1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động dạy học ở các trường trung học phổ thông thị xã thái hòa tỉnh nghệ an

104 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động dạy học ở các trường trung học phổ thông thị xã Thái Hòa tỉnh Nghệ An
Người hướng dẫn Thầy Phạm Văn A
Trường học Trường Trung Học Phổ Thông Thái Hòa, Nghệ An
Chuyên ngành Quản lý hoạt động dạy học
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 919,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặt khác, thực trạng chất lượng đội ngũ GV ở các trường THPT trên địa bàn thị xã Thái Hoà hiện nay còn nhiều bất cập: năng lực chuyên môn, năng lực sư phạm của một bộ phận GV chưa đáp ứ

Trang 1

Thế kỉ XXI, thế kỷ của khoa học công nghệ - động lực, tri thức và thông tin trở thành yếu tố hàng đầu và là nguồn tài nguyên có giá trị nhất Xu hướng chung hiện nay trên thế giới, kể cả các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển đều coi Giáo dục và Đào tạo là nhân tố quyết định sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi quốc gia

Xác định tầm quan trọng của Giáo dục và Đào tạo đối với sự nghiệp phát triển đất nước, trong Nghị quyết Đại hội khoá VII, khoá VIII của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã xác định rõ: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế- xã hội” Mục tiêu của ngành giáo dục là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI tiếp tục khẳng định:

"Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; Đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư cho phát triển"; đồng thời

đề ra nhiệm vụ "Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội; nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hoá, và hội nhập quốc tế, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời"

Nền giáo dục Việt Nam hơn 60 năm qua đã trưởng thành và thu được những thành tựu to lớn Sự nghiệp đổi mới giáo dục trong những năm gần đây đã tập trung mọi cố gắng vào đổi mới chương trình và sách giáo khoa, đổi mới phương pháp giảng dạy Đây có thể được coi là một cuộc "cách mạng" từ quan niệm, nhận thức,

tư duy đến hành động Đặc biệt trong sự nghiệp đổi mới, giáo dục phổ thông đã có những bước tiến và đáp ứng tốt hơn nhu cầu phát triển của một nền kinh tế - xã hội đang đổi mới Giáo dục phổ thông là giai đoạn cơ bản và quan trọng giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn

Trang 2

Thực tế Giáo dục và Đào tạo trong thời gian gần đây đã thể hiện nhiều bất cập

về chất lượng mọi mặt Đánh giá về tình hình đổi mới giáo dục những năm qua, văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã chỉ rõ: "Chất lượng giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, nhất là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao vẫn còn hạn chế; chưa chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu của xã hội Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng số lượng, giữa dạy chữ và dạy người Chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học lạc hậu, đổi mới chậm; cơ cấu giáo dục không hợp lý giữa các lĩnh vực, ngành nghề đào tạo; chất lượng giáo dục toàn diện giảm sút, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Quản lý nhà nước về giáo dục còn bất cập Xu hướng thương mại hoá và sa sút đạo đức trong giáo dục khắc phục còn chậm, hiệu quả thấp, đang trở thành nỗi bức xúc của xã hội"

Một trong những nguyên nhân đó chính là: công tác quản lý Giáo dục và Đào tạo Năng lực quản lý nhà nước về giáo dục còn bộc lộ nhiều yếu kém, lúng túng trước những yêu cầu mới, thiếu tầm nhìn và giải pháp chiến lược, nặng nề về đối phó vụ việc Đội ngũ cán bộ quản lý còn nhiều bất cập, tư duy và phương thức quản

lý giáo dục còn chịu ảnh hưởng của cơ chế hành chính, bao cấp

Vì vậy, việc đổi mới quản lí giáo dục nói chung, quản lí nhà trường mà trọng tâm là quản lí hoạt động dạy học để nâng cao chất lượng giáo dục nói riêng là một việc làm hết sức cần thiết Thực hiện đổi mới quản lý nhà nước về giáo dục, xây dựng phương pháp quản lý hoạt động dạy học hiệu quả, xây dựng đội ngũ nhà giáo

và cán bộ quản lý giáo dục một cách toàn diện

Thị xã Thái Hoà nằm ở phía tây bắc tỉnh Nghệ An được chia tách và thành lập năm 2008, điều kiện KT - XH còn gặp nhiều khó khăn, CSVC còn nghèo nàn Chất lượng các bậc học nói chung, bậc THPT nói riêng còn ở mức trung bình Trong những năm qua, việc nâng cao chất lượng dạy học trong các trường THPT của thị xã Thái Hoà đã có những bước chuyển biến đáng kể, tuy nhiên chưa đồng

Trang 3

quốc gia còn ít, chất lượng giáo dục thực tế vẫn còn thấp so với yêu cầu và so với

chất lượng các trường THPT ở vùng đồng bằng, thành thị Mặt khác, thực trạng chất

lượng đội ngũ GV ở các trường THPT trên địa bàn thị xã Thái Hoà hiện nay còn nhiều bất cập: năng lực chuyên môn, năng lực sư phạm của một bộ phận GV chưa đáp ứng được yêu cầu của thời đại mới, PPDH chưa bắt nhịp với yêu cầu đổi mới nội dung, chương trình sách giáo khoa mới và ứng dụng phương tiện dạy học hiện đại Công tác chỉ đạo và tổ chức đổi mới PPDH còn nhiều lúng túng, xây dựng CSVC chưa được chú trọng, công tác xã hội hóa giáo dục chưa thực sự được quan tâm và hiệu quả chưa cao Những bất cập đó đặt ra cho những người làm công tác quản lý giáo dục ở các trường THPT trên địa bàn thị xã phải tổng kết, đúc kết kinh nghiệm nhằm tìm ra các giải pháp quản lý hữu hiệu, đồng bộ và mang tính khả thi đối với công tác quản lý hoạt động dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng với những yêu cầu đổi mới của địa phương và đất nước

Điểm lại lịch sử khoa học GD trong nước và trên thế giới, đã có nhiều nhà nghiên cứu về quản lý GD và quản lý nhà trường Nhìn khái quát những công trình nghiên cứu đó chúng ta tìm thấy những vấn đề chung nhất về quản lý và quản lý

GD, chưa có hoặc đề xuất còn sơ lược về hiệu quả quản lý hoạt động dạy học trong trường THPT Đối với GD THPT thị xã Thái Hoà nói riêng, giáo dục Nghệ An nói chung chưa có công trình nào nghiên cứu về những giải pháp quản lý hoạt động dạy học ở các trường THPT trên địa bàn thị xã Thái Hoà, tỉnh Nghệ An

Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn, kế thừa các thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước trong lĩnh vực quản lí giáo dục, chúng tôi mạnh dạn chọn đề

tài nghiên cứu: "Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động dạy học ở các trường THPT thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An" làm đề tài nghiên cứu cho luận

văn của mình

Trang 4

các trường THPT thị xã Thái Hòa tỉnh Nghệ An

3 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

3.1 Khách thể nghiên cứu

Công tác quản lý hoạt động dạy và học ở các trường THPT

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động dạy học ở các trường THPT thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An

4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Chất lượng quản lý hoạt động dạy học ở trường THPT thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An hiện nay vẫn còn những hạn chế Nếu áp dụng một cách linh hoạt, sáng tạo, khoa học và đồng bộ các giải pháp quản lý hoạt động dạy học được đề xuất trong đề tài nghiên cứu thì chất lượng dạy học ở trường sẽ được nâng cao

5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu:

5.1.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài

5.1.2 Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của đề tài

5.1.3 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động dạy học ở các trường THPT trên địa bàn thị xã Thái Hoà, tỉnh Nghệ An

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu những giải pháp quản lý HDDH ở các trường THPT trên địa bàn thĩ xã Thái Hoà, tỉnh Nghệ An

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin lý luận để xây dựng cơ

sở lý luận của đề tài Theo nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận có các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây

+ Phương pháp phân tích và tổng hợp các tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu + Phương pháp khái quát hoá các nhận định độc lập

Trang 5

Thu thập thông tin qua việc quan sát các hoạt động quản lý của hiệu trưởng

và hoạt động của tổ bộ môn, hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS

6.2.2 Phương pháp điều tra viết

Bước 1: Xây dựng phiếu điều tra

Chúng tôi xây dựng 9 mẫu phiếu điều tra (ở phần phụ lục)

Bước 2: Tiến hành điều tra

Bước 3: Thu thập phiếu điều tra và xử lý số liệu

6.2.3 Phương pháp chuyên gia

Thông qua các cuộc trao đổi, xin ý kiến của đội ngũ chuyên gia có trình độ cao và có nhiều kinh nghiệm về giáo dục, đó là đội ngũ CBQL, các thầy cô giáo

đã giảng dạy lâu năm và có nhiều đóng góp cho ngành GD-ĐT, đội ngũ các chuyên viên của sở GD - ĐT Nghệ An về các HĐDH ở các trường THPT

6.3 Phương pháp thống kê toán học

Góp phần nâng cao hiệu quả quản lý HĐDH, nhằm nâng cao chất lượng dạy

và học ở các trường THPT thị xã Thái Hoà, tỉnh Nghệ An

8 CẤU TRÖC LUẬN VĂN

Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phần nội dung được chia thành 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

Chương 2 Thực trạng về công tác quản lý hoạt động dạy học ở các trường

THPT ở thị xã Thái Hoà, tỉnh Nghệ An

Chương 3 Một số giải pháp quản lý hoạt động dạy học ở các trường

THPT trên địa bàn thị xã Thái Hoà, tỉnh Nghệ An

Trang 6

1.1 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài

Quản lí là một hoạt động chỉ có trong xã hội loài người Ở đâu có con người ở

đó có quản lí Vì vậy, quản lí là một hoạt động đặc trưng bao trùm lên mọi mặt đời sống xã hội, trong đó có giáo dục Quản lí dạy học là một quá trình xã hội đặc thù Thực tiễn và lý luận về quản lí dạy học được hình thành và phát triển cùng với sự hình thành và phát triển của xã hội loài người

Bắt đầu từ thời cổ đại, tư tưởng về dạy học và quản lí dạy học đã được thể hiện trong những quan điểm của nhiều nhà triết học đồng thời là nhà giáo dục học Đức Khổng Tử (551- 479, TCN) luôn đề cao quan điểm khuyến khích sở trường và phê bình sở đoản, phương châm chính của dạy học là khải phát (gợi mở) Socrates (469 - 399 TCN) đã đề xuất thực hiện phương pháp dạy học trong các nhà trường J.A.Komenxki (1592 - 1670) đã phân tích các hiện tượng trong tự nhiên và hiện thực để đưa ra các biện pháp dạy học buộc học sinh phải tìm tòi, suy nghĩ để nắm được bản chất của sự vật hiện tượng J.J.Rousseau (1717 - 1778) chủ trương giáo dục trẻ em một cách tự nhiên và người học sẽ tự khám phá tích luỹ kiến thức thông qua chính hoạt động của mình

Nhiều nhà giáo dục tiêu biểu xuất hiện khoảng cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ

XX như John Dewey (1859 - 1952), A.Macarenco (1888 - 1938), Jean Piaget (1896

- 1980),… cũng có quan điểm hướng đến sự tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học

Vào nửa đầu thế kỷ XX, T.Makiguchi (Nhật Bản) đã nêu lên quá trình phát triển của giáo dục tương ứng với nó là sự thay đổi vai trò của người thầy trong quá trình giáo dục, dạy học Dạy học phải hướng vào người học, dạy học tích cực, biến quá trình dạy học thành quá trình tự học Xu thế dạy học hiện nay hoàn toàn phù hợp với tư tưởng này

Ở Liên Xô (cũ), trong những thập kỷ gần đây đã có một số công trình nghiên cứu hệ thống các vấn đề về PPDH mà tiêu biểu là công trình của các nhà khoa học: V.V.Davudop, N.A.Menchinskaia, M.N.Statkin, I.Ia.Lecne, trong đó việc công

Trang 7

nghệ hóa quá trình dạy học của Giáo sư Viện sĩ V.V.Davưdop đã được tổ chức vận dụng tại Việt Nam

Cũng trong giai đoạn Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới, trong đó có lĩnh vực giáo dục, đã có nhiều công trình của các nhà nghiên cứu ở nước ngoài đã được

công bố như: M.I.Kônđacốp, Cơ sở lí luận khoa học quản lí giáo dục, trường cán bộ quản lí giáo dục và viện khoa học giáo dục 1984; Harld – Kôntz, Những vấn đề cốt yếu về quản lí, nhà xuất bản khoa học kỹ thuật 1992; Tác phẩm “Kinh nghiệm lãnh

đạo của hiệu trưởng” Xukhômlinxki (dịch và xuất bản năm 1981) đã đưa ra nhiều tình huống quản lí giáo dục và quản lí dạy học trong nhà trường, trong đó tác giả đã bàn nhiều về phương pháp thực hiện mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học, đặc biệt là vấn đề phân công trong quản lí dạy học

1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam

Trước hết phải nói đến tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về QLGD và DH Bằng việc vận dụng sáng tạo Triết học Mác – Lênin và kế thừa tinh hoa của các tư tưởng GD tiên tiến, Người đã để lại cho nền GD cách mạng Việt Nam những tư tưởng có giá trị cao trong quá trình phát triển lý luận GD và DH

Ở Việt Nam, ngay từ ngày đầu cách mạng thành công, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Để nâng cao hiệu quả dạy và hiệu quả quản lý dạy học cần có chính sách dạy học đúng, phải có đội ngũ GV được nâng cao trình độ và học hỏi kinh nghiệm của nhau, phải đề cao năng lực tự học, phát huy năng lực sáng tạo của HS, phải có đủ phương tiện dạy học

Đảng và Nhà nước Việt Nam nhận thức rất thấu đáo về vai trò giáo dục đối với

sự phát triển của đất nước Vì lẽ đó, giáo dục được xác định là quốc sách hàng đầu, toàn

xã hội phải có ý thức chăm lo cho sự nghiệp giáo dục

Quá trình dạy học có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển của giáo dục Vì thế, ở nước ta có rất nhiều nhà sư phạm tiến hành nghiên cứu một cách toàn diện các vấn đề về vị trí, vai trò của việc tổ chức quá trình dạy học, ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng dạy học, những ưu điểm và nhược điểm của các hình thức tổ chức dạy học hiện nay, bản chất của mối quan hệ giữa hoạt động dạy và hoạt động

Trang 8

học, vai trò của người dạy và người học, việc đổi mới nội dung và phương pháp dạy học

như: (Nguyễn Ngọc Bảo, Hồ Ngọc Đại, Hà Thế Ngữ, Nguyễn Ngọc Quang(1989), Nguyễn Cảnh Toàn, Thái Duy Tuyên (2001), Thái Văn Thành (2006) v.v…)

Để nâng cao chất lượng giáo dục, một trong những yếu tố không thể thiếu và

là định hướng cho việc phát triển giáo dục đó là việc quản lý nâng cao chất lượng dạy và học Điều này đã được Đảng ta khẳng định: "Đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương pháp và quản lý giáo dục - đào tạo"

Việc quản lý hoạt động dạy học là một vấn đề bức xúc mới chỉ được nghiên cứu ở những cấp độ hẹp và vẫn được tiếp tục nghiên cứu nhằm đưa ra những bức tranh tổng thể cho việc quản lý chất lượng dạy học Bên cạnh đó có một số giáo trình của Trường Đại học Vinh, Đại học sư phạm Hà Nội, Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục, Học viện Quản lý cán bộ giáo dục và đào tạo đã trình bày những vấn đề cơ bản của quản lý hoạt động dạy học

Tuy nhiên, qua quá trình học tập và nghiên cứu các tài liệu, các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước, chúng tôi nhận thấy chưa có công trình nào đề cập đến vấn đề nâng cao chất lượng quản lí hoạt động dạy học tại địa bàn thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An

Vì vậy, chúng tôi cho rằng việc nghiên cứu thực trạng, xác lập các giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở các trường THPT phía Tây tỉnh Nghệ

An nói chung và ở thị xã Thái Hòa nói riêng là rất cần thiết, nó góp phần nâng cao chất lượng dạy - học trong nhà trường, đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục của tỉnh nhà nói riêng và mục tiêu giáo dục THPT nói chung

1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1.2.1 Quản lý

Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho

Trang 9

sự phát triển của đối tượng Đối tượng quản lý có thể trên quy mô toàn cầu, khu vực, quốc gia, ngành, đơn vị, có thể là một người cụ thể, sự vật cụ thể

Theo sự phân tích của Mác thì: “Bất cứ nơi nào có lao động, nơi đó có quản lí” và: “Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động riêng của nó” Quản lí là: “nhằm thiết lập sự phối hợp những công việc giữa các cá nhân và thực hiện những chức năng chung nảy sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ sở sản xuất, khác với sự vận động của các bộ phận riêng lẻ của nó”

Trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản lí” tác giả Harold Kontz viết:

“Quản lí là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của mọi nhà quản lí là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc và sự bất mãn cá nhân ít nhất”

Theo Từ điển bách khoa Việt Nam (Trung tâm biên soạn từ điển Hà Nội tập

1 - 1995), quản lý là:

“Quản là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định;

Lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định”

[33, tr789] Tác giả Hà Sĩ Hồ cũng cho rằng: “Quản lí là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức, lựa chọn trong các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường, nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định ”

Theo Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ thì: “Quản lí là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lí có hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lí mong muốn”

Tác giả Nguyễn Văn Lê lại cho rằng: “Quản lí không chỉ mang tính khoa học, mà còn mang tính nghệ thuật” Cũng như các tác giả khác, Ông cho rằng mục

Trang 10

đích của công việc quản lí chính là nhằm đạt hiệu quả tối ưu theo mục tiêu đề ra Ông viết: “Quản lí một hệ thống xã hội là khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống đó mà chủ yếu là vào con người nhằm đạt hiệu quả tối ưu theo mục tiêu đề ra”

Như vậy, khái niệm quản lí được các nhà nghiên cứu định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau, nhưng về cơ bản có những điểm chung thống nhất như:

- Quản lí là các hoạt động thực tiễn nhằm đảm bảo hoàn thành các công việc qua những nỗ lực của người khác

- Quản lí là những tác động có mục đích lên một tập thể người, thành tố cơ bản của hệ thống xã hội

- Quản lí là công tác phối hợp có hiệu quả của những người cộng sự khác nhau trong cùng một tổ chức

- Quản lí được tổ chức trong một nhóm hay một tổ chức xã hội Quản lí bao gồm các yếu tố: chủ thể quản lí, khách thể quản lí, đồng thời phải có mục tiêu và quỹ đạo đặt ra cho các đối tượng và chủ thể, chính mục tiêu này

là căn cứ cho chủ thể tạo ra các động tác quản lí

Những định nghĩa trên đây tuy có sự khác nhau về cách diễn đạt, về góc độ tiếp cận nhưng đều có những điểm chung ở những nội dung cơ bản của khái niệm quản lý

Khái niệm: Quản lí là sự tác động có tổ chức, có định hướng nhằm sử dụng

có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường

Ngày nay, trước sự phát triển của khoa học kĩ thuật và sự biến động không ngừng của nền kinh tế xã hội, quản lí được xem là một trong năm nhân tố phát triển

KT - XH (vốn - nguồn lực lao động - khoa học kĩ thuật - tài nguyên và quản lí) trong đó quản lí đóng vai trò quyết định đến sự thành bại của công việc

1.2.2 Chức năng quản lý

Chức năng quản lý là một dạng hoạt động quản lý chuyên biệt thông qua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định

Trang 11

Chức năng của quản lý là hình thức biểu hiện sự tác động có chủ định của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý Đó là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà chủ thể quản

lý phải tiến hành trong quá trình quản lý Thực chất các chức năng quản lý chính là do sự tồn tại các hoạt động quản lý Ta có thể hiểu chức năng quản lý là một nội dung cơ bản của quá trình quản lý, là nhiệm vụ không thể thiếu được của chủ thể quản lý

Các chức năng quản lý đều có tính độc lập tương đối, nhưng chúng được liên kết, gắn bó qua lại và qui định lẫn nhau Với các cách tiếp cận khác nhau, người ta thường phân chia các chức năng quản lý ra làm hai nhóm chính: nhóm chức năng quản lý chung và nhóm chức năng quản lý cụ thể Phản ánh nội dung của quá trình

QL, chúng ta có nhóm chức năng quản lý chung bao gồm 4 chức năng QL cơ bản: chức năng kế hoạch hoá, chức năng tổ chức, chức năng chỉ đạo - điều hành, chức năng kiểm tra - đánh giá

- Chức năng kế hoạch hoá: Đây là chức năng đầu tiên, có vai trò định hướng cho toàn bộ hoạt động Căn cứ vào thực trạng ban đầu của tổ chức và căn cứ vào nhiệm vụ được giao, vạch ra mục tiêu của tổ chức và xây dựng chương trình hành động, tìm biện pháp, cách thức tốt nhất để thực hiện mục tiêu

- Chức năng tổ chức: Nội dung của chức năng tổ chức là việc thiết lập cấu trúc của bộ máy quản lý (tổ chức công việc, sắp xếp con người) Đây là quá trình phân phối và sắp xếp nguồn lực theo những cách thức nhất định nhằm thực hiện tốt mục tiêu của kế hoạch

- Chức năng chỉ đạo - điều hành: Là phương thức tác động của chủ thể quản

lý bằng các quyết định nhằm điều hành bộ máy vận hành theo đúng kế hoạch đạt tới mục tiêu quản lý, trong đó bao gồm cả việc khuyến khích, động viên

- Chức năng kiểm tra - đánh giá: Đây là chức năng cuối cùng và rất quan trọng của quá trình quản lý Đây là quá trình xem xét, giám sát thực tiễn hoạt động của bộ máy, nhằm kịp thời điều chỉnh sai sót, đưa bộ máy đạt được mục tiêu đã xác định

Ngoài ra, thông tin rất cần cho quản lý Không có thông tin, không thể tiến hành quản lý và điều khiển bất cứ hệ thống nào Do vậy, có thể coi thông tin là chức

Trang 12

năng đặc biệt cùng với 4 chức năng đã nêu trên Trong đó, thông tin là chức năng trung tâm

Các chức năng quản lý tạo thành một hệ thống thống nhất một chu trình quản

lý của một hệ thống Trong đó, từng chức năng vừa có tính độc lập tương đối, vừa

có quan hệ biện chứng với nhau Các chức năng quản lý có thể được minh hoạ bằng

sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.1 Các chức năng cơ bản của quản lý

1.2.3 Quản lí nhà trường

1.2.3.1 Quản lý nhà trường

Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý nhà trường:

Tác giả Nguyễn Phúc Châu: “Quản lý nhà trường là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và hợp quy luật) của chủ thể quản

lý nhà trường (hiệu trưởng) đến khách thể quản lý nhà trường (GV, nhân viên và người học…) nhằm đưa các hoạt động giáo dục và dạy học của nhà trường đạt tới

Trang 13

Như vậy, ta có thể hiểu quản lý nhà trường là tập hợp các tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường thực hiện các mục tiêu dự kiến Quản lý giáo dục trong nhà trường về cơ bản, chính là quản lý các thành tố của quá trình dạy học, các thành tố đó có thể được mô tả như

sơ đồ sau:

MT: Mục tiêu dạy học ND: Nội dung

PP: Phương pháp GV: Giáo viên HS: Học sinh QL: Quản lý ĐK: Điều kiện

1.2.4 Dạy học, quá trình dạy học và quản lý hoạt động dạy học

1.2.4.1 Khái niệm dạy, dạy học

- Khái niệm "Dạy":

Theo từ điển tiếng Việt trang 354, Nhà xuất bản Thanh niên năm 2009 thì "Dạy" là: 1 Làm cho nắm vững những tri thức, kỹ năng một cách hệ thống

và có phương pháp; 2 Làm cho biết điều hay lẽ phải, biết cách đối xử với con

Trang 14

người; 3 Tập cho động vật có thói quen biết làm việc gì đó một cách thành thạo như con người 4 Bảo (người dưới)

- Khái niệm dạy học:

Cũng theo từ điển tiếng Việt thì khái niệm dạy học là "dạy để nâng cao trình độ học vấn và phẩm chất của người khác theo một chương trình nhất định"

Dạy học là một bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể, là quá trình tác động qua lại giữa giáo viên và học sinh nhằm truyền thụ và lĩnh hội những tri thức khoa học, những kỹ năng, kỹ xảo hoạt động nhận thức và thực tiễn, để trên cơ sở đó phát triển năng lực tư duy và hình thành thế giới quan khoa học Hoạt động dạy học có ý nghĩa vô cùng to lớn:

- Dạy học là con đường thuận lợi nhất giúp học sinh trong khoảng thời gian ngắn có thể nắm được một tri thức nhất định

- Dạy học là con đường quan trọng nhất, giúp học sinh phát triển một cách có hệ thống năng lực hoạt động trí tuệ nói chung và đặc biệt là năng lực

tư duy sáng tạo

- Dạy học là một trong những con đường chủ yếu góp phần giáo dục cho học sinh thế giới quan khoa học và những phẩm chất đạo đức Như vậy dạy học là hoạt động đặc trưng nhất, chủ yếu nhất của nhà trường

Trang 15

b Cấu trúc của quá trình dạy học

QTDH với tư cách là một hệ thống bao gồm nhiều thành tố cấu trúc như: Mục đích và nhiệm vụ dạy học; nội dung dạy học; thầy với hoạt động dạy; trò với hoạt động học; phương pháp và phương tiện dạy học; kết quả dạy học Tất cả các thành tố cấu trúc của QTDH tồn tại trong mối quan hệ tác động qua lại và thống nhất với nhau Toàn bộ quá trình này diễn ra trong môi trường kinh tế - xã hội và môi trường khoa học - công nghệ

Mối quan hệ giữa các nhân tố của QTDH được minh hoạ bằng sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.3 Mối quan hệ giữa các nhân tố của QTDH

c Bản chất của quá trình dạy học

QTDH về bản chất là quá trình lãnh đạo, tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của người học Trong QTDH, một mặt giáo viên phải tuân theo các quy luật hoạt động nhận thức chung của loài người, mặt khác, phải quan tâm đến đặc điểm phát triển năng lực nhận thức của học sinh theo từng lứa tuổi để lãnh đạo, tổ chức điều khiển QTDH có hiệu quả

Để đạt hiệu quả cao trong quản lý HĐDH, tổ chức, chỉ đạo HĐDH trong nhà trường, người giáo viên phải tuân theo quy luật nêu trên

d Quy luật của quá trình dạy học

Trang 16

- QTDH là một quá trình luôn vận động và phát triển không ngừng Sự vận động và phát triển đó mang tính quy luật, phản ánh những mối liên hệ tất yếu, bền vững giữa các thành tố của QTDH và giữa các thành tố này với môi trường kinh tế - xã hội, khoa học công nghệ

- QTDH nhiều quy luật đó là:

+ Quy luật về tính quy định của xã hội đối với QTDH

+ Quy luật hệ thống biện chứng giữa dạy học và phát triển biện trí tuệ của học sinh

+ Quy luật thống nhất biện chứng giữa nội dung dạy học và phương pháp, phương tiện dạy học

+ Quy luật thống nhất biện chứng giữa dạy và học

+ Quy luật thống nhất biện chứng giữa việc xây dựng kế hoạch, việc tổ chức, việc điều chỉnh và việc kiểm tra hoạt động của học sinh trong chu trình dạy học

e Nhiệm vụ dạy học:

- Tổ chức, điều khiển học sinh nắm vững hệ thống tri thức khoa học và

hệ thống kỹ năng, kỹ xảo tương ứng để thực hành vận dụng các tri thức đó Các tri thức này phải đảm bảo cơ bản, phổ thông, hiện đại và sát thực tiễn Việt Nam

- Tổ chức, điều khiển người học hình thành, phát triển năng lực hoạt động trí tuệ, đặc biệt là năng lực tư duy sáng tạo

- Tổ chức điều khiển người học hình thành và phát triển thế giới quan khoa học, nhân sinh quan và các phẩm chất, thói quen hành vi đạo đức đáp ứng yêu cầu xã hội

1.2.5 Khái niệm hoạt động dạy học

Hoạt động dạy học là một trong những hoạt động giáo dục, giữ vai trò chủ đạo trong nhà trường Mặt khác, hoạt động dạy học là nền tảng và chủ đạo không

Trang 17

chỉ trong các môn học, mà ảnh hưởng tới tất cả các hoạt động giáo dục khác trong nhà trường Có thể nói, dạy học là hoạt động giáo dục cơ bản nhất, có vị trí nền tảng và chức năng chủ đạo trong quá trình giáo dục trong nhà trường

HĐDH là toàn bộ quá trình hoạt động của GV và HS do GV hướng dẫn nhằm giúp cho HS nắm vững hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và trong quá trình đó phát triển được năng lực nhận thức, năng lực hành động, hình thành những cơ sở của thế giới quan khoa học Nói một cách khái quát, HĐDH bao gồm hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò

Mặc dù dạy học là có tính quá trình nhưng không đồng nhất hoạt động dạy học với quá trình dạy học QTDH là một quá trình hoạch định những việc dạy và học theo quy định pháp lý và hành chính, theo mục tiêu và chương trình giáo dục chính thức, được kiểm tra, thanh tra, đánh giá về quản lý và chuyên môn của các cấp quản

lý nhà nước và chỉ đạo chính thống QTDH được thiết kế và vận hành thông qua sự vận động của các thành tố cấu trúc xác định như mục đích, nội dung, GV, HS, phương pháp, hình thức tổ chức, kết quả dạy học… Còn HĐDH thì đa dạng và phong phú hơn Tuy nhiên, trong khuôn khổ dạy học ở nhà trường, HĐDH lại được xác định là một hoạt động giáo dục thực hiện quá trình giáo dục nói chung, trong đó

có quá trình dạy học Như vậy, QTDH được thực hiện bởi các HĐDH cụ thể diễn ra trong không gian và thời gian xác định Đây là hoạt động của các chủ thể dạy học nhằm hình thành và phát triển hoạt động học tập của người học tương ứng với yêu cầu của các thành tố QTDH

1.2.6 Quản lý hoạt động dạy học

Trong trường học mọi hoạt động đều hướng vào phục vụ hoạt động dạy học và quản lý trường học trọng tâm là QL HDDH Quản lý HĐDH là quản lý việc chấp hành các quy định (điều lệ, quy chế, nội quy v.v…) về hoạt động giảng dạy của GV

và hoạt động học tập của HS, đảm bảo cho hoạt động đó được tiến hành tự giác, có

nề nếp ổn định, có chất lượng và hiệu quả cao

Trang 18

Quản lý HĐDH là một hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý trong quá trình dạy học nhằm đạt được mục tiêu dạy học

Từ quan niệm về quản lý HĐDH như trên và với sự phân biệt HĐDH với QTDH, chúng tôi cho rằng: Quản lý HĐDH không đồng nhất với quản lý QTDH Quản lý QTDH là quản lý các thành tố của quá trình và các điều kiện để đảm bảo cho sự vận động của các thành tố đó Quản lý HĐDH là quản lý hoạt động của chủ thể dạy học nhằm hình thành và phát triển hoạt động học cho người học

Quản lý HĐDH trong nhà trường cần phải chú ý cả ba cấp độ:

1- Hiệu trưởng, Ban giám hiệu quản lý HĐDH trong nhà trường

Công tác quản lý của Hiệu trưởng, BGH với HĐDH là một bộ phận của quản

lý quá trình giáo dục trong nhà trường Điều đó có nghĩa là quản lý QTDH và những hoạt động giáo dục khác được thực hiện ngoài các môn học Như vậy, quản

lý của BGH với hoạt động dạy học sẽ được thực hiện ở tầm vĩ mô (xét trong khuôn khổ trường học) Cụ thể là:

Dựa vào kế hoạch nhiệm vụ năm học, Hiệu trưởng chỉ đạo HĐDH trong nhà trường với các nội dung sau:

- Chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch dạy học của các tổ chuyên môn: Nhóm chuyên môn và GV

- Chỉ đạo công tác nhân sự và bồi dưỡng GV theo yêu cầu của hoạt động dạy học

- Kiểm tra kế hoạch và việc thực hiện kế hoạch dạy học của tổ chuyên môn, kế hoạch dạy học của GV

- Chỉ đạo công tác cải tiến hoạt động dạy học của tổ chuyên môn và của GV

- Đánh giá kết quả dạy học của tổ chuyên môn và GV

2- Quản lý của tổ chuyên môn Quản lý HĐDH của tổ chuyên môn bao gồm các nội dung:

Trang 19

- Xây dựng kế hoạch dạy học môn học và các hoạt động giáo dục thông qua dạy học do tổ chuyên môn phụ trách cho từng khối lớp

- Phê duyệt kế hoạch dạy học của GV

- Kiểm tra hoạt động dạy học của GV

- Bồi dưỡng GV và tổ chức sinh hoạt chuyên đề theo yêu cầu của QTDH và các hoạt động giáo dục khác

- Kiểm tra đánh giá kết quả dạy học của GV

3- Quản lý HĐDH của GV

GV là chủ thể quản lý trực tiếp HDDH, vì hoạt động bao giờ cũng diễn ra ở cấp

độ cá nhân, gắn liền với chủ thể hoạt động Nội dung quản lý HĐDH của GV gồm:

- Lập kế hoạch dạy học của cá nhân

- Thực hiện kế hoạch dạy học

- Quản lý lớp học và hoạt động của HS trong các hoạt động giáo dục ngoài môn học

- Đánh giá kết quả học tập của HS

- Phát triển kế hoạch dạy học và giáo dục của cá nhân trong chu trình dạy học tiếp theo

Theo giới hạn của đề tài , chúng tôi tập trung nghiên cứu về quản lý của Hiệu trưởng đối với hoạt động dạy học trong trường THPT

1.2.7 Giải pháp quản lí hoạt động dạy học

1.2.7.1.Giải pháp: Giải pháp "là cách làm, cách thức tiến hành, cách giải quyết một vấn đề cụ thể"

1.2.7.2 Giải pháp quản lý: Là cách thức chủ thể quản lý tiến hành sử dụng các công cụ quản lý tác động vào việc thực hiện từng khâu của chức năng quản lý trong mỗi quá trình quản lý nhằm tạo nên sức mạnh, tạo ra năng lực thực hiện mục tiêu quản lý Nói cách khác, giải pháp quản lý hay Phương pháp quản lý là tổng thể các cách thức tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý,

để đạt được các mục tiêu đặt ra

Trang 20

Giải pháp quản lý là biểu hiện cụ thể của mối quan hệ qua lại giữa chủ thể với đối tượng và khách thể quản lý Các giải pháp quản lý mang tính chất đa dạng và phong phú, nó là bộ phận năng động nhất của hệ thống quản lý Giải pháp quản lý thường xuyên thay đổi trong từng tình huống cụ thể, tuỳ thuộc vào đặc điểm của đối tượng, cũng như năng lực và kinh nghiệm của người quản lý

Tác động của giải pháp quản lý luôn là tác động có mục đích Vì vậy, mục tiêu quản lý quyết định việc lựa chọn giải pháp quản lý Trong quá trình quản lý phải luôn điều chỉnh các giải pháp quản lý, nhưng không được chủ quan tuỳ tiện muốn sử dụng giải pháp nào cũng được Việc sử dụng giải pháp quản lý vừa đòi hỏi tính khoa học vừa đòi hỏi tính nghệ thuật Quản lý có hiệu quả nhất khi biết lựa chọn đúng đắn

và kết hợp linh hoạt các giải pháp quản lý Đó chính là tài nghệ của nhà quản lý Như vậy, giải pháp quản lý mang dấu ấn của cá nhân nhà quản lý và nó có tính lịch sử cụ thể

1.2.7.3 Giải pháp quản lý hoạt động dạy học:

Giải pháp quản lí hoạt động dạy học là quản lí nội dung chương trình theo mục tiêu của nhà trường, Quản lí quá trình truyền thụ kiến thức của GV, việc thực hiện chương trình dạy học và quản lí sự lĩnh hội kiến thức của HS cũng như việc tự tổ chức, tự điều khiển quá trình học của HS

1.2.8 Chất lƣợng, chất lƣợng giáo dục và chất lƣợng dạy học

1.2.8.1 Chất lượng

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: “Chất lượng là phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật chỉ rõ là cái gì? Tính ổn định tương đối của sự vật phân biệt nó với sự vật khác Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật Chất lượng được biểu thị ra ngoài qua các thuộc tính Nó là sự liên kết các thuộc tính của sự vật lại làm một, gắn bó các sự vật như một tổng thể, bao quát toàn bộ sự vật và không tách khỏi sự vật Sự vật trong khi vẫn còn là bản thân

nó thì không thể thiếu mất chất lượng của nó Sự thay đổi về chất lượng kéo theo sự thay đổi của sự vật về căn bản Chất lượng của sự vật bao giờ cũng gắn liền với tính

Trang 21

quy định về số lượng của nó và không thể tồn tại ngoài tính quy định ấy Mỗi sự vật bao giờ cũng có sự thống nhất của số lượng và chất lượng” [33, tr 419]

“Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một người, một sự vật, sự việc Đó là tổng thể những thuộc tính cơ bản khẳng định sự tồn tại của một sự vật, phân biệt nó với sự vật khác” [33, tr 7]

1.2.8.2 Chất lượng giáo dục

Là trình độ và khả năng thực hiện mục tiêu giáo dục đáp ứng ngày càng cao hơn nhu cầu của người học và sự phát triển xã hội “Chất lượng giáo dục là sản phẩm cuối cùng của quá trình giáo dục phổ thông, đó là chất lượng học vấn của một lớp người mà

bộ phận lớn vào đời ngay sau khi ra trường Sự kế tiếp của bộ phận này sau mỗi năm học tạo ra sự chuyển hoá từ lượng sang chất của trình độ dân trí Bộ phận còn lại nhỏ hơn được tiếp tục nhận vào quá trình đào tạo chuyên nghiệp Sự kế tiếp của bộ phận này tạo ra sự chuyển hoá từ lượng sang chất của đội ngũ nhân lực có hàm lượng trí tuệ cao với tất cả dấu ấn lên nhân cách của họ là quá trình giáo dục phổ thông" [1,tr.9]

“Chất lượng là mức độ của các mục tiêu được đáp ứng Chất lượng càng cao nghĩa là gia tăng về hiệu quả Chất lượng giáo dục là một phạm trù động thay đổi theo thời gian, không gian và theo bối cảnh Chất lượng giáo dục có thể đặc trưng riêng cho từng đối tượng, quốc gia, địa phương, cộng đồng, nhà trường Tuỳ theo từng đối tượng mà cách nhìn chất lượng, hiệu quả khác nhau” [29, tr 8]

1.2.8.3 Chất lượng dạy học

Khái niệm chất lượng dạy học liên quan mật thiết với khái niệm hiệu quả dạy học Nói đến hiệu quả dạy học tức là nói đến mục tiêu đã đạt được ở mức độ nào, sự đáp ứng kịp thời yêu cầu của nhà trường, chi phí tiền của, sức lực và thời gian cần thiết ít nhất nhưng lại mang lại kết quả cao nhất Chất lượng dạy học được nhìn từ góc độ là giá trị tăng thêm, cách nhìn này muốn nói lên tác động ảnh hưởng của nhà trường với người học Chất lượng dạy học được đánh giá bởi sự phát triển của các yếu tố cấu thành nên quá trình dạy học, sao cho các yếu tố đó càng tiến sát mục tiêu

đã định bao nhiêu thì kết quả của quá trình ấy càng cao bấy nhiêu Để thực hiện việc

Trang 22

đánh giá, người ta chuyển mục tiêu dạy học sang hệ thống tiêu chí Thông thường dựa trên 3 tiêu chí cơ bản cơ bản: kiến thức - kĩ năng - thái độ

Chất lượng dạy học ở trường phổ thông được đánh giá chủ yếu về hai mặt học lực và hạnh kiểm của người học Các tiêu chí về học lực là kiến thức, kỹ năng vận dụng và thái độ Về bản chất, hạnh kiểm phản ánh trình độ phát triển của ý thức trong mối quan hệ với những người khác, nhà trường, gia đình, xã hội và bản thân

Có 4 tiêu chí: Sự hiểu biết về các chuẩn mực hiện hành, năng lực nhận dạng hành

vi, các tác động chi phối hành động, sự thể hiện thái độ tình cảm

Đánh giá chất lượng dạy học là việc rất khó khăn và phức tạp, cần có quan điểm đúng và phương pháp đánh giá khoa học Khi đánh giá chất lượng dạy học phải cần căn cứ vào mục tiêu dạy học của từng cấp học, bậc học đối chiếu sản phẩm đào tạo được đối với mục tiêu của cấp học, bậc học Chất lượng dạy học càng cao càng làm phong phú thêm kiến thức, kĩ năng, thái độ, giá trị và hành vi của người học

Chất lượng dạy học liên quan chặt chẽ đến yêu cầu kinh tế xã hội của đất nước Sản phẩm dạy học được xem là có chất lượng cao khi nó đáp ứng tốt mục tiêu giáo dục mà yêu cầu kinh tế - xã hội đặt ra với giáo dục THPT Nền kinh tế nước ta đang chuyển đổi cả về cơ cấu và cơ chế quản lí

Các lĩnh vực của đời sống xã hội đổi mới toàn diện và sâu sắc đòi hỏi ngành giáo dục phải tạo ra được chất lượng mới khác trước Trong công cuộc đổi mới, ngành học phổ thông đã và đang triển khai thực hiện những chủ trương, biện pháp

về đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp, quy trình dạy học và đã cố gắng từng bước tăng cường điều kiện và phương tiện để đảm bảo nâng cao chất lượng dạy học

1.3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THPT

1.3.1 Mục tiêu quản lý hoạt động dạy học ở trường phổ thông

1.3.1.1 Mục tiêu quản lý

Trang 23

Theo tác giả Thái Văn Thành: "Mục tiêu quản lý là yếu tố cơ bản của hệ thống QL Mục tiêu QL là trạng thái của hệ thống mà ta muốn thu được Trạng thái hay kết quả đó hiện chưa có hoặc đang có nhưng ta muốn duy trì Trạng thái hay kết quả đó chỉ đạt được thông qua tác động quản lý" [30, tr12]

1.3.1.2 Mục tiêu quản lý hoạt động dạy học ở trường phổ thông

Ở trường phổ thông, HĐDH là hoạt động trung tâm, là hoạt động tập trung nhất của trường phổ thông Quản lý DH ở trường phổ thông là quản lý quá trình dạy của GV, quá trình học của HS, nhằm đạt được những nhiệm vụ:

- Làm cho HS nắm vững tri thức khoa học một cách có hệ thống, cơ bản, có những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết trong học tập, trong lao động và trong cuộc sống

- Phát triển trí tuệ của HS, trước hết là phát triển tư duy độc lập, sáng tạo, hình thành năng lực nhận thức và hành động

- Dạy học kiến thức văn hoá phải đi đôi với việc hình thành thế giới quan khoa học, giàu lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, sống lành mạnh, giàu lòng nhân ái, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước

- Toàn bộ QTDH từ nội dung đến PP và hình thức tổ chức phải quán triệt nguyên tắc giáo dục kỹ thuật tổng hợp, chú ý GD kỹ năng lao động và hướng nghiệp cho HS theo hướng liên kết GDPT với GD chuyên nghiệp

1.3.2 Nội dung quản lý hoạt động dạy học ở trường THPT

1.3.2.1 Quản lý hoạt động dạy của thầy

* Hoạt động dạy của thầy Hoạt động dạy là sự tổ chức, điều khiển tối ưu quá trình học sinh lĩnh hội tri thức, hình thành và phát triển nhân cách học sinh Vai trò chủ đạo của hoạt động dạy với ý nghĩa là tổ chức và điều khiển quá trình học tập của học sinh, giúp cho họ nắm được kiến thức, hình thành kĩ năng, thái độ Hoạt động dạy có chức năng kép truyền đạt và điều khiển Nội dung dạy học được thực hiện trong một môi trường thuận lợi, chính là nhà trường, ở đó được thực hiện một nội dung chương trình qui định, phù hợp với từng lứa tuổi

Hoạt động dạy của giáo viên thực chất gồm hai hoạt động:

Trang 24

- Giáo viên nghiên cứu nội dung sách giáo khoa, trình độ học sinh, điều kiện của giáo viên, tài liệu tham khảo, nắm vững các phương pháp dạy, lựa chọn phương pháp dạy phù hợp với các điều kiện trên Trên cơ sở đó, giáo viên xây dựng một phương án thích hợp nhất để dạy từng bài cụ thể cho từng lớp

- Giáo viên phối hợp hoạt động với học sinh trên lớp, đây là quá trình giảng dạy của giáo viên Giáo viên nêu vấn đề, giảng dạy kiến thức mới, rèn luyện kĩ năng, củng cố kiến thức, hướng dẫn học sinh tự học Trong quá trình giảng dạy, các hoạt động của giáo viên được phối hợp nhịp nhàng với hoạt động của học sinh Giáo viên càng tăng cường việc hướng dẫn chỉ đạo thì học sinh càng có nhiều thời gian hoạt động tìm hiểu kiến thức, rèn luyện kĩ năng thực hành

* Quản lí hoạt động dạy của thầy:

Là QL chương trình, nội dung và PPDH thông qua quy chế chuyên môn, thông qua chỉ đạo việc đổi mới PPDH, thông qua kiểm tra, đánh giá

1.3.2.2 Quản lý hoạt động học tập của học sinh

* Hoạt động học của HS:

Hoạt động học là quá trình tự điều khiển tối ưu sự chiếm lĩnh khái niệm khoa học bằng cách đó hình thành cấu trúc tâm lý mới, phát triển nhân cách toàn diện Vai trò tự điều khiển của hoạt động học thể hiện ở sự tự giác, tích cực tự lực và sáng tạo dưới sự điều khiển của thầy, nhằm chiếm lĩnh khái niệm khoa học bằng hoạt động tự lực, sáng tạo của học sinh để đạt được 3 mục đích: tri thức - kĩ năng - thái độ

Hoạt động học có hai chức năng thống nhất là lĩnh hội và tự điều khiển Nội dung của hoạt động học bao gồm toàn bộ hệ thống khái niệm khoa học của từng bộ môn, với phương pháp phù hợp để biến kiến thức nhân loại thành học vấn của bản thân

Hoạt động học của học sinh bao gồm:

- Phối hợp hoạt động với giáo viên trên lớp, học sinh tiếp thu các kiến thức, kĩ năng mới

- Học sinh tự học ở nhà để hiểu sâu, mở rộng kiến thức, vận dụng kiến thức mới để giải các bài tập Học sinh ghi nhớ các kiến thức, kĩ năng cơ bản để có thể biểu đạt lại thành lời nói, chữ viết cho giáo viên và người khác hiểu được

* Quản lí hoạt động học của HS:

Trang 25

Là quản lí quá trình lĩnh hội tri thức của HS, hướng HS vào những nội dung trọng tâm của từng bài học, môn học, với PP học tập cá nhân phù hợp, đạt hiệu quả cao nhất

1.3.2.3 Mối liên hệ của hoạt động dạy và hoạt động học Hai hoạt động dạy và học có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nó bổ sung cho nhau, kết quả hoạt động học của HS không thể tách rời kết quả hoạt động dạy của thầy và kết quả hoạt động dạy của thầy không thể tách rời kết quả hoạt động học của HS

Như vậy: Quản lí HĐDH là quản lí nội dung chương trình theo mục tiêu của nhà trường, quản lí quá trình truyền thụ kiến thức của GV, việc thực hiện chương trình dạy học và quản lí sự lĩnh hội kiến thức của HS cũng như việc tự tổ chức, tự điều khiển quá trình học của HS

1.3.2.4 Quản lý nguồn kinh phí phục vụ cho hoạt động dạy và học Trong bất kỳ cơ sở giáo dục nào thì nguồn kinh phí cũng đóng vai trò rất quan trọng trong việc duy trì các hoạt động dạy và học Nguồn kinh phí này được dùng để trả lương cho CBGV; chi dùng cho các hoạt động chuyên môn như: chuyên

đề, thao giảng, thí nghiệm thực hành, hỗ trợ GV đi học nâng cao, đi học bồi dưỡng, nguồn lực để tăng cường CSVC, mua sắm TBDH, ĐDDH, khen thưởng, thăm hỏi,

hỗ trợ GV khi gặp hoạn nạn, ốm đau,

Việc tạo nguồn kinh phí trong nhà trường bằng nhiều cách: Kinh phí được cấp qua nguồn ngân sách, nguồn học phí, qua sự hỗ trợ của cha mẹ HS, của các nhà hảo tâm, từ lao động sản xuất của HS

Nếu nhà trường tạo được nguồn kinh phí và sử dụng đúng vào mục đích trên thì người quản lý không những thực hiện tốt phương pháp kinh tế trong QLGD mà còn làm tốt phương pháp tâm lý - xã hội QLGD

Trang 26

Nội dung QL HĐDH ở nhà trường được tóm tắt bằng sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.3: Nội dung quản lý hoạt động dạy và học ở nhà trường

1.3.2.5 Quản lý cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ dạy và học CSVC là điều kiện tiên quyết cho nhà trường hình thành và đi vào hoạt động,

là điều kiện không thể thiếu được trong việc nâng cao chất lượng giáo dục CSVC -

kỹ thuật phục vụ dạy và học của nhà trường là hệ thống các phương tiện vật chất -

kỹ thuật dạy và học của nhà trường

* Quản lý CSVC - kỹ thuật phục vụ cho dạy và học đảm bảo được ba yêu cầu liên quan mật thiết với nhau đó là:

- Đảm bảo đầy đủ CSVC - kỹ thuật phục vụ dạy và học

- Sử dụng có hiệu quả CSVC - kỹ thuật trong việc dạy và học

- Tổ chức quản lý tốt CSVC - kỹ thuật trong nhà trường

* Nội dung quản lý CSVC phục vụ dạy và học trong nhà trường:

- Quản lý trường lớp, phòng học, bàn ghế, bảng

- Quản lý các trang thiết bị phục vụ dạy học, hoạt động của các phòng bộ môn, phòng chức năng

- Quản lý thư viện trường học: sách, báo, tài liệu…

Tất cả các nội dung trên đều cần thiết, CSVC và thiết bị ngày càng được trang bị hiện đại để phục vụ cho việc đào tạo đội ngũ lao động đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ CNH - HĐH đất nước

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY CỦA THẦY

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC CỦA TRÒ

QUẢN LÝ CƠ SỞ VẬT CHẤT KỸ THUẬT PHỤC VỤ DẠY VÀ HỌC

NGUỒN KINH PHÍ

Trang 27

1.3.3 Khái quát về trường THPT

1.3.3.1 Vị trí trường THPT trong hệ thống giáo dục quốc dân Trường THPT là cơ sở giáo dục nối tiếp cấp trung học cơ sở thuộc bậc trung học của hệ thống giáo dục quốc dân Cấp THPT gồm 3 năm học từ lớp 10 đến lớp

12 Đây là cấp học vừa trực tiếp tạo nguồn cho bậc cao đẳng, đại học nói riêng, vừa góp phần quan trọng vào việc đào tạo nguồn nhân lực

Giáo dục trung học phổ thông là khâu đặc biệt quan trọng, giúp học sinh củng

cố và phát triển kết quả giáo dục trung học cơ sở, hoàn thành học vấn phổ thông, hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp Giáo dục trung học phổ thông giữ vai trò “bản lề” của cả một đời người Tuỳ theo kết quả học tập, rèn luyện, sự phấn đấu và nguyện vọng, học sinh có thể lựa chọn một hướng đi thích hợp cho mình Nhà trường có nhiệm vụ chuẩn bị một cách tốt nhất, dù cho lựa chọn hướng đi nào, học sinh cũng có đủ trình độ, bản lĩnh vững vàng, sẵn sàng học tập và công tác tốt Bậc trung học phổ thông là nơi tạo ra những hạt giống tốt cho các trường dạy nghề, cao đẳng, đại học và đội ngũ lao động

có văn hoá cho địa phương, đất nước, đó chính là nguồn lực người Hiện nay, chất lượng giáo dục là một vấn đề mà toàn xã hội đã và đang quan tâm Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đất nước ta phải đối diện với yêu cầu của sự phát triển KT- XH nhanh, mạnh trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

và đứng trước một thử thách cạnh tranh với các nước trong khu vực và thế giới

Do vậy giáo dục phải đổi mới và đi trước một bước, tạo tiền đề cho sự phát triển KT- XH Bậc trung học phổ thông đóng vai trò hết sức quan trọn g và cần phải được trú trọng nâng cao hơn nữa vai trò của trung học phổ thông trong hệ thống giáo dục quốc dân

1.3.3.2 Một số đặc điểm cơ bản của HĐDH ở trường THPT

Điều 2, Chương I trong Luật Giáo dục 2005 đã ghi:

Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng

Trang 28

lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [24,

tr 20]

Để đạt được mục tiêu này nhà trường cần phải tổ chức các hoạt động dạy học, hoạt động lao động, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thể chất, v.v… trong đó hoạt động dạy học là hoạt động trung tâm Bởi hoạt động chủ yếu với thời gian ngắn nhất, đạt hiệu quả nhất, tối ưu nhất của nhà trường nhằm hình thành nhận thức của con người chính là hoạt động dạy học Hoạt động này được tiến hành một cách có tổ chức, có kế hoạch với nội dung dạy học được lựa chọn đã góp phần hình thành nhân cách HS

Trong nhà trường THPT hoạt động dạy học là hoạt động chủ đạo và hoạt động đó phải được sự hướng dẫn có tổ chức của GV trong một môi trường giáo dục chuyên biệt Hoạt động dạy học là hoạt động trung tâm của nhà trường còn thể hiện cả

GV và HS đều hướng chung vào mục đích và là nhiệm vụ của dạy học là phát triển toàn diện nhân cách cho HS

Ở bậc học THPT, đối tượng lao động trực tiếp của người GV là HS ở độ tuổi

từ 15 đến 17 (ở trường THPT miền núi độ tuổi từ 15 -19 tuổi) HS ở tuổi này có đặc điểm tâm sinh lý riêng Đây là lứa tuổi bắt đầu phát triển nhân cách một cách đầy đủ

và bộc lộ khả năng rất lớn Do đó, GV phải luôn có tình yêu thương, sự tôn trọng, đối xử công bằng, dân chủ, khách quan và khéo léo trong ứng xử với các em Bằng công cụ lao động là tri thức và phẩm chất của mình, người GV tác động vào HS đặc biệt là trí tuệ, nhân cách cần rèn luyện ở các em Phẩm chất và năng lực, đức và tài càng cao thì sức thuyết phục HS càng lớn

HĐDH ở trường THPT được thể hiện qua hoạt động dạy của GV với những

bộ môn chuyên sâu về từng lĩnh vực mà họ được đào tạo Vì thế HĐDH của họ là quá trình sư phạm tổng thể, là sự kết hợp thống nhất giữa dạy học và giáo dục Mục đích của HĐDH này là cải tiến và hoàn thiện hoạt động nhận thức, hoạt động thực tiễn của HS, hình thành ở HS phẩm chất và nhân cách theo yêu cầu của xã hội đã đặt ra

Trang 29

Hoạt động học là quá trình tự điều khiển nhằm chiếm lĩnh khái niệm khoa học, HS tự giác, tích cực dưới sự điều khiển của thầy nhằm chiếm lĩnh khái niệm khoa học

Trong HĐDH người GV trường THPT dạy chuyên sâu về một lĩnh vực, nó đòi hỏi người GV THPT phải có kiến thức vừa rộng vừa sâu và phải có được các năng lực: năng lực dạy học, năng lực giáo dục, năng lực tổ chức, năng lực tự hoàn thiện v.v… Bên cạnh đó, có được tri thức và năng lực GV không chỉ để dạy về môn học mình đảm nhiệm mà họ còn phải dạy cho HS kỹ năng học, kỹ năng tự học, kỹ năng tự nghiên cứu - đây là đặc trưng của HĐDH ở trường THPT HĐDH nhằm mục đích tạo ra "cái mới", cái chưa hề có trong kinh nghiệm của HS Hoạt động dạy

và học có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nó bổ sung cho nhau

Vì vậy, để hạn chế những khó khăn trong quá trình lĩnh hội những cái mới, những cái chưa hề có và không ngừng gia tăng hiệu quả học tập, cần thiết phải dạy các em cách học, cách tư duy độc lập, bước đầu làm quen với việc tự học, tự nghiên cứu Thông qua dạy học người GV hình thành cho HS THPT những tri thức và những phẩm chất có tính chuẩn mực, là hành trang quan trọng cho các em bước vào cuộc sống trực tiếp cũng như tiếp tục học lên các bậc học cao hơn

Với việc khái quát những điều cơ bản của lịch sử nghiên cứu về quản lý HĐDH, cùng với những khái niệm cơ bản của quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, quản lý nhà trường THPT

Trang 30

Để thực hiện tốt việc quản lý HĐDH, hiệu trưởng nhà trường phải bắt đầu từ quản lý các tổ chuyên môn, và từng GV, giáo viên chủ nhiệm và các đoàn thể nhà trường (Công đoàn, Đoàn thanh niên, Chi đoàn giáo viên), phải phối hợp chặt chẽ với Ban đại diện cha mẹ HS, phải căn cứ vào thực trạng của các yếu tố tác động đến QTDH của cơ sở giáo dục để tìm ra các giải pháp quản lý HĐDH cho phù hợp đặc điểm trường THPT Thái Hoà

Trên đây là những vấn đề về cơ sở lý luận, để đưa ra các giải pháp mang tính hợp lý và khả thi, vấn đề cần phải nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động dạy học của hiệu trưởng ở các trường THPT thị xã Thái Hoà, tỉnh Nghệ An

Trang 31

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CỦA CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở THỊ XÃ THÁI HÕA, TỈNH NGHỆ AN

2.1 KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI Ở THỊ

XÃ THÁI HÕA, TỈNH NGHỆ AN

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Thị xã Thái Hoà nằm ở vùng Tây Bắc tỉnh Nghệ An, có vị trí với toạ độ: từ 19013’ - 19033’ vĩ độ Bắc và 105018’ - 105035 kinh độ Đông; cách thành phố Vinh 90km về phía Tây

- Phía Bắc, phía Nam và phía Tây giáp huyện Nghĩa Đàn;

- Phía Đông giáp 2 huyện Quỳnh Lưu và Nghĩa Đàn

Thị xã Thái Hoà là một thị xã trung du miền núi, được thành lập ngày 10/5/2008 theo Nghị định số 164/2007/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ Sau quá trình chia tách, về mặt hành chính, thị xã có 4 phường (Quang Phong, Hoà Hiếu, Quang Tiến, Long Sơn) và 6 xã (Nghĩa Hoà, Tây Hiếu, Nghĩa Mỹ, Nghĩa Thuận, Đông Hiếu, Nghĩa Tiến)

Địa hình lãnh thổ phân bố chủ yếu là đồi núi thoải chiếm khoảng 60% tổng diện tích, đồng bằng thung lũng chiếm khoản 30%, đồi núi cao chiếm khoảng 10%

Do kiến tạo của địa chất cho nên Thái Hoà có những vùng đất tương đối bằng phẳng, quy mô diện tích lớn và tương đối thuận lợi để phát triển nông nghiệp Thị xã Thái Hoà là một thị xã miền trung du núi nên chịu ảnh hưởng khí hậu đặc trưng của vùng núi phía Tây, nhiệt độ trung bình hàng năm khá cao từ 23 – 25C

và có sự chênh lệch nhiệt độ cũng như độ ẩm không khí khá lớn giữa các mùa đặc biệt là mùa đông và mùa hè; vào khoảng thời gian từ tháng 5 đến tháng 8 hàng năm Thái hoà chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam làm cho thời tiết khô nóng và hạn hán, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống sinh hoạt của nhân dân trên địa bàn

Trang 32

- Tổng diện tích đất tự nhiên là 13.518,8ha chiếm 0,82% diện tích tự nhiên tỉnh Nghệ An; trong đó diện tích đất nông nghiệp 10.152,62ha, diện tích đất phi nông nghiệp 3.058,62ha, diện tích đất chưa sử dụng 307,54ha

- Đặc điểm thổ nhưỡng của Thái Hoà có 14 loại đất chính thuộc hai nhóm Thuỷ thành và Đại thành; hai nhóm đất này có ưu điểm là rất hợp với việc trồng các loại cây công nghiệp và cây ăn quả có giá trị kinh tế cao như: cà phê, cao su, chè, cam, bưởi, mít, quýt, dưa, dưa hấu,

Là một thị xã miền trung du nên nguồn nước chủ yếu là nguồn nước mặt với mạng lưới sông suối khá đều; nước ngầm không đáng kể Có dòng sông chảy qua là dòng sông Hiếu cùng với các chi lưu lớn nhỏ chảy qua địa bàn Nhìn chung khả năng đáp ứng nước sinh hoạt từ nguồn nước ngầm còn hạn chế, về mùa hạn hán tình trạng thiếu nước xảy ra khá phổ biến trên toàn địa bàn Tuy nhiên, với hệ thống sông suối phân bố khá đồng đều chảy qua địa bàn và một loạt các hồ nước lớn như Khe Thung, Khe Lăng đang được đầu tư nâng cấp sẽ từng bước đem lại hiệu quả kinh tế cao trong việc phục vụ nước tưới tiêu sản xuất nông nghiệp kết hợp với nuôi

cá nước ngọt

- Đá bọt bazan có trữ lượng khá lớn, phân bổ tập trung ở các xã Nghĩa Mỹ và Đông Hiếu

- Đá vôi và đá Hoa Cương phân bổ tập trung chủ yếu ở xã Nghĩa Tiến

- Sét sản xuất gạch ngói: Trữ lượng khá lớn, phân bổ tập trung chủ yếu ở các phường, xã: Long Sơn, Nghĩa Hoà, Quang Tiến, Nghĩa Thuận và Nghĩa Tiến

- Cát, sỏi xây dựng và vàng sa khoáng: Phân bổ tập trung ở các xã, phường có Sông Hiếu chảy qua như: Hoà Hiếu, Quang Phong, Quang Tiến, Nghĩa Hoà, Long Sơn,

- Diện tích rừng có đến thời điểm hiện nay hơn 3.000ha tổng trữ lượng gỗ khoảng 100.000m3 (chưa tính nứa, mét, tre )

- Tổng quỹ đất có thể phục vụ mục tiêu phát triển Lâm nghiệp khá lớn khoảng 4.073,9ha chiếm 30,14% tổng diện tích tự nhiên

Trang 33

2.1.2 Về kinh tế - xã hội

Tổng dân số toàn thị xã Thái Hoà tính đến 30/6/2012 là 67.427 người; mật độ phân bố trung bình xấp xỉ 500 người/km2 Số người dân tộc thiểu số 5.751 người gồm: Thanh, Thái, Thổ chiếm tỷ lệ 8,5% so với tổng dân số Số người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động là 30.750 người; tỷ lệ lao động được đào tạo nghề (bao gồm cả ngắn hạn và dài hạn) chiếm 50% so với tổng lao động; tỷ lệ lao động phi nông nghiệp chiếm 35% so với tổng lao động

Dù còn nhiều khó khăn chung với tình hình suy thoái kinh tế trong những năm gần đây, tuy nhiên năm 2011, kinh tế thị xã Thái Hoà tiếp tục tăng trưởng: đạt mức 20,3% vượt chỉ tiêu kế hoạch 17-18% đã đặt ra trước đó

Tổng giá trị sản xuất: theo giá cố định 1994 ước đạt 704.730 triệu đồng bằng 100,3% kế hoạch và bằng 120,3% so cùng kỳ năm trước; theo giá hiện hành đạt 1.787.956 triệu đồng bằng 109,6% kế hoạch và bằng 127,2% so cùng kỳ năm trước Các ngành kinh tế đều tăng khá: nông - lâm - ngư nghiệp đạt 100,3% kế hoạch, công nghiệp - xây dựng đạt 132,1% kế hoạch, dịch vụ - thương mại đạt 118,9% kế hoạch;

Cơ cấu ngành kinh tế chuyển dịch tích cực và đúng hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa:

+ Nông, Lâm, Thuỷ sản: 13,0% so với kế hoạch 13,8%;

+ Công nghiệp - Xây dựng: 37,0% so với kế hoạch 34,7%;

+ Dịch vụ - Thương mại: 50,0% so với kế hoạch 50,3%

Thu ngân sách đạt khá, tổng thu năm 2011: 65.272 triệu đồng đạt 141,9% Dự toán pháp lệnh, 138,7% theo Nghị quyết HĐND thị và 107,1% chỉ tiêu phấn đấu Chi ngân sách: 141.709 triệu đồng/Dự toán 112.906 triệu đồng đạt 125,5% Tổng nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt 616,5 tỷ đồng so với kế hoạch 598.8 tỷ đồng đạt 103,0% tăng 48,3% so với năm 2010 Tổng giá trị sản xuất bình quân đầu người theo giá cố định là 10,3 triệu đồng, theo giá hiện hành đạt 26,2 triệu đồng so với kế hoạch 23,9 triệu đồng đạt 109,6%

Trang 34

2.2 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC Ở THỊ XÃ THÁI HOÀ, TỈNH NGHỆ AN

2.2.1 Quy mô về phát triển giáo dục THPT ở thị xã Thái Hoà tỉnh Nghệ An

Trong những năm gần đây, được sự quan tâm, chỉ đạo, lãnh đạo của các cấp của ngành và sự quyết tâm của đội ngũ nhà giáo, giáo dục thị xã Thái Hòa đã gặt hái được nhiều thành tựu về quy mô và chất lượng giáo dục Cơ sở vật chất phục vụ công tác dạy và học được tăng cường cả về số lượng và đảm bảo về chất lượng Công tác chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo được thực hiện có hiệu quả GV ở bốn trường không ngừng được bổ sung nhằm trẻ hóa đội ngũ, đầy đủ về số lượng, đồng bộ về

cơ cấu Kỷ cương nề nếp trong đội ngũ nhà giáo được tăng cường Đội ngũ nhà giáo

đã từng bước nâng cao nhận thức vai trò của giáo dục và đào tạo trong sự phát triển của xã hội, nhận thức được trách nhiệm của mình trong giai đoạn mới

Hiện nay, quy mô phát triển trường lớp của ngành giáo dục thị xã Thái Hòa nói chung và bậc THPT nói riêng đã từng bước dần ổn định

2.2.2 Tổng số trường, lớp và học sinh các cấp học cuối năm học 2011-2012:

Toàn ngành Có 32 trường với 479 lớp và 15117 học sinh trong đó:

+ Bậc học mầm non: tổng số có 9 trường, 91 nhóm lớp (tăng 3), 2677 cháu (tăng

Trang 35

Có 01 trường trung cấp nghề kinh tế kỷ thuật Miền Tây: 15 lớp TC nghề, 415 học viên; 5 lớp đại học tại chức liên thông, 314 sinh viên và 887 học viên học nghề phổ thông

2.2.3 Cơ cấu cán bộ quản lý, giáo viên CNV các cấp học năm học 2011 – 2012:

Bảng 2.1 Cơ cấu cán bộ quản lý, giáo viên CNV các cấp học năm học 2011 – 2012

Cao cấp

Trung cấp

Sơ cấp ≤50 >50

(Nguồn từ các trường THPT trên địa bàn thị xã Thái Hòa)

Các cán bộ quản lý có số năm làm công tác quản lý ít nhất là 4 năm, và nhiều nhất là 12 năm, có nhiều kinh nghiệm trong công tác quản lý

Trang 36

Qua bảng 2.2 ta thấy: Đội ngũ cán bộ quản lý các trường THPT trên địa bàn thị xã Thái Hòa tổng số 13, trong đó trình độ chuyên môn có 4/13 trên đại học

Trình độ lý luận chính trị cao cấp 1/13, trình độ sơ cấp 10/13 Ban giám hiệu chủ

yếu được đề bạt từ các bí thư đoàn trường, thư ký hội đồng giáo dục, tổ trưởng chuyên môn, làm công tác công đoàn và 100% cán bộ quản lý đã qua lớp bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý giáo dục Tuổi đời có 7/13 trên 50 tuổi, kinh nghiệm nhiều, nhưng hạn chế về việc tiếp nhận công nghệ thông tin, ngoại ngữ và đổi mới tư duy

Bảng 2.3 Đội ngũ tổ trưởng chuyên môn của các trường THPT

trên địa bàn thị xã Thái Hòa

Trường THPT

Tổ trưởng chuyên môn

(Nguồn từ các trường THPT trên địa bàn thị xã Thái Hòa)

Qua số liệu ở bảng 2.3 cho thấy: Tổ trưởng chuyên môn có trình độ thạc sỹ 2/20 (chiếm 10%), tỷ lệ nữ làm tổ trưởng chuyên môn 7/20 (= 35,5%), điều đó nói lên vấn đề giới đã được quan tâm, tạo điều kiện cho nữ cán bộ giáo viên có cơ hội ngày càng phát triển Hầu hết các tổ trưởng chuyên môn được đề bạt từ giáo viên giỏi cấp tỉnh, có uy tín chuyên môn, có khả năng chỉ đạo các tổ viên thực hiện các nhiệm vụ theo yêu cầu của cấp trên, thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục học sinh Các tổ trưởng chuyên môn nhiệt tình, trách nhiệm cao, nhiều kinh nghiệm giảng dạy nhưng cũng bị hạn chế về các mặt tiếp thu những cái mới và thay đổi theo yêu cầu đổi mới của sự nghiệp phát triển giáo dục nước nhà

Trang 37

Bảng 2.4 Đội ngũ giáo viên của các trường THPT trên địa bàn thị xã Thái Hòa

(năm học 2011 - 2012) Trường THPT Thái Hòa

Trang 39

Trường THPT Sông Hiếu

(Nguồn từ các trường THPT trên địa bàn thị xã Thái Hòa)

Đội ngũ giáo viên của 4 trường THPT trên địa bàn thị xã Thái Hoà

Trang 40

sự phát triển giáo dục Cơ cấu giữa các bộ môn chưa đồng bộ và chưa thật hợp lý

có môn thiếu giáo viên, có môn thừa Hiện nay, số giáo viên có nhu cầu đi đào tạo trên chuẩn ngày càng nhiều, làm ảnh hưởng đến việc phân công lao động trong các nhà trường

Trong thời gian qua giáo dục THPT thị xã Thái Hoà đạt được nhiều thành tựu cơ bản và những yếu kém sau:

Thành tựu cơ bản

Trong thời gian qua, nhất là từ khi chia tách thị xã đến nay, dưới sự lãnh, chỉ đạo của Thị ủy, UBND thị xã Thái Hoà, sở GD-ĐT Nghệ An và sự phối kết hợp triển khai tổ chức thực hiện của các ban ngành trên địa bàn đã triển khái nhiều nội dung về nâng cao chất lượng giáo dục cấp trường hệ phổ thông trên địa bàn thị xã Thái Hoà vì vậy 3/4 trường THPT đã có một cơ sở vật chất tương đối khang trang đảm bảo tốt về điều kiện học tập, có 1 trường đạt chuẩn quốc gia Tại thời điểm 30/6/2012 trên địa bàn thị xã đã xây dựng 20/32 trường đạt chuẩn quốc gia của các cấp học chiếm 77,8%, huy động học sinh trong độ tuổi THCS đi học đạt 97,5%, thi

Ngày đăng: 21/08/2023, 01:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w