Vì vậy, nhận thức được tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng vận dụng các phương pháp dạy học tích cực trong giảng dạy, để nâng cao được chất lượng dạy học, nên
Trang 1- -
LÊ THỊ HOÀI GIANG
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG GIẢNG DẠY MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN (PHẦN THỨ NHẤT) Ở TRƯỜNG CAO
ĐẲNG GIAO THÔNG VẬN TẢI MIỀN TRUNG
Chuyên ngành: Lý luận và PPDH Bộ môn Giáo dục Chính trị
Mã số: 60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN LƯƠNG BẰNG
Nghệ An, 2012
Trang 2Với tình cảm chân thành nhất, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy giáo, cô giáo khoa Giáo dục Chính trị, Trường Đại học Vinh đã tận tình truyền đạt những tri thức quý báu, đã dìu dắt giúp đỡ tôi hoàn thành tốt nhiệm
vụ của khoá học
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Lương Bằng đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hướng dẫn, đóng góp ý kiến quý báu cho tôi hoàn thành luận văn thạc sĩ này
Tôi xin chân thành cảm ơn Khoa Đào tạo Sau đại học Trường Đại học Vinh, bạn bè, đồng nghiệp, sinh viên, gia đình và người thân đã động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khoá học và hoàn thành tốt luận văn thạc sĩ của mình
Vinh, tháng 09 năm 2012
Tác giả
Lê Thị Hoài Giang
Trang 3A MỞ ĐẦU 1
B NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN
DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG GIẢNG
DẠY MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA
MÁC - LÊNIN PHẦN THỨ NHẤT Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG GIAO
THÔNG VẬN TẢI MIỀN TRUNG
1.1 Cơ sở lý luận của việc vận dụng phương pháp dạy học tích
cực trong giảng dạy môn “Những nguyên lý cơ bản của chủ
nghĩa Mác - Lênin” (phần thứ nhất) ở trường Cao đẳng Giao
thông vận tải Miền Trung
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc vận dụng phương pháp dạy học
tích cực trong giảng dạy môn “Những nguyên lý cơ bản của
chủ nghĩa Mác - Lênin” (phần thứ nhất) ở trường Cao đẳng
Giao thông vận tải Miền Trung
Chương 2: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM VẬN DỤNG PHƯƠNG
PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG GIẢNG DẠY MÔN NHỮNG
NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN PHẦN
THỨ NHẤT Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG GIAO THÔNG VẬN TẢI
MIỀN TRUNG
2.1 Kế hoạch thực nghiệm vận dụng phương pháp dạy học
tích cực trong giảng dạy môn “Những nguyên lý cơ bản của chủ
nghĩa Mác - Lênin” (phần thứ nhất) ở trường Cao đẳng Giao
thông vận tải Miền Trung
2.2 Tiến hành thực nghiệm vận dụng phương pháp dạy học
tích cực trong giảng dạy môn “Những nguyên lý cơ bản của
chủ nghĩa Mác - Lênin” (phần thứ nhất) ở trường Cao đẳng
Trang 4PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG GIẢNG DẠY MÔN NHỮNG
NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN PHẦN
THỨ NHẤT Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG GIAO THÔNG VẬN TẢI
MIỀN TRUNG
3.1 Điều kiện thực hiện vận dụng phương pháp dạy học tích
cực trong giảng dạy môn “Những nguyên lý cơ bản của chủ
nghĩa Mác - Lênin” (phần thứ nhất)
3.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy hiệu quả vận
dụng phương pháp dạy học tích cực trong giảng dạy môn
“Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin” (phần
Trang 5Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, nguồn lực con người Việt Nam càng trở nên có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự thành công của công cuộc phát triển đất nước Giáo dục ngày càng có vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong việc đào tạo một thế hệ người Việt Nam mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
Ngày nay, giáo dục và đào tạo có vai trò góp phần tạo nên một thế hệ người lao động có tri thức, có đạo đức, có bản lĩnh trung thực, có tư duy phê phán, sáng tạo, có kỹ năng sống, kỹ năng giải quyết vấn đề và kỹ năng nghề nghiệp để làm việc hiệu quả trong môi trường toàn cầu hóa vừa hợp tác vừa cạnh tranh Điều này đòi hỏi phải có những thay đổi căn bản về giáo dục từ nội dung, phương pháp dạy học đến việc xây dựng những môi trường giáo dục lành mạnh và thuận lợi, giúp người học có thể chủ động, tích cực, kiến tạo kiến thức, phát triển kỹ năng và vận dụng những điều đã học vào cuộc sống
Một trong những nội dung trọng tâm của cải cách giáo dục nước ta là đổi mới phương pháp dạy học, theo hướng vận dụng những phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy Phương pháp dạy học phải lấy học sinh làm trung tâm Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học đã được cụ thể hóa trong các Nghị Quyết của Đảng và trong Luật Giáo dục của nước ta Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng khẳng định: “Thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi kiểm tra theo hướng hiện đại;
… nâng cao năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội” [10; 216]
Thực hiện chiến lược đổi mới phương pháp dạy học, cùng với các cấp học và ngành học trong cả nước Trường Cao đẳng Giao thông vận tải Miền
Trang 6ngành Tuy nhiên, một trong những nguyên nhân cản trở việc đổi mới phương pháp dạy học đó là do các phương pháp dạy học truyền thống đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi giảng viên nên rất khó thay đổi Do năng lực vận dụng các phương pháp dạy học tích cực của giảng viên còn nhiều hạn chế Do sinh viên không có thói quen tự học, tự nghiên cứu tài liệu, sức ỳ và sự thụ động quá lớn
Vì vậy, nhận thức được tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng vận dụng các phương pháp dạy học tích cực trong giảng dạy, để
nâng cao được chất lượng dạy học, nên chúng tôi chọn vấn đề “Vận dụng
phương pháp dạy học tích cực trong giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin (phần thứ nhất) ở trường Cao đẳng Giao Thông Vận Tải Miền Trung” làm đề tài nghiên cứu
2 Tình hình nghiên cứu
Nhu cầu của sự phát triển xã hội đã đặt ra yêu cầu đối với ngành giáo dục - đào tạo các nước phải thay đổi mạnh mẽ về phương pháp dạy học Do đó, phương pháp dạy học tích cực đã hình thành và phát triển ở nhiều quốc gia Vào những năm cuối thập kỉ 70 của thế kỉ XX phương pháp dạy học tích cực
đã được vận dụng vào giảng dạy ở nhiều nước trên thế giới Liên Xô (cũ) là một trong những nước khởi xướng về dạy học tích cực với lí thuyết nhận thức
và phương pháp dạy học nêu vấn đề (còn gọi là dạy học giải quyết vấn) đã được xem là cuộc cách mạng về đổi mới phương pháp dạy học trong các loại hình nhà trường Sau đó, ở các nước Phương Tây, dạy học tích cực đã được nghiên cứu và đưa vào giảng dạy, như phương pháp trải nghiệm, dạy học động não, dạy học giải quyết vấn đề, dạy học tự phát hiện, dạy học dự án, thảo luận nhóm Phương pháp dạy học tích cực cũng được các nước trong khu vực Đông Nam Á tiếp cận khá sớm như Malaysia Singapore, Thailand, Indonesia
đã vận dụng phương pháp dạy học khám phá vào dạy trong các trường học
Trang 7giáo dục lần thứ hai năm 1980 vấn đề phát huy tính tích cực được xem là một trong các phương hướng cải cách giáo dục nước nhà, nhằm đào tạo những người lao động sáng tạo, làm chủ đất nước Tuy vậy, phương pháp dạy học ở trường phổ thông và phương pháp đào tạo giáo viên ở trường sư phạm phổ biến vẫn là cách dạy thông báo kiến thức “đọc - chép” hay còn được gọi là truyền thụ một chiều Phương pháp dạy học này dẫn đến sự thụ động của người học, nặng về ghi nhớ lý thuyết, thiếu kỹ năng thực hành áp dụng Như vậy, việc áp dụng phương pháp dạy học tích cực ở các cấp học tại Việt Nam là rất cần thiết để đáp ứng yêu cầu đổi mới đất nước hiện nay
Liên quan đến vấn đề đổi mới phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy học các môn khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin nói riêng
đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, các bài báo, bài viết về vấn đề này Có những công trình nghiên cứu đã được xuất bản thành sách Tác giả Đặng Vũ
Hoạt “Lý luận dạy học hiện đại”; PGS TS Đặng Thành Hưng “Dạy học hiện
đại”; tác giả Lê Đức Ngọc “Giáo dục đại học, phương pháp dạy và học”; tác
giả Phan Trọng Ngọ “Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường”; tác giả Nguyễn Hữu Châu “Phương tiện, phương pháp và hình thức tổ chức dạy
học trong nhà trường” Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà nội; tác giả Thái
Duy Tuyên “Những vấn đề cơ bản của giáo dục hiện đại” Nhà xuất bản giáo dục, Hà nội năm 1998; tác giả Lê Nguyên Long “Thử đi tìm những phương
pháp dạy học hiệu quả”, Nhà xuất bản Hà nội năm 1999; Tiến sỹ Hà Thị Đức
(4/1995), Về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học ở Đại học, Tạp chí nghiên cứu giáo dục; tác giả Lương Gia Ban (chủ biên) “Góp phần nâng cao chất lượng
giảng dạy và đổi mới nội dung chương trình các môn học Mác –Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội, 2002; tác giả Lê Hữu
Ái (2000), Giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy các môn học Mác - Lênin
Trang 8Cao đẳng trong điều kiện hiện nay”, Tạp chí giáo dục số 185 năm 2008 Các
công trình khoa học nói trên đã nghiên cứu về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy học các môn lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin nói riêng Các tác giả đã chỉ ra sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học và nêu ra các phương pháp dạy học hiện đại được áp dụng vào giảng dạy để nâng cao chất lượng dạy và học trong giai đoạn hiện nay
Nghiên cứu về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực
có một số công trình tiêu biểu của các tác giả sau: tác giả Trần Bá Hoành
“Những đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực”, Tạp chí Giáo dục số 32
tháng 6 năm 2002; tác giả Trần Bá Hoành “Phương pháp tích cực” Tạp chí giáo dục số 3 năm 1996; Thạc sỹ Lê Thị Nhung Tuyết “Vận dụng phương
pháp dạy học tích cực vào giảng dạy phần triết học trong chương trình chính trị ở trường Cao đẳng Nghề Việt Đức Hà Tĩnh” luận văn thạc sỹ; Thạc sỹ Lê
Thị Huệ “Vấn đề vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy
môn giáo dục công dân ở trung học phổ thông” luận văn thạc sỹ; Thạc sỹ
Phạm Thị Thùy Dương “Đổi mới phương pháp dạy học triết học Mác – Lênin
theo hướng tích cực bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho sinh viên trường Cao đẳng kinh tế - kế hoạch Đà nẵng hiện nay” luận văn thạc sỹ; Thạc
sỹ Nguyễn Thị Hồng Thư “Vận dụng phương pháp dạy học tích cực để dạy tốt
phần “Công dân với các vấn đề chính trị - xã hội” ở chương trình giáo dục công dân lớp 11 THPT” (qua thực tế ở một số trường THPT ở Quỳnh Lưu – Nghệ An), luận văn thạc sỹ; Thạc sỹ Phan Thị Tuyết Mai “Vận dụng phương pháp tổ chức hoạt động tự học vào giảng dạy môn những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần thứ nhất) nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo của sinh viên sư phạm ở trường Cao đẳng văn hóa nghệ thuật Nghệ An”, luận
văn thạc sỹ; Thạc sỹ Đào Thị Thúy “Vận dụng phương pháp thảo luận nhóm
Trang 9trong giảng dạy môn học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần một) nhằm phát huy tính tích cực của sinh viên ở trường Đại học Hà Tĩnh”, luận văn thạc sỹ
Như vậy, những bài viết và luận văn thạc sỹ nói trên đã đề cập đến vấn
đề vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy với nhiều cách tiếp cận khác nhau Từ đó đã cung cấp những vấn đề lý luận cơ bản trong việc vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực để nâng cao chất lượng
dạy và học Việc chúng tôi lựa chọn vấn đề “vận dụng phương pháp dạy học
tích cực trong giảng dạy môn những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần thứ nhất) ở trường Cao đẳng Giao thông vận tải Miền Trung” làm
đề tài nghiên cứu nhằm bổ sung thêm về mặt lý luận dạy học theo hướng tích cực vào giảng dạy môn học này Đồng thời góp phần nâng cao chất lượng dạy
và học đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học nói chung và đổi mới phương pháp dạy học các môn lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin nói riêng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong giảng dạy môn “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin” (phần thứ nhất) ở trường Cao đẳng Giao thông vận tải Miền Trung
- Khảo sát thực trạng dạy học và tiến hành thực nghiệm vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong giảng dạy môn “Những nguyên lý cơ bản
Trang 10của chủ nghĩa Mác – Lênin” (phần thứ nhất) ở trường Cao đẳng Giao thông vận tải Miền Trung
- Đề xuất những điều kiện và giải pháp vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong giảng dạy môn “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin” (phần thứ nhất) ở trường Cao đẳng Giao thông vận tải Miền Trung
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong giảng dạy môn “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin” (phần thứ nhất) cho sinh viên ở trường Cao đẳng Giao thông vận tải Miền Trung
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu vận dụng phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy một số bài ở phần thứ nhất môn “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin” qua khảo sát trực tiếp ở trường Cao đẳng Giao thông Vận Tải Miền Trung
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục; những quan điểm của Đảng và Nhà nước về đổi mới Giáo dục và Đào tạo; tài liệu về lý luận dạy học các bộ môn của chủ nghĩa Mác - Lênin; tài liệu về đổi mới phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy học tích cực nói riêng; tài liệu hướng dẫn bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị và dựa trên kết quả của những tác giả có công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài thực hiện Đồng thời, đề tài được thực hiện trên cơ sở nội dung, chương trình môn học “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin” và giáo trình bộ môn
Trang 115.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp chủ yếu: phân tích - tổng hợp, lịch
sử - lôgic, so sánh - đối chiếu, thống kê, điều tra xã hội học
6 Giả thuyết khoa học
Nếu có hệ thống các giải pháp phù hợp vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong giảng dạy thì sẽ nâng cao được chất lượng dạy học phần thứ nhất môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin ở trường Cao đẳng Giao Thông Vận Tải Miền Trung Đồng thời, sẽ phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác, sáng tạo của sinh viên trong học tập, góp phần nâng cao được chất lượng dạy học
7 Đóng góp mới của đề tài
- Luận văn góp phần giải quyết những khó khăn trong việc đổi mới phương pháp dạy học bộ môn lý luận chính trị trong các trường Cao đẳng, Đại học hiện nay Đồng thời, góp phần phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của sinh viên trong học tập và nâng cao được chất lượng dạy và học bộ môn lý luận chính trị ở các trường Cao đẳng, Đại học nói chung và môn
“Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin” nói riêng
- Luận văn được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và dạy học môn “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin” phần thứ nhất ở trường Cao đẳng Giao Thông Vận Tải Miền trung nói riêng và ở các trường Cao đẳng, Đại học nói chung
8 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong giảng dạy môn “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin” (phần thứ nhất) ở trường Cao đẳng Giao Thông Vận Tải Miền Trung
Trang 12Chương 2 Thực nghiệm sư phạm vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong giảng dạy môn “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin” (phần thứ nhất) ở trường Cao đẳng Giao Thông Vận Tải Miền Trung
Chương 3 Điều kiện và giải pháp vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong giảng dạy môn “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin” (phần thứ nhất) ở trường Cao đẳng Giao Thông Vận Tải Miền Trung
Trang 13
B NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG GIẢNG DẠY MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN PHẦN THỨ NHẤT Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG GIAO THÔNG VẬN TẢI MIỀN TRUNG
1.1 Cơ sở lý luận của việc vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong giảng dạy môn “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin” (phần thứ nhất) ở trường Cao đẳng Giao Thông vận tải Miền Trung
1.1.1 Phương pháp dạy học tích cực và những đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực
1.1.1.1 Khái niệm phương pháp và phương pháp dạy học
- Khái niệm phương pháp:
Để đạt được hiệu quả cao nhất, con người phải cần đến sự hỗ trợ của phương pháp Phương pháp gắn liền với hoạt động có ý thức, phản ánh hoạt động nhận thức và cải tạo thực tiễn của con người Thuật ngữ phương pháp bắt nguồn từ tiếng Hy lạp (methodos) có nghĩa là con đường đi đến mục đích
Theo V.I.Lênin: “Trong nhận thức đang tìm tòi, phương pháp cũng là công cụ, là một thủ đoạn đứng về phía chủ quan, qua thủ đoạn đó nó có quan
hệ với khách thể” [20; 237]
Như vậy theo chúng tôi, phương pháp là con đường, là công cụ nhận thức, là cách thức để đạt tới mục tiêu trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn
- Khái niệm phương pháp dạy học:
Trang 14Thuật ngữ phương pháp bắt nguồn từ tiếng Hy lạp (methodos) có nghĩa
là con đường đi đến mục đích Theo đó, phương pháp dạy học là con đường
để đạt mục đích dạy học
Cho đến nay, vẫn chưa có sự thống nhất về định nghĩa phương pháp dạy học Sau đây là một số định nghĩa rộng về phương pháp dạy học
Tác giả Nguyễn Văn Cường “Phương pháp dạy học là những hình thức
và cách thức hoạt động của giáo viên và học sinh trong những điều kiện dạy học xác định nhằm đạt mục đích dạy học” [6; 69]
GS.TS Nguyễn Hữu Vui: “Phương pháp giảng dạy, theo nghĩa rộng bao hàm trong đó có cách thức hoạt động tác động của người dạy (chủ thể dạy –người thầy) trực tiếp hoặc gián tiếp (qua các phương tiện như sách, nghe, nhìn,… ) với người học (vừa là đối tượng của sự dạy, vừa là chủ thể học, tự học) cùng nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung dạy học” [4; 11]
Hay tác giả Nguyễn Thúy Hường thì cho rằng: “Phương pháp dạy học là
hệ thống những cách thức hoạt động (bao gồm các hành động và thao tác) của giảng viên và sinh viên nhằm thực hiện tốt mục đích và nhiệm vụ dạy học xác định” [18; 76]
Nhìn chung các tác giả đều thừa nhận phương pháp dạy học là cách thức hành động của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học Cách thức hành động bao giờ cũng diễn ra trong những hình thức cụ thể Cách thức và hình thức không tách rời nhau một cách độc lập Khái quát các quan niệm trên đây
ta có thể hiểu phương pháp dạy học bao gồm phương pháp giảng dạy (gọi tắt là phương pháp dạy) và phương pháp học tập (gọi tắt là phương pháp học)
- Phương pháp dạy: là phương pháp tổ chức hoạt động nhận thức cho người học, phương pháp điều khiển các hoạt động trí tuệ và thực hành như dạy
tự học (self – study based), dạy học kiểu tìm hiểu (enquiry based), dạy học giải quyết vấn đề (problem solving based), phương pháp giáo dục ý thức và thái độ đúng đắn cho sinh viên
Trang 15- Phương pháp học: là phương pháp tự điều khiển hoạt động nhận thức
và rèn luyện khả năng thu thập thông tin để hình thành hệ thống tri thức và kỹ năng thực hành, hình thành nhân cách của người học và đạt được mục tiêu học tập
Hai phương pháp này không tồn tại độc lập, không tách rời nhau mà liên quan và phụ thuộc nhau, vừa là mục đích vừa là nguyên nhân tồn tại của nhau
Từ sự thừa nhận phương pháp dạy học là cách thức hoạt động của giảng viên, được thực hiện trong quá trình dạy học để tác động đến người học và việc học của họ nhằm hướng dẫn họ học tập và giúp họ đạt mục tiêu học tập, đương nhiên phải thừa nhận phương pháp dạy học tồn tại hiện thực trên lớp học, trong quá trình dạy học thực tế, chứ không phải trên giấy, trên sách báo và bài giảng
ở trường sư phạm Các phương pháp dạy học xuất hiện ở mỗi bài học, trong sự tương tác giữa người dạy và người học, giữa họ và các yếu tố của môi trường dạy học lúc đó Điều đó có nghĩa giảng viên cùng người học của mình tạo ra và tiến hành phương pháp dạy học trên lớp, trong tiến trình bài học, trên cơ sở thiết kế của mình hoặc thiết kế mượn của người khác Cái có sẵn không phải là phương pháp dạy học, mà là sự mô tả, lí thuyết, mô hình và cùng lắm là thiết
kế phương pháp dạy học
Theo PGS.TS Đặng Thành Hưng thì mỗi phương pháp dạy học luôn cấu thành từ 3 thành phần:
“Phần thứ nhất là Phương pháp luận dạy học - tức là lí thuyết phương
pháp dạy học, mô hình lí thuyết của phương pháp dạy học, triết lí hay nguyên tắc lí luận nào đó, được mô tả, giải thích trong sách báo khoa học, ví dụ: lí thuyết về các mô hình thảo luận, lí thuyết dạy học kiến tạo, lí thuyết dạy học chương trình hóa,… Đây là mô hình lí luận của phương pháp dạy học, nó xác định bản chất của phương pháp dạy học, làm cho phương pháp dạy học này khác phương pháp dạy học kia
Trang 16Phần thứ hai là, hệ thống kỹ năng phù hợp để thực hiện phương pháp luận này trong bài học với nội dung học vấn đặc trưng của lĩnh vực học tập đó (bài học Toán, Khoa học, Thể dục,… khác nhau thì phương pháp luận đó đòi hỏi những kỹ năng khác nhau) – chúng xác định với khả năng hành động thế nào và bằng cách nào giáo viên có thể biến phương pháp luận đã chọn thành phương thức tác động thật sự đến người học và quá trình học tập Đây là mô hình tâm lí của phương pháp dạy học
Phần thứ ba là những kĩ thuật, công cụ, phương tiện,… được sử dụng để thực hiện các kỹ năng (thiếu chúng thì các kỹ năng không được thực thi) và được tổ chức theo phương pháp luận đã chọn – phương pháp dạy học có thực
sự là phương pháp dạy học hay không là do phần vật chất này quyết định, vì chỉ có phần này của phương pháp dạy học mới tác động đến người học và quá trình học tập Đây là hình thức vật chất của phương pháp dạy học, chẳng hạn lời nói, chữ viết, tranh, ảnh, dụng cụ thí nghiệm, tài liệu media, hành vi giao tiếp, ” [16; 10]
Sự tổ chức thống nhất của 3 phần này trong tư duy và trong hoạt động vật chất mới tạo nên một phương pháp dạy học cụ thể Riêng phần 1 chỉ là phương pháp luận, phần 2 chỉ là kỹ năng dạy học, còn phần 3 chỉ là phương tiện và kĩ thuật dạy học Gộp cả 3 lại một cách tùy tiện thì không thành phương pháp dạy học nào rõ ràng, mà phải tổ chức chúng theo một logic nhất định, trước hết là logic trình bày nội dung bài học, môn học như Toán, Văn, Đạo đức,… Nguyên tắc này tương tự như thiết kế nhà Nhà có những phần nào thì phải thiết kế những phần ấy Đó là thiết kế kiến trúc và kiểu dáng, thiết kế công trình và kết cấu, thiết kế cảnh quan và nội thất, v.v…
Do đó, trong dạy học yêu cầu để thiết kế phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa trên cơ sở vận dụng các phương pháp dạy học tích cực đòi hỏi người giảng viên phải phối hợp một cách nhuần nhuyễn và lôgic cả ba
Trang 17thành phần trên thì mới có một phương pháp dạy học tối ưu nhất, đạt được mục tiêu học tập
là một kết quả của sự phát triển nhân cách trong qúa trình giáo dục
- Tích cực trong học tập Theo tác giả Đậu Thị Hòa: "Tích cực trong học tập có nghĩa là hoàn thành một cách chủ động, tự giác, có nghị lực, có hướng đích rõ rệt, có sáng kiến và đầy hào hứng, những hành động trí óc và tay chân nhằm nắm vững kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, vận dụng chúng vào học tập và thực tiễn." [11; 102-103]
Tính tích cực học tập về thực chất là tính tích cực nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí lực và có nghị lực cao trong qúa trình chiếm lĩnh tri thức Tính tích cực nhận thức trong hoạt động học tập liên quan trước
hết với động cơ học tập Động cơ đúng tạo ra hứng thú Hứng thú là tiền đề của
tự giác Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tạo nên tính tích cực Tính tích cực
sản sinh nếp tư duy độc lập Suy nghĩ độc lập là mầm mống của sáng tạo Ngược lại, phong cách học tập tích cực, độc lập sáng tạo sẽ phát triển tự giác,
Trang 18hứng thú, bồi dưỡng động cơ học tập Tính tích cực học tập biểu hiện ở những dấu hiệu như: hăng hái trả lời các câu hỏi của giáo viên, bổ sung các câu trả lời của bạn, thích phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra; hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa đủ rõ; chủ động vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để nhận thức vấn đề mới; tập trung chú ý vào vấn đề đang học; kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản trước những tình huống khó khăn…
Tính tích cực học tập thể hiện qua các cấp độ từ thấp đến cao như:
Bắt chước: gắng sức làm theo mẫu hành động của thầy, của bạn…
Tìm tòi: độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm kiếm cách giải quyết khác
nhau về một số vấn đề…
Sáng tạo: tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo, hữu hiệu
- Phương pháp dạy học tích cực Các nhà khoa học, nhà giáo dục trong và ngoài nước đã đưa ra rất nhiều quan niệm khác nhau về phương pháp dạy học tích cực, nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học
Trong Bách khoa toàn thư mở Wikipedia tiếng Việt (phương pháp dạy học) có viết: “Phương pháp giáo dục tích cực: Học viên tự tìm ra kiến thức bằng hành động thao tác giáo viên đối thoại với học viên, giáo viên hợp tác
và trao đổi với học viên và giáo viên khẳng định kiến thức do học viên tìm ra Học sinh học cách học, cách đặt vấn đề và giải quyết vấn đề, cách sống và trưởng thành Học sinh tự đánh giá và điều chỉnh làm cơ sở cho giáo viên cho điểm cơ động” [3; 1]
Theo PGS - TS Vũ Hồng Tiến: “Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người
học Phương pháp dạy học tích cực hướng vào việc hoạt động hóa, tích cực hóa
hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích
Trang 19cực của người học chứ không phải tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy Tuy nhiên, để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải
nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động” [32; 1]
Tác giả Nguyễn Kỳ trong cuốn: “Thiết kế bài học theo phương pháp tích cực” đã viết: “Thầy tự nguyện từ bỏ vai trò chủ thể… Thầy giáo không còn là người truyền đạt tri thức có sẵn, cung cấp chân lý có sẵn mà là người định hướng, đạo diễn cho học sinh tự mình khám phá ra kiến thức cùng với cách tìm
ra kiến thức” [19; 14-15]
Còn tác giả Đỗ Ngọc Đạt cho rằng: “trong phương pháp tích cực người được giáo dục trở thành người tự giáo dục, là nhân vật tự nguyện có ý thức về sự giáo dục của bản thân” [8; 80]
Tác giả Đậu Thị Hòa cho rằng: “Phương pháp dạy học tích cực là những phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính chủ động, độc lập và sáng tạo, hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học…” [11; 102]
Trong sổ tay phương pháp giảng dạy và đánh giá của trường Đại học
Nha Trang có nêu phương pháp giảng dạy được gọi là tích cực nếu hội tụ được các yếu tố sau: Thể hiện rõ vai trò của nguồn thông tin và các nguồn lực sẵn có Thể hiện rõ được động cơ học tập của người học khi bắt đầu môn học Thể hiện
rõ được bản chất và mức độ kiến thức cần huy động Thể hiện rõ được vai trò của người học, người dạy, vai trò của các mối tương tác trong quá trình học Thể hiện được kết quả mong đợi của người học [29; 7]
Như vậy, các quan điểm trên đây đều cho rằng phương pháp dạy học tích cực là phương pháp hướng vào phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học
Còn theo chúng tôi, phương pháp dạy học tích cực là sự kết hợp những
yếu tố tích cực của các phương pháp dạy học cụ thể, nhằm phát huy tính tích
Trang 20cực, chủ động, sáng tạo của người học trong quá trình học tập và chiếm lĩnh tri thức dưới sự hướng dẫn, ch đạo của giáo viên
Vậy, phương pháp dạy học tích cực khác gì so với phương pháp dạy học thụ động
"Tích cực" trong phương pháp dạy học - tích cực được dùng với nghĩa là
hoạt động, chủ động, trái nghĩa với không hoạt động, thụ động chứ không dùng
theo nghĩa trái với tiêu cực
Phương pháp dạy học tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động
Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy Cách dạy chỉ đạo cách học, nhưng ngược lại thói quen học tập của trò cũng ảnh hưởng tới cách dạy của thầy Chẳng hạn, có trường hợp học sinh đòi hỏi cách dạy tích cực hoạt động nhưng giáo viên chưa đáp ứng được, hoặc có trường hợp giáo viên hăng hái áp dụng phương pháp dạy học tích cực nhưng không thành công vì học sinh chưa thích ứng, vẫn quen với lối học tập thụ động Vì vậy, giáo viên phải kiên trì dùng cách dạy hoạt động để dần dần xây dựng cho học sinh phương pháp học tập chủ động một cách vừa sức, từ thấp lên cao Trong đổi mới phương pháp dạy học phải có sự hợp tác cả của thầy và trò, sự phối hợp nhịp nhàng hoạt động dạy với hoạt động học thì mới thành công Như vậy, việc dùng thuật ngữ "Dạy và học tích cực" để phân biệt với "Dạy và học thụ động"
nhà khoa học, nhà giáo dục, nhiều luận án, luận văn, khóa luận các ngành khoa học, các chuyên ngành giáo dục khác tập trung làm rõ Mỗi khái niệm tuy có những cách tiếp cận và có sự khác nhau về cách diễn đạt, song tựu chung lại đều
Trang 21khẳng định, phương pháp dạy học tích cực là nhằm phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo của người học
- Mối quan hệ giữa dạy và học, tích cực với dạy học lấy học sinh làm trung tâm
Từ thập kỉ cuối cùng của thế kỷ XX, các tài liệu giáo dục ở nước ngoài
và trong nước, một số văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo thường nói tới việc cần thiết phải chuyển dạy học lấy giáo viên làm trung tâm sang dạy học lấy học sinh làm trung tâm Dạy học lấy học sinh làm trung tâm còn có một số thuật ngữ tương đương như: dạy học tập trung vào người học, dạy học căn cứ vào người học, dạy học hướng vào người học… Các thuật ngữ này có chung một nội hàm là nhấn mạnh hoạt động học và vai trò của học sinh trong qúa trình dạy học, khác với cách tiếp cận truyền thống lâu nay là nhấn mạnh hoạt động dạy và vai trò của giáo viên Tác giả Trần Hồng Quân cho rằng: Muốn đào tạo được con người khi vào đời là con người tự chủ, năng động, sáng tạo thì phương pháp giảng dạy cũng phải hướng vào việc khơi dậy, rèn luyện và phát triển khả năng nghĩ và làm một cách tự chủ, năng động, sáng tạo ngay trong lao động, học tập ở nhà trường Phương pháp nói trên trong khoa học giáo dục thuộc về hệ thống các phương pháp giảng dạy tích cực lấy người học làm trung tâm Hay, tác giả Nguyễn Kỳ khẳng định: “… Phương pháp lấy học sinh làm trung tâm, người học giữ vai trò chủ động, tích cực trong quá trình học tập và không còn ở thể thụ động như khi dùng phương pháp sư phạm cổ truyền…” [19; 3]
Lịch sử phát triển giáo dục cho thấy, trong nhà trường một thầy dạy cho một lớp đông học trò, cùng lứa tuổi và trình độ tương đối đồng đều thì giáo viên khó có điều kiện chăm lo cho từng học sinh nên đã hình thành kiểu dạy
"thông báo - đồng loạt" Giáo viên quan tâm trước hết đến việc hoàn thành trách nhiệm của mình là truyền đạt cho hết nội dung quy định trong chương trình và sách giáo khoa, cố gắng làm cho mọi học sinh hiểu và nhớ những điều
Trang 22giáo viên giảng Cách dạy này đẻ ra cách học tập thụ động, thiên về ghi nhớ, ít chịu suy nghĩ, cho nên đã hạn chế chất lượng, hiệu quả dạy và học, không đáp ứng yêu cầu phát triển năng động của xã hội hiện đại Để khắc phục tình trạng này, các nhà sư phạm kêu gọi phải phát huy tính tích cực chủ động của học sinh, thực hiện "dạy học phân hóa" quan tâm đến nhu cầu, khả năng của mỗi cá nhân học sinh trong tập thể lớp Phương pháp dạy học tích cực, dạy học lấy học sinh làm trung tâm ra đời từ bối cảnh đó
Trên thực tế, trong qúa trình dạy học người học vừa là đối tượng của hoạt động dạy, lại vừa là chủ thể của hoạt động học Thông qua hoạt động học, dưới sự chỉ đạo của thầy, người học phải tích cực chủ động cải biến chính mình
về kiến thức, kĩ năng, thái độ, hoàn thiện nhân cách, không ai làm thay cho mình được Vì vậy, nếu người học không tự giác chủ động, không chịu học, không có phương pháp học tốt thì hiệu quả của việc dạy sẽ rất hạn chế
Như vậy, khi đã coi trọng vị trí hoạt động và vai trò của người học thì đương nhiên phải phát huy tính tích cực chủ động của người học Tuy nhiên,
dạy học lấy học sinh làm trung tâm không phải là một phương pháp dạy học cụ thể Đó là một tư tưởng, quan điểm giáo dục, một cách tiếp cận quá trình dạy
học chi phối tất cả qúa trình dạy học về mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, tổ chức, đánh giá… chứ không phải chỉ liên quan đến phương pháp dạy và học
- Đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực
+ Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh
Trong phương pháp dạy học tích cực, người học - đối tượng của hoạt động "dạy", đồng thời là chủ thể của hoạt động "học" - được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức
đã được giáo viên sắp đặt Được đặt vào những tình huống của đời sống thực
tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề
Trang 23đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp "làm ra" kiến thức, kĩ năng đó, không rập theo những khuôn mâu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo Dạy theo cách này thì giáo viên không chỉ giản đơn truyền đạt tri thức mà còn hướng dẫn hành động Chương trình dạy học phải giúp cho từng học sinh biết hành động
và tích cực tham gia các chương trình hành động của cộng đồng
+ Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học
Trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh - với sự bùng nổ thông tin, khoa học, kĩ thuật, công nghệ phát triển như vũ bão - thì không thể nhồi nhét vào đầu óc học sinh khối lượng kiến thức ngày càng nhiều Phải quan tâm dạy cho học sinh phương pháp học ngay từ bậc Tiểu học và càng lên bậc học cao hơn càng phải được chú trọng
Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn
luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì
sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh
mặt hoạt động học trong qúa trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học
tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong
trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên
+ Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác
Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của học sinh không thể đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận
sự phân hóa về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập Áp dụng phương pháp tích
Trang 24cực ở trình độ càng cao thì sự phân hóa này càng lớn Việc sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin trong nhà trường sẽ đáp ứng yêu cầu cá thể hóa hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi học sinh
Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân Lớp học là môi trường giao tiếp thầy - trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới Bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của người thầy giáo
Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp hoặc trường Được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ 4 đến 6 người Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung Trong hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ không thể có hiện tượng ỷ lại; tính cách năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội
Trong nền kinh tế thị trường đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liên quốc gia; năng lực hợp tác phải trở thành một mục tiêu giáo dục mà nhà trường phải chuẩn bị cho học sinh
+ Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy
Trước đây, giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh Trong phương pháp tích cực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá
Trang 25để tự điều chỉnh cách học Liên quan với điều này, giáo viên cần tạo điều kiện thuận lợi để học sinh được tham gia đánh giá lẫn nhau Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho học sinh
Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con người năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế
Với sự trợ giúp của các thiết bị kĩ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn
là một công việc nặng nhọc đối với giáo viên, mà lại cho nhiều thông tin kịp thời hơn để linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học
Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành người
thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học
sinh tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức,
kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình Trên lớp, học sinh hoạt động là chính, giáo viên có vẻ nhàn nhã hơn nhưng trước đó, khi soạn giáo án, giáo viên đã phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ
động mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, động
viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng, tranh luận sôi nổi
của học sinh Giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của học sinh mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của giáo viên
Có thể so sánh đặc trưng của phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp dạy học tích cực như sau:
Trang 26PPDH TRUYỀN THỐNG PPDH TÍCH CỰC
Quan niệm
Học là quá trình tiếp thu, lĩnh hội, qua đó hình thành kiến thức, kỹ năng, tư tưởng, tình cảm
Học là quá trình kiến tạo, sinh viên tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác và sử lý thông tin, tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất
Bản chất
Truyền thụ tri thức và chứng minh chân lý của giảng viên
Chú trọng cung cấp tri thức, kỹ năng, kỹ xảo Học để đối phó với thi cử Sau khi học xong những điều đã học thường bị bỏ quên hoặc ít dùng đến
Tổ chức hoạt động nhận thức cho sinh viên Dạy sinh viên cách tìm
ra chân lý
Chú trọng hình thành các năng lực (sáng tạo, hợp tác ) dạy phương pháp và kỹ năng lao động khoa hoc, dạy cách học Học để đáp ứng yêu cầu của cuộc sống
Nội dung
trình, giảng viên, tài liệu tham khảo, tình huống thực tế và môi trường xã hội, địa phương; những vấn đề sinh viên quan tâm
Phương pháp
Các phương pháp thuyết trình, diễn giảng, truyền thụ kiến thức một chiều
Các phương pháp tìm tòi, điều tra, khám phá, giải quyết vấn đề; dạy học tương tác cùng tham gia
Hình thức tổ chức
Cố định: giới hạn trong bốn bức tường của lớp học, giảng viên đối thoại một chiều với cả lớp
Cơ động, linh hoạt: học ở lớp, phòng thí nghiệm, ở hiện trường, trong thực tế, học cá nhân, học nhóm, cả lớp đối diện với giảng viên
Ưu điểm
- Có khả năng cung cấp cho sinh viên một khối lượng tri thức thông tin có hệ thống, chính xác trong một thời gian
- Nhằm phát huy tính tích cự, chủ động ,sáng tạo của người học; hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của
Trang 27ngắn
- Không đòi hỏi có nhiều phương tiện, thiết bị dạy học, giảng viên đỡ tốn sức lực, sinh viên học ít vất vả, ít mắc sai lầm
người học, giúp sinh viên hứng thú học tập; chứ không phải tập trung vào phát huy tính tích cự của người dạy
- Rất chú trọng kỹ năng thực hành, vận dụng tri thức giải quyết các vấn
đề của thực tiễn; coi trọng rèn luyện tư duy và tự học
- Đảm bảo cho sinh viên nắm được tri thức một cách vững chắc, sáng tạo, linh hoạt; đồng thời nắm được
cả phương pháp tự học, tự nghiên cứu; phát triển tư duy biện chứng
và tư duy sáng tạo của sinh viên
Nó góp phần thực hiện tốt cat ba nhiệm vụ dạy học ở đại học, cao đẳng là dạy nghề, dạy phương pháp
và dạy lý tưởng đạo đức nghề nghiệp
Hạn chế
- Sinh viên chủ yếu chỉ dùng trí nhớ để nắm lấy nội dung bài học ghi được ở trên lớp, ít khi nghiên cứu giáo trình và tài liệu tham khảo
- Người học thụ động chưa phát huy tính tích cực, độc lập, tư duy sáng tạo, chủ động của người học
- Đòi hỏi phải có nhiều thời gian, nhiều điều kiện, phải có phương tiện dạy học, cần đầu tư nghiên cứu nhiều công sức của giảng viên và sinh viên mới có thể thực hiện được
- Không phải lúc nào, chương nào, phần nào, đối tượng nào cúng áp dụng được, mà phải lựa chọn nội dung, đối tượng để thực hiện phương pháp này
Trang 28Tóm lại, với bốn đặc trưng trên đã khẳng định tính ưu việt của các phương pháp dạy học tích cực so với phương pháp dạy học truyền thống trong quá trình giảng dạy và học tập Để đảm bảo chất lượng và hiệu quả cao trong dạy học, giảng viên cần nắm rõ các đặc trưng đã trình bày ở trên
1.1.2 Cấu trúc, nội dung chương trình môn học “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin”(phần thứ nhất) và sự cần thiết vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong giảng dạy môn “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin” (phần thứ nhất) ở trường Cao đẳng Giao thông vận tải Miền Trung
1.1.2.1 Cấu trúc, nội dung chương trình môn học “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin” (phần thứ nhất)
Nội dung chương trình môn học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin được ban hành theo Quyết định số 52/2008/QĐ-BGĐT ngày 18/9/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Cấu trúc nội dung chương trình môn học ngoài chương mở đầu nhằm giới thiệu khái lược về chủ nghĩa Mác – Lênin và một số vấn đề chung của môn học Căn cứ vào mục tiêu môn học, nội dung chương trình môn học được cấu trúc thành ba phần, chín chương
Phần thứ ba có 3 chương, trong đó có hai chương khái quát những nội dung cơ bản thuộc lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về chủ nghĩa xã hội và một chương khái quát về chủ nghĩa xã hội và triển vọng
Những quy định cụ thể đối với phần thứ nhất như sau:
1 Tên phần thứ nhất: Thế giới quan, phương pháp luận triết học của
Trang 29chủ nghĩa Mác- Lênin
2 Thời lượng phần thứ nhất 2 tín chỉ (nghe giảng: 70%, thảo luận: 30%)
3 Trình độ: Dùng cho sinh viên khối không chuyên ngành Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh trình độ Đại học, Cao đẳng
4 Mục tiêu của phần thứ nhất:
- Xác lập cơ sở lý luận cơ bản nhất về thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác – Lênin để từ đó sinh viên có thể tiếp cận được nội dung của phần thứ 2 và phần thứ 3 của môn học này Đồng thời, là điều kiện tiên quyết để học các môn Tư tưởng Hồ Chí Minh và Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam; hiểu biết nền tảng tư tưởng của Đảng
- Xác lập thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận chung nhất
để tiếp cận các khoa học chuyên ngành được đào tạo
- Xây dựng niềm tin, lý tưởng cách mạng cho sinh viên
5 Điều kiện tiên quyết: Bố trí vào học kỳ 1 của năm thứ nhất trình độ đào tạo Đại học, Cao đẳng khối không chuyên nghành Mác – Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh
6 Mô tả vắn tắt nội dung: Căn cứ vào mục tiêu Phần thứ nhất của môn học, nội dung phần thứ nhất được cấu trúc thành 3 chương bao quát những nội dung cơ bản về thế giới quan, phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác- Lênin
7 Nhiệm vụ của sinh viên: Phải nghiên cứu giáo trình, chuẩn bị các ý kiến hỏi, đề xuất khi nghe giảng; Sưu tầm, nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến nội dung của từng phần, từng chương, mục hay chuyên đề theo sự hướng dẫn của giảng viên Tham dự đầy đủ các giờ giảng của giảng viên và các buổi
tổ chức thảo luận dưới sự hướng dẫn và điều khiển của giảng viên theo quy chế
8 Tài liệu học tập:
Trang 30- Chương trình môn học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
- Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin do Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo biên soạn, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản
- Tài liệu tham khảo: Giáo trình môn học Triết học Mác - Lênin do Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo biên soạn, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2007; các tài liệu phục vụ dạy và học Chương trình Lý luận Chính trị
do Bộ Giáo dục và Đào tạo trực tiếp chỉ đạo, tổ chức và biên soạn
9 Tiêu chuẩn đánh giá sinh viên: Theo quy chế đào tạo Đại học, Cao đẳng
10 Nội dung khái quát chương trình Phần thứ nhất “Thế giới quan, phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác- Lênin”
Thế giới quan và phương pháp luận triết học là bộ phận lý luận nền tảng của chủ nghĩa Mác-Lênin; là sự kế thừa và phát triển những thành quả vĩ đại nhất của tư tưởng triết học trong lịch sử nhân loại, đặc biệt là triết học cổ điển Đức C.Mác, Ph.Ăngghen và VI.Lênin đã phát triển chủ nghĩa duy vật và phép
biện chứng đến trình độ sâu sắc nhất và hoàn bị nhất, đó là: chủ nghĩa duy vật
biện chứng với tư cách là hạt nhân lý luận của thế giới quan khoa học; là phép biện chứng duy vật với tư cách “học thuyết về sự phát triển, dưới hình thức
hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện, học thuyết về tính tương đối của nhận thức của con người”; [21; 53] và do đó, nó cũng chính là phép biện
chứng của nhận thức hay là “cái mà ngày nay người ta gọi là lý luận nhận
thức” [22; 65]; đó còn là chủ nghĩa duy vật lịch sử với tư cách là hệ thống các
quan điểm duy vật biện chứng về xã hội, làm sáng tỏ nguồn gốc, động lực và những quy luật chung của sự vận động, phát triển của xã hội loài người
Như vậy, nội dung phần thứ nhất Thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác - Lênin là bộ phận lý luận nghiên cứu những quy
Trang 31luật vận động phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy; xây dựng thế giới quan và phương pháp luận chung nhất của nhận thức khoa học và thực tiến cách mạng Việc nắm vững những nội dung cơ bản của thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác - Lênin chẳng những là điều kiện tiên quyết để nghiên cứu toàn bộ hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin mà còn là để vận dụng nó một cách sáng tạo trong hoạt động nhận thức khoa học, giải quyết những vấn đề cấp bách của thực tiễn đất nước và thời đại
1.1.2.2 Sự cần thiết phải vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong giảng dạy môn “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin” (phần thứ nhất) ở trường Cao đẳng Giao thông vận tải Miền Trung
Việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực trong giảng dạy môn
“Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin” (phần thứ nhất) ở trường Cao đẳng Giao thông vận tải Miền Trung là rất cần thiết , xuất phát từ những lý do sau:
Một là, dựa trên cơ sở đặc thù của môn triết học
Toàn bộ nội dung phần thứ nhất Thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác – Lênin là những tri thức triết học Đặc thù của khoa học triết học là ở chỗ, trong sự phản ánh hiện thực, tri thức triết học có tính khái quát hoá, trừu tượng hoá cao và được biểu đạt bằng hệ thống các khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật Hơn nữa, triết học là môn khoa học lý thuyết, chứ không phải môn khoa học ứng dụng Chính vì vậy, môn học này thiên về những kiến thức hàn lâm và hầu như không có những mô hình thực nghiệm, ứng dụng, trực quan, nên
để cho sinh viên hiểu được những tri thức triết học mang tính trừu tượng cao đòi hỏi giảng viên phải hướng dẫn người học đi từ những cái cụ thể đến cái trừu tượng, từ đó khái quát để rút ra tri thức cần nghiên cứu, rồi liên hệ với thực tiễn, thông qua thực tiễn để chứng minh lý luận triết học, chứ không thể sơ đồ hóa bài giảng một cách máy móc hoặc thuyết trình bài giảng theo kiểu thông báo – tái hiện (thầy giảng trò nghe, thầy đọc trò chép) Với mỗi bài giảng đòi hỏi giảng viên
Trang 32phải có những lý giải sâu sắc về những kiến thức cơ bản, đồng thời phải liên hệ với thực tiễn nhằm mục đích giúp người học xác lập cho mình thế giới quan và phương pháp luận khoa học cả trong nhận thức lẫn hoạt động thực tiễn Vì vậy, trong quá trình giảng dạy những tri thức triết học ở phần thứ nhất của môn học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, người giảng viên cần vận dụng các phương pháp dạy học tích cực Việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực như thế nào cần phải căn cứ vào nội dung từng phần, từng chương, từng mục để mục đích là phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của sinh viên
Hai là, dựa trên cơ sở đổi mới nội dung chương trình môn học theo phương thức đào tạo tín ch
Năm 2008 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra quyết định đổi mới nội dung chương trình các môn lý luận chính trị trình độ Đại học, Cao đẳng dùng cho sinh viên khối không chuyên ngành mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Đồng thời, đổi mới phương thức đào tạo từ niên chế sang đào tạo theo tín chỉ Do đó, nội dung ba môn học trước đây là Triết học Mác – Lênin, Kinh tế chính trị Mác – Lênin, Chủ nghĩa xã hội khoa học được gộp lại thành môn học Những nguyên lý
cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin Thời lượng của môn học này là 5 tín chỉ (phần 1: 2 tín chỉ; phần 2 và 3: 3 tín chỉ; nghe giảng: 70%; thảo luận: 30%)
Như vậy, so với trước đây thời lượng chương trình triết học áp dụng cho
hệ cao đẳng là 60 tiết thì nay khi chuyển sang phương thức đào tạo theo tín chỉ thì phần thứ nhất của môn học này chỉ còn 30 tiết Do đó, từ đặc thù của môn học mang tính khái quát hóa, trừu tượng hóa cao, chỉ là những tri thức lý thuyết
và nội dung của môn học lại được cô đọng hơn trước Vì thế, giảng viên không thể chuyển tải hết nội dung môn học trên lớp, nên cần tăng cường thời gian tự học của sinh viên và giảng viên trong quá trình giảng dạy phải tích cực vận dụng các phương pháp dạy học tích cực đó cũng là một yêu cầu khách quan của việc đổi mới phương pháp giảng dạy môn học này
Trang 33Thứ ba, căn cứ vào đối tượng nhận thức
Đối tượng nhận thức của môn học này là sinh viên của trường Cao đẳng Giao thông vận tải Miền Trung thuộc các khối tự nhiên nên kiến thức toàn diện
về tự nhiên, xã hội đang còn thiếu và yếu Phần lớn sinh viên còn hạn chế về năng lực tiếp thu môn học do các em đang còn trẻ, vốn sống thực tiễn cũng như kinh nghiệm cuộc sống và kiến thức về triết học tích lũy được ở bậc phổ thông còn rất ít Vì thế, khi bước vào học cao đẳng thì những tri thức triết học đối với các em còn mới mẻ Mặt khác do tính hàn lâm, trừu tượng của tri thức triết học nên việc học tập những kiến thức ở phần này là rất khó khăn Do đó, không ít sinh viên có tâm lý e ngại, rụt rè, thậm chí là “ghét” học, chán học, không thích học môn học này, từ đó kết quả học tập môn học này chưa cao
Từ những đặc điểm tâm lý nhận thức của sinh viên đòi hỏi giảng viên phải lựa chọn phương pháp dạy học bộ môn này phù hợp để lôi cuốn sinh viên vào bài giảng, tạo được hứng thú học tập cho sinh viên Để làm được điều đó thì phương pháp giảng dạy của giảng viên phải phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vừa sức với sinh viên cao đẳng
1.2.3 Vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực trong giảng dạy môn “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin” (phần thứ nhất)
ở trường Cao đẳng Giao thông vận tải Miền Trung
Hiện nay, có rất nhiều phương pháp dạy học tích cực được giảng viên vận dụng vào giảng dạy từng môn học cụ thể cho phù hợp với đặc thù môn học Qua nghiên cứu và thực tiễn giảng dạy môn “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin” (phần thứ nhất) chúng tôi thấy vận dụng các phương pháp dạy học tích cực sau đây sẽ phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh, sinh viên trong học tập và đáp ứng được yêu cầu về đổi mới nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy và nhu cầu đòi hỏi cao đối với người lao động trong xã hội hiện nay
Trang 34Phương pháp vấn đáp là phương pháp dạy học thông qua một hệ thống câu hỏi gợi ý, dưới sự điều khiển của giáo viên để kích thích tư duy học sinh trả lời hoặc học sinh có thể tranh luận với nhau và với cả giáo viên; qua đó học sinh lĩnh hội được nội dung bài học
Căn cứ vào tính chất hoạt động nhận thức, người ta phân biệt các loại phương pháp vấn đáp:
- Vấn đáp tái hiện: giáo viên đặt câu hỏi chỉ yêu cầu học sinh nhớ lại kiến thức đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận Vấn đáp tái hiện không được xem là phương pháp có giá trị sư phạm Đó là biện pháp được dùng khi cần đặt mối liên hệ giữa các kiến thức vừa mới học
- Vấn đáp giải thích - minh hoạ : Nhằm mục đích làm sáng tỏ một đề tài nào đó, giáo viên lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh hoạ để học sinh dễ hiểu, dễ nhớ Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả khi có
sự hỗ trợ của các phương tiện nghe – nhìn
- Vấn đáp tìm tòi (đàm thoại Ơxrixtic): giáo viên dùng một hệ thống câu hỏi được sắp xếp hợp lý để hướng học sinh từng bước phát hiện ra bản chất của
sự vật, tính quy luật của hiện tượng đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết Giáo viên tổ chức sự trao đổi ý kiến - kể cả tranh luận - giữa thầy với
cả lớp, có khi giữa trò với trò, nhằm giải quyết một vấn đề xác định Trong vấn đáp tìm tòi, giáo viên giống như người tổ chức sự tìm tòi, còn học sinh giống như người tự lực phát hiện kiến thức mới Vì vậy, khi kết thúc cuộc đàm thoại,
Trang 35học sinh có được niềm vui của sự khám phá trưởng thành thêm một bước về trình độ tư duy
Khó soạn thảo và sử dụng hệ thống câu hỏi để dẫn dắt người học đi đến
một kết quả cuối cùng theo chủ đề đã được định sẵn
Nếu không khéo giáo viên sẽ bị mất nhiều thời gian và có học sinh sẽ được phát biểu nhiều, nhưng sẽ có số học sinh không được phát biểu lần nào trong suốt quá trình học
Giáo viên phải có sự chuẩn bị công phu
Tóm lại, đàm thoại là phương pháp giảng dạy được sử dụng phổ biến trong dạy học ở nước ta hiện nay, tạo hứng thú học tập cho người học, kích thích tính tích cực, độc lập suy nghĩ, giúp người học tiếp thu bài nhanh, buổi học trở nên sinh động và hấp dẫn
1.2.3.2 Phương pháp nêu vấn đề (giải quyết vấn đề; đặt và giải quyết vấn đề)
Phương pháp nêu vấn đề xuất hiện vào năm 1970 tại trường đại học Hamilton (Canada), sau đó được phát triển nhanh chóng tại trường đại học Maastricht (Hà Lan) Sự ra đời của dạy học nêu vấn đề được xem là một bước
tiến của khoa học sư phạm hiện đại
Trong một xã hội đang phát triển nhanh theo cơ chế thị trường, cạnh tranh gay gắt thì phát hiện sớm và giải quyết hợp lý những vấn đề nảy sinh trong
Trang 36thực tiễn là một năng lực đảm bảo sự thành công trong cuộc sống, đặc biệt trong kinh doanh Vì vậy, tập dượt cho học sinh biết phát hiện, đặt ra và giải quyết những vấn đề gặp phải trong học tập, trong cuộc sống của cá nhân, gia đình và cộng đồng không chỉ có ý nghĩa ở tầm phương pháp dạy học mà phải được đặt ra như một mục tiêu giáo dục và đào tạo
Theo tác giả Nguyễn Văn Cường “Phương pháp dạy học nêu vấn đề là một phương pháp nhằm phát triển năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề của học sinh Học sinh được đặt trong một tình huống có vấn đề, thông qua việc giải quyết vấn đề đó giúp học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng và phương pháp nhận thức” [6; 112]
Phương pháp dạy học nêu vấn đề là phương pháp giáo viên dùng lời nói, hướng học viên đi vào tình huống có vấn đề, nêu vấn đề và tạo ra những điều kiện cần thiết để giải quyết vấn đề; cuối cùng kiểm tra lại vấn đề đã giải quyết
để đi tới kết luận
Cấu trúc một bài học (hoặc một phần bài học) theo phương pháp đặt và giải quyết vấn đề thường như sau:
- Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức + Tạo tình huống có vấn đề;
+ Phát hiện, nhận dạng vấn đề nảy sinh;
+ Phát hiện vấn đề cần giải quyết
- Giải quyết vấn đề đặt ra + Đề xuất cách giải quyết;
+ Lập kế hoạch giải quyết;
+ Thực hiện kế hoạch giải quyết
- Kết luận:
+ Thảo luận kết quả và đánh giá;
+ Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết nêu ra;
+ Phát biểu kết luận;
Trang 37+ Đề xuất vấn đề mới
Có thể phân biệt bốn mức trình độ đặt và giải quyết vấn đề:
Mức 1: Giáo viên đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề Học sinh thực
hiện cách giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của giáo viên Giáo viên đánh giá kết quả làm việc của học sinh
Mức 2: Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý để học sinh tìm ra cách giải quyết
vấn đề Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của giáo viên khi cần Giáo viên và học sinh cùng đánh giá
Mức 3: Giáo viên cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề Học sinh
phát hiện và xác định vấn đề nảy sinh, tự đề xuất các giả thuyết và lựa chọn giải pháp Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề Giáo viên và học sinh cùng đánh giá
Mức 4 : Học sinh tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của
mình hoặc cộng đồng, lựa chọn vấn đề giải quyết Học sinh giải quyết vấn đề,
tự đánh giá chất lượng, hiệu quả, có ý kiến bổ sung của giáo viên khi kết thúc
Các mức Đặt vấn
đề
Nêu giả thuyết
Lập kế hoạch
Giải quyết vấn đề
Kết luận, đánh giá
Trang 38hoặc như câu ngạn ngữ nước ngoài: “nghe thì quên, nhìn mới nhớ, làm thì
hiểu”
Người học tiếp nhận tri thức một cách chủ động, có cơ hội thể hiện và áp dụng các kiến thức đã học, các ý tưởng của mình trong quá trình giải quyết vấn
đề Do đó, mức độ tiếp nhận và lưu giữ tri thức cao
Tăng cường khả năng độc lập suy nghĩ, phát triển năng lực tư duy sáng tạo của người học và phát triển các kỹ năng vận dụng các tri thức của bản thân
họ vào giải quyết các vấn đề trong học tập, cũng như trong thực tiễn
Nâng cao niềm tin vào khả năng của bản thân trong việc giải quyết các tình huống trong quá trình học tập cũng như trong cuộc sống
Hạn chế:
- Để xây dựng được tình huống có vấn đề, đòi hỏi giáo viên phải có nhiều kinh nghiệm chuyên môn cũng như kỹ năng vận dụng phương pháp dạy học; đòi hỏi người học phải nắm vững tri thức liên quan đến vấn đề cần giải quyết
- Người học mất nhiều thời gian để giải quyết các vấn đề, rút ra các tri thức cần thiết Vì vậy, các tình huống tạo ra phải điển hình
- Người học dễ bị lạc hướng trong quá trình giải quyết vấn đề
- Trong dạy học theo phương pháp đặt và giải quyết vấn đề, học sinh vừa nắm được tri thức mới, vừa nắm được phương pháp lĩnh hội tri thức đó, phát triển tư duy tích cực, sáng tạo, được chuẩn bị một năng lực thích ứng với đời
sống xã hội, phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lý các vấn đề nảy sinh
1.2.3.3 Phương pháp thảo luận nhóm (dạy học nhóm)
Thảo luận theo nhóm đang là một trong những phương pháp phát huy tính tích cực của người học, dạy học hướng về người học A.T.Francisco (1993) cho rằng, học tập nhóm là một phương pháp học tập mà theo phương pháp đó học viên trong nhóm trao đổi, giúp đỡ và hợp tác với nhau trong học tập
Tác giả Nguyễn Văn Cường cho rằng: “Thảo luận theo nhóm là một hình thức xã hội của dạy học, trong đó sinh viên của một lớp học được chia thành
Trang 39các nhóm nhỏ trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc Kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày và đánh giá trước toàn lớp” [6; 98]
Bản chất của thảo luận nhóm là hình thức tổ chức lớp học được chia thành từng nhóm nhỏ từ 4 đến 6 người Tuỳ mục đích, yêu cầu của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hay có chủ định, được duy trì ổn định hay thay đổi trong từng phần của tiết học, được giao cùng một nhiệm vụ hay những nhiệm vụ khác nhau
Nhóm tự bầu nhóm trưởng nếu thấy cần Trong nhóm có thể phân công mỗi người một phần việc Trong nhóm nhỏ, mỗi thành viên đều phải làm việc tích cực, không thể ỷ lại vào một vài người hiểu biết và năng động hơn Các thành viên trong nhóm giúp đỡ nhau tìm hiểu vấn đề nêu ra trong không khí thi đua với các nhóm khác Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả học tập chung của cả lớp Để trình bày kết quả làm việc của nhóm trước toàn lớp, nhóm có thể cử ra một đại diện hoặc phân công mỗi thành viên trình bày một phần nếu nhiệm vụ giao cho nhóm là khá phức tạp
Phương pháp hoạt động nhóm có thể tiến hành :
- Làm việc chung cả lớp :
+ Nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức + Tổ chức các nhóm, giao nhiệm vụ
+ Hướng dẫn cách làm việc trong nhóm
- Làm việc theo nhóm
+ Phân công trong nhóm + Cá nhân làm việc độc lập rồi trao đổi hoặc tổ chức thảo luận trong nhóm
+ Cử đại diện hoặc phân công trình bày kết quả làm việc theo nhóm
- Tổng kết trước lớp
+ Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả
Trang 40+ Thảo luận chung + Giáo viên tổng kết, đặt vấn đề cho bài tiếp theo, hoặc vấn đề tiếp theo trong bài.
- Phát huy tính tích cực, tự lực và tính trách nhiệm của sinh viên: trong học nhóm, sinh viên phải tự lực giải quyết nhiệm vụ học tập, đòi hỏi sự tham gia tích cực của các thành viên, trách nhiệm với nhiệm vụ và kết quả làm việc của mình Dạy học nhóm hỗ trợ tư duy, tình cảm và hành động độc lập, sáng tạo của sinh viên
- Phát triển năng lực cộng tác làm việc: công việc nhóm là phương pháp
làm việc được sinh viên ưa thích Sinh viên được luyện tập những kỹ năng cộng tác làm việc như tinh thần đồng đội, sự quan tâm đến những người khác
và tính khoan dung
- Phát triển năng lực giao tiếp: thông qua cộng tác làm việc trong nhóm,
giúp sinh viên phát triển năng lực giao tiếp như biết lắng nghe, chấp nhận và phê phán ý kiến người khác, biết trình bày, bảo vệ ý kiến của mình trong nhóm
- Hỗ trợ qúa trình học tập mang tính xã hội: dạy học nhóm là quá trình
học tập mang tính xã hội Sinh viên học tập trong mối tương tác lẫn nhau trong nhóm, có thể giúp đỡ lẫn nhau, tạo lập, củng cố các quan hệ xã hội và không cảm thấy phải chịu áp lực của giảng viên