Chất lượng đội ngũ còn nhiều bất cập, ví dụ: Giáo viên lý thuyết hầu hết là kỹ sư mới ra trường chưa được đào tạo - bồi dưỡng trong các trường Đại học Sư phạm kỹ thuật; giáo viên thực hà
Trang 1TR¦êNG §¹I HäC VINH
NGUYÔN dUY cHUY£N
MéT Sè BIÖN PH¸P QU¶N Lý HO¹T §éNG D¹Y HäC THùC HµNH NGHÒ ë TR¦êNG TRUNG CÊP
CHUY£N NGHIÖP VIÖT - óC NGHÖ AN
LUËN V¡N TH¹C Sý KHOA HäC GI¸O DôC
Trang 2Bé GI¸O DôC Vµ §µO T¹O TR¦êNG §¹I HäC VINH
NGUYÔN dUY cHUY£N
MéT Sè BIÖN PH¸P QU¶N Lý HO¹T §éNG D¹Y HäC THùC HµNH NGHÒ ë TR¦êNG TRUNG CÊP CHUY£N NGHIÖP VIÖT - óC NGHÖ AN
CHUY£N NGµNH: QU¶N Lý GI¸O DôC
M· Sè: 60.14.05
LUËN V¡N TH¹C Sý KHOA HäC GI¸O DôC NG¦êI H¦íNG DÉN KHOA HäC PGS.TS NG¤ Sü TïNG NghÖ An - 2012
Trang 3tại Trường Trung cấp chuyên nghiệp Việt - Úc Nghệ An tôi rất tâm huyết, qua quá trình học tập nghiên cứu chương trình cao học quản lý giáo dục, cùng với thời gian công tác quản lý tại trường trung cấp chuyên nghiệp, được sự dảng dạy hướng dẫn của Quý thầy giáo, cô giáo, Quý lãnh đạo, và bạn bè thân thiết… để luận văn được hoàn thành
Với tình cảm chân thành và biết ơn sâu sắc, tôi xinh trân trọng cảm ơn:
- PGS.TS NGÔ SỸ TÙNG - Người đã tận tình hướng dẫn, góp ý cho tác
giả luận văn trong quá trình và nghiên cứu, đặc biệt là tấm gương sáng về phẩm chất đạo đức của Nhà giáo, về phương pháp lãnh đạo của Nhà quản lý
- Ban Giám hiệu, Khoa sau Đại học, các Phòng, Khoa Trường Đại học Vinh, Quý Thầy giáo, Cô giáo giảng dạy lớp Cao học Quản lý giáo dục - K18
đã trang bị những kiến thức cơ bản, phương pháp khoa học để tác giả hoàn thành đề tài nghiên cứ khoa học
- Ban Giám hiệu, các Phòng, Khoa, Quý Thầy giáo, Cô giáo, đồng nghiệp, học sinh, sinh viên Trường Trung cấp chuyên nghiệp Việt - Úc Nghệ An đã giúp đỡ, hợp tác, động viên tinh thần trong quá trình nghiên cứu
- Gia đình; bạn bè; tập thể lớp Cao học Quản lý giáo dục - K18 đã động viên, giúp đỡ, hỗ trợ tác giả trong quá trình học tập và thực hiện luận văn Mặc dù đã rất nỗ lực và cố gắng, nhưng do điều kiện nghiên cứu và năng lực còn hạn chế, nên luận văn chắc chắn không trách khỏi những thiếu sót nhất định Kính mong Quý Thầy, Cô trong hội đồng khoa học và các bạn bè đồng nghiệp góp ý thêm để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 41 Lý do chọn đề tài
Lĩnh vực đào tạo nghề ở nước ta đã được Đảng và Nhà nước đặc biệt coi trọng, nhất là trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn đẩy nhanh Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá (CNH - HĐH) đất nước Sự nghiệp CNH - HĐH đòi hỏi một lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, tiếp cận được với khoa học công nghệ hiện đại Chiến lược giáo dục - đào tạo của Đảng và Nhà nước được đề ra theo hướng mở rộng qui mô, nâng cao chất lượng đào tạo nghề, tạo điều kiện thuận lợi, đáp ứng thiết thực cho hoạt động dạy nghề
và học nghề của nhân dân
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ
XI xác định: Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho
VIII đã phân tích sâu sắc việc xác định những quan điểm, định hướng, đề ra các mục tiêu và các giải pháp chiến lược nhằm phát triển công tác đào tạo nghề trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 - 2020 đã cụ thể hoá mục tiêu phát triển đối với dạy nghề trong thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH là: Đặc biệt quan tâm nâng cao chất lượng dạy nghề gắn với nâng cao ý thức kỷ luật lao động và tác phong lao động hiện đại Gắn đào tạo nghề với nhu cầu sử dụng, việc làm trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế; chú trọng đào tạo
Trang 5trường trong nước, khu vực và quốc tế Luật dạy nghề (2006) đã qui định chi tiết về các hoạt động dạy nghề
Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XVII chỉ rõ: Thực hiện có hiệu quả đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục
ở tất cả các cấp học, bậc học, cân đối giữa phát triển giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp; Tiếp tục thực hiện chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban bí thư Trung ương Đảng về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục Về Lao động việc làm: Phát triển đào tạo nghề; quy hoạch mạng lưới trường dạy nghề trong toàn tỉnh, củng cố trường Trung cấp chuyên nghiệp Việt - Úc
Trường Trung cấp chuyên nghiệp Việt - Úc tiền thân là Trường Trung cấp nghề kỹ thuật và thương mại Selaco được thành lập tháng 5 năm 2006 Chất lượng đội ngũ còn nhiều bất cập, ví dụ: Giáo viên lý thuyết hầu hết là kỹ
sư mới ra trường chưa được đào tạo - bồi dưỡng trong các trường Đại học Sư phạm kỹ thuật; giáo viên thực hành chưa có nhiều kinh nghiệm giảng dạy, đặc biệt là trình độ kỹ năng nghề chưa cao; đội ngũ giáo viên tuổi đời bình quân
30 tuổi, do vậy còn thiếu kinh nghiệm trong chuyên môn nghiệp vụ Đội ngũ cán bộ quản lý chủ yếu là các kỹ sư, cán bộ kỹ thuật chuyển từ các doanh nghiệp, do vậy, hiệu quả quản lý không cao Về chương trình đào tạo, Nhà trường đã tổ chức biên soạn trên cơ sở khung chương trình được Tổng cục Dạy nghề Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ban hành, nhưng qua thực tế triển khai, chương trình đào tạo đã bộc lộ nhiều bất cập, đặc biệt là về nội dung lạc hậu không phù hợp với thực tiễn Cơ sở vật chất trang thiết bị dạy nghề đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh, Tổng cục dạy nghề quan tâm đầu tư
Trang 6Kết quả khảo sát của các cơ quan nghiên cứu đã khẳng định: Chất lượng thực hành nghề của người tốt nghiệp ở các trường nghề còn hạn chế Trong bối cảnh Việt Nam đã gia nhập WTO, các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm nhiều đến việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực có trình độ tay nghề cao và đây là yêu cầu đặt ra hết sức cấp bách
Có nhiều biện pháp để nâng cao chất lượng đào tạo, một trong những biện pháp quan trọng đó là nâng cao chất lượng học thực hành trong các
trường dạy nghề Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: "Một số biện
pháp quản lý hoạt động dạy học thực hành nghề ở Trường Trung cấp chuyên nghiệp Việt - Úc Nghệ An"
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học thực hành nghề, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại Trường Trung cấp chuyên nghiệp Việt - Úc Nghệ An
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động quản lý hoạt động dạy học thực hành nghề tại trường Trung cấp chuyên nghiệp
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý hoạt động dạy học thực hành ở Trường Trung cấp
chuyên nghiệp Việt - Úc Nghệ An
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
4.1 Giới hạn đối tượng nghiên cứu
Trang 74.2 Giới hạn khách thể điều tra
Hiệu trưởng, các phó hiệu trưởng; các trưởng, phó phòng, khoa, tổ chuyên môn và một số cán bộ giáo viên nhà trường; học sinh của trường
5 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý hiệu quả, khả thi trong hoạt động dạy học thực hành nghề thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn của Nhà trường
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Nghiên cứu các vấn đề lý luận liên quan đến công tác dạy thực hành ở trường dạy nghề
6.2 Khảo sát đánh giá thực trạng công tác dạy học thực hành tại Trường Trung cấp chuyên nghiệp Việt - Úc Nghệ An
6.3 Đề xuất một số biện pháp nâng cao kết quả dạy học thực hành tại Trường Trung cấp chuyên nghiệp Việt - Úc Nghệ An
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các văn kiện, nghị quyết của Đảng cùng với việc nghiên cứu các sách, tài liệu liên quan đến những vấn đề nghiên cứu như: Chất lượng đào tạo, kỹ năng nghề, dạy thực hành, phương pháp dạy thực hành, phương pháp kiểm tra đánh giá để từ đó phân tích, tổng hợp và hệ thống hoá những vấn đề đó làm cơ sở lý luận nghiên cứu đề tài
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Kết hợp nhiều phương pháp như phương pháp điều tra viết, phương pháp quan sát, ngoài ra để khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp được
Trang 8Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học ở Trường
Trung cấp chuyên nghiệp Việt - Úc Nghệ An
Chương 3: Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học thực hành nghề
ở Trường Trung cấp chuyên nghiệp Việt - Úc Nghệ An
Trang 9về phát triển nguồn nhân lực, tham gia lao động trực tiếp tạo ra những giá trị kinh tế cho xã hội Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão, cùng với sự phát triển của nền kinh tế tri thức, vì vậy yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực ngày càng cao Ở tất cả các nước trên thế giới không kể giàu hay nghèo, thì hệ thống giáo dục nói chung, công tác đào tạo nghề nói riêng nó luôn có vai trò quyết định đến việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, qua đó nâng cao vị thế và trình độ phát triển của mỗi quốc gia
Như chúng ta đã biết, trong cơ cấu lao động sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội thì lao động qua đào tạo nghề chiếm phần đông đảo nhất Năm
1977 các chuyên gia trong và ngoài nước đã nghiên cứu về hệ thống giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam và đã khẳng định hệ thống giáo dục nghề nghiệp bị lãng quên một thời gian dài Đã đến lúc chúng ta phải nhìn nhận thực tế vai trò của đào tạo nghề một cách chính xác và thực tế hơn Đào tạo nghề nói chung và dạy học thực hành nghề nói riêng là một trong những công cụ mạnh nhất để phát triển KT - XH
Đến nay cả nước đã có trên 150 Trường Cao đẳng nghề, 312 Trường Trung cấp nghề và 772 Trung tâm dạy nghề và 217 Trường THCN, CĐ, ĐH
có dạy nghề, hàng năm đào tạo trên 1,8 - 1,9 triệu lao động Tuy nhiên vẫn
Trang 10chưa đáp ứng được nhu cầu về số lượng, chất lượng, cơ cấu ngành nghề và cơ cấu trình độ đào tạo theo yêu cầu của thị trường lao động Vì vậy cần phải nâng cao chất lượng đào tạo nghề nói chung và thực hành nghề nói riêng, đồng thời phát triển quy mô đào tạo, đầu tư các trang thiết bị thực tập, thực hành nghề là yêu cầu cấp bách đối với các cơ sở đào tạo hiện nay
1.1.2 Về quản lý hoạt động dạy học thực hành nghề
Cùng với các lĩnh vực khác, QLGD nói chung và quản lý dạy học thực hành nghề luôn là vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm Có nhiều công trình nghiên cứu đã đóng góp có giá trị trong lý luận và thực tiễn của quá trình dạy học
Tác giả Hồ Văn Vĩnh trong giáo trình Khoa học quản lý [36] và các tác giả Trần Quốc Thành trong giáo trình Khoa học quản lý đại cương [27] đã đề
cập đến lịch sử tư tưởng quản lý và chức năng quản lý
Về quản lý giáo dục các tác giả Mai Hữu Khuê trong giáo trình Những
vấn đề cơ bản của khoa học quản lý giáo dục [17] và Đặng Quốc Bảo Quản
lý giáo dục và chức năng quản lý [2] đã nghiên cứu về giáo dục và chức năng
QLGD
Quản lý giáo dục nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực tác giả Trần
Khánh Đức Giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực [09]
và Phan Văn Kha Quản lý giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam [16] Ngoài ra
còn rất nhiều tác giả, tài liệu, luận văn đề cập nghiên cứu về khía cạnh của quản lý quá trình đào tạo, quản lý dạy học thực hành nghề, rèn luyện nghề nghiệp Hầu hết các tác giả đã đánh giá một cách cụ thể và sâu sắc thực trạng công tác quản lý quá trình đào tạo, quá trình dạy học của một số trường tại một số địa phương, đồng thời đề ra một số biện pháp quản lý phù hợp nhằm giải quyết vướng mắc ở từng cơ sở giáo dục, dạy nghề cụ thể Tuy nhiên do định hướng nghiên cứu của đề tài, vấn đề quản lý dạy học thực hành nghề
Trang 11chưa được đề cập nhiều, những biện pháp mà các tác giả nêu ra không thể áp dụng hoàn toàn vào Trường Trung cấp chuyên nghiệp Việt - Úc Nghệ An do tình hình đặc điểm riêng cũng như vị trí, chức năng nhiệm vụ và định hướng phát triển của Nhà trường Do đó, việc nghiên cứu biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả dạy học thực hành nghề tại Trường Trung cấp chuyên nghiệp Việt - Úc Nghệ An là đòi hỏi cấp bách và mới mẻ, vừa giải quyết những vướng mắc đang tồn tại, vừa tạo ra bước chuyến biến về chất lượng đào tạo phù hợp với thực tiễn, góp phần đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao, góp phần đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý và quản lý giáo dục
Có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm quản lí Theo Hà Thế Ngữ
và Đặng Vũ Hoạ, “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục
tiêu, quản lý có hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn” [15] Hà Sỹ Hồ cho rằng: “Quản
lý là một quá trình tác động có định hướng (có chủ đích) có tổ chức, lựa chọn trong các tác động có thể có dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường, nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định
và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định ” [14]
Khái niệm quản lý phản ánh một dạng lao động trí tuệ của con người có chức năng bảo đảm và khuyến khích những nỗ lực của những người khác để thực hiện thành công công việc nhất định Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả hoạt động của những người cộng sự khác cùng chung một tổ chức
Quan niệm hiện đại về quản lý thừa nhận đó là toàn bộ các hoạt động huy động, tổ chức, thực thi các nguồn lực vật chất và tinh thần, sử dụng chúng
Trang 12Từ những điểm chung của các quan niệm trên có thể hiểu:
“Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường” Với khái niệm trên quản lý phải bao gồm các yếu tố (các điều kiện) sau:
- Phải có một mục tiêu và một quỹ đạo đã đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể Mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động
- Chủ thể phải thực hành việc tác động
- Quản lý bao giờ cũng có chủ thể quản lý và đối tượng bị quản lý
- Quản lý bao giờ cũng liên quan đến việc trao đổi thông tin và đều có mối liên hệ ngược
- Quản lý bao giờ cũng có khả năng thích nghi
Hoạt động và các quan hệ quản lý chính là đối tượng của khoa học quản lí Quản lý ra đời chính là để tạo ra một hiệu quả hoạt động cao hơn hẳn
Chủ thể quản lý
Đối tượng
bị quản lý
MỤC TIÊU
Môi trường
Trang 13so với việc làm của từng cá nhân riêng rẽ của một nhóm người khi họ tiến hành các công việc có mục tiêu chung gần gũi với nhau Nói một cách khác, thực chất của quản lý là quản lý con người trong tổ chức, thông qua đó sử dụng có hiệu quả nhất mọi tiềm năng và cơ hội của tổ chức Ngày nay công tác quản lý được coi là một trong năm nhân tố phát triển kinh tế xã hội là vốn
- nguồn lực lao động - khoa học kỹ thuật công nghệ - tài nguyên và quản lý Trong đó quản lý có vai trò quyết định sự thành bại của công việc
Về khái niệm quản lý giáo dục cũng có nhiều cách hiểu Do giáo dục là
một lĩnh vực hoạt động xã hội nên quản lý giáo dục được xem là quản lý xã hội Quản lý giáo dục luôn bám sát việc thực hiện nhiệm vụ chính trị - xã hội, phát triển kinh tế trong từng thời kỳ, giai đoạn lịch sử của mỗi quốc gia Phạm
Minh Hạc quan niệm rằng: “Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục
đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ giáo dục vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ
là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất” [12]
Có thể hiểu khái niệm quản lý giáo dục là quản lý những tác động có hệ thống, khoa học, có ý thức và có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý là quá trình dạy học và giáo dục diễn ra ở các cơ sở giáo dục như các trường học, trung tâm khoa học kỹ thuật, hướng nghiệp dạy nghề hay một tập hợp các cơ sở phân bố trên địa bàn dân cư Đa số các nguồn và tác giả tuy diễn đạt khác nhau song căn bản đều hiểu khái niệm quản lý giáo dục tương
tự như trên (Nguyễn Ngọc Quang, 1989, Đặng Quốc Bảo, 1997, Trần Kiểm,
2002, Bùi Văn Quân, 2007, v.v…)
Quản lý giáo dục có thể hiểu theo nghĩa hẹp là quản lý các hoạt động giáo dục trong ngành giáo dục, quản lý một số cơ sở giáo dục đào tạo ở một
Trang 14địa phương hành chính nào đó Quản lý giáo dục có thể hiểu theo nghĩa rộng
là quản lý các hoạt động giáo dục diễn ra trong nhà trường hay ngoài xã hội Quản lý xã hội có hệ thống nguyên tắc, chức năng và các giai đoạn của chu trình quản lý giáo dục cụ thể Song cần hiểu khái niệm quản lý giáo dục một cách toàn diện bao gồm cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp bởi vì suy đến cùng dù được hiểu theo nghĩa nào thì đích cuối cùng của quản lý giáo dục vẫn là vận dụng các quy luật khách quan để nâng cao chất lượng giáo dục
1.2.2 Quản lý nhà trường và quản lý dạy học
Nhiều người giải thích quản lý nhà trường (quản lý trường học) là quản
lý giáo dục ở cấp vi mô, tức là thực hiện toàn bộ những nhiệm vụ quản lý giáo dục tại cơ sở giáo dục, trong phạm vi cơ sở giáo dục (Trần Kiểm, Nguyễn Ngọc Quang, Nguyễn Văn Lê, Bùi Văn Quân…) Trần Kiểm cho rằng đó là
hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp qui luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường (2009) Trong luận văn này chúng tôi tán thành cách hiểu trên nhưng không phân biệt các cấp vĩ mô và vi mô, bởi vì trong quản lý nhà trường thì các chủ thể quản lý vẫn là mọi cấp quản lý từ cao xuống thấp, chẳng hạn Chính phủ cũng là chủ thể quản lý nhà trường chứ không riêng Hiệu trưởng mới là chủ thể quản lý Chúng tôi sử dụng quan niệm của Đặng Thành Hưng (Giáo trình Giáo dục so sánh, 1998) coi quản lý nhà trường là quản lý giáo dục ở cấp cơ sở, phản ánh đầy đủ mục tiêu, chức năng, nội dung và phương tiện quản lý giáo dục trong phạm vi trường học Trong quản lý nhà trường có những đối tượng quản lý cụ thể tạo nên những lĩnh vực quản lý tương đối khác nhau, cụ thể như sau:
- Quản lý hành chính và tài chính
Trang 15- Quản lý hoạt động chuyên môn (hay quản lý chương trình giáo dục)
- Quản lý nhân sự (giáo viên, nhân viên, người học)
- Quản lý cơ sở hạ tầng kĩ thuật
- Quản lý các quan hệ giáo dục trong nhà trường, giữa nhà trường với gia đình, cộng đồng địa phương
Do đó quản lý dạy học là một mảng trong quản lý nhà trường và là
mảng quan trọng nhất Quản lý các lĩnh vực khác chẳng qua là để quản lý dạy học có hiệu quả cao Quản lý dạy học chính là quản lý các nguồn lực và hoạt động của nhà trường nhằm thực hiện chương trình đào tạo Nội dung chủ yếu của quản lý dạy học là:
- Quản lý kế hoạch hoạt động dạy học
- Quản lý nội dung, kế hoạch, chương trình giảng dạy
- Quản lý phương pháp dạy học
- Quản lý hoạt động dạy học của giáo viên
- Quản lsy hoạt động học tập của học sinh
1.2.3 Dạy học thực hành và quản lý dạy học thực hành
Quá trình dạy học trong giáo dục và đào tạo nói chung và trong đào tạo nghề nói riêng thường được phân chia ra một cách tương đối thành hai quá trình bộ phận là dạy học lí thuyết và dạy học thực hành Dấu hiệu quan trọng của quá trình dạy học đặc biệt là dạy thực hành trong GDCN là dạy học không phải chủ yếu là truyền đạt, cung cấp thông tin mà phải chủ yếu là hình thành kĩ năng, rèn luyện kĩ xảo, phát triển khả năng tìm tòi, phát hiện, quản lý
và xử lí thông tin thành sản phẩm có ý nghĩa đáp ứng nhu cầu nghề nghiệp
Dạy lí thuyết nghề là truyền đạt và lĩnh hội hệ thống tri thức chung và tri thức lí thuyết nghề nghiệp, trên cơ sở đó phát triển năng lực trí tuệ cũng như giáo dục cơ sở thế giới quan khoa học, hình thành những phẩm chất đạo đức cho học sinh Dạy học thực hành nghề có nhiệm vụ chủ yếu là truyền đạt
Trang 16và tiếp thu kĩ năng, kĩ xảo, hình thành ý thức thái độ nghề nghiệp và những kinh nghiệm thực tiễn của xã hội Dạy thực hành là một quá trình giáo dục và giáo dưỡng được tổ chức có kế hoạch là một qua trình giảng dạy, học tập và lao động Quá trình trình ấy cùng với quá trình giảng lý thuyết và hoạt động ngoài giờ tạo nên một thể thống nhất trong đào tạo nghề Rõ ràng là sự phân chia tương đối QTDH trong đào tạo nghề như vậy là dựa vào chức năng, nhiệm vụ của dạy lí thuyết và dạy thực hành nghề Hai quá trình thường được
bổ sung cho nhau, thống nhất với nhau, được tổ chức thực hiện xen kẽ, thay đổi và kế thừa nhau Hiện nay chúng ta đang có xu hướng thực hiện thống nhất quá trình dạy lí thuyết chuyên môn nghề với quá dạy trình thực hành nghề Hình thức đào tạo theo Môdul và MES mà chúng ta đang triển khai thực hiện chính là làm ranh giới tương đối giữa dạy lí thuyết nghề và dạy thực hành nghề gắn bó chặt chẽ với nhau Tuy nhiên sự khác nhau trong phương pháp lĩnh hội, nhận thức đối với các tri thức lý thuyết và các kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp vẫn tồn tại khách quan trong quá trình dạy học ở đào tạo nghề
Quản lý dạy học thực hành chính là quản lý dạy học trong khi thực hiện
các nhiệm vụ và hoạt động học tập thực hành của người học nhằm vào mục tiêu học thực hành là hình thành kĩ năng, rèn luyện kĩ xảo, phát triển khả năng hành dụng tương ứng với môn học, ngành học hoặc chuyên môn nghề nghiệp Nội dung quản lý dạy học thực hành cũng bao gồm những mặt sau:
- Quản lý kế hoạch hoạt động dạy học thực hành
- Quản lý nội dung, kế hoạch, chương trình dạy học thực hành
- Quản lý phương pháp dạy học thực hành
- Quản lý hoạt động dạy học thực hành của giáo viên
- Quản lý hoạt động học tập thực hành của học sinh
Trang 171.2.4 Đào tạo nghề và dạy học thực hành nghề
1.2.4.1 Khái niệm nghề
Từ điển tiếng Việt (năm 1998) đưa ra định nghĩa: "Nghề là công việc
chuyên làm, theo sự phân công của xã hội” Khái niệm nghề của Nga được định nghĩa là một loại hoạt động lao động đòi hỏi có đào tạo nhất định và thường là nguồn gốc của sự sống Khái niệm nghề của Pháp được định nghĩa
là một loại lao động có thói quen và kỹ năng, kỹ xảo của một người để từ đó tìm được phương tiện sống Ở Đức, nghề đựơc định nghĩa là hoạt động cần thiết cho xã hội ở một lĩnh vực lao động nhất định, đòi hỏi phải được đào tạo
ở một trình độ nào đó Từ các khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu nghề nghiệp như một dạng lao động vừa mang tính xã hội (Sự phân công của xã hội), vừa mang tính cá nhân (Nhu cầu bản thân), trong đó con người với tư cách là chủ thể hoạt động đòi hỏi để thoả mãn những nhu cầu nhất định của
xã hội và của cá nhân
Bất cứ nghề nghiệp nào cũng hàm chứa trong nó một hệ thống giá trị: Tri thức nghề, kỹ năng, kỹ xảo nghề, truyền thống nghề, hiệu quả do nghề mang lại Nghề nghiệp là một dạng lao động đòi hỏi con người phải có một quá trình đào tạo chuyên biệt để có những kiến thức, chuyên môn nhất định Khi tìm hiểu về khái niệm nghề cần quan tâm tới đặc điểm chuyên môn nghề
và phân loại nghề vì nó là cơ sở để xác định nội dung đào tạo nghề và cấp trình độ đào tạo Đặc điểm chuyên môn của nghề gồm các yếu tố:
- Đối tượng lao động nghề
- Công cụ và phương tiện của lao động nghề
- Qui trình công nghệ
- Tổ chức quá trình lao động nghề
- Các yêu cầu tâm sinh lý của người học nghề cũng như yêu cầu về đào tạo nghề
Trang 18Việc phân loại nghề có ý nghĩa quan trọng trong quá trình tổ chức đào tạo Tuy nhiên do xuất phát từ yêu cầu, mục đích sử dụng và các tiêu chí khác nhau nên phân loại nghề có nhiều loại: Nghề dạy học, nghề điêu khắc, nghề tiện, nghề điện, nghề trồng rừng
1.2.4.2 Khái niệm đào tạo nghề
Trong Bách khoa toàn thư Việt nam, khái niệm đào tạo nói chung là
quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo… một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của con người
Như vậy đào tạo nghề là một quá trình tác động có chủ đích của con người nhằm phát triển tay nghề (dạy nghề) và đạo đức, văn hóa nghề nghiệp (nhân cách) của họ, thể hiện trên 3 mặt: Kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp, phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động và phát triển nguồn lực quốc gia
1.2.4.3 Nghề đào tạo
Nghề đào tạo được hiểu chung nhất là nghề thuộc các nghề xã hội nhưng trước khi hành nghề, người lao động phải được đào tạo theo một chương trình nhất định nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề, kinh nghiệm hoạt động nghề Chương trình đào tạo có thể ngắn hạn hoặc dài hạn tuỳ thuộc vào độ phức tạp về kỹ thuật nghề và tuỳ thuộc vào mức độ được đào tạo Như vậy các nghề đào tạo được ghi vào danh mục đào tạo nghề do Nhà nước ban hành
1.2.4.4 Dạy học thực hành nghề
Lý luận dạy nghề với tư cách là một bộ môn của giáo dục học nghề nghiệp, là lý thuyết của dạy học trong đào tạo nghề nghiệp và cũng chính là lý
Trang 19thuyết của dạy học nói chung Dạy học là quá trình giáo dục và giáo dưỡng có
kế hoạch, có mục tiêu do giáo viên tổ chức và chỉ đạo trong quá trình dạy học
Dạy thực hành nghề là một quá trình sư phạm giải quyết các nhiệm vụ
do giáo viên dạy thực hành và học sinh học nghề tổ chức thực hiện một cách khoa học, có mục đích nhằm tạo những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp cho người công nhân tương lai Như vậy trong quá trình dạy học thì cả người dạy lẫn người học đều tham gia vào quá trình ấy, sự chỉ đạo của giáo viên được thể hiện ở những điểm sau:
- Xác định mục đích và nội dung của việc dạy
- Xác định nhiệm vụ của việc dạy
- Xác định tiến trình phương pháp và tổ chức dạy
- Xác định các phương tiện giảng dạy
Quá trình dạy thực hành nghề nói riêng là một hệ thống hoàn chỉnh các yếu tố sau:
- Môi trường sư phạm,
- Các mối quan hệ (Thuận, ngược, liên nhân cách)
1.3 Một số vấn đề hoạt động dạy thực hành nghề ở trường TCCN
1.3.1 Đặc điểm của dạy học thực hành nghề ở trường TCCN
Đặc điểm hoạt động dạy học ở Trường Trung cấp nghề:
Trang 20Hoạt động dạy học ở Trường Trung cấp nghề có những đặc điểm chung như hoạt động dạy học ở các trường khác, tuy nhiên nó có những điểm khác biệt đặc trưng do mục tiêu đào tạo của nhà trường đó là đào tạo đội ngũ công nhân với nguyên lý và phương châm rèn luyện kỹ năng nghề là chính
Điều 2 Luật Giáo dục đã nêu rõ: Mục tiêu giáo dục là đào tạo ra những con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức và nghề nghiệp trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; Hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Tính chất nền giáo dục là “nền giáo dục Việt Nam
là nền giáo dục Xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng” Nguyên
lý giáo dục là “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với gia đình, giáo dục xã hội” “Nội dung giáo dục phải đảm bảo tính cơ bản, toàn diện, hiện đại và có
hệ thống…Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học…”,
Trường Trung cấp nghề là cơ sở đào tạo thuộc lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp nằm trong hệ thống giáo dục Quốc dân Vì vậy ngoài mục tiêu, tính chất, nguyên lý, nội dung, phương pháp giáo dục chung được quy định trong Luật Giáo dục, Luật Dạy nghề thì quá trình GD - ĐT ở Trường Trung cấp nghề có một số đặc điểm sau:
- Đặc điểm mục tiêu đào tạo:
Mục tiêu của dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, sức khoẻ, nhằm tạo điều kiện cho người học nghề có khả năng tìm việc làm, tự
Trang 21- Đặc điểm chương trình đào tạo:
Chương trình dạy nghề thể hiện mục tiêu dạy nghề, quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi cấu trúc và nội dung, phương pháp và hình thức dạy nghề, cách thức đánh giá kết quả đào tạo đối với mỗi MOĐUL, môn học
và mỗi nghề
Chương trình dạy nghề trình độ trung cấp được thực hiện ba năm đối với người có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở; từ một đến hai năm đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông Việc xây dựng chương trình đào tạo áp dụng Quyết định số: 01/2007/QĐ-BLĐTBXH ngày 04/01/2007 ban hành quy định về chương trình khung trình độ trung cấp nghề, trình độ cao đẳng nghề Để đảm bảo tay nghề cho người học sau khi tốt nghiệp yêu cầu: Thời gian dành cho môn học, môdul đào tạo nghề bắt buộc chiếm 75% - 85%, thời gian dành cho các môn học, môdul tự chọn chiếm 15% - 25% Thời gian giữa lý thuyết và thực hành: Lý thuyết chiếm 15% - 35%, thực hành chiếm 65% - 85% Với phương châm rèn luyện kỹ năng nghề là chính nên cấu trúc chương trình đào tạo thiên về thực hành
- Đặc điểm về phương pháp dạy học:
Phương pháp dạy học chủ đạo ở các trường trung cấp phải là phát huy cao độ tính tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo và năng lực tự học của học sinh Trong các trường trung cấp nghề phương pháp dạy học vẫn lấy học sinh làm trung tâm, học sinh có thể tham gia vào công việc tổ chức và tự tổ chức quá trình học tập và nghiên cứu Cạnh đó, để giúp cho việc hình thành kỹ năng, kỹ
Trang 22xảo theo chuyên môn được đào tạo, các phương pháp được sử dụng chủ yếu
là các hình thức luyện tập theo nguyên công, luyện thao tác, luyện tập quá trình lao động, các hệ thống luyện tập như hệ thống luyện tập theo trình tự giản đơn - tăng tiến và hệ thống luyện tập theo trình tự không đầy đủ với các hình thức hướng dẫn của giáo viên như toàn lớp, theo nhóm, và cá nhân Quá trình đào tạo kỹ thuật như vậy có thể diễn ra ở trường cũng có thể diễn ra ở các xí nghiệp nên phương pháp dạy học cũng gắn bó với đặc điểm từng nơi Tuy nhiên với phương châm rèn luyện kỹ năng nghề là chính nên trong công tác đào tạo nghề cần chú trọng phương pháp sử dụng trang thiết bị để không xảy ra mất an toàn lao động, sử dụng đúng qui trình, qui phạm, hiệu quả
- Đặc điểm về người dạy:
Mục tiêu đào tạo của Nhà trường là đào tạo kỹ thuật viên bậc trung cấp
Để thực hiện mục tiêu đào tạo này đội ngũ giáo viên trong nhà trường vừa phải có năng lực chuyên môn bao gồm kiến thức và năng lực thực tiễn (tay nghề), năng lực phương pháp, năng lực quản lý, năng lực xã hội và năng lực
sư phạm Đối với giáo viên dạy lý thuyết tối thiểu phải tốt nghiệp đại học và sau đại học, bên cạnh đó về tay nghề các giáo viên dạy các môn cơ sở và công nghệ, chuyên môn phải có khả năng xử lý các tình huống kỹ thuật có tay nghề cao và có kiến thức thực tiễn Đối với giáo viên hướng dẫn thực hành tối thiểu phải có tốt nghiệp cao đẳng, đại học, bên cạnh đó là giáo viên thực hành phải
có tay nghề cao có kiến thức thực tiễn có khả năng xử lý các tình huống kỹ thuật, có thể chỉ đạo sản xuất Trong trường trung cấp nghề đội ngũ giáo viên dạy thực hành sẽ có số lượng nhiều hơn đội ngũ giáo viên lý thuyết
Đội ngũ giáo viên được đào tạo cơ bản, vừa có trình độ chuyên môn sâu rộng, vừa có tay nghề, vừa có kinh nghiệm giảng dạy Giáo viên ở trường trung cấp nghề còn phải là người có năng lực nghiên cứu, tổ chức quá trình nghiên cứu khoa học công nghệ và triển khai ứng dụng Bên cạnh đó để phục
Trang 23vụ công tác giảng dạy ngoài chuyên môn nghiệp vụ đội ngũ giáo viên cần phải có trình độ về công nghệ thông tin, khả năng sử dụng các thiết bị MULTIMEDIA và có trình độ ngoại ngữ đủ để tra cứu khai thác thông tin trên mạng INTERNET phục vụ công tác nghiên cứu và giảng dạy
Đội ngũ GV với những đặc điểm kể trên là một trong những điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo trình độ trung cấp nghề theo mục tiêu của Luật Dạy nghề và trong việc giảng dạy và tổ chức nghiên cứu cho sinh viên
Có những học sinh không vào được THPT vì lý do nhận thức và kiến thức không đủ điều kiện tiếp tục học bậc cao hơn; có những đối tượng không thích học tiếp lên bậc THPT Nhìn chung, về thể hình những đối tượng này chưa hoàn thiện, chưa bảo đảm sức khoẻ để học các thiết bị công nghệ mới, hiện đại, ở độ tuổi đang hoàn thiện nhân cách và tập làm người lớn nên nhiều khi hay thay đổi quyết định và thiếu tập trung Tâm lý thua bạn kém bè, khi đại đa
số người Việt Nam đều muốn con mình học THPT và đỗ đại học, khiến cho học sinh cũng bị phân tán
Đối tượng thứ hai là học sinh tốt nghiệp THPT nhưng không thi đỗ đại học hoặc không đủ điều kiện về kinh tế để học bậc đại học Ở nhóm đối tượng này lứa tuổi đã lớn hơn (17 - 19 tuổi) nhân cách đã phát triển hơn, sức khoẻ
và thể hình tốt hơn họ đã sẵn sàng để học tập nhằm chuẩn bị cho mình hành trang bước vào đời Ở lứa tuổi này họ có nhiều hoài bão và ước mơ, tuy nhiên hầu hết do không thi đỗ được vào các trường đại học, cao đẳng do đó yếu tố
Trang 24do chưa có công ăn việc làm, là nông dân do mất đất khi bị Nhà nước thu hồi làm các khu công nghiệp, là bộ đội sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự… Đặc điểm của đối tượng này là xác định đúng mục đích và động cơ học tập, nghiêm túc trong học tập tuy nhiên do đã lớn tuổi nên nhận thức bắt đầu hạn chế, khả năng tiếp thu công nghệ mới có khó khăn hơn hai đối tượng trên nhưng về cơ bản dạy nghề cho các đối tượng này thuận lợi vì họ đã có ý thức học, thực sự muốn học nghề
- Quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên ở Trường Trung cấp nghề: Quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên thực chất là quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ của đội ngũ giáo viên và của từng giáo viên Giáo viên trong các Trường Trung cấp nghề có nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục học sinh đồng thời họ phải học tập, rèn luyện bồi dưỡng thường xuyên nâng cao trình độ về mọi mặt nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giảng dạy, giáo dục của mình, giáo viên vừa là khách thể quản lý vừa là chủ thể quản lý
Hoạt động giảng dạy là một trong hai hoạt động trọng tâm của Nhà trường đồng thời là hoạt động chuyên môn quan trọng nhất do đội ngũ giáo viên thực hiện Hoạt động giảng dạy đòi hỏi đầu tư phần lớn thời gian, trong hoạt động của Nhà trường Quản lý hoạt động giảng dạy nhằm đảm bảo cho giáo viên thực hiện đúng quy chế, đúng kế hoạch và nội dung chương trình, đảm bảo chất lượng giảng dạy của giáo viên Công tác giảng dạy là yếu tố quyết định chất lượng nhận thức học sinh, quyết định chất lượng đào tạo
Quá trình giảng dạy của giáo viên gồm các khâu:
Trang 25- Chuẩn bị giảng (đề cương bài giảng, giáo án, đồ dùng phương tiện)
- Thực hiện giảng trên lớp
- Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
Quản lý hoạt động của giáo viên có các nhiệm vụ, nội dung chủ yếu sau:
- Theo dõi đôn đốc thực hiện và đánh giá kết quả thực hiện các nhiệm
vụ giảng dạy, giáo dục của toàn thể đội ngũ giáo viên và của từng giáo viên
- Theo dõi chỉ đạo thực hiện và đánh giá được kết quả thực hiện việc học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm của đội ngũ giáo viên và của từng giáo viên
- Nắm các ưu, khuyết điểm đánh giá sự tiến bộ về các mặt chính trị, tư tưởng và phẩm chất đạo đức của giáo viên
* Sự khác nhau giữa dạy học lí thuyết và dạy học thực hành nghề
Dạy lý thuyết nghề và dạy thực hành nghề trong đào tạo nghề có cùng một mục đích, nhưng lại có những nhiệm vụ khác nhau Dạy học thực hành nghề thể hiện sự khác biệt chính ở những điểm sau:
+ Trong dạy hành nghề xuất hiện mối liên hệ tức thời giữa lý thuyết với thực tiễn sản xuất, trong khi đó nói chung thì trong dạy lý thuyết nghề không
có sự sản xuất
+ Trong dạy thực hành đơn vị thời gian là ngày, học ở nơi đào tạo nghề như: Xưởng thực hành, hoặc phân xưởng sản xuất ngoài xí nghiệp hoặc ở phòng học thực nghiệm Nhưng trong dạy lý thuyết nghề thời gian là tiết học
ở lớp hoặc ở phòng học
+ Trong dạy thực hành nghề, số lượng học sinh nghề rất khác nhau (thường có từ 15 đến 25 học sinh cho mỗi ca) Trong dạy lý thuyết nghề thì số lượng học sinh lớn hơn (thường từ 30 đến 50 học sinh) và không thay đổi trong toàn bộ thời gian
Trang 26+ Trong dạy thực hành nghề trên cơ sở của lao động thực tế trong sản xuất mà tự tổ chức nơi làm việc, vị trí đứng máy, các quy định về an toàn, về bảo hộ lao động phức tạp hơn trong dạy lý thuyết nghề
+ Trong dạy thực hành nghề, học sinh học nghề tiếp xúc trực tiếp với giai cấp công nhân, được giáo dục và đào tạo thông qua các tập thể lao động Điều đó trong dạy lý thuyết nghề chỉ là ngoại lệ
+ Lao động sư phạm của giáo viên và lao động học tập của học sinh trong dạy học thực hành nghề không đơn thuần là lao động trí óc, mà có tính chất thể chất rõ rệt, đòi hỏi nỗ lực thể chất lớn hơn khi dạy học lí thuyết
*Tính chất xã hội của lao động học tập thực hành
Quá trình dạy học trong đào tạo nghề có liên hệ chặt chẽ với quá trình lao động xã hội Đây là một vấn đề cơ bản trong đào tạo nghề nghiệp, người giáo viên dạy thực hành phải nghiên cứu một cách nghiêm túc, bởi vì chính thông qua lao động thực tiễn đã rút ra để rồi xây dựng mục đích và nhiệm vụ của dạy học thực hành nghề
+ Trong đào tạo thực hành nghề tính chất của sự lĩnh hội nhận thức của học sinh đã từng bước chuyển biến từ hoạt động có tính chất học tập thuần tuý sang tính chất học tập lao động rồi đến tính chất lao động - học tập và cuối cùng trong giai đoạn thực tập ở vị trí người công nhân hoạt động của học sinh hầu như hoàn toàn mang tính chất lao động Trong đào tạo nghề nguyên lý giáo dục: "Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội" thể hiện rất rõ nét, đồng thời cũng có điều kiện khách quan thuận lợi để thực hiện một cách triệt để
+ Trong dạy học thực hành nghề lao động học tập có tính chất phân hoá cao do sự đa dang phong phú của các yêu cầu đặc trưng của hàng trăm nghề đào tạo khác nhau, của các loại hình và con đường đào tạo khác nhau
Trang 271.3.2 Vai trò của dạy học thực hành nghề
Bất kỳ hoạt động nghề nghiệp nào, muốn đạt kết quả tốt bao giờ cũng phải bảo đảm 2 mặt chủ yếu: 1/ Tính chính xác, nhanh gọn của các thao tác, động tác - chính là kỹ xảo; 2/ Cách tổ chức hoạt động sản xuất - việc hình thành kỹ năng và phát triển tư duy Vai trò cốt lõi của dạy học thực hành nghề
là hình thành kĩ năng, rèn luyện kĩ xảo nghề và phát triển khả năng hành dụng trên cơ sở những liên hệ hữu cơ giữa tri thức, kĩ năng và kĩ xảo
1.3.2.1 Kỹ năng và kỹ xảo
Kỹ năng và kỹ xảo là 2 thuật ngữ thường được dùng để chỉ sự thực hiện các hành động, hoạt động trong đời sống hoặc trong lao động nghề nghiệp Hai thuật ngữ này có quan hệ chặt chẽ với nhau và phát triển trên nền kiến
thức thu nhận được Theo Từ điển tiếng Việt (2002), kỹ năng là khả năng vận
dụng những tri thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế Từ góc độ tâm lý học về dạy thực hành, kỹ năng được hiểu là: “Khả năng của con người thực hiện công việc một cách có hiệu quả trong một thời gian thích hợp, trong các điều kiện nhất định và dựa vào các tri thức, kỹ xảo đã có” Căn
cứ vào các yếu tố hợp thành kỹ năng và tính chất phức tạp của hoạt động để phân loại kỹ năng đơn giản (Kỹ năng đọc, kỹ năng cầm nắm ), kỹ năng phức tạp (Kỹ năng học tập, kỹ năng giũa ), kỹ năng chung và kỹ năng riêng Kỹ năng được hình thành theo những qui luật nhất định Việc thực hành kỹ năng bắt đầu từ sự nhận thức và kết thúc là biểu hiện ở hành động cụ thể Có thể phân chia một cách tương đối gồm 5 giai đoạn hình thành kỹ năng:
- Giai đoạn hình thành sơ bộ: Nhận thức được mục đích của hành động
và tìm tòi các phương pháp thực hiện hành động, dựa trên các kiến thức và kỹ xảo đã có từ trước
- Giai đoạn hoạt động chưa khéo léo: Hiểu biết về các phương pháp thực hiện hành động và sử dụng được những kỹ xảo đã có
Trang 28- Giai đoạn hình thành các kỹ năng đơn lẻ nhưng có tính chất chung cho các hoạt động: Có nhiều kỹ năng riêng lẻ có tính chất hẹp nhưng lại cần thiết cho nhiều loại họat động khác nhau (Kỹ năng kế hoạch hoá, kỹ năng tổ chức)
- Giai đoạn kỹ năng phát triển cao: sử dụng một cách sáng tạo những kiến thức và kỹ xảo nghề nghiệp vào thực tiễn, nhận thức đúng mục đích và động cơ lựa chọn các phương pháp để đạt được mục đích
- Giai đoạn đạt trình độ tay nghề cao (Lành nghề): Vận dụng một cách sáng tạo các kỹ năng khác nhau vào các hoàn cảnh khác nhau
Từ điển tiếng Việt (2002) định nghĩa, kĩ xảo là kỹ năng đạt đến mức
thuần thục Kỹ xảo là năng lực thực hiện hành động với độ chính xác cao, tốc
độ nhanh và hợp lý nhất Trong tâm lý học dạy thực hành, người ta coi: "Kỹ xảo là hoạt động hay thành phần của hoạt động đã được tự động hoá nhờ quá trình luyện tập" Trong đào tạo nghề kỹ xảo thường bao gồm 3 loại kỹ xảo: kỹ xảo vận động; kỹ xảo cảm giác và kỹ xảo trí tuệ Các loại kỹ xảo này có quan
hệ mật thiết với nhau, khó có thể tách rời trong hoạt động nghề nghiệp Ví dụ như việc đánh búa của người thợ rèn bao gồm cả 3 loại kỹ xảo
- Giai đoạn nhận thức kỹ xảo: ở giai đoạn này, học sinh mới hiểu rõ mục đích nhưng chưa rõ phương tiện đạt mục đích Có nhiều sai lầm khi thực hiện hành động
- Giai đoạn: Thực hiện hành động một cách tự giác nhưng chưa khéo léo Ở giai đoạn này học sinh nhận thức rõ cần phải làm như thế nào, nhưng khi thực hiện lại thiếu chính xác, có những hành động thừa, mặc dầu vẫn có
Trang 291.3.3 Nội dung dạy học thực hành nghề
Tại Điều 34, Khoản 1 của Luật giáo dục năm 2009 qui định yêu cầu về nội dung giáo dục nghề nghiệp như sau: "Nội dung giáo dục nghề nghiệp phải tập trung đào tạo năng lực thực hành nghề nghiệp, coi trọng giáo dục đạo đức, rèn luyện sức khoẻ, rèn luyện kỹ năng theo yêu cầu của từng nghề, nâng cao trình độ học vấn theo yêu cầu đào tạo" Điều này có nghĩa là, nội dung đào tạo nghề bao gồm các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp đòi hỏi người học phải nắm vững Trên cơ sở đó hình thành thế giới quan và phẩm chất đạo đức nghề nghiệp để người học bước vào cuộc sống và lao động Để thực hiện được mục đích giáo dục nghề nghiệp nói riêng và thực hiện các nhiệm vụ dạy học nói chung, trong thực hành nghề cũng phải bảo đảm các yêu cầu như:
- Nội dung dạy học phải phù hợp với mục tiêu đào tạo Mục tiêu đào tạo nghề là đào tạo nguồn nhân lực lao động có kỹ thuật, nội dung dạy học phải đảm bảo tính toàn diện, tính hệ thống, liên tục giữa các môn học, tỷ lệ giữa lý thuyết và thực hành; kỹ năng, kỹ xảo cần có của ngành đào tạo
- Nội dung dạy học phải đảm bảo tính cân đối và toàn diện giữa các mặt: Thể hiện ở chỗ bên cạnh việc cung cấp kiến thức kỹ năng, kỹ xảo, cần coi trọng việc giáo dục chính trị, tư tưởng đạo đức
- Nội dung đào tạo phải gắn liền với thực tế sản xuất
- Nội dung dạy học phải đảm bảo tính khoa học, cơ bản, hiện đại, phù hợp với trình độ người học
+ Tính khoa học: Đảm bảo cho nội dung đào tạo chính xác về kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp
+ Tính cơ bản: Đảm bảo cho nội dung dạy học, cung cấp những tri thức
đủ để nắm vững chuyên môn, nghề nghiệp
+ Phù hợp với trình độ người học: Đảm bảo tính vừa sức trong nhận thức của học sinh
Trang 30+ Tính hiện đại: Nội dung dạy học phải phản ánh thành tựu hiện đại của nhân loại cả lý thuyết lẫn thực tiễn ứng dụng thuộc lĩnh vực khoa học đó, phù hợp với thực tiễn Việt Nam
+ Nội dung dạy học phải đảm bảo tính thống nhất chung trong cả nước đồng thời cũng tính đến đặc điểm từng vùng miền
+ Nội dung dạy học phải đảm bảo tính liên thông và tính hệ thống giữa các môn học và liên thông giữa các cấp học
1.3.4 Phương pháp dạy học thực hành nghề
Tại Điều 34, Khoản 2 của Luật Giáo dục năm 2009 qui định yêu cầu về phương pháp giáo dục nghề nghiệp như sau: "Phương pháp giáo dục nghề nghiệp phải kết hợp rèn luyện kỹ năng thực hành với giảng dạy lý thuyết để giúp người học có khả năng hành nghề và phát triển nghề nghiệp theo yêu cầu của từng công việc" Về đổi mới phương pháp đào tạo, Nghị quyết Trung ương 4 ghi rõ: "Đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học Kết hợp tốt học với hành, học tập với lao động sản xuất, thực nghiệm và nghiên cứu khoa học; gắn nhà trường với xã hội" Áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng học sinh năng lực giải quyết vấn đề Phương pháp dạy học gồm 4 nhóm: Nhóm phương pháp dạy học dùng lời, nhóm phương pháp dạy học trực quan, nhóm phương pháp thực hành và nhóm phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả của học sinh Như vậy, mỗi phương pháp có một phạm vi nhất định, nó qui định trình tự kế tiếp của các bước riêng rẽ của tư duy và hành động
Toàn bộ các phương pháp dạy học không những có ý nghĩa đối với công tác giáo dưỡng, mà còn phải góp phần vào việc giáo dục đạo đức, ý thức nghề nghiệp cho học sinh học nghề
Phương pháp dạy học là tổng hợp các cách thức hoạt động của thầy và trò nhằm thực hiện tối ưu mục đích, nhiệm vụ dạy học Trong thực tiễn giảng
Trang 31dạy mỗi phương pháp đều có những ưu nhược điểm riêng cho nên để có lựa chọn và vận dụng phối hợp tốt nhất các phương pháp dạy học, cần căn cứ vào mục đích yêu cầu, nội dung và đặc trưng từng môn học; căn cứ vào đặc điểm nhận thức, đặc điểm lứa tuổi người học, điều kiện cơ sở vật chất… Trên cơ
sở đó giáo viên tổ chức điều khiển hoạt động dạy, học sinh tự tổ chức điều khiển hoạt động học để thực nhiện tốt mục tiêu dạy học
1.4 Quản lý hoạt động dạy học thực hành ở Trường Trung cấp chuyên nghiệp
1.4.1 Mục tiêu QL hoạt động dạy học thực hành ở Trường Trung cấp chuyên nghiệp
Trường Trung cấp chuyên nghiệp là thuộc hệ thống giáo dục quốc dân
* Mục tiêu đào tạo
Dạy nghề trình độ trung cấp nhằm trang bị cho người học nghề kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề; có khả năng làm việc độc lập và ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc; có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ, tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn (Điều 17 Luật Dạy nghề) [21]
Trên cơ sở mục tiêu, chương trình khung của các nghề do Bộ LĐTBXH ban hành, các trường xây dựng chương trình dạy nghề của trường đảm bảo kiến thức, kỹ năng dạy hoặc thực hành nghề theo chương trình khung; Thời gian thực học tối thiểu dành cho các môn học, mô-đun đào tạo nghề bắt buộc chiếm 70% - 80 % tổng số thời gian thực học tối thiểu của các môn học, mô-đun đào tạo nghề; thời gian thực học tối thiểu dành cho các môn học, mô-đun đào tạo nghề tự chọn chiếm 20% - 30% tổng số thời gian thực học tối thiểu của các môn học, mô-đun đào tạo nghề [21]
Trang 32Quá trình dạy học thực hành nghề bắt đầu từ việc phân tích đối tượng
để xác định mục tiêu học tập và kết thúc bằng mức độ đạt được bằng kỹ năng
kỹ xảo nghề nghiệp của người học Đặc biệt mục tiêu quản lý dạy học thực hành nghề đã được cụ thể hoá thành các yêu cầu cần đạt được các yêu cầu cơ bản về kiến thức, kỹ năng kỹ xảo, hoạt động độc lập, tự tạo việc làm, niềm tin
và lòng nhân ái Các yêu cầu này phù hợp với từng đối tượng trong hoạt động dạy học thực hành nghề
Như vậy, các nhà quản lý từ Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, Trưởng, Phó các Phòng, Khoa đến tổ bộ môn phải xây dựng được quy chế tổ chức và hoạt động quản lý và điều hành các hoạt động của đơn vị mình một cách hiệu quả Điều đó đòi hỏi người lãnh đạo phải có cách quản lý sáng tạo, nhạy bén,
có như vậy mới hoàn thành được các mục tiêu đã đề ra góp phần tích trong việc quản lý hoạt động dạy học thực hành nghề của trường Theo điều lệ Trường trung cấp nghề (Ban hành kèm theo Quyết định số 52/2008/QĐ-BLĐTBXH ngày 5 tháng 5 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội)
1.4.2 Nội dung QL hoạt động dạy học thực hành ở Trường Trung cấp chuyên nghiệp
* Nội dung quản lý HĐDH thực hành nghề của CBQL ở trường trung cấp chuyên nghiệp tập trung vào các vấn đề sau:
* Quản lý về mục tiêu, chương trình, kế hoạch dạy học: GV phải nắm vững mục tiêu dạy học thực hành nghề; kế hoạch dạy học trung cấp; các hướng dẫn đổi mới PPDH thực hành theo định hướng đổi mới cách đánh giá kết quả học tập của HS
- Quản lý việc soạn bài, chuẩn bị bài lên lớp: Hướng dẫn GV lập kế
hoạch soạn bài, chỉ đạo tổ chuyên môn trao đổi phương hướng giảng; xây dựng tiêu chuẩn và thực hiện đánh giá giờ lên lớp; Bồi dưỡng GV; hướng dẫn
HS học tập
Trang 33- Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS: Việc thực
hiện chế độ kiểm tra theo quy định; việc thực hiện chấm bài của GV; kết quả kiểm tra của HS
- Quản lý toàn diện các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ của GV:
Công tác giảng dạy, chủ nhiệm lớp, tự bồi dưỡng, bồi dưỡng, giáo dục HS ngoài giờ lên lớp, sinh hoạt chuyên môn, nghiên cứu khoa học Xây dựng và hoàn thiện quy chế đánh giá, xếp loại chuyên môn, nghiệp vụ của GV Tổ chức đánh giá, xếp loại GV theo quy định (chuẩn nghề nghiệp GV THCN; đánh giá xếp loại GV theo Quyết định 06/2006/QĐ-BNV) đảm bảo khách quan, công bằng, dân chủ và tạo điều kiện cho mọi thành viên trong trường được phát triển Sàng lọc, điều chuyển cán bộ theo yêu cầu
- Quản lý hoạt động học của HS: Chỉ đạo việc giáo dục động cơ, thái
độ, tinh thần học tập; xây dựng và thực hiện nề nếp học tập; giáo dục phương pháp và kỹ năng học tập thực hành nghề cho HS; phối hợp với các lực lượng giáo dục quản lý các hoạt động học tập của HS Muốn vậy, phải thực hiện đầy
đủ các các chức năng quản lý tác động vào hoạt động dạy học thực hành, đó là: Lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy học thực hành Các chức năng trên được cụ thể hoá bằng các nội dung sau:
- Lập kế hoạch đào tạo
- Quản lý việc thực hiện chương trình đào tạo
- Quản lý hoạt động dạy thực hành của giáo viên
- Quản lý công tác sử dụng và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên
- Quản lý tổ chức đổi mới phương pháp dạy học thực hành
- Quản lý hoạt động học tập thực hành nghề của học sinh
- Quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ dạy học
- Quản lý việc kiểm tra đánh giá chất lượng dạy học thực hành
Trang 341.5 Những nhân tố tác động đến hoạt động dạy học thực hành nghề
1.5.1 Cơ chế, chính sách của Nhà nước
Cơ chế chính sách của Nhà nước ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển đào tạo nghề cả về qui mô, cơ cấu và cả chất lượng đào tạo nghề Cơ chế, chính sách của nhà nước tác động tới chất lượng đào tạo nghề thể hiện ở các khía cạnh sau:
- Khuyến khích hay kìm hãm cạnh tranh nâng cao chất lượng Có tạo ra môi trường bình đẳng cho các cơ sở đào tạo cùng phát triển nâng cao chất lượng không?
- Khuyến khích hoặc kìm hãm huy động các nguồn lực để cải tiến nâng cao chất lượng
- Khuyến khích hoặc hạn chế các cơ sở đào tạo nghề mở rộng liên kết hợp tác quốc tế
- Các chính sách về đầu tư, về tài chính đối với các cơ sở đào tạo nghề
- Có hay không các chuẩn về chất lượng đào tạo Có hay không hệ thống đánh giá, kiểm định chất lượng đào tạo, qui định về quản lý chất lượng đào tạo
- Các chính sách về lao động, việc làm và tiền lương của lao động sau học nghề Chính sách đối với giáo viên dạy nghề, học sinh học nghề
- Các qui định trách nhiệm và mối quan hệ giữa cơ sở đào tạo và người
sử dụng lao động, quan hệ giữa nhà trường và các cơ sở sản xuất
Tóm lại: Cơ chế chính sách tác động đến tất cả các khâu từ đầu vào, đến quá trình tổ chức đào tạo và đầu ra của các trường dạy nghề Trong đó
có những yếu tố tác động vào môi trường, rồi môi trường tác động lên đào tạo nghề
1.5.2 Môi trường kinh tế - xã hội, khoa học công nghệ
- Xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế tác động đến tất cả các mặt đời sống xã hội của đất nước, trong đó có hoạt động đào tạo nghề Toàn cầu
Trang 35hoá và hội nhập đòi hỏi chất lượng đào tạo nghề của Việt Nam phải được nâng lên để sản phẩm tạo ra đáp ứng yêu cầu của thị trường, của khu vực và thế giới Đồng thời nó cũng tạo cơ hội cho đào tạo nghề Việt Nam nhanh chóng tiếp cận trình độ tiên tiến
Hình 1.2: Quá trình đào tạo và các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo
CÁC CHÍNH SÁCH
Mục tiêu, nội dung đào tạo
Quá trình đào tạo
Quá trình giảng dạy
và học tập (lý thuyết
và thực hành
Kết quả đào tạo (đầu ra)
Kiến thức, kỷ năng, thái độ
Đầu vào
Đối tượng tuyển sinh, giáo viên, thiết bị, CSVC
Đánh giá, lựa chọn
Phát triển chương trình, phương pháp đào tạo, phương pháp đánh giá
Kiểm tra đánh giá kết quả, cấp văn bằng chứng chỉ
Thông tin phản hồi
Sự thích ứng thị trường lao động, tình hình việc làm, năng suất lao động, thu nhập, phát triển nghề nghiệp
MÔI TRƯỜNG
TK - XH, KH - CN
Trang 36- Kinh tế xã hội phát triển làm cho nhận thức của xã hội và công chúng
về việc dạy nghề, học nghề và vai trò của lao động có kỹ năng nghề thay đổi cũng ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo trong các trường dạy nghề; nguồn lực đầu tư cho đào tạo nghề tăng lên là điều kiện vật chất để cải thiện chất lượng đào tạo; thị trường lao động phát triển và hoàn thiện tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các cơ sởđào tạo nâng cao chất lượng
1.5.3 Các yếu tố bên trong
Đây là nhóm yếu tố bên trong các cơ sở đào tạo có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo Các yếu tố này do hệ thống quản lý chất lượng của cơ
sở dạy nghề quyết định Các yếu tố này bao gồm các nhóm sau:
- Nhóm các yếu tố về điều kiện đảm bảo
Trong trường dạy nghề các nhân tố về điều kiện đảm bảo ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo nghề bao gồm:
- Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý (Manpower - m1)
- Đầu vào, học sinh, sinh viên tham gia học các chương trình đào tạo nghề (Material - m2)
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị (Machino-equipment - m3)
- Nguồn tài chính (Money - m4)
- Gắn đào tạo với sử dụng và khuyến khích học nghề (Marketing - m5)
- Các nhân tố trên được gắn kết bởi nhân tố quản lý (Management - M)
Trang 37Các nhân tố trên được sơ đồ hoá như Hình 3 M vừa gắn kết 5m vừa đảm bảo cho 5m vận động đồng bộ Nhân tố M ở đây bao gồm cả quản lý chất lượng Như phân tích ở các phần trên chất lượng được quyết định bởi quản lý
Để đảm bảo chất lượng dịch vụ cung cấp cho người học các cơ sở đào tạo phải xây dựng hệ thống quản lý chất lượng và áp dụng các phương pháp và công cụ kiểm soát chất lượng phù hợp Hiện nay hệ thống quản lý chất lượng theo ISO 9000, quản lý chất lượng toàn diện và các công cụ thống kê đang được sử dụng rộng rãi trong các tổ chức và mang lại kết quả tốt
Hình 1.3: Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng trong trường dạy nghề
m1
m5 M m2
m4 m3
- Nhóm các yếu tố về quá trình đào tạo
Thuộc nhóm này bao gồm các nhân tố như:
Nội dung chương trình đào tạo có phù hợp với mục tiêu đào tạo đã được thiết kế, phù với nhu cầu của thị trường, yêu cầu của người học hay không?
Phương pháp đào tạo có được đổi mới, có phát huy được tính tích cực, chủ động của người học, có phát huy được cao nhất khả năng học tập của từng “khách hàng” hay không?
Hình thức tổ chức đào tạo có linh hoạt, thuận lợi, tiết kiệm chi phí cho người học không? Có đáp ứng nhu cầu đa dạng của người học không?
Trang 38Môi trường học tập trong nhà trường có an toàn, có bị các tệ nạn xã hội xâm nhập không? Các dịch vụ phục vụ cho học tập, sinh hoạt có sẵn và thuận lợi không?
Môi trường văn hoá trong nhà trường có tốt không? Người học có dễ dàng có được các thông tin về kết quả học tập, lịch học, kế hoạch học và các hoạt động của nhà trường không?
Kết luận chương 1
Qua nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, trong đó trọng tâm là quản lý dạy học thực hành nghề, tác giả rút ra một số kết luận sau:
Quản lý là hiện tượng xã hội, trong một tổ chức thì quản lý là tất yếu Bản chất của hoạt động quản lý là tổ chức, điều khiển của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý Quản lý là một tổ chức với tư cách là một hệ thống xã hội khoa học và nghệ thuật tác động vào từng thành tố của hệ thống bằng những phương pháp thích hợp nhằm đạt được mục tiêu đề ra QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý trong lĩnh vực giáo dục nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đề ra hợp với quy luật phát triển xã hội Nhà trường là tổ chức giáo dục chuyên nghiệp,
là đơn vị cơ sở của hệ thống giáo dục Quản lý nhà trường chính là thực hiện các chức năng quản lý giáo dục trong phạm vi nhà trường Nội dung bản của quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy học Trong nhà trường công tác quản lý hoạt động dạy học thực hành nghề theo chức năng được giao cho phòng Đào tạo Vì vậy phòng Đào tạo là đơn vị trực tiếp thực hiện các biện pháp quản lý hoạt động dạy học thực hành nghề trong nhà trường
Trang 39Để có hiệu quả dạy học thực hành nghề cán bộ quản lý phải có tác động đồng bộ lên các khâu của quá trình đào tạo, trực tiếp là người dạy và người học để không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường
Các khái niệm cơ bản về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, chất lượng dạy học thực hành nghề và nhưng nội dung, biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả dạy học thực hành nghề trong nhà trường đã nêu ở trên là cơ sở lý luận giúp cho việc nghiên cứu thực trạng công tác quản lý dạy học ở Trường Trung cấp chuyên nghiệp Việt - Úc Nghệ An được trình bày ở chương 2
Trang 40Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THỰC HÀNH NGHỀ
Ở TRƯỜNG TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP VIỆT - ÚC NGHỆ AN
2.1 Vài nét về quá trình hình thành, tổ chức và hoạt động của Trường Trung cấp chuyên nghiệp Việt - Úc Nghệ An
Trường chuyên nghiệp Việt - Úc được thành lập theo Quyết định số 4619/2009/QĐ-UB ngày 14 tháng 09 năm 2009 của Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An trên cơ sở chuyển từ Trường trung cấp nghề kỹ thuật và thương mại Selaco, được thành lập theo Quyết định số 5061/QĐ-UBND-VX ngày 28 tháng 12 năm 2006 của Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An Nhà trường được thành lập trên cơ sở về bộ máy tổ chức và cán bộ nòng cốt được chuyển toàn
bộ cán bộ giáo viên thuộc Trường Trung cấp nghề kỷ thuật và thương mại Selaco Trường có tổng diện tích gần 8ha và tổng diện tích mặt bằng đã xây
tỉnh Nghệ An, là một địa điểm nằm ở trung tâm Thành phố có nhiều trường Trung cấp và Cao đẳng đóng trên cùng một địa bàn
Qui mô đào tạo của Nhà trường hiện tại là hơn 400 học sinh hệ trung cấp, trong đó hàng năm tuyển mới 200 học sinh; hàng năm Nhà trường đào tạo và cấp chứng chỉ nghề hệ sơ cấp cho trên 500 lao động Ngoài ra hàng năm còn liên kết và đào tạo với các trường Cao đẳng và Đại học trên cả nước như: Trường Cao đẳng Dược Phú Thọ, Trường Đại học Y - Dược Huế, Trường Đại học Sài Gòn đào tạo các ngành nghề: Trung cấp Y, Trung cấp Dược, Đại học Kế toán liên thông…
Chức năng, nhiệm vụ chính: Đào tạo trình độ trung cấp nghề và trung cấp chuyên nghiệp, sơ cấp; bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, chuyển giao