1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vân dụng tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong dạy học phần sinh thái học bậc trung học phổ thông

122 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận dụng tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong dạy học phần sinh thái học bậc trung học phổ thông
Tác giả Nguyễn Quốc Thái
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Đình Nhóm
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học Sinh học
Thể loại Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Năm xuất bản 2012
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Vận dụng tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong dạy học phần Sinh thái học bậc Trung học phổ thông”.. Đối tượng nghi

Trang 1

NGUYỄN QUỐC THÁI

VẬN DỤNG TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH THÁI HỌC BẬC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học Sinh học

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Vinh, năm 2012

Trang 2

NGUYỄN QUỐC THÁI

VẬN DỤNG TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH THÁI HỌC BẬC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học Sinh học

Mã số: 60.14.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Trang 3

Lêi c¶m ¬n

Hoàn thành đề tài này, chúng tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy

giáo - người hướng dẫn khoa học PGS.TS Nguyễn Đình Nhâm, người đã

tận tình hướng dẫn, giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn quý thầy giáo, cô giáo trong khoa Sinh Trường Đại học Vinh, Đại học Sư phạm Huế, Đại học Thủ Dầu Một, Cao Đẳng Sư phạm Cần Thơ, Đại học sư phạm Hà Nội, Tạp chí Giáo dục đã nhiệt tình giảng dạy và có những ý kiến đóng góp quý báu cho đề tài Đồng thời, chúng tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, Khoa Sau Đại học của Trường Đại học Vinh và Đại học Đồng Tháp đã tạo điều kiện cho chúng tôi học tập

và nghiên cứu

Cảm ơn Ban Giám Hiệu, quý thầy cô trong Tổ Sinh và học sinh Trường THPT Nguyễn Trung Trực, Trường THPT Giá Rai, thầy cô Trường THPT chuyên Bạc Liêu, Trường THPT Bạc Liêu, Trường THPT Phan Ngọc Hiển, Trường THPT Hiệp Thành, Trường THPT Điền Hải, Trường THPT Gành Hào, THPT Phước Long, Tỉnh Bạc Liêu Đã tạo điều kiện và hợp tác cùng với chúng tôi trong quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài.

Xin cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và những người thân đã nhiệt tình động viên, giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tác giả

Nguyễn Quốc Thái

Trang 4

Lêi cam ®oan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là khách quan, trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì một công trình nào khác

Tác giả

Nguyễn Quốc Thái

Trang 6

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt v

Danh mục bảng, biểu đồ, sơ đồ vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Phương pháp nghiên cứu 3

7 Dự kiến những đóng góp mới của đề tài 5

8 Cấu trúc của luận văn 5

NỘI DUNG 7

Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 7

1.1 Tổng quan về môi trường 7

1.1.1 Lược sử nghiên cứu môi trường 7

1.1.1.1 Lược sử nghiên cứu môi trường trên thế giới 7

1.1.1.2 Lược sử nghiên cứu môi trường ở Việt nam 9

1.1.2 Những vấn đề chung về môi trường 11

1.1.2.1 Chức năng của môi trường 11

1.1.2.2 Thành phần của môi trường 12

1.1.2.3 Những thách thức môi trường hiện nay trên thế giới 13

1.1.2.4 Tình hình môi trường Việt Nam hiện nay 18

1.1.2.5 Phát triển bền vững 23

1.2 Cơ sở lí luận của đề tài 25

1.2.1 Một số khái niệm cơ bản về môi trường 25

1.2.2 Bảo vệ môi trường 26

1.2.3 Giáo dục bảo vệ môi trường 27

1.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài 32

1.3.1.Thực trạng giảng dạy của giáo viên 32

1.3.2 Thực trạng học tập của học sinh 35

Trang 7

phần Sinh thái học bậc Trung học phổ thông 37

2.1 Mục tiêu, cấu trúc, nội dung kiến thức phần Sinh thái học bậc Trung học phổ thông 37

2.1.1 Mục tiêu phần Sinh thái học 37

2.1.2 Phân tích lôgíc cấu trúc nội dung chương trình STH - THPT 38

2.2 Mục tiêu, nguyên tắc, nội dung, phương thức, phương pháp tích hợp GDBVMT trong dạy học phần Sinh thái học bậc THPT 40

2.2.1 Mục tiêu của giáo dục bảo vệ môi trường 40

2.2.2 Nguyên tắc tích hợp GDBVMT 41

2.2.3 Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường 42

2.2.4 Phương thức tích hợp GDBVMT 46

2.2.5 Phương pháp tích hợp GDBVMT trong dạy học phần Sinh thái học bậc THPT 49

2.3 Quy trình vận dụng tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong dạy học phần Sinh thái học bậc THPT 62

2.3.1 Quy trình chung 62

2.3.2 Giải thích các bước 62

2.3.3 Ví dụ 63

Chương III: Thực nghiệm sư phạm 66

3.1 Mục đích thực nghiệm 66

3.2 Phương pháp thực nghiệm 66

3.2.1 Chọn trường thực nghiệm 66

3.2.2 Bố trí thực nghiệm 66

3.2.3 Các bước thực nghiệm 67

3.2.4 Xử lý số liệu 68

3.3 Kết quả thực nghiệm 68

3.3.1 Đánh giá bằng điểm số 68

3.3.2 Đánh giá hiệu quả của vận dụng tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường bằng tiêu chí 73

3.3.3 Một số đánh giá định tính 80

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 83

1 Kết luận 83

2 Kiến nghị 84

Trang 8

Tài liệu tham khảo 85 Phụ lục

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Trang Bảng 1.1 Diễn biến diện tích rừng qua một số năm 21 Bảng 1.2 Kết quả thăm dò thực tế vận dụng tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong môn Sinh học Trường THPT 32 Bảng 1.3 Kết quả thăm dò việc tích hợp, lồng ghép kiến thức bảo vệ môi trường trong đề kiểm tra, thi 32 Bảng 1.4 Kết quả điều tra về phương pháp giảng dạy của giáo viên 34 Bảng 1.5 Kết quả thăm dò về mức độ hứng thú trong giờ học 35 Bảng 1.6 Mức độ tích hợp GDBVMT vào các phần trong chương trình Sinh học THPT 36

Bảng 2.1 Nội dung vận dụng tích hợp GDBVMT trong phần STH 43 Bảng 3.1 Bảng thống kê điểm số các bài kiểm tra THPT Nguyễn Trung Trực 68

Bảng 3.2 Bảng tần suất (fi % ) - số HS đạt điểm Xi các bài kiểm tra THPT NTT 69 Bảng 3.3 Bảng tần suất hội tụ tiến số HS đạt điểm Xi các bài kiểm tra NTT 69 Bảng 3.4 Bảng tổng hợp các tham số đặc trưng giữa TN và ĐC các bài kiểm tra THPT Nguyễn Trung Trực 70 Bảng 3.5 Bảng thống kê điểm số các bài kiểm tra THPT Giá Rai 71 Bảng 3.6 Bảng tần suất (fi % ) - số HS đạt điểm Xi các bài kiểm tra THPT GR 71 Bảng 3.7 Bảng tần suất hội tụ tiến (f %↑)số HS đạt điểm Xi các bài kiểm tra GR 72 Bảng 3.8 Bảng so sánh các tham số đặc trưng giữa TN và ĐC các bài kiểm tra THPT Giá Rai 73 Bảng 3.9: Tiêu chí đánh giá việc vận dụng tích hợp GDBVMT 74 Bảng 3.10: Đánh giá việc thực hiện vận dụng tích hợp GDBVMT theo từng tiêu chí 74 Bảng 3.11: Bảng tổng hợp mức độ về các tiêu chí của việc vận dụng tích hợp GDBVMT 75 Bảng 3.12: Bảng tổng hợp mức độ của từng tiêu chí trong việc tích hợp GDBVMT 77

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Trang

Biểu đồ 3.1 Đồ thị tần suất điểm các lần kiểm tra THPT NTT 69

Biểu đồ 3.2 Đồ thị tần suất hội tụ tiến của các lần kiểm tra NTT 70

Biểu đồ 3.3 Đồ thị tần suất điểm các lần kiểm tra trong thực nghiệm THPTGR 72

Biểu đồ 3.4 Đồ thị tần suất hội tụ tiến của các lần kiểm tra THPT GR .……….72

Biểu đồ 3.5: Biểu đồ biểu diễn các mức độ về việc tích hợp GDBVMT của lớp ĐC và lớp TN 76

Biểu đồ 3.6: Biểu diễn các mức độ đạt được tiêu chí 1 của tích hợp GDBVMT 79

Biểu đồ 3.7: Biểu diễn các mức độ đạt được tiêu chí 2 của tích hợp GDBVMT 79

Biểu đồ 3.8: Biểu diễn các mức độ đạt được tiêu chí 3 của tích hợp GDBVMT 79

Biểu đồ 3.9: Biểu diễn các mức độ đạt được tiêu chí 4 của tích hợp GDBVMT 80

DANH MỤC SƠ ĐỒ Trang Sơ đồ 1.1: Ba mục tiêu giáo dục môi trường 30

Sơ đồ 1.2: Mục đích của giáo dục môi trường 30

Sơ đồ 1.3: Khối kiến thức và tính liên thông các bậc học trong GDBVMT 31

Sơ đồ 2.1: Lôgic cấu trúc nội dung chương trình STH – THPT 39

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.1 Sự cần thiết phải đưa Giáo dục bảo vệ môi trường vào trường học

Môi trường có một vai trò cực kì quan trọng đối với đời sống Đó là không gian sinh sống cho con người và thế giới sinh vật, là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên, các chất phế thải của đời sống và sản xuất, đồng thời là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người

Những hiểm họa khủng hoảng và suy thoái môi trường đang ngày càng đe dọa cuộc sống của loài người Chính vì vậy, bảo vệ môi trường là vấn đề sống còn của nhân loại, của mỗi quốc gia và của mỗi người

Nguyên nhân cơ bản gây suy thoái môi trường là do sự thiếu hiểu biết, thiếu

ý thức của con người

Giáo dục bảo vệ môi trường là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất, kinh tế nhất và có tính bền vững trong các biện pháp để thực hiện mục tiêu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đất nước

Thông qua giáo dục, từng người trong cộng đồng được trang bị kiến thức về môi trường, ý thức bảo vệ môi trường, năng lực phát hiện và xử lý các vấn đề môi trường Giáo dục bảo vệ môi trường còn góp phần hình thành người lao động mới, người chủ tương lai của đất nước

1.2 Chủ trương của Đảng và Nhà nước, của ngành Giáo dục & Đào tạo

về công tác giáo dục bảo vệ môi trường

Năm 2001: QĐ 1363/QĐ-TTg: Đề án đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống Giáo dục quốc dân

Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004, được sửa đổi, bổ sung tại chỉ thị

29 năm 2009 của Bộ chính trị về bảo vệ môi trường đã nêu Quan điểm: Bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại Bảo vệ môi trường vừa

là mục tiêu, vừa là một trong những nội dung cơ bản của phát triển bền vững

Điều 107 Luật bảo vệ môi trường năm 2005 quy định “Công dân Việt Nam được giáo dục toàn diện về môi trường nhằm nâng cao hiểu biết và ý thức bảo vệ môi trường Giáo dục về môi trường là một nội dung của chương trình chính khóa của các cấp học phổ thông”

Trang 12

Công văn số 7120 /BGDĐT- GDTrH, ngày 07 tháng 08 năm 2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc Tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào các môn học cấp Trung học cơ sở và Trung học phổ thông

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2010-2020 được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng thông qua đã khẳng định quan điểm phát triển đất nước là ''Phát triển kinh tế - xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu''

1.3 Thực trạng vấn đề vận dụng tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường ở các trường Trung học phổ thông chưa được quan tâm đúng mức

Một bộ phận lớn giáo viên Mầm non, Tiểu học, Trung học cơ sở và THPT ở các Sở GD&ĐT chưa được tập huấn phương pháp tích hợp/lồng ghép đưa các nội dung BVMT vào các môn học, vì vậy còn có nhiều khó khăn trong việc triển khai các hoạt động giáo dục BVMT Hệ thống tài liệu phục vụ giảng dạy, học tập về giáo dục BVMT đã được biên soạn nhưng đầu sách và số lượng còn hạn chế và ít được cung cấp đến các trường, các giáo viên Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ

về môi trường chưa đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực của sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Kinh phí sự nghiệp môi trường hàng năm cấp cho ngành GD&ĐT còn hạn chế, vì vậy công tác giáo dục BVMT gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là các trường học ở các vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới và hải đảo

1.4 Xuất phát từ việc thực hiện mục tiêu giáo dục phổ thông, phương pháp giáo dục phổ thông

Điều 28.2, Luật Giáo dục năm 2005 đã ghi “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, từng môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”

1.5 Đặc điểm kiến thức phần Sinh thái học có nhiều nội dung liên quan đến tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường

Sinh thái học nghiên cứu mối quan hệ tương hổ giữa sinh vật với môi trường còn môi trường là toàn thể các điều kiện ngoại cảnh, trong đó sinh vật đang sinh sống và phát triển [11] Tất cả các bài của Phần Sinh thái học bậc THPT đều có liên quan đến bảo vệ môi trường

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Vận dụng

tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong dạy học phần Sinh thái học bậc Trung học phổ thông”

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Trang 13

Hình thành cho học sinh kiến thức, kỹ năng, thái độ bảo vệ môi trường đồng thời góp phần nâng cao chất lượng dạy học phần Sinh thái học bậc Trung học phổ thông

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Các vấn đề tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường vào trong quá trình dạy học phần Sinh thái học bậc Trung học phổ thông

3.2 Khách thể nghiên cứu

Quá trình dạy học Sinh thái học

4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Nếu như vận dụng tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường vào bài học một cách

tự nhiên, phù hợp và phát huy được tính tích cực học tập của học sinh thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng bảo vệ môi trường và hiệu quả dạy học bộ môn

5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn liên quan đến đề tài

- Điều tra thực trạng chất lượng dạy học và việc vận dụng tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong dạy học Sinh học bậc trung học phổ thông nói chung và phần Sinh thái học nói riêng

- Phân tích mục tiêu, cấu trúc, nội dung kiến thức phần Sinh thái học bậc Trung học phổ thông

- Xác định mục tiêu, nguyên tắc, nội dung, phương thức, phương pháp tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường qua dạy học phần Sinh thái học bậc Trung học phổ thông

- Thiết kế các bài giảng theo hướng vận dụng tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường để dạy phần Sinh thái học bậc Trung học phổ thông

- Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng giả thuyết khoa học

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Luận văn sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Nghiên cứu tổng quan các tài liệu về chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước, các tài liệu có liên quan đến sinh thái, môi trường, bảo vệ môi trường, giáo dục bảo vệ môi trường; công tác giáo dục và đổi mới phương pháp dạy học

- Nghiên cứu các tài liệu lý luận dạy học, đặc biệt là các tài liệu liên quan đến hướng nghiên cứu tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường làm cơ sở vận dụng dạy học phần Sinh thái học bậc Trung học phổ thông

6.2 Phương pháp chuyên gia

Trang 14

Gặp gỡ, trao đổi với những người giỏi về lĩnh vực mình đang nghiên cứu, lắng nghe sự tư vấn của các chuyên gia để định hướng cho việc triển khai đề tài

6.3 Phương pháp điều tra, quan sát sư phạm

Điều tra thực trạng, phân tích nguyên nhân hạn chế chất lượng dạy học và việc vận dụng tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong dạy học Sinh học bậc trung học phổ thông nói chung và phần Sinh thái học nói riêng

- Đối với giáo viên:

+ Dùng phiếu điều tra để lấy số liệu về thực trạng giảng dạy và tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường bộ môn Sinh học nói chung, phần Sinh thái học nói riêng

+ Tham khảo giáo án và dự giờ của một số giáo viên

- Đối với học sinh: Dùng phiếu điều tra để điều tra thực trạng dạy - học và tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong bộ môn Sinh học ở trường Trung học phổ thông

6.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

- Chúng tôi tiến hành thực nghiệm ở 2 trường Trung học phổ thông, mỗi trường chọn 1 lớp thực nghiệm, 1 lớp đối chứng có số lượng, chất lượng tương đương nhau

+ Ở lớp thực nghiệm, giáo án xây dựng theo hướng sử dụng phiếu học tập + Ở lớp đối chứng, giáo án được xây dựng theo phương pháp dạy học truyền thống

- Các lớp thực nghiệm và đối chứng ở mỗi trường do một giáo viên giảng dạy, đồng đều về thời gian, nội dung kiến thức, điều kiện dạy học và hệ thống câu hỏi đánh giá sau mỗi tiết học

- Trong quá trình thực nghiệm, chúng tôi thảo luận với giáo viên bộ môn ở các trường để thống nhất nội dung và phương pháp giảng dạy

6.5 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng một số công thức toán học để xử lí các kết quả điều tra và thực nghiệm sư phạm:

S cho biết mức độ phân tán quanh giá trị , S càng bé độ phân tán càng ít

Trang 15

Khi có hai số trung bình cộng khác nhau, độ lệch chuẩn khác nhau thì phải xét đến hệ số biến thiên (Cv)

+ Cv = 0-10% : Dao động nhỏ, độ tin cậy cao

+ Cv = 10-30% : Dao động trung bình

+ Cv = 30-100% : Dao động lớn, độ tin cậy nhỏ

- Kiểm định độ tin cậy sai khác giữa 2 giá trị trung bình:

td =

2

2 2 1

2 1

2 1

X

n

S n S

1, X

X : Điểm số trung bình của 2 phương án: thực nghiệm và đối chứng

n1, n2: Số bài trong mỗi phương án

2 1

S và 2

2

S là phương sai của mỗi phương án

Sau khi tính được td, ta so sánh với giá trị tđược tra trong bảng phân phốiStuden với mức ý nghĩa =0,05 và bậc tự do f= n1+n2-2

+ Nếu td t: Sự khác nhau giữa X1 và X2 là có ý nghĩa thống kê

+ Nếu td  t: Sự khác nhau giữa X1 và X2 là không có ý nghĩa thống kê

7 DỰ KIẾN NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

- Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lí luận và thực tiễn của việc vận dụng tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong dạy học Sinh học bậc Trung học phổ thông nói chung và phần Sinh thái học nói riêng

- Cập nhật và hệ thống hoá một số kiến thức mới về môi trường để tích hợp vào phần Sinh thái học, đặc biệt là những kiến thức về môi trường và Sinh thái địa phương, vùng

- Những bài giảng về việc vận dụng tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường khi dạy phần Sinh thái học bậc Trung học phổ thông

8 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN Phần I: Mở đầu

Phần II: Nội dung và kết quả nghiên cứu

Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Trang 16

Chương II: Vận dụng tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong dạy học phần Sinh thái học bậc Trung học phổ thông

Chương III: Thực nghiệm sư phạm

Phần III: Kết luận và khuyến nghị Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 17

NỘI DUNG CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Tổng quan về môi trường 1.1.1 Lược sử nghiên cứu về môi trường 1.1.1.1 Lược sử nghiên cứu môi trường trên thế giới [25]

Từ thế kỷ XIX một số nước đã đưa ra những đạo luật về môi trường như: Luật cấm gây ô nhiễm nước sông ở Anh năm 1876; Luật về khói than ở Mỹ năm 1896; Luật khoáng nghiệp, Luật sông ở Nhật năm 1896, …

Vấn đề môi trường được loài người chú ý nhiều bắt đầu từ công nghiệp ở nước Anh, được quan tâm từ thập niên 50 của thế kỷ XX Năm 1948 tại cuộc họp của Liên Hợp Quốc về BVMT và tài nguyên thiên nhiên ở Pari, thuật ngữ GDMT lần đầu tiên được sử dụng Trong khoảng thời gian dài sau đó, thế giới đã có rất nhiều cố gắng để định nghĩa thuật ngữ này, vào những năm 1970 vấn đề GDMT đã được sử dụng rộng rãi và được làm sáng tỏ

Trong thập kỷ 70, GDMT đã được đưa vào hệ thống các Trường THPT ở nhiều nước như: Mêxicô, Mỹ, Liên Xô cũ, những chủ đề về BVMT không chỉ được lồng ghép vào những môn học có nhiều liên quan đến MT như: Sinh học, Địa lí, Hoá học và cả các môn học khác như: Giáo dục công dân, Vật lí,

Ngày 5 tháng 6 năm 1972, Hội nghị thượng đỉnh Môi trường Thế Giới lần thứ nhất, được tổ chức tại Stockholm - Thụy Điển đã ra lời kêu gọi “Hãy cứu lấy Trái Đất - Ngôi nhà chung của chúng ta”, Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc đã quyết định lấy ngày này là Ngày Môi trường Thế Giới Ngoài ra, chương trình Môi trường của Liên Hợp Quốc cũng được thành lập (UNEP)

Tại nguyên tắc số 19 trong tuyên bố của Hội nghị Liên hợp quốc về “MT con người họp tại Stockholm 1972 đã nêu “Việc bảo vệ môi trường cho thế hệ trẻ cũng như người lớn làm sao để họ có đạo đức, trách nhiệm trong việc bảo vệ và cải thiện MT” Ngay sau đó Chương trình MT của Liên Hợp Quốc (UNEP) cùng với tổ chức văn hoá, khoa học, Giáo dục của Liên Hợp Quốc (UNESCO) đã thành lập chương trình GDMT quốc tế (IEEP), tháng 10/1975 IEEP đã tổ chức hội thảo quốc tế về GDMT ở Belgrade Nam Tư Chương trình này đã đưa ra một nghị định khung và tuyên bố về những mục tiêu và nguyên tắc hướng dẫn GDMT Sau hội thảo Belgrade, chương trình GDMT quốc tế được bắt đầu triển khai và có khoảng 60 quốc gia đã đưa GDMT vào các trường học

Trang 18

Năm 1984, Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới được thành lập Năm

1987, hoạt động của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới trở nên nóng bỏng khi xuất bản báo cáo có tựa đề "Tương lai của chúng ta" Bản báo cáo này lần đầu tiên công bố chính thức thuật ngữ "phát triển bền vững", sự định nghĩa cũng như một cái nhìn mới về cách hoạch định các chiến lược phát triển lâu dài

Năm 1987, Nghị định thư Montreal được thỏa thuận, quy định giới hạn của các hóa chất gây hại đến tầng Ô-zôn Cũng trong năm 1987, với sự chủ trì của UNESCO, một hội nghị quốc tế Giáo dục và Đào tạo về MT được tổ chức ở Matxcơva đã đưa

ra một chương trình GDMT cho thập kỷ 1990 – 2000 Tại hội nghị thượng đỉnh Trái đất (RIO-92) vấn đề GDMT lại một lần nữa được khẳng định

Năm 1988, Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) được thành lập với mục đích thu thập và đánh giá các bằng chứng về hiện tượng Biến đổi khí hậu Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hiệp quốc (UNCED) lần thứ 2 được

tổ chức tại Rio De Janeiro (Brazil), từ ngày 3 đến ngày 14 tháng 6 năm 1992 Tại đây, các đại biểu tham gia đã thống nhất những nguyên tắc cơ bản và phát động một chương trình hành động vì sự phát triển bền vững có tên Chương trình Nghị sự 21 (Agenda 21) Chương trình nghị sự 21 (mục 36) về Giáo dục Đào tạo và sự nhận thức của công chúng với yêu cầu “Đưa khái niệm về MT và phát triển, kể cả những khái niệm dân số vào tất cả các chương trình giáo dục Lôi cuốn trẻ em vào những công trình nghiên cứu về sức khỏe và MT Xây dựng các chương trình đào tạo cho học sinh và sinh viên”

Năm 1997, Nghị định thư Kyoto được thông qua Các nước phát triển cam kết sẽ giảm 5% lượng khí thải trong khoảng thời gian từ 2008-2012

Năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững nhóm họp tại Johannesburg (Nam Phi) là dịp cho các bên tham gia nhìn lại những việc đã làm 10 năm qua theo phương hướng mà Tuyên ngôn Rio và Chương trình Nghị sự 21 đã vạch ra, tiếp tục tiến hành với một số mục tiêu được ưu tiên Những mục tiêu này bao gồm xóa nghèo đói, phát triển những sản phẩm tái sinh hoặc thân thiện với môi trường nhằm thay thế các sản phẩm gây ô nhiễm, bảo vệ và quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên Hội nghị cũng đề cập tới chủ đề toàn cầu hóa gắn với các vấn

đề liên quan tới sức khỏe và phát triển Các đại diện của các quốc gia tham gia hội nghị cũng cam kết phát triển chiến lược về phát triển bền vững tại mỗi quốc gia trước năm 2005

Trang 19

Năm 2011, Hội nghị Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu lần thứ 17 (COP 17) ở Nam Phi đã kết thúc với việc các nước nhất trí về một lộ trình mới trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu 10 năm tới

Hội nghị thượng đỉnh thế giới về Môi trường và phát triển bền vững lần thứ 4, từ ngày 20 đến 22/06/2012, được gọi là Hội nghị Rio + 20, được tổ chức tại Rio De Janeiro (Brazil) với đồng thuận "Vì tương lai chúng ta mong muốn" Bao gồm hai nội dung chính: Một nền kinh tế xanh trong bối cảnh phát triển bền vững, xóa đói giảm nghèo và khuôn khổ thể chế cho phát triển bền vững

1.1.1.2 Lược sử nghiên cứu môi trường ở Việt nam

Năm 1985: Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Nghị định 246/HÐBT

về việc "Ðẩy mạnh công tác điều tra cơ bản, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên

và bảo vệ môi trường"

Năm 1988: Thành lập Hội Ðịa lý Việt Nam, Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam

Năm 1991: Chính phủ thông qua "Kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển bền vững 1991- 2000"

Năm 1993: Quốc hội thông qua Luật bảo vệ môi trường

Năm 1995: Chính phủ thông qua Kế hoạch quốc gia về bảo tồn đa dạng sinh học Năm 1997: Triển khai dự án về Giáo dục môi trường: Dự án VIE/95/041

Chỉ thị số 36-CT/TW của Bộ chính trị ngày 25 tháng 6 năm 1998 về “Tăng cường công tác BVMT trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” đã coi vấn

đề GDMT là giải pháp đầu tiên

Thực hiện Luật bảo vệ môi trường năm 1993, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có Quyết định số 3288/QĐ-GD&ĐT ngày 2/10/1998 ban hành các văn bản về chính sách và chiến lược giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông Việt Nam

Năm 2001: Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001-2010 được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng thông qua đã khẳng định quan điểm phát triển đất nước là ''Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường''

Quyết định số 1363/QĐ-TTg ngày 17/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt đề án “Đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân”

Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 02 tháng 02 năm

2003 về việc phê duyệt chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020

Trang 20

Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 41/NQ-TƯ ngày 15 tháng 11 năm 2004

về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Cũng trong năm này Luật bảo vệ và phát triển rừng đã được Quốc hội thông qua

Chiến lược Phát triển bền vững (PTBV) ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam) được ban hành kèm theo Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg, ngày 17/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ

Ngày 29 tháng 11 năm 2005 Quốc hội thông qua nghị quyết số 52/2005/QH11 ban hành Luật bảo vệ môi trường thay thế Luật bảo vệ môi trường năm 1993

Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg ngày 02 tháng 12 năm

2008 Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu

Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành công văn Số: 7120/BGDĐT-GDTrH ngày 07 tháng 8 năm 2008 về việc Tích hợp nội dung GDBVMT vào các môn học cấp THCS và THPT đã yêu cầu:

1 Việc tích hợp GDBVMT vào các môn học được thực hiện từ năm học

2008-2009 Sở GD&ĐT lựa chọn một số trường THCS và THPT áp dụng thí điểm, Trên

cơ sở tổng kết, rút kinh nghiệm các đơn vị thực hiện thí điểm để nhân rộng, tiến tới

áp dụng đại trà cho những năm học sau

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2010-2020 được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng thông qua đã khẳng định quan điểm phát triển đất nước là ''Phát triển kinh tế - xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu''

Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định Số: 2139/QĐ-TTg ngày 05 tháng 12 năm 2011 Phê duyệt Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu đến năm 2050 Trong phần các nhiệm vụ chiến lược đã yêu cầu Đưa kiến thức cơ bản về biến đổi khí hậu vào trong

Trang 21

các chương trình, bậc giáo dục, đào tạo; phát triển và có chính sách đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao các chuyên ngành liên quan đến thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm phát thải khí nhà kính Trong phần tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong công tác bảo vệ môi trường, trong đó chú trọng thực hiện nhiệm vụ: Đưa nội dung giáo dục môi trường vào chương trình, sách giáo khoa của hệ thống giáo dục quốc dân

Quyết định số 432/QĐ-TTg, ngày 12 tháng 4 năm 2012 Phê duyệt Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 Ở phần giải pháp yêu cầu: Cập nhật và đưa các nội dung giáo dục về phát triển bền vững vào chương trình giảng dạy của các cấp học, bậc học trong hệ thống giáo dục và đào tạo

1.1.2 Những vấn đề chung về môi trường 1.1.2.1 Chức năng của môi trường [12]

1.1.2.1.1 MT là không gian sống của con người và các loài sinh vật

Mỗi một người đều cần một không gian nhất định để phục vụ cho các hoạt động sống như: nhà ở, nơi nghỉ, đất để sản xuất nông nghiệp, Mỗi người mỗi ngày cần trung bình 4m3 không khí sạch để hít thở; 2,5 lít nước để uống, một lượng lương thực, thực phẩm tương ứng 2000-2500 calo

Chức năng không gian sống chia thành các loại: chức năng xây dựng các cơ sở hạ tầng, vui chơi giải trí, giao thông vận tải, hồ chứa, hoạt động canh tác nông nghiệp, nuôi trồng thủy, hải sản

1.1.2.1.2 MT là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và sản uất của con người

Để tồn tại và phát triển, con người đã tác động vào các hệ thống tự nhiên để tạo ra của cải vật chất, năng lượng cần thiết cho hoạt động sinh sống, sản xuất Thiên nhiên là nơi cung cấp nguồn tài nguyên, các nguồn vật chất cần thiết phục vụ cho đời sống con người

1.1.2.1.3 MT là nơi chứa đựng các chất phế thải của đời sống và sản uất

Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong quá trình sản xuất và sinh hoạt Các chất thải được biến đổi trở thành các dạng ban đầu theo chu trình sinh địa hóa phức tạp, từ những thứ bỏ đi trở thành các chất dinh dưỡng nuôi sống cây trồng và nhiều sinh vật khác Tuy nhiên, do sự gia tăng dân số, do đô thị hóa, công nghiệp hóa, lượng chất thải vào môi trường ngày càng nhiều và phần lớn không qua xử lý, hoặc thành phần chất thải khó phân hủy dẫn đến ở nhiều nơi, nhiều chỗ trở nên quá tải, gây ô nhiễm môi trường

1.1.2.1.4 Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người

Trang 22

• Cung cấp thông tin về lịch sử địa chất, lịch sử tiến hóa của vật chất và sinh vật, lịch sử xuất hiện và phát triển của loài người: các hiện vật, di chỉ được con người phát hiện, giúp giải thích được nhiều bí ẩn diễn ra trong quá khứ Khi kết nối giữa những sự kiện của hiện tại với quá khứ, con người sẽ dự đoán được những sự kiện xảy ra trước đây và trong tương lai

• Cung cấp các chỉ thị mang tính chất tín hiệu để báo động sớm các hiểm họa đối với con người và các sinh vật sống trên Trái Đất Nhiều sinh vật do phản ứng sinh

lý của cơ thể với những biến đổi của điều kiện tự nhiên đã thông báo sớm cho chúng ta những sự cố như bão, động đất, núi lửa,…

• Môi trường còn lưu trữ và cung cấp cho con người sự đa dạng nguồn vốn gen sinh vật, loài, các hệ sinh thái tự nhiên và nhân tạo, cảnh quang thiên nhiên …

1.1.2.2 Thành phần của môi trường [12]

1.1.2.2.1 Thạch quyển

Thạch quyển là toàn bộ lớp vỏ của Trái Đất và phần trên cùng của lớp Manti dưới đáy Đại Dương được cấu tạo bởi các vật chất ở trạng thái cứng rắn Lớp trên cùng của thạch quyển là tầng đá trầm tích do các vật liệu vụn, nhỏ bị nén chặt tạo thành Khi lớp trên cùng của tầng này tiếp xúc với khí quyển và sinh quyển tạo thành lớp vật chất mềm, xốp được gọi là thổ nhưỡng (đất) Đất là tư liệu sản xuất độc đáo, là nguồn tài nhiên vô giá mà tự nhiên đã ban tặng cho con người Đất mang trên mình

nó các hệ sinh thái và là giá đỡ để con người tác động vào các hệ sinh thái tạo nên các nền văn minh, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của nhân loại Trong vỏ trái đất chứa đựng nhiều tài nguyên khoáng sản

1.1.2.2.2 Thủy quyển

Khoảng 71% diện tích bề mặt Trái Đất được bao phủ bởi nước, tương đương với

361 triệu km2 Nước rất cần cho tất cả các sinh vật sống trên Trái Đất và là môi trường sống của nhiều loài sinh vật Nước tồn tại ở 3 thể: rắn (băng, tuyết), lỏng và hơi

Theo tính toán, tổng lượng nước là 1386.106 km3 Nhưng nước ngọt rất ít, chỉ chiếm 2,5%, mà hầu hết lại tồn tại ở thể rắn (băng, tuyết chiếm 2,24%); lượng nước ngọt mà con người có thể sử dụng được lại còn ít ỏi, chỉ chiếm 0,26% tổng lượng nước

Dân số tăng nhanh cùng với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, thâm canh nông nghiệp và các thói quen tiêu thụ nước quá mức đang gây ra sự khủng hoảng nước trên phạm vi toàn cầu Gần 20% dân số thế giới không được dùng nước sạch và 50% thiếu các hệ thống vệ sinh an toàn Sự suy giảm nước ngọt ngày càng lan rộng

Trang 23

hơn và gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng, đó là nạn thiếu nước sinh hoạt xảy ra ở khắp mọi nơi trên thế giới

1.1.2.2.3 Khí quyển

Khí quyển là lớp vỏ không khí bao bọc xung quanh Trái Đất Khí quyển được phân chia thành các tầng: tầng đối lưu, tầng bình lưu, tầng giữa, tầng ion (tầng nhiệt) và tầng ngoài (tầng khuếch tán)

Không khí đóng vai trò quan trọng trong đời sống con người và thế giới sinh vật Các thành phần chính của không khí bao gồm nitơ, ôxy, hơi nước và một số loại khí trơ cũng tham gia vào mọi quá trình xảy ra trên trái đất Hiện nay tình trạng ô nhiễm không khí đang thật sự gây hại cho sự sống trên bề mặt trái đất

1.1.2.2.4 Sinh quyển

Sinh quyển là một hệ thống tự nhiên động, rất phức tạp Nó bao gồm động, thực vật, các hệ sinh thái Sự sống trên bề mặt trái đất được phát triển chính là nhờ vào tổng hợp các mối quan hệ tương hỗ giữa các sinh vật với môi trường, tạo thành dòng liên tục trong quá trình trao đổi vật chất và năng lượng mà chúng ta thường gọi là các chu trình sinh địa hóa như chu trình nước, chu trình cacbon, chu trình nitơ, chu trình phospho, Nhờ hoạt động của các chu trình này mà vật chất được chu chuyển, sinh vật sống được và tồn tại trong một trạng thái cân bằng động, giúp cho chúng ổn định và phát triển

1.1.2.3 Những thách thức môi trường hiện nay trên thế giới [4],[25],[35]

Báo cáo tổng quan môi trường Toàn cầu năm 2000 của Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) viết tắt là "GEO - 2000" là một sản phẩm của hơn 850 tác giả trên khắp Thế giới và trên 30 cơ quan môi trường và các tổ chức khác của Liên Hợp Quốc đã cùng phối hợp tham gia biên soạn Đây là một báo cáo đánh giá tổng hợp về môi trường Toàn cầu khi bước sang một thiên niên kỷ mới GEO - 2000 đã tổng kết những gì chúng ta đã đạt được với tư cách là những người sử dụng và gìn giữ các hàng hoá và dịch vụ môi trường mà hành tinh cung cấp

Báo cáo đã phân tích hai xu hướng bao trùm khi loài người bước vào thiên niên kỷ thứ 3

Thứ nhất: Đó là các hệ sinh thái và sinh thái nhân văn toàn cầu bị đe doạ bởi sự mất cân bằng sâu sắc trong năng suất và trong phân bố hàng hoá và dịch vụ Một tỷ lệ đáng kể nhân loại hiện nay vẫn đang sống trong sự nghèo khó và xu hướng được dự báo là sự khác biệt sẽ ngày càng tăng giữa những người thu được lợi ích từ sự phát triển kinh tế và công nghệ và những người không bền vững theo hai thái cực: Sự phồn thịnh và sự cùng cực đang đe doạ sự ổn định của toàn bộ hệ thống nhân văn và cùng với nó là môi trường toàn cầu

Trang 24

Thứ hai: Thế giới hiện đang ngày càng biến đổi, trong đó sự phối hợp quản lý môi trường ở quy mô quốc tế luôn bị tụt hậu so với sự phát triển kinh tế - xã hội Những thành quả về môi trường thu được nhờ công nghệ và những chính sách mới đang không theo kịp nhịp độ và quy mô gia tăng dân số và phát triển kinh tế Mỗi một phần trên bề mặt Trái Đất được thiên nhiên ban tặng cho các thuộc tính môi trường của riêng mình, mặt khác, lại cũng phải đương đầu với hàng loạt các vấn đề mang tính toàn cầu đã và đang nổi lên Những thách thức đó là:

1.1.2.3.1 Khí hậu toàn cầu biến đổi và tần suất thiên tai gia tăng

Sự nóng lên toàn cầu là rất rõ ràng với những biểu hiện của sự tăng nhiệt độ không khí và đại dương, sự tan băng diện rộng và qua đó là mức tăng mực nước biển trung bình toàn cầu Các quan trắc cho thấy rằng nhiệt độ tăng trên toàn cầu và tăng nhiều hơn ở các vĩ độ cực Bắc Trong 100 năm qua (1906-2005), nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng khoảng 0,740C, tốc độ tăng của nhiệt độ trong 50 năm gần đây gần gấp đôi so với 50 năm trước đó Trong thế kỷ này sẽ tăng từ 1,5 - 4,50C so với nhiệt độ

ở thế kỷ XX

Trái Đất nóng lên có thể mang tới những bất lợi:

- Mực nước biển có thể dâng lên cao từ 25 đến 140cm, do sự tan băng và sẽ nhấn chìm một vùng ven biển rộng lớn, làm đất mất đi nhiều vùng sản xuất nông nghiệp, dẫn đến nghèo đói, đặc biệt ở các nước đang phát triển

- Thời tiết thay đổi dẫn đến gia tăng tần suất thiên tai như gió, bão, động đất, phun trào núi lửa, hoả hoạn và lũ lụt Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sự sống của loài người một cách trực tiếp và gây ra những thiệt hại về kinh tế mà còn gây ra nhiều vấn đề môi trường nghiêm trọng khác

Trái Đất nóng lên chủ yếu do hoạt động của con người mà cụ thể là:

- Do sử dụng ngày càng tăng lượng than đá, dầu mỏ và phát triển công nghiệp dẫn đến gia tăng nồng độ CO2 và SO2 trong khí quyển

- Khai thác triệt để dẫn đến làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên rừng và đất rừng, nước - là bộ máy khổng lồ giúp cho việc điều hoà khí hậu Trái Đất

- Nhiều hệ sinh thái bị mất cân bằng nghiêm trọng ở nhiều khu vực trên Thế giới Tất cả các yếu tố này góp phần làm cho thiên nhiên mất đi khả năng từ điều chỉnh vốn có của mình

Bản báo cáo năm 2007 của IPCC cũng dự đoán mức tăng nhiệt độ năm 2100 sẽ rơi vào khoảng từ 1,1 - 6,4°C Số thảm họa tự nhiên xảy ra trên toàn cầu trong 10 - 15 năm tới có lẽ sẽ tăng gấp đôi

Trang 25

Với những nguyên nhân trên, thiên tai không những chỉ xuất hiện với tần suất ngày càng gia tăng mà quy mô tác động gây thiệt hại cho con người cũng ngày càng lớn

Chỉ tính riêng 10 năm qua (1995-2005), 3.852 thảm họa đã cướp đi hơn 780.000 sinh mạng, ảnh hưởng tới trên 2 tỷ người khác và gây tổn thất ít nhất 960 tỷ USD Nếu năm 2010 là năm thiệt hại về người lớn nhất do thiên tai (hơn 300 ngàn người trên toàn thế giới bị chết và mất tích) thì năm 2011 là năm thiệt hại nặng nề nhất về kinh tế từ trước đến nay Thiên tai đã giáng thêm đòn chí mạng vào tăng trưởng kinh tế thế giới

Động đất kinh khủng tại Nhật Bản, New Zealand; bão khốc liệt ở Mỹ; lũ lụt ghê gớm hoành hành ở Australia, Thái lan; động đất, sóng thần, bão tuyết, lốc soáy, mưa lũ, sạt lở khắp các châu lục… là những hình ảnh minh chứng cho sự biến đổi khí hậu (BĐKH) đã vượt quá khả năng ứng phó của cả nước giàu và nghèo Trận thiên tai thảm khốc nhất được ghi nhận là vụ động đất tại Haiti hôm 12/1/2010, có cường độ 7 độ Richter và giết chết 316.000 nạn nhân Trong khi đó, trận động đất

có cường độ 9,1 độ Richter xảy ra trên Ấn Độ Dương gây ra sóng thần kinh hoàng hồi tháng 12/2004 làm 227.000 người chết Trận bão xoáy ngày 31/4/1991 tại Bangladesh làm chết ít nhất 131.000 người [47]

Vấn đề gìn giữ tầng Ôzôn có vai trò sống còn đối với nhân loại Tầng Ôzôn có vai trò bảo vệ, chặn đứng các tia cực tím có ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của con người và các loài sinh vật trên Trái Đất

Ôzôn là loại khí hiếm trong không khí nằm trong tầng bình lưu khí quyển gần bề mặt Trái Đất và tập trung thành một lớp dày ở độ cao từ 16 - 40 km phụ thuộc vào

vĩ độ Việc giao thông đường bộ do các phương tiện có động cơ thải ra khoảng 30 - 50% lượng NOX ở các nước phát triển và nhiều chất hữu cơ bay hơi (VOC) tạo ra Ôzôn mặt đất Nếu không khí có nồng độ Ôzôn lớn hơn nồng độ tự nhiên thì môi trường bị ô nhiễm và gây tác hại đối với sức khoẻ con người

1.1.2.3.3 Tài nguyên bị suy thoái

Rừng, đất rừng và đồng cỏ hiện vẫn đang bị suy thoái hoặc bị triệt phá mạnh mẽ, đất hoang bị biến thành sa mạc Theo tài liệu thống kê của Liên Hợp Quốc, diện tích đất canh tác bình quân đầu người trên Thế giới năm 1983 là 0,31ha/người thì đến năm 1993 chỉ còn 0,26 ha/người và còn tiếp tục giảm trong tương lai

Sự phá huỷ rừng vẫn đang diễn ra với mức độ cao, trên thế giới diện tích rừng có khoảng 40 triệu km2, song cho đến nay diện tích này đã bị mất đi một nửa, trong số

đó, rừng ôn đới chiếm khoảng 1/3 và rừng nhiệt đới chiếm 2/3 Nơi cư trú của các

Trang 26

loài sinh vật bị thu hẹp, bị tàn phá, đe doạ tính đa dạng sinh học ở các mức độ

về gen, các giống loài và các HST

Với tổng lượng nước là 1386.106 km3, bao phủ gần 3/4 diện tích bề mặt Trái Đất,

và như vậy Trái Đất của chúng ta có thể gọi là "Trái Nước", nhưng loài người vẫn

"khát" giữa đại dương mênh mông, bởi vì với tổng lượng nước đó thì nước ngọt chỉ chiếm 2,5% tổng lượng nước, mà hầu hết tồn tại ở dạng đóng băng và tập trung ở hai cực (chiếm 2,24%), còn lượng nước ngọt mà con người có thể tiếp cận để sử dụng trực tiếp thì lại càng ít ỏi (chỉ chiếm 0,26%) Sự gia tăng dân số nhanh cùng với quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá, thâm canh nông nghiệp và các thói quen tiêu thụ nước quá mức đang gây ra sự khủng hoảng nước trên phạm vi Toàn cầu Gần 20% dân số Thế giới không được dùng nước sạch và 50% thiếu các hệ thống

vệ sinh an toàn Sự suy giảm nước ngọt ngày càng lan rộng hơn và gây ra nhiều vấn

đề nghiêm trọng, đó là nạn thiếu nước ở nhiều nơi và đối với các khu vực ven biển

đó là sự xâm nhập mặn Hiện nay có 2,5 tỷ người đang khát nước sạch, chiếm hơn 1/3 dân số toàn cầu Đây là một con số đáng báo động vì chỉ 2 năm trước đây, con

số này chỉ dừng ở 1 tỷ người [44]

Mất đất, mất rừng, cạn kiệt nguồn nước làm cho hàng chục triệu người buộc phải di

cư, tị nạn môi trường, gây xuống cấp các điều kiện sức khoẻ, nhà ở, môi trường

Có khoảng 1 tỷ người không có đủ chỗ để che thân và hàng chục triệu người khác phải sống trên các hè phố Thật không thể tin được rằng, Thế giới ngày nay cứ mỗi năm có 20 triệu người dân chết vì nguyên nhân môi trường, trong khi đó, số người chết trong các cuộc xung đột vũ trang của hơn nửa thế kỷ tính từ sau năm 1945 tới nay cũng chỉ là 20 triệu người Bài toán tăng 75% lượng lương thực từ nay tới năm

2030 do FAO đề ra là bài toán khó vẫn chưa có lời giải vì dân số liên tục gia tăng trong khi diện tích đất nông nghiệp không tăng mà còn có xu hướng giảm, độ màu

mỡ của đất ngày càng suy giảm

1.1.2.3.4 Ô nhiễm môi trường đang ảy ra ở quy mô rộng

Sự phát triển đô thị, khu công nghiệp, du lịch và việc đổ bỏ các loại chất thải vào đất, biển, các thuỷ vực đã gây ô nhiễm môi trường ở quy mô ngày càng rộng, đặc biệt là các khu đô thị Ô nhiễm không khí, rác thải, chất thải nguy hại, ô nhiễm tiếng

ồn và nước đang biến những khu vực này thành các điểm nóng về môi trường Đặc biệt, lượng nước ngọt đang khan hiếm trên hành tinh cũng bị chính con người làm tổn thương, một số nguồn nước bị nhiễm bẩn nặng đến mức không còn khả năng hoàn nguyên Hiện nay, đại dương đang bị biến thành nơi chứa rác khổng lồ của con người, nơi chứa đựng đủ loại chất thải của nền văn minh kỹ thuật, kể cả chất thải hạt nhân Việc đổ các chất thải xuống biển đang làm xuống cấp các khu

Trang 27

vực ven biển trên toàn thế giới, gây huỷ hoại các hệ sinh thái như đất ngập nước, rừng ngập mặn và các dải san hô

1.1.2.3.5 Sự gia tăng dân số

Con người là chủ của trái đất, là động lực chính làm tăng thêm giá trị của các điều kiện kinh tế - xã hội và chất lượng cuộc sống Tuy nhiên, xung lượng gia tăng dân

số hiện nay ở một số nước đi đôi với đói nghèo, suy thoái môi trường và tình hình kinh tế bất lợi đã gây ra xu hướng làm mất cân bằng nghiêm trọng giữa dân số và môi trường

Đầu thế kỷ XIX, dân số Thế giới mới có 1 tỷ người nhưng đến năm 1927 tăng lên 2

tỷ người; năm 1960: 3 tỷ; năm 1974: 4 tỷ; năm 1987: 5 tỷ và năm 1999 là 6 tỷ người, năm 2011 dân số thế giới đã đạt mức 7 tỷ người Mỗi năm dân số Thế giới tăng thêm khoảng 78 triệu người Theo dự tính đến 2025 dân số sẽ là 8 tỷ người và năm 2050 sẽ là 10,3 tỷ người 95% dân số tăng thêm nằm ở các nước đang phát triển do đó các nước này sẽ phải đối mặt với những vấn đề nghiêm trọng cả về kinh

tế, xã hội đặc biệt là môi trường, sinh thái Việc giải quyết những hậu quả do dân số tăng của những nước này có lẽ còn khó khăn hơn gấp nhiều lần những xung đột về chính trị trên Thế giới [48]

Một người Mỹ trung bình hàng năm tiêu thụ 37 tấn nhiên liệu, kim loại, khoáng chất, thực phẩm và lâm sản Ngược lại, 1 người Ấn Độ trung bình tiêu thụ hàng năm

ít hơn 1 tấn Theo Liên Hợp Quốc, nếu toàn bộ dân số của Trái Đất có cùng mức tiêu thụ trung bình như người Mỹ hoặc Tây Âu, thì cần phải có 3 Trái Đất để đáp ứng tài nguyên cần thiết Rõ ràng, cần phải quan tâm hơn nữa tới sự tiến bộ của con người và công bằng xã hội và phải coi đây là những nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển nguồn nhân lực và cải thiện môi trường Mỗi Quốc gia phải đảm bảo sự hài hoà giữa: Dân số, hoàn cảnh môi trường, tài nguyên, trình độ phát triển, kinh tế - xã hội

1.1.2.3.6 Sự suy giảm tính đa dạng sinh học trên trái đất

Các loài động và thực vật qua quá trình tiến hoá trên trái đất hàng trăm triệu năm đã

và đang góp phần quan trọng trong việc duy trì sự cân bằng môi trường sống trên trái đất, ổn định khí hậu, làm sạch các nguồn nước, hạn chế xói mòn đất, làm tăng

độ phì nhiêu đất Sự đa dạng của tự nhiên cũng là nguồn vật liệu quý giá cho các ngành công nghiệp, dược phẩm, du lịch, là nguồn thực phẩm lâu dài của con người,

và là nguồn gen phong phú để tạo ra các giống loài mới Đa dạng sinh học được chia thành 3 dạng: Đa dạng di truyền; đa dạng loài và đa dạng sinh thái

Trang 28

Tuy nhiên, nhân loại đang phải đối mặt với một thời kỳ tuyệt chủng lớn nhất của các loài động và thực vật Thảm họa này tiến triển nhanh nhất và có hậu quả rất

nghiêm trọng

Khoảng 17.000 loài thực vật và động vật hiện đang có nguy cơ tuyệt chủng do mất môi trường sống, do bị các loài xâm lấn, do tốc độ tiêu thụ cao, do ô nhiễm và thay đổi khí hậu mà chưa được giải quyết tận gốc Mất đa dạng sinh học làm giảm an ninh lương thực của con người, khiến cách loài còn lại có nguy cơ bệnh tật và tuyệt chủng lớn hơn do thiên tai, và giảm các nguồn có thể tạo ra những đột phá mới về y học và khoa học

1.1.2.4 Tình hình môi trường Việt Nam hiện nay [2], [3], [4], [42]

1.1.2.4.1 Phát triển kinh tế - ã hội và sức ép đối với môi trường

Giai đoạn 2005 – 2010, dân số nước ta gia tăng với tỷ lệ trung bình 1,09% Tính đến hết năm 2011, dân số nước ta là 87,84 triệu người, đứng thứ 3 ở Đông Nam Á, thứ

14 trên thế giới, mật độ 265 người/km2, là một trong những nước có mật độ dân số cao nhất thế giới (Nguồn: tổng cục thống kê, năm 2011) Quá trình gia tăng dân số nhanh kéo theo những đòi hỏi yêu cầu về đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt, giáo dục đào tạo, y tế, giao thông vận tải, nhà ở, việc làm … làm gia tăng sức ép đối với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Môi trường tự nhiên có khả năng chịu tải nhất định, khi dân số tăng nhanh và chất thải không được xử lý xả thải vào môi trường sẽ làm vượt quá khả năng tự làm sạch và phục hồi của môi tường tự nhiên tất yếu sẽ dẫn đến ô nhiễm môi trường

Quá trình đô thị hóa nhanh kéo theo vấn đề di cư nông thôn ra thành thị, gia tăng lượng lớn chất thải gây ô nhiễm môi trường Đô thị hóa nhanh kéo theo thiếu cây xanh, ô nhiểm không khí, nguồn nước, tiếng ồn nghiêm trọng

Năm 2010, tỷ trọng khu công nghiệp và xây dựng chiếm đến 41,1% GDP cả nước Tuy nhiên tỷ lệ công nghệ hiện đại trong sản xuất còn khoảng cách khá xa so với thế giới, do vậy trong sản xuất cần tiêu thụ nhiều hơn nguyên liệu và năng lượng, thải ra nhiều hơn chất thải, lại không hoặc ít qua xử lý, gây ô nhiễm môi trường Làng nghề có ý nghĩa lớn trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn Tuy nhiên trình độ sản xuất lại rất thấp, manh mún, lạc hậu; làng nghề phân

bố rải rác, thiếu tập trung, nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường yếu kém

đã làm cho làng nghề và các điểm công nghiệp nhỏ lẻ tại các làng nghề đang là tác nhân gây ô nhiễm môi trường đáng kể

Hoạt động xây dựng, hạ tầng giao thông phát triển rất nhanh nhưng việc phát thải chất ô nhiễm từ các hoạt động này là nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí, đất, nước rất lớn

Trang 29

Theo đánh giá, có đến 90% nguồn năng lượng sử dụng của nước ta là nhiên liệu hóa thạch, nhiên liệu có nguồn gốc hữu cơ Quá trình đốt cháy một lượng lớn nhiên liệu như vậy sẽ phát thải ra các khí gây ô nhiễm môi trường rất lớn

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam có thể phải chịu tổn thất do ô nhiễm môi trường lên tới 5,5% GDP hàng năm, như vậy nền kinh tế mất khoảng 6,6

tỉ USD trong 120 tỉ USD trong năm 2011 Cũng theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, mỗi năm ở Việt Nam thiệt hại khoảng 780 triệu USD trong lĩnh vực sức khỏe cộng đồng vì ô nhiễm môi trường [2]

1.1.2.4.2 Biến đổi khí hậu, thiên tai và sức ép đối với môi trường

Biến đổi khí hậu là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế

kỷ 21 Biến đổi khí hậu đang diễn ra và gây ra những biến động mạnh mẽ thông qua các hiện tượng thời tiết cực đoan, dị thường như nhiệt độ tăng, bão mạnh, mưa lớn,

lũ lụt, hạn hán, nước biển dâng cao … Nhiệt độ: Trong 50 năm qua (1958-2007) nhiệt độ trung bình năm của Việt Nam tăng 0,50C Theo kịch bản phát thải trung bình năm 2011, đến cuối thế kỷ thứ 21, nhiệt độ trung bình năm tăng từ 2 đến 30

C

Mực nước biển: Số liệu quan trắc tại các trạm hải văn ven biển Việt Nam cho thấy tốc độ dâng lên của mực nước biển trung bình hiện nay là khoảng 3mm/năm (giai đoạn 1993-2008), tương đương tốc độ tăng trung bình trên thế giới Theo kịch bản phát thải trung bình, vào cuối thế kỷ 21, nước biển dâng trong khoảng từ 57 đến 73 cm; nếu nước biển dâng 1m sẽ có 39% diện tích đồng bằng Cửu Long, 10% diện tích đồng bằng Sông Hồng, Quảng Ninh, trên 2,5% diện tích các tỉnh ven biển Miền Trung và trên 20% diện tích Thành phố Hồ Chí Minh có nguy cơ bị ngập; 35% dân

số đồng bằng Cửu Long, trên 9% dân số đồng bằng Sông Hồng, Quảng Ninh, gần 9% dân số các tỉnh ven biển Miền Trung và khoảng 7% dân số Thành phố Hồ Chí Minh bị ảnh hưởng (Theo kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng, Bộ Tài nguyên và Môi trường, năm 2011)

Việt Nam không phải là nước có mức độ phát thải khí nhà kính cao nhưng lại là 1 trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu

Ảnh hưởng đến các hệ sinh thái tự nhiên: Nước biển dâng đẩy nhanh tốc độ xói lở vùng cửa sông và ven biển, kéo theo rừng ngập mặn bị mất, các hệ sinh thái rừng thu hẹp diện tích, nhiệt độ tăng dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng các loài sinh vật, hệ sinh thái san hô có nguy cơ bị phá hủy

Ảnh hưởng đến kinh tế, xã hội: Nước biển dâng kèm theo mất đất và xâm nhập mặn

đe dọa an ninh lương thực quốc gia; nhiệt độ tăng làm gia tăng lượng điện tiêu thụ; xuất hiện nhiều dịch bệnh

Trang 30

Việt Nam là 1 trong 10 nước chịu ảnh hưởng lớn nhất của thiên tai Chỉ tính riêng trong 10 năm gần đây (2001 - 2010) thiên tai đã làm chết và mất tích khoảng 9.500 người, giá trị thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 1,5 tỷ USD Thiên tai ngày càng trở nên khốc liệt và diễn biến bất thường hơn trong điều kiện biến đổi khí hậu Hiện, Việt Nam đang phải đối diện với nhiều loại thiên tai như: áp thấp nhiệt đới, bão, lũ, lũ quét, lũ bùn đá, ngập lụt, sạt lở đất, hạn hán, xâm nhập mặn, nước dâng

do bão, động đất, rét đậm, rét hại, sương muối, sa mạc hóa

1.1.2.4.3 Môi trường đất

Theo niên giám thống kê (2009), tổng diện tích đất tự nhiên cả nước là 33,105 triệu

ha, là một trong những nước có diện tích tự nhiên nhỏ, diện tích bình quân là 0,38 ha/người, đứng thứ 203 trong số 218 nước trên thế giới Bình quân đất nông nghiệp 0,11 ha/người, là một trong những nước có diện tích bình quân đất nông nghiệp/người thấp nhất thế giới

Thu hồi đất nông nghiệp để sử dụng vào các mục đích khác đang tồn tại nhiều vấn

đề nghiêm trọng Việc thu hồi đất nông nghiệp trong 5 năm 2003 đến 2008 đã làm mất 5% diện tích, tác động đến đời sống của trên 627.000 gia đình với khoảng 950.000 lao động và 2,5 triệu nhân khẩu, trong số này có tới 25% - 30% tổng số lao động mất việc làm hoặc việc làm không ổn định

Ô nhiễm đất do sử dụng không hợp lý phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật trong nông nghiệp, từ hoạt động công nghiệp, xây dựng và dân sinh, do các chất độc hóa học còn tồn lưu sau chiến tranh

Suy thoái đất do biến đổi khí hậu và thiên tai, phá rừng gây nên hiện tượng xâm nhập mặn, nhiễm phèn, rửa trôi, xói mòn, sạt lở Hiện tượng thiếu nước và hạn hán

đã và đang dẫn tới hoang mạc hóa

1.1.2.4.4 Môi trường rừng

Sự đa dạng về địa hình, sự phân hóa khí hậu tạo cho nước ta có nhiều loại rừng: rừng lá rộng thường xanh, rừng nửa rụng lá, rừng rụng lá, rừng trên núi đá vôi, rừng hỗn giao lá rộng và lá kim, rừng tràm, rừng ngập mặn,…

Rừng là nguồn tài nguyên quý giá của nước ta Rừng có vai trò điều hòa khí hậu, bảo vệ đất, giữ nước ngầm và là nơi lưu giữ các nguồn gen quý giá Tuy nhiên, độ che phủ rừng của Việt Nam trong thời gian dài có xu hướng giảm, nguyên nhân là

do mở rộng diện tích đất công nghiệp, nhu cầu lấy củi, chăn thả gia súc, khai thác

gỗ và các sản phẩm rừng, phá rừng để trồng cây đặc sản và cây công nghiệp, cháy rừng Những năm gần đây, các hoạt động trồng rừng được coi trọng, diện tích rừng

có được tăng lên nhưng chất lượng rừng vẫn tiếp tục giảm sút

Bảng 1.1 Diễn biến diện tích rừng qua một số năm

Trang 31

1945 1976 1980 1990 1995 2002 2005 2010 Tổng diện

tích (triệu ha)

14,300 11,169 10,608 9,175 9,302 11,785 12,617 13,388

Rừng trồng (triệu ha) 0 0,092 0,422 0,745 1,050 1,9195 2,334 2,450 Rừng tự

nhiên (triệu ha)

1.1.2.4.5 Môi trường nước

Việt Nam có lượng mưa lớn, hệ thống sông hồ dày đặc nên tài nguyên nước mặt khá phong phú Dân số tăng, các hoạt động kinh tế gia tăng và công tác quản lý chưa tốt khiến tài nguyên nước ở Việt Nam đang bị sử dụng quá mức và ô nhiễm Chỉ số lượng nước trên đầu người năm 1943 là 16.64 m3/người, nếu số dân tăng lên

150 triệu người thì chỉ số chỉ còn 2.467m3/người/năm, xấp xỉ các quốc gia hiếm nước

Theo Báo cáo môi trường Quốc Gia năm 2010: Trong thời gian gần đây, ở Việt Nam đã xảy ra tình trạng khan hiếm nước Môi trường nước mặt hiện nay đang đối mặt với tình trạng ô nhiễm chất hữu cơ và suy thoái Tình trạng này đã và đang xảy

ra ở nhiều đoạn sông, tập trung ở vùng trung và hạ lưu Có một số nơi ô nhiễm đã đến mức nghiêm trọng, điển hình như hạ lưu các sông Cầu, Nhuệ - Đáy, hệ thống sông Đồng Nai và hệ thống hồ, ao, kênh mương và các sông nhỏ trong khu vực nội thành, nội thị

Môi trường nước biển đã có dấu hiệu bị ô nhiễm, đặt biệt là nước biển ven bờ Ô nhiễm dầu trong nước biển ven bờ tăng nhanh và có xu hướng tập trung cao hơn tại dọc ven biển miền Trung và một phần các tỉnh phía miền Nam

Nguyên nhân chính dẫn tới ô nhiễm môi trường nước là do nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt chưa được xử lý đã xả trực tiếp vào nguồn nước mặt Việc sử

Trang 32

dụng hóa chất trong sản xuất công, nông nghiệp cũng đang làm cho nguồn nước ngầm bị ô nhiễm

1.1.2.4.6 Môi trường không khí

Diễn biến chất lượng môi trường không khí trong những năm qua vẫn tiếp tục theo chiều hướng suy giảm Việt Nam là một trong 10 nước ô nhiễm không khí nặng nhất trên thế giới Đáng chú ý nhất là vấn đề ô nhiễm bụi ở các đô thị diễn ra ngày càng càng trầm trọng hơn Hàm lượng khí SO2, NO2, CO và các khí thải độc hại khác đã tăng lên tới ngưỡng quy chuẩn cho phép, đặc biệt là tại khu đô thị lớn, các tuyến đường giao thông chính, các khu vực tập trung nhiều cơ sở sản xuất cũ và các khu, cụm công nghiệp cũ

Nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí rất đa dạng Đối với môi trường không khí các đô thị, áp lực chủ yếu là do hoạt động giao thông vận tải, hoạt động xây dựng, hoạt động công nghiệp, sinh hoạt của dân cư và xử lý chất thải Trong đó, ô nhiễm không khí ở đô thị do các hoạt động giao thông vận tải chiếm tỷ lệ khoảng 70% (Bộ giao thông vận tải, 2010) Ở nông thôn ô nhiễm không khí chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp, sản xuất của các làng nghề và sinh hoạt của dân cư [2]

1.1.2.4.7 Chất thải rắn

Giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2008, lượng chất thải rắn phát sinh đã tăng với tỷ lệ

150 đến 200% Lượng chất thải rắn phát sinh tăng trung bình khoảng 10% mỗi năm

Tỷ lệ thu gom chất thải rắn tại các khu đô thị và khu công nghiệp hiện chỉ đạt 85%, ở khu vực nông thông tỷ lệ này khoảng 40-55% Phần lớn chất thải rắn chưa được phân loại tại nguồn, mà thu gom lẫn lộn và vận chuyển đến bãi chôn lấp Công tác thu gom, xử lý và quản lý chất thải nguy hại vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu Nhiều dây chuyền xử lý chất thải rắn đã được xây dựng, vận hành, nhiều doanh nghiệp tư nhân tham gia vào việc xử lý chất thải rắn công nghiệp và chất thải nguy hại, nhưng cơ sở vật chất để tiêu hủy, xử lý chất thải, năng lực xử lý và hiệu suất xử

83-lý chưa đạt yêu cầu Hoạt động tái chế, tái sử dụng chất thải còn ở tình trạng thấp kém [3]

1.1.2.4.8 Đa dạng sinh học

Với tài nguyên sinh vật phong phú, Việt Nam được công nhận là nước có tính đa dạng sinh học cao thứ 16 thế giới và là một trong những quốc gia được ưu tiên cho bảo tồn toàn cầu (WCMC, 1992; 2003) Sự đa dạng về địa hình, đất đai, cảnh quan

và khí hậu cùng với sự hội tụ, giao lưu của các luồng sinh vật di cư là cơ sở thuận lợi tạo nên tính đa dạng của các hệ sinh thái, loài và nguồn gen ở nước ta Với nhiều kiểu rừng, đầm lầy, sông suối… tạo nên môi trường sống cho khoảng 10% tổng số loài chim và thú hoang dã trên toàn thế giới Việt Nam được quỹ Quốc tế về Bảo vệ

Trang 33

thiên nhiên (WWF) công nhận có 3 trong số hơn 200 vùng sinh thái toàn cầu; tổ chức bảo tồn chim thế giới (Birdlife International) công nhận là 1 trong 5 vùng chim đặc hữu trên toàn thế giới; tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) công nhận có 6 trung tâm đa dạng sinh học về thực vật…

Các kiểu hệ sinh thái Việt Nam rất đa dạng, ở những vùng địa lí không lớn cũng có các kiểu hệ sinh thái Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 95 kiểu hệ sinh thái thuộc 7 dạng hệ sinh thái chính ở trên cạn; 39 kiểu hệ sinh thái đất ngập nước; 20 kiểu hệ sinh thái biển khác nhau

Đa dạng loài: Khu hệ thực vật Việt Nam có 13.894 loài, động vật có 11.055 loài Không chỉ có số loài lớn, mà số loài đặc hữu và bản địa khá cao Đây là nguồn bảo tồn gen, giống mang nhiều đặt tính tốt, quý hiếm, đặt trưng của nước ta

Việt Nam được xem là 1 trong 12 trung tâm giống cây trồng và cũng là trung tâm thuần hóa động vật nuôi nổi tiếng thế giới

Tuy nhiên, Việt Nam cũng nằm trong bối cảnh toàn cầu về sự suy giảm đa dạng sinh học Theo đánh giá của IUCN, số loài đe dọa không chỉ tăng về số lượng mà còn tăng về mức độ đe dọa Hơn nữa, tốc độ suy thoái về hệ sinh thái, số lượng loài, nguồn gen không có dấu hiệu ngừng lại

Rừng nguyên sinh chỉ còn 0,57 triệu ha, chiếm 8%, rừng ngập mặn đang bị suy thoái Chất lượng rạn san hô và cỏ biển ngày càng suy giảm, có đến 44,9% ở tình trạng xấu và rất xấu Về mức độ suy thoái về loài, Việt Nam được xếp vào nhóm 15 nước hàng đầu về thế giới

Xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó, sự phát triển kinh tế - xã hội với sự thay đổi phương thức sử dụng đất; khai thác quá mức và sử dụng không bền vững tài nguyên sinh vật; du nhập các giống mới và các sinh vật ngoại lai; ô nhiễm môi trường, cháy rừng và biến đổi khí hậu đã làm tổn hại nhiều hệ sinh thái, các sinh cảnh, nơi ở của nhiều loài sinh vật bị suy giảm, chia cắt, tiêu diệt Bên cạnh đó, công tác quản lý đa dạng sinh học mặt dù được quan tâm nhưng vẫn còn nhiều bất cập

1.1.2.5 Phát triển bền vững

Khái niệm "phát triển bền vững" xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi trường từ những năm đầu của thập niên 70 của thế kỷ 20 Năm 1987, trong Báo cáo "Tương lai chung của chúng ta" của Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) của Liên hợp quốc, "phát triển bền vững" được định nghĩa "là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau"

Trang 34

Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển tổ chức ở Rio de Janeiro (Braxin) năm 1992 và Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững tổ chức ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002 đã xác định "phát triển bền vững" là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa

3 mặt của sự phát triển, gồm: phát triển kinh tế (nhất là tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (nhất là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi

và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên)

Phát triển bền vững là nhu cầu cấp bách và xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, vì vậy đã được các quốc gia trên thế giới đồng thuận xây dựng thành Chương trình nghị sự cho từng thời kỳ phát triển của lịch sử

Ở Việt Nam, quan điểm phát triển bền vững đã được khẳng định trong Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25 tháng 6 năm 1998 của Bộ Chính trị "Bảo vệ môi trường là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của tất cả các cấp, các ngành, là cơ sở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước"

Năm 2005 Luật bảo vệ môi trường đã nêu: “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường”

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2010-2020 được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng thông qua đã khẳng định quan điểm phát triển đất nước là ''Phát triển kinh tế - xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu''

Phát triển bền vững đã trở thành đường lối, quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước Nhiều nội dung cơ bản về phát triển bền vững đã đi vào cuộc sống và dần dần trở thành xu thế tất yếu trong sự phát triển của đất nước

Các hoạt động BVMT ở nước ta trong 5 năm qua (2006-2010) ngày càng sôi động hơn, đi vào chiều sâu hơn, có hiệu quả hơn, từ việc xây dựng ban hành các chính sách và văn bản pháp luật được hoàn thiện hơn, xây dựng và phát triển tổ chức quản

lý môi trường được tăng cường hơn, các hoạt động ngăn ngừa, giảm thiểu ô nhiễm, cải thiện môi trường ngày càng có hiệu quả hơn, đầu tư ngân sách cho công tác BVMT tăng lên…, cho đến việc huy động toàn dân tham gia công tác BVMT đã có nhiều tiến bộ Những thành tựu về công tác BVMT là to lớn và đáng khích lệ

Trang 35

Nhưng phát triển bền vững về mặt môi trường ở nước ta trong thời gian qua còn nhiều vấn đề bất cập và tồn tại, tập trung ở 5 vấn đề bức xúc chính: ô nhiễm môi trường tiếp tục gia tăng, đa dạng sinh học suy giảm nghiêm trọng, an ninh môi trường bị đe dọa, quản lý môi trường còn nhiều bất cập, vai trò của cộng đồng chưa

được huy động đúng mức (Phạm Ngọc Đăng, Phát triển bền vững về mặt môi trường ở Việt Nam, 2012)

Chiến lược phát triển bền vững trong giai đoạn 2011-2020 (Được thủ tướng chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 432/QĐ-TTg, ngày 12 tháng 4 năm 2012) đã nêu mục tiêu: Đảm bảo điều kiện để tăng trưởng nhanh, có hiệu quả đi đôi với tiến bộ, công bằng, bảo vệ tài nguyên và môi trường, giữ vững ổn định chính trị-xã hội, bảo

vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia

1.2 Cơ sở lý luận 1.2.1 Một số khái niệm cơ bản

1 Định nghĩa môi trường

Thuật ngữ môi trường (MT) - Environment (Tiếng Anh), Tiếng Hoa: Hoàn cảnh, được các tác giả định nghĩa theo nhiều cách khác nhau:

• Định nghĩa 1: Theo nghĩa rộng nhất thì MT là tập hợp các điều kiện và hiện tượng bên ngoài có ảnh hưởng tới một vật thể hoặc sự kiện Bất cứ một vật thể, một sự kiện nào cũng tồn tại và diễn biến trong một MT

Theo Lê Văn Khoa, 2003: Đối với cơ thể sống thì “Môi trường sống” là tổng hợp những điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới đời sống và sự phát triển của cơ thể

• Định nghĩa 2: MT bao gồm tất cả những gì bao quanh sinh vật, tất cả các yếu tố vô sinh và hữu sinh có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên sự sống, phát triển và sinh sản của sinh vật (Hoàng Đức Nhuận, 2000)

Theo tác giả, MT có các thành phần chính tác động qua lại lẫn nhau:

- MT tự nhiên bao gồm nước, không khí, đất đai, ánh sáng và các sinh vật

- MT kiến tạo gồm những cảnh quan được thay đổi do con người

- MT không gian gồm những yếu tố về địa điểm, khoảng cách, mật độ, phương hướng và sự thay đổi trong MT

Định nghĩa 3: MT là một phần của ngoại cảnh, bao gồm các hiện tượng và các thực thể của tự nhiên, mà ở đó, cá thể, quần thể, loài, có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp bằng các phản ứng thích nghi của mình (Vũ Trung Tạng, 2000)

Định nghĩa 4: Đối với con người, MT chứa đựng nội dung rộng Theo định nghĩa của UNESCO (1981) thì MT của con người bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên

và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình (tập quán, niềm tin )

Trang 36

trong đó con người sống và lao động, họ khai thác các TNTN và nhân tạo nhằm thỏa mãn những nhu cầu của mình Như vậy, MT sống đối với con người không chỉ

là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển cho một thực thể sinh vật và con người mà còn là “ khung cảnh của cuộc sống, của lao động và sự vui chơi giải trí của con người”

Như vậy, có thể nêu định nghĩa chung về MT: Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật (Điều 3, Luật BVMT của VN, 2005)

2 Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch

đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác,

sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học

3 Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù

hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật

4 Biến đổi khí hậu:

"Biến đổi khí hậu trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo" (Tổng cục môi trường)

Biến đổi khí hậu - Climate Change: Sự thay đổi của khí hậu được quy trực tiếp hay gián tiếp là do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và đóng góp thêm vào sự biến động khí hậu tự nhiên trong các thời gian có thể

so sánh được (Định nghĩa của Công ước khí hậu tại Hội nghị Thượng đỉnh trái đất ở Rio de Janeiro năm 1992)

1.2.2 Bảo vệ môi trường

1.2.2.1 Khái niệm bảo vệ môi trường

BVMT không chỉ là sự bảo tồn những đối tượng hiếm đặc hữu của tự nhiên để chúng khỏi bị tiêu diệt, mà còn là việc sử dụng một cách hợp lí nguồn tài nguyên thiên nhiên, BVMT khỏi bị ô nhiễm, làm giàu thêm các tài nguyên thiên nhiên, cải tạo tình trạng của môi trường, giữ gìn và bảo tồn các phong cảnh, các di tích văn hóa lịch sử…

Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác,

sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học (Điều

3, Luật BVMT 2005)

Trang 37

1.2.2.2 Sự cần thiết phải bảo vệ môi trường

Vấn đề suy thoái môi trường hiện nay đang diễn ra trên quy mô hành tinh Nếu như các nước công nghiệp phát triển, suy thoái môi trường chủ yếu do các chất thải công nghiệp làm ô nhiễm các nguồn nước, bầu không khí…thì sự suy thoái môi trường ở các nước đang phát triển lại do sự tăng nhanh dân số, khai thác tài nguyên không hợp lí để phục vụ cho các nhu cầu trước mắt của mình

Đất nước ta cũng đang đứng trước tình trạng suy thoái môi trường, một số tài nguyên thiên nhiên có nguy cơ bị cạn kiệt, hiện tượng ô nhiễm môi trường có nhiều biểu hiện

Vấn đề BVMT đã trở nên cấp bách, khả năng chịu đựng của trái đất là có giới hạn:

“Mãi mãi không bao giờ có sự lựa chọn hợp lí nào khác cả, nếu chúng ta không biết

sử dụng tài nguyên của trái đất một cách lâu bền và thông minh thì tương lai của loài người sẽ bị hủy hoại”

1.2.3 Giáo dục bảo vệ môi trường

1.2.3.1 Quan niệm về giáo dục bảo vệ môi trường

Giáo dục bảo vệ môi trường thường được gọi ngắn gọn là giáo dục môi trường (GDMT) Định nghĩa GDMT thường được gắn với mục tiêu của GDMT Định nghĩa được chấp nhận một cách phổ biến nhất do hội nghị quốc tế về GDMT của Liên hợp quốc tổ chức tại Tbilisi năm 1977 đưa ra: “GDMT là tiến trình giáo dục có mục đích để thức tỉnh cư dân trên thế giới nhận thức và quan tâm đến môi trường và các vấn đề có liên quan, có sự hiểu biết, có kỹ năng quan điểm, động cơ thúc đẩy và cam kết thực hiện một cách riêng lẻ hay tập thể nhắm hướng tới những giải pháp cho khó khăn thực tại và ngăn ngừa những vấn đề môi trường mới” Mục tiêu cơ bản của GDMT là làm cho từng người và cộng đồng hiểu biết được bản chất phức tạp của môi trường tự nhiên và nhân tạo, là kết quả tương tác các mặt sinh học, vật

lý, hóa học, xã hội, kinh tế và văn hóa, có được tri thức, thái độ và các kỹ năng thực

tế để tham gia có hiệu quả và có trách nhiệm vào việc tiên đoán và giải quyết các vấn đề môi trường và quản lý chất lượng của môi trường

GDMT cũng được quan niệm là: "Một quá trình giác ngộ và hành động thường xuyên, qua đó con người nhận thức về MT của họ, thu được những kiến thức, giá trị, kỹ năng, kinh nghiệm, sự đoàn kết trong hành động, giải quyết các vấn đề MT hiện tại và tương lai, để đáp ứng các yêu cầu của các thế hệ hiện nay mà không vi

phạm đến khả năng đáp ứng các nhu cầu thế hệ tương lai" (Dự án VIE/95/041, 1997)

GDMT là một phương pháp tiếp cận xuyên bộ môn giúp cho mọi người hiểu về môi trường với mục đích hàng đầu là chăm sóc, phát triển và có thái độ cam kết,

Trang 38

thái độ này sẽ nuôi dưỡng niềm mong ước và năng lực hành động có trách nhiệm trong môi trường GDMT không chỉ kiến thức mà còn tình cảm, thái độ, kỹ

năng và hành động xã hội (Hoàng Đức Nhuận, 1999)

1.2.3.2 Tính cấp thiết của việc dục bảo vệ môi trường 1.2.3.2.1 Sự cần thiết phải giáo dục bảo vệ môi trường trong trường học

Những hiểm họa suy thoái môi trường đang ngày càng đe dọa cuộc sống của loài người Nguyên nhân cơ bản gây ô nhiễm và suy thoái môi trường là do sự thiếu hiểu biết, thiếu ý thức của con người

Giáo dục BVMT là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất, kinh tế nhất và có tính bền vững trong các biện pháp để thực hiện mục tiêu BVMT và phát triển bền vững đất nước Thông qua giáo dục, từng người và cộng đồng được trang bị kiến thức, ý thức BVMT, năng lực phát hiện và xử lý các vấn đề môi trường

Giáo dục bảo vệ môi trường còn góp phần hình thành nhân cách người lao động mới, người chủ tương lai của đất nước - người lao động, người chủ có thái độ thân thiện với môi trường, phát triển kinh tế hài hòa với việc BVMT, bảo đảm nhu cầu của hôm nay mà không phương hại đến các thế hệ mai sau Giáo dục BVMT là vấn

đề có tính chiến lược của mỗi quốc gia và toàn cầu

Nước ta có khoảng 23 triệu học sinh, sinh viên các cấp và gần một triệu giáo viên, cán bộ quản lý và cán bộ giảng dạy Đây là một lực lượng khá hùng hậu Việc trang

bị các kiến thức về môi trường, kĩ năng BVMT cho số đối tượng này cũng có nghĩa

là cách nhanh nhất làm cho gần một phần ba dân số hiểu biết về môi trường Đây cũng chính là lực lượng xung kích hùng hậu nhất trong công tác tuyên truyền BVMT cho gia đình và cộng đồng dân cư của khắp các địa phương cả nước Hơn nữa, 37.509 trường học cùng các cơ sở Giáo dục và Đào tạo cũng là những trung tâm văn hóa của địa phương, là nơi có điều kiện để thực thi các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đất nước

Là nền tảng của nền giáo dục quốc dân, với gần 18 triệu học sinh, chiếm hơn 20% dân số, và gần 80% tổng số học sinh, sinh viên toàn quốc, giáo dục phổ thông giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc hình thành nhân cách người lao động mới Tác động đến 18 triệu học sinh phổ thông là tác động đến hơn 20% dân số - chủ nhân tương lai của đất nước Nếu đội ngũ này có sự chuyển biến về nhận thức, tư tưởng

và hành vi, tất yếu sẽ có thay đổi lớn trong công tác BVMT

Đích quan trọng của giáo dục BVMT không chỉ làm cho mọi người hiểu rõ sự cần thiết phải BVMT mà quan trọng là phải có thói quen, hành vi ứng xử văn minh, lịch

sự với môi trường Điều này phải được hình thành trong một quá trình lâu dài và phải bắt đầu ngay từ tuổi ấu thơ Trong những năm học phổ thông, học sinh không

Trang 39

những được tiếp xúc với thầy, cô giáo, bạn bè mà còn được tiếp xúc với khung cảnh trường lớp, bãi cỏ, vườn cây,… Việc hình thành cho học sinh tình yêu thiên nhiên, sống hòa đồng với thiên nhiên, quan tâm đến thế giới xung quanh, có thói quen sống ngăn nắp, vệ sinh phụ thuộc rất nhiều vào nội dung và cách thức giáo dục của chúng ta Giáo dục BVMT phải được đưa vào chương trình giáo dục phổ thông nhằm bồi dưỡng tình yêu thiên nhiên, bồi dưỡng những xúc cảm, xây dựng cái thiện trong mỗi con người, hình thành thói quen, kĩ năng BVMT

Các thầy, cô giáo cần nhận thức được tầm quan trọng của công tác giáo dục BVMT cho học sinh, có trách nhiệm triển khai công tác giáo dục BVMT phù hợp với điều kiện của nhà trường và địa phương

1.2.3.2.2 Chủ trương của Đảng và Nhà nước, của ngành Giáo dục và Đào tạo

về công tác giáo dục bảo vệ môi trường

Nội dung các văn bản được nêu trong phần 1.1.1.2 Lịch sử nghiên cứu môi trường

ở Việt nam của luận văn này

Các văn bản nêu trên đã khẳng định Đảng và Nhà nước ta đánh giá cao vai trò của công tác BVMT trong sự nghiệp phát triển bền vững quốc gia, nâng cao chất lượng cuộc sống của mọi tầng lớp nhân dân Đồng thời, qua đó cũng cho thấy tầm quan trọng của việc giáo dục BVMT nhằm nâng cao nhận thức, ý thức về môi trường và BVMT cho công dân nói chung và cho HS nói riêng

1.2.3.3 Mục đích giáo dục bảo vệ môi trường

Năm mục tiêu có quan hệ tương hỗ với nhau trong GDMT (UNESCO 1977):

- Nhận thức: Giúp cho các đoàn thể xã hội và cá nhân đạt được một sự nhận thức và

nhạy cảm đối với MT và những vấn đề có liên quan

- Kiến thức: Giúp các đoàn thể xã hội và cá nhân tích luỹ được nhiều kinh nghiệm

khác nhau, có được sự hiểu biết cơ bản về MT

- Thái độ: Giúp các đoàn thể xã hội và cá nhân hình thành được những giá trị về

MT, có ý thức quan tâm đến các vấn đề MT, có những hành động tham gia tích cực vào việc bảo vệ và cải thiện MT

- Kỹ năng: Giúp các đoàn thể xã hội và cá nhân có được những kỹ năng trong việc

xác định và giải quyết các vấn đề MT

- Tham gia: Tạo cơ hội cho các đoàn thể xã hội và các cá nhân tham gia một cách

tích cực vào việc BVMT và giải quyết những vấn đề MT ở mọi cấp

Qua các định nghĩa về GDMT nêu trên ta có thể rút ra nhận xét tổng quát rằng, GDMT nói chung (không phân biệt giáo dục cho đông đảo nhân dân, cho các HS phổ thông hay giáo dục cho sinh viên Đại học, Cao đẳng, trung học chuyên nghiệp)

có mục tiêu đem lại cho đối tượng được giáo dục các vấn đề sau:

Trang 40

- Hiểu biết bản chất các vấn đề MT: Tính phức tạp, quan hệ nhiều mặt, nhiều chiều, tính hạn chế của tài nguyên thiên nhiên và khả năng chịu tải của MT, quan hệ chặt chẽ giữa MT và phát triển, giữa MT địa phương, vùng, quốc gia, khu vực và toàn cầu Mục tiêu này thực chất là trang bị cho các đối tượng được giáo dục các kiến thức về MT

- Nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của các vấn đề MT như một nguồn lực để sinh sống, lao động và phát triển, đối với bản thân họ cũng như đối với cộng đồng, quốc gia của họ và quốc tế, từ đó có thái độ, cách ửng xử đúng đắn trước vấn đề

MT, xây dựng cho mình quan niệm đúng đắn và ý thức trách nhiệm, về giá trị nhân cách để dần hình thành các kỹ năng thu nhập số liệu và phát triển sự đánh giá thẩm

mỹ Như vậy, mục tiêu này có định hướng xây dựng thái độ, cách đối xử thân thiện với MT

- Tri thức, kỹ năng, phương pháp hành động để nâng cao năng lực trong việc lựa chọn phong cách sống thích hợp với việc sử dụng một cách hợp lí và khôn ngoan các nguồn tài nguyên thiên nhiên để họ có thể tham gia có hiệu quả vào việc phòng ngừa và giải quyết các vấn đề MT nơi họ ở và làm việc Đây là mục tiêu về khả năng hành động cụ thể

Ba mục tiêu trên được biểu diễn theo sơ đồ 1.1 dưới đây:

Sơ đồ 1.1: Ba mục tiêu giáo dục môi trường (Theo Hoàng Đức Nhuận, 1999)

Mục đích cuối cùng của GDMT là tiến tới xã hội hoá các vấn đề môi trường, tạo ra những công dân có nhận thức, có trách nhiệm về môi trường và biết sống vì môi trường theo những nấc thang sau đây:

Sơ đồ 1.2: Mục đích của giáo dục môi trường

Hiểu biết về môi trường

- Vấn đề

- Nguyên nhân

- Hậu quả

Thái độ đúng đắn về môi trường

Nhà chuyên môn thấu hiểu

về MT

Ngày đăng: 21/08/2023, 01:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm