể, Các tiểu thể nhiều, biến hóa khôn lường Người Việt Nam chỉ vay mượn bốn lối sau:
Ca
Nghĩa là bài hát bài ca Nội dung là số phận của một người nào đó, số phận ấy làm cho ta thương cảm hoặc có nét nào đó giống với tác giả về tấm lòng, tác giả viết để thông qua đó thể hiện tấm lòng của mình Ta có thể thấy thể thơ trên qua bài Long thành cầm giả ca của Nguyễn Du, sau hai mươi năm gặp lại người kỹ nữ đã thay đổi qua nhiều, xúc động Nguyễn Du đã viết nên
bài ca trên Hay bài thơ Côn Sơn ca của nhà thơ Nguyễn Trãi trong chương trình Ngữ văn lớp 7 Bài thơ viết về cuộc sống trong sạch ở Côn Sơn Cảnh
Côn Sơn được Nguyễn Trãi lựa chọn để thể hiện tư tưởng ý chí quyết sống cho thanh cao hơn của nhà thơ
Ngâm
Nghĩa là lời than thở thành thơ Nội dung là thể hiện nội tâm của nhân vật trữ tình nào đấy với hình thức khá dài thường là trường thiên Đây là thể
thơ được sử dụng trong tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn
Tác giả đã thể hiện được dòng tâm trạng, cảm xúc của người phụ nữ có chồng
đi chinh chiến
Trang 28Du, cuối bài thơ Nguyễn Du lên án chế dộ phong kiến Ai vẽ bức tranh này/
Dâng lên nhà vua rõ Sa hành đoản ca của Cao Bá Quát thể hiện ý chí vươn
lên mọi khó khăn của nhà thơ khi lâm vào cảnh cùng đường
Từ
Nghĩa là lời hát.Nội dung thể hiện là những câu chuyện về tư tưởng, trí tuệ mang tính nghệ thuật Đó là những bài ca về trí tuệ, đạo đức, lí tưởng Thể
thơ này được sử dụng trong Hành lạc từ của Nguyễn Du - bài thơ nói về
chuyện ăn chơi
Trên đây là bốn tiểu thể thơ cổ phong được sử dụng trong văn học trung đại Việt Nam Thơ cổ phong tạo ra nhiều thành tựu nhất vào thời xã hội phức tạp, vì hiện thực xã hội có nhiều điều cần thể hiện mà thể thơ trên nhìn chung tự do hơn cả trong việc thể hiện cảm xúc, tư tưởng tình cảm của thi nhân trước thời cuộc đáp ứng được nhu cầu diễn đạt của thi nhân
Thơ Đường luật
Là thể thơ vay mượn của Trung Quốc, thể thơ ra đời từ thời nhà Đường,
nó đòi hỏi chặt chẽ về số câu, số chữ, cách gieo vần về đối Đây là thể thơ được sử dụng nhiều trong thời kỳ trung đại
Trong quá trình hình thành Luật thơ Đường được định hình người ta chia thơ Đường thành ba tiểu thể và hai hình thức chung gọi là ba lối hai dạng Thơ Đường là lối thơ cách luật, nếu kể số câu trong bài thì có ba lối: Bát cú, bài thơ có tám câu); Tuyệt cú (Bài thơ có bốn câu); Bài luật (bài thơ kéo dài gồm 10 câu thơ trở lên) Trong ba lối ấy bát cú là lối cơ bản thường được các tác giả văn học trung đại sử dụng Nếu kể số chữ trong câu thì có hai dạng: Ngũ ngôn (năm chữ); Thất ngôn (Bảy chữ)
Về cách gieo vần, thơ Đường luật chỉ gieo một vần là vần bằng Vần nằm ở các câu: 1, 2, 4, 6, 8 Riêng chữ cuối ở câu thứ nhất thơ ngũ ngôn có thể gieo vần hoặc không
Về cách đối, Đối là đặt hai dòng song đối với nhau cho lời và ý cân xứng Về nguyên tắc các từ đối nhau phải cùng từ loại, vế đối thường xuất hiện ở liên thứ hai (hai dòng là một liên) và liên thứ ba
Về luật Thơ Đường luật buộc phải theo sự quy định về thanh bằng, thanh trắc trong từng câu và cả bài
Trang 29Về niêm, Theo hệ thống dọc giống nhau về thanh (bằng, trắc) ở từng đôi 1- 8; 2 - 3; 4 - 5; 6 - 7
Về thanh điệu, phối hợp vần niêm luật làm cho bài thơ thành một chỉnh thể có nhạc điệu, âm hưởng hài hòa Câu có thể có hai nhịp: 4/3, 2/5; ba nhịp: 2/2/3
Về kết cấu, thất ngôn bát cú thường gồm bốn phần: đề, thực, luận, kết Thể thất ngôn tứ tuyệt thì có kết cấu dạng: khai - thừa - chuyển - hợp
Thơ trung đại trong chương trình ngữ văn trung học cơ sở chủ yếu ở dạng thất ngôn bát cú
Trong lịch sử văn học Việt Nam thời trung đại, thể thơ Đường luật rất phổ biến Thơ Đường luật là một thành tựu khá lớn của văn học thời trung đại Trong quá trình sử dụng thể thơ này, các nhà thơ Việt Nam cũng đã có những cố gắng đóng góp đáng kể trong sự cách tân, Việt hóa thể thơ
Các thể thơ trình bày trong phần trên đây là những thể thơ vay mượn từ Trung Quốc, dưới đây luận văn xin được trình bày về các thể thơ dân tộc Đặc tính chung của các thể thơ dân tộc là vừa có vần chân, vừa có vần lưng, được làm theo điệu số chẵn tức là số câu trong bài, số chữ trong câu đều là số chẵn,
sự thể hiện tiết tấu, nhạc tính của câu thơ dựa hoàn toàn vào số chẵn Ra đời dựa sâu vào ngôn ngữ đời sống do đó nó gắn với văn hóa Bao gồm các thể: Thể nói lối, Lục Bát, Song thất lục bát Luận văn xin được trình bày hai dạng
cơ bản được sử dụng
Thơ lục bát
Là thể thơ dân tộc, theo lối cách luật và các thể thức được tập trung thể hiện trong một khổ gồm hai dòng với số tiếng cố định Dòng sáu tiếng gọi là câu lục, dòng tám tiếng gọi là câu bát Nó có thể diễn đạt một ý khái quát Thể lục bát thuộc điệu số chẵn
Về cách gieo vần, thể lục bát vừa theo vần chân, vừa theo vần lưng, tiếng cuối câu bát gieo vần xuống tiếng cuối câu lục tiếp theo Sự phát triển về vần đều đặn diễn đạt sự việc một cách thong thả do đó thể lục bát có thể sử dụng được trong cả hai phương thức tự sự và trữ tình
Về luật bằng trắc: Chữ thứ hai, thứ tư, thứ sáu, thứ tám của dòng sáu và tám phải theo luật nhất định: chữ thứ hai vần bằng, chữ thứ tư vần trắc, chữ thứ sáu và tám vần bằng
Trang 30Về nhịp, thường sử dụng là nhịp số chẵn 2/2/2;2/2/2/, những khi cần diễn
tả điều trắc trở hoặc một sự bất ổn nào đó thì có sử dụng nhịp số lẻ
Về đối, lục bát cũng có sử dụng đối, thường là đối ngay trong câu thơ chẳng hạn
Làn thu thủy, nét xuân sơn, Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh
Thể lục bát là một trong những thể thơ ra đời do sự thể hiện cách luật dân tộc, linh hoạt về thanh điệu, uyển chuyển về nhịp điệu, nhiều sắc thái thẩm mỹ, có khả năng trữ tình lại giàu khả năng tự sự nên được nhiều tác giả
sử dụng đặc biệt trong việc viết truyện thơ
Về vần và nhịp, Hai câu thất theo nhịp của thể thơ thất ngôn Việt Nam: 3/4; Hai câu lục bát theo nhịp của thơ lục bát
Về đối, tuân theo các cách: Tiểu đối (đối trong câu), đối cách cú (hai câu đối nhau), đối cách đoạn (hai đoạn đối với nhau) Tiểu đối là cách đối thông thường và phổ biến trong từng câu của một khổ Đối cách cú là lối đối khá đặc trưng vì chúng làm đẹp cho thơ song thất lục bát Đối cách đoạn làm tăng thêm vẻ mỹ lệ cho từng đoạn
Về dung lượng, thể song thất lục bát có khả năng mở rộng, không hạn định về số câu, nhất là đặc điểm về nhịp điệu, vừa chậm, lại vừa có những chu
kỳ láy đi láy lạ, thích hợp trong việc diễn tả tâm trạng buồn, ít phát triển Vì vậy thể song thất lục bát được dùng chủ yếu để viết các khúc ngâm bày tỏ tâm trạng của nhân vật trữ tình
Truyện
Truyện là thể loại cơ bản của phương thức tự sự, phản ánh được một phạm vi cuộc sống rộng lớn, sâu sắc trong quá trình vận động, diễn biến phức
Trang 31tạp Hình tượng chủ yếu của thể này là hình tượng nhân vật được xây dựng, phát triển trong một khung cảnh sinh động với hàng loạt sự việc, vì thế nhân vật hiện ra với tất cả các khía cạnh toàn vẹn, biện chứng Truyện là thể loại văn tự sự, kể chuyện, trình bày sự việc Truyện có cốt truyện, nhân vật, quy
mô của truyện cũng lớn hơn thơ nhất là thơ trữ tình Truyện phần lớn viết bằng văn xuôi Khác với thơ thiên về cái đẹp, xúc cảm và sự cô đọng thì truyện có khả năng đi sâu vào những khía cạnh, ngóc ngách phức tạp của
cuộc sống và tâm hồn con người Theo Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo
dục, 1996, tr.264, truyện là sáng tác văn học “phản ánh hiện thực qua các sự kiện, biến cố và hành vi của con người làm cho tác phẩm trở thành một câu chuyện về ai đó hay về một cái gì đó Cho nên tác phẩm truyện bao giờ cũng
có cốt truyện Gắn liền với cốt truyện là một hệ thống nhân vật được khắc họa đầy đủ nhiều mặt hơn hẳn nhân vật trữ tình và kịch Trong tác phẩm truyện, cốt truyện được triển khai, nhân vật được khắc họa nhờ một hệ thống chi tiết nghệ thuật phong phú, đa dạng, bao gồm chi tiết sự kiện, chi tiết nội tâm, ngoại hình của nhân vật, chi tiết tính cách, chi tiết nội thất, ngoại cảnh, phong tục đời sống, văn hóa, lịch sử, lại còn có cả những chi tiết liên tưởng, tưởng tượng , hoang đường mà không nghệ thuật nào tái hiện được ”
Truyện trung đại, lẽ dĩ nhiên sẽ thuộc về một thể loại truyện nói chung
nhưng nó cũng có những nét riêng mà SGK Ngữ văn 6 tập I ghi nhận như sau:
Các truyện trung đại ở Việt Nam nói trên đều được viết bằng văn xuôi chữ Hán Bên cạnh truyện văn xuôi chữ Hán có truyện Nôm
Truyện trung đại tồn tại và phát triển trong môi trường văn học trung đại có quy luật Văn - Sử - Triết bất phân Do đó trong truyện vẫn thường có
sự đan xen giữa yếu tố văn và yếu tố sử, yếu tố triết; sự đan xen giữa hai kiểu
tư duy hình tượng và tư duy luận lí Truyện thường vẫn pha tính chất kí, mặc
dù đã là truyện thì ít nhiều cũng có cốt truyện và nhân vật
Trong truyện trung đại, cốt truyện giữ một vị trí quan trọng, mặc dù trình
độ xây dựng cốt truyện nhìn chung còn đơn giản Cách kết cấu truyện thường
là đơn tuyến về trật tự thời gian (trước, sau) Trong cốt truyện có nhân vật nhưng tính cách của nhân vật hiện lên chủ yếu qua lời kể của người dẫn chuyện và qua hành động ngôn ngữ đối thoại của nhân vật Sự phân tích thế giới nội tâm, ngôn ngữ độc thoại nội tâm của nhân vật, nhìn chung còn hiếm
Trang 32Về chi tiết nghệ thuật: bên cạnh loại chi tiết chân thực lấy từ cuộc sống, truyện trung đại thường hay sử dụng loại chi tiết li kì, hoang đường
Dựa vào những yếu tố cơ bản trên, các loại truyện trung đại Việt Nam được đưa vào giảng dạy trong chương trình ngữ văn THCS được chia thành các dạng sau:
Truyện ngắn trung đại
Truyện ngắn thường đi sâu phản ánh một mặt nào đó của của đời sống hiện thực, chủ đề có thể lớn nhưng giải quyết không toàn diện, thấu đáo như truyện dài, thường miêu tả một hoặc vài nhân vật chính Truyện ngắn trung đại ghi chép một câu chuyện có thật hoặc hư cấu nhằm thể hiện một tư tưởng chủ đề nhất định, câu chuyện thường ngắn và mang tính chất trí tuệ, tư tưởng triết lí được thể hiện khá thâm thúy và sâu sắc Truyện ngắn trung đại có các đặc điểm: Được viết bằng văn xuôi chữ Hán, có nội dung phong phú và thường mang tính chất giáo huấn; Có cách viết không giống hẳn với truyện hiện đại, vừa có loại truyện hư cấu, vừa có loại truyện gần với kí và sử; Có cốt truyện hầu hết còn đơn giản, nhân vật thường chủ yếu được miêu tả qua ngôn ngữ trực tiếp của người kể chuyện, qua hành động và ngôn ngữ đối thoại của nhân vật nghĩa là chưa có miêu tả tâm lí nhân vật Tác phẩm được học
thuộc thể loại trên trong chương trình Ngữ văn THCS có hai văn bản: Con hổ
có nghĩa và Thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm lòng
Truyện thơ Nôm
Truyện thơ Nôm là loại truyện viết bằng chữ Nôm, thể thơ lục bát Mỗi truyện có một cốt truyện bao gồm một hệ thống các tình tiết, sự kiện cấu trúc,
tổ chức tác phẩm hoàn chỉnh, có khả năng thể hiện cuộc sống phong phú bề bộn
Truyện Nôm ra đời vào khoảng cuối thế kỉ XVI và được sáng tác bằng
thể thơ Đường, nên gọi là truyện Nôm Đường Luật (Vương Tường, Lâm
truyền kì ngộ) Về sau thể thơ lục bát là hình thức phù hợp nhất đảm nhận
chức năng tự sự, xây dựng thể loại truyện Nôm Đến thế kỷ XVIII truyện Nôm được định hình thành một thể loại văn học và được chia ra thành hai kiểu thể loại là truyện Nôm bình dân và truyện Nôm bác học
Truyện Nôm viết bằng thơ ca nên có hạn chế nhất định trong việc miêu
tả cụ thể lịch sử đời sống xã hội, nhưng lại có ưu thế về nhịp điệu, âm thanh,
Trang 33hình ảnh nên giàu khả năng trữ tình và phong phú sắc thái ngôn ngữ thơ ca Đỉnh cao của thể loại này là tác phẩm Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn
Du, tiếp nữa ta có thể kể đến truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu
trong chương trình Ngữ văn bậc THCS có đưa vào giảng dạy một số đoạn trích của hai tác phẩm trên
Về ngôn ngữ nghệ thuật, sáng tác bằng ngôn ngữ dân tộc đặc biệt tác phẩm xuất sắc như truyện Kiều, ngôn ngữ thơ đã đạt đến mức độ mẫu mực, trong sáng
Truyện Nôm đã đưa thể thơ lục bát của dân tộc thể hiện được khả năng
đa dạng thích ứng với tất cả các chức năng biểu đạt hiện thực Truyện Nôm là thể loại có nội dung hiện thực nhân văn sâu sắc Những sáng tác này thỏa mãn được nhu cầu hiểu biết, thể hiện và lí giải những vấn đề liên quan đến cuộc sống của quần chúng Là một trong ba thể loại được viết bằng ngôn ngữ dân tộc nhưng giữ vị trí hàng đầu bởi quy mô, số lượng, thành tựu nội dung cũng như giá trị thẩm mỹ của hệ thống tác phẩm
Tiểu thuyết chương hồi
Tiểu thuyết chương hồi là một thể văn xuôi tự sự dài hơi có nguồn gốc từ Trung Quốc ra đời vào thời Minh, Thanh
Tiểu thuyết chương hồi ở Việt Nam bắt đầu bằng tác phẩm Nam triều
công nghiệp diễn chí do Nguyễn Khoa Chiêm soạn vào năm 1719 ở đàng
trong, sau đó tiểu thuyết chương hồi chuyển dần ra bắc với Thiên Nam liệt
truyện, Hoàng Lê nhất thống chí, Hoàng Việt Long hưng chí Hoàng Lê nhất thống chí là thành tựu xuất sắc nhất, hội tụ tinh hoa của các tiểu thuyết
chương hồi Việt Nam thời trung đại
Dù có nguồn gốc từ Trung Quốc những các tác phẩm tiểu thuyết chương hồi Việt Nam vẫn có những sáng tạo riêng trên cơ sở điều kiện thực tế xã hội
và truyền thống văn học nước nhà Tiểu thuyết chương hồi Việt Nam hầu như không đề cập đến đề tài tình yêu mà chỉ liên quan đến đề tài lịch sử, khác với tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc, trong các tác phẩm tiểu thuyết chương hồi ở Việt Nam không đề cập đến vấn đề lịch sử thuộc thời quá khứ mà chỉ đề cập đến những vấn đề lịch sử thời đương đại Ta có thể thấy điều này được
thể hiện trong Hoàng Lê nhất thống chí, tác phẩm phản ánh về giai đoạn đặc
biệt trong chế độ phong kiến Việt Nam, giai đoạn đánh dấu sự suy tàn, sụp đổ
Trang 34của chế độ phong kiến và tinh thần quật khởi của quần chúng nhân dân, giai đoạn đầy những biến động, đầy kịch tính, vừa đau thương, vừa hào hùng Khi phản ánh về giai đoạn lịch sử này các tác giả hướng ngòi bút vào việc phản ánh 27 năm cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, từ khi Thịnh Vương Trịnh Sâm say mê Đặng Thị Huệ (1776 đến khi Gia Long đánh bại phong trào Tây Sơn lập nên nhà Nguyễn (1802) Trong đó các tác giả lại đặc biệt tập trung vào khoảng thời gian từ năm 1782 đến 1789 Nguyễn Huệ hành binh ra Bắc đại phá quân Thanh, dẹp tan bè lũ vua quan bán nước hại dân Lê Chiêu Thống Như vậy tính thời sự, chính trị của những bộ tiểu thuyết chương hồi là rất cao, đó là những bức tranh lịch sử mang hơi thở của thời đại
Tiểu thuyết chương hồi Việt Nam không bắt đầu từ sáng tác thoại bản mà thuần túy là sáng tác của văn nhân, thể hiện khuynh hướng và tư tưởng nghệ thuật của tác giả một cách rõ ràng
Về mặt hình thức, các yếu tố thời gian, bình luận, cách tả người, giới thiệu nhân vật, miêu tả chiến trận… trong các tác phẩm chương hồi Việt Nam cũng tạo ra những nét riêng khác biệt so với tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc
Sự ra đời của tiểu thuyết chương hồi đánh dấu bước chuyển biến quan trọng về tư duy nghệ thuật của dòng văn xuôi tự sự Việt Nam không chỉ ở
dung lượng tác phẩm (Hoàng Lê nhất thống chí gồm 17 hồi với nhiều tác giả)
mà còn ở tầm khái quát nghệ thuật, khả năng kết cấu miêu tả các sự kiện, xây dựng nhân vật, trình độ ngôn ngữ Chính điều đó đã đưa tiểu thuyết chương hồi Việt Nam trở thành đỉnh cao nhất của văn xuôi tự sự thời trung đại, đồng thời chuẩn bị mọi điều kiện cho sự ra đời của tiểu thuyết hiện đại sau này
Truyện truyền kỳ
Truyện truyền kỳ là thể loại văn học Trung Quốc du nhập vào nước ta,
có nội dung truyền thuật những câu chuyện kỳ là Đặc điểm lớn nhất chi phối các đặc điểm của truyện truyền kỳ chính là tính chất khác lạ của con người,
sự vật, hiện tượng được phản ánh Truyện truyền kỳ sử dụng nhiều thủ pháp
để tạo ra cái kỳ, quy tựu lại đó là việc xóa nhoà những ranh giới mà con người định ra, đảo ngược những tính chất của sự vật hiện tượng vẫn được hình dung theo lẽ phải thông thường, chẳng hạn như việc con người có thể có khả năng giao tiếp với thế giới siêu nhiên, với các lực lượng siêu hình huyền bí Chính
Trang 35vì vậy thủ pháp nghệ thuật mà truyện truyền kỳ sử dụng nhiều đó là nhân hóa,
cỏ cây, ma quỷ, muông thú, thần linh đều được nhân hóa tạo thành một thế giới phi nhân, thế giới ấy có khi hòa hợp, cũng có khi đối địch với cuộc sống con người Truyện truyền kỳ được xây dựng bằng sự kết hợp đan xen giữa yếu tố thực và yếu tố siêu thực (cái hư) Trong đó cái thực luôn được hư hóa, cái hư luôn được thực hóa
Về nhân vật, tác giả truyền kỳ thường dụng công biểu hiện thế giới nội tâm nhân vật Sự dụng công ấy ta có thể cảm nhận trong diễn biến tâm trạng
của nàng Vũ Nương trong tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương của
Truyền truyền kỳ có kết cấu chặt chẽ, lời văn chọn lọc, từ ngữ phân tích tâm lí, cú pháp đa dạng, lời nói độc thoại, đối thoại gián tiếp, trực tiếp đều có, yếu tố miêu tả, tự sự, trữ tình nghị luận, phẩm bình đã tăng lên đan cài vào nhau cốt dựng lại cuộc sống sinh động, phong phú để làm nổi bật được nội dung của tác phẩm Trong phương pháp sáng tác, hai tính chất hiện thực và siêu thực cũng lồng vào nhau một cách chặt chẽ Tất cả tạo thành hình thức thuận lợi để chuyên chở cho được nội dung phê phán đối với hiện thực, với giai cấp thống trị
Tùy bút
Là thể văn xuôi tự do (tản văn), viết theo cảm xúc Tùy bút là một loại thuộc loại hình ký, rất gần với bút ký, ký sự, nhưng điểm nổi bật là qua việc ghi chép những con người và sự kiện cụ thể, có thực, tác giả đặc biệt chú trọng đến việc bộc lộ cảm xúc, suy tư, đánh giá, nhận thức của mình về con người và cuộc sống hiện tai
Thể loại này phục vụ cho việc ghi chép những nội dung ngắn nhỏ Về hình thức, chúng chính là những ghi chép ngắn, có tính riêng tư của từng nhà văn xưa Tác giả thường hay đem đời mình, chuyện mình kể vào trong đó
Tác giả đóng vai là người quan sát sự việc, chiêm nghiệm lịch sử và phát biểu
Trang 36về thái độ cảm xúc cùng những tâm trạng của mình trước sự việc, cuộc đời tuy nhiên tác giả không biến mình thành thành nhân vật
Tùy bút giúp người ta thể hiện thái độ đối với hiện thực khách quan, ít nhiều người viết thể hiện quan điểm về cuộc sống, về chính trị Chính vì vậy
nó mang tính hiện thực cao Trong các thể văn xuôi đây là thể văn tự do vào bậc nhất
Tác phẩm nổi tiếng trong thể loại này là Vũ trung tùy bút (tùy bút viết
trong những ngày mưa) của tác giả Phạm Đình Hổ, mà chương trình Ngữ văn bậc THCS có đưa vào giảng dạy một trích đoạn trong lớp 9
Như vậy qua những vấn đề được trình bày ở trên, ta thấy hai loại hình văn học: văn học chức năng và văn học nghệ thuật cùng tồn tại trong nền văn học trung đại Sự phân định như trên chỉ mang tính chất tương đối vì thực tế thường không có tác phẩm văn học lại thuần túy thuộc loại một loại hình văn học chức năng hay văn học nghệ thuật Văn học Việt nam trung đại tồn tại qua 10 thế kỷ, trải qua nhiều chặng đường phát triển nhưng luôn gắn liền với đời sống dân tộc vì thế nó mang những đặc trưng riêng thể hiện rõ bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam Song bên cạnh những đặc trưng mang đậm tính dân tộc văn học trung đại Việt Nam còn chụi ảnh hưởng của văn học kiến tạo vùng, do đó nó mang một số đặc điểm chung của nền văn học phương Đông Người nghiên cứu giảng dạy cần hiểu được những đặc điểm nói trên của văn học trung đại Việt Nam, để từ đó tạo ra được những tiền đề thuận lời để tiếp cận được những giá trị đích thực của mỗi tác phẩm văn học trung đại
2.2 Vấn đề nâng cao chất lƣợng dạy học văn học Việt Nam trung đại ở THCS hiện nay
Nâng cao chất lượng dạy học là vấn đề cấp thiết của giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Hiện đang có những biện pháp đổi mới mạnh mẽ về nội dung và phương pháp dạy học Chất lượng dạy học sẽ được nâng cao khi hoạt động dạy và hoạt động học đi vào trúng quỹ đạo của nó, tức là cả người dạy và người học đều đi đúng hướng, có những phương pháp và biện pháp để
đi đến đích của hoạt động dạy và hoạt động học Trong những năm vừa qua
đã có biết bao nhiêu tìm tòi, sáng tạo của biết bao nhiêu nhà nghiên cứu, nhà giáo dục học cho công cuộc đổi mới phương pháp dạy học Về phía người dạy cũng đã không ngừng nỗ lực học tập, nghiên cứu để tìm ra hướng đi đúng
Trang 37thực hiện tốt vai trò của người dẫn đường giúp học sinh tìm đến tri thức Về phía người học ít nhiều cũng đã chuẩn bị được những tâm thế nhất định trong vai trò làm chủ hoạt động, hoạt động khá tích cực và từ giác để lĩnh hội kiến thức bài học Thế nhưng kết quả thu được vẫn chưa khả quan, chất lượng dạy
và học vẫn là vấn đề nhức nhối Nằm trong sự chi phối chung ấy môn Ngữ văn ở nhà trường phổ thông nói chung THCS nói riêng cũng không tránh khỏi những hệ lụy nói trên Là người giáo viên dạy văn ở bậc THCS cũng như những giáo viên ở các cấp học khác, thuộc các bộ môn khác nhau, chúng tôi cũng luôn băn khoăn, trăn trở làm thế nào để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động dạy và học môn học mà mình đảm trách Những băn khoăn trăn trở
ấy đã tạo ra những tiền đề cho rất nhiều những công trình, đề tài, sáng kiến kinh nghiệm về đổi mới phương pháp dạy và học Ngữ văn nói chung, dạy và học từng phân môn, từng phần trong một phân môn
2.2.1 Dạy học văn học Việt Nam trung đại theo đặc trưng thể loại
Mỗi tác phẩm văn học thường được tồn tại trong một thể loại nhất định
và chịu sự tác động không nhỏ của thể loại ấy Thể loại của tác phẩm văn học thể hiện một cách nhìn, một cách tư duy, cách cảm nhận đời sống và sáng tạo tác phẩm Thể loại là yếu tố hình thức lớn, chi phối các yếu tố hình thức khác, góp phần tạo nên một diện mạo cụ thể cho tác phẩm văn học Mỗi tác phẩm văn học đều tồn tại dưới hình thức một loại thể nhất định, do đó cần có một phương pháp, cách thức giảng dạy phù hợp Vì vậy đối với người giáo viên dạy Ngữ văn, sự hiểu biết thấu đáo về đặc trưng thể loại sẽ là cơ sở quan trọng để
có thể hiểu, cảm thụ, định hướng phân tích tác phẩm một cách chính xác, sâu sắc và toàn diện Dạy học văn nói chung, dạy học phần văn học Việt Nam trung đại nói riêng trong chương trình Ngữ văn bậc THCS theo thể loại thực chất là thực hiện hoạt đông dạy học tác phẩm văn học trong sự thống nhất giữa nội dung và hính thức, đúng với quy luật và bản chất của văn học Đó cũng là một nguyên tắc mang tính đặc thù của việc dạy văn.Vậy dạy phần văn học Việt Nam trung đại ở bậc THCS như thế nào để theo đúng được đặc trưng thể loại, luận văn xin được trình bày những vấn đề như sau
2.2.1.1 Dạy các tác phẩm văn học thuộc loại văn chương nghệ thuật 2.2.1.1.1 Dạy học thơ trung đại trong chương trình Ngữ văn THCS
Trang 38Các tác phẩm thơ trung đại chiếm một vị trí khá quan trọng trong chương trình Ngữ văn THCS, bao gồm những sáng tác viết bằng chữ Nôm Và chữ Hán
Xét về mặt nội dung và nghệ thuật, các bài thơ trung đại này có nhiều điểm tương đồng Các tác phẩm đều phản ánh một cách toàn diện xã hội đương thời, thể hiện quan niệm nhận thức, tâm tư, tình cảm của con người một cách sâu sắc Nội dung phong phú được thể hiện bằng hình thức thơ hoàn mỹ Các tác phẩm thi ca Việt Nam thời kì này cũng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi nghệ thuật của thơ Đường, thi pháp thơ rất đa dạng, phong phú, phức tạp và sâu sắc: ngôn ngữ rất hàm súc, nói ít gợi nhiều,ý tại ngôn ngoại, vừa có tính ước lệ, cổ kính, trang nghiêm, vừa có tính chặt chẽ niêm luật của thể loại Vì vậy khi giảng dạy các tác phẩm thơ trung đại giáo viên cần chú ý tới các vấn đề sau
Đặt bài thơ trong mối liên hệ với tác giả và hoàn cảnh ra đời tác phẩm
Thực hiện yêu cầu này là giáo viên phải nắm vững các kiến thức về văn học sử, có kiến thức lịch sử, hiểu biết về tác giả và tác phẩm Đây là yêu cầu chung trong dạy văn đối với giáo viên, với việc dạy thơ trung đại quan trọng Tất cả các yếu tố nói trên đều rất thiết thực trong dạy đọc hiểu văn bản vì nó làm cho việc cảm nhận bài thơ có tính xác thực, sâu sắc hơn và bài dạy được
mở rộng từ nhiều chiều, nhiều hướng Bản thân một bài thơ bao giờ cũng mang dấu ấn thời đại, tư tưởng, tình cảm, phong cách tác giả Nó là kết quả của sự tổng hòa các yếu tố ấy
Tác giả chính là người cha tinh thần của tác phẩm Mỗi tác giả có một tạng tâm hồn riêng, một quan niệm, sở thích cũng như phong cách thể hiện riêng và điều đó in hằn vào tác phẩm văn chương của họ Đặc biệt đối với thơ, thể loại văn học mà ở đó tính chủ quan trở thành nguyên tắc sáng tạo chủ đạo thì mối quan hệ giữa tác giả và tác phẩm càng cần sự chú ý đặc biệt Những hiểu biết về cá tính, tâm hồn cũng như cuộc đời của nhà thơ tạo điều kiện thuận lợi cho ta hiểu rõ hơn về tác phẩm Tiếp cận tác phẩm từ những yếu tố ngoài văn bản là một hướng tiếp cận có hiệu quả Do đó phần giới thiệu về tác giả bao giờ cũng được SGK nêu ra trong phần chú thích sao, nhưng chỉ gói gọn ở đó xem ra còn hạn chế, người giáo viên khi dạy văn bản cần tìm hiểu sâu kỹ hơn từ nhiều tài liệu có liên quan và từ đó thực hiện phần giới thiệu tác
Trang 39giả trong bài dạy phải đặt trong mối quan hệ với văn bản Đây là những tiền
đề có ý nghĩa quan trọng trong việc tiếp cận tác phẩm vậy giáo viên sẽ giới thiệu những điều gì về tác giả, ở đây giáo viên cần đưa ra những thông tin chính về cuộc đời của tác giả bào gồm năm sinh, năm mất, những sự kiện, những biến cố lớn trong cuộc đời tác giả có ảnh hưởng đến sự nghiệp sáng tác, đặc điểm tâm hồn, cá tính và sự nghiệp văn chương của tác giả đó là những chặng đường sáng tác, những đặc điểm nổi bật trong phong cách nghệ thuật, những tác phẩm tiêu biểu Đây là mảng tri thức văn học sử về tác giả giáo viên cung cấp trong phần đầu bài giảng khi giới thiệu về tác giả tác phẩm, nhưng có những thông tin giáo viên có thể kết hợp nói thêm trong quá trình hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản
Khi nói về hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, người ta thường đề cập tới hoàn cảnh lớn – hoàn cảnh lịch sử chính trị xã hội và hoàn cảnh nhỏ - cuộc sống, cá tính của tác giả và hoàn cảnh cảm hứng của tác phẩm trong mối liên
hệ mật thiết với nhau Hoàn cảnh cảm hứng của tác phẩm là hoàn cảnh cụ thể làm bùng cháy tình cảm, cảm xúc tiềm tàng chất chứa trong lòng tác giả Hoàn cảnh lớn hoàn cảnh nhỏ có ảnh hưởng đến khuynh hướng tư tưởng của tác phẩm thì hoàn cảnh cảm hứng lại tác động trực tiếp tới việc hình thành một trạng thái tình cảm nhất định gắn liền với một hệ thống hình tượng nhất
định Chẳng hạn khi hướng dẫn học sinh đọc hiểu bài thơ Qua Đèo Ngang của
bà Huyện Thanh Quan, giáo viên cần cho học sinh thấy rõ được hoàn cảnh ra đời tác tác phẩm Thứ nhất là những thông tin về tác giả: Bà Huyện Thanh Quan tên thất là Nguyễn Thị Hinh, sống ở thế kỷ XI, chưa rõ năm sinh, năm mất, quê ở làng Nghi Tàm nay thuộc quận Tây Hồ, Hà Nội Chồng bà là tri huyện huyện Thanh Quan, tỉnh Thái Bình do đó mà bà có tên gọi là bà Huyện Thanh Quan Bà là người có hiểu biết sâu rộng được mời vào cung làm giáo tập Thứ hai là những thông tin về hoàn cảnh lớn, phần thông tin giáo viên có thể nói trong quá trình hướng dẫn học sinh phân tích hai câu luận khi nói đến tâm trạng nhớ nước, thương nhà của nữ sĩ, lí giải được tâm trạng nói trên phải hiểu được hoàn cảnh lớn tức hoàn cảnh lịch sử ra đời tác phẩm Nhớ nước ở đây là nhớ về thời kỳ vàng son với bao chiến công oanh liệt và cảnh thái bình thịnh trị thời nhà Lí Trần, Lê, vì khi nhà Lê suy tàn, đất nước xảy ra bao cuộc nội chiến liên miên Nguyễn Huệ dẹp giặc Thanh thống nhất đất nước nhưng
Trang 40chưa trị vì được bao lâu thì đột ngột qua đời Nguyễn Ánh trước kia cầu cứu Xiêm rồi lại cầu cứu Pháp, lợi dụng cơ hội chiếm triều đình Năm 1802 lên ngôi, hiệu là Gia Long chuyển kinh thành vào Huế Đến đời vua Minh Mạng
1820 (con trai Nguyễn Ánh) mời ông Lưu Nguyên Ôn (chồng bà Huyện Thanh Quan) vào làm quan, còn mời bà vào làm giáo tập Và chính từ hoàn cảnh lịch sử này mới nảy sinh hoàn cảnh cảm hứng của tác phẩm Trên đường
đi vào cung qua địa phận đèo Ngang, cảnh hoang sơ heo hút với tâm trạng của người lữ thứ , tức cảnh sinh tình bà đã viết nên bài thơ Như vậy việc phân tích hoàn cảnh ra đời của tác phẩm giúp chúng ta có định hướng ban đầu tạo điều kiện thuận lợi để hiểu đúng, hiểu sâu về tác phẩm Tuy nhiên cũng nên lưu ý bởi vì thời lượng dạy một văn bản có hạn nên khi giới thiệu về hoàn cảnh lịch sử giáo viên phải biết chọn lọc những thông tin có tác dụng thiết thực tránh lan man
Phân tích mạch cảm xúc chủ đạo của bài thơ qua hình tƣợng nhân vật trữ tình và bức tranh đời sống đƣợc mô tả
Phân tích hình tượng nhân vật trữ tình
Thơ ca, xét đến cùng bản chất của nó là tiếng nói trữ tình Bởi vậy khi dạy thơ cần quan tâm đặc biệt đến nội dung trữ tình của tác phẩm được thể hiện qua cảm hứng chủ đạo Có thể hình dung cảm hứng chủ đạo này như một dòng chảy xuyên suốt bài thơ tạo nên nội dung giá trị của bài thơ Nó không phải bao giờ cũng liền mạch mà có khi đứt quãng, có những khúc lặng, nó thể hiện tiếng nói nội tâm phức tạp trong những hình thức ngôn ngữ thi ca khác nhau Mạch cảm xúc chủ đạo này bị chi phối bởi hình tượng chủ thể và hình tượng khách thể trong bài thơ Hình tượng chủ thể thông thường và chủ yếu
là là hình tượng tinh thần, nội cảm được biểu hiện thành nhân vật trữ tình trong thơ Hình tượng khách thể có thể là các sự kiện biến cố các bức tranh thiên nhiên hoặc con người .chúng đóng vai trò kích thích, gợi mở chuyển dẫn những cảm xúc suy tư của nhân vật trữ tình Như vậy cảm xúc chủ đạo trong thơ được nảy sinh từ sự tương tác giữa chủ thể và khách thể Do đó phân tích được mạch cảm xúc chủ đạo trước hết phải tìm hiểu hình tượng chủ thể thông qua nhân vật trữ tình Nhân vật trữ tình trong thơ trung đại là người đứng ra ký thác tâm sự, bày tỏ quan niệm nhân sinh thế sự, để tỏ chí Cần chú
ý rằng trong nhiều trường hợp nhân vật trữ tình có những đặc điểm đồng nhất