1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điều tra đánh giá tình hình sử dụng phân bón và đề xuất giải pháp bón phân hợp lý cho lạc trên địa bàn huyện nghi lộc, tỉnh nghệ an

120 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Điều tra đánh giá tình hình sử dụng phân bón và đề xuất giải pháp bón phân hợp lý cho lạc trên địa bàn huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An
Tác giả Nguyễn Đức Thắng
Người hướng dẫn TS. Trần Thị Thu Hà
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Trồng trọt
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, phân bón có một vị trí quan trọng trong việc nâng cao sức sản xuất của đất, cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng, tạo điều kiện thuận lợi cho cây sinh trưởng, phát triển, tăng năng

Trang 1

NGUYỄN ĐỨC THẮNG

ĐIỀU TRA ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH SỬ DỤNG PHÂN BÓN

VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BÓN PHÂN HỢP LÝ CHO LẠC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH: TRỒNG TRỌT

NGHỆ AN - 2012

Trang 2

ĐIỀU TRA ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH SỬ DỤNG PHÂN BÓN

VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BÓN PHÂN HỢP LÝ CHO LẠC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN

Chuyên ngành: Trồng trọt

Mã số: 60.62.01

Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN THỊ THU HÀ

NGHỆ AN - 2012

Trang 3

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu khoa học của tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực, khách quan và chƣa hề đƣợc sử dụng để bảo vệ cho một học vị nào

Tôi xin cam đoan, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã chỉ rõ nguồn gốc

TÁC GIẢ

Nguyễn Đức Thắng

Trang 4

thân và gia đình Qua đây tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới

- Trường Đại học Vinh nơi đã đào tạo tôi

- TS Trần Thị Thu Hà, Nguyên là Giảng viên, Trường Đại học Nông Lâm Huế Người trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài

và hoàn thành cuốn luận văn này

- Các thầy, cô giáo Trường Đại học Vinh thuộc các chuyên ngành liên quan đến ngành học của tôi Đã nhiệt tình, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho hoàn thành khoá học

- Lãnh đạo, cán bộ công chức, viên chức của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Nghệ An, nơi tôi công tác

- Cục Thống kê; Sở Khoa học và Công nghệ; Trung tâm khuyến nông của tỉnh Nghệ An; phòng Nông nghiệp và PTNT, phòng Tài nguyên và Môi trường, UBND huyện Nghi Lộc; Uỷ ban nhân dân các xã và người dân tại các điểm triển khai đề tài

Cảm ơn tới người thân, gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua

Xin chân thành cảm ơn !

Nghệ An, ngày 22 tháng 10 năm 2012

TÁC GIẢ Nguyễn Đức Thắng

Trang 5

trên đồng ruộng 8 Bảng 1.2 Tỷ lệ một số chất dinh dƣỡng trong thân lá lạc và phân chuồng 8

Bảng 1.7 Diện tích, năng suất và sản lƣợng lạc năm 2005 của một số

Bảng 3.4 So sánh cân đối N : P : K giữa các hộ với khuyến cáo trong quy

Bảng 3.5 So sánh cân đối N : P : K giữa các hộ với khuyến cáo trong quy

Bảng 3.6 So sánh cân đối N : P : K giữa các hộ với khuyến cáo trong quy

Bảng 3.7 So sánh tỷ lệ N : P : K giữa các nhóm hộ trên 3 loại đất phù sa,

Bảng 3.8 So sánh năng suất giữa các nhóm hộ và bình quân năng suất

Trang 6

Biểu đồ 1.2 So sánh năng suất lạc của tỉnh Nghệ An với cả nước và các

Biểu đồ 3.3 So sánh bình quân năng suất lạc của huyện Nghi Lộc và tỉnh

Biểu đồ 3.4 Diễn biến năng suất lạc của huyện Nghi Lộc qua các năm từ

Biểu đồ 3.10 So sánh bình quân năng suất lạc của 3 xã điều tra với bình

Biểu đồ 3.12 So sánh hiệu quả sản xuất lạc của các nhóm hộ trên 3 loại

Biểu đồ 3.13 So sánh hiệu quả sản xuất lạc giữa các nhóm hộ trên cùng

Trang 7

MỞ ĐẦU 1

1.1.1.2 Giá trị kinh tế của cây lạc và vai trò của cây lạc trong nền kinh tế

Trang 8

1.1.5 Tình hình nghiên cứu phân bón cho lạc trên thế giới và ở VN 31

Trang 9

3.2 ĐIỀU KIỆN ĐẤT ĐAI VÀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LẠC TẠI

3.2.3.2 Tỷ trọng diện tích sản xuất lạc trong tổng diện tích trồng cây

NĂNG SUẤT LẠC VÀ CẢI THIỆN LỢI NHUẬN TỪ SẢN XUẤT LẠC

3.7.1.1 Chọn bộ giống lạc phù hợp cho từng loại đất và khả năng đầu tƣ

Trang 10

3.7.1.2 Tăng cường công tác cải thiện chất lượng các giống lạc địa

TÀI LIỆU THAM KHẢO Phụ lục 1: PHIẾU ĐIỀU TRA NÔNG HỘ Phụ lục 2: CÁC SỐ LIỆU ĐÃ NHẬP VÀO MÁY VÀ XỬ LÝ Phụ lục 3: BẢN ĐỒ HUYỆN NGHI LỘC

Phụ lục 4: KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC LẠC

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Lạc (Arachis hypogaea L.) là cây công nghiệp ngắn ngày có lịch sử

canh tác lâu đời, là một trong những cây thực phẩm quan trọng của nhiều nước trên thế giới Ở Việt Nam, lạc được trồng ở khắp các tỉnh từ Bắc đến Nam, trên nhiều loại đất, trong những điều kiện sinh thái khác nhau Ở miền Trung, Việt Nam lạc là cây ngắn ngày chiếm một vị trí quan trọng trong cơ cấu giống cây trồng, được gieo trồng trên nhiều loại đất khác nhau do cây trồng này không có yêu cầu cao về độ phì đất và có khả năng thích ứng rộng với nhiều điều kiện sinh thái khác nhau

Sản xuất lạc thường đạt hiệu quả kinh tế cao, đạt tỷ suất lợi nhuận tới 31,86% (cao hơn một số nông sản khác) và kim ngạch xuất khẩu lạc đóng góp 15,11% tổng kim ngạch xuất khẩu của các mặt hàng Thu nhập từ sản xuất lạc đóng góp một phần đáng kể tổng thu nhập từ trồng trọt của nhiều địa phương trong vùng Bên cạnh đó, nhờ có tác dụng cải tạo toàn diện về lý, hóa và sinh tính của đất nên sản xuất lạc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với đất nghèo dinh dưỡng vốn chiếm diện tích lớn ở miền Trung, trong đó có tỉnh Nghệ An

Nghệ An có diện tích trồng lạc khá lớn, tính đến năm 2011, tổng diện tích lạc gần 20.500ha, bình quân năng suất lạc của Nghệ An đạt xấp xỉ bình quân bình quân năng suất lạc của cả nước và vượt 13% bình quân năng suất lạc của các tỉnh Bắc Trung bộ

Huyện Nghi Lộc là một trong những vùng sản xuất lạc chính của tỉnh Nghệ An, lạc được trồng trên các loại đất như: Đất cát, cát pha, thịt nhẹ, phù

sa được bồi và không được bồi Tuy nhiên, diện tích trồng lạc của huyện có

xu hướng giảm xuống trong những năm gần đây, từ 5.915ha (năm 2007) xuống còn 4.065 ha (năm 2011) Bình quân năng suất lạc của huyện Nghi Lộc thường đạt cao hơn so với bình quân chung của tỉnh (22,07tạ/ha so với 20,91tạ/ha năm 2011) Mặc dầu vậy, lợi nhuận từ sản xuất lạc lại chưa đạt cao

Trang 12

như mong muốn của người sản xuất mà nguyên nhân chính xuất phát từ việc đầu

tư một lượng khá lớn các vật tư đầu vào, chủ yếu là phân bón của các hộ trồng lạc

Được biết, sinh trưởng và phát triển của cây trồng luôn có mối quan hệ khăng khít với đất và phân bón trong hệ sinh thái thống nhất Sự mất cân bằng dinh dưỡng trong đất có ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng và phát triển của cây trồng Vì vậy, phân bón có một vị trí quan trọng trong việc nâng cao sức sản xuất của đất, cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng, tạo điều kiện thuận lợi cho cây sinh trưởng, phát triển, tăng năng suất và chất lượng nông sản

Trong xu thế hiện nay, diện tích sản xuất ngày càng bị thu hẹp, để có một nền sản xuất nông nghiệp bền vững, cần phải chuyển từ nền nông nghiệp truyền thống chủ yếu “dựa vào đất” sang một nền nông nghiệp thâm canh

“dựa vào phân bón” Tuy nhiên, không phải cứ đầu tư một lượng lớn phân bón thì có thể đạt được năng suất và lợi nhuận cao mà trong nhiều trường hợp, sử dụng phân bón không hợp lý lại làm giảm năng suất, lợi nhuận và ảnh hưởng bất lợi đến môi trường đất Thực tế chỉ ra rằng, trên địa bàn huyện Nghi Lộc, quy trình bón phân cho lạc của phần lớn các hộ nông dân chỉ mới được thực hiện khá tốt ở khâu xác định thời kỳ và phương pháp bón, liều lượng phân bón đầu tư cho cây lạc trong khi đó phần lớn tuỳ thuộc vào trình

độ thâm canh, khả năng vốn của các nông hộ Nhưng nhìn chung, người sản xuất vẫn có xu hướng ưu tiên cho mục đích đạt năng suất cao hơn là lợi nhuận Do đó, đầu tư phân bón với lượng lớn cho lạc, đặc biệt là các giống lạc lai vẫn là hiện tượng phổ biến trên địa bàn huyện Theo đó, để đạt được năng suất lạc cao, nhiều hộ đã phải đầu tư một lượng vốn khá lớn để mua phân bón các loại, kể cả khi phải đi vay với lãi suất cao (đối với trường hợp các hộ nghèo), lợi nhuận sản xuất vì vậy vẫn đạt thấp Do vậy, nguy cơ suy giảm diện tích sản xuất cây trồng này là hiện hữu kể cả khi điều kiện đất đai địa phương là khá thuận lợi cho cây trồng này sinh trưởng, phát triển và sản xuất lạc là ngành sản xuất cho lợi nhuận khá nhờ có thị trường và giá cả đầu ra ổn định hơn nhiều cây trồng khác

Trang 13

Hiện nay hộ nông dân được xem như là một đơn vị sản xuất tự chủ, đây thực sự đã trở thành động lực kích thích phát triển ngành sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, ngoài mục tiêu đạt năng suất cao thì vấn đề đặt ra là làm thế nào để hỗ trợ người dân thu được lợi nhuận cao trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp nhưng lại không gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái

Giải pháp được đặt ra là phải có các nghiên cứu mang tính hệ thống, làm cơ sở cho việc xây dựng một quy trình sản xuất phù hợp với không chỉ điều kiện đất đai, khí hậu mà còn cả trình độ và khả năng đầu tư của nông hộ, đảm bảo bền vững ở cả 3 khía cạnh: Kinh tế, xã hội và môi trường

Được biết, cho đến nay, chưa có một nghiên cứu nào về thực trạng sử dụng phân bón cho lạc trên địa bàn tỉnh Nghệ An được triển khai thực hiện Lượng phân bón và tỷ lệ bón cho các giống lạc khác nhau là bao nhiêu vẫn là câu hỏi chưa có được câu trả lời cụ thể Quy trình phân bón cho lạc hiện đang được áp dụng là quy trình chung cho các vùng trồng lạc và mục đích chính vẫn đang ưu tiên hướng tới việc đạt năng suất cao nhất chứ chưa thực sự hỗ trợ người sản xuất đạt lợi nhuận cao đồng thời với việc tiết kiệm chi phí đầu vào (phân bón) Như vậy, sự hỗ trợ nông dân trong việc đạt được sự hợp lý trong sử dụng phân bón đối với lạc trong từng hệ thống canh tác là hết sức cần thiết để giúp họ đề ra những biện pháp sử dụng đất hợp lý, có chế độ chăm sóc, đầu tư thích hợp, từ đó có thêm nhiều nguồn thu nhập: Từ năng suất cây trồng được tăng lên, từ tiết kiệm lượng phân bón, từ sự phát triển bền vững của các hệ sinh thái, từ sức khoẻ được bảo đảm, từ môi trường sống không bị ô nhiễm Và đó là một trong những con đường tăng thu nhập, tiến tới làm giàu của người nông dân cần được khai thác tốt

Xuất phát từ thực tế đó, để làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo nhằm mục đích xây dựng một quy trình bón phân cân đối và hợp lý cho cây lạc, góp phần giúp cho các cấp quản lý trong việc đề ra các chính sách phát triển phù hợp với tình hình cụ thể trên cơ sở của điều kiện tự nhiên và kinh tế

Trang 14

xã hội tại một số vùng trồng lạc trong điểm tỉnh Nghệ An, nhằm từng bước tháo gỡ những hạn chế trong sản xuất lạc của vùng, góp phần tăng thu nhập

cho người sản xuất, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: "Điều tra đánh giá

tình hình sử dụng phân bón và đề xuất giải pháp bón phân hợp lý cho lạc trên địa bàn huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An"

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

- Điều tra đánh giá thực trạng sử dụng phân bón cho cây lạc trên địa bàn huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An

- Đề xuất một số giải pháp bón phân hợp lý cho cây lạc ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An

3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài

Góp phần xây dựng cơ sở lý luận cho việc xây dựng quy trình bón phân hợp lý và các nghiên cứu mang tính chuyên sâu trong lĩnh vực liên quan đến sản xuất lạc tại 1 huyện sản xuất lạc trọng điểm nói riêng và những vùng trồng lạc có các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tương đồng

3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

- Làm cơ sở để các cơ quan, các cấp quản lý nhà nước định hướng, đưa

ra các chính sách phát triển cho cây lạc tại vùng nghiên cứu

- Nâng cao nhận thức cho người sản xuất trong việc sử dụng phân bón cân đối, hợp lý cho cây lạc, là cơ sở của việc phát triển nông nghiệp an toàn

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1.1 Vai trò của cây lạc

Lạc được coi là một trong những cây trồng nông nghiệp chủ yếu của nhiều nước Lạc là cây công nghiệp, cây thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao Lạc không chỉ được trồng ở khắp các tỉnh từ Bắc đến Nam trên đất nước ta

mà còn được trồng ở hàng trăm nước trên thế giới Cây lạc được xếp thứ 13 trong các cây thực phẩm của thế giới

Tất cả các bộ phận của cây lạc như: Rễ, thân, lá, quả, hạt đều có tác dụng lớn cho cuộc sống Trong hạt lạc chứa đầy đủ các nguyên tố dinh dưỡng với hàm lượng cao, có khả năng cung cấp cho con người một lượng chất dinh dưỡng lớn (lipit, protein ) có chất lượng tốt Đặc biệt thân lá lạc có tác dụng cải tạo đất rất tốt Chính vì vậy, vai trò của cây lạc được thể hiện ở nhiều mặt:

1.1.1.1 Giá trị dinh dưỡng của cây lạc đối với đời sống con người

Lạc nhân là một thực phẩm có giá trị cao đối với con người cả về mặt

cung cấp năng lượng (calo), cả về mặt cung cấp protein Hạt lạc là bộ phận chính, đã được dùng làm thực phẩm từ khi cây lạc được đưa vào trồng trọt Trong hạt lạc chứa các thành phần như: Protein, dầu (lipid), glucid, một số loại vitamin và khoáng chất như: Vitamin nhóm B (trừ B12), vitamin PP (acid nicotinic), vitamin F, các nguyên tố khoáng gồm 27 nguyên tố đa lượng, trung lượng, vi lượng và siêu vi lượng cần thiết cho người và động vật

Trang 16

1.1.1.2 Giá trị kinh tế của cây lạc và vai trò của cây lạc trong nền kinh tế quốc dân

Bên cạnh giá trị về dinh dưỡng, lạc cũng là cây trồng có giá trị kinh tế cao về nhiều mặt bởi vì nó là cây họ đậu ngắn ngày có năng suất cao, các chất dinh dưỡng trong hạt khá đầy đủ, các nguyên tố dinh dưỡng có hàm lượng cao

Tác giả Phan Đình Ngân cho biết: Nếu so sánh 4 loại cây trồng trong

vụ Đông Xuân, về giá trị sản lượng trên 1 ha thì cây lúa đạt cao nhất, tiếp đến

là cây lạc, thứ ba là đậu tương, thứ tư là cây ngô Tuy nhiên nếu tính lợi nhuận trên đồng chi phí và ngày công thì cây lạc đạt cao nhất [26]

Ở nước ta, phần lớn sản lượng lạc sản xuất ra hàng năm được xuất khẩu, có năm đã xuất khẩu đến 70% sản lượng Mấy năm gần đây, chúng ta

đã xuất 70 - 80 ngàn tấn lạc nhân qua các nước như: Pháp, Ý, Đức cho nên lạc đối với chúng ta cũng là cây đem lại nguồn thu ngoại tệ quan trọng [31]

Bên cạnh đó, cây lạc còn dùng làm cây luân canh, xen canh gối vụ với các loại cây trồng khác đem lại hiệu quả kinh tế cao trên một diện tích cũng như việc chống xói mòn, phủ xanh đất trống đồi trọc Vì vậy, cây lạc có ý nghĩa rất lớn trong hệ thống nông nghiệp

Trên thị trường thương mại thế giới, lạc là mặt hàng nông sản xuất khẩu đem lại kim ngạch cao của nhiều nước Chính vì vậy, tình hình xuất khẩu lạc trên thế giới không ngừng tăng lên Ở thập niên 70 và 80 khối lượng xuất khẩu lạc chỉ đạt từ 1,11 - 1,16 triệu tấn/năm, đến năm 1997 - 1998 tăng lên 1,39 triệu tấn và đạt mức cao nhất là 1,58 triệu tấn năm 2001 - 2002 Trong đó, Châu Mỹ và Châu Á là hai châu lục xuất khẩu lạc số lượng lớn

nhất, chiếm trên 70% lượng lạc xuất khẩu của thế giới

Trang 17

Ở nước ta, sản lượng lạc sản xuất ra hàng năm phần lớn dành cho việc

xuất khẩu, có năm đã xuất đến 70% sản lượng Mấy năm gần đây chúng ta đã xuất khẩu 70 - 80 ngàn tấn lạc nhân qua các nước như: Pháp, Ý, Đức, v.v cho nên lạc đối với chúng ta cũng là cây đem lại nguồn thu ngoại tệ quan trọng

1.1.1.3 Ý nghĩa cải tạo đất của cây lạc

Lạc là cây họ đậu, bộ rễ của nó mang rất nhiều nốt sần có tác dụng làm giàu nguồn đạm cho đất, cho nên lạc là một trong những loại cây trồng rất lý tưởng cho công tác cải tạo, bồi dưỡng đất, có vị trí quan trọng trong chế độ luân canh với nhiều loại cây trồng khác cũng như việc chống xói mòn, phủ xanh đất trống đồi trọc [31]

Khác với nhiều loại cây trồng, sự cộng sinh cố định nitơ khí quyển là một đặc thù riêng của cây họ đậu Sự cộng sinh này chỉ có thể xảy ra khi có mặt vi khuẩn nốt sần và cây họ đậu.Vì vậy mà cây họ đậu nói chung và cây lạc nói riêng được xem là một trong những loại cây trồng có khả năng cải tạo đất tốt nhất Trong hệ thống cố định Nitơ sinh học, cố định Nitơ cộng sinh giữa vi khuẩn Rhizobium và cây họ đậu là quan trọng nhất, ước tính đạt 80 triệu tấn mỗi năm, tương đương với lượng phân đạm vô cơ trên toàn thế giới sản xuất năm 1990 [10] Cùng với các cây họ đậu khác, rễ lạc tạo ra nốt sần

do vi sinh vật cộng sinh cố định đạm Rhizobium vigna hình thành, vi khuẩn Rhizobium vigna có khả năng cố định Nitơ trong khí quyển tổng hợp thành đạm cung cấp cho cây trồng

Theo ước tính của tổ chức FAO thì khả năng cố định Nitơ của vi khuẩn nốt sần ở cây lạc cùng một số cây họ đậu khác trên đồng ruộng rất khác nhau

và được thể hiện ở Bảng 2.1

Trang 18

Bảng 1.1 Khả năng cố định Nitơ của cây lạc

và một số cây họ đậu chính trên đồng ruộng

(Nguồn: [10]) Theo nhiều tác giả, lượng đạm cố định của lạc có thể đạt từ 70 - 110kg N/ha/vụ [8], cho nên sau khi trồng lạc, thành phần hoá tính của đất sẽ thay đổi theo hướng có lợi cho cây trồng, lượng đạm và hệ vi sinh vật háo khí tăng lên nhiều Ngoài các giá trị trên, lạc còn là nguồn phân hữu cơ tốt, thân, lá lạc dễ phân huỷ cung cấp nhanh chất dinh dưỡng dễ tiêu cho cây trồng

Bảng 1.2 Tỷ lệ một số chất dinh dưỡng trong thân lá lạc và phân chuồng

số sử dụng đất, tăng hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích

Trang 19

Thân lá của cây lạc sau khi thu hoạch có thể dùng làm thức ăn cho trâu

bò hoặc làm phân bón bằng cách ủ mục với các loại phân khác hoặc cày vùi luôn tại ruộng

Lạc là cây ngắn ngày nên có thể sử dụng chế độ luân canh, xen canh với cây trồng khác Các cây trồng luân canh phổ biến ở vùng sản xuất lạc là: Lạc nước, ngô, đậu tương, đậu xanh, bông, mía luân canh với lạc nước có

ưu điểm: Cắt đứt nguồn sâu bệnh lây lan từ cây trồng cạn với cây trồng nước hay ngược lại và làm phong phú thêm hệ vi sinh vật hoạt động trong đất

Lạc có thể trồng xen giữa các cây hàng rộng, đối với các cây trồng vùng đồi (như chè, sắn) dễ bị xói mòn, có thể dùng các giống lạc dụng bụi thân lá sinh trưởng mạnh, với kỹ thuật canh tác và thời vụ thích hợp để vừa làm cây phủ đất chống xói mòn vừa lấy thân lá làm phân xanh tại chỗ cho các

cây vùng đồi

1.1.2 Nhu cầu dinh dưỡng của cây lạc

Lạc cũng như các loại cây trồng khác, để sinh trưởng, phát triển bình

thường, tạo ra năng suất cần một số chất dinh dưỡng nhất định

Cây lạc có nhu cầu đạm nhiều nhất, sau đó tới kali, lân, canxi và các trung vi lượng Theo kết quả nghiên cứu tại Mỹ, với năng suất 3 tấn/ha, lạc

Một số kết quả nghiên cứu cho thấy: Một vụ lạc có năng suất quả 1.500kg/ha cần những số lượng dinh dưỡng (kg/ha) như sau: đạm (N): 105,

Ở Trung Quốc, để đạt năng suất lạc quả 3 tấn/ha, cây lạc cần được bón 2,5

Trang 20

Theo Duan Shufen [45], để thu được 100kg lạc quả cần bón 5kg N, 2kg

cao cần phải giảm đi 50% trong khi đó lượng lân cần bón gấp 2 lần

Khi nghiên cứu về chế độ dinh dưỡng của cây lạc, các nhà khoa học thuộc Viện nghiên cứu dầu Nam Xenegan cho thấy, để có năng suất 1.000kg/ha thì cây lạc đã lấy đi từ đất một lượng nguyên tố khoáng như sau:

Mg Như vậy, cây lạc cần tích luỹ đạm với lượng lớn nhất sau đó đến kali

Bảng 1.3 Lượng dinh dưỡng cây lạc hút để tạo 1 tấn củ

(Nguồn: [5]) Bảng 1.4 Động thái hút các chất dinh dưỡng của cây lạc

Giai đoạn sinh trưởng

Tỷ lệ dinh dưỡng cây hút so với tổng lượng hút (%)

1.1.2.1 Nhu cầu đạm của cây lạc

Cây lạc chứa một lượng N khá lớn trong lá và trong hạt Đạm (N) là yếu tố dinh dưỡng có tác dụng rất lớn đối với sự sinh trưởng và phát triển thân, lá, cành, số củ, số hạt và trọng lượng hạt trong củ của cây lạc nên có ảnh hưởng lớn đến năng suất của cây lạc Đạm còn có ảnh hưởng quan trọng tới

Trang 21

hàm lượng Protein trong hạt của cây lạc Đặc biệt N còn cần thiết cho vi sinh vật cố định đạm phát triển, tạo nhiều nốt sần hữu hiệu và khả năng cố định đạm - tự đảm bảo phần khá lớn đạm (50 - 70% tổng nhu cầu)

Cây lạc có thể lấy đạm từ nhiều nguồn: Nguồn đạm từ khí trời thông qua vi khuẩn cố định đạm; nguồn đạm có sẵn trong đất; nguồn đạm từ phân hữu cơ và vô cơ Do đất trồng lạc hầu hết là đất có thành phần cơ giới nhẹ nên chất dinh dưỡng dễ bị rửa trôi và nhu cầu về đạm của mỗi giống lạc cũng khác nhau cho nên việc bón đạm cũng phải rất thận trọng Nếu bón đạm quá ngưỡng dễ gây nên hiện tượng mất cân đối giữa sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực làm ảnh hưởng đến quá trình tích luỹ sản phẩm đồng hoá về quả và hạt

Nhu cầu đạm của lạc cao hơn nhiều so với các loại cây ngũ cốc vì hàm lượng protein trong hạt (23 - 25%) cao hơn 1,5 lần ở ngũ cốc Tuy lạc có nhu cầu cao về đạm song nhờ hệ thống nốt sần ở bộ rễ cung cấp một lượng đạm đáng kể Do đó, đòi hỏi về bón phân đạm giảm đi Lượng đạm sinh học được

cố định, so với tổng yêu cầu về đạm chưa tính được cụ thể nhưng đã có những chỉ dẫn cho thấy trong những điều kiện tối ưu cây lạc có thể cố định được 200- 260kg N/ha, góp phần giảm đi hay loại bỏ hẳn nhu cầu bón phân N

Đồng thời, mỗi giống lạc khác nhau thì nhu cầu về đạm cũng khác nhau Kết quả nghiên cứu của một số tác giả chỉ ra rằng: Đối với các giống lạc như: V79, 1660, LVT, L12, MD7, L08 có dạng hình cao cây thì lượng đạm bón phù hợp ở mức 30kg N/ha Đối với các giống có dạng hình thâm canh (L14, MD9, L15), thân cứng, chiều cao cây vừa phải, lượng đạm thích hợp ở mức 45kg N/ha Thời kỳ cây lạc hút N nhiều nhất là thời kỳ cây ra hoa

- làm hạt Thời kỳ này chỉ chiếm 25% thời gian sinh trưởng của lạc nhưng hấp thu tới 40 - 45% tổng nhu cầu N của cây

Trang 22

1.1.2.2 Nhu cầu về lân của cây lạc

Mặc dù cây lạc hút lân trong suốt quá trình sinh trưởng nhưng nhu cầu

về lân của lạc đạt cao ở giai đoạn từ ra hoa đến hình thành hạt Trong giai đoạn này cây lạc hút tới 45% tổng nhu cầu lân của cây Sự hút lân giảm rõ rệt

ở thời kỳ chín.Thời kỳ cây con hàm lượng lân trong cây không cao nhưng rất

cần thiết để vi sinh vật cộng sinh phát triển hình thành nốt sần Do vậy lân cần

được bón sớm

nhiều, do đó lân cung cấp cho cây trong phân bón cần thiết phải ở dạng hoà tan và cây lạc rất mẫn cảm với các dạng lân Các dạng supe fotfat, dicanxi

hợp nhất để bón cho lạc là 30kg/ha, nhưng ít nhất là 3/4 số phân này phải ở

dạng hoà tan

Cây lạc có phản ứng mạnh với lân ở các loại đất bị xói mòn mạnh, kiệt

được trồng trên các loại đất kiệt màu, nên bón lân ở hầu hết các nơi đều có hiệu quả Thông thường đạm tăng cường hiệu quả của lân (tương tác đạm - lân), người ta cũng nhận thấy có tương tác thuận giữa lưu huỳnh và lân

Chu Thị Thơm và cs [32] đã nghiên cứu và rút ra kết luận: Trên loại đất

Một số kết quả nghiên cứu của Viện Thổ nhưỡng Nông hoá trên nhiều vùng đất trồng lạc khác nhau ở các tỉnh phía Bắc cho thấy, với nền phân chuồng

Trang 23

Nghiên cứu về hiệu lực của phân lân đối với lạc trên đất xám bạc màu vùng Đông Nam bộ cũng cho kết quả tương tự Trên nền đất xám bạc màu,

sần tăng 22 - 34%, khối lượng hạt tăng 3 - 6%, năng suất tăng 10 - 23% so với

1.1.2.3 Nhu cầu kali của cây lạc

Cây lạc hút kali tương đối sớm, có tới 60% nhu cầu kali của cây được hấp thụ trong thời kỳ ra hoa - làm hạt Thời kỳ chín, nhu cầu kali của cây lạc hầu như không đáng kể (chỉ chiếm 5 - 7% tổng nhu cầu kali)

Hàm lượng kali trong lá cao nhất ở thời kỳ ngay trước ra hoa sau đó giảm đi ở thời kỳ hình thành củ Vì vậy, cần bón kali sớm và kết thúc trước

khi cây ra hoa

Lượng chứa kali trong cây có thể thay đổi nhiều: Cây phải hút nhiều kali nếu sống trong môi trường giàu kali Ở nơi có lượng lân cao, cây có thể

có triệu chứng thiếu kali Thiếu kali xuất hiện nhiều trên quả một hạt

Theo nghiên cứu của Chu Thị Thơm và cs [32] thì sự hút kali rất nhanh trong tuần sinh trưởng thứ 6 và thứ 8, sau đó giảm xuống cho tới khi thu hoạch Những cây lạc mang nhiều quả có nồng độ kali trong lá cao hơn so với những cây mà trong quá trình tạo quả kali bị ngừng trệ

Trên các đất trồng lạc, cây lạc phản ứng với kali không phổ biến như đối với lân Các nhà nghiên cứu cho rằng tác dụng của kali phụ thuộc vào mức độ canxi cao và thông thường canxi có vai trò của yếu tố hạn chế Sự mâu thuẫn giữa kali và canxi là do lạc nhạy cảm với chất tồn tại hơn là bón phân trực tiếp Hiện tượng thiếu kali sau khi trồng cây liên tục làm kiệt màu

Trang 24

hoặc để đất trồng bị rửa trôi mạnh, hoặc khi độc canh Ngoài ra, còn thấy lạc phản ứng với kali khi bón lượng phân lân cao và những vùng có mức độ dinh dưỡng lân cao hoặc thừa lân Trong trường hợp thừa lân bón kali clorua có thể làm cho lượng chứa lân trong cây giảm xuống tới mức gần thích hợp nhất

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Dần [21]: Việc bón kali cho đất bạc

lạc vỏ và trên đất bạc màu là 8 - 10kg lạc vỏ

đã làm tăng năng suất giống lạc Lỳ từ 19 - 31% so với không bón

1.1.3 Vai trò của các nguyên tố dinh dưỡng đa lượng đối với cây lạc

1.1.3.1 Vai trò của đạm

Đạm là yếu tố hàng đầu đối với các cơ thể sống vì nó là thành phần cơ bản của Prôtêin - chất cơ bản biểu hiện sự sống Đạm nằm trong nhiều hợp chất cơ bản cần thiết cho sự phát triển của cây như diệp lục và các chất men, các bazơ nitơ, thành phần cơ bản của axit nuclêic, trong đó các ADN, ARN của nhân tế bào, nơi khu trú của các thông tin di truyền đóng vai trò quan trọng trong việc tổng hợp prôtêin Do vậy, đạm là yếu tố cơ bản của quá trình đồng hóa cacbon, kích thích sự phát triển của bộ rễ và việc hút các yếu tố dinh dưỡng khác [22]

Để có năng suất 2.120kg quả/ha thì cây lạc cần được cung cấp 167kg

N, để đạt năng suất 1.500kg/ha cây lạc đã lấy đi 78,6kg N từ đất Cây lạc cần nhiều đạm hơn so với cây ngũ cốc vì hàm lượng protein trong hạt và trong thân lá cao Tuy nhiên, nhờ sự có mặt của vi khuẩn cộng sinh trong rễ lạc đã cung cấp lượng dinh dưỡng đạm lớn hơn lượng đạm ta bón nên nhu cầu bón

Trang 25

đạm cho cây lạc được giảm đi nhiều Nitơ là thành phần của axit amin chủ yếu tạo ra protein và nitơ còn có mặt trong cấu trúc diệp lục Vì vậy, thiếu đạm cây sinh trưởng phát triển kém, lá vàng, thân nâu đỏ, nếu thiếu nghiêm trọng cây chết sau hai tháng trồng [27]

Cây lạc non cần đạm để sinh trưởng tốt, phân cành sớm Khi ra hoa đầu tiên lạc cần đến 70% tổng lượng đạm Nhu cầu đạm của cây lạc có sự khác nhau trong từng giai đoạn sinh trưởng phát triển của nó Nó có thể tự thỏa mãn một phần nhu cầu đạm của mình nhờ hoạt động của vi sinh vật cố định đạm sống cộng sinh ở rễ nhưng phải sau 3 tuần thì lạc mới phát triển đủ

rễ và sau khi nở hoa thì nốt sần mới phát triển mạnh Vì vậy, bón đạm cho lạc

ở thời kỳ đầu là rất cần thiết để xúc tiến việc hình thành nốt sần và phân hoá mầm hoa Tuy nhiên, nếu bón quá nhiều đạm thì sẽ ức chế sự hình thành và hoạt động của vi khuẩn nốt sần làm cho cây vống lốp, số cành hữu hiệu giảm [4]

Mặc dầu có nhu cầu đạm cao nhưng trong thực tế lượng đạm bón cho lạc bao giờ cũng thấp hơn lân và kali Bón nhiều đạm cho lạc sẽ làm cho sinh khối phát triển mạnh [6], [18], thời gian sinh trưởng bị kéo dài, ngăn cản sự hình thành nốt sần ở rễ và khả năng cố định đạm của vi sinh vật nốt sần do sản phẩm quang hợp chuyển hoá nhanh thành protit, làm giảm việc cung cấp hydratcacbon cho các vi sinh vật này [27], [36]

Lượng đạm cần bón cho lạc chỉ khoảng 20 - 30kg N/ha vào lúc gieo và thời kỳ 3 - 5 lá Nếu bón nhiều quá lạc chỉ tốt lá mà ít hoặc không có quả (củ) Kết quả nghiên cứu của viện nông hoá thổ nhưỡng chỉ ra rằng trên đất nhẹ chỉ nên bón khoảng 30kg N/ha là thích hợp, nếu tăng lên đến 40kg N/ha thì sẽ làm giảm năng suất Hiệu suất của 1kg N trên đất cát ven biển và bạc màu là

từ 6 - 10kg lạc vỏ [31]

Trang 26

1.1.3.2 Vai trò của lân

Lân là thành phần của axít nucleic, photphatit, protein, lipit, coenzim, NAD, NADN, ATP và nhiễm sắc thể Lân cần thiết cho sự phân chia tế bào,

mô phân sinh, kích thích sự phát triển của rễ, sự ra hoa, sự phát triển của hạt

và quả [24]; [33] Ngoài việc xúc tiến rễ phát triển, lân còn là thức ăn chính của vi khuẩn có tác dụng đẩy mạnh sự hình thành và nâng cao hoạt tính của nốt sần, làm tăng cường khả năng hút, giữ đạm khí trời, thúc đẩy lạc tăng số cành hữu hiệu, hoa nở sớm và tập trung, nâng cao tỷ lệ đậu quả và quả chắc, màu sắc đẹp, giảm tỷ lệ nước trong quả Quan trọng hơn là xúc tiến quá trình hình thành chất béo, dầu và chất đạm, làm tăng tỷ lệ dầu trong hạt, quả chóng già chín Đặc biệt, khi bón lân sẽ tăng cường hiệu lực hút phân đạm nên tiết kiệm được một lượng phân đạm đáng kể

Sự hình thành và phát triển của nốt sần ở rễ lạc và quá trình cố định đạm chịu ảnh hưởng rất lớn của lượng lân trong đất trồng lạc cũng như lượng lân được bón bổ sung từ các loại phân bón Kết quả nghiên cứu của Trần Thị Thu Hà [17] thì mối liên quan chặt chẽ giữa nguyên tố lân và quá trình cố định đạm ở cây họ đậu được thể hiện như sau:

+ Nốt sần bắt đầu hình thành khi lông hút của rễ bị lây nhiễm bởi vi khuẩn Rhizobium và ở giai đoạn này, việc thiếu hụt lân làm cho rễ kém phát triển sẽ ngăn cản sự hình thành nốt sần và giảm cường độ quá trình cố định đạm cũng như sự thu hút nước và dinh dưỡng của cây

+ Quá trình cố định đạm đòi hỏi nguồn năng lượng lớn cho sinh trưởng

chủ yếu cũng được cung cấp từ lân ở dạng ATP

+ Lân có vai trò tích cực trong việc vận chuyển các sản phẩm của quá trình quang hợp từ lá về rễ và sự di chuyển của các hợp chất có đạm trong nốt sần về các bộ phận khác của cây và làm tăng hàm lượng đạm trong thân lá

Trang 27

Thiếu lân có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành nốt sần, khả năng tích luỹ chất khô và năng suất lạc Bón lân có tác dụng kích thích sự phát triển của bộ

rễ vì vậy ở cây họ đậu nói chung và cây lạc nói riêng được bón đầy đủ lân thường hình thành một số lượng lớn nốt sần hữu hiệu ở rễ, nốt sần thường lớn và

có màu hồng [4] và vì vậy làm tăng khả năng tích luỹ đạm của cây [1], [36]

Đặc biệt, lân có vai trò quan trọng trong quá trình quang hợp và hô hấp, tăng cường khả năng đồng hoá đạm Trong quá trình trao đổi chất, lân giữ vai trò trung tâm vì nó tham gia trong việc xây dựng nên ADP, ATP là những hợp chất giàu năng lượng sinh học ATP được hình thành trong quá trình quang hợp và hô hấp đã được sử dụng cho nhiều quá trình sinh lý quan trọng khác như: Hút nước và hút khoáng, trao đổi và vận chuyển các chất trong cây, đặc biệt

là trong quá trình sinh tổng hợp protein và các chất có hoạt tính sinh lý cao

Lân là một yếu tố quan trọng trong quá trình trao đổi năng lượng, nên lân

có tác dụng làm tăng tính chịu lạnh, chống nóng và chống hạn, làm cho cây chín sớm hơn, bởi vậy người ta thường gọi lân là "chất của năng lượng" [24]

Mặc dù lân là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng cho cây trồng được xếp thứ 2 sau đạm, nhưng hiện nay trên một số loại đất lân lại là yếu tố hạn chế năng suất hàng đầu, nó vừa chi phối hiệu lực của đạm và các nguyên tố dinh dưỡng khác, đồng thời có ảnh hưởng sâu sắc tới độ phì nhiêu thực tế của đất Khắc phục yếu tố hạn chế này chính là vấn đề có tính chất chiến lược trong thâm canh để tăng năng suất cây trồng

Nguyễn Quỳnh Anh [1] nhận xét: Khi thiếu nguyên tố lân, cây con cằn cỗi, thời gian sinh trưởng chậm, lá non vàng nhạt, thể hiện dấu hiệu khô héo nhanh ảnh hưởng xấu tới sự phát triển của nốt sần, hoa rụng nhiều quả ít, kém chắc, năng suất và phẩm chất lạc đều giảm

Trang 28

1.1.3.3 Vai trò của kali

Đối với cây trồng, kali là một trong 3 nguyên tố khoáng thiết yếu nhất Vai trò quan trọng nhất của kali được thể hiện ở khả năng hoạt hoá các enzim trong hợp chất ATP đóng vai trò cung cấp năng lượng cho rất nhiều quá trình sinh lý sinh hoá xảy ra trong cây [21]

Kali có tác dụng hoạt hóa các enzim liên quan đến quá trình quang hợp, chuyển hóa các gluxit và protein cũng như di chuyển và duy trì sự ổn định của chúng Kali giúp điều khiển quá trình sử dụng nước qua sự đóng mở khí

sáng khi thời tiết âm u nên tăng hiệu suất quang hợp Kali ảnh hưởng đến quá trình hình thành màng tế bào nên tăng khả năng chống đổ, tăng khả năng chống bệnh của cây trồng Kali có tác dụng tăng phẩm chất nông sản và tăng kích thước hạt [15], [37]

Kali tập trung nhiều trong bộ phận non của cây Hàm lượng kali tối đa trong phần lớn thực vật thường thấy vào thời kỳ trước ra hoa Điều này chứng

trong cây ở mức 2,15% làm cho cây lạc ra hoa kết quả tối đa [24]

Khác với lân, kali không tham gia trực tiếp vào quá trình hình thành nốt sần Tuy nhiên, ảnh hưởng của kali đến chỉ tiêu này có thể thông qua việc tích luỹ và vận chuyển lân trong cây Kali đảm nhận vận chuyển các hydratcacbon vào rễ cây họ đậu, nơi hình thành và phát triển các nốt sần, vì vậy tạo điều kiện để nốt sần có thể hình thành nhiều hơn [25] Theo nghiên cứu của Trần Văn Lài và một số tác giả đã chỉ ra rằng: Sự vận chuyển photpho và một số nguyên tố khác trong các xylem trong cây bị giảm sút khi cây không được cung cấp đầy đủ kali Bón đầy đủ kali góp phần đảm bảo cân bằng lân trong cây, tạo điều kiện để hệ rễ phát triển mạnh và tăng nhanh số lượng nốt sần

Trang 29

xâm nhập [24] Điều đáng chú ý là cây lạc hút lân dễ hơn các loại cây khác, nhưng lại hút kali kém hơn, chính vì vậy bón kali cho cây lạc là rất cần thiết Tuy nhiên, các yếu tố dinh dưỡng trong đất lại có tác dụng qua lại một cách chặt chẽ Vì vậy, bón phân tất yếu phải nói đến sự tương hỗ giữa các nguyên

tố chủ yếu cần thiết đối với cây trồng Đó là cơ sở khoa học cho sự phối hợp cân đối giữa các loại phân bón trong quá trình sản xuất [22]

Cây lạc trong thời kỳ phát triển hút một lượng kali rất lớn Tác dụng của kali đối với lạc thể hiện ở khả năng xúc tiến sự phân cành, tăng chiều cao cây, tăng nhiều hoa, làm hoa nở đều, tăng tỷ lệ hoa hữu hiệu, tăng trọng lượng quả hạt, quả chắc và to, chín đều và ít thối, trắng vỏ Nó còn tác dụng tăng sức đề kháng của cây, giúp cây chống một số sâu bệnh Kali tác động đều đến toàn bộ thời gian sinh trưởng của cây và cuối cùng là đến năng suất của lạc [4], [23]

Thông thường, ảnh hưởng của kali đến một số chỉ tiêu sinh trưởng của cây lạc không phải là ảnh hưởng trực tiếp mà thông qua một số quá trình sinh

lý xảy ra trong cây như quá trình quang hợp Theo Amstrong (1998) [42], thì

sự trao đổi electron trong quá trình sản xuất ATP trong cây chỉ cân bằng với

và vì vậy có ảnh hưởng tiêu cực đến tất cả các quá trình xảy ra trong cây Bón đầy đủ kali có tác dụng thúc đẩy quá trình quang hợp và hình thành các cơ quan sinh trưởng Mặt khác, một vai trò nổi bật của kali và khác hẳn đạm và lân, đó là vai trò hoạt hoá hơn 60 enzim trong cây Kali làm thay đổi trạng thái lý học của phân tử enzim, trung hoà các anion hữu cơ và các hợp chất khác trong cây, giữ cho pH luôn ở mức ổn định từ 7 - 8, là khoảng thích hợp cho rất nhiều phản ứng có enzim xúc tác [42], [24]

Thiếu hụt kali trong cây sẽ làm cho quá trình tổng hợp protein bị ngừng trệ, đạm trong cây sẽ được tích luỹ dưới dạng đạm nitrat và aminoaxit, là môi

Trang 30

trường rất thuận lợi cho sâu bệnh xâm nhập [24], [33], [42] Thiếu kali, trên rìa lá thường xuất hiện những đốm vàng, sau đó lan ra rìa lá và làm cho quá trình sinh trưởng của cây bị ngưng trệ [27] Tuy nhiên, nếu bón quá nhiều kali cho lạc sẽ ức chế việc hút can xi của tia và củ, kết quả là năng suất và phẩm cấp hạt sẽ giảm [36]

1.1.3.4 Vai trò của canxi

Canxi là chất giải độc của cây trồng thông qua việc trung hòa các axít hữu cơ, có tác dụng hoạt hóa các enzim, đặc biệt là ATP [37]

Đối với lạc, trước hết canxi là thức ăn cần thiết Ngoài ra, canxi còn giảm độ chua, tạo môi trường thuận lợi cho vi khuẩn nốt sần hoạt động cố định đạm nhiều hơn, canxi ngăn ngừa việc tích lũy các chất độc hại và điều chỉnh bốc hơi nước, làm tăng sức chịu hạn cho lạc

Lạc rất mẫn cảm với can xi và có yêu cầu cao với can xi, nhất là thời kỳ kết quả Canxi làm cho rễ phát triển, tia dài và cứng thuận lợi cho việc hình thành quả

Bộ rễ, tia và quả còn non trực tiếp hút được canxi Bón canxi phối hợp với kali thì sẽ kiện toàn cấu tạo bộ máy của tia, tăng tỷ lệ đậu quả, giảm quả

ép, tăng số quả 2 hạt, hạt tròn đẹp, quả ít eo Canxi là yếu tố quan trọng nhất

để sản xuất lạc quả to Ngoài ra canxi còn có tác dụng phòng chống sâu bệnh: Giảm kiến mối làm hại mầm

Thiếu canxi từ gốc đến ngọn cây lạc bị chuyển màu, lá chuyển màu có đốm trắng, lá già hơi vàng chết dần, thiếu nặng thì cây vàng úa, cuống lá dễ gãy, ngọn héo Ngoài ra khi thiếu canxi hoa rụng nhiều, ít đậu quả, quả ốp lép, vỏ quả giòn, kích thước hạt nhỏ [4]

Trang 31

Theo Duan Shufen [45] để thu được 100kg lạc quả cần bón 5kg N, 2kg

cao cần phải giảm đi 50% trong khi đó lượng lân cần bón gấp 2 lần

1.1.4 Khái niệm về bón phân cân đối và vai trò của bón phân cân đối trong sản xuất lạc

1.1.4.1 Khái niệm về bón phân cân đối

Bón phân cân đối được hiểu là cung cấp cho cây trồng đúng các chất dinh dưỡng thiết yếu, đủ liều lượng, tỷ lệ thích hợp, thời gian bón hợp ý cho từng đối tượng cây trồng, đất, mùa vụ cụ thể đảm bảo năng suất cao, chất lượng nông sản tốt và an toàn môi trường sinh thái

Theo các tác giả Nguyễn Văn Bộ [6], Bùi Đình Dinh [13]: Khái niệm bón phân cân đối là một khái niệm cụ thể và luôn biến động Đó là cân đối về nhu cầu và lượng hút của cây trồng, cân đối giữa các chất dinh dưỡng tại các thời kỳ sinh trưởng khác nhau, cân đối giữa các điều kiện tự nhiên liên quan đến hiệu lực phân bón như: Nước, ánh sáng cũng như cân đối trong mối quan hệ với từng loại cây trồng trong một hệ thống luân canh Do vậy, để có công thức khuyến cáo phân bón ngày càng gắn với điều kiện cụ thể thì một hệ thống nghiên cứu phân bón theo vùng sinh thái cần được thiết lập ổn định

Phân bón là một trong những yếu tố có ảnh hưởng quyết định đến sinh trưởng và phát triển cũng như khả năng hình thành năng suất của tất cả các cây trồng nông nghiệp [49] Tuy nhiên, tác dụng tích cực của phân bón đến năng suất và phẩm chất của cây trồng cũng như môi trường đất và nước chỉ thể hiện khi được sử dụng một cách cân đối và hợp lý [51]

Trang 32

Theo tổng kết của tổ chức nông nghiệp thế giới (FAO), có 10 nguyên nhân chính làm giảm hiệu lực phân bón, trong đó bón phân cân đối giữ vai trò quan trọng nhất

Bón phân cân đối không có nghĩa là cung cấp cho cây trồng các nguyên

tố dinh dưỡng bằng nhau về khối lượng Mỗi chất dinh dưỡng có những tác dụng riêng biệt nhất định trong đời sống cây trồng, chúng ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của cây, quang hợp, mức năng suất và chất lượng nông sản Khi nồng độ một chất dinh dưỡng trong mô cây hạ dưới mức tối thiểu sinh l‎ý cần thiết, các triệu chứng thiếu dinh dưỡng bắt đầu xuất hiện trong các bộ phận đặc trưng của cây Đây là những chỉ thị hữu ích giúp tìm biện pháp khắc phục [37]

Bảng 1.5 Nguyên nhân làm giảm hiệu lực phân bón

Mật độ gieo cấy không thích hợp

Vị trí và cách bón phân không thích hợp Chế độ nước không thích hợp

Trừ cỏ dại không kịp thời Phòng trừ sâu bệnh không tốt Bón phân không cân đối

Chính vì vậy, để có cơ sở cho việc bón phân cân đối cần thiết phải biết được khả năng cung cấp dinh dưỡng của mỗi loại đất, nhu cầu dinh dưỡng của

Trang 33

mỗi loại cây trồng và sự phụ thuộc của mỗi yếu tố vào từng điều kiện thời tiết cũng nhƣ chế độ canh tác cụ thể Cuối cùng, phân bón cân đối đáp ứng đƣợc tối thiểu 3 yêu cầu: Bón đúng về các yếu tố dinh dƣỡng cây trồng cần, bón đủ

về lƣợng và bón phù hợp về tỷ lệ các nguyên tố đó

Bón phân cân đối là bón phân đảm bảo cân đối tỷ lệ giữa hữu cơ và vô

cơ, cân đối giữa các nguyên tố đa lƣợng N : P : K, cân đối giữa các nguyên tố

đa lƣợng, trung lƣợng và vi lƣợng

Bón phân cân đối cho cây trồng thể hiện ở các khía cạnh sau đây:

Bón cân đối đạm - lân

Ngoài việc sử dụng giống mới, tăng vụ, sử dụng phân đạm với liều lƣợng ngày càng cao chính là nguyên nhân làm tăng hiệu lực phân lân Tác giả Bùi Đình Dinh [13] cho biết: Bón lân cân đối với đạm trên từng loại đất không những tăng hiệu quả của phânlân mà còn cải thiện hiệu quả của phân đạm, giảm đƣợc tiêu tốn chi phí cho một đơn vị sản phẩm khoảng 20 - 30% Khi bón kết hợp N và P, năng suất lạc quả tăng 16,89 - 24,46% so với chỉ bón đạm Nếu bón kết hợp giữa N, P, K thì sẽ làm tăng khả năng hấp thu của N từ 2,0 - 6,1%, lân từ 1,6 - 6,1%, nhờ đó mà tăng khả năng cố định của nốt sần lên từ 13,5 - 23% Hiện tƣợng mất đạm giảm 2,3 - 16,4%, mất lân giảm 2,8 - 4,3%, tồn

dƣ đạm trong đất tăng 2,7 - 7,2% và lân tăng 2,6 - 4,0% [45] Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy, bón phân cân đối cho lạc thì dù trên loại đất nào cũng đều làm tăng năng suất đáng kể Trên đất cát biển, bón cân đối đạm, lân (30kgN, 60 -

Bón cân đối đạm - kali

Cân đối đạm - kali là mối quan hệ qua lại rất chặt chẽ, đôi khi việc sử dụng kali còn là giải pháp để điều chỉnh dinh dƣỡng đạm cho cây trồng Kali

là một yếu tố đặc biệt vì nó là nguyên tố điều khiển chất lƣợng, tham gia hầu

Trang 34

hết các quá trình hình thành và vận chuyển các hợp chất trong cây Do đó, nếu không có nguồn cung cấp kali từ phân bón thì cây trồng sẽ không sử dụng được đạm dẫn đến năng suất thấp Vì vậy, trên đất nghèo kali cân đối đạm - kali còn có ý nghĩa rất quan trọng

Quan hệ tương hỗ của kali và đạm thể hiện ở vai trò của kali đối với quá trình đồng hoá đạm trong cây Theo Trần Văn Lài [23], Vũ Hữu Yêm [33] thì do tác động đến quá trình quang hợp và hô hấp nên kali có ảnh hưởng tích cực đến việc trao đổi đạm và tổng hợp protein Thiếu kali mà nhiều đạm

Abd và cs [40] có nhận xét: Cây trồng có phản ứng tích cực với lượng kali bón ở mức cao khi được cung cấp đầy đủ đạm và bón đạm sẽ đạt năng suất cây trồng cao khi cây được cung cấp đầy đủ kali Zhu [45] cũng cho rằng: Để đạt được năng suất cao và tăng hiệu quả tích luỹ đạm, cây đậu đỗ rất cần phải được bón kali với liều lượng thích hợp

khả năng hấp phụ của kali trên bề mặt keo đất

Theo Nguyễn Văn Bộ [6] thě bội thu do bón kali cho lạc trên đất phù sa

lân - kali làm tăng năng suất 6 tạ/ha so với đối chứng Quy luật tương tự cũng thấy trên đất bạc màu, đất xám, bazan Tuy nhiên, dù kali có hiệu quả cao

cao hơn nữa cũng không tăng năng suất và giảm hiệu quả Việc nâng lượng đạm bón lên trên 40kg N/ha trên một số loại đất cũng làm giảm năng suất do sinh khối phát triển

Trang 35

Trên các đất giàu kali (như phù sa Sông Hồng, phù sa Sông Thái Bình,

Trong khi đó, trên các đất bạc màu hoặc đất cát biển trị số này có thể đạt từ 5

Bón cân đối hữu cơ - vô cơ

Trên hầu hết các loại đất, phân đạm có mối quan hệ rất chặt với phân hữu cơ Bón phân chuồng làm tăng đáng kể hiệu suất sử dụng phân đạm Năng suất cây trồng đạt cao nhất khi tỷ lệ hữu cơ trong tổng lượng đạm bón khoảng 30 - 40% [37]

Vai trò của phân hữu cơ trong việc nâng cao năng suất cây trồng và cải thiện độ phì đất đã được khẳng định Bón phân hữu cơ có tác dụng rất rõ đến sinh trưởng phát triển và năng suất cây trồng nông nghiệp ở Malaysia, Australia, Ấn Độ, Hàn Quốc [41]

Bón phân hữu cơ còn có tác dụng duy trì và cải thiện độ phì [2], tăng khả năng dễ tiêu của một số nguyên tố khoáng trong đất, khả năng hoà tan của các loại phân lân [44], tăng hiệu quả sử dụng đạm [30], có tác động tích cực đến sinh trưởng của vi sinh vật trong đất [35] Việc sử dụng phế phụ phẩm nông nghiệp kết hợp với bón vôi làm tăng năng suất đậu tương rất rõ ở vùng Nam, Đài Loan [46]

Cân đối hữu cơ - vô cơ không chỉ làm tăng hiệu quả sử dụng phân khoáng mà ngược lại phân khoáng cũng làm tăng hiệu lực phân hữu cơ Trên nền bón phân khoáng, hiệu lực một tấn phân chuồng đạt từ 53 - 89kg thóc so với nền không bón chỉ đạt từ 32 - 52kg thóc Điều này chứng tỏ rằng việc sử dụng phân bón cân đối, hợp lý, đúng nhu cầu dinh dưỡng của cây trồng là rất quan trọng và đặc biệt cần thiết đối với sản xuất nông nghiệp nói chung [5]

Trang 36

Tuy phân, chuồng có giá trị cao về mặt dinh dưỡng và cải tạo đất, song nhiều vùng chăn nuôi không đáp ứng được lượng phân chuồng cần thiết nên

có thể sử dụng phế phẩm của vụ trước bón cho vụ sau nhằm góp phần cân đối

tỷ lệ hữu cơ - vô cơ Bón thân lá lạc, thân lá đậu tương làm tăng năng suất lúa

10 - 12% với hiệu suất 17 - 20kg thóc/tạ phế phụ phẩm tươi Nếu tận dụng được khoảng 50% phế phụ phẩm của các cây lương thực, thực phẩm chính cũng

có thể đảm bảo một lượng hữu cơ đáng kể (2 - 3 tấn/ha), góp phần cùng với phân chuồng để nâng cao năng suất cây trồng và cải thiện độ phì nhiêu đất [37]

Cây trồng để tạo năng suất đã hút một lượng lớn dinh dưỡng từ đất và mang theo sản phẩm thu hoạch Bùi Đình Dinh [12] uớc tính 8 loại cây trồng chính trong sản xuất nông nghiệp nước ta là lúa, ngô, khoai lang, khoai tây, mía, sắn, đậu tương, lạc đã lấy đi khoảng 2 triệu tấn NPK nguyên chất Dinh dưỡng trong đất cũng có thể bị tiêu hao do kết quả của quá trình bay hơi, rửa trôi và xói mòn đất

Để bổ sung lượng dinh dưỡng hao hụt, hàng năm một lượng lớn phân bón hữu cơ và vô cơ đã được đưa vào đất Số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê (2003) cho thấy: Tổng lượng NPK sử dụng cho cây trồng hiện nay

là xấp xỉ 7 triệu tấn Tuy nhiên, do trình độ thâm canh không giống nhau mà

sử dụng phân bón của người sản xuất ở rất nhiều nơi cũng không giống nhau Theo Võ Thị Gương và cs [16] ở những vùng mà người sản xuất có trình độ thâm canh thấp, khoảng 70% nông dân bón đạm vượt và vượt xa so với nhu cầu bón (theo khuyến cáo trong quy trình), vai trò của lân và kali trong khi đó lại hầu như chưa được chú ý đến một cách thỏa đáng Việc sử dụng lượng phân bón quá cao và không cân đối so với nhu cầu của cây không chỉ làm giảm năng suất mà còn làm giảm đáng kể chất lượng nông sản phẩm Kết quả nghiên cứu của Công Doãn Sắt [28] cho thấy, nếu bón đạm cho cà chua với liều lượng > 150kg N/ha và > 200kgN/ha cho cải bắp sẽ làm cho hàm lượng

Trang 37

Theo Bùi Đình Dinh [13], Trần Thúc Sơn [30], phân bón ở nước ta do được sử dụng chưa hợp lý mà hiệu quả sử dụng phân bón còn thấp, chỉ đạt khoảng 16,5kg thóc/kg N trên đất phù sa sông Hồng và 9,5kg thóc/kg N trên đất bạc màu Bón đạm không kèm với bón phân lân thì hiệu quả đầu tư giảm

vì lượng đạm tiêu tốn để tạo ra một tấn thóc tăng lên 13 - 70% tuỳ theo từng loại đất, thậm chí trên một số loại đất chỉ bón đạm còn làm giảm năng suất như đất bạc màu

Có thể nói phân bón và sử dụng phân bón một cách hợp lý có ý nghĩa quan trọng trong phát triển một nền nông nghiệp sạch, là xu hướng phát triển hiện nay của tất cả các quốc gia trên thế giới Trong cân đối dinh dưỡng cho cây trồng, vai trò phân khoáng sẽ ngày càng gia tăng trong mối quan hệ tương đối với phân hữu cơ và như vậy, vai trò của phân hữu cơ như một nguồn cung cấp cho cây trồng ngày càng giảm Việc sử dụng phân hữu cơ trước hết để ổn định độ phì nhiêu và tạo nền thâm canh, nâng cao hiệu lực phân hoá học Tất nhiên, quản lý tổng hợp dinh dưỡng cây trồng phải được đặt trong mối quan

hệ với quản lý đất tổng hợp (ISM - Integrated Soil management), quản lý nước tổng hợp (IWM - Integrated Water management và quản lý dịch hại cây trồng tổng hợp (IPM - Integrated Pest management), tạo nên một khái niệm mới: quản lý cây trồng tổng hợp (Integrated crop management) [6]

1.1.4.2 Vai trò của bón phân cân đối

* Ổn định và cải thiện độ phì nhiêu của đất

Nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm độ phì nhiêu đất có rất nhiều như xói mòn, rửa trôi Song quan trọng nhất là trong nhiều năm cây trồng đã lấy đi một luợng dinh duỡng đáng kể mà không đuợc trả lại cho đất: Do thâm canh tăng vụ và việc sử dụng phân bón không cân đối Theo Oldeman và cs [47],

Trang 38

trong thời gian từ 1945 - 1990, sự suy kiệt dinh dưỡng trong đất do mất cân đối giữa lượng bón vào và lượng cây trồng lấy đi đã làm cho 20,4 triệu ha đất

bị thoái hoá nhẹ, 18,8 triệu ha bị thoái hoá vừa và 6,6 triệu ha bị thoái hoá nghiêm trọng Tại châu Á, quá trình trên cũng làm thoái hoá đất ở các mức tương ứng là 4,6; 9,0 và 1,0 triệu ha, tại Nam Mỹ tương ứng là 24,5; 31,1 và 12,6 triệu ha

Bón phân cân đối có thể ổn định và nâng cao độ phì nhiêu đất do không làm cây trồng phải khai thác kiệt quệ các chất dinh dưỡng mà ta không cung cấp (hoặc cung cấp không đủ) cho nó Ngoài ra, bón phân cân đối không chỉ

bù dắp lượng dinh dưỡng cây trồng lấy đi mà còn cho đất tốt lên nhờ lượng thực vật còn lại sau mỗi vụ thu hoạch tăng lên Trên đất dốc, bón phân cân đối còn có tác dụng hạn chế xói mòn nhờ cây trồng phát triển nhanh, độ che phủ cao nên hạn chế dòng chảy, giảm sức công phá của hạt mưa làm thoái hóa cấu trúc đất Bón phân cân đối còn làm bộ rễ phát triển, góp phần cải thiện tính chất vật lý - nước của đất [6]

* Tăng năng suất cây trồng và nâng cao hiệu quả sản xuất

Việc tăng vụ, sử dụng các giống mới chỉ có hiệu quả nếu biết áp dụng bón phân cân đối Bón phân cân đối cho phép phát huy cao tiềm năng năng suất của tất cả các loại cây trồng

Tổng kết các mô hình bón phân cân đối, Bùi Đình Dinh [12] cho biết: Bón NPK cân đối làm tăng năng suất lúa trên đất bạc màu lên đến 100 - 200%

và trên đất phù sa sông Hồng là 15 - 30% so với chỉ bón đạm

Việt Nam là một nước phải nhập khẩu tới 90 - 93% nhu cầu về phân đạm, 30 - 35% nhu cầu về phân lân và 100% nhu cầu về phân kali Nhưng do thiếu hiểu biết nên trong thực tế hiệu quả sử dụng phân bón của nông dân

Trang 39

thường chỉ đạt 35 - 45% đối với phân đạm, 50 - 60% đối với phân kali Trong các giải pháp nâng cao hiệu lực phân bón, hạn chế mất dinh duỡng thì bón phân cân đối giữ vai trò chủ đạo [5]

Sử dụng phân bón cân đối nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng thiết yếu, tăng cường tác động tương hỗ và loại trừ các tác động đối kháng giữa chúng Bón phân cân đối cũng góp phần ổn định năng suất và

nâng cao lợi nhuận cho người sản xuất [49]

* Tăng phẩm chất nông sản

Việc sử dụng lượng phân bón quá cao và không cân đối so với nhu cầu của cây không chỉ làm giảm năng suất mà còn làm giảm đáng kể chất lượng nông sản phẩm Bùi Đình Dinh [12] bón cân đối NPK cho chè trên đất phiến thạch làm tăng năng suất chè lên 300%, tăng hàm lượng chất hoà tan trong chè Năng suất bắp cải và cà chua khi được bón cân đối NPK tăng 10 - 20%,

Bón phân cân đối làm tăng hàm lượng protein trong hạt ngũ cốc, tăng hàm lượng các vitamin trong rau và hoa quả, tăng hàm lượng đường trong mía Ngoài ra, bón phân cân đối cũng làm giảm tích lũy nitrat trong rau và làm hình dáng, màu sắc nông sản hấp dẫn hơn [6]

Như vậy, sử dụng phân bón cân đối và hợp lý không chỉ có tác dụng làm tăng năng suất cây trồng mà còn góp phần nâng cao chất lượng nông sản

* Bảo vệ nguồn nuớc

Phân hoá học nếu đuợc sử dụng đúng chủng loại, cân đối về tỷ lệ, phù hợp với nhu cầu từng giai đoạn sinh trưởng của cây trồng thì khả năng mất dinh duỡng sẽ rất thấp do cây trồng hấp thu gần hết Trong khi đó, đối với

Trang 40

phân hữu cơ nhiều khi cây trồng đã thu hoạch, phân hữu cơ vẫn tiếp tục giải phóng chất dinh duỡng và do vậy nguy cơ ô nhiễm nguồn nuớc là khó tránh khỏi Bón phân cân đối sẽ giúp ngăn ngừa quá trình trên [3]

* Hạn chế khí thải độc hại làm ô nhiễm môi truờng

Phân đạm khi được bón vào đất đều phải chịu ảnh huởng của các quá

đạm không đúng lúc, không đúng phương pháp (bón vuơng vãi trên mặt đất chẳng hạn), bón quá nhiều và không cân đối với lân và kali nên cây trồng

huởng xấu đến tầng ô-zôn và là nguyên nhân gây ra mưa axit Ngoài ra, bón phân cân đối sẽ làm cây trồng sinh truởng tốt hơn nên khả năng đồng hoá khí cacbonic cao hơn, thải ra oxi nhiều hơn và làm không khí trong lành hơn [37]

Bón phân cân đối và hợp lý là chìa khoá để tăng năng suất cây trồng và đảm bảo một nền nông nghiệp bền vững Hiện nay, không có một quốc gia nào, dù là một nước phát triển hay đang phát triển lại không sử dụng biện pháp bón phân cân đối và hợp lý như một giải pháp quan trọng (nếu không muốn nói là quyết định) để tăng sản lượng, chất lượng các sản phẩm nông nghiệp Các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam đang sử dụng phân bón mất cân đối, gây ra lãng phí, làm suy thoái đất và tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường Hiện tại, nước ta đang trên con đường công nghiệp hoá hiện đại hoá, việc áp dụng phân bón cân đối sẽ góp phần tích cực để đưa Việt Nam từ một nước sản xuất nông nghiệp quảng canh chủ yếu dựa vào khai thác đất sang một nền nông nghiệp thâm canh dựa vào phân bón, tăng nhanh sản lượng và chất lượng nông sản, bảo đảm an ninh lương thực, vệ sinh môi trường và có nhiều nông sản xuất khẩu [37]

Ngày đăng: 21/08/2023, 01:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.5.  Nguyên nhân làm giảm hiệu lực phân bón - Điều tra đánh giá tình hình sử dụng phân bón và đề xuất giải pháp bón phân hợp lý cho lạc trên địa bàn huyện nghi lộc, tỉnh nghệ an
Bảng 1.5. Nguyên nhân làm giảm hiệu lực phân bón (Trang 32)
Bảng 1.7.  Diện tích, năng suất và sản lƣợng lạc năm 2005 - Điều tra đánh giá tình hình sử dụng phân bón và đề xuất giải pháp bón phân hợp lý cho lạc trên địa bàn huyện nghi lộc, tỉnh nghệ an
Bảng 1.7. Diện tích, năng suất và sản lƣợng lạc năm 2005 (Trang 50)
Bảng 1.9.  Diện tích, năng suất và sản lƣợng lạc của tỉnh Nghệ An  Năm  Diện tích (1.000ha)  Năng suất (tạ/ha)  Sản lƣợng (1.000tấn) - Điều tra đánh giá tình hình sử dụng phân bón và đề xuất giải pháp bón phân hợp lý cho lạc trên địa bàn huyện nghi lộc, tỉnh nghệ an
Bảng 1.9. Diện tích, năng suất và sản lƣợng lạc của tỉnh Nghệ An Năm Diện tích (1.000ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lƣợng (1.000tấn) (Trang 56)
Bảng 3.2.  Tỷ lệ hộ sử dụng các loại phân bón khác nhau - Điều tra đánh giá tình hình sử dụng phân bón và đề xuất giải pháp bón phân hợp lý cho lạc trên địa bàn huyện nghi lộc, tỉnh nghệ an
Bảng 3.2. Tỷ lệ hộ sử dụng các loại phân bón khác nhau (Trang 70)
Bảng 3.8.  So sánh năng suất giữa các nhóm hộ - Điều tra đánh giá tình hình sử dụng phân bón và đề xuất giải pháp bón phân hợp lý cho lạc trên địa bàn huyện nghi lộc, tỉnh nghệ an
Bảng 3.8. So sánh năng suất giữa các nhóm hộ (Trang 81)
Bảng 3.9.  Tính toán hiệu quả sản xuất lạc - Điều tra đánh giá tình hình sử dụng phân bón và đề xuất giải pháp bón phân hợp lý cho lạc trên địa bàn huyện nghi lộc, tỉnh nghệ an
Bảng 3.9. Tính toán hiệu quả sản xuất lạc (Trang 83)
Bảng 3.10.  Tỷ lệ hộ gặp một số khó khăn cơ bản trong sử dụng phân bón - Điều tra đánh giá tình hình sử dụng phân bón và đề xuất giải pháp bón phân hợp lý cho lạc trên địa bàn huyện nghi lộc, tỉnh nghệ an
Bảng 3.10. Tỷ lệ hộ gặp một số khó khăn cơ bản trong sử dụng phân bón (Trang 86)
Bảng PL 1.1. Lƣợng phân bón cho lạc trên 1ha của nhóm hộ nghèo - Điều tra đánh giá tình hình sử dụng phân bón và đề xuất giải pháp bón phân hợp lý cho lạc trên địa bàn huyện nghi lộc, tỉnh nghệ an
ng PL 1.1. Lƣợng phân bón cho lạc trên 1ha của nhóm hộ nghèo (Trang 102)
Bảng PL 1.3. Lƣợng phân bón cho lạc trên 1ha của nhóm hộ khá - Điều tra đánh giá tình hình sử dụng phân bón và đề xuất giải pháp bón phân hợp lý cho lạc trên địa bàn huyện nghi lộc, tỉnh nghệ an
ng PL 1.3. Lƣợng phân bón cho lạc trên 1ha của nhóm hộ khá (Trang 103)
Bảng PL 1.8. Lƣợng phân bón cho lạc trên 1ha của nhóm hộ trung bình - Điều tra đánh giá tình hình sử dụng phân bón và đề xuất giải pháp bón phân hợp lý cho lạc trên địa bàn huyện nghi lộc, tỉnh nghệ an
ng PL 1.8. Lƣợng phân bón cho lạc trên 1ha của nhóm hộ trung bình (Trang 105)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w