1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo dục đạo đức cách mạng cho học viên sĩ quan chỉ huy cấp phân đội ở trường sĩ quan kỹ thuật quân sự thành phố hồ chí minh trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường

78 5 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo dục đạo đức cách mạng cho học viên sĩ quan chỉ huy cấp phân đội ở Trường Sĩ quan Kỹ thuật Quân sự Thành phố Hồ Chí Minh Trong Bối cảnh Phát Triển Kinh tế Thị Trường
Tác giả Nguyễn Mai Lâm
Người hướng dẫn TS. Đinh Trung Thành
Trường học Trường đại học Vinh
Chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học chính trị
Thể loại Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 665,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN MAI LÂM GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO HỌC VIÊN SĨ QUAN CHỈ HUY CẤP PHÂN ĐỘI Ở TRƯỜNG SĨ QUAN KỸ THUẬT QUÂN SỰ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG BỐI CẢNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Trang 1

NGUYỄN MAI LÂM

GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO HỌC VIÊN SĨ QUAN CHỈ HUY CẤP PHÂN ĐỘI Ở TRƯỜNG SĨ QUAN

KỸ THUẬT QUÂN SỰ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG BỐI CẢNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, 2012

Trang 2

NGUYỄN MAI LÂM

GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO HỌC VIÊN SĨ QUAN CHỈ HUY CẤP PHÂN ĐỘI Ở TRƯỜNG SĨ QUAN

KỸ THUẬT QUÂN SỰ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG BỐI CẢNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Chuyên ngành: Lý luận và PPGD bộ môn Giáo dục chính trị

Mã số: 60 14 06

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Ng i h ng d n ho học : TS Đinh Trung Thành

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, 2012

Trang 3

B NỘI DUNG 10

CHƯƠNG 1 : GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO SĨ QUAN CHỈ HUY CẤP PHÂN ĐỘI Ở TRƯỜNG SĨ QUAN KỸ THUẬT QUÂN SỰ - MỘT YÊU CẦU CẤP THIẾT TRONG GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 10

1.1Một số khái niệm trong luận văn 10

1.2 Giáo dục đạo đức cách mạng cho học viên sĩ quan chỉ huy cấp phân đội là một yêu cầu khách quan trong giai đoạn hiện nay 31

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO HỌC VIÊN SĨ QUAN CHỈ HUY CẤP PHÂN ĐỘI Ở TRƯỜNG SĨ QUAN KỸ THUẬT QUÂN SỰ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 37

2.1 Khái quát về Trường Sĩ quan kỹ thuật Quân sự 37

2.2 Đặc điểm của đào tạo học viên sĩ quan chỉ huy cấp phân đội 41

2.3 Tình hình giáo dục ĐĐCM đối với học viên đào tạo sĩ quan chỉ huy cấp phân đội ở trường sĩ quan Kỹ thuật Quân sự thành phố Hồ Chí Minh 43

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO HỌC VIÊN SĨ QUAN CHỈ HUY CẤP PHÂN ĐỘI Ở TRƯỜNG SĨ QUAN KỸ THUẬT QUÂN SỰ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG BỐI CẢNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 53

3.1 Bối cảnh trong nước và thế giới ảnh hưởng đến công tác giáo dục đạo đưc cách mạng cho học viên đào tạo sĩ quan chỉ huy cấp phân đội ở Trường Sĩ quan kỹ thuật Quân sự thành phố Hồ Chí Minh 53

3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học viên đào tạo sĩ quan chỉ huy cấp phân đội ở trường sĩ quan Kỹ thuật Quân sự thành phố Hồ Chí Minh 57

C KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 71

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

PHỤ LỤC .76

Trang 4

Sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng ta lãnh đạo trong hơn hai mươi lăm năm và hai mươi năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991) đã giành được những thành tựu to lớn Đại hội XI của Đảng đánh giá: “Sau 20 năm thực hiện Cương lĩnh, chúng ta đã giành được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử” [8, tr.41]

Trong những thành tựu đã đạt được thì thành tựu trong việc xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa có ý nghĩa cực kỳ quan trọng Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực đã đạt được như thúc đẩy kinh tế – xã hội nước ta phát triển, nền kinh tế thị trường (KTTT) mà chúng ta xây dựng cũng có những mặt trái của nó và chúng là những trở lực trên con đường đi đến mục tiêu chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở nước ta như: phân hoá giàu nghèo, tệ quan liêu tham nhũng gia tăng, tư tưởng, đạo đức, lối sống bị suy thoái có chiều hướng lan rộng trong các tầng lớp xã hội, nhất là trong thanh niên

Quân đội nhân dân nói chung, Trường Sĩ quan Kỹ thuật Quân sự nói riêng

là một bộ phận của xã hội, không nằm ngoài sự tác động có tính hai mặt đó Là trung tâm đào tạo sĩ quan Kỹ thuật – lực lượng nòng cốt của sự nghiệp bảo vệ

Tổ quốc, những năm qua Trường Sĩ quan Kỹ thuật Quân sự đã hoàn thành tốt chức năng nhiệm vụ của mình, đào tạo ra các thế hệ sĩ quan kỹ thuật có đủ

“đức” và “tài” đáp ứng mục tiêu yêu cầu đào tạo, góp phần to lớn vào nhiệm vụ xây dựng quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại Các học viên sau khi tốt nghiệp ra trường đã trở thành sĩ quan có năng lực tổ chức, chỉ huy, quản lý, đồng thời là cán bộ có lập trường tư tưởng vững vàng, kiên định với mục tiêu lý tưởng của Đảng, sẵn sàng nhận và hoàn thành nhiệm vụ, có đạo đức trong sáng, lối sống lành mạnh được nhân dân yêu mến

Tuy nhiên, trong quá trình đào tạo, ở một bộ phận học viên đã xuất hiện tư

Trang 5

Những biểu hiện tiêu cực đó có nguyên nhân từ tác động của mặt trái nền KTTT, đòi hỏi phải được ngăn chặn, khắc phục kịp thời

Trước yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Xã hội chủ nghĩa (XHCN), nhiệm vụ xây dựng Quân đội vững mạnh toàn diện trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh phát triển nền KTTT định hướng XHCN; trước sự chống phá của các thế lực thù địch, cùng với sự ảnh hưởng tiêu cực của mặt trái nền KTTT đòi hỏi việc phát triển đạo đức cách mạng (ĐĐCM) cho cán bộ, đảng viên nói chung, học viên sĩ quan chỉ huy (SQCH) cấp phân đội ở Trường Sĩ quan Kỹ thuật Quân sự thành phố Hồ Chí Minh nói riêng càng trở nên quan trọng và cấp thiết

Từ những yêu cầu lý luận và thực tiễn cấp bách đó, tác giả quyết định chọn

vấn đề: “Giáo dục đạo đức cách mạng cho học viên sĩ quan chỉ huy cấp phân đội ở trường sĩ quan Kỹ thuật Quân sự thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường ” làm luận văn tốt nghiệp cao học thạc sĩ

chuyên ngành Lý luận và phương pháp giảng dạy bộ môn Giáo dục Chính trị

2 Tình hình nghiên cứu liên qu n đến đề tài luận văn

Về giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên nói chung và giáo dục đạo đức cách mạng cho học viên sĩ quan cấp phân đội nói riêng đã có nhiều công

trình, nhiều đề tài, luận văn, luận án nghiên cứu, tiêu biểu như: Lê Duẩn, Con

đường tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của thanh niên, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội

1975; “Tác động của nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa đến lối sống sĩ

quan trẻ Quân khu I hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ Chủ nghĩa xã hội của Vũ Đình

Đắc; “Bồi dưỡng lối sống xã hội chủ nghĩa cho đội ngũ sĩ quan trẻ trong quân

đội hiện nay”, đề tài của Ban xã hội học quân sự, Viện khoa học xã hội nhân văn

quân sự - Bộ Quốc phòng, 2004; “Khắc phục ảnh hưởng của lối sống thực dụng

Trang 6

đối với học viên đào tạo sĩ quan ở Học viện Phòng không không quân hiện nay”,

Luận văn Thạc sĩ Triết học của Lê Văn Ngọc, 2005; “Phát triển ĐĐCM của học

viên đào tạo sĩ quan chính trị cấp phân đội ở Học viện Chính trị quân sự hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ Triết học của Đinh Phú Cường, 2004; “Nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực hoạt động thực tiễn của cán bộ chủ trì công tác đảng, công tác chính trị ở đơn vị cơ sở, đề tài cấp Bộ năm 2004 do thiếu tướng

TS.Trần Danh Bích làm chủ nhiệm; “Xây dựng bản lĩnh chính trị, phẩm chất

cách mạng cho cán bộ công nhân viên chiến sĩ quân đội làm kinh tế” đề tài cấp

Bộ Quốc phòng năm 1998 do Thiếu tướng Phạm Tuân làm chủ nhiệm; “Nâng

cao bản lĩnh chính trị sĩ quan trẻ của Quân đội nhân dân hiện nay” luận án tiến

sỹ khoa học Quân sự, năm 1996 do Nguyễn Đình Tu làm chủ nhiệm; “Những

giải pháp cơ bản nâng cao bản lĩnh chính trị của học viên đào tạo chính uỷ ở học viện Chính trị Quân sự trong điều kiện Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới” đề tài cấp học viện năm 2007 do TS Nguyễn Hữu Luận làm chủ

nhiệm và nhiều bài viết trên các tạp chí của quốc phòng, tạp chí về giáo dục lý luận chính trị

Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến khía cạnh khác nhau của đạo đức lối sống như sự biến đổi của nó trong xu thế toàn cầu hoá và trong nền KTTT hiện nay, vấn đề giáo dục phẩm chất đạo đức trong quân đội, cũng như việc khắc phục những ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dụng trong lối sống của cán bộ, chiến

sỹ trong quân đội ta Tuy nhiên, nghiên cứu về sự tác động của điều kiện kinh tế -

xã hội mà trực tiếp là nền KTTT đến giáo dục ĐĐCM của học viên SQCH cấp phân đội ở Trường Sĩ quan Kỹ thuật Quân sự hiện nay chưa có công trình nào đề cập đến với tư cách là một đề tài độc lập Vì vậy đề tài tác giả lựa chọn không trùng với bất kì công trình nghiên cứu khoa học nào đã được công bố

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu củ luận văn

3.1 Mục đích

Dưới góc độ khoa học giáo dục, luận văn làm rõ sự tác động của nền KTTT

Trang 7

đến việc giáo dục ĐĐCM cho học viên sĩ quan, từ đó đề xuất một số giải pháp

cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục ĐĐCM cho học viên SQCH cấp phân đội ở Trường Sĩ quan Kỹ thuật Quân sự thành phố Hồ Chí Minh

3.2 Nhiệm vụ

- Làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn của việc giáo dục ĐĐCM cho học viên SQCH cấp phân đội ở Trường Sĩ quan Kỹ thuật Quân sự thành phố Hồ Chí Minh trước sự tác động của nền kinh tế thị trường

- Phân tích thực trạng, nguyên nhân và những yêu cầu của việc giáo dục ĐĐCM cho học viên

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ĐĐCM của học viên trong thời gian học tập tại trường và tiếp tục hoàn thiện phẩm chất ĐĐCM khi ra trường

4 Phạm vi nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu của đề tài giới hạn trong chỉ nghiên cứu trong vấn

đề giáo dục đạo đức cách mạng cho học viên sĩ quan chỉ huy cấp phân đội ở trường sĩ quan Kỹ thuật Quân sự Tp Hồ Chí Minh trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường

5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và ph ơng pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác -

Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về ĐĐCM và giáo dục ĐĐCM cho thế hệ trẻ; đồng thời quán triệt các chỉ thị, Nghị quyết của Đảng uỷ Quân sự trung ương, Bộ quốc phòng, Tổng Cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam về xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quân đội

5.2 Cơ sở thực tiễn Luận văn kế thừa kết quả của các công trình nghiên cứu đã công bố và căn

cứ vào những số liệu báo cáo, sơ tổng kết của các đơn vị trong Trường Sĩ quan

Trang 8

Kỹ thuật Quân sự và căn cứ vào thực trạng đạo đức, lối sống của học viên SQCH cấp phân đội ở trường Sĩ quan Kỹ thuật Quân sự hiện nay qua một số nguồn tài liệu và kết quả quan sát, tổng hợp nghiên cứu của tác giả

6 Ph ơng pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học giáo dục khoa học xã hội và nhân văn nói chung và khoa học xã hội và nhân văn Quân sự nói riêng, trong đó đặc biệt chú trọng các phương pháp cụ thể: Phân tích và tổng hợp, lôgíc và lịch sử, thống kê, so sánh, tổng kết thực tiễn…

7 Ý nghĩ lý luận và thực tiễn củ luận văn

Với kết quả nghiên cứu bước đầu, luận văn góp phần làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn về ảnh hưởng của KTTT đến vấn đề giáo dục ĐĐCM của học viên SQCH cấp phân đội ở Trường Sĩ quan Kỹ thuật Quân sự hiện nay

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy các vấn đề có liên quan trong các Học viện, nhà trường quân đội hiện nay; đồng thời đóng góp cơ sở cho lãnh đạo, chỉ huy các cấp trong việc giáo dục, rèn luyện ĐĐCM của học viên SQCH cấp phân đội ở trường sĩ quan Kỹ thuật Quân

9 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Giáo dục đạo đức cách mạng cho học viên đào tạo sĩ quan chỉ

Trang 9

huy cấp phân đội ở trường sĩ quan Kỹ thuật Quân sự - một yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn phát triển kinh tế thị trường

Chương 2: Thực trạng giáo dục đạo đức cách mạng cho học viên sĩ quan chỉ huy cấp phân đội ở trường sĩ quan Kỹ thuật Quân sự hiện nay

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cách mạng cho học viên sĩ quan chỉ huy cấp phân đội ở trường sĩ quan Kỹ thuật Quân sự trong

bối cảnh phát triển kinh tế thị trường

Trang 10

B NỘI DUNG

Ch ơng 1 GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO SĨ QUAN CHỈ HUY CẤP PHÂN ĐỘI Ở TRƯỜNG SĨ QUAN KỸ THUẬT QUÂN SỰ - MỘT YÊU CẦU CẤP THIẾT TRONG GIAI ĐOẠN PHÁT

TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1.1 Một số hái niệm trong luận văn

1.1.1 Giáo dục đạo đức và giáo dục đạo đức cách mạng

1.1.1.1 Giáo dục đạo đức

Giáo dục: Theo từ "Giáo dục" tiếng Anh - "Education" - vốn có gốc từ tiếng La tinh "Educare" có nghĩa là "làm bộc lộ ra" Có thể hiểu "giáo dục là quá trình, cách thức làm bộc lộ ra những khả năng tiềm ẩn của người được giáo

dục"

Giáo dục được coi là một hiện tượng xã hội, hiện tượng này nảy sinh, tồn tại, phát triển và tiến bộ cùng với sự phát triển và tiến bộ của xã hội loài người, trong đó nổi bật là việc các thế hệ đi trước truyền thụ lại các kinh nghiệm sống, kinh nghiệm sản xuất, kinh nghiệm hoạt động xã hội nói chung cho các thế hệ

sau

Các nhà nghiên cứu lịch sử giáo dục học đã chứng minh rằng : Từ thời cổ xưa cho đến nay, khi nói đến giáo dục là người ta nói đến những tác động làm phát triển con người cả về thể chất lẫn tâm hồn tức là dạy dỗ, bảo ban, nuôi nấng, chăm sóc Xã hội ngày càng phát triển, nội dung kinh nghiệm ngày càng phong phú và việc truyền thụ kinh nghiệm ngày càng được chuyên môn hóa dần

Trong xã hội dần dần xuất hiện những nhà tri thức – nghề dạy học ra đời

Như vậy về thực chất, nếu xét theo phương diện lịch sử, giáo dục là hiện tượng xã hội trong đó thế hệ trước truyền thụ cho thế hệ sau những kinh nghiệm lịch sử xã hội (chứa đựng những giá trị văn hóa của xã hội, kinh nghiệm xã hội bao gồm: Những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, niềm tin, các thái độ …Tức là các

Trang 11

chuẩn mực, các phương thức và các phương tiện của các hoạt động và giao lưu của con người), thế hệ sau lĩnh hội những kinh nghiệm xã hội đó biến nó thành kinh nghiệm của bản thân, thành nhân cách của mình để có thể tham gia vào cuộc sống, tham gia vào hoạt động lao động sản xuất và các hoạt động xã hội khác, cũng như các mối quan hệ xã hội Nếu xét về phương diện xã hội thì giáo dục là sự truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử xã hội giữa người này và người kia Trong quá trình lĩnh hội và sử dụng những kinh nghiệm lịch

sử xã hội, nhân cách được hình thành và ngày càng phát triển đầy đủ hơn Trong quá trình đó các thế hệ sau không chỉ tiếp thu, lưu trữ, giữ gìn mà còn phát triển giá trị văn hóa xã hội, do đó góp phần phát triển xã hội Cho nên, sự kế tục các thế hệ - đó là quy luật của sự tiến bộ xã hội

Có thể nói việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm đã được tích luỹ trong quá trinh lịch sử phát triển của xã hội loài người là nét đặc trưng cơ bản của giáo dục với tư cách là một hiện tượng xã hội Nó là nhu cầu sống con của con người, là chức năng không thể thiếu được của xã hội loài người

Trong bất cứ một xã hội nào, mục đích của giáo dục đều là chăm sóc, bồi dưỡng con người ở lứa tuổi đi học, là truyền thụ một cách có ý thức cho thế hệ trẻ những kinh nghiệm xã hội, những giá trị văn hóa – tinh thần của loai người

và của dân tộc nhằm làm cho thế hệ trẻ có khả năng tham gia mọi mặt của cuộc sống góp phần phát triển xã hội

Vì vậy, giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, giáo dục mang tính phổ biến và tồn tại cùng với

xã hội loài người

Đạo đức: Với tư cách là một bộ phận của tri thức triết học, những tư tưởng đạo đức học đã xuất hiện rất lâu trước đây trong triết học Trung Quốc, Ấn

Độ, Hy Lạp cổ đại

Trang 12

Danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng La tinh là mos (moris) - lề thói, (moralis nghĩa là có liên quan đến lề thói, đạo nghĩa) Còn “luân lí” thường xem như đồng nghĩa với “đạo đức” thì gốc ở chữ Hy Lạp là Êthicos nghĩa là lề thói; tập tục Hai danh từ đó chứng tỏ rằng, khi ta nói đến đạo đức, tức là nói đến những lề thói tập tục và biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người và người trong sự giao tiếp với nhau hàng ngày Sau này người ta thường phân biệt hai khái niệm, moral là đạo đức, còn Ethicos là đạo đức học

Ở Phương Đông, các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc cổ đại bắt nguồn từ cách hiểu về đạo và đức của họ Đạo là một trong những phạm trù quan trọng nhất của triết học Trung Quốc cổ đại Đạo có nghĩa là con đường, đường đi, về sau khái niệm đạo được vận dụng trong triết học để chỉ con đường của tự nhiên Đạo còn có nghĩa là con đường sống của con người trong xã hội

Khái niệm đạo đức đầu tiên xuất hiện trong kinh văn đời nhà Chu và từ đó trở đi nó được người Trung Quốc cổ đại sử dụng nhiều Đức dùng để nói đến nhân đức, đức tính và nhìn chung đức là biểu hiện của đạo, là đạo nghĩa, là nguyên tắc luân lý Như vậy có thể nói đạo đức của người Trung Quốc cổ đại chính là những yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc sống đặt ra mà mỗi người phải tuân theo

Hầu hết các quan điểm đương đại đều thống nhất cho rằng: đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh cách đánh giá và cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi sức mạnh của truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, đạo đức sinh ra trước hết là

từ nhu cầu phối hợp hành động trong lao động sản xuất vật chất, trong đấu tranh

xã hội, trong phân phối sản phẩm để con người tồn tại và phát triển Cùng với sự phát triển của sản xuất, các quan hệ xã hội, hệ thống các quan hệ đạo đức, ý thức

Trang 13

đạo đức, hành vi đạo đức cũng theo đó mà ngày càng phát triển, ngày càng nâng cao, phong phú, đa dạng và phức tạp

Đạo đức là sản phẩm tổng hợp của các yếu tố khách quan và chủ quan, là sản phẩm của hoạt động thực tiễn và nhận thức của con người Những quan hệ người – người, cá nhân - xã hội càng có ý thức, tự giác, ý nghĩa và hiệu quả của chúng càng có tính chất xã hội rộng lớn thì hoạt động của con người càng có đạo đức Trong tập 3 Mác, Ăngghen toàn tập nêu rõ Đạo đức “đã là một sản phẩm xã hội, và vẫn là như vậy chừng nào con người còn tồn tại”

Giáo dục nói chung, giáo dục đạo đức nói riêng chính là phương thức chuyển văn hóa đạo đức của xã hội thành văn hóa đạo đức của cá nhân Nói cách khác, đó là phương thức và quá trình chuyển những nguyên tắc, những chuẩn mực, những quan điểm và lý tưởng đạo đức của xã hội thành những phẩm chất đạo đức cá nhân, thành nhu cầu và tình cảm đạo đức, thành niềm tin và tri thức, thành trách nhiệm và nghĩa vụ, thành ý chí và động cơ cá nhân, thành năng lực sáng tạo và đánh giá đạo đức của mỗi con người Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, công việc này phải tiến hành thường xuyên, phải “rèn luyện bền bỉ hàng ngày”, phải coi đây là công việc của tất cả mọi người và diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi Đây cũng là một công việc hết sức khó khăn, nó đòi hỏi một sự nỗ lực, tính

tự kiềm chế và cả đức tính kiên trì Một con người hôm nay là tốt nhưng chưa có

gì có thể đảm bảo chắc chắn rằng, ngày mai, ngày kia anh ta cũng vẫn là người tốt Cho nên, mỗi con người, trong suốt cuộc đời của mình, cần phải nỗ lực rèn luyện liên tục để khẳng định và vươn tới cái thiện, chống lại cái ác trong cuộc sống và ngay cả trong chính bản thân mình

1.1.1.2 Giáo dục đạo đức cách mạng

Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về giáo dục đạo đức cách mạng cho rằng Đạo đức có thể tiếp cận như một hình thái ý thức xã hội, nó phản ánh và bị quy định bởi tồn tại xã hội Điều đó có nghĩa là, các quan niệm, quan điểm, các nguyên

Trang 14

tắc, các chuẩn mực, các lý tưởng, niềm tin và tình cảm đạo đức… tức toàn bộ ý thức đạo đức, xét đến cùng, đều là biểu hiện của một trạng thái, một trình độ phát triển nhất định những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội Như vậy, đạo đức phản ánh tồn tại xã hội, mang bản chất xã hội

Đạo đức mang bản chất xã hội, nó chỉ xuất hiện trong xã hội loài người, trong thế giới động vật không có đạo đức Một số quan điểm đạo đức hạ thấp đạo đức xuống quy luật sinh tồn như loài vật là sai lầm Trong đời sống xã hội con người luôn đấu tranh vươn tới không chỉ do sự sinh tồn, mà còn là hoàn thiện chất nhân đạo, nhân văn, tiến bộ Chính những nhu cầu bên trong vốn có

đó mà loài người sáng tạo ra những giá trị đạo đức Cuộc đấu tranh để vươn tới cái nhân đạo, nhân văn, tiến bộ và hoàn thiện nhân cách người là quá trình không ngừng đào thải những cái phản nhân đạo, nhân văn Đó là cuộc đấu tranh giữa thiện và ác Lịch sử phát triển đạo đức trải qua những giai đoạn, những bước thăng trầm khác nhau, nhưng xu thế chung và cuối cùng cái thiện sẽ chiến thắng Cuộc đấu tranh đó xuyên suốt lịch sử và trên bề rộng toàn bộ các lĩnh vực

xã hội Bởi cái thiện bao giờ cũng đại diện cho xu hướng phát triển nó gắn với khoa học, tư tưởng nhân đạo, nhân văn

Đạo đức là một hiện tượng xã hội nó bao gồm ý thức đạo đức, hành vi đạo đức, quan hệ đạo đức Tiếp cận đạo đức phải xác định nó là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng Nó không chỉ là tư tưởng mà còn là hành vi, quan hệ, hành động đạo đức Các tổ chức hiện thực hoá tư tưởng trên hiện thực Như vậy, đạo đức cũng là một chỉnh thể bao gồm các yếu tố khác nhau trong tính thống nhất Bản chất đạo đức là cái phản ánh hiện thực xã hội Tức là đạo đức hình thành, phát triển trên nền tảng hiện thực là cơ sở hạ tầng ấy Như vậy, sự phát triển của đạo đức phụ thuộc vào sự phát triển của nền tảng kinh tế, cơ sở hạ tầng

xã hội

Cùng với tính thời đại và tính dân tộc, Ph.Ăngghen đặc biệt chú ý đến tính giai cấp của đạo đức Trong xã hội có giai cấp và đối kháng giai cấp, mỗi giai cấp

Trang 15

có vai trò, địa vị khác nhau trong hệ thống kinh tế, xã hội và do đó họ có các lợi ích khác và đối nghịch nhau và ông cho rằng, trong xã hội có phân chia giai cấp, mỗi

hệ thống đạo đức đều biểu hiện lợi ích của một giai cấp nhất định Đạo đức với tư cách là hình thái ý thức xã hội đã phản ánh và khẳng định lợi ích của mỗi giai cấp,

ý thức đạo đức giúp mỗi giai cấp hiểu được lợi ích của nó, hiểu được những cách thức, biện pháp bảo vệ và khẳng định lợi ích giai cấp, mỗi giai cấp đều sử dụng đạo đức của mình như là công cụ bảo vệ lợi ích của mình Như vậy, tính giai cấp của đạo đức là biểu hiện đặc trưng của bản chất xã hội của đạo đức trong xã hội có giai cấp (vì xã hội là quan hệ người - người, quan hệ người - người không trừu tượng

mà gắn với quan hệ kinh tế - xã hội) Trong xã hội có giai cấp thì ý thức đạo đức mang bản chất giai cấp sâu sắc Bản chất giai cấp của đạo đức là mỗi giai cấp khác nhau có hệ thống chuẩn mực, quan hệ đạo đức khác nhau Trong xã hội có giai cấp thì xung đột giá trị, chuẩn mực đạo đức diễn ra gay go, quyết liệt Do

đó, không có đạo đức chung chung, đứng trên mọi sự phân biệt giai cấp, trong xã hội có giai cấp, các chuẩn mực, giá trị đạo đức của giai cấp thống trị đóng vai trò chi phối toàn bộ đời sống đạo đức xã hội và áp đặt truyền bá trong toàn xã hội

Kế thừa và phát triển tư tưởng trước đó, C.Mác viết: “Nếu như lợi ích đúng đắn là nguyên tắc của toàn bộ đạo đức thì do đó cần ra sức làm cho lợi ích riêng của con người cá biệt phù hợp với lợi ích của toàn thể loài người” [18, tr.199-200] Đối với ông, vấn đề không phải ở chỗ đối lập một cách tách rời giữa lợi ích và đạo đức, mà là giải quyết như thế nào quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội để hành vi thực hiện lợi ích của con người trở thành hành vi đạo đức Lợi ích cá nhân, khi phù hợp với lợi ích xã hội thì trở thành một bộ phận của lợi ích xã hội; và trong trường hợp đó, hành vi thực hiện lợi ích cá nhân là chính đáng về mặt đạo đức Tuy nhiên trong điều kiện xã hội còn phân chia giai cấp thì lợi ích cá nhân khó có thể phù hợp với lợi ích xã hội một cách phổ biến Vì vậy, ra sức làm cho lợi ích của con người cá biệt phù hợp với lợi ích của toàn thể loài người có nghĩa là, ra sức đấu tranh cho sự hình thành xã hội cộng sản chủ nghĩa, nơi mà lợi ích cá nhân hoàn

Trang 16

toàn thống nhất với lợi ích xã hội của toàn thể xã hội, của loài người Theo C.Mác đạo đức không phải là sự phản ánh trực tiếp cơ sở kinh tế, và quan hệ giữa kinh tế với đạo đức không phải là quan hệ đơn trị, một chiều Vì vậy, không phải mọi biến đổi nào trong cơ sở kinh tế cũng đều nhất thiết và ngay lập tức dẫn đến sự biến đổi tương ứng trong đạo đức Nhìn nhận đạo đức như một hình thái ý thức xã hội, C.Mác không những đã chỉ ra tính quy định của kinh tế đối với đạo đức, mà còn cho thấy những ảnh hưởng của triết học, chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo… nghĩa là toàn bộ đời sống tinh thần đối với đạo đức Đồng thời ông cũng chỉ ra sự

kế thừa đó lại bị quy định bởi lợi ích giai cấp đang tiến hành xây dựng hệ thống đạo đức của mình

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin rất coi trọng giáo dục đạo đức C.Mác, Ph.Ăngghen cho rằng phải trong chiến đấu sản xuất: chỉ có một cuộc cách mạng mới cho phép giai cấp đi lật đổ giai cấp kia vứt bỏ được mọi sự thối nát cũ khỏi bản thân mình và trở thành có năng lực xây dựng xã hội trên cơ

sở mới

Theo đại từ điển tiếng Việt thì nguyên tắc là “những quy định, phép tắc, tiêu chuẩn làm cơ sở, chỗ dựa để xem xét, làm việc” Như vậy, nguyên tắc là những quy định, những tiêu chuẩn, là khuôn mẫu, nền tảng để mọi hoạt động thực tiễn làm cơ sở, làm chỗ dựa Chủ tịch Hồ Chí Minh coi ĐĐCM là “gốc”, là

“nền tảng”, là cái “căn bản” của người cách mạng

Giáo dục đạo đức là một trong những vấn đề nổi bật trong tư tưởng đạo đức

Hồ Chí Minh Người đặc biệt nhấn mạnh vai trò của đạo đức và luôn quan tâm đến việc giáo dục đạo đức trong sự nghiệp trồng người

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tâm niệm “vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” Điều đó đã lý giải vì sao trong suốt cuộc đời và sự nghiệp của mình, Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến giáo dục và đào tạo con người

Trang 17

Người đặc biệt nhấn mạnh vai trò của đạo đức và luôn quan tâm đến việc giáo dục đạo đức trong hoạt động giáo dục và đào tạo Người luôn cho rằng,

“hiền dữ phải đâu là tính sẵn, phần nhiều do giáo dục mà nên” Đối với Người, việc quan tâm đến giáo dục là vì muốn “đào tạo ra những công dân tốt và cán bộ tốt cho nước nhà”. Những công dân tốt, những cán bộ tốt đó, đương nhiên phải

có đủ cả đức lẫn tài

Giáo dục nói chung, giáo dục đạo đức nói riêng, chính là phương thức chuyển văn hóa đạo đức của xã hội thành văn hóa đạo đức của cá nhân Nói cách khác, đó là phương thức và quá trình chuyển những nguyên tắc, những chuẩn mực, những quan điểm và lý tưởng đạo đức của xã hội thành những phẩm chất đạo đức cá nhân, thành nhu cầu và tình cảm đạo đức, thành niềm tin và tri thức, thành trách nhiệm và nghĩa vụ, thành ý chí và động cơ cá nhân, thành năng lực sáng tạo và đánh giá đạo đức của mỗi con người Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, công việc này phải tiến hành thường xuyên, phải “rèn luyện bền bỉ hàng ngày”, phải coi đây là công việc của tất cả mọi người và diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi Đây cũng là một công việc hết sức khó khăn, nó đòi hỏi một sự nỗ lực, tính

tự kiềm chế và cả đức tính kiên trì

Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng sớm nhận thấy rằng, trong điều kiện cơ chế thị trường, mở cửa với bên ngoài, cán bộ, đảng viên hằng ngày, hằng giờ chịu sự tác động của nhiều nhân tố phức tạp, kể cả sự chống phá của các thế lực thù địch, vấn đề giữ vững bản chất giai cấp công nhân và phẩm chất, đạo đức cộng sản đứng trước những thách thức mới "Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng bản thân, phai nhạt lý tưởng, mất cảnh giác, giảm sút ý chí, kém ý thức tổ chức kỷ luật, sa đọa về đạo đức và lối sống Một số thoái hóa

Đại hội IX của Đảng (4-2001) cũng thẳng thắn chỉ ra rằng: "Tình trạng tham

nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận không

Trang 18

nhỏ cán bộ, Đảng viên là rất nghiêm trọng Nạn tham nhũng kéo dài trong bộ

máy của hệ thống chính trị và trong nhiều tổ chức kinh tế là một nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ ta Tình trạng lãng phí, quan liêu còn khá phổ biến"

Nghị quyết Đại hội X của Đảng đánh giá: Cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng chưa

đạt yêu cầu và nêu rõ: "Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối

sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ, công chức diễn ra nghiêm trọng"

Tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán

bộ, đảng viên trong những năm đổi mới đã được các Đại hội Đảng và Hội nghị Trung ương nhìn nhận một cách thẳng thắn, nghiêm túc Có thể quy lại ba

nguyên nhân chính của tình trạng đó Một là, do tác động của nhiều nhân tố

phức tạp trong điều kiện của nền kinh tế nhiều thành phần, kinh tế thị trường,

mở cửa với bên ngoài Hai là, công tác giáo dục, rèn luyện đạo đức, lối sống cho

cán bộ, đảng viên của các tổ chức đảng chưa được chú ý đúng mức, thậm chí

còn buông lỏng Ba là, không ít cán bộ, đảng viên mang nặng chủ nghĩa cá nhân,

không chịu tu dưỡng, rèn luyện về đạo đức, lối sống

Để chặn đứng đà suy thoái về đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên,

một mặt, phải chủ động phòng ngừa những tác động tiêu cực từ bên ngoài; mặt khác, chủ yếu và quan trọng và phải tăng cường công tác giáo dục, rèn luyện cán

bộ, đảng viên và mỗi cán bộ, đảng viên phải thật sự nghiêm túc tự rèn luyện, tự mình nâng cao đạo đức cách mạng

Đạo đức cách mạng chứa đựng nội dung lớn, căn bản và hoàn toàn có thể thực hiện tốt nếu mỗi người chú trọng tu dưỡng rèn luyện Tuân theo những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng ta trong công cuộc đổi mới, có thể hiểu đạo đức cách mạng hiện nay trên mấy điểm chính sau đây:

Tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phấn đấu hết

Trang 19

sức mình cho sự thắng lợi, sự phát triển của công cuộc đổi mới vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Hết lòng, hết sức phục vụ sự nghiệp của Đảng, của Tổ quốc và nhân dân, trung với nước, hiếu với dân, đặt lợi ích của cách mạng, của đất nước và nhân dân lên trên lợi ích của cá nhân, theo nguyên tắc "Dĩ công vị thương"

Thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư Không tham nhũng, xâm phạm tài sản của Nhà nước và nhân dân, không lãng phí Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, cương lĩnh, kỷ luật của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước

Ra sức học tập, rèn luyện không ngừng nâng cao trình độ, năng lực công tác, giữ gìn lối sống trong sạch, lành mạnh Đề cao tự phê bình và phê bình nhằm góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị vững mạnh

Gương mẫu trong mọi việc, gắn bó mật thiết với quần chúng nhân dân, đoàn kết, thân ái, nêu cao tinh thần thương yêu đồng chí, thương yêu nhân dân

Để không ngừng nâng cao đạo đức cách mạng trong cán bộ, đảng viên, có thể và cần phải tập trung thực hiện một số giải pháp chủ yếu:

Thứ nhất, phải coi trọng nhiệm vụ giáo dục cho cán bộ, đảng viên về đạo đức, phẩm chất, lối sống Nếu trong xã hội, trong hệ thống nhà trường phổ thông

và đại học phải coi trọng giáo dục luân lý, đạo đức cho mọi tầng lớp, cho thế hệ trẻ, thì trong Đảng và bộ máy hệ thống chính trị phải đặc biệt chú trọng giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên Trong hệ thống trường đào tạo cán bộ của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân nhất thiết phải có môn học về đạo đức cách mạng Đồng thời, cần tăng cường giáo dục cán bộ, đảng viên qua sinh hoạt ở tổ chức đảng Trong sinh hoạt chi bộ và cấp ủy không chỉ có phần đánh giá công việc, mà còn phải kiểm điểm, đánh giá về đạo đức cán bộ "Các tổ chức đảng phải thường xuyên giáo dục, rèn luyện, quản lý đảng viên, kể cả đảng viên

Trang 20

là cán bộ cao cấp" Nghị quyết Trung ương sáu (lần 2) khóa VIII, nhấn mạnh:

Các tổ chức đảng phải thường xuyên giáo dục, quản lý, kiểm tra cán bộ, đảng viên về đạo đức, lối sống Đại hội IX của Đảng nhấn mạnh việc tăng cường công

tác giáo dục tư tưởng chính trị, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa

cá nhân Nghị quyết Đại hội X của Đảng cũng nêu rõ, cần làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, quản lý và giám sát đảng viên

Thứ hai, tăng cường vai trò, hiệu lực của kỷ luật Đảng và pháp luật của Nhà nước, tập trung chỉ đạo đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí có hiệu quả Tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí là một vấn nạn gây nhức nhối trong

xã hội hiện nay Những tệ nạn đó vừa vi phạm luật pháp của Nhà nước, vừa là những hành vi vô đạo đức Nhà nước đã từng ban hành pháp lệnh và phát triển thành luật phòng ngừa và chống tham nhũng, lập ra các cơ quan chống tham nhũng Nghị quyết Trung ương sáu (lần 2) khóa VIII xác định rõ: "Các cấp ủy Đảng và người đứng đầu các cấp, các ngành từ trung ương đến cơ sở phải chịu trách nhiệm chống tham nhũng ở nơi mình phụ trách Bộ Chính trị phân công một số ủy viên Bộ Chính trị, các cấp ủy phân công ủy viên Ban Thường vụ trực tiếp chỉ đạo chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu Khi xảy ra tham nhũng, lãng phí và các hiện tượng tiêu cực ở địa phương, ngành, cơ quan, đơn vị mình phụ trách thì tùy theo mức độ và tính chất vi phạm của vụ việc mà xem xét hình thức

kỷ luật đối với cấp ủy và người đứng đầu về chế độ trách nhiệm" "Cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp cùng với các cơ quan thanh tra, điều tra, kiểm sát, tòa án phải nắm chắc tình hình và khẩn trương kiểm tra, kết luận, xử lý kịp thời đúng pháp luật những đơn tố cáo về đạo đức, lối sống tiêu cực của cấp ủy viên và người đứng đầu các cơ quan, trước hết đối với Ủy viên Trung ương, trưởng ban,

bộ trưởng, bí thư cấp ủy, chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị" Đó là những biện pháp rất cần thiết và mạnh mẽ cần được thực hiện triệt để

Trang 21

Thứ ba, cần tăng cường tuyên truyền, học tập những tấm gương về đạo đức cách mạng, xây dựng, bồi đắp cái tốt, cái đúng trong hành vi đạo đức, biểu

dương người tốt, việc tốt, lên án cái xấu, cái ác một cách cụ thể Chủ tịch Hồ

Chí Minh không chỉ nói nhiều về đạo đức của người cách mạng mà bản thân cuộc đời và sự nghiệp của Người là tấm gương đạo đức cách mạng trong sáng

và cao đẹp Cần phải xây dựng kế hoạch tuyên truyền, học tập đạo đức Hồ Chí Minh Cần phải nhận thức rằng, đạo đức của Bác không phải là cái gì cao siêu,

xa vời, chỉ để chiêm ngưỡng, ca ngợi, mà đạo đức đó rất thiết thực, cụ thể, mọi người đều có thể học tập và làm theo Nhiều tấm gương trong sáng về đạo đức cách mạng của các đồng chí lãnh đạo các chiến sĩ cách mạng qua các thời kỳ cần được tuyên truyền học tập Tấm gương Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc và biết bao đồng chí khác là biểu hiện chủ nghĩa anh hùng cách mạng và đạo đức cao đẹp không chỉ thế hệ trẻ mà mọi cán bộ, đảng viên cần phải đọc, suy ngẫm

và hành động cho xứng đáng Trong công cuộc đổi mới cũng có rất nhiều cán

bộ, đảng viên tiêu biểu, nêu cao đạo đức, thật sự vì nước, vì dân Trong sinh hoạt đảng, đoàn thể, cơ quan, trường học, đơn vị kinh tế, tổ chức xã hội cần nêu gương và học tập những tấm gương tiêu biểu đó Cần có nhiều cuốn sách viết về những "người tốt, việc tốt" Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh và cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng rất quan tâm đến sách "người tốt, việc tốt" Các phương tiện thông tin đại chúng cũng cần tăng cường hơn chuyên mục về những tấm gương đạo đức cách mạng trong quá khứ và hiện tại Phải tập trung động viên, cổ vũ cái tốt, cái đúng, cái cao thượng để đẩy lùi cái xấu, cái sai, cái thấp hèn

1.1.2 Giáo dục đạo đức cách mạng cho học viên sĩ quan kỹ thuật quân đội nhân dân Việt Nam trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường

1.1.2.1 Khái niệm học viên sĩ quan

Học viên sĩ quan là một nhóm quân nhân bao gồm những thanh niên vừa rời ghế nhà trường phổ thông trung học và những quân nhân đang thực hiện nghĩa

vụ quân sự khắp mọi miền tổ quốc có tuổi đời từ 18 – 25 thi đậu vào các trường

Trang 22

đào tạo sĩ quan của Bộ Quốc phòng đang học tập, tu dưỡng, rèn luyện để trở thành sĩ quan chỉ huy cấp phân đội

1.1.2.2 Học viên sĩ quan Kỹ thuật Quân sự

Học viên sĩ quan kỹ thuật quân sự là một nhóm quân nhân bao gồm những

thanh niên vừa rời ghế nhà trường phổ thông trung học và những quân nhân đang thực hiện nghĩa vụ quân sự khắp mọi miền tổ quốc có tuổi đời từ 18 – 25 thi đậu vào trường Học viện Kỹ thuật Quân sự và trường Sĩ quan Kỹ thuật Quân

sự đang học tập, tu dưỡng rèn luyện để sau khi tốt nghiệp trở thành sĩ quan chỉ huy cấp phân đội về bảo đảm công tác Kỹ thuật cho Quân đội nhân dân Việt Nam

1.1.2.3 Kinh tế thị trường và đặc trưng của kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa

Đại hội VI của Đảng năm 1986 đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, đưa ra những quan niệm mới về con đường đi lên CNXH, về cơ cấu kinh tế, cơ chế quản lý kinh tế; đồng thời thừa nhận sự tồn tại khách quan của sản xuất hàng hoá Đại hội đã chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần nhằm giải phóng sức sản xuất và chuyển sang thực hiện cơ chế kế hoạch hoá theo phương thức hoạch toán kinh doanh

Đại hội VII năm 1991 tiếp tục làm rõ hơn về mục tiêu, con đường đi lên CNXH và lần đầu tiên trong Văn kiện của Đảng có sử dụng thuật ngữ “cơ chế thị trường” Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH đã khẳng định: “Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước” [3, tr.9,10] Đại hội VIII của Đảng năm 1996 tiếp tục khẳng định: “Sản xuất hàng hoá không đối lập với CNXH, mà là thành tựu phát triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần thiết cho công cuộc xây dựng CNXH và cả khi CNXH đã được xây dựng” Tiếp tục kế thừa và phát triển những quan điểm về đổi mới, Đại hội IX của Đảng năm 2001 đã khẳng định: “Đảng và Nhà nước ta

Trang 23

chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN; đó chính là nền KTTT định hướng XHCN” [6,

tr 86] Trên cơ sở những quan điểm của Đại hội IX, Đại hội X của Đảng tiếp tục khẳng định: “Để đi lên CNXH, chúng ta phải phát triển nền KTTT định hướng XHCN” [7, tr 69]

KTTT định hướng XHCN có những đặc trưng cơ bản sau:

Thứ nhất, đó là nền kinh tế nhiều thành phần dựa trên cơ sở đa dạng hoá

các hình thức sở hữu, với ba loại hình thức sở hữu cơ bản là sở hữu toàn dân, sở

hữu tập thể và sở hữu tư nhân Từ ba hình thức sở hữu cơ bản đó mà hình thành nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức sản xuất kinh doanh, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân Đại hội XI của Đảng chỉ ra 4 thành phần kinh tế cơ bản là: “Kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài” [8, tr 83]

Thứ hai, KTTT xã hội chủ nghĩa thực hiện nhiều hình thức phân phối, trong

đó lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu Trong

mỗi chế độ xã hội bao giờ cũng có chế độ phân phối tương ứng với nó Nói cách khác chế độ phân phối như thế nào là do quan hệ sản xuất thống trị - mà trước hết là quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất quyết định Dưới chế độ tư bản, việc phân phối sẽ được thực hiện theo nguyên tắc giá trị, nghĩa là đối với người lao động thì theo giá trị sức lao động, còn nhà tư bản thì theo giá trị tư bản Trong nền KTTT định hướng XHCN, việc thực hiện phân phối theo kết quả lao động

và hiệu quả kinh tế là chủ yếu, ngoài ra còn có các hình thức phân phối khác như theo tỷ lệ vốn, phúc lợi xã hội

Thứ ba, đó là nền kinh tế mở hội nhập kinh tế thế giới và khu vực Đây không

những là một đặc trưng riêng của nền KTTT mà còn là đặc trưng chung của các nền

Trang 24

kinh tế hiện nay Trong xu thế chung của quá trình toàn cầu hoá kinh tế, chỉ có mở cửa kinh tế để hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực mới khai thác có hiệu quả mọi nguồn lực trong nước và thu hút được vốn, kỹ thuật công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý kinh tế để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nư-

tế, trên cơ sở nhận thức và tuân thủ theo những quy luật chung của nền kinh tế thị trường, Nhà nước có những định hướng phù hợp với những mục tiêu chính trị, với đặc điểm bản sắc văn hoá dân tộc, nhằm: “Thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; giải phóng mạnh mẽ và không ngừng phát triển sức sản xuất nâng cao đời sống nhân dân; đẩy mạnh xoá đói giảm nghèo, khuyến khích mọi người vươn lên làm giàu chính đáng, giúp đỡ người khác thoát nghèo và từng bước khá giả hơn” [11, tr.77]

Từ sự phân tích trên ta có thể quan niệm: KTTT định hướng xã hội chủ

nghĩa là phương thức phát triển sức sản xuất để đi lên chủ nghĩa xã hội Một kiểu tổ chức nền kinh tế vừa dựa trên những nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên sự dẫn dắt chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội

Như vậy, KTTT định hướng XHCN là một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của thị trường, vừa có định hướng bởi các nguyên tắc của CNXH Đây là nền kinh tế luôn chịu sự tác động của các quy luật khách quan của KTTT như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh và nhà nước một mặt tạo điều kiện cho các quy luật phát huy tác dụng, mặt khác bằng các biện pháp thích hợp để hạn chế các mặt tiêu cực do cơ chế thị trường sản sinh ra

Trang 25

Tính định hướng XHCN của nền KTTT luôn gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước Bằng các chiến lược, quy hoạch, chính sách, luật pháp và thực lực nền kinh tế, Nhà nước XHCN có đầy đủ khả năng định hướng, dẫn dắt, điều tiết và tạo môi trường thuận lợi để giải phóng sức sản xuất, bảo đảm tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội, bảo tồn và phát triển các giá trị văn hoá, lối sống XHCN

Mặc dù đến nay, nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta vẫn còn có nhiều yếu tố sơ khai, tự phát, song chủ trương phát triển KTTT định hướng XHCN là một chủ trương hoàn toàn đúng đắn, sáng tạo, nó đánh dấu bước phát triển mới về tư duy lý luận của Đảng ta Chủ trương này không những nhận được sự đồng thuận, nhất trí cao trong Đảng, trong xã hội mà còn tạo ra động lực mạnh mẽ đa nền kinh tế đất nước tăng trưởng liên tục với tốc độ cao, đưa đất nước ta thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng về kinh tế

xã hội, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được cải thiện, tình hình chính trị - xã hội luôn ổn định, niềm tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ XHCN nghĩa vì thế mà ngày càng được củng cố và tăng cường, vị thế của đất nước ta trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao Điều đó đã có tác động tích cực đến quá trình phát triển đạo đức xã hội nói chung, ĐĐCM của học viên ĐTSQCH cấp phân đội ở Trường Sĩ quan kỹ thuật Quân sự nói riêng

1.1.2.4 Ảnh hưởng của kinh tế thị trường đến giáo dục đạo đức cách mạng đối với học viên sĩ quan chỉ huy cấp phân đội

Quá trình giáo dục ĐĐCM cho học viên là một quá trình chịu sự tác động của hàng loạt các yếu tố như: sự chi phối của môi trường kinh tế - xã hội; quá trình kế thừa, phát triển truyền thống của dân tộc, của quân đội, của Tổng cục

Kỹ thuật và Trường Sĩ quan kỹ thuật Quân sự; quá trình giáo dục của hệ thống các tổ chức trong nhà trường và quá trình tự giáo dục của học viên; phụ thuộc vào môi trường văn hoá, đạo đức và thực tiễn thực hiện mục tiêu yêu cầu giáo dục đào tạo của học viện… Trong đó sự tác động của KTTT là nhân tố cơ bản quan trọng và quyết định nhất

Trang 26

Đạo đức học Mác- Lênin đã chỉ rõ: đạo đức nảy sinh do nhu cầu của đời sống xã hội, là sản phẩm của lịch sử xã hội, do cơ sở kinh tế - xã hội sinh ra và quyết định Quan hệ đạo đức là biểu hiện của quan hệ vật chất xã hội và biến đổi theo đời sống vật chất xã hội Nghĩa là, quá trình phát triển của xã hội trên cơ sở của phát triển sản xuất vật chất mà đạo đức dần được hoàn thiện Đạo đức phát triển từ thấp đến cao cùng với sự phát triển của các hình thái kinh tế- xã hội thông qua sự đấu tranh lọc bỏ, kế thừa để tiến bộ không ngừng

Sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã làm thay đổi toàn diện bộ mặt của xã hội Trong sự nghiệp đó Đảng ta lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang xây dựng nền KTTT định hướngXHCN là điểm nổi bật của công cuộc đổi mới

Sự chuyển đổi của cơ chế quản lý kinh tế từ tập trung quan liêu sang KTTT dẫn đến những tác động to lớn trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có đạo đức “Trong điều kiện kinh tế thị trường, xã hội không chỉ có tư tưởng đạo đức thuần nhất mà nó có nhiều tầng, nhiều tư tưởng đan xen như một mạng lưới nhiều quan niệm đạo đức khác nhau cùng tồn tại” [14, tr.46] Dân tộc

ta có lịch sử lâu đời với truyền thống đạo đức của người phương Đông, ở đó đã

có dấu ấn đạo đức xã hội rất đậm nét, cùng với sự xa lạ với kinh tế thị trường, vì vậy sự tác động, biến đổi đối với đạo đức là hết sức to lớn gồm cả mặt tích cực

sự phát triển của chủ nghĩa cá nhân, các tệ nạn xã hội như tham nhũng, mại dâm,

ma tuý, chạy theo lối sống không lành mạnh, có những biểu hiện coi nhẹ giá trị truyền thống, đề cao giá trị vật chất

Sự phát triển ĐĐCM của học viên là một quá trình chịu sự tác động của

Trang 27

nhiều nhân tố khác nhau, trong đó có sự ảnh hưởng mạnh mẽ của kinh tế thị

trường ảnh hưởng của KTTT đến phát triển ĐĐCM của học viên ĐTSQCH cấp

phân đội ở Trường Sĩ quan kỹ thuật Quân sự là sự tác động của KTTT tới các mặt, các yếu tố của quá trình phát triển đạo đức của họ gây nên những biến đổi nhất định

1.1.2.5 Giáo dục đạo đức cách mạng cho học viên sĩ quan chỉ huy cấp phân đội ở trường sĩ quan Kỹ thuật Quân sự

Đạo đức cách mạng của người học viên ĐTSQCH cấp phân đội ở trường sĩ quan Kỹ thuật Quân sự không phải tự nhiên mà có, cũng không phải hình thành một lần là xong, mà đó là cả một quá trình tích luỹ về lượng để đến một giai đoạn nào đó có sự phát triển về chất, đó là cả một quá trình phát triển khó khăn, phức tạp, thông qua các hoạt động giáo dục đào tạo, hoạt động thực tiễn của học viên trong suốt thời gian tại Trường Sĩ quan kỹ thuật Quân sự

Có thể quan niệm: Giáo dục ĐĐCM cho học viên ĐTSQCH cấp phân đội

ở trường sĩ quan Kỹ thuật Quân sự là một quá trình tự giác, tích cực tiếp nhận, chuyển hoá những giá trị đạo đức thành giá trị ĐĐCM trong nhân cách mỗi học viên và là quá trình tham gia sáng tạo những giá trị mới thông qua hoạt động thực tiễn của học viên, dưới sự tác động của các chủ thể giáo dục và sự chi phối của điều kiện hoàn cảnh khách quan mà trực tiếp là môi trường đạo đức ở trường sĩ quan Kỹ thuật Quân sự

Đó là quá trình người học viên tiếp tục nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn về mô hình đạo đức người sĩ quan chỉ huy cấp phân đội trong tương lai theo mô hình anh “Bộ đội cụ Hồ”, với những phẩm chất đạo đức cao đẹp, lòng trung thành vô hạn với Tổ quốc, với Đảng, với nhân dân, yên tâm gắn bó với sự nghiệp xây dựng quân đội; là đạo đức “cần, kiệm, liêm, chính, chí công

vô tư”, tận trung với Đảng, tận hiếu với dân; sống có tình, có nghĩa, làm việc tận tâm, có trách nhiệm cao, có kỷ luật nghiêm; là sự kết hợp giữa các phẩm chất đạo đức truyền thống của dân tộc với những giá trị nhân văn hiện đại Vì vậy,

Trang 28

phát triển ĐĐCM cho học viên ĐTSQCH cấp phân đội ở Trường Sĩ quan kỹ thuật Quân sự là một quá trình và được thực hiện với một quá trình hoàn chỉnh,

đó là:

Thứ nhất, giáo dục ĐĐCM cho học viên ĐTSQCH cấp phân đội ở trường

sĩ quan Kỹ thuật Quân sự chịu sự tác động của nhiều nhân tố có vai trò, vị trí và hiệu lực tác động khác nhau…Song có hai nhân tố cơ bản, trung tâm xuyên suốt quá trình là chủ thể giáo dục và đối tượng giáo dục

Chủ thể giáo dục bao gồm hệ thống lãnh đạo, chỉ huy, Hội đồng quân nhân, Đoàn thanh niên, hệ thống khoa giáo viên Hoạt động của chủ thể giáo dục mang tính thường xuyên, tích cực và tự giác cao, điều đó được biểu hiện ở hoạt động của chủ thể là hoạt động có mục đích, nội dung kế hoạch cụ thể với những hình thức phong phú nhằm tạo nên sự phát triển ĐĐCM của học viên một cách đồng

bộ trên tất cả các phương diện: Nhận thức, quan hệ, hành vi đạo đức Đồng thời, chủ thể giáo dục thường xuyên kiểm tra, theo dõi, định hướng và uốn nắn quá trình phát triển đạo đức của người học viên

Đối tượng giáo dục ở Trường Sĩ quan kỹ thuật Quân sự đó chính là những học viên ĐTSQCH cấp phân đội, họ là đối tượng trực tiếp chịu sự tác động của các chủ thể giáo dục Đồng thời, trong quá trình giáo dục đào tạo tại nhà trường

họ lại là những chủ thể tích cực, chủ động tự giác tiếp nhận hệ thống giá trị ĐĐCM và chuyển hoá thành giá trị đạo đức riêng của mình Do đó, vai trò của chủ thể giáo dục là hết sức quan trọng, song nhân tố quyết định tới sự phát triển đạo đức cách mạng của người học viên chính là họ - chủ thể tiếp nhận Vì vậy, cần phải biến quá trình giáo dục đào tạo thành quá trình tự giáo dục, tự phát triển của chính người học viên

Hai là, giáo dục ĐĐCM cho học viên ĐTSQCH cấp phân đội ở trường sĩ

quan Kỹ thuật Quân sự là một quá trình tích luỹ dần những nhân tố tích cực, những giá trị ĐĐCM tạo ra sự chuyển hoá về phẩm chất đạo đức trong nhân cách đạo đức người học viên

Trang 29

Giáo dục ĐĐCM của học viên được thực hiện trong suốt quá trình đào tạo tại nhà trường Đó là quá trình học viên lựa chọn, tiếp nhận, tích luỹ dần những giá trị ĐĐCM, qua đó nâng cao nhận thức phấn đấu, từng bước hoàn thiện ĐĐCM ở mỗi người Sự phát triển ĐĐCM của người học viên ĐTSQCH cấp phân đội ở Trường Sĩ quan kỹ thuật Quân sự được thể hiện ở những mặt với những nội dung cụ thể sau:

Về ý thức đạo đức, từng bước nâng cao nhận thức, hiểu biết về chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng, về ĐĐCM Từ đó có sự giác ngộ ngày càng sâu sắc về lý tưởng cách mạng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có động cơ đúng đắn, xu hướng nghề nghiệp rõ ràng, tích cực học tập, rèn luyện để trở thành sĩ quan chỉ huy cấp phân đội, phát triển các phẩm chất ĐĐCM theo đúng định hướng của Đảng và Quân đội

Về quan hệ đạo đức, từng bước hoàn hiện và giải quyết tốt các mối quan

hệ đạo đức theo chuẩn mực ĐĐCM, trước hết là với Đảng, Tổ quốc, với nhân dân Đồng thời, giải quyết hài hoà, đúng mực các mối quan hệ trong nhà trư-ờng, đơn vị và xã hội

Về thực tiễn đạo đức, từng bước nâng cao chất lượng hoạt động, ứng xử theo chuẩn mực ĐĐCM, điều đó được thể hiện rõ nét ở hiệu suất công tác, kết quả học tập, rèn luyện Nâng dần trình độ tự giác, chấp hành nghiêm túc kỷ luật quân đội, sẵn sàng chiến đấu và thực hiện các nhiệm vụ khác Rèn luyện lối sống của người quân nhân cách mạng, trung thực, giản dị, cầu tiến bộ

Giáo dục ĐĐCM cho học viên ĐTSQCH cấp phân đội ở trường sĩ quan

Kỹ thuật Quân sự là một quá trình liên tục, năm học sau cao hơn năm trước, và

sự phát triển đó phải mang tính ổn định, vững chắc

Ba là, giáo dục ĐĐCM cho học viên ĐTSQCH cấp phân đội ở trường sĩ quan

Kỹ thuật Quân sự là quá trình giải quyết mâu thuẫn nội tại tạo động lực thúc đẩy sự tiến bộ đạo đức của họ, đáp ứng yêu cầu, mục tiêu đào tạo của nhà trường, Quân đội

Giáo dục ĐĐCM cho học viên ĐTSQCH cấp phân đội ở trường sĩ quan

Trang 30

Kỹ thuật Quân sự là quá trình giải quyết mâu thuẫn cơ bản bên trong, đó là mâu thuẫn giữa xu hướng phát triển ĐĐCM của học viên với lực lượng cản trở quá trình phát triển đó Biểu hiện của mâu thuẫn này là sự đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, giữa cái tiến bộ và cái bảo thủ, lạc hậu, giữa cái tốt và cái xấu Cuộc đấu tranh giải quyết mâu thuẫn diễn ra mọi lúc, mọi nơi, trong mọi hoạt động của học viên Đây là một cuộc đấu tranh hết sức gay go, quyết liệt, phức tạp trên lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối sống hiện nay Cuộc đấu tranh này không có giới tuyến, nó diễn ra ngay trong mỗi con người, mỗi tập thể học viên Những tàn dư

tư tưởng, thói quen đạo đức lỗi thời, lạc hậu đã ảnh hưởng tới đạo đức một bộ phận học viên trước khi vào quân đội và không dễ dàng mất đi, nó tác động, ảnh hưởng, cản trở sự phát triển các nhân tố đạo đức tiến bộ ở từng học viên, tập thể học viên

Bốn là, giáo dục ĐĐCM cho học viên ĐTSQCH cấp phân đội ở trường sĩ

quan Kỹ thuật Quân sự là quá trình bảo tồn và phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của Đảng, quân đội, quân chủng và của nhà trường Đây là đặc trưng của quá trình phát triển ĐĐCM của học viên là đòi hỏi khách quan và cấp thiết

Kế thừa biện chứng là quy luật vận động, phát triển tất yếu của mọi sự vật, hiện tượng Bởi lịch sử là một dòng chảy liên tục từ quá khứ đến hiện tại, là

sự nối tiếp nhau của các thế hệ, mà thế hệ sau bao giờ cũng kế thừa những tinh hoa giá trị vật chất, tinh thần của các thế hệ đi trước, trong đó có truyền thống đạo đức Quá trình phát triển ĐĐCM của học viên ở Trường Sĩ quan kỹ thuật Quân sự cũng chính là quá trình kế thừa và phát triển những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, của quân đội, quân chủng và của nhà trường phù hợp với tính chất, đặc điểm, nhiệm vụ của cách mạng trong giai đoạn mới

Trang 31

1.2 Giáo dục đạo đức cách mạng cho học viên sĩ quan chỉ huy cấp phân đội

là một yêu cầu khách quan trong giai đoạn hiện nay

1.2.1 Yêu cầu phát triển đội ngũ sĩ quan chỉ huy có đạo đức cách mạng, bản lĩnh chính trị vững vàng

Trước yêu cầu nhiệm vụ mới,đội ngũ sĩ quan chỉ huy Kỹ thuật được Đảng, Nhà nước, Quân đội quan tâm đầu tư để tiến lên hiện đại, nhằm góp phần làm cho khả năng, tác chiến của Quân đội phát triển lên một trình độ mới Để đảm bảo cho lực lượng hoàn thành chức năng, nhiệm vụ được giao, đội ngũ sĩ quan cần xây dựng đạo đức cách mạng và bản lĩnh chính trị như sau

Trước hết, mỗi học viên cần thường xuyên thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,

đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước cũng như yêu cầu nhiệm vụ của lực lượng trong thời kỳ mới, thấm sâu vào nhận thức, trở thành hành động cụ thể của bộ đội Nhà trường đã thường xuyên kết hợp giữa chương trình giáo dục cơ bản theo quy định của trên với nội dung, chương trình mang tính đặc thù; giữa lý luận và thực tiễn; giữa giáo dục, quán triệt nhiệm vụ, âm mưu, thủ đoạn của địch với nâng cao nhận thức về nhân tố con người trong chiến tranh hiện đại, xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, tin tưởng vào cách đánh, nghệ thuật quân sự của ta, khắc phục mọi biểu hiện mơ hồ, mất cảnh giác hoặc bi quan, dao động Qua đó, làm cho bộ đội thống nhất nhận thức và hành động, nói đi đôi với làm; đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng, tích cực, chủ động, sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ Chính vì vậy, chất lượng chính trị của bộ đội Kỹ thuật, nhất là đội ngũ cán bộ, nhân viên kỹ thuật có sự chuyển biến vững chắc, cả về nhận thức và hành động; không có hiện tượng suy

thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống Điều đó thể hiện tập trung nhất

ở lập trường, quan điểm vững vàng, nhất là trước những khó khăn, phức tạp, thử thách, hy sinh; luôn chủ động, nhạy bén, nắm vững mọi diễn biến của tình hình; độc lập, sáng tạo trong xử lý các tình huống; có ý chí đấu tranh, thái độ

Trang 32

kiên quyết, hành động thiết thực, cụ thể để bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao Để thực hiện tốt vấn đề đó, mỗi học viên tập trung quán

triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn của trên, nhất là Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, Nghị quyết Trung ương 8 (khoá IX) về

“Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” Đồng thời, chú trọng giáo dục nâng cao nhận thức cho bộ đội về vai trò, vị trí, chức năng của lực lượng cán bộ

Kỹ thuật, sĩ quan Kỹ thuật cũng như tính chất phức tạp của tình hình, nhiệm vụ mới; làm cho cán bộ, chiến sĩ nắm vững tư tưởng chỉ đạo của trên, chức trách, nhiệm vụ của từng đơn vị; đề cao trách nhiệm, vững vàng, bình tĩnh trong xử lý các tình huống

Bên cạnh đó, mỗi học viên cần coi trọng bồi dưỡng khả năng chỉ huy,

quản lý, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ chođội ngũ cán bộ, nhân viên kỹ thuật,

coi đó là một yếu tố quan trọng góp phần xây dựng đạo đức cách mạng cho cán

bộ, chiến sĩ Nhà trường đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng trong

và ngoài Quân đội để biên soạn các tài liệu chuyên ngành; tổ chức huấn luyện khí tài; luyện tập các phương án xử lý tình huống; rèn luyện tác phong chỉ huy, nâng cao khả năng, trình độ cho các đối tượng Trong huấn luyện, bồi dưỡng cán

bộ, nhà trường thực hiện theo hướng kết hợp giữa bồi dưỡng trong nước với cử cán bộ đi tập huấn ở nước ngoài; bồi dưỡng tập trung với huấn luyện tại chỗ; coi trọng cấp trên bồi dưỡng cấp dưới; phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ, nhân viên kỹ thuật Theo định kỳ, căn cứ vào hướng dẫn của trên, yêu cầu nhiệm vụcủa đơn vị và số lượng, chất lượng, cơ cấu đội ngũ cán bộ, nhân viên kỹ thuật, cấp ủy, chỉ huy các cấp xây dựng chương trình, kế hoạch tập huấn, bồi dưỡng phù hợp với từng đối tượng; chú trọng vào các khâu yếu, mặt yếu trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ của từng học viên, Các đại đội, tiểu đoàn học viên luôn kịp thời rút kinh nghiệm, đề ra các biện pháp thích hợp để điều chỉnh, bổ sung, khắc phục những tồn tại, yếu

Trang 33

kém trong giáo dục, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, nhân viên kỹ thuật, phù hợp với

tổ chức biên chế, trang bị kỹ thuật và yêu cầu nhiệm vụ Nhờ đó, đội ngũ cán bộ, nhân viên kỹ thuật của đơn vị không những có trình độ chuyên môn giỏi, mà còn

có đạo đức cách mạng, bản lĩnh chính trị vững vàng, có khả năng phối hợp với các lực lượng; chủ động, sáng tạo, hoàn thành nhiệm vụ theo chức trách được phân công

Yêu cầu của việc giáo dục đạo đức cách mạng cho học viên đòi hỏi mỗi học viên cần được quán triệt và thực hiện nghiêm túc Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ

Chính trị (khoá XI), Chỉ thị317-CT/QUTW của Quân ủy Trung ương “Về tiếp

tục học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” Căn cứ vào yêu cầu

chung và chức trách, nhiệm vụ của từng đại đội, tiểu đoàn học viên, nhà trường cần chỉ đạo cấp ủy các cấp phải xây dựng kế hoạch, đề ra được những tiêu chí cụ thể để đại đội, tiểu đoàn học viên phấn đấu thực hiện Trong xây dựng kế hoạch, các cấp chú ý nâng cao tính tích cực, chủ động, sáng tạo, tự lực, tự cường, ý chí, nghị lực vượt qua khó khăn, gian khổ; đức tính “cần, kiệm, liêm, chính, chí công

vô tư” cho mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng Nhà trường yêu cầu cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải gắn thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ chính trị với quán triệt, học tập Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI) về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình; chú trọng sửa đổi lề lối, tác phong công tác theo hướng giảm bớt hội họp, tích cực bám sát cơ

sở, khắc phục tình trạng giản đơn, ỷ lại, nói không đi đôi với làm; kiên quyết đấu tranh với mọi biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham ô, lãng phí, tạo sự chuyển biến vững chắc về năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng, chất lượng cán bộ, đảng viên Đồng thời, Đảng ủy nhà trường chỉ đạo các cấp gắn việc xây dựng đạo đức cách mạng của bộ đội với các

nội dung, chỉ tiêu học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác và chất

lượng, hiệu quả thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI); lấy chất lượng

Trang 34

tổng hợp và sức chiến đấu của các cơ quan, đơn vị làm tiêu chí đánh giá mức độ

hoàn thành nhiệm vụ của từng cá nhân, tổ chức, học viên

1.2.2 Vai trò của giáo dục đạo đức cách mạng trong đào tạo sĩ quan chỉ huy cấp phân đội trong bối cảnh phát triển KTTT

Trau dồi đạo đức luôn là yêu cầu nền tảng của mỗi con người trong cuộc sống cộng đồng Yêu cầu đó càng trở nên đặc biệt cần thiết đối với người học viên sĩ quan Bởi lẽ, đội ngũ học viên sĩ quan sẽ là những sĩ quan tương lai có vai trò rất quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ

rõ, cán bộ là "cái gốc" của mọi công việc "Muốn việc thành công hay thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém" Chính vì vậy, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ luôn nhắc nhở cán bộ chiến sĩ phải quan tâm rèn luyện đạo đức cách mạng mà chính bản thân

Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và trước những tác động mặt trái của nó thì vai trò của việc giáo dục đạo đức cách mạng cho học viên sĩ quan kỹ thuật Quân sự là hết sức cần thiết, cụ thể là:

Đạo đức cách mạng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với người cán bộ, chiến sĩ trong quân đội nhân dân Đạo đức cách mạng là cái gốc, là phẩm chất nền tảng trong nhân cách người cán bộ, chiến sĩ Theo Hồ Chí Minh ĐĐCM

"Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không

có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân"

Đạo đức cách mạng còn là cơ sở, là điều kiện rất cơ bản để người cán bộ, chiến sĩ quân đội nhân dân thực hiện được mục tiêu lý tưởng và hoàn thành tốt nhiệm vụ cách mạng vẻ vang của mình Bởi lẽ, theo Hồ Chí Minh muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người thấm nhuần đạo đức xã hội chủ nghĩa Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ "Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa Người

Trang 35

cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang" Người còn căn dặn: "Một điều rất quan trọng nữa

là các đồng chí Bộ trưởng, thứ trưởng và cán bộ lãnh đạo phải luôn luôn gương mẫu về mọi mặt, phải nêu gương sáng về đạo đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, phải giữ gìn tác phong gian khổ phấn đấu, phải không ngừng nâng cao chí khí cách mạng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Nếu chúng ta làm gương mẫu và biết lãnh đạo thì bất cứ công việc gì khó khăn đến đâu cũng nhất định làm được"

Đáng tiếc rằng, hôm nay vẫn còn không ít học viên sĩ quan có biểu hiện thoái hoá biến chất về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống Nhiều chuẩn mực, nguyên tắc đạo đức rất cơ bản không được thực hiện trong cuộc sống Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã chỉ rõ: "Tình trạng suy thoái

về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, giáo điều, bảo thủ, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức còn diễn ra nghiêm trọng"

Trước bối cảnh của kinh tế thị trường hiện nay, chúng ta không cho phép

để những sai phạm nghiêm trọng về đạo đức cách mạng vẫn tiếp tục, kéo dài ở một bộ phận học viên đào tạo sĩ quan Kỹ thuật Do đó Giáo dục đạo đức cách mạng là yêu cầu cấp bách hiện nay, vừa là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài đối với học viên đào tạo sĩ quan Kỹ thuật

Kết luận chương 1

Đạo đức là một hiện tượng xã hội lịch sử, là những chuẩn mực, nguyên tắc, giá trị quy định mối quan hệ, ứng xử giữa con người với con người, giữa con người với xã hội trong hoạt động sống của con người Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội; các mối quan hệ xã hội trong một chế

độ nhất định Trong xã hội có giai cấp, đạo đức mang tính giai cấp sâu sắc, thể hiện quan điểm, lợi ích, nguyện vọng của giai cấp thống trị

ĐĐCM là toàn bộ những chuẩn mực, quy tắc, giá trị đạo đức, kết tinh từ

Trang 36

truyền thống của dân tộc và quá trình đấu tranh cách mạng, góp phần hoàn thiện nhân cách người cách mạng nhằm xoá bỏ áp bức, bất công, xây dựng cuộc sống

ấm no, tự do hạnh phúc cho mọi người, vì độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội ĐĐCM là nền đạo đức mới khác hoàn toàn về chất so với đạo đức cũ, đạo đức của giai cấp bóc lột, đó là nền đạo đức vì con người, giải phóng giai cấp và giải phóng nhân loại, vì công bằng, phẩm giá con người Giáo dục ĐĐCM cho cán bộ, đảng viên và nhân dân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vì ĐĐCM là

“gốc” là nền tảng, là cái căn bản “đầu tiên” của người cách mạng, mà muốn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ quyết định

Trang 37

Ch ơng 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO HỌC VIÊN

SĨ QUAN CHỈ HUY CẤP PHÂN ĐỘI Ở TRƯỜNG SĨ QUAN KỸ THUẬT

QUÂN SỰ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1 Khái quát về Tr ng Sĩ qu n ỹ thuật Quân sự

2.1.1 Lịch sử hình thài và phát triển của Trường Sĩ quan kỹ thuật Quân sự

Trường sĩ quan Kỹ thuật (SQKT) Quân sự mà tiền thân là trường Cao đẳng Kỹ thuật Vin-Hempich đã có bề dày rất đáng trân trọng trong xây dựng và phấn đấu đi lên hình ảnh đầy đủ về nhà trường, những nét căn bản nhất về lịch

sử của Nhà trường

Giai đoạn 1975-1978: Trường được Tổng cục Kỹ thuật (TCKT) tiếp quản

và xây dựng thành “Trường Sơ cấp kỹ thuật”, với nhiệm vụ: Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ - nhân viên Kỹ thuật hệ II cho các đơn vị phía Nam, với các chuyên ngành: Vũ khí, Đạn, Xe quân sự

Giai đoạn 1978-1981: theo Quyết định số 51 /QĐ-QP ngày 27/05/1978 của BQP, Trường chuyển thành “Trường Hạ sĩ quan Kỹ thuật”, có thêm nhiệm vụ: Đào tạo HSQ kỹ thuật hệ I, với 11 chuyên ngành; giúp quân đội Hoàng gia Căm-Pu-Chia xây dựng “Trường Kỹ thuật quân sự” tại Phnôm Pênh

Giai đoạn 1981-1991: theo Quyết định số 51 /QĐ-QP ngày 21/02/1981 của

Bộ Quốc phòng, trường được nâng cấp đào tạo từ hạ sĩ quan Kỹ thuật lên đào tạo sĩ quan Kỹ thuật; theo Quyết định số 752 /QĐ-QP ngày 15/05/1982 của Bộ Quốc phòng, trường được mang tên “trường sĩ quan Kỹ thuật Vin-hem Pich”, có nhiệm vụ:

+ Đào tạo sĩ quan Kỹ thuật Việt Nam với 6 chuyên ngành: Pháo cao xạ, Pháo mặt đất, Vũ khí bộ binh, Đạn, Ô tô, Tăng- thiết giáp;

+ Đào tạo sĩ quan Kỹ thuật cho quân đội Hoàng gia Campuchia và Lào; + Tiếp tục giúp đỡ Trường Kỹ thuật quân sự Phnôm Pênh

Giai đoạn 1991–1996: Chấp hành Chỉ thị 31 /CT-TM ngày 29/03/1991 của Tổng Tham mưu trưởng “về nhiệm vụ công tác nhà trường 5 năm 1991-1995”

và Nghị quyết 93 của ĐUQSTW, Trường có thêm các nhiệm vụ:

+ Đào tạo sĩ quan Kỹ thuật – trình độ Cao đẳng (4 năm), khóa đầu tiên (1991-1992) cho 4 chuyên ngành: Vũ khí, Đạn, Ô tô, Tăng-thiết giáp;

+ Đào tạo nhân viên Kỹ thuật trình độ trung cấp (3 năm), với 5 chuyên ngành: Vũ khí bộ binh, Pháo mặt đất, Đạn, Ô tô, Tăng-thiết giáp;

Trang 38

+ Tổ chức liên kết đào tạo hoàn thiện đại học cho học viên Kỹ thuật Quân sự;

+ Quản lý và bảo đảm cho quân nhân các đơn vị phía Nam gửi đi đào tạo tại các trường ngoài Quân đội

Từ năm 1996 đến tháng 7/2009: theo Quyết định số 236/QĐ-QP ngày 06/03/1996 và Quyết định số 115 /QĐ-QP ngày 11/02/1997 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (BQP), Trường mang tên “Trường CĐKT Vin-hem Pich”, có các nhiệm vụ chính sau:

(1) Đào tạo cán bộ Kỹ thuật trình độ cao đẳng các chuyên ngành: Vũ khí, Đạn, Ô tô, Tăng-thiết giáp

(2) Đào tạo cán bộ chỉ huy, quản lý kỹ thuật cấp chiến thuật và bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ Kỹ thuật

(3) Tham gia đào tạo sĩ quan Kỹ thuật cấp phân đội (kỹ sư); hoàn thiện đại học cho số sĩ quan Kỹ thuật chưa có trình độ đại học; đào tạo đại học đại cương cho sỹ quan chính trị, hậu cần… của các đơn vị ở phía Nam

(4) Đào tạo nhân viên Kỹ thuật (NVKT) trình độ Trung cấp các chuyên ngành: Vũ khí bộ binh, Pháo mặt đất, Pháo phòng không, Quân khí viên quận huyện, Đạn, Ô tô, Tăng- thiết giáp, Công nghệ thông tin (CNTT)

(5) Đào tạo NVKT trình độ Sơ cấp ngành quân khí và thợ cơ khí

(6) Tổ chức đào tạo tiếng Việt cho học viên Quốc tế (Lào, Căm-pu-chia) (7) Quản lý và bảo đảm cho quân nhân của các đơn vị phía Nam gửi đi học

ở các trường ngoài quân đội và sinh viên tình nguyện phục vụ quân đội

(8) Đào tạo nhân lực cho xã hội trình độ Cao đẳng và Trung học, với các chuyên ngành CNTT (theo kế hoạch của Nhà nước và BQP giao)

(9) Trung tâm dịch vụ việc làm của trường có chức năng đào tạo, dạy nghề; tư vấn, giới thiệu việc làm cho người lao động

Ngoài ra, trường còn có các nhiệm vụ: tổ chức tuyển nhận và huấn luyện chiến sỹ mới; tổ chức ôn văn hóa cho quân nhân dự thi TSQS; tổ chức giảng dạy môn “Giáo dục quốc phòng” cho sinh viên, học sinh các trường đại học, cao đẳng và trung học theo phân luồng của Bộ GD-ĐT

Từ 7/2009 đến nay: Theo Quyết định số 2165 /QĐ-BQP ngày 09/7/2009 của Bộ trưởng Bộ quốc phòng, Trường mang tên “Trường Sĩ quan Kỹ thuật quân sự”

- Gần đây nhất, vào ngày 23/12/2010 Nhà trường được Thủ tướng Chính phủ kí quyết định số: 2345/QĐ-TTg thành lập trường đại học Trần Đại Nghĩa trên cơ sở nâng cấp trường SQKT (Vin-Hempich)

Trang 39

Chức năng, nhiệm vụ được giao Cùng với chức năng, nhiệm vụ của nhà trường được xác định theo Luật Giáo dục; Căn cứ vào Quyết định số 2165 /QĐ-BQP ngày 09/7/2009 của Bộ trưởng Bộ quốc phòng về việc thành lập Trường Sĩ quan Kỹ thuật quân sự (Vin-hem Pich) trực thuộc Tổng cục Kỹ thuật, chức năng, nhiệm vụ của Trường được xác định như sau:

Chức năng: Đào tạo sĩ quan chỉ huy kỹ thuật cấp phân đội, nhân viên chuyên môn kỹ thuật và nghiên cứu khoa học kỹ thuật quân sự

Cơ cấu tổ chức của Trường SQKTQS hiện nay

- Chỉ huy nhà trường (Ban Giám hiệu)

- 12 Khoa giáo viên

- 08 Phòng, Ban trực thuộc

- 04 Tiểu đoàn quản lí học viên quân sự

- 01 Tiểu đoàn quản lí học viên quốc tế và sinh viên dân sự

- 01 Trung tâm Dạy nghề và Giới thiệu việc làm

Qui mô và ngành nghề đào tạo của Trường SQKTQS hiện nay Qui mô đào tạo:

Tổng lưu lượng đào tạo học viên hệ quân sự của Nhà trường: 1900÷2100 HV/năm

Ngoài ra Nhà trường còn có nhiệm vụ:

- Đào tạo nhân lực phục vụ CNH, HĐH trình độ cao đẳng (theo chỉ tiêu của BQP và Bộ GD-ĐT giao) với 02 chuyên ngành CNTT Lưu lượng: 800÷1000 SV/năm

- Quản lý và bảo đảm cho quân nhân của các đơn vị phía Nam gửi đi học ở các trường ngoài quân đội Lưu lượng: 120 HV/năm

- Trung tâm Dạy nghề và Giới thiệu việc làm thuộc Nhà trường có nhiệm

vụ đào tạo nghề cho bộ đội xuất ngũ và các đối tượng chính sách Lưu lượng: 400-500 HV/năm; các đối tượng khác khoảng 1.000 HV/tháng

- Tổ chức giáo dục quốc phòng cho 12.000÷15.000 SV/năm của các trường cao đẳng và đại học trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh

Tổng l u l ợng các đối t ợng là: 4000 ÷ 5000 HV, SV/năm

Ngành nghề, loại hình và trình độ đào tạo:

- Đào tạo Sĩ quan Kỹ thuật (SQKT) cấp phân đội trình độ cao đẳng dài hạn tập trung, các chuyên ngành: Vũ khí bộ binh (VKBB), Pháo mặt đất (PMĐ), Pháo phòng không (PPK), Đạn, Tăng-Thiết giáp (TTG), Ô tô

- Đào tạo SQKT cấp phân đội trình độ cao đẳng ngắn hạn tập trung, các chuyên ngành: VKBB, PMĐ, PPK, Đạn, TTG, Ô tô

Ngày đăng: 21/08/2023, 01:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng điều tra xã hội học về mục đích vào học sĩ quan và quan điểm về cống hiến và - Giáo dục đạo đức cách mạng cho học viên sĩ quan chỉ huy cấp phân đội ở trường sĩ quan kỹ thuật quân sự thành phố hồ chí minh trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường
ng điều tra xã hội học về mục đích vào học sĩ quan và quan điểm về cống hiến và (Trang 44)
Bảng điều tra xã hội học quan điểm về phẩm chất đạo đức, lối sống, chọn ngành - Giáo dục đạo đức cách mạng cho học viên sĩ quan chỉ huy cấp phân đội ở trường sĩ quan kỹ thuật quân sự thành phố hồ chí minh trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường
ng điều tra xã hội học quan điểm về phẩm chất đạo đức, lối sống, chọn ngành (Trang 45)
Bảng điều tra xã hội học về mục đích vào học sĩ quan, quan điểm về cống hiến và - Giáo dục đạo đức cách mạng cho học viên sĩ quan chỉ huy cấp phân đội ở trường sĩ quan kỹ thuật quân sự thành phố hồ chí minh trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường
ng điều tra xã hội học về mục đích vào học sĩ quan, quan điểm về cống hiến và (Trang 76)
Bảng điều tra xã hội học quan điểm về phẩm chất đạo đức, lối sống, chọn ngành - Giáo dục đạo đức cách mạng cho học viên sĩ quan chỉ huy cấp phân đội ở trường sĩ quan kỹ thuật quân sự thành phố hồ chí minh trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường
ng điều tra xã hội học quan điểm về phẩm chất đạo đức, lối sống, chọn ngành (Trang 77)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w