Chính sự mất cân đối thể hiện ở liều lượng bón các loại phân của các hộ nông dân đã và đang hạn chế đáng kể sinh trưởng của cây lạc và làm cho năng suất đạt không cao như mong muốn.. Bón
Trang 1ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG MỨC PHỐI HỢP CỦA LIỀU LƯỢNG ĐẠM, LÂN ĐẾN NĂNG SUẤT LẠC L14 TRÊN ĐẤT PHÙ SA TẠI XÃ NGHI HOA, HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN
VỤ XUÂN 2012
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH TRỒNG TRỌT
MÃ SỐ: 60.62.01
Người thực hiện: Đồng Thanh Bình
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Văn Điệp
VINH - 2012
Trang 2thành đến TS Lê Văn Điệp, giảng viên khoa Nông Lâm Ngư, Trường Đại học Vinh - người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, đóng góp nhiều ý kiến quí báu
Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Vinh, Ban chủ nhiệm Khoa cùng toàn thể giảng viên Khoa Nông Lâm Ngư – trường Đại học Vinh
đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành khoá học này
Chân thành cảm ơn UBND Huyện Nghi Lộc đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi tham gia khoá học
Cuối cùng xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên,
hỗ trợ vật chất và tinh thần trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn những tình cảm cao quí đó!
Vinh, ngày tháng năm 2012
Tác giả
Đồng Thanh Bình
Trang 3LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU v
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ vi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 3
3 Nội dung nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 5
1.1.1 Vai trò của cây lạc 5
1.1.2 Vai trò của một số yếu tố dinh dưỡng đối với cây lạc 7
1.1.3 Nhu cầu dinh dưỡng của cây lạc 22
1.1.4 Đặc điểm của đất phù sa 23
1.1.5 Các yếu tố hạn chế và định luật yếu tố hạn chế năng suất cây trồng 23
1.1.6 Tình hình nghiên cứu phân bón cho lạc trên thế giới và ở Việt Nam 26
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 35
1.2.1 Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam 35
1.2.2 Tình hình sản xuất lạc ở Nghệ An 37
CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
2.1 Đối tượng nghiên cứu 39
2.2 Các chỉ tiêu nghiên cứu 39
2.2.1 Nghiên cứu về cây trồng 39
Trang 42.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 40
2.3.2 Các công thức thí nghiệm 41
2.3.3 Điều kiện thời tiết khí hậu 41
2.3.4 Nghiên cứu về cây trồng 43
2.3.5 Chênh lệch thu nhập của các công thức thí nghiệm 45
2.3.6 Phương pháp xử lý số liệu 45
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 46
3.1 Ảnh hưởng của liều lượng đạm, lân đến chiều cao cây 46
3.2 Ảnh hưởng của liều lượng đạm , lân đến số lá trên thân chính 48
3.3 Ảnh hưởng của liều lượng đạm, lân đến đặc tính ra hoa của giống lạc L14 52
3.4 Ảnh hưởng của liều lượng đạm, lân đến khối lượng nốt sần 54
3.5 Ảnh hưởng của liều lượng đạm, lân đến khả năng tích lũy chất tươi và khô của cây lạc qua các thời kỳ sinh trưởng 59
3.6 Ảnh hưởng của liều lượng đạm, lân đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 64
3.7 Ảnh hưởng của liều lượng đạm, lân đến một số chỉ tiêu về quả và hạt 69
3.8 Hiệu quả kinh tế của các công thức bón phân khác nhau 70
3.8.1 Hiệu suất của phân lân trên các nền đạm khác nhau 70
3.8.2 Hiệu suất của phân đạm trên các nền lân khác nhau trên 1 kg lạc vỏ 71
3.8.3 Hiệu quả kinh tế đối với các công thức bón phân khác nhau 71
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 74
I Kết luận 74
II Đề nghị 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75 PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
NSLT :Năng suất lý thuyết
NSTT :Năng suất thực thu
Trang 6Bảng 1.1 Thành phần dinh dưỡng của một số cây có dầu 5
Bảng 1.2 Tỷ lệ một số chất dinh dưỡng trong thân lá lạc và phân chuồng 6
Bảng 1.3 Lượng dinh dưỡng khoáng cây lạc hấp thu 22
Bảng 1.4 Hiệu suất của 1 kg P2O5 đối với 1 kg lạc vỏ trên một số loại đất 33
Bảng 1.5 Diện tích, năng suất và sản lượng lạc ở Việt Nam từ năm 2000 – 2008 36 Bảng 1.6 Diện tích, năng suất và sản lượng lạc ở Nghệ An từ năm 2000 – 2009 38 Bảng 2.1 Liều lượng phân bón ở các công thức 41
Bảng 2.2 Diễn biến thời tiết vụ Xuân 2012 42
Bảng 3.1 Ảnh hưởng của liều lượng đạm, lân đến chiều cao thân chính của lạc 46 Bảng 3.2 Ảnh hưởng của liều lượng đạm, lân đến số lá trên thân chính 49
Bảng 3.3 Ảnh hưởng của liều lượng đạm, lân bón đến sự ra hoa của giống lạc L14 52
Bảng 3.4 Ảnh hưởng của liều lượng đạm, lân đến khối lượng nốt sần 56
Bảng 3.5 Khả năng tích lũy chất tươi và khô của cây qua các thời kỳ 60
Bảng 3.6 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 65
Bảng 3.7: Ảnh hưởng của liều lượng đạm, lân đến các chỉ tiêu về chất lượng 69
Bảng 3.8: Hiệu suất của phân lân đối với lạc trên các nền đạm khác nhau 70
Bảng 3.9 Hiệu suất của phân đạm đối với lạc trên các nền lân khác nhau 71
Bảng 3.10 Hiệu quả kinh tế của việc bón đạm, lân cho lạc 73
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nghi Lộc là huyện đồng bằng ven biển của tỉnh Nghệ An, có tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 15.493 ha, bao gồm 5 nhóm đất: đất phù sa, dốc tụ, đất mặn, đất phèn mặn, đất bạc màu và biến đổi do trồng lúa Các loại cây trồng nông nghiệp chính của huyện như lúa, ngô, lạc, đậu đỗ đều được phân bố chủ yếu trên diện tích đất phù sa (với tổng diện tích là 10.597,2ha) [48] Do đó, có thể nói: đây là 2 nhóm đất có vị trí quan trọng và có ý nghĩa lớn đối với sản xuất nông nghiệp của huyện
Lạc (Arachis hypogae L.) là cây họ đậu, cây công nghiệp ngắn ngày có
khả năng thích nghi cao với nhiều loại đất, không có nhu cầu cao về dinh dưỡng đất lại có khả năng cải thiện độ phì đất nên được gieo trồng rất phổ biến trên các xã Nghi Hoa, Nghi Long, Nghi Hợp, Nghi Xá, Nghi Thịnh, Nghi Phong của huyện Nghi Lộc Theo số liệu thống kê thì đến nay, tổng diện tích lạc của huyện Nghi Lộc là 4.667 ha Nhờ có giá bán cao, thị trường khá
ổn định nên sản xuất lạc đang là ngành sản xuất đem lại lợi nhuận khá cho nông dân trồng lạc
Diện tích cây lạc trên địa bàn huyện Nghi Lộc được duy trì khá ổn định qua các năm, đạt 4.702 ha, năm 2009, 4.667 ha, năm 2010 và 4.419, năm
2011 [48] Tuy nhiên, bình quân năng suất lạc trên vùng đất phù sa vẫn còn thấp, chỉ đạt 22,8 ta/ha, so với tiềm năng năng suất lạc của giống (45÷55 tạ/ha)
Trong những năm gần đây, để có thể nâng cao năng suất lạc, đã có rất nhiều giải pháp đã được áp dụng Nhiều giống lạc lai có năng suất cao như: L14, L18, L23, L26 đã được đưa vào sản xuất trên diện rộng (4.064ha, năm 2011)
Trang 9Mặc dù vậy, do nhiều nguyên nhân khác nhau cho đến nay, trên địa bàn huyện lại chưa có một quy trình bón phân nào cho các giống lạc lai được xây dựng Quy trình bón phân hiện đang được phổ biến cho người sản xuất là quy trình chung cho các giống lạc trên nhiều loại đất khác nhau Đặc thù về điều kiện tự nhiên, đặc biệt là điều kiện cụ thể về tính chất đất đai chưa được quan tâm một cách thỏa đáng trong xây dựng liều lượng bón phân cho giống lạc này Một số thay đổi nhỏ so với quy trình chung chỉ được dựa trên kinh nghiệm của người sản xuất
Trong khi đó, trong các yếu tố hạn chế năng suất và lợi nhuận trong sản xuất lạc trên địa bàn tỉnh Nghệ An nói chung và huyện Nghi Lộc nói riêng, (chất lượng giống, điều kiện canh tác, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh, quản lý dinh dưỡng ) thì quản lý dinh dưỡng không hợp lý được xem là yếu tố có ảnh hưởng rất quyết định [2]
Được biết, trong thời điểm hiện tại, việc thực hiện quy trình bón phân cho lạc của phần lớn các hộ nông dân trên địa bàn huyện Nghi Lộc mới được thực hiện khá tốt ở khâu xác định thời kỳ và phương pháp bón Liều lượng phân bón được đầu tư cho cây lạc phần lớn đang tùy thuộc vào trình độ thâm canh, khả năng đầu tư vốn của các nông hộ và nhìn chung còn tùy tiện, chưa thực sự dựa vào điều kiện cụ thể về tính chất đất đai Chính sự mất cân đối thể hiện ở liều lượng bón các loại phân của các hộ nông dân đã và đang hạn chế đáng kể sinh trưởng của cây lạc và làm cho năng suất đạt không cao như mong muốn
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi đã triển khai đề tài: “Đánh giá ảnh
hưởng mức phối hợp của liều lượng đạm, lân đến năng suất lạc L14 trên đất phù sa tại xã Nghi Hoa, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An vụ Xuân 2012”
Trang 102 Mục tiêu của đề tài
- Xác định liều lượng bón đạm, lân thích hợp cho giống lạc L14 trên vùng đất phù sa huyện Nghi Lộc
- Xác định được công thức bón phân tổng hợp và cân đối cho lạc trên loại đất nghiên cứu để đạt năng suất cao, có hiệu quả kinh tế khá
3 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá và xem xét ảnh hưởng của liều lượng đạm, lân đến các chỉ tiêu sinh trưởng như: chiều cao cây, số lá/cây, tổng số hoa/cây và tỷ lệ hoa hữu hiệu
- Đánh giá và xem xét ảnh hưởng của liều lượng đạm, lân đến các chỉ tiêu sinh lý như khối lượng nốt sần tươi và khối lượng nốt sần khô
- Đánh giá và xem xét ảnh hưởng của liều lượng đạm, lân đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của các công thức bón
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Cây trồng nói chung và cây lạc nói riêng có thể duy trì quá trình sinh trưởng của mình nhờ được cung cấp dinh dưỡng từ đất mà không cần phải bón phân Tuy nhiên, để đạt được năng suất cây trồng cao, ổn định và chất lượng nông sản tốt, bên cạnh các yếu tố về chất lượng giống, điều kiện mùa
vụ, biện pháp chăm sóc , cây lạc cần phải được cung cấp đầy đủ và hợp lý các chất dinh dưỡng Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Bình; Đặng Trần Phú; Trần Văn Lài để đạt 100 kg quả khô, cây lạc cần khoảng 3,4 kg N; 1,6
kg P2O5; 2,6 kg K2O; 2,6 kg CaO; 1,2 kg MgO [4],[27],[24]
Thực tế sản xuất cho thấy, không phải cứ đầu tư lượng phân bón càng cao thì năng suất cây trồng đạt cao Bón phân một cách tùy tiện không chỉ làm giảm năng suất, chất lượng cây trồng mà còn gây ô nhiễm môi trường đất và nước Ngay cả ở những nơi mà cách mạng xanh đã và đang thực hiện rất thành công thì việc thâm canh cây trồng chủ yếu
Trang 11thông qua biện pháp phân bón đã làm nảy sinh rất nhiều vấn đề như sự gia tăng tốc độ phát sinh phát triển sâu, bệnh, ô nhiễm môi trường đất và nước, suy giảm tính đa dạng sinh học Vì vậy, trong quản lý dinh dưỡng tổng hợp cho cây trồng, việc đảm bảo cân bằng dinh dưỡng đầu vào và đầu ra ở mức độ cần thiết để vừa tăng năng suất, vừa đảm bảo ổn định độ phì nhiêu đất có tầm quan trọng đặc biệt [5] Bón phân cân đối
và hợp lý cho lạc không chỉ giúp cho cây sinh trưởng tốt, cho năng suất cao trên một đơn vị diện tích đất, mà còn góp phần tăng tích lũy một cách đáng kể lượng chất hữu cơ và đạm cho đất Điều này đặc biệt có ý nghĩa với các loại đất nghèo dinh dưỡng vốn chiếm một tỷ trọng khá lớn trong tổng diện tích đất canh tác của huyện Nghi Lộc như đất cát biển, đất cát, đất phù sa không được bồi …
Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Làm rõ ảnh hưởng của việc bón phân không cân đối đến sinh trưởng và khả năng cho năng suất của giống lạc L14 trong điều kiện cụ thể về đất đai và khí hậu của huyện Nghi Lộc
- Xác định liều lượng đạm , lân bón cho giống lạc L14 trong điều kiện cụ thể về đất đai và khí hậu của huyện Nghi Lộc
- Cung cấp cơ sở dữ liệu để làm cơ sở cho việc xây dựng một qu y trình bón phân cân đối và hợp lý cho lạc L14 trên vùng đất phù sa của
huyện Nghi Lộc
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Góp phần xây dựng quy trình phân bón thích hợp cho lạc nhằm nâng cao thu nhập cho người sản xuất
- Cung cấp nguồn thông tin chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho cơ quan khuyến nông địa phương
Trang 12CHƯƠNG I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 1.1.1 Vai trò của cây lạc 1.1.1.1 Vai trò của cây lạc trong đời sống con người
Chất khoáng (%)
Đường bột (%)
ở mức thấp hơn so với đậu tương, vừng và hướng dương; hàm lượng đường bột (gluxit) trong hạt lạc khá lớn (6÷22%) cao hơn vừng (6,7÷19,6%) [34]
Trang 13Trong hạt lạc còn có các vitamin quan trọng: 68 mg vitamin P và nhiều vitamin A, B, C, D, E, F Mặc dù hàm lượng vitamin A trong dầu lạc rất ít nhưng do hàm lượng dầu cao đã giúp cho cơ thể con người hấp thu tốt hơn,
do vậy sử dụng các sản phẩm từ lạc có thể khắc phục được sự thiếu hụt vitamin A [34]
Nhờ công nghiệp thực phẩm phát triển, các sản phẩm từ lạc như dầu, bơ lạc, chao, phomat lạc, sữa lạc được sử dụng nhiều trong đời sống hàng ngày
1.1.1.2 Vai trò của cây lạc trong nền kinh tế quốc dân
Hiện nay ở nước ta, lạc là một trong số các mặt hàng nông sản xuất khẩu quan trọng, nó đóng góp khoảng 15% trong nguồn hàng nông sản xuất khẩu Việt Nam đứng vào hàng thứ 5 trong số 10 nước xuất khẩu lạc lớn nhất thế giới, đạt kim ngạch xuất khẩu hàng năm từ 40÷50 triệu USD Những năm gần đây nước ta đã xuất khẩu khoảng 70÷80 ngàn tấn lạc nhân qua các nước như: Đức, Pháp, Ý, Mỹ cho nên lạc là cây đem lại nguồn thu ngoại tệ quan trọng [34] Tuy nhiên chất lượng lạc xuất khẩu của Việt Nam vẫn chưa thật sự thỏa mãn nhu cầu nhập khẩu của một số nước Vì vậy cần nâng cao chất lượng nông sản phẩm để đạt được kim ngạch cao và mở rộng thị trường xuất khẩu
Sản phẩm phụ của lạc còn được dùng làm nguyên liệu trong công nghiệp: làm dầu nhờn xoa máy Khô dầu ép từ lạc có nhiều chất dinh dưỡng dùng để chế biến nước chấm, làm bánh kẹo, nấu xà phòng, làm thức ăn chăn nuôi
1.1.1.3 Vai trò của cây lạc trong việc cải tạo đất nông nghiệp Bảng 1.2 Tỷ lệ một số chất dinh dưỡng trong thân lá lạc và phân chuồng [24]
Trang 14Cây lạc có khả năng cố định đạm từ khí trời nhờ sự cộng sinh của vi
khuẩn Rhizobium Vigna trong nốt sần ở rễ cây lạc Vì vậy, trồng lạc không
cần bón phân đạm nhiều như các cây trồng khác mà vẫn đảm bảo năng suất, đồng thời nó còn cung cấp trở lại cho đất một lượng đạm đáng kể (trung bình
từ 75÷200 kg N/ha/năm) [13] Bên cạnh đó, thân lá lạc làm phân xanh rất tốt,
vì trong thân lá lạc có chứa hàm lượng khá cao của một số chất dinh dưỡng
So với phân chuồng tính theo chất khô thì tỷ lệ lân và kali trong thân lá lạc xấp xỉ phân chuồng, hàm lượng đạm cao gấp 2,5 lần Hiện nay, hầu hết các vùng trồng lạc đều sử dụng thân lá lạc làm phân bón cho lúa, màu Mỗi ha thân lá lạc đủ bón cho 2÷3 ha lúa và năng suất tăng rõ rệt Mặt khác, với bộ tán dày, có khả năng che phủ tốt nên cây lạc làm giảm mức độ xói mòn của đất, góp phần bảo vệ, nâng cao độ phì nhiêu của đất, đặc biệt vào mùa mưa
Vì vậy, người ta trồng lạc luân canh với cây trồng khác, xen canh giữa các cây hàng rộng như chè, sắn, dâu, mía [16]
1.1.2 Vai trò của một số yếu tố dinh dưỡng đối với cây lạc 1.1.2.1 Vai trò của đạm
Dinh dưỡng đạm đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình hình thành hoa ở cây lạc Quá trình phân hóa mầm hoa bắt đầu từ khi lạc có 2 lá bắc nổi lên ở nách lá Khi lạc có 2÷4 lá thật xòe ra thì hoa đầu tiên bắt đầu phân hóa Sau khi mọc 25÷45 ngày hoa bắt đầu nở Như vậy, thời kỳ đầu rễ lạc còn non,
bộ rễ phát triển chưa hoàn thiện, sự hình thành nốt sần còn chưa nhiều nên thời kỳ này bón đạm đóng vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện cho sự sinh trưởng thuận lợi của các bộ phận trên mặt đất Là cơ sở cho việc hình thành và phân hóa mầm hoa được thuận lợi
Đạm là thành phần của nguyên sinh chất tế bào, axít amin, axit nucleic (ADN và ARN), các enzim và diệp lục Đạm là chất dinh dưỡng chủ yếu của cây lạc Đạm có vai trò làm tăng sinh trưởng của mô sống, quyết định
Trang 15phẩm chất của nông sản Cây lạc chứa nhiều đạm trong lá và hạt Thiếu đạm cây sinh trưởng kém, lá mảnh, có màu xanh nhạt, sự hình thành quả bị hạn chế [24]
Tuy lạc có thể tự thoả mãn một phần nhu cầu đạm của mình nhờ hoạt động của vi sinh vật cố định đạm sống cộng sinh ở rễ nhưng phải sau 3 tuần thì lạc mới phát triển đủ rễ và sau khi nở hoa thì nốt sần mới phát triển mạnh Vì vậy, bón đạm cho lạc ở thời kỳ đầu là rất cần thiết để xúc tiến việc hình thành nốt sần và phân hoá mầm hoa Tuy nhiên, nếu bón quá nhiều đạm
sẽ ức chế sự hình thành và hoạt động của vi khuẩn nốt sần làm cho cây vống lốp, số cành hữu hiệu giảm [4]
Mặc dầu có nhu cầu đạm cao nhưng trong thực tế lượng đạm bón cho lạc bao giờ cũng thấp hơn lân và kali Bón nhiều đạm cho lạc sẽ làm cho sinh khối phát triển mạnh [6], thời gian sinh trưởng bị kéo dài, ngăn cản sự hình thành nốt sần ở rễ và khả năng cố định đạm của vi sinh vật nốt sần do sản phẩm quang hợp chuyển hoá nhanh thành protein, làm giảm việc cung cấp cacbon hydrat cho các vi sinh vật này [28]
1.1.2.2 Vai trò của lân
Lân là thành phần của axit nucleic, photphatit, protein, lipit, coenzim, NAD, ATP và nhiễm sắc thể Lân cần thiết cho sự phân chia tế bào, mô phân sinh, kích thích sự phát triển của rễ, sự ra hoa, sự phát triển của hạt và quả [34] Ngoài việc xúc tiến rễ phát triển, lân còn là thức ăn chính của vi khuẩn có tác dụng đẩy mạnh
sự hình thành và nâng cao hoạt tính của nốt sần, làm tăng cường khả năng hút, giữ đạm khí trời, thúc đẩy lạc tăng số cành hữu hiệu, hoa nở sớm và tập trung, nâng cao tỷ lệ đậu quả và quả chắc, màu sắc đẹp, giảm tỷ lệ nước trong qủa Quan trọng hơn là xúc tiến quá trình hình thành chất béo, dầu và chất đạm, làm tăng tỷ lệ dầu trong hạt, quả chóng già chín Đặc biệt khi bón lân sẽ tăng cường hiệu lực hút phân đạm nên tiết kiệm được một lượng phân đạm đáng kể
Trang 16Lân thường được xem xét như một yếu tố dinh dưỡng hạn chế sinh trưởng và năng suất của các loại cây họ đậu ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Thiếu lân làm giảm sự phát triển của lá và hình thành số lá trên cây Chiều dài cành ít chịu ảnh hưởng của sự thiếu hụt lân trong cây, trong khi đó thiếu lân làm cho bộ rễ phát triển kém dẫn đến sự mất cân đối trong tỷ lệ giữa thân lá và rễ Lượng lân bón không thích hợp sẽ làm giảm cường độ quá trình đồng hoá cacbon hydrat, trong khi đó việc tổng hợp hợp chất này thông qua quá trình quang hợp vẫn tiếp tục xẩy ra và gây ra hiện tượng tích lũy cacbonhydrat làm cho lá có màu xanh sẫm, trầm trọng hơn sẽ có màu huyết
dụ và có ảnh hưởng bất lợi đối với quá trình quang hợp và cuối cùng sẽ làm sụt giảm năng suất cây trồng rất rõ rệt
Sự hình thành và phát triển của nốt sần ở rễ lạc và quá trình cố định đạm chịu ảnh hưởng rất lớn của lượng lân trong đất trồng lạc cũng như lượng lân được bón bổ sung từ các loại phân bón
+ Nốt sần bắt đầu hình thành khi lông hút của rễ bị lây nhiễm bởi vi khuẩn Rhizobium và ở giai đoạn này, việc thiếu hụt lân làm cho rễ kém phát triển sẽ ngăn cản sự hình thành nốt sần và giảm cường độ quá trình cố định đạm cũng như sự thu hút nước và dinh dưỡng của cây
+ Quá trình cố định đạm đòi hỏi nguồn năng lượng lớn cho sinh trưởng của vi khuẩn nốt sần và sự chuyển hoá N2 thành NH3 Nguồn năng lượng đó chủ yếu cũng được cung cấp từ lân ở dạng ATP
+ Lân có vai trò tích cực trong việc vận chuyển các sản phẩm của quá trình quang hợp từ lá về rễ và sự di chuyển của các hợp chất có đạm trong nốt sần về các bộ phận khác của cây và làm tăng hàm lượng đạm trong thân lá Ngoài ra, bón lân có tác dụng kích thích sự phát triển của bộ rễ cây trồng, nhờ đó mà cây có khả năng thu hút nhiều hơn các nguyên tố dinh duỡng từ đất và từ phân bón
Trang 17Thiếu lân có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành nốt sần, khả năng tích lũy chất khô và năng suất lạc Bón lân có tác dụng kích thích sự phát triển của bộ rễ, vì vậy ở cây họ đậu nói chung và cây lạc nói riêng được bón đầy đủ lân thường hình thành một số lượng lớn nốt sần hữu hiệu ở rễ, nốt sần thường lớn và có màu hồng [4]; [55] và vì vậy làm tăng khả năng tích lũy đạm của cây [2]
Thiếu lân có ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng của cây Cây ở giai đoạn còn non bị cằn cỗi, thời gian sinh trưởng bị kéo dài, lá non vàng nhạt, thể hiện dấu hiệu khô héo nhanh ảnh hưởng xấu tới sự phát triển của nốt sần, hoa rụng nhiều quả ít, kém chắc, năng suất và phẩm chất lạc đều giảm [2]
1.1.2.3 Vai trò của kali
Đối với cây trồng, kali là một trong 3 nguyên tố khoáng thiết yếu nhất Vai trò quan trọng nhất của kali được thể hiện ở khả năng hoạt hoá các enzim trong hợp chất ATP đóng vai trò cung cấp năng lượng cho rất nhiều quá trình sinh lý, sinh hoá xẩy ra trong cây [24] Kali còn rất cần thiết cho quá trình đồng hoá đạm và tổng hợp protein trong cây
Thiếu hụt kali trong cây sẽ làm cho quá trình tổng hợp protein bị ngừng trệ, đạm trong cây sẽ được tích lũy dưới dạng đạm nitrat và axit amin, là môi trường rất thuận lợi cho sâu bệnh xâm nhập [24]; [55] Thiếu kali trên rìa lá thường xuất hiện những đốm vàng, sau đó lan ra rìa lá và làm cho quá trình sinh trưởng của cây bị ngưng trệ [28] Tuy nhiên, nếu bón quá nhiều kali cho lạc sẽ ức chế việc hút can xi của tia và củ và kết quả là năng suất và phẩm cấp hạt sẽ giảm [44]
Theo Vũ Hữu Yêm, Võ Minh Kha thì kali có tác dụng hoạt hóa các enzym có liên quan đến quá trình quang hợp, chuyển hóa các cacbon hydrat
và protein cũng như giúp di chuyển và duy trì sự ổn định của chúng Kali giúp điều khiển quá trình sử dụng nước bằng đóng mở khí khổng, thúc đẩy quá
Trang 18trình sử dụng đạm dạng NH4+, cải thiện khả năng sử dụng ánh sáng khi thời tiết âm u nên làm tăng hiệu suất quang hợp Kali còn ảnh hưởng đến quá trình hình thành màng tế bào và độ chắc của nó, nên làm tăng khả năng chống lớp
đổ, tăng khả năng chống bệnh của cây trồng Kali có tác dụng làm tăng phẩm chất của nông sản, tăng kích thước hạt
Khác với lân, kali không tham gia trực tiếp vào quá trình hình thành nốt sần Tuy nhiên, ảnh hưởng của kali đến chỉ tiêu này có thể thông qua việc tích lũy và vận chuyển lân trong cây Một số tác giả [24]; [55] đã chỉ ra rằng, sự vận chuyển phốt pho và một số nguyên tố khác trong các xylem trong cây bị giảm sút khi cây không được cung cấp đầy đủ kali Bón đầy đủ kali góp phần đảm bảo cân bằng lân trong cây, tạo điều kiện để hệ rễ phát triển mạnh và tăng nhanh số lượng nốt sần xâm nhập Kali có vai trò vận chuyển các cacbon hydrat vào rễ cây họ đậu và tạo điều kiện để nốt sần có thể hình thành nhiều hơn [38]
Cây lạc trong thời kỳ phát triển hút một lượng kali rất lớn Tác dụng của kali đối với lạc thể hiện ở khả năng xúc tiến sự phân cành, tăng chiều cao cây, tăng nhiều hoa, làm hoa nở đều, tăng tỷ lệ hoa hữu hiệu, tăng khối lượng quả hạt, quả chắc và to, chín đều và ít thối, trắng vỏ Nó còn tác dụng tăng sức đề kháng của cây, giúp cây chống một số sâu bệnh Kali tác động đều đến toàn bộ thời gian sinh trưởng của cây và cuối cùng là đến năng suất của lạc [24]; [4]
Kali tập trung nhiều trong bộ phận non của cây Hàm lượng kali tối đa trong phần lớn thực vật thường thấy vào thời kỳ trước ra hoa Điều này chứng
tỏ rằng cây trồng hút kali rất lớn ở giai đoạn trước ra hoa Hàm lượng K2O trong cây ở mức 2,15% làm cho cây lạc ra hoa kết quả tối đa [4]
Thông thường, ảnh hưởng của kali đến một số chỉ tiêu sinh trưởng của cây lạc không phải là ảnh hưởng trực tiếp mà thông qua một số quá trình sinh lý xảy ra trong cây như quá trình quang hợp Sự trao đổi electron trong quá trình sản xuất ATP trong cây chỉ cân bằng với sự có mặt của K+ Sự
Trang 19thiếu hụt kali sẽ làm giảm sút quá trình hình thành ATP và vì vậy có ảnh hưởng tiêu cực đến tất cả các quá trình xẩy ra trong cây Bón đầy đủ kali có tác dụng thúc đẩy quá trình quang hợp và hình thành các cơ quan sinh trưởng Mặt khác, một vai trò nổi bật của kali và khác hẳn đạm và lân, đó là vai trò hoạt hoá hơn 60 enzim trong cây Kali làm thay đổi trạng thái lý học của phân tử enzim, trung hoà các anion hữu cơ và các hợp chất khác trong cây, giữ cho pH luôn ở mức ổn định từ 7÷8, là khoảng thích hợp cho rất nhiều phản ứng có enzim xúc tác [24]
1.1.2.4 Vai trò của can xi
Đối với lạc, trước hết can xi là thức ăn cần thiết Ngoài ra can xi còn làm giảm độ chua, tạo môi trường thuận lợi cho vi khuẩn nốt sần hoạt động cố định đạm nhiều hơn, ngăn ngừa việc tích lũy các chất độc hại và điều chỉnh bốc hơi nước, làm tăng sức chịu hạn cho lạc
Bón can xi còn huy động được đạm cho cây dùng, quả thêm chắc và tiết kiệm được bón đạm
Lạc rất mẫn cảm với can xi và có yêu cầu cao với can xi, nhất là thời kỳ kết quả Can xi làm cho rễ phát triển, tia dài và cứng thuận lợi cho việc hình thành quả
Bộ rễ, tia và quả còn non trực tiếp hút được can xi Bón can xi phối hợp với kali thì sẽ kiện toàn cấu tạo bộ máy của tia, tăng tỷ lệ đậu quả, giảm quả
ép, tăng số quả 2 hạt, hạt tròn đẹp, qủa ít eo Can xi là yếu tố quan trọng nhất
để sản xuất lạc quả to Ngoài ra nó còn có tác dụng phòng chống sâu bệnh, giảm kiến mối làm hại mầm
Thiếu can xi từ gốc đến ngọn cây lạc bị chuyển màu, lá chuyển màu có đốm trắng, lá già hơi vàng chết dần, thiếu nặng thì cây vàng úa, cuống lá dễ gãy, ngọn héo Ngoài ra khi thiếu can xi hoa rụng nhiều, ít đậu quả, quả lép,
vỏ quả giòn, kích thước hạt nhỏ [4]
Trang 201.1.2.5 Các nguyên tố vi lượng
Từ lâu người ta đã chứng minh được rằng cây hoàn toàn không thể phát triển bình thường nếu không có các nguyên tố vi lượng như bo, man gan, kẽm, đồng, molipden các nguyên tố này là tuyệt đối cần thiết cho cây
Các nghiên cứu về vai trò sinh học của từng nguyên tố vi lượng riêng biệt đã chứng minh sự thiếu hụt từng nguyên tố vi lượng và đa dạng riêng biệt trong đất gây ra các chứng bệnh cho thực vật, động vật
và con người
+ Vai trò của Bo
Bo có ảnh hưởng đến hoạt động của một số enzim Tăng khả năng thấm của màng tế bào, do vậy tăng quá trình vận chuyển hydrat cac bon
Là nguyên tố cần thiết đối với quá trình tổng hợp protein, ảnh hưởng đến
sự phân chia tế bào và sử dụng kali, tối ưu hóa tỷ lệ K/Ca trong cây
Bo đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành phấn hoa Thiếu
Bo phấn hoa không thể hình thành được, hoa rụng không thể tạo hạt được, hoặc hạt bị lép, chất lượng để giống kém Bo tăng cường sự tổng hợp và vận chuyển hydrat cac bon, các chất sinh trưởng và a xít ascobic
từ lá đến cơ quan tạo quả
Khi thiếu Bo sự trao đổi cacbon hydrat và protein giảm, đường và tinh bột tích lũy ở lá, đỉnh sinh trưởng bị chết Lượng Bo do mùa màng lấy đi từ đất của các loại cây trồng khác nhau trong mỗi vụ thu hoạch dao động rất lớn, khoảng 30-270 g/ha [29]
+ Vai trò của molipden (Mo)
Mo là thành phần của enzim khử nitrat, thúc đẩy quá trình sử dụng đạm và cố định đạm của vi khuẩn nốt sần Mo tác động đến quá trình khử nitrat và sinh tổ hợp axit amin tham gia và trao đổi hydratcacbon,
Trang 21vào quá trình tổng hợp vitamin và chất diệp lục Hàm lượng Mo của cây rất nhỏ, khoảng 0,1- 0.93 mg / kg chất khô
+ Vai trò của kẽm (Zn) Kẽm có vai trò quan trọng trong quá trình ôxy hóa khử N, tham gia vào thành phần của nhiều men, tham gia vào quá trình trao đổi chất protein, hydratcacbon, trao đổi P vào quá trình tổng hợp vitamin và các chất điều hòa sinh trưởng- các auxin
Thiếu kẽm sẽ phá vỡ quá trình trao đổi hydratcacbon, kìm hãm sự tạo đường saccarose, tinh bột và các chất diệp lục Kẽm rất cần thiết cho cây lấy hạt, thiếu kẽm hạt không hình thành được [29]
Ngoài ra kẽm còn giúp cho việc sử dụng lân và đạm trong cây tốt hơn, kẽm là thành phần thiết yếu của một số enzim, đặc biệt là cacbonhydraza xúc tiến quá trình phân ly H2CO3 thành CO2 và H2O, Kẽm còn thúc đẩy quá trình thụ phấn và phát triển của phôi
+ Vai trò của Đồng (Cu) Nguyên tố đồng có vai trò đặc biệt trong đời sống thực vật, nó không thể thay thế bằng một hoặc tập hợp một số nguyên tố nào khác Đồng tham gia vào quá trình ôxy hóa, tăng cường cường độ các chất hô hấp cũng như trao đổi các chất hydratcacbon và protein Đồng tham gia vào quá trình trao đổi N Thiếu đồng làm chậm lại quá trình tổng hợp protein [29]
Đồng xúc tiến quá trình hình thành vitamin A trong cây, thúc đẩy quá trình quang hợp, làm tăng khả năng chống các bệnh về nấm và vi khuẩn
Rõ ràng không thể phủ nhận vai trò quan trọng của phân bón trong việc nâng cao năng suất cây trồng và cải thiện tính chất đất Tuy nhiên, vai trò tích cực của phân bón chỉ thể hiện khi chúng được sử dụng một cách hợp lý trên cơ sở quản lý tổng hợp dinh dưỡng cho cây trồng
Trang 22Theo các tác giả Võ Minh Kha; Vũ Hữu Yêm; Nguyễn Văn Bộ; Thái Phiên; Bùi Đình Dinh; Kanwar; Thong; Mutert nền tảng của quản
lý tổng hợp dinh dưỡng cho cây trồng là bón phân cân đối và hơp lý Bón phân cân đối là bón phân đảm bảo cân đối tỷ lệ giữa hữu cơ và vô
cơ, cân đối giữa các nguyên tố đa lượng N : P : K, cân đối giữa các nguyên tố đa lượng, trung lượng và vi lượng [23],[41],[5],[26],[13]
Nguyễn Văn Bộ; Bùi Đình Dinh; Võ Minh Kha; Vũ Hữu Yêm cho biết: khái niệm cân đối là một khái niệm cụ thể và luôn biến động Đó là cân đối về nhu cầu và lượng hút của cây trồng, cân đối giữa các chất dinh dưỡng tại các thời kỳ sinh trưởng khác nhau, cân đối giữa các điều kiện tự nhiên liên quan đến hiệu lực phân bón (như nước, ánh sáng ) cũng như cân đối trong mối quan hệ với từng loại cây trồng trong một hệ thống luân canh [5],[13],[23],[41] Do vậy, để có các công thức khuyến cáo phân bón ngày càng gắn với điều kiện cụ thể thì một hệ thống nghiên cứu hiệu lực phân bón theo vùng sinh thái cần được thiết lập ổn định [5] Bón phân hợp lý là bón phân phù hợp với đặc điểm sinh lý của từng cây trồng, tính chất đất và điều kiện mùa vụ cụ thể
Sử dụng phân bón cân đối nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng thiết yếu, tăng cường tác động tương hỗ và loại trừ các tác động đối kháng giữa chúng Bón phân cân đối cũng góp phần ổn định năng suất và nâng cao lợi nhuận cho người sản xuất [43]
Việt Nam là một nước phải nhập khẩu tới 90 - 93% nhu cầu về phân đạm, 30 - 35 % nhu cầu về phân lân và 100 % nhu cầu về phân kali Nhưng do thiếu hiểu biết nên trong thực tế hiệu quả sử dụng phân bón của nông dân thường chỉ đạt 35 - 45 % đối với phân đạm, 50 - 60 % đối với phân kali Trong các giải pháp nâng cao hiệu lực phân bón, hạn chế mất dinh duỡng thì bón phân cân đối giữ vai trò chủ đạo [6]
Trang 23Phân bón là một trong những yếu tố có ảnh hưởng quyết định đến sinh trưởng cũng như khả năng hình thành năng suất của tất cả các cây trồng nông nghiệp Tuy nhiên, tác dụng tích cực của phân bón đến năng suất và phẩm chất của cây trồng cũng như môi trường đất và nước chỉ thể hiện khi được sử dụng một cách cân đối và hợp lý [42],[52],[51] Kết quả tổng kết của FAO trên phạm vi toàn thế giới cho thấy bón phân không cân đối có thể làm giảm năng suất tới 20 - 50 %
Xuất phát từ lý do nêu trên, để có một nền nông nghiệp phát triển bền vững, bắt buộc phải chuyển từ nông nghiệp truyền thống chủ yếu dựa và đất, sang một nền nông nghiệp thâm canh “dựa vào phân bón” với giống mới, năng suất và chất lượng cao kết hợp với phòng trừ dịch bệnh cho cây trồng [5]
Theo Bùi Huy Hiền thì trong 20 năm qua việc sử dụng phân bón trong thâm canh cây trồng ở nước ta diễn ra sự mất cân đối nghiêm trọng giữa N, P và K Tỷ lệ sử dụng kali thấp hơn nhiều so với đạm và lân Cũng theo tác giả này thì việc sử dụng phân bón không cân đối đã hạn chế đáng
kể năng suất cây trồng, giảm hiệu lực sử dụng phân bón và gây lãng phí Nguyên nhân là bón phân không cân đối làm cho lượng dinh dưỡng trong đất biến động mất cân đối dẫn đến giảm năng suất và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát sinh phát triển của một số loại bệnh hại [1],[19]
Bón phân cân đối cho cây trồng thể hiện ở các khía cạnh sau đây:
Bón cân đối Đạm-Lân
Ngoài việc sử dụng giống mới, tăng vụ, sử dụng phân đạm với liều lượng ngày càng cao chính là nguyên nhân làm tăng hiệu lực phân lân Bội thu nhờ bón lân có thể đạt từ 5-6 ta/ha trên đất phù sa Sông Hồng và
từ 10-15 tạ/ha trên đất phèn với liệu lượng thích hợp là 90 - 120 kg
P2O5/ha trong vụ xuân và 60 - 90Kg P2O5/ha trong vụ mùa (đối với lúa)
Trang 24Đối với các loại đất chua thì việc bón cân đối đạm - lân là yêu cầu bắt buộc để cây trồng sinh trưởng tốt và sử dụng được đạm, tránh hiện tượng
bị ngẹt rễ do thiếu lân Đất càng chua lượng lân bón càng cao hơn [6]
Tác giả Bùi Đình Dinh [13] cho biết: bón lân cân đối với đạm trên từng loại đất không những tăng hiệu quả của phân lân mà còn cải thiện hiệu quả của phân đạm, giảm được tiêu tốn chi phí cho một đơn vị sản phẩm khoảng 20 - 30% Khi bón kết hợp đạm và lân, năng suất lạc quả tăng 16,89 - 24,46% so với chỉ bón đạm Nếu bón kết hợp giữa đạm, lân, kali thì sẽ làm tăng khả năng hấp thu của đạm từ 2,0 - 6.1%, lân từ 1,6 - 6.1%, nhờ đó mà tăng khả năng cố định của nốt sần lên từ 13,5 - 2,3%
Hiện tượng mất đạm giảm 2,3 - 16,4%, mất lân giảm 2,8 - 4,3%, tồn dư đạm trong đất tăng 2,7 - 7,2 % và lân tăng 2,6 - 4,0 % [59] Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy, bón phân cân đối cho lạc thì dù trên loại đất nào cũng đều làm tăng năng suất đáng kể Trên đất cát biển, bón cân đối đạm, lân (30 kgN, 60 - 90kg P2O5) cho bội thu 2,5 - 3,2 tạ/ha, trên đất bazan bội thu 5,6 - 10 tạ/ha
Quy luật tương tự cũng thấy ở Việt Nam Trên đất phèn nếu không bón lân, cây trồng chỉ hút được từ 40 - 50 kg N Song bón lân đã làm cây trồng hút được từ 120 - 130kg N/ha Tương tự, trên đất bạc màu không bón kali cây trồng chỉ hút được từ 80 - 90 kg N Trong khi đó bón kali làm cây trồng hút được từ 120 - 150kg N/ha [5]
Bón cân đối Đạm - Kali
Quan hệ tương hỗ của kali và đạm thể hiện ở vai trò của kali đối với quá trình đồng hóa đạm trong cây Theo một số nghiên cứu cho thấy
do tác động đến quá trình quang hợp và hô hấp nên kali có ảnh hưởng tích cực đến việc trao đổi đạm và tổng hợp protein Thiếu kali mà nhiều đạm NH4+ sẽ gây độc cho cây [37],[24],[41]
Trang 25Các nghiên cứu khác nhận xét: cây trồng có phản ứng tích cực với lượng kali bón ở mức cao khi được cung cấp đầy đủ đạm và bón đạm sẽ đạt năng suất cây trồng cao khi cây được cung cấp đầy đủ kali Zhu cũng cho rằng: để đạt được năng suất cao và tăng hiệu quả tích lũy đạm, cây đậu đỗ rất cần phải được bón kali với liều lượng thích hợp [49],[58]
Theo Liao và Trần Thị Thu Hà thì trên các loại đất nghèo lân và kali, việc bón đạm một cách đơn độc sẽ làm giảm hiệu quả sử dụng phân bón và năng suất cây trồng, đôi khi năng suất còn thấp hơn so với không bón phân Nguyên nhân là do đất có hàm lượng lân và kali quá thấp, lân
và kali lúc này trở thành yếu tố hạn chế năng suất [60]
Dạng đạm NH4+ trong đất lại có ảnh hưởng có tính đối kháng với kali Lượng đạm NH4+ trong đất quá cao có thể làm giảm khả năng hấp phụ của kali trên bề mặt keo đất
Cân đối đạm - kali là mối quan hệ qua lại rất chặt chẽ, đôi khi việc
sử dụng kali còn là giải pháp để điều chỉnh dinh dưỡng đạm cho cây trồng Kali là một yếu tố đặc biệt vì nó là nguyên tố điều khiển chất lượng, tham gia hầu hết các quá trình hình thành và vận chuyển các hợp chất trong cây Do đó, nếu không có nguồn cung cấp kali từ phân bón thì cây trồng sẽ không sử dụng đựơc đạm dẫn đến năng suất thấp Vì vây, trên đất nghèo kali cân đối đạm - kali còn có ý nghĩa rất quan trọng
Theo Nguyễn Văn Bộ thì bội thu do bón kali cho lạc trên đất phù
sa cao hơn so với bón lân và đạt 3,5 tạ/ha (60 - 90 kg K2O/ha) Bón cân đối đạm - lân - kali làm tăng năng suất 6 tạ /ha so với đối chứng Quy luật tương tự cũng thấy trên đất bạc màu, đất xám, bazan Tuy nhiên, dù kali có hiệu quả cao song chỉ nên cân đối ở mức 60 - 90kg K2O/ha trên nền 20 - 30kg N, bón kali cao hơn nữa cũng không tăng năng suất và
Trang 26giảm hiệu quả Việc nâng lượng đạm bón lên trên 40kg N/ha trên một số loại đất cũng làm giảm năng suất do sinh khối phát triển [5]
Trên các đất giàu kali như phù sa Sông Hồng, phù sa Sông Thái Bình, phù sa Sông Cửu Long thì hiệu suất kali chỉ đạt 1,0 - 2,5 kg thóc/1kg K2O Trong khi đó trên các đất bạc màu hoặc đất cát biển trị số này có thể đạt từ 5 - 7 kg thóc/1kg K2O (đối với lúa) [6]
Cân đối hữu cơ - vô cơ
Trên hầu hết các loại đất, phân đạm có mối quan hệ rất chặt với phân hữu cơ Bón phân chuồng làm tăng đáng kể hiệu suất sử dụng phân đạm Năng suất cây trồng đạt cao nhất khi tỷ lệ hữu cơ trong tổng lượng đạm bón khoảng 30 - 40%
Vai trò của phân hữu cơ trong việc nâng cao năng suất cây trồng
và cải thiện độ phì đất đã được khẳng định Bón phân hữu cơ có tác dụng rất rõ đến sinh trưởng và năng suất cây trồng nông nghiệp ở Malaysia, Australia, Ấn độ, Hàn Quốc [11],[50] Bón phân hữu cơ còn có tác dụng duy trì và cải thiện độ phì đất [26],[3],[30],[32],[40] tăng khả năng dễ tiêu của một số nguyên tố khoáng trong đất [57]; khả năng hòa tan của các loại phân lân [57]; tăng hiệu quả sử dụng đạm [31], có tác động tích cực đến sinh trưởng của tập đoàn vi sinh vật trong đất [39];[32]
Cân đối giưa phân hữu cơ - vô cơ không chỉ làm tăng hiệu quả sử dụng phân khoáng mà ngược lại phân khoáng cũng làm tăng hiệu lực phân hữu cơ Trên nền bón phân khoáng, hiệu lực một tấn phân chuồng đạt từ 53-89 kg thóc so với nền không bón chỉ đạt từ 32 - 52 kg thóc Điều này chứng tỏ rằng việc sử dụng phân bón cân đối, hợp lý, đúng nhu cầu dinh dưỡng của cây trồng là rất quan trọng và đặc biệt cần thiết đối với sản xuất nông nghiệp nói chung [6]
Trang 27Trong thực tế sản xuất, hàng năm lượng dinh dưỡng trong đất bị mất
đi rất đáng kể thông qua nhiều con đường và đây chính là nguyên nhân chính làm suy giảm sức sản xuất của đất
Cây trồng để tạo năng suất đã hút một lượng lớn dinh dưỡng từ đất
và mang theo sản phẩm thu hoạch Bùi Đình Dinh (1998) [13] uớc tính 8 loại cây trồng chính trong sản xuất nông nghiệp nước ta là lúa, ngô, khoai lang, khoai tây, mía, sắn, đậu tương, lạc (năm 1993) đã lấy đi khoảng 2 triệu tấn NPK nguyên chất Dinh dưỡng trong đất cũng có thể
bị tiêu hao do kết quả của quá trình bay hơi, rửa trôi và xói mòn đất Nguyễn Tử Siêm và Thái Phiên cho biết: trên đất dốc với công thức canh tác là sắn thuần sau 3 năm lượng đất bị mất đi tính trên 1 ha là 201,8 tấn
và cũng theo các tác giả này trên lô cà phê không có biện pháp bảo vệ đất, lượng dinh dưỡng mất đi sau 6 năm trồng là 2295 kg chất hữu cơ,
121 kg N, 108 kg P2O5 và 36 kg K2O [30]
Để bổ sung lượng dinh dưỡng hao hụt, hàng năm một lượng lớn phân bón hữu cơ và vô cơ đã được đưa vào đất Số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê (2003) cho thấy: tổng lượng NPK sử dụng cho cây trồng hiện nay là xấp xỉ 7 triệu tấn Tuy nhiên, do trình độ thâm canh không giống nhau mà sử dụng phân bón của người sản xuất ở rất nhiều nơi cũng không giống nhau Theo Võ Thị Gương ở những vùng mà người sản xuất có trình độ thâm canh thấp, khoảng 70% nông dân bón đạm vượt và vượt xa so với nhu cầu bón (theo khuyến cáo trong quy trình), vai trò của lân và kali trong khi đó lại hầu như chưa được chú ý đến một cách thỏa đáng Việc sử dụng lượng phân bón quá cao và không cân đối so với nhu cầu của cây không chỉ làm giảm năng suất mà còn làm giảm đáng kể chất lượng nông sản phẩm [17] Kết quả nghiên cứu của Công Doãn Sắt cho thấy, nếu bón đạm cho cà chua với liều lượng >
Trang 28150 kg N/ha và > 200 kgN/ha cho cải bắp sẽ làm cho hàm lượng NO3 trong sản phẩm tích luỹ vượt mức cho phép [29]
Theo Bùi Đình Dinh, Trần Thúc Sơn phân bón ở nước ta do được
sử dụng chưa hợp lý mà hiệu quả sử dụng phân bón còn thấp, chỉ đạt khoảng 16,5 kg thóc/kg N trên đất phù sa sông Hồng và 9,5 kg thóc/kg N trên đất bạc màu Bón đạm không kèm với bón phân lân thì hiệu quả đầu
tư giảm vì lượng đạm tiêu tốn để tạo ra một tấn thóc tăng lên 13 - 70 % tuỳ theo từng loại đất, thậm chí trên một số loại đất chỉ bón đạm còn làm giảm năng suất như đất bạc màu [12],[31]
Tổng kết các mô hình bón phân cân đối, Bùi Đình Dinh cho biết: bón NPK cân đối làm tăng năng suất lúa trên đất bạc màu lên đến 100 -
200 % và trên đất phù sa sông Hồng là 15 - 30 % so với chỉ bón đạm Bón cân đối NPK cho chè trên đất phiến thạch làm tăng năng suất chè lên 300% , tăng hàm lượng chất hoà tan trong chè Năng suất bắp cải và
cà chua khi được bón cân đối NPK tăng 10 - 20%, hàm lượng NO3 giảm
40 - 50 % so với khi chỉ được bón đạm [13]
Như vậy, sử dụng phân bón cân đối và hợp lý không chỉ có tác dụng làm tăng năng suất cây trồng mà còn góp phần nâng cao chất lượng nông sản
Có thể nói phân bón và sử dụng phân bón một cách hợp lý có ý nghĩa quan trọng trong phát triển một nền nông nghiệp sạch, là xu hướng phát triển hiện nay của tất cả các quốc gia trên thế giới Trong cân đối dinh dưỡng cho cây trồng, vai trò phân khoáng sẽ ngày càng gia tăng trong mối quan hệ tương đối với phân hữu cơ và như vậy, vai trò của phân hữu cơ như một nguồn cung cấp cho cây trồng ngày càng giảm Việc sử dụng phân hữu cơ trước hết để ổn định độ phì nhiêu và tạo nền thâm canh, nâng cao hiệu lực phân hoá học Tất nhiên, quản lý tổng hợp
Trang 29dinh dưỡng cây trồng phải được đặt trong mối quan hệ với quản lý đất tổng hợp (ISM - Integrated Soil management), quản lý nước tổng hợp (IWM - Integrated Water management và quản lý dịch hại cây trồng tổng hợp (IPM - Integrated Pest management), tạo nên một khái niệm mới: quản lý cây trồng tổng hợp (Integrated crop management) [5]
1.1.3 Nhu cầu dinh dưỡng của cây lạc
Lạc là cây họ đậu, có nhu cầu dinh dưỡng không cao và có khả năng sử dụng được đạm từ không khí nhờ vi khuẩn nốt sần Nhu cầu dinh dưỡng của cây lạc thay đổi, phụ thuộc vào từng giai đoạn sinh trưởng của cây và tính chất đất Để thu được 1 tấn lạc vỏ (kèm với thân lá) cây lấy đi 64 kg N, 16 kg
P2O5 và 2,5 kg K2O/ha Mức đạm bón cho lạc trên đất có độ phì trung bình và cao cần phải giảm đi 50% trong khi đó lượng lân cần bón gấp 2 lần
Trang 30Burkhart, Collins đã mô tả những triệu chứng thiếu dinh dưỡng thấy được bằng mắt Nhưng phương pháp kết hợp cả triệu chứng biểu hiện trên lá
do thiếu dinh dưỡng và nồng độ các chất ở mức tới hạn là cách tốt hơn để nhận biết sự thiếu dinh dưỡng ở lạc
Khi nghiên cứu về chế độ dinh dưỡng của cây lạc, các nhà khoa học thuộc Viện Nghiên cứu cây có dầu ở Nam Senegan cho thấy, để có năng suất 1.000 kg/ha thì cây lạc đã lấy đi từ đất một lượng nguyên tố khoáng như sau: 45÷52 kg N; 2,2÷3,8 kg P; 11,8÷13,7 kg K; 5,9÷8,3 kg Ca; 3,8÷7,2 kg Mg Như vậy cây lạc tích lũy đạm với lượng lớn nhất sau đó đến kali [4]
1.1.4 Đặc điểm của đất phù sa
Đất phù sa có thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến sét Đất có phản ứng chua; hàm lượng mùn từ trung bình - hơi nghèo (0,9 - 1,5%), đạm tổng số trung bình (0,08 - 0,1%), lân tổng số khá (0,1 - 0,12%), lân dễ tiêu trung bình,
độ no bazơ thấp - trung bình (40 - 55%) Như vậy, đất có độ phì tự nhiên khá,
có thể bố trí nhiều công thức luân canh cây trồng khác nhau và có thể cho năng suất khá
1.1.5 Các yếu tố hạn chế và định luật yếu tố hạn chế năng suất cây trồng
Theo Nguyễn Vy có rất nhiều yếu tố hạn chế sự phát triển của cây trồng
và hình thành năng suất
Khi cây trồng không phát triển hoặc phát triển không bình thường, khi cây trồng đó không cho năng suất hoặc năng suất thấp hơn bình thường hoặc không đạt chỉ tiêu về chất lượng protein, dầu, đường, vi lượng, thuận lợi cho bảo quản
và chế biến, người ta nói cây trồng đã bị ảnh hưởng của các yếu tố hạn chế Có những đất có độ phì nhiêu rất cao, xét về độ phì nhiêu tự nhiên nhưng lại thiếu một chất dinh dưỡng nào đó làm cho các chất dinh dưỡng khác không thể phát huy được Như vậy sự thiếu hụt một chất dinh dưỡng này hoặc một chất dinh dưỡng khác sớm muộn cũng dẫn tới yếu tố hạn chế [38]
Trang 31Những yếu tố hạn chế năng suất lạc ở Việt Nam là: thiếu giống có năng suất cao, đất trồng lạc thiếu dinh dưỡng, hàm lượng chất hữu cơ và mùn thấp,
pH thấp (hoặc cao), vi sinh vật ít, sâu bệnh hại lạc phòng trừ chưa có hiệu quả Trong rất nhiều các yếu tố hạn chế đó, yếu tố dinh dưỡng hạn chế năng suất lạc có ảnh hưởng trực tiếp và đáng kể [24]
Trên cùng một địa điểm, có thể xuất hiện cùng một lúc nhiều yếu tố hạn chế nhưng không thể khắc phục được triệt để nếu chưa tìm ra yếu tố hạn chế đứng hàng đầu Vì vậy, việc nghiên cứu để phát hiện yếu tố hạn chế có ý nghĩa
to lớn cả về lý luận lẫn thực tiễn trong việc bón phân hợp lý và cân đối để đạt được năng suất cao, phẩm chất tốt đồng thời tạo được độ phì nhiêu cho đất Năm 1840, Liebig phát hiện ra yếu tố dinh dưỡng hạn chế năng suất cây
trồng Và đã đưa ra Định luật yếu tố hạn chế năng suất cây trồng như sau:
“Năng suất cây trồng tỷ lệ với nguyên tố phân bón có tỷ lệ thấp nhất so với yêu cầu của cây trồng”
Ở Việt Nam, hơn một nửa diện tích đất trồng trọt có hàm lượng chất dinh dưỡng thấp và có những yếu tố hạn chế cần khắc phục như độ chua, hàm lượng nhôm và độ mặn cũng như khả năng giữ chất dinh dưỡng kém Trong
số các thiếu hụt về chất dinh dưỡng trong đất trồng trọt ở Việt Nam lớn nhất
và quan trọng nhất là thiếu hụt về đạm, lân và kali Đây cũng là chất dinh dưỡng mà cây trồng hấp thụ lớn nhất
Trong các loại đất chua, sự thiếu can xi và ma giê cũng trở nên quan trọng Việc hoàn trả không đầy đủ về lượng các chất dinh dưỡng ở dạng vô cơ
và hữu cơ đã làm cho đất bị cạn kiệt màu khá rõ, đây cũng là nguyên nhân xuất hiện yếu tố dinh dưỡng hạn chế
Yếu tố hạn chế cũng xuất hiện khi nồng độ một chất vượt quá ngưỡng cho phép đã trở thành độc tố thì cũng kìm hãm sự phát triển của cây trồng, làm giảm năng suất, thậm chí không cho thu hoạch Có thể lấy trường hợp đất
Trang 32bị nhiễm mặn do nồng độ muối tan chủ yếu là Na+
, Cl- cao, trong điều kiện yếm khí sẽ dẫn đến tích lũy nhiều sản phẩm khử như H2S, Fe++ thường thấy ở các vùng thung lũng núi cao, vùng đất phèn Trong trường hợp này ta gọi là yếu tố hạn chế thừa
Nói chung yếu tố hạn chế xuất hiện từ những nguyên nhân chủ yếu sau: + Hệ quả của các quá trình thổ nhưỡng tự nhiên
+ Bón quá ít hoặc không bón một yếu tố dinh dưỡng
+ Các giống năng suất cao đã hút đi một lượng lớn các chất dinh dưỡng
từ đất nhưng không hoàn trả đúng mức
+ Bón cố định một loại phân
+ Những quá trình hóa học, sinh học tích lũy độc tố mới xẩy ra trong đất Đối với các đất giàu mùn, giàu đạm thì yếu tố hạn chế được khắc phục theo quy luật cân đối lân - đạm, với các đất mà tỷ lệ đạm trung bình hoặc thấp thì vai trò yếu tố hạn chế được khắc phục theo quy luật tối thiểu, nghĩa là lân
ít thì bón lân ắt phải có bội thu cao
Trong thực tiễn sản xuất nông nghiệp Việt Nam hiện nay, sau khi yếu tố hạn chế năng suất chính là đạm đã được giải quyết thì lân nổi lên là yếu tố hạn chế năng suất trong suốt gần 3 thập kỷ và hiện tại vẫn đang còn là yếu tố hạn chế trên rất nhiều loại đất Riêng kali, tuy mới được coi là yếu tố hạn chế năng suất trên một số loại đất, một vài loại cây trồng, song do lượng hút kali ngày càng lớn với tốc độ ngày càng cao, thậm chí cao hơn đạm thì kali cũng sớm trở thành yếu tố hạn chế năng suất cây trồng ở Việt Nam
Đó là nói đến các nguyên tố đa lượng, còn các nguyên tố trung lượng và
vi lượng thì sao? Ở các nước phát triển người ta không còn nghi ngờ về vai trò sinh lý của các nguyên tố vi lượng và khả năng tăng năng suất cây trồng, nâng cao chất lượng nông sản của các loại phân vi lượng Trên cơ sở đó cũng
có thể nghĩ đến các nguyên tố trung lượng và vi lượng, tuy chỉ với lượng nhỏ
Trang 33đối với cây trồng nhưng cũng có khả năng các nguyên tố đó là yếu tố dinh dưỡng hạn chế đến năng suất cây trồng
Tuy nhiên, định luật hạn chế năng suất cây trồng có thể mở rộng đối với các yếu tố ngọai cảnh như nhiệt độ, nước, ánh sáng Mặc dù đủ các yếu tố về phân bón nhưng thiếu nước thì việc cung cấp nước sẽ quyết định mức năng suất của cây trồng Nhiệm vụ của các nhà khoa học nghiên cứu ngành trồng trọt là phải tìm ra được các yếu tố hạn chế, yếu tố hạn chế này được giải quyết thì phát sinh yếu tố hạn chế mới Muốn đầy đủ và giúp cho việc bón phân có hiệu quả thì định luật này được mở rộng như sau: “Năng suất cây trồng phụ thuộc vào chất dinh dưỡng nào có hàm lượng dễ tiêu thụ nhất so với yêu cầu của cây trồng” [13]
1.1.6 Tình hình nghiên cứu phân bón cho lạc trên thế giới và ở Việt Nam 1.1.6.1 Tình hình nghiên cứu phân bón cho lạc trên thế giới
Các kết quả nghiên cứu về sử dụng phân bón cho lạc cho thấy, để đạt hiệu quả sử dụng phân bón cao nhất cần dựa vào kết quả phân tích đất Lạc là cây trồng khá mẫn cảm với độ chua, vì vậy, bón vôi cho lạc, đặc biệt trên các loại đất chua thường cho hiệu quả rõ rệt
J.G De Geus cho biết, nếu pH thấp thì phải bón vôi khi làm đất Các nghiên cứu ở Mỹ cho thấy, không cần dùng phân đạm khi đã bón vôi cho đất
để có pH thích hợp, vì đã có vi khuẩn tạo nốt sần Tuy vậy, cây lạc thường được trồng trên đất nhẹ, có thành phần cơ giới thô, phần lớn các lọai đất này thường là nghèo dinh dưỡng, hàm lượng mùn thấp, vì vậy việc bổ sung nguồn dinh dưỡng trực tiếp cho lạc là cần thiết
Bón vôi có tác dụng cải thiện độ chua của đất, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của rất nhiều loại vi sinh vật Bón vôi trung hòa độ chua giúp cho chất hữu cơ trong đất phân giải mạnh và góp phần tích lũy các chất dinh dưỡng dễ tiêu trong đất Bón vôi, cải thiện độ chua của đất có tác dụng tăng
Trang 34cường hoạt động cố định đạm của vi khuẩn chủng Rhizobium Bón vôi cho đất còn có tác dụng giải phóng lân từ các hợp chất lân khó hòa tan vốn rất nhiều trên đất chua như AlPO4 và FePO4 [53] [54] Bón vôi kết hợp với lân có tác dụng rất rõ rệt trong việc nâng cao năng suất lạc
Trong các nguyên tố dinh dưỡng, lân là nguyên tố có vai trò rất lớn đối với sinh trưởng của cây lạc Hiệu lực của lân phụ thuộc vào loại đất trồng lạc, lượng bón đạm - lân, phương pháp bón và dạng phân lân được sử dụng
Ở Tây Phi người ta xác định liều lượng phân lân thích hợp để bón cho cây lạc là 30 kg P2O5/ha, nhưng ít nhất là 3/4 số phân này ở dạng hòa tan [4] Tại nhiều vùng trồng lạc ở Trung Quốc, loại phân lân thường sử dụng bón cho cây lạc là super photphat và phân lân nung chảy Loại phân lân này phù hợp cho đất có độ phì trung bình, đất chua [59]
Cùng với nguyên tố lân, kali là nguyên tố dinh dưỡng đa lượng có ảnh hưởng nhất định đến sinh trưởng của cây lạc
Theo Borkert và Jonie While cây họ đậu có phản ứng với phân kali khi lượng kali trao đổi trong đất ở mức dưới 40 mg K/kg đất Cũng theo tác giả này thì bón kali ở mức trên 80 kg K2O/ha sẽ cho năng suất cây trồng cao nhất
và đồng thời cũng góp phần trả lại lượng kali trong đất đã mất đi sau 5 năm thí nghiệm Abd - El - Hardi lại cho rằng, bón kali ở mức 70 kg K2O/ha cho năng suất cao nhất tại Egypt
Ở Hà Nam (Trung Quốc) bón kali có tác dụng làm tăng hàm lượng chất béo và axit amin trong hạt lạc Phần trăm axit amin cần thiết tăng từ 8,7% ở công thức không bón kali lên đến 9,4% ở các công thức có bón kali
Vai trò của các nguyên tố dinh dưỡng cũng thể hiện rõ khi chúng được bón với liều lượng phù hợp Trên thế giới đã có một số nghiên cứu về tỷ lệ N :
K2O bón cho cây đậu đỗ nói chung và cây lạc nói riêng Pamplona và ctv (1990) cho rằng: năng suất đậu tương đạt cao nhất ở tỷ lệ N : K2O bón là 1: 2
Trang 35(30 N và 60 K2O) Năng suất lạc tăng từ 16÷21% trên một số loại đất của Ấn
Độ ở công thức bón đạm và kali với liều lượng 25 N và 30 K2O Bón 60 kg
K2O/ha kết hợp với 30 kg N cho năng suất lạc cao nhất
Để đạt được năng suất 2.875 kg/ha, ở Mỹ năm 1975 người ta bón 20÷25
kg N, 50÷60 kg P2O5, 50÷80 kg K2O Trong khi đó ở Ấn Độ liều lượng bón 10÷13 kg N, 20÷26 kg P2O5, 0÷60 kg K2O [4]
Kết quả nghiên cứu của Chokhey Singh và Pathak cho biết: nếu bón phối hợp 11 kg N + 10 kg P2O5 + 19 kg K2O cho 1 ha thì năng suất lạc tăng 15,4%
so với đối chứng và cao hơn một cách có ý nghĩa khi bón đơn độc N, P, K hoặc khi bón hai trong ba yếu tố trên ở đất thịt nhẹ hay trung bình
Kết quả nghiên cứu của Pandey và Mc Intosh (1998) cho thấy để đạt năng suất 1 tấn/ha thì lạc thường hút trung bình 2,3÷2,5 kg N/ha, 4,7÷19,3
kg P2O5/ha
Ở Xurinam, đối với đất hình thành trên các mạch đá cát pha trong các đồng bằng duyên hải có trồng lạc, người ta đề nghị bón mỗi ha 500÷1.000 kg vôi kết hợp với 200 kg phân phức hợp 5 - 10 - 10 thêm 50 kg MgSO4 [44]
Ở Australia, các loại đất có tỷ lệ lân dễ tiêu thấp và trên loại đất canh tác lâu ngày thường thiếu yếu tố kali, người ta thường bón các loại phân như lân, phân khoáng, NPK cho lạc và kết quả thật bất ngờ là năng suất lạc tăng lên một cách đáng kể
Nhìn chung trên thế giới cây lạc chiếm diện tích tương đối lớn và là một trong những cây lấy dầu quan trọng của hầu hết các nước trồng lạc Như vậy bón phân đầy đủ và cân đối hợp lý giữa các nguyên tố đạm, lân, kali thì năng suất sẽ cao hơn so với chỉ bón một, hai trong ba yếu tố nói trên Chỉ cần bón cân đối có thể tăng sản lượng lạc lên rất nhiều
Tóm lại: các tác giả trên thế giới đã nghiên cứu một cách khá đầy đủ và toàn diện về ảnh hưởng của các yếu tố dinh dưỡng bón đối với cây lạc Đó là
Trang 36những cơ sở thực tiễn giúp chúng ta nhìn nhận được vai trò quan trọng của việc bón phân cho lạc, đặc biệt là trên chân đất nghèo dinh dưỡng
1.1.6.2 Tình hình nghiên cứu phân bón cho lạc ở Việt Nam
Trong những năm gần đây, những công trình nghiên cứu phân bón cho lạc ở nước ta đã đem lại những kết quả khả quan góp phần tăng năng suất cây trồng, và nâng cao chất lượng nông sản phẩm Những công trình nghiên cứu
có sự đóng góp đáng kể của Lê Văn Căn, Nguyễn Trọng Chi, Nguyễn Hữu Cầu và nhiều tác giả khác Các tác giả cho rằng, vai trò chủ yếu của lân là cung cấp lân, can xi, lưu huỳnh cho cây lạc
Cây lạc là loại cây họ đậu, có nhu cầu dinh dưỡng không cao và lại có khả năng sử dụng được đạm từ không khí nhờ các vi khuẩn nốt sần Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Dần cho thấy, một trong những yếu tố hạn chế của một số loại đất trồng lạc ở các vùng chuyên canh là vấn đề độ ẩm và các chất dinh dưỡng Vì đất trồng lạc thường có thành phần cơ giới nhẹ nên chất dinh dưỡng thường bị rửa trôi Để đưa ra một liều lượng các nguyên tố dinh dưỡng thích hợp với lạc trên từng loại đất, việc nghiên cứu liều lượng bón phù hợp là cần thiết và phải được xác định cụ thể
Bón phân không cân đối, thiếu hụt một trong các nguyên tố dinh dưỡng cần thiết cho lạc không chỉ không làm tăng năng suất mà còn không đem lại lợi nhuận cho người sử dụng [18]
Tuy lạc hút nhiều đạm hơn so với các nguyên tố khác, song trên hầu hết các lọai đất thì lân, kali, can xi lại là những nguyên tố chính hạn chế năng suất của lạc Lương Đức Loan cho biết: vôi có tác dụng tích cực đến việc hình thành năng suất lạc trên đất bazan Tây Nguyên, hiệu quả 1 kg vôi là 0,23÷0,26 kg lạc vỏ khô
Trang 37Bón vôi cho lạc không chỉ có ý nghĩa làm tăng độ pH của đất mà còn cải tạo môi trường thích hợp cho vi sinh vật cố định đạm hoạt động, vệ sinh đồng ruộng và là chất dinh dưỡng cần thiết cho quả lạc [8]
Bón vôi trên đất bạc màu làm tăng năng suất lạc từ 9÷10%, bón Mg làm tăng năng suất 11% Bón vôi cho lạc, ngoài việc cung cấp can xi như các nguyên tố dinh dưỡng còn có tác dụng khử chua cho đất, tạo môi trường thuận lợi cho các vi khuẩn nốt sần phát triển và quan trọng vôi góp phần hình thành lạc quả [39]
Kết quả nghiên cứu trên đất bạc màu ở Ba Vì, đất bạc màu ở Hà Bắc
và đất phù sa biển ở Diễn Châu (Nghệ An) cho thấy, trên đất bạc màu ở Ba
Vì nếu bón vôi ở mức 300÷500 kg CaO cho một ha, năng suất tăng từ 2÷4 tạ/ha trên nền 8 tấn phân chuồng 90 kg P2O5 và 40 kg K2O Ở Hà Bắc với lượng vôi bón 300÷500 kg CaO/ha năng suất tăng 3,8÷4,1 tạ/ha [10]
Cùng với vôi, lân là nguyên tố dinh dưỡng có vai trò quan trọng không chỉ đối với sinh trưởng của lạc mà còn có ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động của vi sinh vật cố định đạm ở nốt sần cây lạc và quá trình đồng hóa đạm trong cây Liều lượng, tỷ lệ và phương pháp bón lân vì vậy có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng hình thành năng suất của cây lạc
Một số tác giả khi nghiên cứu liều lượng phân bón cho lạc tại một số tỉnh miền Trung đã kết luận rằng, khi bón super photphat và phân lân nung chảy, liều lượng từ 30, 40, 60, 80, 90, 100, 120 kg P2O5 cho các giống Sen lai, Sen Nghệ An, lạc giấy Thừa Thiên Huế, lạc Kỳ Sơn đã làm tăng lượng nốt sần, tỷ lệ hoa hữu hiệu, tổng số quả và số quả chắc trên cây, P100 quả và P100 hạt Bón lân đã làm tăng năng suất của quả khô từ 12,9%÷34,7% Ngoài ra bón lân cho lạc không những làm tăng hiệu quả kinh tế sản xuất mà còn cải thiện tính chất đất [14]; [7]
Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm có nhận xét: bón phân lân cho lạc trên đất
đỏ vàng phát triển trên bazan và phiến thạch sét làm tăng năng suất tương ứng
Trang 3824÷145% và 11÷71% so với không bón Năng suất lạc cao nhất ở mức 90÷100 kg P2O5/ha
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng và phương pháp bón lân (super photphat) cho lạc cho thấy, tưới thúc lân ở thời điểm 7 ngày sau khi gieo tỏ ra có hiệu quả hơn với phương pháp bón lót Tưới thúc lân, ở mức
60, 90 và 120 kg P2O5/ha cho năng suất lạc tương ứng là 3,49; 3,80 và 3,81 tấn quả/ha Năng suất lạc không khác biệt có ý nghĩa ở mức bón 90 và 120
kg P2O5/ha [36]
Về hiệu suất phân bón: 1 kg P2O5 (dạng super photphat) ở mức 60
P2O5/ha cho từ 4,5÷5,0 kg lạc vỏ so với 3,6÷4,0 kg lạc vỏ ở mức bón 90
P2O5/ha Những kết quả tương tự cũng thu được khi tiến hành thí nghiệm với lạc trên đất bạc màu Bắc Giang [21]
Trên đất phù sa biển không chua (pH = 5,8÷6,0) hiệu lực phân lân (phân lân nung chảy và phân lân chậm tan) cao, chỉ thấp hơn superphotphat trên nền
8 tấn phân chuồng + 30 kg N + 30 kg K2O Bón super lân năng suất lạc tăng
so với đối chứng 115%, phân lân nung chảy: 112% [20]
Nguyễn Thị Dần kết luận: trên đất phù sa biển có hàm lượng hữu cơ 0,6÷1,0% đạm tổng số 0,03÷0,09%, hàm lượng kali tổng số thấp (0,75%), hàm lượng lân, kali dễ tiêu: 3÷5 và 6÷7 mg/100 g đất, có độ chua trung bình, khả năng hấp thu kém dễ bị rửa trôi thì hiêụ suất 1 kg P2O5 (dạng superphotphat) ở mức bón 60 P2O5 cho trung bình 4,5÷5,0 kg lạc vỏ Hiệu lực
1 kg P2O5 đầu tư là 3,0÷4,5 kg lạc vỏ, cá biệt đạt 7÷8 kg lạc vỏ Để đạt hiệu quả kinh tế cao thì nên đầu tư ở mức 60 P2O5 và để đạt năng suất cao nên đầu
tư ở mức 90 P2O5 Nguyễn Tử Siêm và Thái Phiên có nhận xét: trên đất đỏ vàng trên bazan, bón lân cho lạc làm tăng năng suất lạc đáng kể mặc dù đất có hàm lượng lân tổng số rất cao Bón lân cho lạc, năng suất lạc qủa đạt 522÷1337 kg/ha, năng
Trang 39suất lạc nhân (tăng 24%) Bón lân nung chảy tăng 140% Phân chuồng kết hợp super photphat tăng 145% Hiệu suất đạt 6,3 kg quả lạc/ kg P2O5 với liều lượng 90 kg P2O5 /ha
Theo Thái Phiên và Nguyễn Văn Bộ, bón phân lân cho lạc trên đất phù
sa ở Bình Lục (Nam Hà) với lượng bón là 60 kg P2O5, năng suất đạt 18,4 tạ/ha hơn đối chứng 10,2%, hiệu lực đạt 2,8 kg lạc vỏ/1kg P2O5 và trước thu hoạch pH = 5,0; sau thu hoạch pH = 6,0
Một số kết quả nghiên cứu của Viện Nông hóa Thổ nhưỡng trên nhiều vùng đất trồng lạc khác nhau ở phía Bắc cho thấy, với liều lượng bón 60 kg
P2O5 trên nền: 8÷10 tấn phân chuồng + 30 kg K2O + 30 kg N, đạt giá trị kinh
tế cao nhất, trung bình hiệu suất 1 kg lân đạt 4÷6 kg lạc vỏ Nếu bón 90 kg
P2O5 thì tăng năng suất cao nhưng hiệu quả kinh tế không cao, hiệu suất 1 kg
P2O5 là 3,6 - 5 kg lạc vỏ [9]
Bên cạnh các nghiên cứu về lân cho lạc, đã có rất nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của kali đến sinh trưởng và phát triển của lạc được tiến hành Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của kali đến năng suất lạc Xuân trên đất bạc màu cho thấy: bón phân kali cho lạc trong vụ Xuân trên đất bạc màu Bắc Giang đã có tác dụng làm tăng sự sinh trưởng của cây lạc, đồng thời làm tăng sự tích lũy đạm, lân, kali trong thân lá Cũng theo các tác giả này thì trên đất bạc màu, lượng kali bón ở mức 90 kg K2O/ha cho năng suất lạc cao nhất của [21]
Trang 40Bảng 1.4 Hiệu suất của 1 kg P2O5 đối với 1 kg lạc vỏ trên một số loại đất [10]
Nền + 60 kg P2O5 Nền + 90 kg P2O5
1 Đất cát biển Nghệ An
Theo Lương Đức Loan và ctv (1997) bón phân chuồng kết hợp với vôi làm tăng năng suất lạc rất rõ Năng suất lạc trên đất đỏ bazan Tây Nguyên đạt cao nhất ở công thức bón 100 kg vôi và 10 tấn phân chuồng/ha Trên đất bazan Phủ Quỳ bón phân chuồng làm tăng năng suất lạc nhân lên 131% so với không bón Năng suất lạc nhân ở công thức bón lân phối hợp với phân chuồng tăng 146% so với bón lân đơn độc [30]
Là loại cây trồng có các vi sinh vật cố định đạm cộng sinh ở rễ nên việc bón đạm, lân và cân đối đạm - lân cho lạc có ý nghĩa hết sức quan trọng Bón lân cho cây lạc đặc biệt có ý nghĩa trên các loại đất nghèo đạm như đất phù sa không được bồi ở Thừa Thiên Huế và đất phù sa Tuy cây lạc hút nhiều đạm