--- --- VUÕ MỸ HUỆ MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN THỂ DỤC CHO HỌC SINH LỚP 5 THEO CHUẨN KIẾN THỨC KỸ NĂNG Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ
Trang 1- -
VUÕ MỸ HUỆ
MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN THỂ DỤC CHO HỌC SINH LỚP 5 THEO CHUẨN KIẾN THỨC KỸ NĂNG Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA
Trang 2- -
VUÕ MỸ HUỆ
MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN THỂ DỤC CHO HỌC SINH LỚP 5 THEO CHUẨN KIẾN THỨC KỸ NĂNG Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHUYÊN NGÀNH: GIÁO DỤC TIỂU HỌC
MÃ SỐ: 60.14.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS NGUYỄN BÁ MINH
NGHỆ AN - 2012
Trang 3Với lòng biết ơn chân thành nhất, tôi xin chân thành cảm
ơn Ban giám hiệu Trường ĐH Vinh, Ban giám hiệu Trường
ĐH Sài Gòn, Ban giám hiệu Trường Tiểu học An Hội, đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến thầy hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Bá Minh đã tận tình động viên giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến quý Thầy, Cô đã giảng dạy cho khóa cao học 18 và các bạn đồng nghiệp trong khóa cao học 18 liên kết với trường ĐH Vinh
Tôi xin cảm ơn các thầy cô là Cán bộ quản lí, Ban giám hiệu và các đồng nghiệp ở các trường Tiểu học trên địa bàn Quận Gò Vấp đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu luận văn này
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào
Trang 5
Thể
Bảng 2.5 Nhận thức của giáo viên thể dục về việc tổ chức dạy học
môn Thể dục theo chuẩn KTKN đối với học sinh Tiểu học
43
giai đoạn lứa tuổi cần thiết phải tổ chức hoạt động dạy học môn Thể dục theo chuẩn KTKN
43
Bảng 2.7 Các nội dung đánh giá môn Thể dục lớp 5 theo chuẩn
KTKN
44
Bảng 2.11 Giáo viên tiểu học tự đánh giá về mức độ khai thác mục 49
Trang 6phương pháp dạy học trong quá trình dạy học môn Thể dục
ở Tiểu học Bảng 2.13 Giáo viên tiểu học tự đánh giá về tần suất sử dụng các hình
thức dạy học trong quá trình dạy học môn Thể dục ở Tiểu học
52
Bảng 2.14 Giáo viên tiểu học tự đánh giá về việc sử dụng các hình
Bảng 2.15 Đánh giá của cán bộ quản lí về năng lực tổ chức dạy học
trường Tiểu học trên địa bàn Quận Gò Vấp (ý kiến của CBQL)
Trang 7STT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
Trang 8MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn Lời cam đoan Danh mục những từ viết tắt Danh mục các sơ đồ, bảng Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Lý do chọn đề tài 1
Mục đích nghiên cứu 3
Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
Giả thuyết khoa học 3
Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 3
Phương pháp nghiên cứu 4
Cấu trúc luận văn 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THEO CHUẨN KIẾN THỨC, KĨ NĂNG MÔN THỂ DỤC LỚP 5 Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC 1.1 Sự quan tâm của Đảng, Nhà nước về công tác TDTT 6
1.2 Học thuyết Mác – Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh đối với TDTT trường học 8
1.3 Lịch sử nghiên cứu của vấn đề 10
1.4 Một số khái niệm cơ bản có liên quan đến đề tài 12
1.5 Tổ chức hoạt động dạy học theo CKTKN môn Thể dục lớp 5. 31
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 35
Trang 9CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THEO CHUẨN KIẾN THỨC, KĨ NĂNG MÔN THỂ DỤC LỚP 5 Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1 Khái quát về Giáo dục Tiểu học Quận Gò Vấp – Thành phố Hồ Chí Minh 36 2.2 Thực trạng tổ chức dạy học theo Chuẩn kiến thức kĩ năng môn Thể dục lớp 5 ở các trường Tiểu học trên địa bàn quận Gò Vấp 41 2.3 Đánh giá tổng quát thực trạng tổ chức dạy học theo Chuẩn KTKN môn Thể dục lớp 5 ở các trường Tiểu học trên địa bàn quận Gò Vấp 60 2.4 Cơ hội và thách thức đối với việc tổ chức dạy học theo Chuẩn KTKN môn Thể dục lớp 5 ở các trường Tiểu học trên địa bàn Quận Gò Vấp Thành phố
Hồ Chí Minh 62 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 68
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THEO CHUẨN KIẾN THỨC, KỸ NĂNG MÔN THỂ DỤC LỚP 5
Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN GÒ VẤP
3.1 Các nguyên tắc đề xuất các biện pháp 69 3.2 Một số biện pháp tổ chức hoạt động dạy học môn Thể dục theo chuẩn kiến thức, kỹ năng ở các trường Tiểu học trên địa bàn Quận Gò Vấp, TP.HCM 70 3.3 Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp được đề xuất từ thử nghiệm tác động 92 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 95 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
KẾT LUẬN 96 KIẾN NGHỊ 97
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiến pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 1992,
Điều 41 có ghi: “Quy định chế độ giáo dục thể chất bắt buộc trong trường học”, điều này xuất phát từ ý nghĩa to lớn của Giáo dục Thể chất trong nhà
trường
Phân môn Thể dục cùng với các phân môn khác trong nhà trường là một bộ phận hữu cơ của mục tiêu giáo dục và đào tạo, đồng thời là một mặt giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ tương lai, nhằm tạo ra một thế hệ trẻ có tri thức mới, có năng lực, phẩm chất đạo đức và có sức khỏe, đó là lớp người
“Phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức”
Bậc Tiểu học có vị trí đặc biệt quan trọng, là bậc học nền tảng trong
hệ thống giáo dục phổ thông, có nhiệm vụ xây dựng và phát triển tình cảm, đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và thể chất cho trẻ em nhằm hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển toàn diện nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ
nghĩa Giáo dục Thể chất là một bộ phận hợp thành quan trọng của nội dung
giáo dục toàn diện, có nhiệm vụ bồi dưỡng và nâng cao sức khỏe - thứ tài sản quý giá nhất của mỗi cá nhân và toàn xã hội Với chức năng hình thành, định hư-ớng giá trị sức khoẻ cho học sinh, đặc biệt với học sinh Tiểu học, Giáo dục Thể chất sẽ góp phần xây dựng những nền móng ban đầu vững chắc cho sức khoẻ và nhân cách của các em, để các em tự tin bước tiếp trên đường đời
Thực tế công tác Giáo dục Thể chất ở trường Tiểu học hiện nay còn bị thả nổi, thiếu sự đầu tư, quản lí, thiếu đội ngũ giáo viên chuyên trách Bên cạnh những cố gắng trong việc cải tiến nội dung, phương pháp tổ chức của một số trường tiên tiến tại một vài thành phố, thì việc tổ chức các hoạt động dạy học theo chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Thể dục cho học sinh Tiểu học
Trang 11nói chung và học sinh lớp 5 ở các trường Tiểu học trên địa bàn Quận Gò Vấp nói riêng chưa thực sự được quan tâm đúng mức, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức còn đơn điệu, cộng với quỹ thời gian nghèo nàn làm ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả của công tác Giáo dục Thể chất
Quận Gò Vấp, Tp.HCM là nơi tập trung hơn 20 trường Tiểu học trong
đó đáng chú ý nhất là trường tiểu học An Hội - đây là trường Tiểu học lớn nhất khu vực Đông Nam Á, trường có trên 5.000 học sinh với hơn 100 lớp học Ngoài ra còn kể đến các trường khác như trường Tiểu học Kim Đồng, Tây Sơn, Trần Văn Ơn, Võ Thị Sáu … đều là những trường có không dưới
1000 học sinh Việc thực hiện công tác giáo dục của nhà trường căn cứ theo chương trình khung của Bộ GD&ĐT ban hành Môn Thể dục được đưa vào giảng dạy chính khóa trong điều kiện sân bãi thiếu thốn, biên chế về sỉ số học sinh/ lớp học thể dục quá đông, lực lượng giáo viên dạy thể dục tại trường chủ yếu là giáo viên tốt nghiệp sư phạm tiểu học nên nghiệp vụ chuyên môn để dạy môn Thể dục cho học sinh không vững vàng Bên cạnh đó việc dạy học môn Thể dục theo chuẩn kiến thức, kỹ năng cho học sinh lớp 5 ở các trường Tiểu học trên địa bàn Quận Gò Vấp còn gặp nhiều khó khăn Thực tế đó đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng Giáo dục Thể chất cho học sinh các trường Tiểu học trên địa bàn Quận Gò Vấp, Tp.HCM
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đó chúng tôi chọn đề tài: “Một số biện
pháp tổ chức hoạt động dạy học môn Thể dục lớp 5 theo chuẩn kiến thức,
kỹ năng ở các trường Tiểu học trên địa bàn Quận Gò Vấp, Thành phố
Hồ Chí Minh ” để nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp tổ chức hoạt động dạy học môn Thể dục lớp
5 theo chuẩn kiến thức, kỹ năng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở các trường Tiểu học trên địa bàn Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 123 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Vấn đề tổ chức hoạt động dạy học theo chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Thể dục cho học sinh lớp 5
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp tổ chức hoạt động dạy học môn Thể dục lớp 5 theo chuẩn kiến thức, kỹ năng ở các trường Tiểu học trên địa bàn Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh
4 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được các biện pháp có cơ sở khoa học và có tính khả thi thì có thể nâng cao chất lượng Giáo dục Thể chất cho học sinh lớp 5 ở các trường Tiểu học trên địa bàn Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh
5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc tổ chức hoạt động dạy học
theo chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Thể dục lớp 5 ở các trường Tiểu học trên địa bàn Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh
5.1.2 Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của việc tổ chức hoạt động dạy học
theo chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Thể dục lớp 5 ở các trường Tiểu học trên địa bàn Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh
5.1.3 Đề xuất các biện pháp để nâng cao hiệu quả công tác Giáo dục
Thể chất cho học sinh lớp 5 ở các trường Tiểu học trên địa bàn Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh thông qua việc tổ chức hoạt động dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Thể dục
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 13- Học sinh lớp 5 tại một số trường Tiểu học trên địa bàn Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh
6 Phương pháp nghiên cứu
6 Nh m phư ng pháp nghiên cứu u n
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin lý luận để xây dựng cơ
sở lý luận của đề tài Thuộc nhóm này có các phương pháp cụ thể sau đây:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp tài liệu;
- Phương pháp khái quát hoá các nhận định độc lập
6.2 Nh m phư ng pháp nghiên cứu th c ti n
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin thực tiễn để xây dựng
cơ sở thực tiễn của đề tài Thuộc nhóm này có các phương pháp cụ thể sau đây:
- Phương pháp điều tra;
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục;
- Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động;
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia;
- Phương pháp khảo nghiệm
6 Phư ng pháp thống ê toán học
Để xử lý số liệu thu được thông qua việc sử dụng phần mềm SPSS
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo thì cấu trúc luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của biện pháp tổ chức hoạt động dạy học theo
Chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Thể dục lớp 5 ở các trường Tiểu học
Trang 14- Chương 2: Cơ sở thực tiễn của biện pháp tổ chức hoạt động dạy học theo
Chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Thể dục lớp 5 ở các trường Tiểu học trên địa bàn Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh
- Chương 3: Một số biện pháp tổ chức hoạt động dạy học theo Chuẩn kiến
thức, kĩ năng môn Thể dục lớp 5 ở các trường Tiểu học trên địa bàn Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 15
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THEO CHUẨN KIẾN THỨC, KĨ NĂNG MÔN THỂ DỤC
LỚP 5 Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC 1.1 Sự quan tâm của Đảng, Nhà nước về công tác TDTT
1.1.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nước đối với TDTT trường học
Giáo dục Thể chất (GDTC) ở nước ta thường được gọi là Thể dục thể thao (TDTT) trường học là một bộ phận quan trọng cấu thành nền TDTT và cũng là một mặt không thể thiếu của nền giáo dục, là nền tảng của TDTT toàn dân TDTT trường học bao gồm giáo dục thể chất chính khóa và các hoạt động TDTT ngoại khóa TDTT trong nhà trường là giao điểm giữa hai lĩnh vực giáo dục và TDTT, là cơ sở nền tảng của sự phát triển TDTT Do đó đầu
tư và phát triển TDTT trường học hiện nay được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm như là nhu cầu tất yếu của sự phát triển xã hội
Một trong những mục tiêu chiến lược của Đảng và Nhà nước cũng như ngành Giáo dục - Đào tạo và TDTT nước ta hiện nay là xã hội hóa TDTT, phát triển phong trào thể dục thể thao rộng khắp, nhằm tạo ra thế hệ trẻ phát
triển toàn diện cả về Đức – Trí – Thể - Mỹ Đảng và Nhà nước ta lãnh đạo đất
nước luôn dựa trên cơ sở nền tảng học thuyết Mác – Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh để làm kim chỉ nam và đã đạt thắng lợi ở nhiều lĩnh vực trong đó có
GD - ĐT và TDTT Do đó thật cần thiết xem xét vị trí của TDTT trường học thông qua quan điểm của học thuyết Mác – Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh
1.1.2 TDTT trường học dưới sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta
Nâng cao thể chất và sức khỏe cho học sinh, sinh viên là một trong những mục tiêu chiến lược của Đảng và Nhà nước, của ngành Giáo dục và Đào tạo nước ta từ trước đến nay Để thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện ở tất cả các bậc học, nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
Trang 16nước, nhất thiết phải coi trọng công tác giáo dục thể chất trong trường học Thực tế cho thấy, TDTT trong trường học góp phần đào tạo, bồi dưỡng thế hệ tương lai của đất nước, cung cấp nguồn nhân lực có sức khỏe, học vấn và đạo đức cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Bên cạnh đó, “TDTT trường học có ý nghĩa quan trọng đối với việc phát hiện, bồi dưỡng nhân tài và nâng cao trình độ thể thao Sẽ không có thể thao thành tích cao nếu như thể thao trường học không được phát triển, bởi TDTT trường học là cái nôi của thể thao thành tích cao” [17]
Vì tầm quan trọng này, TDTT trường học được Đảng ta chính thức đưa vào nghị quyết TW VIII khóa III năm 1961: “Bắt đầu đưa việc dạy thể dục và một số môn thể thao cần thiết vào chương trình học tập của các trường học” [8] Kể từ đó đến năm 1975, đã có hơn 3000 trường học bao gồm tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, trung cấp, cao đẳng, đại học có phong trào giáo dục thể chất nội khóa và ngoại khóa một cách nề nếp
Khi đất nước hoàn toàn giải phóng, mặc dù bước đầu phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng đời sống mới , Đảng và Nhà nước ta vẫn ưu tiên cho công tác TDTT trường học khi ra chỉ thị
số 227/CT-TW ngày 18/11/1975: “Tổ chức tốt việc tập thể dục buổi sáng, thể dục trước giờ, giữa giờ cho các trường học và các cơ sở sản xuất Phát triển các trò chơi vận động trong thiếu niên và học sinh ”
Pháp lệnh TDTT được ban hành theo nghị quyết của Uỷ ban Thường
vụ Quốc hội ngày 25/09/2000 và được Chủ tịch nước kí lệnh công bố chính thức có hiệu lệnh pháp luật ngày 09/10/2000 đã qui định: “Thể dục, thể thao trường học bao gồm Giáo dục Thể chất và hoạt động thể dục, thể thao ngoại khóa cho người học Giáo dục Thể chất trong trường học là chế độ giáo dục bắt buộc nhằm tăng cường sức khỏe, phát triển thể chất, góp phần hình thành
và bồi dưỡng nhân cách, đáp ứng yêu cầu giáo dục toàn diện cho người học
Trang 17Nhà nước khuyến khích hoạt động TDTT ngoại khóa trong trường học” [45] Đây là văn bản pháp luật cao nhất trong suốt những năm qua kể từ ngày thành lập ngành TDTT Pháp lệnh TDTT đã thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong công tác xây dựng và phát triển sự nghiệp TDTT nói chung và TDTT trường học nói riêng Pháp lệnh cũng đã phát huy hiệu lực, đi vào thực tiễn đời sống và kịp thời điều chỉnh các mặt của TDTT học đường trên toàn quốc trong suốt 11 năm qua
TDTT trường học còn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm đặc biệt
và được thể hiện cụ thể bởi nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác Hiến pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 1992 (đã được sửa đổi bổ sung năm 2001) tại điều 41 nêu rõ: “Qui định chế độ giáo dục thể chất bắt buộc trong trường học ” [13] Luật thể dục, thể thao đã được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29/11/2006 và được Chủ tịch nước công bố ngày 12/12/2006 cũng đã xác định rõ tầm quan trọng và ý nghĩa lợi ích, tác dụng của TDTT trường học nên đã dành 7 điều, từ Điều 20 đến Điều
26 quy định về lĩnh vực này Cụ thể:
Giáo dục Thể chất là môn học chính khóa thuộc chương trình giáo dục nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản cho người học thông qua các bài tập và trò chơi vận động, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện [18]
Như vậy có thể thấy, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm và chú trọng vai trò của TDTT trường học
1.2 Học thuyết Mác – Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh đối với TDTT trường học.
Theo Mác, giáo dục ở nhà trường có ba điều cần quan tâm, đó là: giáo dục trí tuệ, giáo dục thể chất và giáo dục kỹ thuật Vì thế Mác đã viết: “Kết hợp lao động sản xuất với trí dục và thể dục Đó không những là biện pháp để
Trang 18tăng thêm sức sản xuất của xã hội, mà còn là biện pháp duy nhất để đào tạo những con người phát triển toàn diện” [6]
Phát triển sâu hơn học thuyết giáo dục toàn diện Lê Nin cho rằng:
“Thanh thiếu niên đặc biệt cần sự yêu đời và sảng khoái, cần có thể thao lành mạnh, thể dục, bơi lội, tham gia các bài tập thể lực, những hứng thú phong phú về tinh thần, học tập, phân tích nghiên cứu và cố gắng phối hợp tất cả các hoạt động ấy với nhau” [49] Để khẳng định biện chứng của sự phát triển hài hòa giữa thể chất và tinh thần, Lê Nin còn khẳng định: “Tinh thần khỏe mạnh phụ thuộc vào thân thể khỏe mạnh ”
Kế thừa, phát huy và ứng dụng sáng tạo học thuyết Mác – Lê Nin vào thực tiễn nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng lập ra Đảng cộng sản Việt Nam, lãnh đạo thành công cách mạng giải phóng dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Về giáo dục và TDTT, đặc biệt là TDTT trường học, Bác đã thể hiện quan điểm quan tâm sâu sát, Người coi đó là mục tiêu quan trọng trong sự nghiệp giáo dục chủ nghĩa cộng sản cho thế hệ thanh niên, học sinh (HS), sinh viên (SV) Giáo dục Thể chất cho thế hệ trẻ, ngày 31/01/1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 14, lập ra Nha Thể dục trung ương thuộc Bộ Thanh niên với nhiệm vụ: “ Liên lạc mật thiết với Bộ Y
tế và Bộ Giáo dục để nghiên cứu phương pháp và thực hành thể dục trong toàn quốc”, nhằm “ Tăng bổ sức khỏe quốc dân và cải tạo nòi giống Việt Nam.” [44] Tiếp ngay sau đó, ngày 27/03/1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành Sắc lệnh 33 thành lập Nha Thanh Niên và Thể dục thuộc Bộ Quốc gia
Giáo dục Đồng thời Bác cũng viết bài “sức khỏe và thể dục” (được đăng trên trang báo Cứu quốc số 119) để động viên trực tiếp đồng bào cả nước tập thể
dục Trong đó nêu rõ: “ Luyện tập thể dục bồi bổ sức khỏe là bổn phận của mỗi người dân yêu nước dân cường thì nước thịnh Tôi mong đồng bào ta
Trang 19ai cũng gắng tập thể dục” Lời kêu gọi này cũng là phương châm, là ánh sáng soi đường chỉ lối cho công tác TDTT cách mạng trong thời kỳ sơ khai
Duy trì và tăng cường thể chất của nòi giống Việt Nam, trước hết cho thế hệ trẻ, thông qua TDTT trường học là một biện pháp quan trọng, thiết thực mang lại sức khỏe cường tráng cho mọi người Vì vậy, rất nhiều lần Bác
đã khuyên bảo thiếu nhi và thanh niên, HS, SV, bộ đội hãy cố gắng tập luyện TDTT để cho thân thể khỏe mạnh Đối với thế hệ trẻ, Bác quan tâm sâu sắc đến việc bồi dưỡng và phát triển về mọi mặt Bác đã nói: “Thanh niên phải rèn luyện TDTT vì thanh niên là tương lai của đất nước” [16] Một khi thế hệ trẻ được giáo dục và chăm sóc chu đáo cả về thể chất và tinh thần thì họ sẽ phát triển lành mạnh, hoàn thiện, trở thành người năng động để xây dựng xã hội mới, kế tục sự nghiệp cách mạng của cha anh Nhân dịp trung thu ngày 15/9/1945 Bác đã gửi thư và căn dặn thiếu nhi cả nước: “Phải siêng tập thể thao cho mình mẩy được nở nang” [24]
Tư tưởng bao trùm của Bác Hồ trong việc đặt nền tảng xây dựng nền TDTT mới của nước ta là: Sự khẳng định có tính chất cách mạng của công tác TDTT là nhu cầu khách quan của một xã hội phát triển, là nghĩa vụ của mỗi người dân yêu nước Mục tiêu cao đẹp của TDTT là bảo vệ, tăng cường sức khỏe nhân dân, góp phần cải tạo nòi giống, làm cho dân cường nước thịnh Những ý tưởng đó được xuyên suốt trong các văn kiện, bài viết của Bác Cho đến tận ngày nay, tư tưởng của Bác vẫn giữ nguyên giá trị và luôn được Đảng, Nhà nước ta trân trọng, phát huy trên mọi lĩnh vực, gần đây nhất là cuộc vận động mọi tầng lớp nhân dân trong cả nước “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”
1.3 Lịch sử nghiên cứu của vấn đề
Theo Lê Văn Lẫm – Phạm Trọng Thanh, Giáo dục Thể chất ở nhà trường là biện pháp quan trọng để bồi dưỡng cho các em khả năng tự tập
Trang 20luyện lâu dài, hình thành thói quen tập luyện trong cuộc sống, làm khơi dậy lòng ham mê đối với TDTT, sự hiểu biết về TDTT, xem chúng như là một phương tiện để khám phá và phát triển nhân cách, nâng cao thể lực và trí lực, làm cho đời sống văn hóa và tinh thần ngày càng tốt đẹp hơn
GDTC góp phần giáo dục ý chí cho học sinh, xây dựng mối quan hệ giữa thầy và trò, tập thể và cá nhân, thậm chí giữa bố mẹ và con cái Thông qua việc GDTC để các em làm quen với thiên nhiên, cuộc sống bằng các hoạt động tập thể như cắm trại, du lịch, đi dã ngoại trong những kì nghỉ
Mặc dù có tầm quan trọng như vậy nhưng không có nghĩa là GDTC ở các nước đều thực hiện một cách triệt để, nghiêm túc và có chất lượng để đạt mục đích và nhiệm vụ đã đặt ra, trong đó có cả các nước phát triển Ở các nước như Bỉ, Hy Lạp, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, giờ học Thể dục ở Tiểu học hầu như không được thực hiện đều đặn Ở Pháp thì có 50% – 60% học sinh tiểu học không được tập luyện thể dục ở nhà trường Ở Mỹ chỉ có 36,4%
số trẻ em đi học các giờ thể dục hàng ngày Nguyên nhân chủ yếu là do thiếu giáo viên có trình độ sư phạm và chuyên môn, các điều kiện đáp ứng yêu cầu
về năng khiếu học sinh, cơ sở vật chất [15]
Ngoài ra trong những năm gần đây có một số đề tài nghiên cứu khoa học của các nghiên cứu sinh và học viên cao học về lĩnh vực GDTC và các lĩnh vực có liên quan cũng đã đi sâu vào một số chuyên đề sau:
Tác giả Huỳnh Trọng Khải: Nghiên cứu sự phát triển thể chất của học sinh nữ tiểu học (từ 7 – 11 tuổi) ở Thành phố Hồ Chí Minh (Luận án tiến sĩ giáo dục - 2001)
Tác giả Lê Duy Khánh: Nghiên cứu thực trạng sức khỏe của học sinh Tiểu học tỉnh Bến Tre lứa tuổi 6 đến 12 (Luận văn cao học - 1998)
Trang 21Tác giả Trương Công Quang: Nghiên cứu sự phát triển hình thái – thể lực của nữ học sinh lứa tuổi 8 – 9 – 10 tập luyện theo chương trình nội khóa ở Thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn cao học - 1999)
Tác giả Nguyễn Văn Tri: Nghiên cứu ứng dụng chương trình thể dục thực nghiệm lớp 3 và lớp 4 dạy học sinh mù trong các trường dạy trẻ khuyết tật (Luận văn cao học - 1999)
Tác giả Nguyễn Ngọc Kiên: Giáo dục Thể chất cho học sinh lớp 5 thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (Luận văn cao học – 2010)
Tác giả Lê Thị Quyền: Một số biện pháp tổ chức hoạt động dạy học môn Toán theo chẩn kiến thức, kỹ năng ở các trường Tiểu học trên địa bàn Thành phố Vinh – Tỉnh Nghệ An (Luận văn cao học - 2010)
Tác giả Nguyễn Thị Sâm: Một số biện pháp hình thành và phát triển
kỹ năng tự học môn Toán cho học sinh cuối cấp Tiếu học ( Luận văn cao học
giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân, có tư cách pháp nhân, có
tài khoản và con dấu riêng
1.4.1.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của trường Tiểu học Điều 3: Điều lệ trường Tiểu học ghi rõ
+ Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục theo mục tiêu, chương trình giáo dục Tiểu học do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
+ Huy động trẻ em đúng độ tuổi, vận động trẻ em tàn tật, trẻ em đã bỏ học đến trường, thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục và chống mù chữ trong cộng
Trang 22đồng Nhận bảo trợ và quản lý các hoạt động giáo dục của các cơ sở giáo dục khác, thực hiện chương trình giáo dục Tiểu học theo sự phân công của cấp có thẩm quyền Tổ chức kiểm tra và công nhận hoàn thành chương trình Tiểu học của học sinh trong nhà trường và trẻ em trong địa bàn quản lý của trường
+ Quản lý giáo viên, nhân viên và học sinh
+ Quản lý sử dụng đất đai, cơ sở vật chất, trang thiết bị và tài chính theo quy định của pháp luật
+ Phối hợp với gia đình, các tổ chức và cá nhân trong cộng đồng thực hiện hoạt động giáo dục
+ Tổ chức cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh tham gia các hoạt động xã hội trong cộng đồng
+ Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật
- Nắm vững các văn bản quản lý giáo dục cơ bản phục vụ cho quản lý quá trình dạy học : Luật giáo dục, Luật phổ cập giáo dục Tiểu học, Mục tiêu, Kế hoạch đào tạo trường Tiểu học, Điều lệ trường Tiểu học và những văn bản pháp quy khác phục vụ cho chỉ đạo chuyên môn ở trường Tiểu học
1.4.1.3 Chương trình giáo dục, kế hoạch dạy học Theo Điều 27: Điều lệ trường Tiểu học:
+ Trường Tiểu học thực hiện chương trình Giáo dục, kế hoạch dạy học
do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành; thực hiện kế hoạch thời gian năm học theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo và phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương
+ Căn cứ vào kế hoạch dạy học và kế hoạch thời gian năm học, nhà trường cụ thể hoá các hoạt động giáo dục và giảng dạy, xây dựng thời khoá
Trang 23biểu phù hợp với tâm lý, sinh lý lứa tuổi học sinh và điều kiện của địa
phương
1.4.2 Hoạt động dạy học và tổ chức hoạt động dạy học ở Tiểu học
1.4.2.1 hái niệm dạy học và quá trình dạy học
* hái niệm dạy học:
Dạy học là một phạm trù mang thuộc tính xã hội, nó xuất hiện ngay từ buổi sơ khai khi con người muốn truyền thụ những kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo cho nhau Dần dần, những kỹ năng, kỹ xảo ấy được tập hợp thành hệ thống tri thức và được tổ chức như một hoạt động giáo dục chuyên biệt, có mục tiêu và
có tính chuyên môn hoá cao, diễn ra trong trường, lớp, có người dạy và có người học đặt dưới tác động của quản lý giáo dục
Dạy học là một hoạt động thống nhất hữu cơ của dạy và học Nói tổng quát thì dạy không phải là dạy riêng lẻ của mỗi cá nhân giáo viên và học cũng không phải là hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân học sinh Mỗi thầy giáo là một chủ thể dạy, thực hiện chức năng tổ chức, định hướng hoạt động học và truyền thụ kinh nghiệm xã hội; còn học là hoạt động của mỗi học sinh nhằm lĩnh hội kinh nghiệm xã hội Sự thống nhất của hai hoạt động mang tính xã hội này tổ chức nên những hệ thống, những quan hệ dạy học và đảm bảo tính toàn vẹn của việc dạy học
Hoạt động dạy học là một hoạt động cơ bản của trường phổ thông nói chung và trường Tiểu học nói riêng Theo tác giả Võ Quang Phúc “ Dạy học là
hệ thống tác động qua lại lẫn nhau giữa nhiều nhân tố nhằm mục đích trang bị kiến thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo tương ứng và rèn luyện đạo đức cho người công dân Chính những nhân tố hợp thành hoạt động này cùng với hệ thống tác động qua lại lẫn nhau giữa chúng mà làm cho việc dạy học thật sự tồn tại như một thực thể toàn vẹn thống nhất nhau”.[46]
Trang 24Theo tác giả Thái Văn Thành và Chu Thị Lục thì “ Dạy học là một bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể, là quá trình tác động qua lại giữa giáo viên
và học sinh nhằm truyền thụ và lĩnh hội những tri thức khoa học, những kỹ năng,
kỹ xảo hoạt động nhận thức và thực tiễn, trên cơ sở đó phát triển năng lực tư duy
và hình thành thế giới quan khoa học”.[36]
Hoạt động dạy của giáo viên Tiểu học là loại hình hoạt động chuyên biệt,
là hoạt động được định hướng và tuân theo quy luật học của học sinh Hoạt động dạy của giáo viên có đối tượng là học sinh, là hoạt động lĩnh hội và hành động ứng xử của học sinh Vì vậy, giáo viên Tiểu học cần có vai trò chủ đạo, có vị trí then chốt trong nhà trường
Hoạt động học, theo tâm lý học hiện đại lần đầu tiên xuất hiện và hình thành nhờ phương pháp nhà trường Tròn 6 tuổi, trẻ em vào học lớp 1, bằng hoạt động học trẻ em sẽ có những biến đổi tâm lý căn bản (trí tuệ, năng lực, động cơ, hứng thú ) Từ những năm 1960 trở lại đây, hoạt động học của học sinh Tiểu học đã trở thành một trong những đối tượng nghiên cứu được quan tâm hàng đầu của các nhà tâm lý học lứa tuổi và sư phạm mà tiêu biểu là Elconin, Đavưđôp, Hồ Ngọc Đại…Họ đều khẳng định rằng hoạt động học là hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi học sinh Tiểu học Vai trò chủ đạo của hoạt động học của học sinh Tiểu học ở lứa tuổi này được xem xét từ các khía cạnh sau (Nguyễn Bá Minh, Nguyễn Thị Mỹ Trinh, Tâm lý học lứa tuổi và sư phạm, NXB Giáo dục Hà Nội, 2008):
- Hoạt động học của học sinh Tiểu học có đối tượng lần đầu tiên xuất hiện trong tiến trình phát triển của trẻ em, được tổ chức đặc biệt Đối tượng của hoạt động học là hệ thống các khái niệm khoa học và những kỹ năng kỹ xảo tương ứng
- Tiền đề, cơ sở của hoạt động học của học sinh Tiểu học được nảy sinh trong lòng hoạt động vui chơi
Trang 25- Sự phát triển của hoạt động học của học sinh Tiểu học quy định sự phát triển những cấu trúc tâm lý đặc trưng cho lứa tuổi học sinh Tiểu học: Hành động trí óc; tư duy lý luận; thái độ khoa học trong nhận thức, trong lao động, trong quan hệ xã hội; tính kế hoạch, tính chủ định, tính kỷ luật trong hành vi; khả năng tự kiểm tra hành vi…
Trong hoạt động dạy học, Giáo viên tổ chức cho học sinh Tiểu học tác động trên đối tượng (khái niệm khoa học, những chuẩn mực của đời sống xã hội đương thời), có thể nói đối tượng hoạt động của học sinh Tiểu học là nhóm đối tượng trong đời sống hiện thực với những thành tựu vật chất và tinh thần, với những quan hệ kinh tế, xã hội của xã hội đương thời Nhà trường là nơi diễn ra cuộc sống thực của trẻ em và bằng cách tổ chức hoạt động trên những đối tượng ấy, tâm lý của học sinh Tiểu học được phát triển Lần đầu đến trường, bằng hoạt động của mình được tổ chức theo phương pháp nhà trường, học sinh nắm lấy những mối liên hệ xuất phát của các môn khoa học
* Quá trình dạy học Tiểu học Quá trình dạy học Tiểu học là quá trình hoạt động tương tác và thống nhất giữa giáo viên và học sinh, trong đó dưới tác động chủ đạo (tổ chức, điều khiển) của giáo viên, học sinh chủ động tự giác, tích cực thực hiện các nhiệm vụ học
Quá trình dạy học Tiểu học là một hệ thống bao gồm các thành tố cấu trúc như: mục đích, nhiệm vụ dạy học, nội dung dạy học, phương pháp, phương tiện dạy học, hình thức tổ chức dạy học, giáo viên, học sinh, kết quả dạy học Các thành tố này giữ vai trò khác nhau nhưng chính nó có mối quan hệ, tác động qua lại lẫn nhau và chịu sự chi phối mạnh mẽ của môi trường Kinh tế - Xã hội, Khoa học và Công nghệ
Vì vậy, quản lý quá trình dạy học là một hệ thống cân bằng động gồm nhiều thành tố tác động qua lại lẫn nhau, chế ước lẫn nhau với đời sống xã hội
Hoạt động dạy học
Trang 26theo những quy luật và nguyên tắc nhất định, nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học [40]
Sơ đồ 1.1 : Sơ đồ “Tiếp cận hệ thống quản lý quá trình dạy học”
- Trên cơ sở các nhân tố cấu trúc của quá trình dạy học, sơ đồ “Tiếp cận
hệ thống quản lý quá trình dạy học” sẽ giúp chúng ta hiểu được quản lý hoạt động dạy học là làm cho hệ thống các thành tố: mục đích, nội dung, phương pháp, hình thức dạy học, phương tiện dạy học… vận động và kết hợp chặt chẽ với nhau Thông qua hoạt động dạy của GV và hoạt động học của học sinh, nhằm biến trình độ ban đầu của HS (đầu vào) thành sản phẩm (đầu ra) dạy học
- Dạy học trên cơ sở chuẩn KTKN sẽ góp phần đảm bảo tính thống nhất, tính khả thi của chương trình Tiểu học, đảm bảo chất lượng và hiệu quả của quá trình giáo dục Tiểu học
1.4.2.3 i dung kế hoạch dạy học Tiểu học
Giáo dục Tiểu học phải bảo đảm cho học sinh có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người; có kỹ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết
và tính toán; có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh; có hiểu biết ban đầu về Âm nhạc, Mỹ thuật…
Trang 27Bảng 1.1: Kế hoạch giáo dục Tiểu học: (tiết/tuần)
Môn học và hoạt động giáo dục Lớp1 Lớp2 Lớp3 Lớp4 Lớp5
- Ở Tiểu học, thời lượng mỗi năm học học ít nhất là 35 tuần Đối với các trường, lớp dạy học 5 buổi/tuần, mỗi buổi học không quá 4 giờ (240 phút); các trường, lớp dạy học 2 buổi/ngày hoặc nhiều hơn 5 buổi/tuần, mỗi ngày học không quá 7 giờ (420 phút) Mỗi tiết học trung bình 35 phút Giữa các tiết có thời gian nghỉ ngơi, tập thể dục Tất cả các trường, lớp thực hiện kế hoạch giáo dục này
Mỗi tuần có ít nhất 2 tiết hoạt động tập thể, sinh hoạt lớp, Sao Nhi đồng, Đội Thiếu niên và sinh hoạt toàn trường
Trang 28- Bắt đầu từ lớp 1, đối với những trường dạy tiếng dân tộc có thể dùng thời lượng tự chọn để dạy học tiếng dân tộc Bắt đầu từ lớp 3, thời lượng tự chọn dùng để dạy học các môn tự chọn: Ngoại ngữ, Tin học Học sinh có thể chọn hoặc không chọn học các nội dung và hai môn học nêu trên
- Các trường, lớp dạy học 2 buổi/ngày hoặc nhiều hơn 5 buổi/tuần phải có đầy đủ điều kiện về giáo viên, cơ sở vật chất, được sự thỏa thuận của gia đình học sinh, có thể tổ chức dạy học Ngoại ngữ, Tin học
- Việc áp dụng kế hoạch giáo dục này cho các vùng miền, các trường chuyên biệt, các trường, lớp học 2 buổi/ngày, các trường, lớp học nhiều hơn 5 buổi/tuần thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Hiệu trưởng trường Tiểu học tổ chức lập kế hoạch dạy học hằng tuần căn cứ vào kế hoạch giáo dục và chương trình các môn học, đặc điểm của nhà trường và của địa phương
1.4.2.4 hương pháp và hình thức t chức dạy học Tiểu học
* hương pháp dạy học
Điều 28 Luật Giáo dục (2005) ghi rõ “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.”
- Phương pháp giáo dục Tiểu học phải phát huy được tính tích cực, tự giác, sáng tạo của học sinh; phù hợp với những đặc trưng môn học, hoạt động giáo dục, đặc điểm đối tượng học sinh và điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh
Trang 29Sách giáo khoa và phương tiện dạy học phải đáp ứng yêu cầu của phương pháp giáo dục Tiểu học
* ình thức t chức dạy học
- Hình thức tổ chức giáo dục Tiểu học bao gồm các hình thức tổ chức dạy học và hoạt động giáo dục trên lớp, trong và ngoài nhà trường Các hình thức tổ chức giáo dục phải bảo đảm cân đối, hài hòa giữa dạy học các môn học và hoạt động giáo dục; giữa dạy học trên lớp, nhóm và cá nhân; bảo đảm chất lượng giáo dục chung cho mọi đối tượng và tạo điều kiện phát triển năng lực cá nhân của học sinh
Để đảm bảo quyền học tập và học tập có chất lượng cho mọi trẻ em, có thể tổ chức dạy học và hoạt động giáo dục theo lớp ghép, lớp học hòa nhập
- Giáo viên chủ động lựa chọn, vận dụng các phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục sao cho phù hợp với nội dung, từng đối tượng học sinh và điều kiện cụ thể [19]
- Có thể có nhiều phương pháp và hình thức dạy học để chuyển tải cùng một nội dung dạy học Tuy nhiên người dạy phải lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức sao cho phù hợp với đối tượng Việc tìm hiểu rõ đối tượng để lựa chọn hình thức và phương pháp dạy học là yếu tố quan trọng để tạo nên hiệu quả của phương pháp dạy học Do đó, để chọn lựa hình thức dạy học đạt hiệu quả, người dạy cần chú ý :
- Tổ chức các hình thức đa dạng và phong phú
Nhằm giúp học sinh lĩnh hội kiến thức và hình thành kỹ năng Điều này
có nghĩa là phải tổ chức cho học sinh hoạt động một cách tích cực, học sinh là người tham gia các hoạt động ấy, các em tự tìm tòi, khám phá dưới sự hướng dẫn của giáo viên Ví dụ: học sinh phải trao đổi, thảo luận để giải quyết nhiệm
Trang 30vụ , học sinh được đóng vai, được tham gia vào trò chơi học tập, đóng kịch diễn xuất Giáo viên chú ý cho học sinh nhiều cơ hội thực hành, thực tập, được thể hiện, được phát biểu trên lớp
- Tổ chức các hoạt động phát triển khả năng tự học của học sinh
Giáo viên phải tổ chức hình thành ở học sinh cách tự học, cách quan sát hiện tượng xung quanh Tự học là kỹ năng quan trọng nhất cần hình thành ở người học Nếu học sinh không có kỹ năng này thì việc học tập gặp rất nhiều khó khăn, và học sinh rất ít có khả năng sáng tạo sau này Phần lớn những kiến thức
và kinh nghiệm có được trong cuộc đời nhờ vào việc tự học
Tóm lại, chương trình Tiểu học cần chú trọng việc đổi mới hình thức tổ chức dạy học sao cho phát huy tính tích cực của học sinh như: Phối hợp giữa dạy học cá nhân, dạy học theo nhóm nhỏ, dạy học cả lớp, dạy học ở hiện trường (ở
cơ sở sản xuất, bảo tàng địa phương, ở vườn trường ), dạy học có sử dụng trò chơi một cách hợp lý
1.4.2.5 Đánh giá kết qu học t p của học sinh Tiểu học
Đánh giá kết quả học tập của học sinh Tiểu học là quá trình hình thành những nhận định, rút ra những kết luận hoặc phán đoán về phẩm chất, hành vi, lối sống (hạnh kiểm) và năng lực học tập các môn học, các hoạt động giáo dục (học lực) của học sinh
Sơ đồ 1.2: Sơ đồ di n gi i kết qu học t p c n đánh giá Tiểu học:
Trang 31Theo sơ đồ trên, học lực bao gồm ba thành tố: Kiến thức, kỹ năng và thái
độ được học sinh thể hiện qua việc học tập các môn học Căn cứ vào chương trình mỗi môn học, các chuẩn KTKN và thái độ được xác lập Hệ thống chuẩn KTKNvà thái độ ở một môn học được xem là trình độ chuẩn tối thiểu mà mỗi học sinh cần đạt sau khi học môn học đó Hệ thống chuẩn là căn cứ để giáo viên xây dựng hay lựa chọn các công cụ kiểm tra và đánh giá học sinh
Hạnh kiểm là những phẩm chất đạo đức được thể hiện trong việc làm và hành vi ứng xử của học sinh đối với mọi người Các việc làm và hành vi ứng xử
ấy được cụ thể hoá qua bốn nhiệm vụ của học sinh trong Điều lệ nhà trường Tiểu học Với ý nghĩa là phẩm chất đạo đức, hạnh kiểm có liên quan mật thiết đến thái độ, một trong ba thành tố của học lực Do vậy giáo viên cần nhận ra mối quan hệ biện chứng giữa hạnh kiểm và thái độ để có thể đưa ra những nhận xét
cụ thể và toàn diện về phẩm chất, nhân cách của học sinh
1.4.3 Chuẩn iến thức ỹ năng ở Tiểu học
Theo Tài liệu hướng dẫn thực hiện Chuẩn KTKN – B GD & ĐT,
tháng 03 năm 2009, chúng tôi có được:
1.4.3.1 Khái niệm chuẩn
Trang 32- Chuẩn là những yêu cầu, tiêu chí tuân thủ theo những nguyên tắc
nhất định được dùng để làm thước đo đánh giá hoạt động, công việc, sản phẩm thuộc lĩnh vực nào đó
- Yêu cầu của Chuẩn là sự cụ thể hóa, chi tiết Chuẩn chỉ ra những căn
cứ để đánh giá chất lượng Yêu cầu có thể được đo thông qua chỉ số thực hiện
Những yêu cầu cơ bản của Chuẩn:
a Chuẩn phải có tính khách quan, không lệ thuộc vào quan điểm hay thái độ chủ quan của người sử dụng Chuẩn
b Chuẩn phải có hiệu lực ổn định về phạm vi lẫn thời gian áp dụng
c Đảm bảo tính khả thi, có nghĩa là Chuẩn đó có thể thực hiện được
d Đảm bảo có tính cụ thể, tường minh và có tính định lượng
e Đảm bảo không mâu thuẫn với các chuẩn khác trong cùng lĩnh vực hoặc những lĩnh vực có liên quan
- Chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục (gọi tắt là Chuẩn)
Là mức độ yêu cầu và điều kiện mà đối tượng giáo dục được đánh giá phải đáp ứng để được công nhận đạt chất lượng tiêu chuẩn giáo dục Chuẩn bao gồm các tiêu chuẩn và các tiêu chí
Đối tượng được đánh giá chất lượng giáo dục chủ yếu là: Chương trình, sách giáo khoa(SGK), giáo trình, tài liệu, cơ sở giáo dục, cán bộ quản lý (CBQL), giáo viên (GV), học sinh (HS)
1.4.3.2 Khái niệm chuẩn kiến thức, kỹ năng
Chuẩn KTKN các môn học cấp Tiểu học đã được quy định tại Chương trình giáo dục phổ thông (Quyết định 16/2006/QĐ-BGD ĐT ngày 5/5/2006): Chuẩn KTKN là các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về KTKN của môn học, hoạt động giáo dục mà HS cần phải và có thể đạt được sau từng giai đoạn học
Trang 33tập Chuẩn KTKN là căn cứ để biên soạn SGK, quản lý dạy học, đánh giá kết quả giáo dục (GD) ở từng môn học, hoạt động giáo dục nhằm bảo đảm chất lượng và hiệu quả của quá trình GD
Chuẩn KTKN :
* Là cơ sở pháp lý cho công tác chỉ đạo, quản lý, dạy học
* Là mức độ cần đạt để GV thực hiện dạy học đảm bảo những yêu cầu
cơ bản, tối thiểu của chương trình giáo dục cấp Tiểu học;
* Thực hiện dạy học phù hợp với các đối tượng, tạo cơ hội cho GV chủ động, linh hoạt trong dạy học, từng bước thực hiện chất lượng giáo dục và bình đẳng trong phát triển năng lực của mỗi HS
Chuẩn KTKN nhằm đáp ứng sự chuẩn hoá trong chỉ đạo, thực hiện và đánh giá kết quả một chương trình giáo dục Vì vậy, nội dung của chuẩn KTKN phải phản ánh đúng và đầy đủ những nội dung cơ bản nhất, quan trọng nhất, cần thiết của chương trình giáo dục; đảm bảo cho mọi HS bình thường thực hiện đúng yêu cầu của nhà trường đều có thể đạt hoặc vượt chuẩn Chuẩn KTKN phải cụ thể và chuẩn xác, dễ sử dụng, dễ kiểm soát, không tạo
ra những cách hiểu khác nhau trong sử dụng Chuẩn KTKN là cơ sở quan trọng để biên soạn tài liệu dạy học, xây dựng ngân hàng đề kiểm tra, kiểm định và đánh giá chất lượng giáo dục, đặc biệt là kiểm tra kết quả giáo dục
HS
- Chuẩn KTKN thường tồn tại ở những dạng sau:
- Chuẩn KTKN của từng môn học
- Chuẩn KTKN của từng lĩnh vực giáo dục (gồm một nhóm các môn
học có nhiều quan hệ với nhau)
- Chuẩn KTKN của một cấp, bậc học (bao gồm chuẩn chung của
chương trình tất cả các môn học và hoạt động giáo dục) Ở dạng này có thể
Trang 34nêu đầy đủ những chuẩn mực về KTKN, thái độ của một chương trình giáo
dục
Có thể xây dựng chuẩn KTKN theo một, hai hoặc cả ba dạng trên
b) Các mức độ thực hiện Chuẩn KTKN
- Các mức đ về kiến thức: yêu cầu HS phải nhớ, nắm vững, hiểu rõ các
kiến thức cơ bản trong Chương trình, SGK, đó là nền tảng vững chắc để có
thể phát triển năng lực nhận thức ở cấp cao hơn
Có 6 mức độ là: Nhận biết, Thông hiểu, Vận dụng, Phân tích, Đánh giá
và Sáng tạo
+ Nhận biết: Là sự nhớ lại các dữ liệu, thông tin đã có trước đây; nghĩa
là có thể nhận biết thông tin, ghi nhớ, tái hiện thông tin, nhắc lại một loạt dữ liệu từ các dữ liệu đơn giản đến các lý thuyết phức tạp
+ Thông hiểu: Là các khả năng nắm được, hiểu được ý nghĩa các khái niệm, hiện tượng, sự vật; giải thích được, chứng minh được
+ Vận dụng: Là khả năng sử dụng các kiến thức đã học vào một hoàn cảnh cụ thể mới: Vận dụng nhận biết, hiểu biết thông tin để giải quyết vấn đề đặt ra; là khả năng đòi hỏi HS phải vận dụng kiến thức, biết sử dụng phương pháp, nguyên lý hay ý tưởng để giải quyết một vấn đề nào đó
+ Phân tích: Là khả năng phân chia một thông tin ra thành các thông tin nhỏ sao cho có thể hiểu được cấu trúc, tổ chức của nó và thiết lập mối liên hệ phụ thuộc giữa chúng
+ Đánh giá: Là khả năng xác định giá trị thông tin, bình xét, nhận định, xác định được giá trị của một tư tưởng, một nội dung kiến thức, một phương pháp
+ Sáng tạo: Là khả năng tổng hợp, sắp xếp, thiết kế lại thông tin, khai thác, bổ sung thông tin từ các nguồn tư liệu khác để sáng lập một hình mẫu mới
Trang 35Tuy nhiên trong chương trình giáo dục phổ thông, chủ yếu đề cập đến 3 mức độ đầu, các mức độ còn lại chú trọng phát huy năng khiếu, sở trường, năng lực sáng tạo của HS
- Các mức đ về kỹ năng: Biết vận dụng các kiến thức đã học để trả lời
các câu hỏi, giải bài tập, làm thực hành, có kỹ năng tính toán, vẽ hình, dựng biểu đồ
Thông thường kỹ năng được xác định theo 3 mức độ:
c) Hướng dẫn thực hiện Chuẩn KTKN
c1 Y u c u c n đạt bài t p c n làm
Đối với từng bài học trong SGK, cần quan tâm tới yêu cầu cơ b n, tối
thiểu mà tất cả HS cần phải đạt được sau khi học xong bài học đó Quá trình
tích luỹ được qua y u c u c n đạt ở mỗi bài học cũng chính là quá trình bảo
đảm cho HS đạt chuẩn KTKN theo từng chủ đề, từng lớp và toàn cấp Tiểu học
Để thực hiện được y u c u c n đạt của mỗi bài học, phải thực hiện các
bài t p c n làm trong số các bài tập thực hành, luyện tập của bài học trong
SGK Bài tập cần làm là các bài tập cơ bản, thiết yếu phải hoàn thành đối với
HS trong mỗi giờ học Các bài t p c n làm này đã được lựa chọn đảm bảo
tính sư phạm, tính khả thi, tính đặc thù của môn học
Như vậy, thực hiện đầy đủ các bài t p c n àm là đáp ứng yêu c u c n đạt của mỗi bài học, góp phần thực hiện chuẩn KTKN của mỗi chủ đề (mức
Trang 36độ c n đạt), góp phần thực hiện Chuẩn KTKN mỗi môn học; góp phần thực
hiện Chuẩn KTKN của chương trình Tiểu học
Trong quá trình chuẩn bị và dạy học, GV phải nắm được y u c u c n
đạt và các bài t p c n hoàn thành của mỗi bài học để bảo đảm mọi đối tượng
S đều đạt chuẩn KTKN của chương trình môn Thể dục theo từng chủ đề,
từng lớp và toàn cấp Tiểu học
Sơ đồ 1.3: Sơ đồ hướng dẫn thực hiện chuẩn KTKN
Dạy học theo Chuẩn KTKN qua một số bài cụ thể đối với môn Thể dục
ở mỗi lớp được trình bày trong tài liệu Hướng dẫn thực hiện Chuẩn KTKN môn Thể dục
c2 Mục ti u -Y u c u c n đạt
Kế hoạch bài dạy trong Sách giáo viên (SGV) được biên soạn theo chương trình chung do Bộ GD quy định nên mục tiêu trong SGV thích hợp cho vùng thuận lợi, vùng phát triển Đối với vùng khó khăn, cần biên soạn lại mục tiêu cho thích hợp
Dù thế nào đi nữa thì tất cả học sinh phải làm được tất cả các bài t p
c n àm
Có thể là mục tiêu của Kế hoạch bài học
Tất cả học sinh làm được
Trang 37d) Tài liệu Hướng dẫn thực hiện chuẩn KTKN - Sách giáo khoa - Công văn số 9832/BGDĐT- GDTH ngày 01/9/2006 (HD thực hiện chương trình các lớp 1-2-3-4-5 ở Tiểu học)
d1 Tài liệu ướng dẫn thực hiện chuẩn T và Sách giáo khoa
- Hầu hết các bài trong SGK được hướng dẫn trong tài liệu Hướng dẫn thực hiện Chuẩn KTKN
- Một ít bài luyện tập trong SGK được hướng dẫn gộp lại từ 3 bài t hành
2 bài
d2 Tài liệu ướng dẫn thực hiện chuẩn T và c ng văn số
9832/BGDĐT- GDT ngày 01/9/2006 ( D thực hiện chương trình các lớp 1-2-3-4-5 Tiểu học)
- Công văn 9832 yêu cầu nội dung trong từng tuần học
- Tài liệu Hướng dẫn thực hiện chuẩn KTKN nêu Yêu cầu cần đạt, bài tập cần làm của từng bài
Nếu có “độ vênh” giữa 2 loại tài liệu này thì GV vận dụng thích hợp vào lớp của mình
1.4.4 Giáo dục Thể chất
1.4.4.1 Khái niệm về Giáo dục Thể chất
GDTC là một loại hình giáo dục nên nó là một quá trình giáo dục có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch để truyền thụ những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo từ thế hệ này cho thế hệ khác Điều đó có nghĩa là GDTC cũng như các loại hình giáo dục khác là quá trình sư phạm với đầy đủ các đặc điểm của nó (vai trò chủ đạo của nhà sư phạm, tổ chức hoạt động của nhà sư phạm phù hợp với học sinh, với nguyên tắc sư phạm )
GDTC là một hình thức giáo dục nhằm trang bị kỹ năng kỹ xảo vận động và những tri thức chuyên môn (giáo dưỡng), phát triển tố chất thể lực, tăng cường sức khỏe (Giáo dục Tố chất thể lực)
Trang 38Như vậy GDTC có thể chia thành hai mặt tương đối độc lập: dạy học động tác (giáo dưỡng thể chất) và giáo dục tố chất thể lực
- Dạy học động tác là nội dung cơ bản của giáo dưỡng thể chất Đó là quá trình trang bị kỹ năng, kỹ xảo vận động cơ bản, cần thiết cho cuộc sống
và những tri thức chuyên môn
- Bản chất của thành phần thứ hai trong GDTC là tác động hợp lý tới sự phát triển tố chất vận động đảm bảo phát triển các năng lực vận động (nhanh, mạnh, bền, khéo léo, mềm dẻo, )
Như vậy GDTC là một loại giáo dục có nội dung đặc trưng là dạy học động tác và giáo dục tố chất vận động của con người Việc dạy học động tác
và phát triển tố chất thể lực có liên quan chặt chẽ, làm tiền đề cho nhau thậm chí có thể “chuyển” lẫn nhau Nhưng chúng không bao giờ đồng nhất, giữa chúng có quan hệ khác biệt trong các giai đoạn phát triển thể chất và GDTC khác nhau
Trong hệ thống giáo dục, nội dung đặc trưng của GDTC được gắn liền với trí dục, đức dục, mỹ dục và giáo dục lao động
1.4.4.2 Các nhiệm vụ của Giáo dục Thể chất
- Nhóm nhiệm vụ GDTC theo nghĩa hẹp:
Cũng cố và tăng cường sức khỏe, phát triển toàn diện cân đối hình thái chức năng cơ thể, phát triển tố chất vận động và khả năng hoạt động thể lực của con người
Nhóm nhiệm vụ này đảm bảo phát triển toàn diện các tố chất vận động
và năng lực thể chất nói chung, hoàn thiện thể hình, củng cố sức khỏe, phát triển duy trì lâu dài khả năng vận động và thể lực chung Trên cơ sở giáo dục các tố chất vận động có thể giải quyết được những nhiệm vụ nhất định về hoàn thiện hình thái cơ thể Đây là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, bởi vì hoàn thiện hình thái cơ thể cũng có ảnh hưởng đến hoàn thiện chức năng
Trang 39- Nhóm nhiệm vụ Giáo dưỡng Thể chất:
Hình thành và hoàn thiện kỹ năng, kỹ xảo vận động quan trọng trong cuộc sống, kể cả kỹ năng, kỹ xảo thực dụng thể thao và trang bị những kiến thức chuyên môn
Chúng ta biết rằng nếu có trình độ chuẩn bị thể lực mà chỉ phát triển tố chất thể lực thì chưa đủ Mặt khác, khả năng vận động của con người được bộc lộ trong các kỹ năng, kỹ xảo vận động Vì vậy nhiệm vụ giáo dưỡng thể chất phải được đặt ra
Trong quá trình GDTC nhiều năm, nội dung cụ thể của giáo dưỡng ở các giai đoạn khác nhau phụ thuộc vào đặc điểm tâm sinh lý theo lứa tuổi, vào kinh nghiệm vận động mà con người tiếp thu được, vào năng khiếu cá nhân, vào đặc điểm của hoạt động và nhiều nhân tố khác
- Nhiệm vụ giáo dục theo nghĩa rộng:
Giáo dục đạo đức, ý chí góp phần xây dựng con người phát triển toàn diện
Giáo dục đạo đức dường như xuyên suốt thực tiễn của quá trình giáo dục nói chung cũng như quá trình GDTC nói riêng Bởi vì hiệu quả cuối cùng của bất kỳ mặt giáo dục nào cũng phụ thuộc vào việc giải quyết nhiệm vụ hình thành lý tưởng, tiêu chuẩn đạo đức và thói quen đạo đức
Việc tách riêng nhiệm vụ trên chỉ là tương đối, trên thực tế của quá trình GDTC bao giờ người ta cũng tiến hành giải quyết đồng thời các nhiệm vụ (như: giáo dục đạo đức, ý chí, thẩm mỹ và trí tuệ, giáo dưỡng thể chất với các
tố chất thể lực).[25]
1.4.5 Môn Thể dục
1.4.5.1 Khái niệm về môn Thể dục
Môn Thể dục hay còn được gọi là Giáo dục Thể dục thể thao là một quá trình giáo dục nhằm hoàn thiện về mặt thể chất và chức năng của cơ thể con
Trang 40người, trên cơ sở hình thành và cũng cố những kỹ năng và kỹ xảo vận động
cơ bản trong đời sống, cùng những hiểu biết có liên quan đến kỹ năng kỹ, xảo đó.[30]
1.4.5.2 Thể dục
Thể dục là hệ thống tác động tập luyện được xếp thành các bài tập nhằm giúp cho sự phát triển hài hòa của cơ thể, tăng cường và giữ gìn sức khỏe.[42]
Chuẩn KTKN được xác định cụ thể như sau:
1.5.1 Mục tiêu dạy học theo Chuẩn KTKN môn Thể dục lớp 5
Chương trình môn Thể dục lớp 5 giúp học sinh củng cố, phát triển những kết quả đã học tập được ở lớp 1 – 4 và hoàn thành mục tiêu môn học ở Tiểu học là:
- Biết được một số kiến thức, kĩ năng vận động để tập luyện giữ gìn sức khỏe, nâng cao thể lực
- Rèn luyện tác phong nhanh nhẹn, kỉ luật, thói quen tự giác tập luyện TDTT, giữ gìn vệ sinh và nếp sống lành mạnh
- Biết vận dụng ở mức nhất định những điều đã học vào nếp sinh hoạt ở trường và ngoài nhà trường
1.5.2 Nội dung dạy học theo Chuẩn KTKN môn Thể dục lớp 5