1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh, sinh viên trường trung cấp chuyên nghiệp việt úc, tỉnh nghệ an trong giai đoạn hiện nay

112 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh, sinh viên trường trung cấp chuyên nghiệp Việt Úc, tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay
Tác giả Phan Nhật Long
Người hướng dẫn TS. Bùi Văn Dũng
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Giáo dục chính trị
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 840,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm qua, công tác phổ biến GDYTPL được các cấp ủy Đảng, chính quyền cùng với các cấp, các ngành, các đoàn thể quan tâm phối hợp với các trường học trên địa bàn triển khai thự

Trang 1

PHAN NHẬT LONG

GIÁO DỤC Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH, SINH VIÊN TRƯỜNG

TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP VIỆT - ÚC, TỈNH NGHỆ AN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGHỆ AN - 2012

Trang 2

PHAN NHẬT LONG

GIÁO DỤC Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH, SINH VIÊN TRƯỜNG

TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP VIỆT - ÚC, TỈNH NGHỆ AN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

BỘ MÔN GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

MÃ SỐ: 60.14.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS BÙI VĂN DŨNG

NGHỆ AN - 2012

Trang 3

Với tình cảm chân thành nhất, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo Khoa Giáo dục Chính trị Trường Đại học Vinh đã tận tình truyền đạt những tri thức quý báu, dìu dắt giúp đỡ tôi hoàn thành tốt nhiệm

vụ của khóa học

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Bùi Văn Dũng, Trưởng khoa Kinh tế, Trường Đại học Vinh đã tận tâm giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hướng dẫn, đóng góp ý kiến quý báu cho tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Phòng Đào tạo Sau đại học, Đại học Vinh, tập thể Trường Trung cấp chuyên nghiệp Việt - Úc, bạn bè, đồng nghiệp và các em học sinh, sinh viên đã tạo điều kiện giúp đỡ để tôi có được những thông tin, số liệu xác đáng Xin cảm ơn gia đình, người thân đã luôn bên tôi động viên, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa học và hoàn thành tốt luận văn của mình

Vinh, tháng 10 năm 2012

Tác giả

Phan Nhật Long

Trang 4

B NỘI DUNG 11

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH, SINH VIÊN 11

1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 11

1.2 Tính tất yếu của việc giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh, sinh viên trong giai đoạn hiện nay 33

Kết luận chương 1 42

Chương 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH, SINH VIÊN TRƯỜNG TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP VIỆT - ÚC, TỈNH NGHỆ AN 43

2.1 Tổng quan về Trường Trung cấp chuyên nghiệp Việt - Úc, tỉnh Nghệ An 43

2.2 Thực trạng ý thức pháp luật của học sinh, sinh viên Trường Trung cấp chuyên nghiệp Việt - Úc, tỉnh Nghệ An 46

2.3 Thực trạng về công tác giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh, sinh viên ở Trường Trung cấp Việt - Úc, tỉnh Nghệ An 50

Kết luận chương 2 68

Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH, SINH VIÊN TRƯỜNG TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP VIỆT - ÚC, TỈNH NGHỆ AN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 69

3.1 Phương hướng giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh, sinh viên trường trung cấp chuyên nghiệp Việt - Úc, tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay 69

3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh, sinh viên Trường Trung cấp chuyên nghiệp Việt - Úc, tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay 72

Kết luận chương 3 91

C KẾT LUẬN 93

D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

Trang 5

CNXH Chủ nghĩa xã hội

Trang 6

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong đời sống xã hội, pháp luật giữ một vai trò đặc biệt quan trọng

Có thể nói, pháp luật là phương tiện không thể thiếu để bảo đảm cho sự tồn tại, phát triển của xã hội Ngoài chức năng là một công cụ quản lý Nhà nước hữu hiệu, PL còn là thước đo hành vi xã hội của con người và là công cụ để chúng ta kiểm nghiệm nhận thức, điều chỉnh xã hội

Giáo dục pháp luật cho công dân nói chung và cho HS, SV nói riêng là một vấn đề quan trọng của mọi quốc gia vì được coi là một phương thức để xây dựng, phát triển nền văn hoá pháp lí, đảm bảo sự ổn định và bền vững của mỗi quốc gia Trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, khi mà toàn Đảng toàn dân ta đang đang nỗ lực xây dựng một nhà nước pháp quyền xã hội

chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, tất cả mọi người đều phải: “Sống và làm

việc theo Hiến pháp và pháp luật” thì việc tăng cường vai trò của PL được

đặt ra như một yếu tố khách quan Điều đó không chỉ nhằm mục đích xây dựng một xã hội có trật tự, kỷ cương, văn minh mà còn hướng đến bảo vệ và phát triển các giá trị chân chính, trong đó ý thức pháp luật đóng một vai trò quan trọng

Thực tế ở Việt Nam trong suốt thời gian qua cho thấy PL chưa thực sự

đi vào cuộc sống vì chúng ta chưa có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, theo kịp sự phát triển của xã hội; mặt khác, YTPL của người dân còn rất nhiều hạn chế Trước những yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước, trước đòi hỏi xu thế hội nhập mở cửa hợp tác về kinh tế, văn hóa - khoa học kỹ thuật, bên cạnh những thuận lợi, thời cơ và vận hội mới thì những khó khăn, thách thức của toàn cầu hóa, của kinh tế thị trường, của sự phân hóa giàu nghèo trong đời sống nhân dân, những tiêu cực tệ nạn xã hội cùng tình trạng suy thoái đạo

Trang 7

biến, giáo dục ý thức pháp luật cho học HS, SV cần được đẩy mạnh Trong những năm qua, công tác phổ biến GDYTPL được các cấp ủy Đảng, chính quyền cùng với các cấp, các ngành, các đoàn thể quan tâm phối hợp với các trường học trên địa bàn triển khai thực hiện sâu rộng nhằm nâng cao nhận thức PL cho toàn thể cán bộ giáo viên và học sinh, góp phần ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật, giữ vững kỷ cương, kỷ luật, tăng cường sự đoàn kết nội bộ, góp phần giữ vững trật tự trị an trên địa bàn

Những năm gần đây, công tác đào tạo, bồi dưỡng, GD ý thức pháp luật

đã được cấp chính quyền địa phương và các trường học quan tâm hơn Trường Trung cấp chuyên nghiệp Việt - Úc, tỉnh Nghệ An cũng đang thực hiện nhiều biện pháp nhằm giáo dục ý thức pháp luật cho HS, SV Tuy nhiên, thực tiễn vừa qua, công tác GDYTPL cho học sinh, sinh viên chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới Ý thức pháp luật và tình hình thực hiện pháp luật của một bộ phận không nhỏ HS, SV rất hạn chế Tình trạng thiếu hiểu biết về pháp luật và vi phạm pháp luật vẫn thường xuyên xảy ra đối với học sinh, sinh viên trong nhà trường Vào thời kỳ hội nhập mặc dù có nhiều

HS, SV Trường Trung cấp chuyên nghiệp Việt - Úc, tỉnh Nghệ An có ý chí vươn lên trong học tập, có hoài bão khát vọng lớn nhưng cũng dưới tác động của nền kinh tế thị trường và cơ chế mở cửa và do nhiều nguyên nhân khác, hành vi lệch chuẩn của thanh thiếu niên có xu hướng ngày càng tăng Một số hành vi vi phạm pháp luật của các em khiến gia đình và xã hội lo lắng như: vi phạm giao thông, đua xe trái phép, bạo lực nhà trường, cờ bạc, nghiện bia rượu, ma túy, trong gia đình trẻ em thiếu kính trên nhường dưới, không vâng lời cha mẹ, người lớn… Một số hành vi lệch chuẩn khác về mặt đạo đức như:

Trang 8

sống hưởng thụ, chạy theo đồng tiền, xa hoa, lãng phí, lười lao động và học tập, thiếu ý thức rèn luyện, không dám đấu tranh với cái sai, thờ ơ vô cảm, vị kỷ… cũng ngày càng nhiều hơn

Nguyên nhân của những hiện tượng nói trên là do ý thức của các em về vấn đề pháp luật rất thấp Có nhiều giải pháp đưa ra để làm giảm các tệ nạn xã hội nhưng những giải pháp đó chỉ được coi là giải pháp tình thế Do đó cần phải hình thành cho mọi người có ý thức chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật đặc biệt là đối tượng HS, SV ngay từ khi các em chưa phải là người tham gia pháp luật thường xuyên Vì thế, xây dựng chương trình giáo dục pháp luật

trong nhà trường là giải pháp mang tính lâu dài

Với những lý do trên, việc nghiên cứu đề tài: Giáo dục ý thức pháp

luật cho học sinh, sinh viên Trường Trung cấp chuyên nghiệp Việt - Úc, tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay là rất cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và

thực tiễn thiết thực

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Xuất phát từ yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng một “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” thực sự của dân, do dân, vì dân, với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Không ngừng xây dựng và hoàn thiện hệ thống PL, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, nâng cao dân trí và trình độ hiểu biết pháp luật cho mọi thành viên trong xã hội Cùng với việc chú trọng xây dựng một hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, Nhà nước đã tiến hành nhiều biện pháp nhằm đưa pháp luật đi vào cuộc sống, bảo đảm cho pháp luật được thi hành một cách nghiêm minh, thống nhất và công bằng Một trong những biện pháp có tầm quan trọng đặc biệt đó là tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật Đây là một biện pháp không thể thiếu được trong quá trình xây dựng và thực hiện PL, nhằm hình thành một cách bền vững ý

Trang 9

thức tôn trọng pháp luật của người dân Xác định đúng tầm quan trọng của công tác tuyên truyền, phổ biến, GD nâng cao YTPL nên trong Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta nhấn mạnh phải phát huy dân chủ

đi đôi với giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế, quản lý xã hội bằng pháp luật, tuyên truyền, GD toàn dân nâng cao ý thức chấp hành pháp luật Đây chính là điều kiện đảm bảo cho công cuộc đổi mới và hội nhập quốc

tế thành công, khẳng định vị thế ngày càng cao của Việt Nam trên trường quốc tế

Những nội dung liên quan đến lĩnh vực YTPL, thời gian qua đã có một

số người quan tâm nghiên cứu Trong những năm gần đây ở những góc độ khác nhau, các tác giả đã cho ra mắt bạn đọc các công trình nghiên cứu của mình, dưới các hình thức như đề tài khoa học, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, sách, các bài viết trên các tạp chí, các báo

Với quan niệm phổ biến, giáo dục pháp luật, đặc biệt là giáo dục pháp luật cho học sinh trong các nhà trường là giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục

ý thức công dân, ý thức làm người, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật thể chế hoá các Nghị quyết của Đảng, khẳng định vai trò chiến lược của công tác giáo dục pháp luật trong nhà trường, tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường

Để đẩy mạnh công tác phổ biến giáo dục pháp luật, nhằm “tăng cường

sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư pháp” theo tinh thần Nghị quyết số

08/NQ-TƯ ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị Về một số nhiệm vụ trọng tâm

công tác tư pháp trong thời gian tới [26], góp phần vào việc thực hiện “phát

huy dân chủ, tăng cường pháp chế; giữ vững bản chất Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; bảo đảm và tôn trọng quyền dân chủ, quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức

và công dân”; ngày 09 tháng 12 năm 2003 Ban Bí thư trung ương Đảng đã

Trang 10

ban hành Chỉ thị số 32 - CT/TW Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong

công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân [1] Chỉ thị yêu cầu: Ban cán sự Đảng Bộ Giáo dục và

Đào tạo phối hợp với Ban cán sự Đảng Bộ Tư pháp và các bộ, ngành, địa phương tiếp tục hoàn thiện chương trình, giáo trình, sách giáo khoa về pháp luật phục vụ trực tiếp cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường theo phương châm kết hợp nhuần nhuyễn lý luận với thực tiễn, học đi đôi với hành Việc đưa pháp luật vào giảng dạy trong nhà trường phải được chọn lọc hợp lý, có hệ thống và bảo đảm hiệu quả thiết thực

Với quan niệm phổ biến, GDYTPL, đặc biệt là giáo dục pháp luật cho học sinh, sinh viên trong các nhà trường là giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục ý thức công dân, ý thức làm người, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật thể chế hoá các Nghị quyết của Đảng, khẳng định vai trò chiến lược của công tác giáo dục pháp luật trong nhà trường, tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai thực hiện phổ biến, GDYTPL trong nhà trường như: Chỉ thị số

45 2007 CT-BGDĐT ngày 17 8 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo

Về việc tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong ngành giáo dục [2] Công văn số 612 BTP-PBGDPL ngày 07 3 2008 của Bộ Tư pháp Về việc hướng dẫn công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, năm 2000 [5]

Sau khi Chỉ thị số 32-CT TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành, công tác phổ biến giáo dục pháp luật, trong đó có hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trong trường học được các cấp, các ngành được quan tâm, ban hành nhiều văn bản chỉ đạo hướng dẫn, đó là: Quyết định

số 37/2008 QĐ-TTg ngày 12 tháng 3 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ

Phê duyệt Chương trình phổ biến, giáo dục ý thức pháp luật từ năm 2008 đến năm 2012 [6]; Quyết định số 06 2010 QĐ-TTg ngày 25 tháng 01 năm 2010

của Thủ tướng Chính phủ Về xây dựng, quản lý, khai thác tủ sách pháp luật

Trang 11

trong đó chỉ đạo việc xây dựng tủ sách pháp luật trong trường học [8]; Quyết

định số 1928 QĐ-TTg ngày 20 tháng 11 năm 2009 Thủ tướng Chính phủ Phê

duyệt Đề án nâng cao chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường [7]; Quyết định số 2160 QĐ-TTg ngày 26 tháng 11 năm 2010 của

Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tăng cường công tác Phổ biến, giáo

dục ý thức pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho thanh thiếu niên giai đoạn 2011 - 2015 [9]; Thông tư liên tịch số 30/2010/TTLT-BGD&ĐT-

BTP ngày 16 tháng 11 năm 2010 của Bộ GD - Đào tạo, Bộ Tư pháp Hướng

dẫn phối hợp công tác phổ biến giáo dục pháp luật trong trường học [3]

Vấn đề này cũng đã đề cập trong một số công trình khoa học như:

- Luận văn thạc sĩ của Phạm Thị Kim Oanh (2008), Nâng cao ý thức

pháp luật cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở thành phố Cần Thơ hiện nay, [27]

Luận văn nêu ra một số biện pháp cơ bản nhằm nâng cao YTPL cho cán bộ cấp cơ sở ở Thành phố Cần Thơ

- Luận văn thạc sĩ của Bùi Thị Kim Ngân (2009), Nâng cao hiệu quả

việc phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tại trung tâm học tập cộng đồng các phường xã trên địa bàn thành phố Vinh - Nghệ An, [24] Tác giả đề cập đến thực trạng việc tuyên truyền, phổ

biến các đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước ở các trung tâm học tập cộng đồng tại thành phố Vinh, từ đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này trong thời gian sắp tới

- Luận án tiến sỹ của Nguyễn Thị Thúy Vân (2001), L«gÝc kh¸ch quan

cña qu¸ tr×nh h×nh thµnh vµ ph¸t triÓn ý thøc ph¸p luËt ë ViÖt Nam [36] Luận

án đã có những đóng góp rất lớn khi phân tích một cách sâu sắc và có hệ thống một khía cạnh về ý thức pháp luật đó là quá trình hình thành và phát triển của ý thức pháp luật ở Việt Nam Đây là cơ sở lý luận cho các công trình nghiên cứu liên quan đến ý thức pháp luật

Trang 12

- Luận văn thạc sĩ của Mai Thị Như Ngọc (2003), Ý thức pháp luật với

việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay [25] Tác

giả đã phân tích một số nội dung như đặc điểm, kết cấu, vai trò của ý thức pháp luật đối với việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Các luận văn này có mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu khác nhau, nhưng nhìn chung, đều nêu ra những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao YTPL

và hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho một đối tượng cụ thể của địa phương

Các loại sách, báo, tạp chí đã được xuất bản có những bài viết liên quan

đến vấn đề này, như: Trường Đại học tổng hợp (1993), Giáo trình lý luận

chung về Nhà nước và pháp luật [31]; Đào Trí Úc (1997), Nhà nước và pháp luật của chúng ta trong sự nghiệp đổi mới [35], Lê Đức Thiết (1994), Ý thức pháp luật, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội [30], Nguyễn Minh Đoan (2004), Yếu tố tâm lý pháp luật trong quá trình nâng cao ý thức pháp luật ở nước ta hiện nay [15]; Nguyễn Minh Đoan (2006), Ý thức pháp luật với đời sống xã hội

[16] Các công trình trên thường đi sâu nghiên cứu một mặt hoặc một vấn đề cụ thể nào đó của ý thức pháp luật như: khái niệm, cấu trúc, chức năng của ý thức pháp luật, hoặc những đặc điểm của quá trình hình thành ý thức pháp luật Việt Nam

Nhìn chung các công trình nghiên cứu khoa học của tập thể và cá nhân, các bài viết từ trước đến nay về giáo dục pháp luật đã có những đóng góp quan trọng về lý luận và thực tiễn Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình luận án, luận văn nào nghiên cứu về giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh, sinh viên tại Trường Trung cấp chuyên nghiệp Việt - Úc, tỉnh Nghệ An Vì vậy, qua đề tài này tác giả mong muốn tìm ra những giải pháp thiết thực nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho học sinh, sinh viên trong giai đoạn hiện nay

Trang 13

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích lý luận và thực trạng về giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh, sinh viên luận văn nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh, sinh viên ở Trường Trung cấp chuyên nghiệp Việt -

Úc, tỉnh Nghệ An

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Luận giải cơ sở lý luận về sự cần thiết phải nâng cao giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh, sinh viên;

- Phân tích thực trạng giáo dục và ý thức pháp luật của học sinh, sinh viên Trường Trung cấp chuyên nghiệp Việt - Úc, tỉnh Nghệ An;

- Đề xuất phương hướng và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh, sinh viên Trường Trung cấp chuyên nghiệp Việt - Úc, tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Ý thức pháp luật của học sinh, sinh viên Trường Trung cấp chuyên nghiệp Việt - Úc, tỉnh Nghệ An

Trang 14

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:

+ Phương pháp logic - lịch sử: sử dụng phương pháp này nhằm tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề theo trình tự khoa học từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện;

+ Phương pháp phân tích, tổng hợp: nhằm phân tích, đánh giá và khái quát hóa các vấn đề trong tiến trình nghiên cứu đề tài

- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

+ Phương pháp quan sát: quan sát thực tế vấn đề giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh, sinh viên Trường Trung cấp chuyên nghiệp Việt - Úc, tỉnh Nghệ An;

+ Phương pháp thống kê toán học: sử dụng phương pháp này để xử lý

các số liệu thu được về mặt định lượng;

+ Phương pháp điều tra: sử dụng phiếu điều tra với hệ thống các câu hỏi để thăm dò ý kiến của học sinh, sinh viên, cán bộ giáo viên và phụ huynh

về tình hình giáo dục ý thức pháp luật cho HS, SV Trường Trung cấp chuyên nghiệp Việt - Úc, tỉnh Nghệ An

6 Giả thuyết khoa học

Nếu thực hiện được một cách đồng bộ các giải pháp mà tác giả đã đề xuất thì việc giáo dục ý thức pháp luật ở Trường Trung cấp chuyên nghiệp Việt - Úc, tỉnh Nghệ An sẽ không ngừng được nâng cao và ý thức pháp luật của học sinh, sinh viên cũng được cải thiện theo chiều hướng tích cực

7 Những đóng góp của luận văn

- Về mặt lý luận: góp phần xây dựng cơ sở lý luận về việc nâng cao hiệu quả giáo dục ý thức pháp luật tại Trường Trung cấp chuyên nghiệp Việt -

Úc, tỉnh Nghệ An

Trang 15

- Về mặt thực tiễn: nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ý thức pháp luật cho HS, SV Trường Trung cấp chuyên nghiệp Việt - Úc, tỉnh Nghệ An thông

qua thực hiện các giải pháp trong thời gian tới

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, danh mục tư liệu tham khảo, phụ lục, nội dung

chính của đề tài được cấu thành 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận của việc giáo dục ý thức pháp luật cho học

sinh, sinh viên

Chương 2: Thực trạng giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh, sinh

viên Trường Trung cấp chuyên nghiệp Việt - Úc, tỉnh Nghệ An

Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao giáo dục ý thức

pháp luật cho học sinh, sinh viên Trường Trung cấp chuyên nghiệp Việt - Úc, tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay

Trang 16

B NỘI DUNG

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC Ý THỨC PHÁP LUẬT

CHO HỌC SINH, SINH VIÊN

1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài

1.1.1 Ý thức pháp luật

1.1.1.1 Khái niệm ý thức pháp luật

Ý thức pháp luật là một trong những hình thái ý thức xã hội nó tồn tại bên cạnh những hình thái ý thức xã hội khác như ý thức đạo đức, ý thức chính trị… Trong lịch sử tư tưởng của loài người do có sự khác biệt về nhận thức giữa các thời đại cũng như sự khác biệt trong quan niệm về lợi ích giai cấp nên quan niệm về YTPL không phải lúc nào cũng có sự thống nhất

Ý thức pháp luật hiểu theo nghĩa thông thường (nghĩa hẹp) đó là ý thức chấp hành pháp luật của con người, “ý thức pháp luật là trình độ hiểu biết của các tầng lớp nhân dân về pháp luật… là thái độ đối với pháp luật, ý thức tôn trọng hay coi thường pháp luật, đó là thái độ đối với hành vi vi phạm pháp

những biểu hiện của nó Vì vậy, khi đánh giá ý thức pháp luật của một tập thể hay cá nhân người ta thường căn cứ vào những hành vi chấp hành pháp luật của chủ thể đó Quan niệm này chưa thể hiện rõ đặc trưng cơ bản của khái niệm, không thấy rõ được bản chất của ý thức pháp luật nên dễ rơi vào quan điểm phiến diện và chủ quan

Trong nghiên cứu lý luận cũng có nhiều quan niệm khác nhau về ý thức pháp luật

Có quan niệm tập trung nhấn mạnh cơ cấu của YTPL như: “ý thức pháp luật là tổng hợp những tư tưởng, quan điểm pháp luật và tâm lý pháp

Trang 17

luật Hay nói cụ thể hơn, là tổng hợp những nhận thức, những hiểu biết quan điểm pháp lý, những tình cảm pháp luật cùng với sự tôn trọng và thói quen chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật” [28; 235]

Có quan niệm lại tập trung vào nhấn mạnh bản chất giai cấp của YTPL

Đó là: “ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa là tổng hòa những quan điểm quan niệm, tình cảm pháp luật thể hiện thái độ của giai cấp công nhân và của nhân dân lao động do giai cấp công nhân lãnh đạo, đối với pháp luật, đối với những yêu cầu khác của pháp luật, đối với các quyền và nghĩa vụ khác của công dân” [37; 196]

Có quan niệm cho rằng: “ý thức pháp luật là tổng thể những học thuyết,

tư tưởng, quan điểm và quan niệm thịnh hành trong xã hội, thể hiện mối quan

hệ thông qua sự hiểu biết của con người đối với pháp luật hiện hành, pháp luật

đã qua và pháp luật cần phải có, thể hiện sự đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi ứng xử của con người cũng như trong hoạt động của các cơ quan Nhà nước và tổ chức xã hội” [10; 229]

Có quan niệm đề cập đến ý thức pháp luật một cách đầy đủ hơn khi nêu lên được cả tính chất, cơ cấu và nội dung về của YTPL: “ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội, là tổng thể những quan điểm, khái niệm, học thuyết pháp lý, tình cảm của con người (cá nhân, giai cấp, tầng lớp) thể hiện thái độ của họ đối với pháp luật hiện hành, trật tự pháp luật, sự đánh giá về tính công bằng hay không công bằng, đúng đắn hay không đúng đắn của pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua và pháp luật trong tương lai, về hành vi hợp pháp, hành

vi không hợp pháp của cá nhân, các cơ quan Nhà nước, tổ chức” [23; 290]

Nhìn chung các quan niệm trên về YTPL mặc dù về phạm vi và cách thức

đề cập có khác nhau nhưng nói chung về nội dung được đề cập là tương đối thống nhất Trên cơ sở tổng hợp các yếu tố hợp lý của các quan niệm nói trên chúng ta có thể rút ra một cách hiểu đầy đủ, khái quát nhất về YTPL như sau:

Trang 18

Ý thức PL là một hình thái ý thức xã hội, mang tính giai cấp sâu sắc phản ánh một cách tích cực, sáng tạo và trực tiếp đời sống pháp luật, hình thành những khái niệm, quan điểm, tư tưởng, tình cảm của con người (cá nhân, giai cấp, tầng lớp) đối với pháp luật, thể hiện sự hiểu biết, thái độ của

họ đối với pháp luật hiện hành, pháp luật trong quá khứ và pháp luật trong tương lai, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể PL, tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi xử sự của cá nhân, các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội

1.1.1.2 Kết cấu của ý thức pháp luật

Ý thức PL là một hiện tượng chính trị - pháp lý có kết cấu phức tạp Kết cấu của ý thức pháp luật là cách thức tổ chức bên trong của ý thức pháp luật, trong đó, giữa các nhân tố cấu thành của ý thức pháp luật có mối quan hệ biện chứng với nhau vừa thống nhất lại vừa có tác động ảnh hưởng qua lại lẫn nhau Việc tìm hiểu kết cấu của YTPL, tức là nghiên cứu mối quan hệ bên trong của các yếu tố cấu thành ý thức pháp luật, giúp chúng ta tìm hiểu con đường hình thành ý thức pháp luật, sự đánh giá về ý thức pháp luật, cũng như phương thức tác động GD để hình thành và nâng cao ý thức pháp luật cho HS, SV

Có nhiều cách tiếp cận để xem xét kết cấu của ý thức pháp luật Dựa trên từng góc độ nghiên cứu có thể xem xét kết cấu ý thức pháp luật ở những cấp độ khác nhau và mỗi cách phân chia này sẽ có ý nghĩa nhất định đối với việc nhận thức bản chất, đặc điểm và vai trò của YTPL

Thứ nhất, căn cứ vào tính chất, nội dung của ý thức pháp luật có thể

chia ra thành tâm lý pháp luật và hệ tư tưởng pháp luật

Trang 19

những mối quan hệ cụ thể về lợi ích tạo nên Có thể khẳng định tâm lý PL là nấc thang đầu tiên của nhận thức con người về những vấn đề liên quan đến pháp luật, mang tính chủ quan, cảm tính

Tâm lý pháp luật tồn tại phổ biến trong mọi cá nhân, nó là yếu tố ảnh hưởng lớn đến sự hình thành YTPL cá nhân và YTPL xã hội Tâm lý pháp luật

có tính bảo thủ cao, trong hoạt động giao tiếp hằng ngày thường xuất hiện những trạng thái tâm lý pháp luật trong con người như tình cảm, tâm trạng, thói quen, niềm tin, thành kiến … đây là những nhân tố tương đối ổn định Trong lịch sử những truyền thống pháp luật tốt đẹp luôn được giữ gìn và phát huy Thói quen pháp luật, truyền thống pháp luật giúp cho con người hoạt động tự tin, kiên định, điều chỉnh hành vi con người tốt lên, nó là nhân tố biểu hiện tính tích cực, tiến bộ nên thường được tuyên truyền, khuyến khích pháp triển

Tâm lý pháp luật của mỗi cá nhân chịu sự tác động mạnh mẽ, thường xuyên, liên tục từ các yếu tố khách quan và chủ quan như: môi trường xã hội; điều kiện kinh tế, văn hóa; trình độ học vấn; các mối quan hệ gia đình, xã hội của cá nhân Tâm lý pháp luật được hình thành một cách tự phát, trong đời sống hành vi của con người không chỉ diễn ra một lần mà thường lặp đi lặp lại nhiều lần, qua đó nảy sinh nhu cầu điều chỉnh các hành vi xử sự của con người sao cho phù hợp Nhu cầu sử dụng các quy tắc điều chỉnh hành vi này

là tồn tại khách quan nhưng với các cá nhân khác nhau lại có cách nhìn nhận

và nảy sinh tâm lý về nhu cầu đó lại không giống nhau Do đó, tâm lý pháp luật hình thành một cách tự phát dưới dạng tình cảm, cảm xúc Ví dụ, tình cảm đối với sự bình đẳng hay sợ hãi trước hình phạt, đồng tình hoặc phản ứng với bản án

Tình cảm pháp luật, tâm trạng pháp luật là nhân tố rất quan trọng trong tâm lý PL Bởi vì, trong thực tế một quy định PL mới ra đời phù hợp với nguyện vọng, lợi ích, nhu cầu của con người thì xuất hiện trong họ tình cảm tích cực, thái độ hưng phấn sẽ thôi thúc họ hành động Ngược lại, nếu những

Trang 20

quy định đó không đem lại lợi ích cho họ, thì xuất hiện trạng thái tiêu cực, buồn bã, chống đối, miễn cưỡng khi chấp hành

- Hệ tư tưởng pháp luật

“Hệ tư tưởng pháp luật bao gồm tổng thể các tư tưởng, quan điểm, học thuyết về pháp luật Chúng đề cập đến vai trò, bản chất giai cấp, các thuộc tính của pháp luật; giá trị xã hội của pháp luật cũng như mối quan hệ giữa pháp luật với dân chủ, tự do, quyền con người…” [19; 329]

Bất kỳ một quốc gia nào với một chế độ chính trị xã hội thì hệ tư tưởng

PL chính thống của quốc gia đó bao giờ cũng là hệ tư tưởng của giai cấp thống trị

Hệ tư tưởng pháp luật không phải là sự phản ánh trực tiếp của đời sống

PL xã hội Nó là sự phản ánh tự giác, gián tiếp, có mục đích, có tính tổ chức cao của các hoạt động tư duy lý luận Đó là hệ thống các khái niệm, phạm trù, quan điểm, tư tưởng của giai cấp thống trị đã được thừa nhận một cách phổ biến, được truyền bá rộng rãi công khai thông qua hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị, các tổ chức xã hội

Nội dung của hệ tư tưởng pháp luật là những tri thức về vai trò, chức năng, bản chất giai cấp của PL, nó thể hiện mối quan hệ giữa pháp luật với quyền công bằng tự do, bình đẳng, dân chủ của con người trong xã hội, về mối quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ của các cá nhân và tổ chức xã hội trong việc sáng tạo và thực thi PL

Hệ tư tưởng pháp luật luôn có xu hướng chuyển hóa mạnh mẽ thành YTPL của toàn xã hội Chúng nảy sinh, tồn tại, phát triển hay bị thủ tiêu đều phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể Khi giai cấp thống trị là lực lượng tiến bộ của xã hội, có lợi ích phù hợp với lợi ích căn bản của đông đảo quần chúng thì tính dân chủ, khoa học và tính xã hội của hệ tư tưởng PL sẽ được phát huy tác dụng Ngược lại, nó sẽ trở thành hệ tư tưởng pháp luật lạc hậu, thậm chí là phản động

Trang 21

- Mối quan hệ giữa tâm lý pháp luật và hệ tư tưởng pháp luật

So với tâm lý pháp luật thì hệ tư tưởng pháp luật mang tính lý luận, tính

hệ thống, tính khái quát cao hơn Tư tưởng pháp luật với tư cách là công cụ điều chỉnh xã hội, có chiều sâu hơn tâm lý PL Nhưng điều đó không có nghĩa

là hệ tư tưởng PL có giá trị cao hơn, quan trọng hơn so với tâm lý PL Tâm lý pháp luật và hệ tư tưởng pháp luật là hai bộ phận của YTPL tồn tại trong mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại chặt chẽ

Tình cảm của con người ở mức độ cảm xúc, phụ thuộc vào trình độ nhận thức PL của cá nhân và chịu sự chi phối của hệ tư tưởng pháp luật Ngược lại, sự hoàn thiện của hệ tư tưởng pháp luật cũng chịu sự chi phối của tâm lý pháp luật, nó chính là điều kiện, là tiền đề kích thích tư duy sáng tạo của con người, hướng họ vươn lên trình độ tư tưởng PL V.I.Lênin viết:

“không có sự xúc cảm của con người thì xưa nay không có và không thể có sự tìm tòi chân lý” [22;131]

Như vậy, tâm lý pháp luật và hệ tư tưởng pháp luật là hai trình độ phản ánh đời sống PL nhưng có mối quan hệ với nhau trong sự hình thành ý thức pháp luật Nếu không có tình cảm, xúc cảm đối với PL thì sẽ không hình thành những quan điểm, tư tưởng pháp luật Mặt khác, hệ tư tưởng PL có sự tác động mạnh mẽ làm thay đổi tâm lý pháp luật

Thứ hai, căn cứ vào trình độ nhận thức, ý thức pháp luật được phân

chia thành ý thức pháp luật thông thường và ý thức pháp luật khoa học

- Ý thức pháp luật thông thường

“Ý thức pháp luật thông thường là những hiểu biết nhất định về các quy phạm pháp luật, là những kinh nghiệm để giải quyết các sự việc pháp lý cụ thể, đơn giản, nhưng sự hiểu biết đó chưa sau sắc, chưa có tính hệ thống và khoa học” [19; 330] Như vậy, ý thức PL thông thường phản ánh mối liên hệ bên ngoài của các hiện tượng pháp luật, với tư cách là các sự kiện riêng biệt của hiện thực đời sống chứ không phải là mối liện hệ bên trong, là tổng số các

Trang 22

mối liên hệ của đời sống pháp luật Nó phản ánh nhận thức đời sống PL ở trình

độ cảm tính, thông qua thực tiễn đời sống hằng ngày, chưa được khái quát hóa,

hệ thống hóa

Ý thức PL thông thường ra đời một cách trực tiếp, tự phát từ hành động giao tiếp hàng ngày trong quá trình con người sống, làm việc với nhau liên quan đến các đóng góp ý kiến vào hiện tượng pháp luật Từ đó hình thành ở

họ những kinh nghiệm, thói quen, tập quán xử sự các vấn đề liên quan đến pháp luật (như xử lý các thông tin PL, khă năng giải thích các sự kiện PL…)

- Ý thức pháp luật khoa học

“Ý thức pháp luật khoa học tòn tại dưới dạng quan điểm, học thuyết về pháp luật, về bản chất của pháp luật, về sự tương tác giữa pháp luật và các hiện tượng xã hội khác, vè vai trò của cơ chế điều chỉnh pháp luật…” [19; 330] Khác với ý thức pháp luật thông thường, ý thức pháp luật khoa học phản ánh một cách sâu sắc và có hệ thống các hiện tượng PL thông qua nghiên cứu và tổng hợp các kiến thức pháp luật

Ý thức PL khoa học có vai trò hướng dẫn, chỉ đạo YTPL thông thường

vì vậy nó là yếu tố quyết định tốc độ, phương hướng phát triển YTPL thông thường Đồng thời có chức năng dự báo, lập kế hoạch xây dựng chính sách PL; tổ chức thực hiện pháp luật; giáo dục đào tạo, phổ biến kiến thức PL góp phần nâng cao ý thức pháp luật

Thứ ba, căn cứ vào chủ thể mang ý thức, YTPL được chia thành: ý thức

pháp luật cá nhân, ý thức pháp luật nhóm và ý thức pháp luật xã hội

- Ý thức PL cá nhân: “là ý thức pháp luật của mỗi thành viên trong xã hội Đó là những quan điểm, nhận thức, tâm trạng, thái độ, tình cảm đối với pháp luật của mỗi cá nhân” [19; 330] YTPL cá nhân được hình thành và phát triển do tác động của các yếu tố khách quan và chủ quan như điều kiện kinh

tế, chính trị, văn hóa, GD, sức khỏe, trình độ học vấn… Trình độ ý thức pháp

Trang 23

luật ở mỗi cá nhân có sự khác nhau, vì vậy, YTPL cá nhân mang tính phong phú, đa dạng và thể hiện ở nhiều vẻ Nó có thể ở trình độ cao hay thấp, tiến bộ hay lạc hậu, tích cực hay tiêu cực, mức độ phạm vi ảnh hưởng của nó sâu rộng hay hạn hẹp… Trước mỗi sự việc, sự kiện, hiện tượng PL xảy ra trong đời sống hàng ngày thì YTPL cá nhân chính là cơ sở để mỗi người đưa ra sự phán xét, đánh giá riêng của mình về hiện tượng, sự kiện, sự việc đó

Ý thức PL cá nhân là cơ sở để hình thành YTPL xã hội tuy nhiên không phải bất kỳ ý thức pháp luật cá nhân nào cũng đạt tới trình độ ý thức pháp luật

xã hội Do đó, nhiệm vụ của công tác GD pháp luật là nâng cao trình độ YTPL cá nhân lên ngang bằng với trình độ của ý thức pháp luật xã hội

- YTPL nhóm: “là những tư tưởng, quan điểm, nhận thức, tình cảm pháp luật của một nhóm người trong xã hội” [19; 330] Sự giống nhau về điều kiện đời sống và lợi ích tạo cho những thành viên của nhóm đó có những thái

độ, khái niệm tương đối giống nhau đối với pháp luật

- YTPL xã hội: “là ý thức pháp luật của một bộ phận tiên tiến trong xã hội, đại diện cho xã hội” [19; 330] Đó là tổng thể những tư tưởng, tình cảm chung của các cá nhân, các cộng đồng trong xã hội được thừa nhận và thịnh hành phổ biến trong xã hội về pháp luật và những vấn đề của pháp luật

Ý thức PL xã hội được hình thành xuất phát từ ý thức pháp luật cá nhân, nhưng nó không phải là “tổng số đơn giản” các nội dung chứa đựng trong đó mà là kết quả của sự “chắt lọc, kết tinh” từ quá trình tương tác giữa YTPL của cá nhân với cá nhân, cá nhân với nhóm, cá nhân với xã hội Ý thức

PL xã hội giữ vai trò định hướng và quyết định đối với nội dung các phán xét, đánh giá của dư luận xã hội về các vấn đề liên quan đến PL

Sự phân chia YTPL trên đây thành các bộ phận dù theo tiêu chí nào cũng chỉ mang ý nghĩa tương đối, phục vụ cho mục đích khảo sát, nghiên cứu, học tập… Bởi vì, các bộ phận cấu thành đó luôn nằm trong mối liên hệ biện chứng chặt chẽ với nhau, tác động qua lại và bổ sung cho nhau

Trang 24

1.1.1.3 Đặc điểm của ý thức pháp luật Thứ nhất, với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, YTPL cũng có

những quy luật và đặc điểm chung của ý thức xã hội Đó là chịu sự quy định của tồn tại xã hội, YTPL của thời đại nào sẽ phản ánh tồn tại xã hội của thời đại đó, nó chịu sự tác động bởi các điều kiện vật chất của xã hội Song, YTPL cũng có tính độc lập tương đối so với tồn tại xã hội và các hình thái ý thức xã hội khác Điều này được thể hiện ở những khía cạnh sau:

- Ý thức pháp luật thường lạc hậu hơn so với trình độ phát triển của tồn tại xã hội Mặc dù tồn tại xã hội cũ mất đi nhưng ý thức xã hội trong đó có YTPL vẫn còn được duy trì trong một thời gian dài, đặc biệt là trong tâm lý

PL khi mà tình cảm, thói quen, truyền thống… giữ vị trí nhất định trong đời sống con người

Mặt khác, trong những điều kiện hoàn cảnh lịch sử nhất định thì YTPL đặc biệt là tư tưởng PL khoa học lại có thể vượt lên đi trước so với sự phát triển của tồn tại xã hội, vạch đường cho sự phát triển của pháp luật Nếu tư tưởng PL này thuộc về giai cấp cầm quyền trong xã hội thì nó sẽ nhanh chóng được thể hiện thành pháp luật và đi vào đời sống

- Ý thức pháp luật mang tính kế thừa sâu sắc YTPL phản ánh tồn tại xã hội của một thời đại nhất định nhưng nó cũng có sự kế thừa một số yếu tố của YTPL trong các thời đại trước đó cho dù yếu tố đó là tiến bộ cách mạng hay không tiến bộ, phản cách mạng Do đó, lịch sử trải qua từ thời đại này sang thời đại khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác các tư tưởng, quan điểm PL luôn luôn được kế thừa, chọn lọc và phát triển đặc biệt là những tư tưởng pháp luật tiến bộ có giá trị nhân văn sâu sắc Vì sự tiến bộ phát triển của xã hội loài người nói chung mà những tư tưởng này không những được kế thừa qua các thời đại khác nhau mà còn có sự trao đổi, tiếp nhận một số yếu tố nhất định giữa các nước có thể chế chính trị khác nhau ở ngay trong cùng một thời đại

Trang 25

- Ý thức pháp luật có khả năng tác động trở lại đối với tồn tại xã hội

Hệ quả của sự tác động này diễn ra theo hai chiều hướng khác nhau tùy thuộc vào mức độ phản ánh của YTPL đối với tồn tại xã hội Nếu ý thức pháp luật

có khả năng phản ánh đúng các hiện tượng xã hội thì sẽ phát huy được các chức năng của nó góp phần cải tạo xã hội Ngược lại, nếu YTPL đã trở nên lỗi thời lạc hậu, không theo kịp sự biến đổi của tồi tại xã hội hoặc phản ánh không đúng, sai lệch tồn tại xã hội thì sẽ kìm hãm sự phát triển của xã hôi

- Ý thức pháp luật có mối quan hệ tác động qua lại với các hình thái ý thức xã hội khác, nhất là đối với ý thức chính trị và ý thức đạo đức YTPL, ý thức chính trị và ý thức đạo đức đều chịu sự quy định của tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội đặc biệt là điều kiện kinh tế Quan hệ giữa các yếu tố này là mối quan hệ hữu cơ, làm tiền đề điều kiện cho nhau Nếu ý thức chính trị có sự tác động chi phối YTPL thông qua hệ tưởng chính trị của giai cấp cầm quyền thì ngược lại ý thức pháp luật lại phản ánh những yêu cầu, quyết sách chính trị của chính trị dưới góc độ pháp luật Cả YTPL và ý thức chính trị đều hướng vào việc điều chỉnh mọi hành vi của con người nên chúng thường chịu ảnh hưởng của nhau và bổ trợ cho nhau

- Thứ hai, ý thức pháp luật mang tính giai cấp Nói tới PL là nói tới ý

chí, ý chí được thể hiện trong pháp luật là ý chí, là hệ tư tưởng của giai cấp thống trị “là ý chí của giai cấp thống trị được nâng lên thành luật pháp” Trong xã hội còn có sự phân chia giai cấp thì trong xã hội đó tất yếu sẽ có PL

và ý thức pháp luật Đời sống pháp luật trước hết là nhu cầu điều chỉnh hành

vi xử sự của con người thông qua các quy tắc nhằm tạo lập một trật tự xã hội nhất định Các giai cấp khác nhau có thế giới quan khác nhau, vì vậy, cách nhìn nhận về nhu cầu này cũng có nhiều góc độ khác nhau, hình thành nên nhiều YTPL Tuy nhiên, xét về nguyên tắc thì ý thức pháp luật của giai cấp thống trị sẽ được biểu hiện thành PL có tác dụng chi phối tác động đến YTPL

Trang 26

của giai cấp tầng lớp khác trong xã hội Thông thường trong lịch sử từ trước đến nay thì YTPL của giai cấp thống trị và giai cấp bị trị là mâu thuẫn với nhau về quyền lợi và nghĩa vụ của họ trong xã hội Nhưng để xoa dịu mâu thuẫn, duy trì trật tự xã hội ổn định và đảm bảo sự thống trị lâu dài của mình nên khi ban hành PL, giai cấp thống trị thường có những yếu tố mang tính chất nhượng bộ nhưng vẫn không làm thay đổi bản chất giai cấp của PL của giai cấp mình

1.1.2 Giáo dục ý thức pháp luật

1.1.2.1 Khái niệm giáo dục ý thức pháp luật

Để xác định đúng đắn khái niệm giáo dục ý thức pháp luật, trước hết

cần xuất phát từ khái niệm giáo dục Theo nghĩa hẹp, giáo dục được hiểu là

hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể giáo dục tác động lên khách thể giáo dục, nhằm đạt được các mục tiêu nhất định như: Truyền bá những kinh nghiệm trong sản xuất, trong đấu tranh; những tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy để khách thể có đủ khả năng tham gia vào đời sống xã hội Giáo dục theo nghĩa này không bao hàm trong đó những ảnh hưởng của các nhân tố khách quan, nghĩa là không tính đến những yếu tố ảnh hưởng bên ngoài lên đối tượng giáo dục

Theo nghĩa rộng hơn, giáo dục lại được hiểu là quá trình ảnh hưởng của

những điều kiện khách quan như chế độ chính trị xã hội, trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, phong tục tập quán… và sự tác động của các nhân tố chủ quan như sự tác động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch và định hướng của con người lên việc hình thành những phẩm chất, kỹ năng nhất định của khách thể giáo dục

Trên cơ sở của khái niệm GD theo nghĩa rộng chúng ta thấy rằng khái niệm GD được đặt trong mối quan hệ biện chứng giữa hai yếu tố là chủ quan

và khách quan Do đó, GDYTPL cũng được đặt trong mối quan hệ này Sự

Trang 27

hình thành và phát triển ý thức của con người, là sản phẩm của một quá trình phức tạp, trong đó các điều kiện khách quan là những nhân tố ảnh hưởng có thể tự phát theo chiều này hay chiều khác, còn nhân tố chủ quan là nhân tố tích cực mang tính tác động có ý thức, có mục đích và định hướng rõ ràng cụ thể Khi hai nhân tố khách quan và chủ quan có ảnh hưởng cùng chiều thì hiệu quả GD sẽ đảm bảo, ngược lại thì hiệu quả GD không những không đạt hiệu quả mà còn khó tránh khỏi những hạn chế Vì vậy, khi các chủ thể giáo dục tác động lên các yếu tố khách quan nếu có ảnh hưởng bất lợi thì phải kịp thời có những điều chỉnh cả về nội dung, hình thức và phương pháp GD để sao cho phù hợp với mục đích giáo dục

Từ mối quan hệ biện chứng giữa các nhân tố khách quan với các tác động của nhân tố chủ quan trong GD hình thành ý thức của con người cho phép chúng ta có thể nghiên cứu những vấn đề về giáo dục pháp luật trong quá trình đi tới mục tiêu hình thành ý thức pháp luật của đối tượng được GD

Sự hình thành YTPL là sản phẩm của điều kiện khách quan và chủ quan tác động vào ý thức con người Trong đó giáo dục ý thức pháp luật chỉ là một yếu

tố của quá trình hình thành ý thức pháp luật, đó là sự tác động có mục đích, có định hướng của nhân tố chủ quan

Thực tiễn nước ta trong những năm qua đã chỉ ra rằng, sự tác động của những điều kiện mang tính tiêu cực của nền kinh tế thị trường đang tác động mạnh mẽ đến nhận thức, lối sống, tình cảm, lòng tin của con người đối với PL

đã tác động rất lớn đến YTPL của mỗi người Việc tiến hành các hoạt động giáo dục ý thức pháp luật với những nội dung, hình thức, phương pháp GD phù hợp có ý nghĩa rất quan trọng nó sẽ hạn chế được những mặt tiêu cực của nhân tố khách quan đem lại, từ đó sẽ hình thành và phát triển ý thức pháp luật tiến bộ cho con người

Sự hình thành và phát triển YTPL ở mỗi người là sự kết hợp của quá trình tuyên truyền, giáo dục pháp luật của chủ thể với các yếu tố khách quan

Trang 28

Do đó, giữa GDYTPL và giáo dục pháp luật có sự thống nhất với nhau Cả hai hoạt động này đều nhằm mục đích hình thành tri thức pháp luật, thái độ, tình cảm pháp luật cho đối tượng GD

Từ sự phân tích ở trên có thể rút ra khái niệm giáo dục ý thức pháp luật

như sau: giáo dục ý thức pháp luật là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có

chủ định của chủ thể giáo dục, tác động lên đối tượng giáo dục nhằm mục đích hình thành ở họ sự hiểu biết, thái độ và sự đánh giá về pháp luật, về quyền lợi

và nghĩa vụ của con người trong xã hội, về hành vi hợp pháp hay không hợp

pháp của cá nhân, các cơ quan Nhà nước, các tổ chức trong xã hội

1.1.2.2 Mục đích của giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh, sinh viên

Khi tiến hành bất cứ một hoạt động nào đó thì điều đầu tiên là chúng ta phải xác định mục đích để làm gì? Cần đặt được mục đích ấy bằng con đường nào? Tức là phải lựa chọn hình thức và phương pháp nhất định

Việc xác định mục đích giáo dục ý thức pháp luật cho HS, SV là một vấn đề quan trọng hàng đầu đối với việc xây dựng chương trình nội dung GD

và toàn bộ công tác tổ chức thực hiện Nó quy định việc xác định hình thức, phương tiện, phương pháp và nội dung của GD, đồng thời còn giúp cho việc xác định hiệu quả của quá trình giáo dục Không dựa vào mục đích của GDYTPL, chẳng những không thể đánh giá mà còn không thể tiến hành tìm kiếm các chỉ số đánh giá hiệu quả của quá trình GDYTPL Với ý nghĩa như vậy, mục đích của giáo dục ý thức pháp luật cho HS, SV trong giai đoạn hiện nay bao gồm các mục đích cơ bản sau đây:

- Mục đích thức nhất, hình thành, làm sâu sắc và từng bước mở rộng hệ

thống tri thức PL của công dân (mục đích nhận thức)

Nâng cao nhận thức, mở rộng sự hiểu biết của con người trên các lĩnh vực là một yêu cầu khách quan của công tác GD nói chung Trong GDYTPL thì mục đích được đặt ra là trang bị những tri thức cơ bản về pháp luật như giá trị của pháp luật, vai trò điều chỉnh của pháp luật, các chuẩn mực pháp luật

Trang 29

trong từng lĩnh vực đời sống Đây được xem là mục đích hàng đầu, bởi vì, chính sự am hiểu PL, sự nhận thức đúng đắn về giá trị xã hội và vai trò điều chỉnh của pháp luật sẽ là nền móng cơ bản để hình thành tâm lý, tình cảm và thái độ tôn trọng pháp luật, tin tưởng vào pháp luật ở mỗi HS, SV Hơn nữa, tri thức pháp luật còn giúp cho con người tổ chức một cách có ý thức hoạt động của mình và tự đánh giá kiểm tra, đối chiếu hành vi với các chuẩn mực pháp luật

- Mục đích thứ hai: hình thành tình cảm và lòng tin đối với pháp luật

SV Do vậy, việc biến nhận thức thành niềm tin, động cơ bên trong cho HS,

SV là yêu cầu quan trọng Thiếu tình cảm và niềm tin vào pháp luật thì mọi hành động dễ bị chệch hướng ra khỏi chuẩn mực pháp lý vì những mục đích, động cơ cá nhân nhằm để trục lợi Thực tế cho thấy nếu một người có sự hiểu biết pháp luật, có tình cảm và lòng tin vào PL thì họ sẽ tin theo những quy định của pháp luật Tuy nhiên, để có được tình cảm và lòng tin vào pháp luật thì cần phải GD tình cảm công bằng Khi con người tin vào tính công bằng của những đòi hỏi của quy phạm pháp luật thì không cần một sự tác động bổ sung nào của Nhà nước để thực hiện những đòi hỏi đó Có lòng tin vào tính công bằng của PL, con người sẽ có hành vi phù hợp với các đòi hỏi của pháp luật một cách độc lập, tự nguyện

Niềm tin pháp luật được xây dụng trên cơ sở:

+ Giáo dục tình cảm công bằng Nói đến PL là nói đến sự công bằng

GD tình cảm công bằng là giáo dục cho con người biết cách đánh giá các quy

Trang 30

phạm pháp luật, biết cách xác định, đánh giá các tiêu chuẩn về tính công bằng của pháp luật để tự đánh giá hành vi của mình, biết quan hệ với người khác và với chính mình bằng các quy phạm pháp luật

+ Giáo dục tình cảm trách nhiệm là GD ý thức về nghĩa vụ pháp lý GD tình cảm trách nhiệm nhằm hình thành ý thức tuân thủ pháp luật - một nguyên tắc xử sự của công dân trong mối quan hệ với nhau và với các cơ quan Nhà nước GD tình cảm trách nhiệm làm cho người được giáo dục nhận thức được rằng mọi việc làm, mọi hành vi của mình phải dựa trên cơ sở PL và trong khuôn khổ pháp luật cho phép

+ Giáo dục ý thức đấu tranh không khoan nhượng đối với những biểu hiện vi phạm pháp luật, chống đối pháp luật, đấu tranh với những hành vi vi phạm PL và tội phạm Phê phán, lên án những biểu hiện coi thường PL, ủng

hộ và tích cực tham gia bảo vệ sự nghiêm minh của pháp luật

- Mục đích thứ ba: hình thành động cơ, hành vi và thói quen xử sự theo

pháp luật (mục đích hành vi)

Trong hệ thống các mục đích của giáo dục pháp luật thì mục đích hình thành hành vi hợp pháp cho sinh viên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Bởi lẽ, suy đến cùng kết quả của giáo dục ý thức pháp luật được biểu hiện ở ứng xử theo PL của mọi HS, SV Đây chính là cái đích cần đạt được của giáo dục ý thức pháp luật Suy cho cùng thì GD tri thức pháp luật, bồi dưỡng niềm tin PL

là tiền đề để GD ý thức nhân cách rèn luyện thói quen, hành vi tuân thủ pháp luật hình thành động cơ và hành vi tích cực pháp luật Giáo dục các hành vi hợp pháp là giáo dục để hình thành ở sinh viên thói quen tuân theo PL Thói quen phần lớn là kết quả của niềm tin bên trong và sự tự ý thức sâu sắc được lặp đi lặp lại nhiều lần thông qua các hành vi xử sự Do vậy, GD để hình thành hành vi hợp pháp là một việc khó khăn, lâu dài Những hành vi hợp pháp của mỗi người thường biểu hiện qua các việc làm như: Tuân thủ các quy

Trang 31

phạm pháp luật Kiềm chế không thực hiện các điều pháp luật cấm; Thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ pháp lý của công dân; Biết đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật; biết vận dụng PL để bảo vệ lợi ích hợp pháp của cá nhân khi bị xâm phạm

Hành vi xử sự theo pháp luật của con người là kết quả của một quá trình nhận thức pháp luật Trong quá trình nhận thức có nhiều yếu tố tác động (chủ quan và khách quan) để hình thành nên hành vi và thói quen xử sự theo pháp luật nhưng hoạt động GDYTPL sẽ là yếu tố cơ bản Thông qua giáo dục

ý thức pháp luật sẽ cung cấp tri thức pháp luật, lòng tin sâu sắc tự nguyện thực hiện những quy định của PL Để đạt được mục đích này trong quá trình GDYTPL phải bằng những hình thức, phương thức tác động khác nhau và tiến hành thường xuyên, liên tục tạo cho mọi HS, SV có tình cảm đúng đắn và niềm tin vào PL, hiểu được sự cần thiết, tính hợp lý của pháp luật vì lợi ích chung của xã hội trên cơ sở đó biểu hiện ra thành những hành vi hợp pháp trong đời sống hàng ngày một cách tự giác

Tất cả các mục đích trên tạo nên một thể thống nhất có mối quan hệ tác

động lẫn nhau, bổ sung cho nhau tạo thành YTPL xã hội chủ nghĩa trong HS,

SV Khi tiến hành GD phải hướng hoạt động nhằm vào cả ba mục đích, chứ không phải là quá trình tác động rời rạc theo từng công đoạn, giữa chúng có mối quan hệ đan xem qua lại trong mối liên hệ hữu cơ thống nhất Từ tri thức

PL đến tính tự giác; từ tính tự giác đến tính tích cực; từ tính tích cực đến thói quen xử sự theo pháp luật Ngược lại, khi có thói quen xử sự theo PL thì lòng tin, tình cảm pháp luật lại được củng cố Thiếu hoặc coi nhẹ một nội dung nào của mục đích GDYTPL thì sẽ không hoàn chỉnh bởi vì không phải đơn thuần

về lý luận pháp luật, cũng không phải chỉ học những quy định cụ thể của pháp luật một cách khô khan mà là quá trình bồi dưỡng và nâng cao YTPL xã hội chủ nghĩa Do đó, khi tiến hành GDYTPL đều phải hướng hoạt động vào cả

ba mục đích đó

Trang 32

Việc xác định đúng đắn mục đích của giáo dục ý thức pháp luật cho

HS, SV có ý nghĩa cực kỳ quan trọng cả trong lý luận lẫn thực tiễn GDYTPL Xác định đúng hay không đúng mục đích sẽ dẫn đến chất lượng tốt hay không

tốt tới toàn bộ quá trình GDYTPL

1.1.2.3 Nội dung của giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh, sinh viên

Khi đã xác định rõ được mục đích yêu cầu thì vấn đề cần phải giải quyết tiếp theo là nội dung chương trình GDYTPL, tức là dạy và học những gì? Nội dung giáo dục ý thức pháp luật là một thành tố quan trọng của quá trình giáo dục pháp luật, nó được xác định trên cơ sở mục đích, nhiệm vụ và đồng thời xuất phát từ nhu cầu, đặc điểm của đối tượng được GD Xác định đúng nội dung của GDYTPL sẽ bảo đảm cho chất lượng của việc GD có hiệu quả cụ thể, thiết thực

Nội dung giáo dục ý thức pháp luật quá sơ lược hoặc ngược lại quá nặng nề, tách rời một cách cô lập với các môn học khác là không khoa học và không thực tế Nội dung phải phù hợp với đặc điểm tâm, sinh lý và quy luật nhận thức của HS, SV Đây là một vấn đề khó, nhất là trong việc biên soạn chương trình, bởi lẽ bản thân các quy phạm pháp luật đôi khi bao hàm những khái niệm pháp lý trừu tượng, trình tự và kết cấu trong từng quy phạm cũng hết sức chặt chẽ, lôgíc Nghệ thuật diễn giảng của giáo viên là biến những khái niệm pháp lý đó thành những hướng dẫn hành động thực tế, sao cho HS,

SV dễ hiểu, hiểu đúng và biết vận dụng một cách linh hoạt trong cuộc sống

Giáo dục ý thức pháp luật trong các trường TC, CĐ, ĐH nhằm góp phần để sản sinh ra những con người có trí tuệ, biết cách sử dụng trí tuệ và phát triển khả năng chuyên môn của mình, để họ sử dụng kiến thức và khả năng chuyên môn một cách có trách nhiệm với tư cách là một công dân, biết

sử dụng đúng đắn các quyền con người và quyền công dân chân chính của mình Giáo dục ý thức pháp luật trong các trường TC, CĐ, ĐH là một hình

Trang 33

thức giáo dục pháp luật đặc thù với đối tượng là HS, SV, có mục tiêu GDYTPL gắn liền với mục tiêu chung trong giáo dục - đào tạo con người

phát triển toàn diện Mục tiêu GD đào tạo của nước ta được xác định rõ ràng

trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII là nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; đào tạo những con người có kiến thức văn hóa, khoa học, có kỹ năng nghề nghiệp, lao động tự chủ, sáng tạo và có kỷ luật, giàu lòng nhân ái, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội sống lành mạnh Ở đây cần phân biệt rõ 3 loại mục tiêu phát triển: mục tiêu phát triển tổng quát (vĩ mô) - nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, tức là tạo ra nền tảng dân trí, chuẩn bị một thế

hệ lao động mới có trình độ cao hơn, với mũi nhọn là đội ngũ người lao động

có tri thức, có kỹ thuật, thực hiện công bằng xã hội; mục tiêu phát triển nhân cách (vi mô) - con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tính thần, trong sáng về đạo đức, có khả năng lao động, có tính tích cực chính trị - xã hội; mục tiêu phát triển cụ thể các bậc học: xóa mù chữ

và phổ cập tiểu học, xây dựng bậc trung học mới, mở rộng bậc đại học và sau đai học, xây dựng hệ thống trung tâm chất lượng cao Để đạt được những mục tiêu nêu trên, nội dung cơ bản của quá trình GD và phát triển toàn diện nhân cách xã hội chủ nghĩa cho HS, SV bao gồm nội dung thuộc các lĩnh vực: “trí dục, đức dục, giáo dục lao động, thể dục và mỹ dục”

Giáo dục ý thức pháp luật cũng như GD môi trường, GD giới tính, GD dân số (GD kế hoạch hóa gia đình)… được ghép vào 5 lĩnh vực đã nêu trên Giáo dục ý thức pháp trong hệ thống các trường học từ trung cấp trở lên thì đã được đưa vào chương trình bằng một môn học độc lập thuộc lĩnh vực khoa học xã hội đồng thời được lồng ghép vào các bộ môn khác như môn Chính trị Như vậy, nội dung của GDYTPL trong nhà trường là một bộ phận của nội dung GD nói chung, phải tuân thủ mục tiêu GD nói chung

Trang 34

Khi nói đến nội dung GDYTPL là nói đến một số vấn đề như: phạm vi của nội dung giáo dục ý thức pháp luật so với các nội dung GD khác, các mức

độ về nội dung cơ bản của giáo dục ý thức pháp luật (chung và cho từng nhóm đối tượng) và các yêu cầu thực tế đối với việc thực hiện các nội dung giáo dục pháp luật

- Xuất phát từ mục đích của GDYTPL là: trang bị tri thức PL; bồi dưỡng tình cảm, tâm lý PL; hướng dẫn hình thành thói quen xử sự tích cực theo PL do đó nội dung giáo dục ý thức pháp luật bao gồm một phạm vi tương đối rộng đó là: Các thông tin về pháp luật, gồm cả kiến thức cơ bản và văn bản pháp luật thực định; Các thông tin về việc thực hiện pháp luật, về tình hình vi phạm pháp luật và tội phạm, về việc điều tra xử lý các vi phạm pháp luật; Các thông tin về kết quả nghiên cứu, điều tra xã hội học về thực hiện áp dụng pháp luật đối với đời sống kinh tế xã hội, đối với từng đối tượng, các tầng lớp dân cư Đồng thời phản ánh những nhu cầu, nguyện vọng, ý kiến, đề xuất của nhân dân, của các chuyên gia pháp luật trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật; Các thông tin hướng dẫn hành vi pháp luật cụ thể của công dân (như các quyền, các nghĩa vụ pháp luật, các quy trình thủ tục để bảo vệ các quyền hợp pháp)

Như vậy, phạm vi của nội dung ý thức giáo dục pháp luật trong nhà trường được đưa vào chương trình chính khóa ở phần cứng chủ yếu là những tri thức lý luận cơ bản và những tri thức PL thực định Do đó, ở phần mềm phải chú ý ưu tiên đưa vào các thông tin về thực tiễn PL Đồng thời phải kết hợp giáo dục pháp luật trong nhà trường với các hình thức, phương tiện, phương pháp giáo dục pháp luật khác

Từ phạm vi nội dung GDYTPL nêu trên, trong thực tiễn PL ở nước ta hiện nay cũng cần lưu ý tới những đặc điểm của nội dung giáo dục ý thức pháp luật Đó là trạng thái động của các thông tin trong nội dung giáo dục

Trang 35

pháp luật Những đặc điểm này giáo viên giảng dạy cần được nhận thức đầy

đủ để trên cơ sở đó lựa chọn phương pháp tiếp cận tới nội dung GDYTPL cho từng đối tượng tiếp nhận một cách phù hợp, giúp cho đối tượng giáo dục là

HS, SV có cách nhìn nhận đúng đắn, biện chứng về quá trình hoàn thiện pháp luật, đưa PL vào cuộc sống, cũng như những điểm mâu thuẫn và thống nhất của tiến trình đổi mới, phát triển khoa học pháp lý và PL thực định ở nước ta

- Căn cứ vào nhu cầu và đặc điểm của đối tượng giáo dục pháp luật, chúng ta có thể phân định nội dung giáo dục pháp luật thành ba mức, cấp độ khác nhau sau đây:

Một là, mức độ tối thiểu về GDYTPL cho mọi công dân (pháp luật phổ

thông) Để mỗi công dân “sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật”, họ phải có những hiểu biết tối thiểu về PL và những kỹ năng tối thiểu để sử dụng pháp luật bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cũng như các nghĩa vụ của mình Những hiểu biết và kỹ năng đó chính là nội dung tối thiểu của GDYTPL phổ cập bao bồm: Một số thông tin cơ bản về bản chất, vai trò của nhà nước và pháp luật; Một số hiểu biết, thông tin cơ bản về tổ chức bộ máy nhà nước thực thi pháp luật, đặc biệt là cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; Các quyền và nghĩa vụ pháp lý cơ bản của công dân do hiến pháp và một số đạo luật quy định; Một số thủ tục, trình tự pháp lý để bảo

vệ các quyền, lợi ích hợp pháp và thực hiện các nghĩa vụ của công dân

Hai là, mức độ về GDYTPL theo nhu cầu ngành nghề Mỗi công dân

trong từng lĩnh vực hoạt động kinh tế - văn hóa - xã hội, lại có nhu cầu hiểu biết và kỹ năng sử dụng các phương tiện pháp luật khác nhau ở mức độ cao hơn và mang tính định hướng nghề nghiệp rõ hơn Do đó, nội dung giáo dục pháp luật ở cấp độ này cũng phải được mở rộng và chuyên sâu hơn so với mức độ tối thiểu nội dung đó bao gồm: Một hệ thống những khái niệm cơ bản của khoa học pháp lý thường gặp trong thực tiễn (như quy phạm pháp luật, hệ

Trang 36

thống pháp luật, các nguồn và hình thức pháp luật, các quan hệ pháp luật …); Một số văn bản pháp luật thực định liên quan đến lĩnh vực hoạt động và vùng quan tâm của đối tượng; Các quyền và nghĩa vụ cụ thể của công dân trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động nghề nghiệp; quá trình tố tụng và vị trí của các chủ thể tố tụng để thực hiện, bảo vệ các quyền và nghĩa vụ đó

Ba là, mức độ GD chuyên luật, đây là mức độ cao nhất của nội dung

GDYTPL, nhằm mục đích đào tạo các luật gia cho bộ máy nhà nước và các tổ chức mang tính nghề nghiệp về pháp luật

Trong ba mức độ trên về nội dung GDYTPL thì giáo dục pháp luật trong các trường học không chuyên về ngành luật chỉ đòi hỏi nội dung ở mức

độ thứ nhất và mức độ thứ hai

Từ việc xác định phạm vi, đặc điểm và các mức độ yêu cầu về nội dung GDYTPL có thể thấy rằng: không thể có một hình thức hay một chủ thể giáo dục pháp luật riêng biệt có thể đáp ứng được tất cả các yêu cầu, nội dung để đạt tới mục tiêu giáo dục pháp luật đặt ra cho mọi đối tượng Do đó, cần phải

có sự phối hợp nhiều hình thức, phương tiện, chương trình, mục tiêu giáo dục pháp luật của các chủ thể khác nhau để hỗ trợ, bổ sung cho nhau nhằm đạt được mục đích của GDYTPL mà nội dung GD đề ra

Vấn đề đặt ra là dạy YTPL cho HS, SV như thế nào là cần và đủ Về vấn đề này được nhiều nhà nghiên cứu giáo dục, các luật gia, các thầy cô giáo đều có một nhận định chung là cần trang bị cho HS, SV những nội dung kiến thức PL sau đây:

- Những nội dung cơ bản và cơ sở lý thuyết dưới dạng phổ thông nhất

về nguồn gốc, bản chất, vai trò của Nhà nước và pháp luật

- Hệ thống tri thức dưới dạng cơ bản về quyền và nghĩa vụ của HS, SV theo ý nghĩa là những công dân

Trang 37

- Một số kiến thức PL có liên quan đến đời sống HS, SV trên một số lĩnh vực: lao động, dân sự, hình sự, nghĩa vụ quân sự, hôn nhân và gia đình… được biên soạn một cách khái quát, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ đối với người học

- Trang bị cho HS, SV hệ thống tri thức pháp luật cần thiết và đủ sao cho khi học xong HS, SV có nhận thức đúng đắn và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, thực hiện đúng những quyền và nghĩa vụ của công dân

Trang bị những tri thức PL cần thiết và đủ cho HS, SV là mục đích đầu tiên của giáo dục ý thức pháp luật Nó đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự hình thành ý thức pháp luật và hành vi tích cực, hợp pháp của HS, SV Tình cảm đúng đắn, bền vững đối với PL và những hành vi tích cực sẽ không thể có hoặc có nhưng không đây đủ nếu không được dựa trên những tri thức

về pháp luật của HS, SV Tri thức pháp luật càng đầy đủ thì tình cảm pháp luật càng mạnh mẽ, bởi lẽ tình cảm đó dựa trên những khái niệm, tư tưởng, quan điểm, những quy phạm pháp luật Mặt khác, những tri thức pháp luật giúp cho HS, SV ứng xử theo đúng pháp luật Do vậy, cũng không nên hiểu một cách giản đơn rằng tri thức pháp luật chỉ là sự am hiểu giản đơn về những quy phạm pháp luật nào đó mà nó còn là sự nhận thức và hiểu biết thấu đáo nội dung, ý nghĩa về quyền và nghĩa vụ của HS, SV trong các mối quan hệ pháp luật

Trong quá trình đổi mới toàn diện của đất nước trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội… có nhiều quan điểm, khái niệm đang được nhận thức lại một cách cơ bản Đó là sự phát triển tất yếu phù hợp với yêu cầu khách quan, mang ý nghĩa tích cực, nhưng về góc độ GD, đó cũng là một nét đặc thù đòi hỏi người giáo dục phải lựa chọn các nội dung giáo dục pháp luật sao cho vừa có phần “cứng” mang tính nguyên tắc, tương đối ổn định; vừa có phần “mềm” mang tính chất linh hoạt để đảm bảo cả hai yêu cầu của quá trình giáo dục là tính hệ thống và tính cập nhật Với nội dung giáo dục pháp luật

Trang 38

luôn luôn phát triển, thay đổi vì vậy đòi hỏi quá trình dạy và học cũng phải liên tục thường xuyên cập nhật nếu không muốn trở thành lạc hậu hay “mù”

sự tác động của những điều kiện kinh tế, xã hội của chính xã hội mà các em đang sinh sống, có thể xác định các yếu tố liên quan trực tiếp đến đến YTPL của HS, SV như sau:

Một là, đặc điểm tâm sinh lý của HS, SV

Mỗi lứa tuổi khác nhau đều có những đặc điểm tâm sinh lý nổi bật, ở đây tác giả chỉ đề cập đến HS, SV những người có hoạt động chủ đạo là học tập để tiếp thu kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp Tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý HS, SV là một khâu quan trọng không thể thiếu trong quá trình giáo dục nâng cao YTPL cho đối tượng này Người học trong các trường thuộc hệ thống GD quốc dân từ trung cấp đến đại học đa số thuộc lứa tuổi đang trong giai đoạn phát triển, có nhiều biến động về thể chất lẫn tâm hồn, điều này có tác động lớn đến tâm sinh lý của các em

- Về tâm, sinh lý: Ở lứa tuổi này, tâm lý các em có nhiều biến động rất

nhạy cảm, dễ xúc động, dễ bị kích động, bị tác động bởi các yếu tố bên ngoài như phim, ảnh, các hoạt động văn hoá xã hội Khi cơ thể phát triển tạo

ra các nhu cầu tìm hiểu sự việc, những ham muốn về sinh lý, về giới tính cộng với tính tò mò muốn biết hết mọi việc, vì thế, nếu không được GD,

Trang 39

không được dạy bảo dễ nảy sinh các tâm lý lệch lạc dẫn đến hành vi phạm tội, do không được GD, thiếu hiểu biết về cuộc sống nói chung và các hiểu biết về PL nói riêng

- Về nhận thức: đa số người học (nhất là HS, SV những năm đầu TC,

CĐ, ĐH) đang trong giai đoạn bắt đầu hình thành nhân cách, tâm, sinh lý chưa ổn định, suy nghĩ chưa chín chắn, tính cách hay thay đổi Đa số các em chưa nhận thức đầy đủ được tính chất của hành vi của bản thân mà chỉ hành động theo bản năng, cảm tính

- Về đặc điểm tình cảm, thói quen, lối sống: lứa tuổi HS, SV đang bước

vào ngưỡng cửa của cuộc đời, có định hình về tình cảm nhất định, các em đang định hình những giá trị mới về bản thân và cuộc sống Phạm vi tiếp xúc với con người và môi trường xã hội ngày càng rộng đã thúc đẩy quá trình xúc cảm tình cảm chuyển biến theo xu hướng mới Thói quen ở lứa tuổi này đã tương đối ổn định, do vậy việc thay đổi thói quen cũ không dễ dàng Thói quen tốt dễ củng cố và phát triển thành những đặc trưng của lối sống tốt tích cực Ngược lại, những thói quen xấu nếu không khắc phục ngay sẽ dẫn đến thói hư hỏng, suy thoái nhân cách nhanh chóng

Dưới góc độ xã hội, đây là lứa tuổi bắt đầu được phép tham gia một số quan hệ xã hội nhất định, được PL công nhận là có năng lực hành vi trong một vài quan hệ xã hội, đồng thời cũng bắt đầu phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật, phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình, khi tham gia các quan

hệ xã hội Ở lứa tuổi này nhân cách đang trong giai đoạn hình thành và chưa

ổn định, các em rất dễ sa ngã, dễ bị rủ rê, lôi kéo vào các hành vi phạm tội do đặc tính hiếu động, tò mò của tuổi trẻ, nhưng cũng dễ uốn nắn, dễ tiếp thu các điều hay, điều tốt khi được định hướng, được GD ngay từ giai đoạn này

Một số biểu hiện tâm lý của HS, SV yếu kém đạo đức, dễ vi phạm pháp luật diễn ra như sau: một là, giai đoạn tập nhiễm, các em dễ bị cám dỗ, không

Trang 40

cú khả năng đề khỏng trước thúi xấu, bắt đầu cú biểu hiện buụng thả Hai là, giai đoạn phỏt triển gồm những hoạt động tiờu cực dần chiếm ưu thế trong đời sống HS, SV yếu kộm Ba là, giai đoạn nghiờm trọng, gồm những hoạt động tiờu cực trở thành chủ yếu trong đời sống và dẫn đến sự biễn chất về nhõn cỏch

Những đặc điểm về tõm sinh lý trờn của HS, SV cú tỏc động, ảnh hưởng rất lớn đến quỏ trỡnh nhận thức và hành động của cỏc em, nếu khụng cú

sự định hướng, tỏc động GD theo cỏc mục tiờu, chuẩn mực xó hội thỡ rất dễ bị lụi kộo vào cỏc việc làm, cỏc hành vi xấu

Hai là, tỏc động của nền kinh tế thị trường

Kinh tế thị trường là thành tựu chung của nền văn minh nhõn loại, là trỡnh độ phỏt triển cao hơn của kinh tế hàng húa Đõy là mụ hỡnh kinh tế mà ở

đú cỏc quan hệ kinh tế đều được thực hiện trờn thị trường, thụng qua quỏ trỡnh trao đổi mua bỏn

Ngoài những đặc điểm chung cho bất kỳ một nền kinh tế thị tr-ờng nào, nền kinh tế thị tr-ờng ở n-ớc ta còn có đặc điểm khác về chất so với kinh tế thị tr-ờng trong chủ nghĩa t- bản đú là nền kinh tế thị tr-ờng n-ớc ta phát triển theo định h-ớng xã hội chủ nghĩa Kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa là nền kinh tế hàng húa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường cú sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xó hội chủ nghĩa Để nền kinh tế thị tr-ờng phát triển lành mạnh theo định h-ớng xã hội chủ nghĩa, phải kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động của kinh tế thị tr-ờng với sự điều tiết của nhà n-ớc Sự điều tiết của nhà n-ớc trong nền kinh tế thị tr-ờng có nhiều ph-ơng tiện và công cụ khác nhau, trong đó pháp luật là ph-ơng tiện chủ yếu

Cựng với nền kinh tế thị trường đang phỏt triển thỡ xu thế toàn cầu húa cũng đang diễn ra mạnh mẽ ở Việt Nam Toàn cầu húa là xu thế khỏch quan,

là quỏ trỡnh tất yếu mà mọi dõn tộc dự muốn hay khụng cũng đều chịu sự tỏc động của nú Việt Nam là một nước đang phỏt triển, nền kinh tế thị trường và quỏ trỡnh toàn cấu húa tạo cho chỳng ta những thời cơ thuận lợi, cú thể “đi tắt

Ngày đăng: 21/08/2023, 01:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. Chính phủ (2010), Quyết định số 06/2010/QĐ-TTg ngày 25 tháng 01 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng, quản lý, khai thác tủ sách pháp luật trong đó chỉ đạo việc xây dựng tủ sách pháp luật trong trường học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 06/2010/QĐ-TTg
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010
10. Nguyễn Đăng Dung, Ngô Đức Tuấn, Nguyễn Thị Khế (1996), Lý luận chung về Nhà n-ớc và pháp luật, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận chung về Nhà n-ớc và pháp luật
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung, Ngô Đức Tuấn, Nguyễn Thị Khế
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1996
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
15. Nguyễn Minh Đoan (2004), “Yếu tố tâm lý pháp luật trong quá trình nâng cao ý thức pháp luật ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Khoa học pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yếu tố tâm lý pháp luật trong quá trình nâng cao ý thức pháp luật ở nước ta hiện nay”, Tạp chí
Tác giả: Nguyễn Minh Đoan
Năm: 2004
16. Nguyễn Minh Đoan (2006), “Ý thức pháp luật với đời sống xã hội”, Tạp chí Luật học, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ý thức pháp luật với đời sống xã hội”, Tạp chí" Luật học
Tác giả: Nguyễn Minh Đoan
Năm: 2006
17. Trần Ngọc Đường, Dương Thanh Mai (1996), Bàn về giáo dục pháp luật, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về giáo dục pháp luật
Tác giả: Trần Ngọc Đường, Dương Thanh Mai
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
18. Nguyễn Văn Hợi (2011), Đổi mới phương pháp dạy học học phần pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Hà Tĩnh. Luận văn thạc sỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp dạy học học phần pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Hà Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Văn Hợi
Năm: 2011
19. Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2007), Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, tập 1, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Lý luận Chính trị
Năm: 2007
20. Khoa luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2005), Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Khoa luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2005
21. Lê Đình Kiên (2002), Nâng cao ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ quản lý hành chính, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ quản lý hành chính
Tác giả: Lê Đình Kiên
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
23. Đinh Văn Mậu, Phạm Hồng Hải (1977), Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Đinh Văn Mậu, Phạm Hồng Hải
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1977
24. Bùi Thị Kim Ngân (2009), Nâng cao hiệu quả việc phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tại trung tâm học tập cộng đồng các phường xã trên địa bàn thành phố Vinh - Nghệ An.Luận văn thạc sỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả việc phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tại trung tâm học tập cộng đồng các phường xã trên địa bàn thành phố Vinh - Nghệ An
Tác giả: Bùi Thị Kim Ngân
Năm: 2009
25. Mai Thị Như Ngọc (2003), Ý thức pháp luật với việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Luận văn thạc sỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ý thức pháp luật với việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Mai Thị Như Ngọc
Năm: 2003
27. Phạm Thị Kim Oanh (2008), Nâng cao ý thức pháp luật cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở thành phố Cần Thơ hiện nay, Học viện chính trị hành chính quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao ý thức pháp luật cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở thành phố Cần Thơ hiện nay
Tác giả: Phạm Thị Kim Oanh
Năm: 2008
28. Lê Minh Thông (1983), Vài ý kiến về xây dựng và nâng cao ý thức pháp luật xó họi chue nghĩa của cán bộ trong bộ máy nhà n-ớc, Tăng c-ờng hiệu lực nhà n-ớc xó hội chủ nghĩa của ta, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài ý kiến về xây dựng và nâng cao ý thức pháp luật xó họi chue nghĩa của cán bộ trong bộ máy nhà n-ớc, Tăng c-ờng hiệu lực nhà n-ớc xó hội chủ nghĩa của ta
Tác giả: Lê Minh Thông
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1983
30. Lê Đức Thiết (1994), Ý thức pháp luật, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ý thức pháp luật
Tác giả: Lê Đức Thiết
Nhà XB: Nxb Quân đội Nhân dân
Năm: 1994
34. Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Văn Lũy, Đinh Văn Vang (2004), Tâm lý học đại cương, Nxb Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học đại cương
Tác giả: Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Văn Lũy, Đinh Văn Vang
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
Năm: 2004
35. Đào Trí Úc (1997), Nhà nước và pháp luật của chúng ta trong sự nghiệp đổi mới, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nước và pháp luật của chúng ta trong sự nghiệp đổi mới
Tác giả: Đào Trí Úc
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1997

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w