1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng thí nghiệm hóa học trong dạy học hóa học lớp 8 thcs theo hướng dạy học tích cực luận văn thạc sỹ hóa học

72 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sử dụng Thí Nghiệm Hóa Học Trong Dạy Học Hóa Học Lớp 8 ThCS Theo Hướng Dạy Học Tích Cực
Tác giả Trần Lâm Ngọc Phương Nhung
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Thị Sửu
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Giáo dục
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Đồng Tháp
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 861,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRẦN LÂM NGỌC PHƯƠNG NHUNG SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM HÓA HỌC TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC LỚP 8 THCS THEO HƯỚNG DẠY HỌC TÍCH CỰC Chuyên ngành: Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn hóa học Mã số: 6

Trang 1

TRẦN LÂM NGỌC PHƯƠNG NHUNG

Trang 2

TRẦN LÂM NGỌC PHƯƠNG NHUNG

SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM HÓA HỌC TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC LỚP 8 THCS

THEO HƯỚNG DẠY HỌC TÍCH CỰC

Chuyên ngành: Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn hóa học

Mã số: 60.14.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS NGUYỄN THỊ SỮU

ĐỒNG THÁP – 2012

Trang 3

Để hoàn thành luận văn ngoài sự cố gắng và nổ lực của bản thân còn có sự

giúp đỡ tận tình của các thầy cô, đồng nghiệp, bạn bè, các em học sinh và người

thân Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc cho phép tôi xin được gửi lời

cám ơn đến:

- PGS.TS Nguyền Thị Sửu, cô hướng dẫn của tôi dù ở xa nhưng cô đã tận tình

chỉ bảo và giúp đỡ cho tôi những kiến thức chuyên môn vô cùng quí báu cũng như

luôn quan tâm, động viên tôi trước những khó khăn để tôi hoàn thành đề tài tốt nhất

- Tất cả quý thầy cô đã giúp đỡ tận tình trong quá trình học tập của tôi, thầy cô

đã cung cấp nhiều kiến thức và tư liệu quan trọng để tôi có thể hoàn thành luận văn

- Bạn đồng nghiệp và bạn bè đã hỗ trợ tôi về chuyên môn, góp ý cho tôi khi tiến

hành giảng dạy

- Ban giám hiệu và tập thể giáo viên của trường THCS Phú Hựu, trường THCS

An Hiệp, trường THCS Tân Phú Trung, trường THCS An Khánh,… trên địa bàn

Huyện Châu Thành Tỉnh Đồng Tháp đã giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất để tôi

hoàn thành luận văn này

- Các em học sinh đã cùng hợp tác để hoàn thành phần thực nghiệm sư phạm tốt

nhất

- Cuối cùng là cám ơn gia đình của tôi những người luôn tạo mọi điều kiện tốt

nhất về tinh thần, về vật chất, thời gian,… và luôn bên tôi trong suốt thời gian tôi

thực hiện mơ ước của mình

Dù đã hết sức cố gắng, song chắc chắn luận văn không tránh khỏi những thiếu

sót, tác giả xin được chia sẻ và rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu

của quý thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp

Tác giả

Trần Lâm Ngọc Phương Nhung

Trang 4

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài 2

3 Mục đích nghiên cứu 3

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

5 Giải thuyết khoa học 4

6 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Đóng góp của luận văn 5

Trang 5

trường THCS huyện Châu Thành tỉnh Đồng Tháp 20

Chương 2: SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM HÓA HỌC TRONG DẠY HỌC

2.1.4 Phân tích nội dung chương Oxi – Không khí, Hiđro – Nước

2.2 Hệ thống thí nghiệm hoá học dùng trong chương Oxi –Không khí,

2.3 Phương pháp sử dụng thí nghiệm chương Oxi – Không khí,

2.4 Thiết kế giáo án bài dạy có sử dụng thí nghiệm theo hướng

2.4.1 Những chú ý khi thiết kế giáo án bài dạy có sử dụng thí nghiệm

Trang 6

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 45

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CT

ĐC

TN ĐTBC

TB ĐHSP (đktc)

PT PTHH PTN PPDH SGK THCS THPT

tr

Công thức Đối chứng Thực nghiệm Điểm trung bình chung Trung bình

Đại học sư phạm điều kiện tiêu chuẩn Giáo dục

Giáo sư Giáo viên Học sinh Khử Oxy hóa Phương trình Phương trình hóa học Phòng thí nghiệm Phương pháp dạy học Sách giáo khoa Trung học cơ sở Trung học phổ thông Trang

Trang 8

DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH

Danh muc các hình

Trang 9

Đứng trước tình hình đó Hội nghị Ban Chấp Hành Trung ương Đảng lần thứ hai khoá VIII đã xác định: Cùng với Khoa học – Công nghệ, Giáo dục & Đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển Cũng trong Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI một lần nữa khẳng định: “Đổi mới tư duy giáo dục một cách căn bản và toàn diện, từ mục tiêu chương trình, nội dung, phương pháp đến cơ cấu và hệ thống tổ chức, cơ chế quản lý để tạo bước chuyển biến cơ bản và toàn diện của nền giáo dục nước nhà, tiếp cận với trình độ giáo dục của khu vực và thế giới”

Chính vì vậy, vấn đề cấp bách được đặt ra trong các nhà trường hiện nay là nâng cao chất lượng dạy và học Để nâng cao chất lượng dạy và học thì việc nâng cao chất lượng các điều kiện hỗ trợ cho dạy và học cũng rất quan trọng như cơ sở vật, các trang thiết bị dạy học Cũng như việc thay đổi các phương pháp dạy học phù hợp cho đặc trưng từng bộ môn cũng quyết định sự đến sự thành công trong công tác dạy học Do đó trong quá trình giảng dạy các bộ môn khoa học thì Hóa học là môn học cần sử dụng các thí nghiệm hóa học để chứng minh, kiểm nghiệm các kết luận khoa học.Tuy nhiên việc sử dụng thí nghiệm hóa học trong dạy học hóa học ở các trường Trung học cơ sở của Huyện Châu Thành chưa được đội ngũ giáo viên chú trọng sử dụng một cách linh hoạt và thường xuyên trong các dạng bài dạy Đồng thời việc sử dụng thí nghiệm còn thực hiện ở dạng minh hoạ cho lới giảng của giáo viên Các hình thức sử dụng thí nghiệm làm nguồn kiến thức để tổ chức các hoạt động tìm tòi, khám phá, tự kiến tạo kiến thức cho học sinh còn ít được chú ý Như vậy việc nghiên cứu sử dụng thí nghiệm theo hướng dạy học tích cực áp dụng

ở trường THCS còn chưa được nghiên cứu một cách hệ thống và chú ý đúng mức

Trang 10

Tính đến nay toàn huyện Châu Thành xây dựng được 12 trường THCS nhưng điều kiện hóa chất – dụng cụ và phòng thí nghiệm để tiến hành đầy đủ các dạng thí nghiệm thì mới đáp ứng được ở một vài trường Do đó vấn đề đặt ra là phải tìm ra các hình thức sử dụng các thí nghiệm hóa học trong dạy học sao cho phù hợp với điều kiện của từng trường để phát huy được tính tích cực học tập của học sinh Vì vậy, việc tìm ra các hình thức sử dụng thí nghiệm hóa học trong dạy học theo hướng dạy học tích cực ở trường THCS là một trong những nhiệm vụ cấp thiết cần nghiên cứu để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục THCS của huyện Châu Thành cũng như hệ thống giáo dục THCS

Với các lí do trên tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Sử dụng thí nghiệm hóa học

trong dạy học Hóa học lớp 8 THCS theo hướng dạy học tích cực”cho luận văn tốt nghiệp của mình

2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU CỦA VẤN ĐỀ:

Đề tài về thí nghiệm hóa học ở trường phổ thông Việt Nam đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu như sau:

Luận án tiến sĩ “Hoàn thiện hệ thống thí nghiệm hóa học để nâng cao chất

lượng dạy học ở trường PTCS Việt Nam” – tác giả Trần Quốc Đắc, trường ĐHSP

Hà Nội (1992) Luận án đã xây dựng được hệ thống các thí nghiệm hóa học ở trường THCS gồm 105 thí nghiệm biểu diễn và 27 thí nghiệm thực hành; đề xuất dụng cụ thí nghiệm cải tiến cách sử dụng, cách tiến hành có kết quả Luận án có tính khoa học

và có giá trị thực tiễn, có thể vận dụng một phần nào những kết quả nghiên cứu ở chương trình THCS sang THPT

Luận văn thạc sĩ “Một số biện pháp nâng cao chất lượng rèn luyện kiến thức –

kỹ năng thí nghiệm trong chương trình hóa học 10 nâng cao cho học sinh theo hướng dạy học tích cực” – tác giả Đỗ Thị Bích Ngọc, trường ĐHSP Thành phố Hồ

Chí Minh (2009)

Luận văn đã đề xuất năm biện pháp rèn luyện kỹ năng thí nghiệm cho học sinh theo hướng dạy học tích cực; xây đựng được hệ thống các thí nghiệm cùng bài tập thực nghiệm, bài tập hình vẽ và phương pháp sử dụng chúng, tuy nhiên luận văn chủ yếu đề cập GV làm thí nghiệm biểu diễn ít nêu các phương pháp cho HS tiến hành thí nghiệm

Trang 11

Luận văn thạc sĩ “ Sử dụng thí nghiệm trong dạy học môn hóa lớp 10, 11

trường THPT tỉnh Đaklak” – tác giả Võ Phương Uyên, trường ĐHSP thành phố Hồ

Chí Minh (2009)

Luận văn xác định được danh mục các thí nghiệm lớp 10, 11; đưa ra một số biện pháp cải tiến thí nghiệm; giới thiệu một số giáo án Tuy nhiên luận văn cũng chủ yếu đề cặp đến vấn đề GV làm thí nghiệm biểu diễn, HS làm thí nghiệm minh họa

Luận văn thạc sĩ “Một số biện pháp nâng cao chất lượng rèn luyện kiến thức –

kĩ năng thí nghiệm cho học sinh THCS theo hướng dạy học tích cực” – tác giả

Nguyễn Thị Đào, trường ĐHSP thành phố Hồ Chí Minh (2008)

Luận văn đã đề xuất các biện pháp rèn luyện kiến thức – kĩ năng thí nghiệm cho HS; bài tập có liên quan đến kĩ năng thực hành khi nghiên cứu bài mới, khi hoàn thiện kiến thức kĩ năng thí nghiệm, khi kiểm tra đánh giá,…

Luận văn thạc sĩ “Sử dụng thí nghiệm hóa học phần phi kim lớp 10 trung học

phổ thông theo hướng dạy học tích cực” – tác giả Hoàng Thị Thu Hà, trường ĐHSP

thành phố Hồ Chí Minh (2011) Luận văn đã đề xuất các biện pháp sử dụng thí nghiệm hóa học ở các dạng bài lên lớp khác nhau để giúp học sinh phát huy tính tích cực trong học tập, tuy nhiên vẫn còn giới hạn ở chương trình lớp 10

Như vậy các đề tài nghiên cứu sử dụng thí nghiệm hóa học trong dạy học hóa học còn tập trung chủ yếu ở THPT Việc nghiên cứu sử dụng thí nghiệm hóa học theo hướng dạy học tích cực ở THCS chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống

và đầy đủ

3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu sử dụng thí nghiệm hoá học lớp 8 THCS theo hướng dạy học tích cực nhằm tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh, góp phần đổi mới PPDH và nâng cao chất lượng dạy học hoá học trường THCS

4 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU:

4.1 Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học hoá học ở trường THCS (lớp 8) 4.2 Đối tƣợng nghiên cứu: Phương pháp sử dụng thí nghiệm trong dạy học Hóa

học lớp 8 ở trường THCS

5 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC:

Trang 12

Nếu giáo viên sử dụng thí nghiệm hoá học theo hướng dạy học tích cực có sự kết hợp hợp lí với các phương pháp dạy học khác thì sẽ phát huy được tính tích cực nhận thức của học sinh và nâng cao hiệu quả dạy học hoá học ở trường THCS

6 NHIỆM VỤ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

6.1 Nhiệm vụ nghiên cứu:

6.1.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài về dạy học tích cực; thí nghiệm hóa học trong dạy học, chương trình hoá học THCS đi sâu vào chương: Oxi - Không khí

và chương: Hiđro – Nước hóa học lớp 8

6.1.2 Đánh giá thực trạng sử dụng thí nghiệm hóa học trong dạy học hóa học ở một số trường Trung học cơ sở huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp

6.1.2 Đề xuất một số phương pháp sử dụng thí nghiệm hóa học trong dạy học hóa học theo hướng dạy học tích cực ở trường Trung học cơ sở

6.1.3 Thiết kế bài dạy có sử dụng thí nghiệm hoá học lớp 8 THCS theo hướng dạy học tích cực

6.1.4 Thực nghiệm sư phạm đánh giá hiệu quả, tính khả thi của các đề xuất

6.2 Phạm vi nghiên cứu:

Nước” hóa học lớp 8 THCS

7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

7.1 Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Đọc và nghiên cứu tài liệu, phân

tích, tổng hợp tài liệu lí luận có liên quan đến đề tài

7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, điều tra thực trạng, trao

đổi kinh nghiệm với giáo viên, chuyên gia, tiến hành thực nghiệm sư phạm

7.3 Các phương pháp xử lí thông tin: Dùng thống kê toán học trong xử lí kết

quả thực nghiệm sư phạm và đánh giá kết luận

8 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI:

- Tổng quan một cách hệ thống về dạy học tích cực và sử dụng thí nghiệm dạy

học theo hướng dạy học tích cực

- Đề xuất phương pháp sử dụng thí nghiệm theo hướng dạy học tích cực hoá học lớp 8 nhằm tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh ở trường THCS

Trang 13

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 DẠY HỌC TÍCH CỰC:

1.1.1.Khái niệm tính tích cực và dạy học tích cực:

Theo tác giả Phó Đức Hòa và Ngô Quang Sơn [13]

- Tính tích cực là một phẩm chất của con người trong đời sống xã hội Khác với động vật, con người không chỉ tiêu thụ những gì có sẵn trong thiên nhiên mà còn chủ động sản xuất ra những của cải vật chất cần thiết cho sự sống, sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Từ đây, con người bộc lộ năng lực sáng tạo, khả năng khám phá, tạo ra các nền văn minh ở mỗi thời đại, chủ động cải biến môi trường tự nhiên cũng như môi trường xã hội

- Quá trình hình thành và phát triển tính tích cực của con người trong đời sống

xã hội hiện nay là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục Chính thông qua giáo dục sẽ đào tạo nên những con người năng động, sáng tạo, chủ động, tích cực trong công việc, biết thích ứng với mọi hoàn cảnh khác nhau góp phần cải tạo

và phát triển cộng đồng Như vậy, có thể xem tính tích cực vừa là điều kiện vừa là kết quả cuả sự phát triển nhân cách trong quá trình giáo dục tổng thể

- Tính tính cực là sự biến đổi hoạt động tâm lý bên trong của mỗi con người và được thể hiện ra bên ngoài bằng hiệu quả và chất lượng công việc Sự biến đổi bên trong đó càng linh hoạt bao nhiêu thì hiệu quả và chất lượng công việc càng cao bấy nhiêu

- Tính tích cực được biểu hiện trong hoạt động của mỗi người, đặc biệt là các hoạt động mang tính chủ động thông qua chủ thể Trong giáo dục, hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo của chủ thể giáo dục Tính tích cực trong học tập, về bản chất là tính tích cực nhận thức, sự mong muốn hiểu biết và có khát vọng chiếm lĩnh tri thức về thế giới khách quan

1.1.2 Các biểu hiện của tính tích cực học tập của học sinh [13], [16], [21]

Tính tích cực là tinh thần học tập chăm chỉ, bền bỉ của HS trên cơ sở nhận thức

rõ mục đích học tập

Trang 14

Theo xu hướng đổi mới phương pháp dạy học, quá trình dạy học chủ yếu là quá trình HS tự học, tự nhận thức, tự khám phá tìm tòi các tri thức hóa học một cách chủ động, tích cực, là quá trình tự phát hiện và giải quyết các vấn đề

HS có thể tiến hành một số hoạt động sau:

- Tự phát hiện vấn đề hoặc nắm bắt vấn đề do GV đưa ra

- Hoạt động cá nhân hoặc hợp tác theo nhóm nhỏ để tìm tòi, giải quyết các vấn

đề đặt ra

- Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã biết để giải thích một số hiện tượng hóa học, giải quyết một số vấn đề xảy ra trong đời sống và sản xuất

- Tự học, tự đánh giá việc nắm bắt kiến thức của bản thân và mhóm

Trong tình hình cụ thể hiện nay, việc đổi mới phương pháp dạy học hóa học phải làm cho học sinh:

- Được hoạt động nhiều hơn, suy nghĩ nhiều hơn

-Tích cực, tự giác, chủ động chiếm lĩnh kiến thức – kĩ năng, thu thập, xử lí, trình bày, trao đổi thông tin

- Có ý thức và biết cách vận dụng các kiến thức hóa học đã học vào thực tế đời sống

- Hăng hái phát biểu ý kiến xây dựng bài

- Tích cực trình bày các vấn đề được nêu

- Hay nêu thắc mắc

- Không thỏa mãn với các câu trả lời của mọi người, kể cả câu trả lời của bản thân

- Chịu khó tư duy trước các vấn đề khó

- Kiên trì giải quyết các bài tập theo nhiều cách khác nhau

1.1.3 Các biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh: [16], [21]

Phát huy tính tích cực nhận thức không phải là vấn đề mới Từ thời cổ đại, các nhà sư phạm tiền bối như Khổng Tử, Aritstot,… đã từng nói đến tầm quan trọng to lớn của việc phát huy tính tích cực, chủ động của HS và đã nói lên nhiều biện pháp phát huy tính tính cực nhận thức

Trang 15

J.A.Komenxki – nhà sư phạm lỗi lạc của thể kỉ XVII đã đưa ra những biện pháp dạy học bắt HS phải tìm tòi, suy nghĩ để tự nắm bắt được bản chất của sự vật, hiện tượng

J.J.Ruxô – nhà giáo dục học của thế kỉ XIX thì cho rằng người GV tồi là những người cung cấp cho HS chân lí, người GV giỏi là người dạy cho họ tìm ra chân lí K.D.Usiinxki – nhà sư phạm lỗi lạc của thế kỉ XIX nhấn mạnh tầm quan trọng của việc điều khiển, dẫn dắt HS của giáo viên

Trong thế kỉ XX, các nhà giáo đều tìm kiếm con đường tích cực hóa hoạt động dạy học Chúng ta thường kể đến tư tưởng của các nhà giáo dục nổi tiếng như B.P.Exipôp, M.A.Danilôp (Liên Xô), Okon (Ba Lan), Skinner (Mĩ) … Ở Việt Nam, các nhà lý luận dạy học cũng đã viết rất nhiều về tính tích cực nhận thức, tư tưởng dạy học tích cực đã là một chủ trương quan trọng của ngành giáo dục nước ta Các biện pháp nâng cao tính tích cực nhận thức của HS trong giờ lên lớp được phản ánh tóm tắt như sau:

- Sử dụng thiết bị, thí nghiệm hóa học chủ yếu là nguồn thông tin để HS nghiên cứu, khai thác tìm tòi kiến thức hóa học Hạn chế sử dụng chúng để minh họa hình ảnh, kết quả thí nghiệm mà không có tác dụng khắc sâu kiến thức

- Sử dụng câu hỏi và bài tập hóa học như là nguồn tích cực chủ động nhận thức kiến thức, hình thành kĩ năng và vận dụng tích cực các kiến thức, kĩ năng đã học

- Sử dụng SGK hóa học như là nguồn tư liệu để HS, tự học, tự nghiên cứu, tích cực nhận thức, thu thập thông tin và xử lí thông tin có hiệu quả

- Tự học kết hợp với hợp tác theo nhóm nhỏ trong học tập hóa học theo hướng giúp HS có khả năng tự học, khả năng hợp tác cùng học, cùng nghiên cứu để giải quyết một số vấn đề trong học tập hóa học và một số vấn đề thực tiễn đơn giản có liên quan đến hóa học Sử dụng các hình thức tổ chức dạy học khác nhau: cá nhân, nhóm, tập thể, tham quan, làm việc trong phòng thí nghiệm (PTN)…

- Chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin để đổi mới phương pháp dạy học, sử dụng các phương tiện dạy học, đặc biệt ở các lớp nhỏ Dụng cụ trực quan có tác dụng tốt trong việc kích thích hứng thú của HS

- Nêu và giải quyết vấn đề trong dạy học hóa học theo hướng giúp HS không tiếp thu kiến thức một chiều Thông qua các tình huống có vấn đề trong học tập hoặc vấn đề thực tiễn giúp HS phát triển tư duy sáng tạo và năng lực giải quyết vấn đề

Trang 16

- Phải phối hợp sử dụng các phương pháp dạy học như: nêu vấn đề và giải quyết vấn đề, đàm thoại, tìm tòi, thuyết trình, dạy học theo dự án, dạy học theo góc, theo họp đồng, làm việc độc lập để đa dạng hóa các hoạt động của HS trong giờ học

- Phải giúp HS hiểu rõ mục đích trong học tập, nhận thức được ý nghĩa quan trọng của việc học tập nâng cao trách nhiệm và nghĩa vụ đối với việc học Đây chính là sự đảm bảo quan trọng của tính tự giác tích cực trong học tập

- Phải nuôi dưỡng, rèn luyện cho HS phương pháp tự học và cảm hứng học tập trong mình, kích thích lòng mong muốn học tập, tinh thần hăng say học tập Đây là yếu tố tác động chính đến thái độ học tập tự giác tích cực của HS

- Phải bồi dưỡng năng lực tự học, đặc biệt là tính tự giác học và khả năng sáng tạo trong việc học Đây chính là điều kiện quan trọng của thái độ học tập tự giác tích cực

1.1.4 Khái niệm phương pháp dạy học tích cực:

Luật giáo dục ( điều 28) yêu cầu:

Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với từng đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh

Thuật ngữ “Phương pháp dạy học tích cực” được dùng để chỉ những phương pháp dạy học hoặc giáo dục nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học

Phương pháp dạy và học tích cực đề cặp đến các hoạt động dạy và học nhằm tích cực hóa hoạt động học tập và phát triển tính sáng tạo của người học Trong đó, các hoạt động học tập được tổ chức, định hướng bởi giáo viên, người học không thụ động, chờ đợi mà tự lực, tích cực tham gia vào quá trình tìm kiếm, khám phá, phát hiện kiến thức, vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề trong thực tiễn, qua đó lĩnh hội nội dung học tập và phát triển năng lực sáng tạo

Phương pháp dạy học tích cực là một khái niệm bao gồm nhiều phương pháp, hình thức, kĩ thuật cụ thể khác nhau nhằm tích cực hóa, tăng cường sự tham gia của

HS, tạo điều kiện cho HS phát triển tối đa khả năng học tập, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề

1.1.5 Nét đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực:

Trang 17

Các dấu hiệu đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực là:

- Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động của HS và chú trọng rèn luyện phương pháp tự học

Một trong những yêu cầu của dạy và học tích cực là khuyến khích HS tự khám phá những điều chưa biết trên cơ sở những điều đã biết Khi tham gia vào các hoạt động học tập, HS được đặt vào những tình huống, được trực tiếp quan sát, thảo luận, trao đổi, làm thí nghiệm, được khuyến khích đưa ra các giải pháp giải quyết vấn đề theo cách của mình, được động viên trình bày quan điểm riêng của mỗi cá nhân Qua đó không những chiếm lĩnh được kiến thức, kĩ năng mới mà còn thu nhận được cách thức xây dựng kiến thức, từ đó tính độc lập, tự chủ và sáng tạo được bộc lộ và rèn luyện phát triển

Trong dạy học cần rèn luyện cho HS phương pháp tự học Nếu HS có được phương pháp, kĩ năng, thói quen và ý chí tự học thì sẽ tạo cho các em lòng say mê học tập, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi HS và kết quả học tập sẽ được tăng lên

- Tăng cường hoạt động học tập của mỗi cá nhân phối hợp với học hợp tác trong dạy học tích cực, GV cần quan tâm đến sự phân hóa về trình độ, nhận thức, cường độ, tiến độ hoàn thành các môn học của mỗi HS Trên cơ sở đó mà xây dựng các bài tập, nhiệm vụ phù hợp với khả năng của mỗi cá nhân nhằm phát huy khả năng tối đa của HS

Để HS có điều kiện bộc lộ, phát triển khả năng của mình cần đặt họ vào môi trường học tập hợp tác trong các mối quan hệ GV – HS, HS – HS Trong các mối quan hệ tương tác đó, HS không chỉ học được qua GV mà còn học được qua bạn, sự chia sẽ kinh nghiệm sẽ kích thích tính tích cực, chủ động của mỗi cá nhân, đồng thời hình thành và phát triển ở HS năng lực tổ chức, điều khiển, lãnh đạo, các kĩ năng hợp tác, giao tiếp, trình bày, giải quyết vấn đề

- Kết hợp đánh giá của GV với tự đánh giá của HS

Trong dạy học tích cực, đánh giá không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học tập của HS mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động của GV

Tự đánh giá là một hình thức mà HS tự liên hệ phần nhiệm vụ đã thực hiện với các mục tiêu của quá trình học tập HS sẽ học cách đánh giá các nỗ lực và tiến bộ, nhìn lại quá trình và phát hiện những điểm cần thay đổi để hoàn thiện bản thân Tự

Trang 18

đánh giá không chỉ đơn thuần là tự mình cho điểm số mà là sự đánh giá những nổ lực, quá trình và kết quả, mức độ cao hơn là HS có thể phản hồi lại quá trình học tập của mình

Kết hợp đánh giá của thầy và đánh giá của trò không những giúp HS nhìn nhận chính mình để điều chỉnh cách học mà GV cũng cõ điều kiện để điều chỉnh cách dạy của mình

1.2 THÍ NGHIỆM HOÁ HỌC TRONG DẠY HỌC:

1.2.1 Vai trò của thí nghiệm trong dạy học hoá học: [1], [3], [31]

Thí nghiệm hóa học có ý nghĩa to lớn trong dạy học hóa học; nó giữ vai trò cơ

bản trong việc thực hiện những nhiệm vụ của việc dạy học hóa học ở trường phổ thông Thí nghiệm hóa học là dạng phương tiện trực quan chủ yếu, có vai trò quyết định trong dạy học hóa học vì những lí do sau:

- Thí nghiệm là nền tảng của việc dạy học hóa học Thí nghiệm là phương tiện trực quan chính yếu, được dùng phổ biến và giữ vai trò quyết định trong dạy học hóa học Nó giúp HS chuyển từ tư duy cụ thể sang tư duy trừu tượng và ngược lại Khi làm thí nghiệm HS sẽ làm quen được với các chất hóa học và trực tiếp nắm bắt các tính chất lí, hóa của chúng Từ đó, HS sẽ hứng thú học tập và học môn hóa có hiệu quả hơn Nếu không dùng thí nghiệm trong dạy học hóa học thì:

+ GV sẽ tốn nhiều thời gian để giảng giải nhưng vẫn không rõ và mô tả được hết hiện tượng xảy ra trong thí nghiệm Chỉ cần HS quan sát thí nghiệm và GV nhấn mạnh những điều cần rút ra từ những thí nghiệm vừa thực hiện HS sẽ học tập môn hóa học một cách nhẹ nhàng, không bị gò bó hay áp lực nặng nề

+ HS tiếp thu kiến thức thiếu chính xác và vững chắc Các em sẽ rất mơ hồ về các phản ứng hóa học và các hiện tượng kèm theo của mỗi phản ứng đó

+ HS sẽ chóng quên khi không hiểu bài, không ấn tượng sâu sắc bằng các hình ảnh cụ thể Hình ảnh cụ thể thường dễ nhớ hơn so với ngôn ngữ trừu tượng, nhất là đối với các em HS trung học cơ sở

- Thí nghiệm là cầu nối giữa lí thuyết và thực tiễn, là tiêu chuẩn để đánh giá tính chân thực của kiến thức, hỗ trợ đắc lực cho tư duy sáng tạo Đối với bộ môn hóa học, thực hành thí nghiệm sẽ giúp cho HS làm sáng tỏ những vấn đề lý thuyết đã học, từ đó mà hiểu sâu sắc và nắm vững nội dung lí thuyết cơ bản trong giáo trình lý thuyết Thí nghiệm giúp nâng cao lòng tin của HS vào khoa học và phát triển tư duy

Trang 19

của HS Đồng thời nó cũng là phương tiện duy nhất giúp hình thành ở HS kĩ năng,

kĩ xảo thực hành và tư duy kĩ thuật

- Giúp rèn luyện kỹ năng thực hành Trong tất cả các thí nghiệm khoa học, đặc biệt là thí nghiệm về hóa học, nếu không cẩn thận sẽ gây ra nguy hiểm có khi dẫn đến tử vong Khi thực hành thí nghiệm, HS phải làm đúng các thao tác cần thiết, sử dụng lượng hóa chất thích hợp nên HS vừa tăng cường sự khéo léo và kĩ năng thao tác, vừa phát triền kĩ năng giải quyết vấn đề Từ đó HS sẽ hình thành những đặc tính cần thiết của người lao động mới: cẩn thận, ngăn nấp, kiên trì, trung thực, chính xác, khoa học,…Đây là điều thí nghiệm ảo không làm được.Thí nghiệm do tự tay

GV làm các thao tác rất mẫu mực sẽ là khuôn mẫu cho trò học tập và bắt chước, để rồi sau đó HS làm thí nghiệm theo đúng cách thức đó Do vậy có thể nói thí nghiệm

do GV trình bày sẽ giúp HS hình thành những kĩ năng thí nghiệm đầu tiên ở HS một cách chính xác

- Thí nghiệm giúp HS phát triển tư duy, hình thành thế giới quan duy vật biện chứng Khi tự tay làm thí nghiệm hoặc được tận mắt nhìn thấy những hiện tượng hóa học xảy ra, HS sẽ tin tưởng vào kiến thức đã học và cũng thêm tin tưởng vào chính bản thân mình Thí nghiệm là cơ sở, điểm xuất phát cho quá trình học tập – nhận thức của HS Từ đây xuất phát quá trình nhận thức cảm tính của HS, để rồi sau

đó diễn ra sự trừu tượng hóa và sự tiến đến cụ thể trong tư duy

- Thí nghiệm gây hứng thú cho HS trong học tập Nếu HS quan sát những thí nghiệm hấp dẫn, HS sẽ muốn khám phá chúng để làm rõ quá trình biến đổi của chất Từ đó HS sẽ tự mình đi tìm hiểu phát hiện và giải quyết vấn đề một cách tự giác và tích cực

1.2.2 Thí nghiệm của giáo viên:[3]

Trong các hình thức thí nghiệm, thí nghiệm biểu diễn của GV là quan trọng nhất Ngoài những vai trò chung của thí nghiệm, thí nghiệm biểu diễn của GV còn

có những ưu điểm riêng như: ít tốn thời gian hơn; đòi hỏi ít dụng cụ hơn; có thể thực hiện được với những thí nghiệm phức tạp, có dùng chất nổ, chất độc hay những thí nghiệm đòi hỏi phải dùng một lượng lớn hóa chất thì mới có kết quả hoặc mới cho những kết quả đáng tin cậy

1.2.2.1 Những yêu cầu sư phạm về kỹ thuật biểu diễn thí nghiệm: Trong thí

nghiệm biểu diễn người GV nhất thiết phải tuân theo các yêu cầu sau đây:

Trang 20

Bảo đảm an toàn cho GV và HS

GV phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhân dân và pháp luật về mọi sự không may xảy ra có ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của HS Người GV nhất thiết phải tuân theo những qui định về bảo hiểm, luôn giữ hóa chất tinh khiết, dụng

cụ sạch sẽ và tốt, làm đúng kĩ thuật, luôn bình tĩnh khi tiến hành thí nghiệm thì sẽ không có gì nguy hiểm xảy ra Nắm vững kĩ thuật, kĩ năng thành thạo khi làm thí nghiệm, sự am hiểu nguyên nhân của những sự không may mắn có thể xảy ra, ý thức trách nhiệm và tính cẩn thận là những điều kiện chủ yếu để đảm bảo an toàn của thí nghiệm

Mặt khác không nên quá cường điệu những nguy hiểm của các thí nghiệm hóa học và tính độc hại của các hóa chất làm cho HS sợ hãi

Đảm bảo thành công của thí nghiệm, thí nghiệm phải có kết quả rõ ràng và bảo đảm tính khoa học

Muốn đảm bảo thí nghiệm có kết quả tốt, GV phải nắm vững kĩ thuật thí nghiệm, phải tuân theo đầy đủ và chính xác các chỉ dẫn về kĩ thuật khi lắp dụng cụ

và tiến hành thí nghiệm và phải có kĩ năng thành thạo

Vì vậy, GV phải chuẩn bị tỉ mỉ, chu đáo, thử nhiều lần trước khi biểu diễn trên lớp Không nên chủ quan cho rằng thí nghiệm đơn giản, đã làm quen nên không cần thử trước

Khi thí nghiệm bị thất bại, GV cần bình tĩnh suy nghĩ tìm ra nguyên nhân để bổ khuyết và giải quyết Không được lừa dối hoặc bắt ép HS phải công nhận kết quả trong khi thí nghiệm không thành công Việc lừa dối HS là một việc làm vừa phản khoa học, vừa phản giáo dục

Thí nghiệm phải rõ, HS phải quan sát đầy đủ

GV không đứng che lấp thí nghiệm Kích thước dụng cụ và lượng hóa chất phải

đủ lớn Bàn để biểu diễn thí nghiệm cao vừa phải Bố trí thiết bị ánh sáng như thế nào để cả lớp quan sát được rõ

Thí nghiệm phải đơn giản, dụng cụ thí nghiệm gọn gàng, mĩ thuật đồng thời phải đảm bảo tính khoa học

GV cần phát huy sáng kiến cải tiến dụng cụ thí nghiệm cho đơn giản, dùng những hóa chất dễ kiếm và rẻ tiền để thay thế thiết bị còn thiếu thốn nhưng cần đảm bảo được tính mĩ thuật và tính khoa học

Trang 21

Số lượng thí nghiệm trong một bài vừa phải, hợp lí

Cần tính toán hợp lí số lượng thí nghiệm cần biểu diễn trong bài lên lớp và thời gian dành cho mỗi thí nghiệm Chỉ nên chọn làm một số thí nghiệm phục vụ trọng tâm bài học

Thí nghiệm phải kết hợp chặt chẽ với bài giảng

Nội dung của thí nghiệm phải phù hợp với chủ đề của bài học, giúp HS nắm vững bản chất của vấn đề và tạo thành một thể thống nhất với nội dung bài học GV phải đặt vẫn đề rõ ràng, giải thích mục đích của thí nghiệm và tác dụng của từng dụng cụ cần tập luyện cho HS quan sát các hiện tượng xảy ra trong thí nghiệm, giải thích hiện tượng và rút ra kết luận khoa học hướng vào những điểm cơ bản nhất của bài học

1.2.2.2 Phối hợp lời nói của GV với việc biểu diễn thí nghiệm:[3]

Khi GV biểu diến thí nghiệm, thí nghiệm là nguồn thông tin đối với HS, lời nói của GV mà hướng dẫn sự quan sát và chỉ đạo sự suy nghĩ của các em để đi tới kết luận đúng đắn, hợp lí và qua đó lĩnh hội được kiến thức Các cách phối hợp lời nói

của GV với việc biểu diễn thí nghiệm:

Cách 1: Quan sát trực tiếp Đối với những sự kiện hay quá trình đơn giản, có thể rút ra kết luận nhờ sự quan

sát trực tiếp không cần suy lý, thì lời nói của giáo viên có nhiệm vụ chủ yếu là

hướng dẫn sự quan sát để rút ra kết luận

Cách 2: Quy nạp Nếu gặp hiện tượng phức tạp, đòi hỏi phải tái hiện những hiểu biết cũ, rồi biện

luận thì mới có thể giải thích được nó, lúc đó ta có thể dùng biện pháp quy nạp Trong trường hợp này lời nói của thầy có 3 chức năng sau đây:

- Hướng dẫn sự quan sát trực tiếp của HS để nắm vững những dấu hiệu chính và giai đoạn chính của hiện tượng

- Hướng dẫn HS tái hiện những kiến thức có liên quan đến hiện tượng và tìm ra mối liên hệ giữa các hiện tượng trong thí nghiệm với kiến thức đã có

- Giải thích bản chất của hiện tượng, kết luận về kiến thức kĩ năng thu nhận được

Cách 3: Minh họa

Trang 22

Đối với những hiện tượng đơn giản (như trong biện pháp thứ nhất), giáo viên có

thể thông báo những kết luận, rồi sau đó mới biểu diễn thí nghiệm để minh họa cho

những kết luận của mình

Cách 4: Diễn dịch

GV mô tả các sự vật và quá trình, GV nhắc lại những kiến thức đã học có liên

quan và giải thích bản chất của hiện tượng , rồi kết luận về những mối quan hệ giữa các hiện tượng mà HS không thể nhận thấy được trong quá trình quan sát trực tiếp Sau đó GV biểu diễn thí nghiệm để minh họa lời vừa giảng

1.2.3 Thí nghiệm của học sinh:[3]

1.2.3.1 Thí nghiệm HS khi nghiên cứu tài liệu mới:

Thí nghiệm học sinh nghiên cứu tài liệu mới là một phương pháp có hiệu quả

để hình thành hệ thống các khái niệm hóa học, là một phương pháp tích cực giúp HS nẵm kiến thức sâu sắc và phong phú cả lý thuyết lẫn thực hành

GV có thể sử dụng thí nghiệm HS trong dạy học theo: phương pháp nghiên cứu và phương pháp minh họa:

- Sử dụng thí nghiệm HS theo phương pháp nghiên cứu

+ Hoạt động cụ thể của GV và HS khi sử dụng phương pháp này gồm:

* GV nêu lên đề tài nghiên cứu, giải thích rõ mục đích cần đạt tới HS hiểu và nắm vững vấn đề cần nghiên cứu

* GV hoặc HS dưới sự hướng dẫn của GV có thể đề ra các giả thuyết, dự đoán hiện tượng thí nghiệm dựa trên cơ sở lý thuyết đã biết, lập kế hoạch giải quyết ứng với từng giả thuyết

* GV tổ chức cho HS tự lực nghiên cứu đề tài: chuẩn bị hóa chất, dụng cụ, thiết

bị để làm thí nghiệm xác nhận giả thuyết, quan sát trạng thái các chất trước khi thí nghiệm; tiến hành thí nghiệm, quan sát, mô tả đầy đủ các hiện tượng thí nghiệm; xác nhận giả thuyết đúng thông qua kết quả của thí nghiệm

* HS giải thích hiện tượng, viết phương trình hóa học của phản ứng xảy ra và rút ra kết luận từ việc quan sát; ứng dụng các kết quả thu được

Như vậy, HS trực tiếp tác động vào đối tượng nghiên cứu và nhờ đó mà lĩnh hội kiến thức Còn GV làm nhiệm vụ tổ chức, điều khiển, kích thích sự nhận thức của

HS

Trang 23

Phương pháp này là phương pháp tốt nhất giúp HS rèn luyện tư duy độc lập sáng tạo, kĩ năng tìm tòi sáng chế và thu nhận những kiến thức một cách vững chắc, phong phú cả về lí thuyết và thực tiễn

Tuy nhiên phương pháp này áp dụng thuận lợi với đối tượng HS khá giỏi

- Sử dụng thí nghiệm HS theo phương pháp minh họa

Theo phương pháp này thì trước hết GV trình bày những kiến thức mới, những cách giải quyết đã chuẩn bị sẵn, mô tả cách tiến hành thí nghiệm và hiện tượng xảy

ra, giải thích hiện tượng và kết luận về kiến thức thu được Sau đó HS tiến hành thí nghiệm kiểm nghiệm phần trình bày của mỗi GV có đúng hay không qua quan sát hiện tượng thí nghiệm

Như vậy khi tiến hành làm thí nghiệm, HS không thu thêm được kiến thức mới (vì GV đã thông báo tất cả), đã ghi nhớ kết quả qua lời GV Nhưng nhờ sự quan sát trực tiếp các đối tượng thí nghiệm do các en tự làm nên các em tin tưởng hơn vào những điều vừa được nghe

1.2.3.2 Thí nghiệm thực hành trong phòng thí nghiệm:[26]

Thí nghiệm thực hành của HS có chức năng tổ chức cho HS được tự mình làm

các thí nghiệm quy định tại phòng thí nghiệm để rèn luyện các kĩ năng tiến hành các thí nghiệm cơ bản của chương trình hóa học qui định

Có 2 phương án tổ chức bài thực hành như sau:

Phương án 1: Toàn lớp cùng bắt đầu làm và cùng kết thúc một thí nghiệm Các

thí nghiệm làm kế tiếp nhau cho đến hết

Bước 1: Ổn định tổ chức

GV cho HS vào chỗ ngồi theo vị trí sắp xếp của các thí nghiệm Ghi tên HS vắng mặt GV nêu mục đích của bài thí nghiệm, nhắc nhở các công việc cụ thể để đảm bảo cho buổi thí nghiệm được an toàn

Bước 2: Làm thí nghiệm

GV giới thiệu bộ dụng cụ để HS biết sử dụng GV gọi một em trình bày cách làm Tiếp đó GV làm mẫu, HS quan sát Sau đó HS làm thí nghiệm ghi kết quả vào bảng tường trình GV theo dõi giúp đỡ các HS làm thí nghiệm không đạt yêu cầu Khi hết thời gian dành cho thí nghiệm này thì đồng loạt cả lớp cùng ngừng thí nghiệm GV nhận xét về kết quả kĩ năng tiến hành thí nghiệm vừa làm Thí nghiệm tiếp theo được bắt đầu theo trình tự trên cho đến thí nghiệm cuối cùng

Trang 24

Bước 3: Củng cố toàn bài

GV hệ thống lại mối liên hệ giữa các thí nghiệm và mối liên hệ giữa thí nghiệm

và kiến thức lí thuyết đã học

Bước 4: Nhận xét, đánh giá tinh thần làm việc trong bài thực hành

Hướng dẫn bài tập thực hành về nhà (nếu có) Thu bản tường Làm vệ sinh phòng thí nghiệm

Phương án 2: Nhiều thí nghiệm làm cùng một lúc HS chia nhóm lần lượt làm

từ thí nghiệm này đến thí nghiệm khác theo kiểu xoay vòng Bài thực hành được thực hiện theo bốn bước:

Bước 1: Ổn định tổ chức

GV cho HS vào chỗ ngồi theo vị trí sắp xếp của các thí nghiệm Ghi tên HS vắng mặt GV nêu mục đích của bài thí nghiệm, nhắc nhở các công việc cụ thể để đảm bảo cho buổi thí nghiệm được an toàn

Bước 2: Làm thí nghiệm

GV kiểm tra sự chuẩn bị của từng nhóm thí nghiệm GV giới thiệu bộ dụng cụ của từng nhóm cho cả lớp GV lần lượt làm mẫu tất cả các thí nghiệm của bài thực hành cho các nhóm cùng quan sát Sau đó các nhóm tiến hành đồng thời tất cả các thí nghiệm của bài theo kiểu xoay vòng GV theo dõi giúp đỡ từng nhóm

Bước 3: Củng cố toàn bài

Hết thời gian dành cho bước 2, GV cho các nhóm đồng loạt ngừng việc làm thí nghiệm GV củng cố hệ thống hóa mối liên hệ giữa các thí nghiệm và kiến thức lí thuyết cần nắm vững

Bước 4: Nhận xét tinh thần làm việc của các nhóm HS trong bài thực hành

Hướng dẫn bài tập thực hành về nhà (nếu có) Thu bản tường trình Làm vệ sinh PTN

1.2.3.3 Thí nghiệm đơn giản giao cho HS làm ở nhà [26]

Loại thí nghiệm này chủ yếu để vận dụng kiến thức vào thực tiễn nên cần chọn thí nghiệm đơn giản, an toàn, hóa chất dụng cụ dễ kiếm, gắn với đời sống hằng ngày

1.2.4 Đảm bảo an toàn khi sử dụng thí nghiệm.[6]

1.2.4.1 Thí nghiệm với chất độc

Trang 25

Trong PTN hóa học có nhiều chất độc như thủy ngân, photpho đỏ, trắng, amoniac, benzen, Clo,… do đó phải thận trọng trong sử dụng chúng khi tiến hành thí nghiệm và theo đúng các quy tắc sau đây:

- Nên làm thí nghiệm với các chất độc ở trong tủ hốt hoặc ở nơi thoáng gió và

mở rộng cửa phòng Chỉ nên lấy lượng hóa chất tối thiểu để làm được nhanh và giảm khí độc thoát ra

- Không được nếm và hút chất độc bằng miệng Phải có khẩu trang và phải thận trọng khi cần ngửi các chất Không hít mạnh và kề mũi vào gần bình hóa chất

mà chỉ dùng tay phẩy nhẹ hơi hóa chất vào mũi

- Đựng thủy ngân trong các lọ dày, nút kín và nên có một lớp nước mỏng ở trên Khi rót và đỗ thủy ngân phải có chậu to hứng ở dưới và thu hồi lại ngay các hạt nhỏ rơi vãi (dùng đũa thủy tinh gạt các hạt thủy ngân vào các mãnh giấy cứng) Nếu có nhiều hạt nhỏ rơi xuống khe bàn tay thì cần phải rắc một ít bột lưu huỳnh vào đó Không được lấy thủy ngân bằng tay

- Phải hạn chế, tránh thở phải hơi Brom, khí Clo,…

1.2.4.2 Thí nghiệm với các chất dễ ăn da và làm bỏng

- Có nhiều chất dễ ăn da và làm bỏng như axit đặc, kiềm đặc, kim loại kiềm, photpho trắng, brom, phenol,…

- Khi sử dụng các chất trên phải giữ gìn không để dây ra tay, người và quần áo đặc biệt là mắt Nên dùng kính che mắt khi cần quan sát thật gần Phải dùng dụng

cụ kẹp, thìa để lấy hóa chất, không dùng tay để lấy hóa chất

- Không đựng axit đặc vào các bình quá to; khi rót, khi đổ không nên nâng quá cao so với mặt bàn

- Khi pha loãng axit sunfuric cần phải rót từ từ axit vào nướcvà khuấy đều mà không được làm ngược lại

- Khi đun nóng dung dịch các chất dễ ăn da, làm bỏng phải tuyệt đối tuân theo quy tắc đun nóng hóa chất trong ống nghiệm (hướng miệng ống nghiệm về phía không có người)

1.2.4.3 Thí nghiệm với các chất dễ bắt lửa:

Các chất dễ bắt lửa như cồn, dầu hỏa, xăng, ete, bezen, axeton,… rất dễ gây ra các tai nạn cháy nên phải cẩn thận khi làm thí nghiệm với các chất đó Nên dùng

Trang 26

những lượng nhỏ các chất dễ bắt cháy, không để những bình lớn và gần đèn cồn, nguồn phát nhiệt,…

1.2.4.4 Cách sơ cứu khi gặp tai nạn

- Khi bị thương: Khi bị đứt tay chảy máu nhẹ (rớm máu hoặc chảy máu chậm)

cồn iot, thuốc đỏ…) Có thể dùng dung dịch sắt (III) clorua cầm máu Sau đó băng lại

- Khi bị bỏng: Nếu bị bỏng bởi vật nóng cần đắp ngay bông có tẩm dung dịch 1% thuốc tím vào vết bỏng, nếu bỏng nặng dùng dung dịch thuốc tím đặc hơn Sau

đó bôi vadơlin lên và băng vết bỏng lại Nếu có những vết phồng trên vết bỏng thì không được làm vở vết bỏng đó

Trường hợp bỏng do axit đặc, nhất là axit sunfuric, thì phải xối nước rửa ngay nhiều lần, nếu có vòi nước thì cho chảy mạnh vào vết bỏng 3- 5 phút, sau đó rửa bằng dung dịch 10% natri hiđrocacbonat, không được rửa bằng xà phòng Khi bị bỏng vì kiềm đặc thì lúc đầu sơ cứu như bỏng do axit, sau đó rửa bằng dung dịch loãng axit acetic 5% hay giấm Nếu bị axit bắn vào mắt, phải nhanh chóng dùng bình cầu tia phun mạnh nước vào mắt, rồi rửa lại bằng dung dịch natri hiđrocacbonat 3% Nếu là kiềm thì rửa bằng dung dịch axit boric 2% Sau khi sơ cứu bằng thao tác trên phải nhanh chóng đưa đến cơ sở y tế gần nhất

Khi hít phải nhiều chất độc Clo hoặc hơi Brom, cần phải đình chỉ thí nghiệm,

mở ngay các cửa sổ, đưa bệnh nhân ra ngoài chỗ thoáng gió, đưa các bình có chứa hoặc sinh ra khí độc vào tủ hốt hoặc đưa ra ngoài phòng Cần cởi thắt lưng, xoa mặt

và đầu người bị ngộ độc bằng nước lã, cho ngửi dung dịch amoniac trong cồn và đưa đi bệnh viện

1.3 Thực trạng sử dụng thí nghiệm trong dạy học hoá học ở trường THCS huyện Châu Thành tỉnh Đồng Tháp

1.3.1 Mục đích điều tra:

- Tìm hiểu thực trạng sử dụng thí nghiệm hóa học của GV và thí nghiệm của

HS trong dạy học

- Tìm hiểu nguyên nhân GV không tiến hành thí nghiệm trong giờ học

- Tìm ra các biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng thí nghiệm hóa học ở một

số trường THCS trên địa bàn huyện Châu Thành tỉnh Đồng Tháp

Trang 27

1.3.2 Phương pháp điều tra:

- Phát phiếu điều tra ở một số trường THCS: Phú Hựu, An Hiệp, An Khánh, Tân Phú Trung, Tân Nhuận Đông,…Nội dung phiếu điều tra được trình bày ở phụ lục 1

- Chúng tôi đã tiến hành điều tra 24 GV THCS thuộc địa bàn huyện Châu Thành tỉnh Đồng Tháp

Bảng 1.1: Đối tượng điều tra về dạy học có sử dụng thí nghiệm

- Tìm hiểu trực tiếp ở một số trường về công tác chuẩn bị thí nghiệm hóa học

cho giảng dạy hóa học THCS

1.3.3 Kết quả điều tra:

Sau khi thu về 24 phiếu điều tra kết hợp với phỏng vấn các giáo viên đang trực

tiếp giảng dạy bộ môn hóa học ở các trường chúng tôi rút ra một số kết luận:

- Hầu hết các GV đều cho rằng thí nghiệm hóa học là rất cần thiết cho bộ môn hóa học tuy nhiên đa số giáo viên còn ít sử dụng thí nghiệm (chiếm 91,67%), chủ yếu sử dụng thí nghiệm trong các tiết thực hành (chiếm 75%), đôi khi cũng sử dụng thí nghiệm trong khi tiến hành nghiên cứu bài mới (chiếm 62,50%)

- Trong các hình thức sử dụng thí nghiệm của giáo viên thì chủ yếu được các giáo viên tiến hành biễu diễn minh họa kiến thức (chiếm 79,17%), bên cạnh đó thì giáo viên cũng cho học sinh làm thí nghiệm minh họa kiến thức ( chiếm 54,17%),

Trang 28

và đa số giáo viên đều tiến hành hình thức sử dụng thí nghiệm ở các giờ thực hành

do HS tự tiến hành và GV đóng vai trò dẫn dắt (chiếm 95,83%)

- Đa số GV cho rằng kĩ năng tiến hành thí nghiệm của HS chưa đảm bảo tính khoa học và độ chính xác của nội dung thí nghiệm nên chưa mạnh dạn giao việc cho

HS (chiếm 54,17%) Những nguyên nhân chủ yếu mà các thầy cô đưa ra cho việc ít tiến hành các thí nghiệm là:

- Chưa có phòng chức năng dành riêng cho bộ môn hóa do đó khâu chuẩn bị cho việc tiến hành thí nghiệm gặp rất nhiều khó khăn, bên cạnh đó tâm lí ngại tiếp xúc hóa chất có gây độc ảnh hưởng đến sức khỏe Đây có thể coi là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm ảnh hưởng đến công tác giảng dạy của GV (chiếm 87,50%) Nếu có phòng bộ môn cũng chỉ là phòng ghép nên trang thiết bị phục vụ cho bộ môn Hóa học còn nhiều hạn chế (chiếm 79,17%)

- Dụng cụ, hóa chất cũ, hư nên không đủ chuẩn bị cho cả lớp tiến hành thí nghiệm cùng một lúc, đồng thời cũng không đảm bảo tính thành công của thí nghiệm (chiếm 58,33%) Bên cạnh đó sĩ số lớp học quá đông cũng ảnh đến công tác chuẩn bị thực hành thí nghiệm cho HS gặp rất nhiều khó khăn (chiếm 45,83%)

- Khi chuẩn bị thí nghiệm giáo viên mất rất nhiều thời gian do không có cán bộ chuyên trách phòng thí nghiệm nên dẫn đến tâm lí e ngại (chiếm 66,67%) Nếu có chuẩn bị thí nghiệm thì chỉ chuẩn bị hóa chất, dụng cụ cho GV tiến hành biểu diễn trên lớp (nhất là đối với kiến thức bài mới)

- Một số GV đã thay thế giờ thực hành bằng cách cho HS quan sát hình ảnh thông qua các video thí nghiệm hoặc mô phỏng nên ít sử dụng thí nghiệm trực quan (chiếm 33,33%)

- Bên cạnh đó số lượng bài tập rèn luyện kĩ năng thực hành (như bài tập thực nghiệm, bài tâp liên quan đến sản xuất hóa học,…) rất ít sử dung hoặc không sử dụng

- Chưa có chính sách đãi ngộ hợp lý cho giáo viên khi phải tiếp xúc với hóa chất độc hại,…

- Mặt khác một số thí nghiệm rất khó tiến hành, độ đảm bảo an toàn và thành công thấp, hóa chất độc,…Ngoài ra tài liệu hướng dẫn liên quan về thực hành thí nghiệm còn rất hạn chế

Trang 29

- Chương trình học quá tải đối với HS nên GV chỉ chú trọng dạy lí thuyết để tập trung vào các kì thi (do đề thi không có nội dung thực hành thí nghiệm) (chiếm 70,83%)

Tóm lại, thực trạng hiện nay ở trường phổ thông nói chung, THCS nói riêng

đa số các thầy cô giáo ít sử dụng thí nghiệm, đặc biệt là thí nghiệm của HS trong giờ học

Trang 30

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Trong chương này chúng tôi đã tìm hiểu, nghiên cứu các vấn đề sau:

1 Cơ sở lý luận về phát huy tính tích cực của HS: khái niệm, biểu hiện, các biện pháp

2 Thí nghiệm hóa học ở trường phổ thông:

- Vấn đề thí nghiệm trong hóa hoc

- Vai trò của thí nghiệm trong dạy học hóa học

- Thí nghiệm biểu diễn của GV, thí nghiệm của HS

- An toàn khi sử dụng thí nghiệm

3 Điều tra thực trạng dạy học hóa học qua 24 GV ở một số trường THCS

huyện Châu Thành tỉnh Đồng Tháp

- Phòng thí nghiệm chưa đạt chuẩn, thiết bị thí nghiệm còn thiếu, dụng cụ thí nghiệm chưa đáp ứng đủ để tiến hành các thí nghiệm và không có độ an toàn Cán

bộ phụ trách phòng thí nghiệm không phải là chuyên trách chủ yếu là kiêm nhiệm

- Thí nghiệm ít được tiến hành trong giảng dạy hóa học của GV ngoài các nguyên nhân khách quan còn có các nguyên nhân chủ quan: ngại tiếp xúc hóa chất,

kĩ năng làm thí nghiệm chưa tốt, mất nhiều thời gian cho công tác chuẩn bị, chưa có chế độ đãi ngộ hợp lý cho GV,…

Đây là cơ sở lí luận và thực tiễn cho các đề xuất sử dụng thí nghiệm trong dạy học hóa học lớp 8 THCS theo hướng dạy học tích cực ở chương sau

Trang 31

2.1.1 Mục tiêu chương trình hóa học lớp 8 THCS:

Môn hóa học bắt đầu từ lớp 8 THCS nhằm cung cấp cho HS một hệ thống kiến thức phổ thông, cơ bản và thiết thực đầu tiên về hóa học, hình thành ở các em một

số kĩ năng hóa học cơ bản và thói quen làm việc khoa học, góp phần giáo dục đạo đức, phát triển năng lực nhận thức, năng lực hành động, chuẩn bị cho HS tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động

Môn hóa học lớp 8 THCS có nhiệm vụ giúp HS đạt được các mục tiêu cụ thể như sau:

a) Về kiến thức: HS có được một hệ thống kiến thức phổ thông, cơ bản ban đầu

về hóa học bao gồm:

- Hệ thống các khái niệm hóa học cơ bản, học thuyết, định luật hóa học như: nguyên tử, nguyên tố, phân tử, phản ứng hóa học, đơn chất, hợp chất, mol, định luật bảo toàn khối lượng,

- Một số chất vô cơ quan trọng, gần gũi với đời sống, sản xuất như: hiđro, nước,…

- HS có được một số kiến thức cơ bản, kĩ thuật tổng hợp về nguyên liệu, sản phẩm, quá trình hóa học, thiết bị sản xuất hóa học và môi trường

b) Về kĩ năng: HS có được một số kĩ năng hóa học phổ thông cơ bản và thói

quen làm việc khoa học như:

- Biết cách làm việc khoa học và hoạt động nhận thức khoa học

- Biết cách thu thập, phân loại, tra cứu và sử dụng thông tin tư liệu

- Biết phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, có thói quen học tập và tự học

- Có kĩ năng cơ bản để làm việc với hóa chất, dụng cụ hóa học, quan sát, mô tả hiện tượng thí nghiệm và tiến hành một số thí nghiệm hóa học đơn giản trong môn

Trang 32

- Có kĩ năng giải bài tập hóa học và các phương pháp tính toán hóa học

- Biết vận dụng kiến thức để góp phần giải quyết một số vấn đề của thực tiễn liên quan đến hóa học

c) Về thái độ và tình cảm: HS có được những thái độ tích cực như:

- Có hứng thú và ham thích học tập hóa học, có niềm tin về khả năng nhận thức của con người và vai trò của hóa học trong thực tiễn cuộc sống

- Có phẩm chất, thái độ cần thiết của người lao động như: tính cẩn thận, tỉ mỉ, kiên trì, chính xác, trung thực,…

- Có ý thức trách nhiệm với bản thân, gia đình, xã hội để có thể hòa nhập với thiên nhiên, môi trường và cộng đồng

2.1.2 Định hướng của chương trình hoá học THCS:

Hiện nay chương trình hóa học ở cấp THCS được đổi mới gắn liền với sự phát triển của xã hôi nên chương trình đã chú trọng đến những vấn đề mang tính định hướng và đổi mới của giáo dục như:

- Chú trọng tính thiết thực trên cơ sở đảm bảo tính khoa học, cơ bản, hiện đại, đặc trưng của bộ môn, chú ý cặp nhật kiến thức môn học, bổ sung kiến thức thiết yếu của thời đại như các kiến thức về môi trường Những kiến thức mà HS cần phải nắm vững phải là kiến thức cơ bản có thể áp dụng vào thực tiễn cuộc sống và sản xuất

- Chú trọng đến việc hình thành và phát triển năng lực trí tuệ cho HS, đặc biệt là năng lực tư duy, năng lực hành động thông qua việc đổi mới phương pháp dạy và học hóa học

- Chú trọng thực hành thí nghiệm: yêu cầu này được thực hiện bằng những đổi mới tích cực như tăng số lượng các thí nghiệm đưa vào các bài học và chú trọng đến các thí nghiệm HS có thể tiến hành bằng các dụng cụ đơn giản, hóa chất thông dụng, dễ kiếm; tăng số bài thực hành thí nghiệm và tạo điều kiện để GV ở hầu hết các trường có thể thực hiện được

- Chú trọng đến việc đổi mới phương pháp học, đổi mới kiểm tra đánh giá và tăng cường yêu cầu kiểm tra đánh giá về năng lực thực hành, vận dụng tổng hợp kiến thức và kĩ năng thí nghiệm hóa học

- Chú trọng đến việc luyện tập và rèn kĩ năng hóa học cho HS, đặc biệt là kĩ năng làm việc khoa học và nghiên cứu khoa học

Trang 33

- Chú trọng mối liên hệ liên môn học và liên thông với môn khoa học ở cấp tiểu học, môn hóa học ở cấp THPT đảm bảo yêu cầu phân hóa HS và giảm tải

2.1.3 Nội dung chương trình hóa học lớp 8 THCS:

Chương trình Hóa học lớp 8 THCS được cấu trúc thành 6 chương Sự phân bố nội dung các chương như sau:

Chương 1: Chất nguyên tử - Phân tử ( 15 tiết)

20 Tính theo công thức hóa học

21 Tính theo phương trình hóa học – Luyện tập

22 Bài luyện tập 4

Chương 4: Oxi – Không khí (10 tiết)

23 Tính chất của oxi

Trang 34

24 Sự oxi hóa Phản ứng hóa hợp Ứng dụng của oxi

2.1.4 Phân tích nội dung chương 4 – 5 Hóa học lớp 8 THCS:

Chương 4 – 5 nhằm cung cấp các kiến thức cơ bản về hai nguyên tố Oxi, hiđrô

và hợp chất của chúng là nước Đây là hai nguyên tố có ý nghĩa nhận thức to lớn và quan trọng hàng đầu trong hóa học Đồng thời các đơn chất oxi, hiđrô và hợp chất nước là những chất phổ biến có tầm quan trọng đặc biệt trong đời sống và sản xuất Việc nghiên cứu oxi, hiđrô, nước được thực hiện trên cơ sở các nội dung cơ bản của thuyết nguyên tử, phân tử, định luật bảo toàn khối lượng cùng các phép toán

nghiên cứu trên cơ sở thí nghiệm hóa học và từ đó rút ra những nhận xét về tính

Trang 35

chất của chúng Vì vậy, hóa học đóng vai trò quan trọng trong quá trình nghiên cứu các chất Đồng thời thông qua nghiên cứu tính chất hóa học, điều chế oxi, hiđrô, nước bước đầu hình thành cho HS khái niệm về các loại phản ứng hóa học cơ bản (hóa hợp, phân hủy, thế, oxi – hóa khử) và khái niệm về các loại hợp chất vô cơ cơ bản là oxit, bazơ, axit, muối (khái niệm, công thức hóa học, phân loại, gọi tên) Khái niệm phản ứng oxi – hóa khử được nghiên cứu sâu hơn về nội dung các yếu tố dẫn đến khái niệm và mối liên hệ giữa các khái niệm chất oxh – chất khử, sự oxh –

sự khử,… Đồng thời có được thêm tư liệu đọc thêm để chuẩn bị cho HS tiếp thu bản chất của phản ứng oxh – khử theo quan điểm thuyết electron ở THPT

Như vậy, quá trình nghiên cứu chương 4 - 5 thì phương pháp trực quan được sử dụng chủ yếu, thí nghiệm hóa học đóng vai trò quan trọng trong quá trình nghiên cứu tính chất các chất Do đó chúng tôi nghiên cứu phương pháp sử dụng thí nghiệm hóa học để nâng cao chất lượng dạy học các chương này

2.2 HỆ THỐNG THÍ NGHIỆM DÙNG TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “OXI

– KHÔNG KHÍ”, CHƯƠNG “HIDRO – NƯỚC” LỚP 8 THCS:

2.2.1 Danh mục thí nghiệm trong chương “Oxi – Không khí”

Khi dạy học chương “Oxi–Không khí” cần tiến hành các thí nghiệm hóa học sau:

Bài 24: Tính chất của oxi

Bài 27: Điều chế khí oxi- Phản ứng phân hủy

Bài 28: Không khí – sự cháy

Bài 30: Bài thực hành 4: Điều chế và thu khí oxi và thử tính chất của oxi

Trang 36

Khi dạy học chương “Hidro – Nước” cần tiến hành các thí nghiệm hóa học sau:

Bài 31: Tính chất và ứng dụng của hidro

Bài 33: Điều chế khí hidro – Phản ứng thế

Bài 35: Bài thực hành 5: Điều chế thu khí hidro và thử tính chất của hidro

Hiđrô trong không khí

Bài 36: Nước

Bài 39: Bài thực hành 6: Tính chất hóa học của nước

2.3 PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM HÓA HỌC TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC CHƯƠNG 4 - 5 HÓA HỌC LỚP 8 THCS THEO HƯỚNG DẠY HỌC TÍCH CỰC:

2.3.1 Sử dụng thí nghiệm đối chứng

Để hình thành khái niệm hóa học và giúp HS có kết luận đầy đủ, chính xác về một qui tắc, tính chất của chất cần hướng dẫn HS sử dụng thí nghiệm hóa học ở dạng đối chứng để làm nổi bật, khắc sâu nội dung kiểm tra mà HS cần chú ý

Ví dụ 1: Thí nghiệm oxi tác dụng với lưu huỳnh

Để làm rõ hiện tượng lưu huỳnh cháy trong khí oxi mãnh liệt hơn trong không khí ta

Ngày đăng: 21/08/2023, 01:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Đối tƣợng điều tra về dạy học có sử dụng thí nghiệm - Sử dụng thí nghiệm hóa học trong dạy học hóa học lớp 8 thcs theo hướng dạy học tích cực luận văn thạc sỹ hóa học
Bảng 1.1 Đối tƣợng điều tra về dạy học có sử dụng thí nghiệm (Trang 27)
Hình 2.3: Khí H 2  khử CuO - Sử dụng thí nghiệm hóa học trong dạy học hóa học lớp 8 thcs theo hướng dạy học tích cực luận văn thạc sỹ hóa học
Hình 2.3 Khí H 2 khử CuO (Trang 40)
Bảng 3.1: Đối tƣợng và địa bàn thực nghiệm sƣ phạm  Stt  Trường thực nghiệm   Lớp thực - Sử dụng thí nghiệm hóa học trong dạy học hóa học lớp 8 thcs theo hướng dạy học tích cực luận văn thạc sỹ hóa học
Bảng 3.1 Đối tƣợng và địa bàn thực nghiệm sƣ phạm Stt Trường thực nghiệm Lớp thực (Trang 53)
Bảng 3.2: Kết quả số HS đạt điểm X i  của 4 bài kiểm tra. - Sử dụng thí nghiệm hóa học trong dạy học hóa học lớp 8 thcs theo hướng dạy học tích cực luận văn thạc sỹ hóa học
Bảng 3.2 Kết quả số HS đạt điểm X i của 4 bài kiểm tra (Trang 54)
Bảng 3.3. Bảng phân loại kết quả học tập của HS - Sử dụng thí nghiệm hóa học trong dạy học hóa học lớp 8 thcs theo hướng dạy học tích cực luận văn thạc sỹ hóa học
Bảng 3.3. Bảng phân loại kết quả học tập của HS (Trang 56)
Bảng 3.5: Phần trăm số HS đạt điểm X i  của bài kiểm tra 15 phút- bài 1 - Sử dụng thí nghiệm hóa học trong dạy học hóa học lớp 8 thcs theo hướng dạy học tích cực luận văn thạc sỹ hóa học
Bảng 3.5 Phần trăm số HS đạt điểm X i của bài kiểm tra 15 phút- bài 1 (Trang 58)
Bảng 3.6: Phần trăm số HS đạt điểm X i  của bài kiểm tra 15 phút- bài 2 - Sử dụng thí nghiệm hóa học trong dạy học hóa học lớp 8 thcs theo hướng dạy học tích cực luận văn thạc sỹ hóa học
Bảng 3.6 Phần trăm số HS đạt điểm X i của bài kiểm tra 15 phút- bài 2 (Trang 59)
Bảng 3.7: Phần trăm số HS đạt điểm X i  của bài kiểm tra 15 phút- bài 3 - Sử dụng thí nghiệm hóa học trong dạy học hóa học lớp 8 thcs theo hướng dạy học tích cực luận văn thạc sỹ hóa học
Bảng 3.7 Phần trăm số HS đạt điểm X i của bài kiểm tra 15 phút- bài 3 (Trang 60)
Bảng 3.8: Phần trăm số HS đạt điểm X i  của bài kiểm tra 45 phút  - bài 4 - Sử dụng thí nghiệm hóa học trong dạy học hóa học lớp 8 thcs theo hướng dạy học tích cực luận văn thạc sỹ hóa học
Bảng 3.8 Phần trăm số HS đạt điểm X i của bài kiểm tra 45 phút - bài 4 (Trang 61)
Bảng 3.9: Kết quả thực nghiệm tổng hợp. - Sử dụng thí nghiệm hóa học trong dạy học hóa học lớp 8 thcs theo hướng dạy học tích cực luận văn thạc sỹ hóa học
Bảng 3.9 Kết quả thực nghiệm tổng hợp (Trang 62)
Bảng 3.10. Phân loại kết quả thực nghiệm. - Sử dụng thí nghiệm hóa học trong dạy học hóa học lớp 8 thcs theo hướng dạy học tích cực luận văn thạc sỹ hóa học
Bảng 3.10. Phân loại kết quả thực nghiệm (Trang 63)
Bảng 3.11: Bảng tổng hợp các tham số đặc trƣng - Sử dụng thí nghiệm hóa học trong dạy học hóa học lớp 8 thcs theo hướng dạy học tích cực luận văn thạc sỹ hóa học
Bảng 3.11 Bảng tổng hợp các tham số đặc trƣng (Trang 65)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm