1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng áp dụng pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh hà tĩnh giai đoạn 2010 2013

67 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng áp dụng pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2010 2013
Tác giả Lê Văn Hà
Người hướng dẫn ThS. Phạm Thị Huyền Sang
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Luật kinh tế
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2014
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 891,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đăng ký doanh nghiệp là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền với chức năng là xác nhận sự hợp pháp, các điều kiện về chủ thể thành lập doanh nghiệp, giúp Nhà nước thống nhất hoạt

Trang 2

thân tôi, trong quá trình thực hiện khóa luận tôi có tham khảo các nguồn tài liệu khác nhau Các số liệu và trích dẫn trong khóa luận đảm bảo tính chính xác tin cậy, những kết quả, số liệu trong khóa luận này hoàn toàn chính xác, khách quan và trung thực

Tác giả

Lê Văn Hà

Trang 3

pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2010 - 2013” Bên cạnh sự nổ lực cố gắng của bản thân, tác giả đã

nhận được sự giúp đỡ, động viên nhiệt tình của các thầy, cô giáo khoa Luật - Trường Đại học Vinh giúp tác giả hoàn thành tốt khóa luận này

Vì thế, tác giả xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc của mình đến Ban chủ nhiệm Khoa Luật, các thầy cô giáo trong tổ bộ môn chuyên ngành luật kinh tế-quốc tế, các thầy cô trong khoa và các anh, chị phòng đăng ký kinh doanh thuộc Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Hà Tĩnh Đặc biệt tác giả xin chân thành gửi

lời cảm ơn tới giảng viên ThS Phạm Thị Huyền Sang phó trưởng khoa Luật,

trường Đại học Vinh người đã luôn chia sẻ kinh nghiệm, hướng dẫn tận tình,

và giúp đỡ tác giả trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện khóa luận này

Do hạn chế về thời gian và trình độ nghiên cứu, khóa luận này chắc chắn vẫn còn nhiều thiếu sót Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô, Hội đồng Khoa học của Khoa cũng như các bạn sinh viên, đó sẽ

là những ý kiến, chia sẽ quý báu giúp tác giả có thêm kinh nghiệm và hoàn thiện hơn nữa khả năng nghiên cứu khoa học của mình

Xin chân thành cảm ơn!

Vinh, tháng 5 năm 2014

Tác giả

Lê Văn Hà

Trang 4

ĐKKD Đăng ký kinh doanh

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1 Những kết quả đạt được về đăng ký doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh

Hà Tĩnh thời gian qua thể hiện qua những số liệu sau: 35 Bảng 2 Xử lí số liệu Đơn vị % 36

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 1 Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới theo Quý năm 2012-2013 28 Hình 2 Tình hình doanh nghiệp thành lập mới theo ngành, nghề kinh doanh chính năm 2013 29 Hình 3 Tình hình doanh nghiệp thành lập mới theo vùng kinh tế trong năm

2013 30 Hình 4 Biểu đồ thể hiện tình hình doanh nghiệp đăng ký thành lập, thay đổi, giải thể và số vốn đăng ký trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn 2010 –

2013 36

Trang 5

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH VẼ

PHẦN A MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 2

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Đóng góp của đề tài 4

7 Kết cấu của khóa luận 5

PHẦN B NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ ĐĂNG KÝ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP 6

1.1 Khái niệm doanh nghiệp và một số quan điểm về doanh nghiệp 6

1.2 Đặc trưng pháp lý của doanh nghiệp 7

1.3 Đăng ký thành lập doanh nghiệp 9

1.3.1 Thành lập doanh nghiệp 9

1.3.2 Đăng ký doanh nghiệp 10

1.3.3 Ý nghĩa đăng ký thành lập doanh nghiệp 11

1.4 Quá trình hình thành và phát triển của các quy định pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp 13

1.5 Các quy định pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp 16

1.5.1 Điều kiện đăng ký thành lập doanh nghiệp 16

1.5.2 Chủ thể có quyền và nghĩa vụ đăng ký thành lập doanh nghiệp 20

1.5.3 Chủ thể có thẩm quyền thực hiện đăng ký thành lập doanh nghiệp 21

1.5.4 Hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp 24

1.5.5 Trình tự, thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp 25

Trang 6

CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ 28

THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP VÀ THỰC TIỂN ÁP DỤNG 28

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH 28

2.1 Tình hình về đăng ký thành lập doanh nghiệp ở Việt nam hiện nay 28

2.2 Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh 31

2.2.1 Những ưu điểm trong công tác đăng ký thành lập doang nghiệp 32

2.2.2 Những vấn đề bất cập còn tồn tại trong công tác đăng ký thành lập doanh nghiệp 40

2.2.3 Những nguyên nhân dẩn đến các vấn đề bất cập còn tồn tại trong hoạt động đăng ký thành lập doanh nghiệp 45

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT ĐĂNG KÝ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH 48

3.1 Một số kiến nghị - giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về đăng ký kinh doanh nói chung 48

3.1.1 Một số kiến nghị về cơ cấu, tổ chức, hoạt động của cơ quan đăng ký kinh doanh 48

3.1.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp 49

3.2 Một số giải pháp khác góp phần nâng cao việc áp dụng các quy định về đăng ký kinh doanh trên địa bàn Tỉnh Hà Tĩnh 54

PHẦN C KẾT LUẬN 59

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 60

Trang 7

PHẦN A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đăng ký thành lập doanh nghiệp là hoạt động vô cùng quan trọng và có

ý nghĩa pháp lý đối với việc xác định tính hợp pháp của doanh nghiệp Đăng

ký doanh nghiệp là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền với chức năng là xác nhận sự hợp pháp, các điều kiện về chủ thể thành lập doanh nghiệp, giúp Nhà nước thống nhất hoạt động quản lý tình hình nền kinh tế Đây là một trong những nhân tố thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế Thông qua công tác quản lý đăng ký thành lập doanh nghiệp các thông tin cần thiết

về doanh nghiệp được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền lưu giữ, xác định các doanh nghiệp nào đủ điều kiện để hoạt động và loại bỏ những chủ thể không đủ tư cách pháp lý tham gia kinh doanh

Hà Tĩnh là tỉnh có vị trí địa lí nằm giữa khu vực Bắc trung bộ, có điều kiện kinh tế - xã hội và điều kiện thiên nhiên tương đối khó khăn, hằng năm trên địa bàn tỉnh hướng chịu hàng chục cơn bảo lớn nhỏ, cũng như hạn hán, ngập lụt xảy ra thường xuyên Tuy nhiên, với những đường lối, chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước thì trong những năm qua Đảng bộ và nhân dân

Hà Tĩnh đã có những bước chuyển mình mạnh mẻ về kinh tế cũng như đời sống xã hội Qua đó nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân cũng như góp phần vào công cuộc phát triển chung của đất nước Để đạt được những thành tựu to lớn ấy, không thể không kể đến sự đóng góp của các doanh nghiệp đã, đang và sẽ hoạt động trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh Sự phát triển kinh tế của tỉnh nhà trong thời gian qua, cũng nhờ vào một phần đóng góp to lớn từ các hoạt động kinh doanh của các loại hình doanh nghiệp với những ngành nghề, loại hình kinh doanh khác nhau Chính thị trường sôi động này đã thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động kinh tế của Hà Tĩnh Vì vậy, những năm gần đây tình hình doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh phát triển nhanh cả

về số lượng và quy mô Tuy nhiên, cùng với sự chuyển đổi nhanh chóng của nền kinh tế, pháp luật cơ bản đã thay đổi, xuất hiện những quan điểm lý luận, phạm trù, khái niệm, phương pháp và cách thức mới so với trước Hơn nữa

Trang 8

việc đăng ký thành lập doanh nghiệp quyết định một phần tới sự thành - bại của doanh nghiệp và ảnh hưởng tới nền kinh tế Công tác nắm bắt, thực thi việc đăng ký thành lập doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh còn có nhiều vướng mắc, khó khăn và đang được quan tâm Chính vì vậy, việc nghiên cứu các quy định pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp cũng như thực trạng áp dụng trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh để từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi là việc làm cần thiết Đây cũng là

lí do mà tác giả quyết định lựa chọn đề tài: “Thực trạng áp dụng pháp luật về

đăng ký thành lập doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2010 - 2013” làm đề tài nghiên cứu

2 Tình hình nghiên cứu

Trong những năm qua, giới nghiên cứu khoa học pháp lý đã có một số công trình nghiên cứu, bài nghiên cứu có liên quan đến vấn đề này với mức

độ và phạm vi khác nhau như:

- PGS.TS Trần Văn Nam (2006), Xây dựng hệ thống ĐKKD thống nhất

nhằm thực thi hiệu quả Luật Doanh nghiệp năm 2005, Tạp chí kinh tế và phát

triển, số 109

- PGS.TS Trần Văn Nam (2008), Mô hình đăng ký kinh doanh hợp

nhất, kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam, Tạp chí phát triển kinh tế,

số 216, năm 2008

- TS Nguyễn Hợp Toàn (2008), Pháp luật về thành lập, tổ chức quản lý

và hoạt động của doanh nghiệp, Khoa Luật - Đại học kinh tế quốc dân

- ThS Lê Thị Thảo - Khoa Luật, Đại học khoa học Huế (2009), Quản lý

đăng ký kinh doanh trên địa bàn Thành phố Huế và giải pháp ứng dụng công nghệ GIS, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 156 ngày 20/10/2009

Tuy nhiên hiện chưa có công trình nào nghiên cứu tại địa bàn tỉnh Hà Tĩnh là một địa phương với tiềm lực kinh tế phát triển mạnh, nhưng vấn đề

áp dụng pháp lý còn nhiều bất cập Vì vậy khi tiếp xúc với đề tài, tác giả lựa chọn tỉnh Hà Tĩnh là địa phương để thực hiện việc nghiên cứu của khóa luận

Trang 9

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

ra phương hướng khắc phục nhằm giúp địa phương hoàn thiện về mặt pháp

lý, cũng như phát triển vững mạnh kinh tế

3.2 Nhiệm vụ

Từ những mục đích đặt ra ở trên, việc nghiên cứu đề tài có những

nhiệmvụ sau:

Thứ nhất, phân tích, làm rõ những quy định của pháp luật liên quan đến

hoạt động đăng ký thành lập doanh nghiệp

Thứ hai, khái quát hoạt động đăng ký thành lập doanh nghiệp trên

phạm vi cả nước trong năm 2013

Thứ ba, phân tích đánh giá những bất cập, hạn chế trong các quy định

của Luật và các văn bản thi hành, từ đó xem xét cách thức thực hiện tại Hà Tĩnh, khảo sát và đánh giá đúng thực trạng áp dụng quy định đó như thế nào trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh

Thứ tư, Từ những nhận định, phân tích ấy đưa ra các kiến nghị, giải

pháp để góp phần hoàn thiện hơn hoạt động đăng ký thành lập doanh nghiệp trên phạm vi cả nước và đặc biệt trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trong phạm vi của đề tài, tác giả tập trung nghiên cứu về chế độ pháp lý đăng ký thành lập doanh nghiệp với các quy định của pháp luật hiện hành mà

Trang 10

không tập trung nghiên cứu các quy định về đăng ký thay đổi, bổ sung nội dung đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Với đối tượng nghiên cứu như trên, đề tài có phạm vi như sau: Những vấn đề lý luận liên quan đến đăng ký thành lập doanh nghiệp theo khoa học pháp lý của Việt Nam được quy định trong các văn bản như Luật Doanh nghiệp 2005 sđ,bs và các văn bản hướng dẫn thi hành, cụ thể như Nghị định số:43/2010/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp, đề tài không nghiên cứu các quy định về đăng ký thành lập doanh nghiệp tại các văn bản luật khác như Luật Đầu tư, Luật các tổ chức tín dụng

- Phạm vi không gian: trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh

- Phạm vi thời gian: thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh từ năm 2010 đến năm 2013

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong phạm vi nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như: phương pháp tổng hợp và phân tích, phương pháp so sánh luật học, phương pháp logic và lịch sử, phương pháp bảng biểu, phương pháp điều tra xã hội và phương pháp khảo sát

Trong đó, phương pháp tổng hợp và phân tích là phương pháp chủ yếu được tác giả sử dụng trong quá trình nghiên cứu hoàn thành đề tài này

6 Đóng góp của đề tài

Sau khi nghiên cứu đề tài này, tác giả mong muốn có những đóng góp nhất định sau:

Thứ nhất, góp phần hoàn thiện hơn việc áp dụng pháp luật về việc đăng

ký thành lập doanh nghiệp trên cả nước nói chung và cách riêng là trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh là nơi trực tiếp thực hiện việc nghiên cứu đề tài

Thứ hai, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động đăng ký doanh nghiệp

trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh nói riêng và trên phạm vi cả nước nói chung

Trang 11

Thứ ba, trở thành nguồn tài liệu tham khảo khi tìm hiểu, nghiên cứu các

vấn đề liên quan đến hoạt động đăng ký thành lập doanh nghiệp

7 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tham khảo, danh mục từ viết tắt, danh mục bảng biểu và danh mục hình vẽ, đề tài có kết cấu ba chương như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về đăng ký thành lập doanh nghiệp Chương 2: Tình hình áp dụng pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh

Chương 3: Một số kiến nghị và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật đăng ký thành lập doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh

Trang 12

PHẦN B NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ ĐĂNG KÝ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm doanh nghiệp và một số quan điểm về doanh nghiệp

Hiện nay trên phương diện lý thuyết có khá nhiều định nghĩa giải thích thế nào là một doanh nghiệp, mỗi định nghĩa đều mang trong nó có một nội dung nhất định với một giá trị nhất định Điều ấy cũng là đương nhiên, vì rằng mỗi tác giả đứng trên nhiều quan điểm khác nhau khi tiếp cận doanh nghiệp

để phát biểu Theo cuốn Từ điển luật học thì: “doanh nghiệp là tổ chức kinh

tế được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh nghĩa là thực hiện một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu

tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” Doanh nghiệp có thể được phân loại dựa trên những

tiêu chí nhất định Căn cứ vào phạm vi trách nhiệm tài sản của doanh nghiệp đối với kết quả kinh doanh, có thể chia thành doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữu hạn và doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn Căn cứ vào hình thức sở hữu của doanh nghiệp, có thể chia thành doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, công ti (ví dụ: Công ti trách nhiệm hữu hạn, công ti cổ phần), doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Điều kiện, thủ tục thành lập doanh nghiệp và tổ chức hoạt động của các loại doanh nghiệp được quy định trong các luật doanh nghiệp tương ứng (Luật doanh nghiệp nhà nước, Luật doanh nghiệp tư nhân, Luật công ti, Luật hợp tác xã, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam)

Thuật ngữ “Doanh nghiệp” được dùng để chỉ một chủ thể kinh doanh độc lập, được thành lập và hoạt động dưới nhiều mô hình cụ thể với tên gọi khác nhau Những chủ thể này có những đặc trưng pháp lý và trong việc thành lập và hoạt động, nó phải thỏa mãn những điều kiện của pháp luật quy định

Vì vậy, Theo khoản 1, Điều 4, Luật doanh nghiệp 2005 sđ,bs quy định:

“Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch

Trang 13

ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”

1.2 Đặc trƣng pháp lý của doanh nghiệp

Doanh nghiệp với tư cách là tổ chức kinh tế có những đặc điểm riêng biệt làm cơ sở để phân biệt với hộ kinh doanh, các cá nhân tổ chức không phải là tổ chức kinh tế như hệ thống Các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp như sau:

Thứ nhất, doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế Thực tế hiện nay tồn tại

nhiều loại hình tổ chức khác nhau như: Các tổ chức đơn vị sự nghiệp, các tổ chức hiệp hội, ngành nghề các tổ chức này được hình thành trên cơ sở có sự liên kết của các thành viên trong tổ chức Sự liên kết đó thông thường được biểu hiện dưới hình thức nhất định như: Điều lệ, nội quy, quy chế, thỏa ước

Tổ chức được hình thành bao giờ cũng vì những mục tiêu nhất định Đối với

tổ chức kinh tế, đây là một dạng tổ chức được hình thành trong đời sống xã hội với mục tiêu chính là tiến hành các hoạt động kinh doanh để tìm kiếm lợi nhuận Có thể nói, đặc trưng này của các doanh nghiệp cho phép ta phân biệt giữa doanh nghiệp với các cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội

Thứ hai, doanh nghiệp có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn

định Cụ thể như sau:

Doanh nghiệp phải có tên riêng Tên riêng của doanh nghiệp là yếu tố

hình thức nhưng là dấu hiệu đầu tiên xác định tư cách chủ thể độc lập của doanh nghiệp trên thị trường Tên doanh nghiệp là cơ sở để Nhà nước thực hiện quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp và cũng là cơ sở phân biệt chủ thể trong quan hệ giữa các doanh nghiệp với nhau và với người tiêu dùng Tên doanh nghiệp được ghi trong con dấu của doanh nghiệp và mỗi chủ thể kinh doanh độc lập với tư cách là doanh nghiệp, dù thuộc loại hình hoặc kinh doanh trong lĩnh vực nào cũng đều được cấp và sử dụng một con dấu doanh nghiệp và doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm với tên riêng khi mình thực hiện các hoạt động trong quá trình tồn tại

Trang 14

Doanh nghiệp phải có tài sản Mục đích chủ yếu và trước tiên của

doanh nghiệp là hoạt động kinh doanh với những đặc trưng đầu tư tài sản và

để thu lợi về tài sản Bởi vậy, điều kiện tiên quyết và cũng là nét đặc trưng lớn của doanh nghiệp là phải có một mức độ tài sản nhất định Tài sản là điều kiện hoạt động và cũng là mục đích hoạt động của doanh nghiệp Trong điều kiện thời đại ngày nay, không thể nói đến việc thành lập một doanh nghiệp, thậm chí không thể thực hiện được một hoạt động kinh doanh thực sự trong bất cứ lĩnh vực nào, nếu hoàn toàn không có tài sản

Doanh nghiệp phải có trụ sở giao dịch ổn định (Trụ sở chính) Bất cứ

nhà đầu tư nào thành lập chủ thể kinh doanh với tư cách doanh nghiệp, dù là Việt Nam hay nước ngoài, đều phải đăng ký ít nhất một địa chỉ giao dịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam Trụ sở chính tại Việt Nam cũng là căn cứ chủ yếu để xác định quốc tịch của doanh nghiệp Các doanh nghiệp có trụ sở chính tại Việt Nam, được đăng ký thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam là các pháp nhân Việt Nam

Doanh nghiệp với tư cách là một tổ chức kinh tế tham gia hoạt động trên thị trường, doanh nghiệp sẽ phải tham gia vào các mối quan hệ pháp luật một cách độc lập bao gồm tên gọi riêng, có tài sản riêng, có trụ sở giao dịch

ổn định riêng của doanh nghiệp Thực ra để có thể tham gia trên thị trường các doanh nghiệp phải hội đủ nhiều điều kiện, còn những điều kiện trên chỉ là những điều kiện, những dấu hiệu cơ bản nhất mà pháp luật bắt buộc phải có

Thứ ba, doanh nghiệp được ĐKTLDN theo quy định của pháp luật Đây

là dấu hiệu quan trọng thể hiện sự tham gia của doanh nghiệp trên thương trường là hợp pháp và được nhà nước bảo hộ Tuy vậy, không phải bất kỳ hoạt động nào của doanh nghiệp đã ĐKKD đều được coi là hợp pháp Bởi lẽ, hoạt động của doanh nghiệp chỉ được coi là hợp pháp khi doanh nghiệp thực hiện các hoạt động trong những ngành nghề lĩnh vực đã đăng ký

Thứ tư, doanh nghiệp được thành lập với mục đích tiến hành các hoạt

động kinh doanh vì mục đích lợi nhuận Đặc điểm này thể hiện rõ mục đích của việc thành lập doanh nghiệp Với bản chất của một tổ chức kinh tế, doanh

Trang 15

nghiệp tiến hành các hoạt động kinh doanh nhằm mục tiêu thu lợi nhuận Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp có thể thực hiện những hoạt động nhằm các mục tiêu xã hội khác, không phải vì mục đích lợi nhuận như các hoạt động từ thiện, tự nguyện nhưng đó là sự kết hợp và không phải là mục tiêu bản chất của doanh nghiệp

1.3 Đăng ký thành lập doanh nghiệp

1.3.1 Thành lập doanh nghiệp

Thành lập doanh nghiệp là bước đầu tiên để một doanh nghiệp đi vào hoạt động và để được Nhà nước thừa nhận là hợp pháp thì doanh nghiệp cần tiến hành hoạt động ĐKDN, đây là một trong những thủ tục pháp lý được thực hiện tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Tùy thuộc vào loại hình doanh nghiệp, doanh nghiệp đó thuộc sở hữu Nhà nước hay sở hữu tư nhân; tùy thuộc vào mức độ cải cách hành chính và thái độ của nhà nước đối với quyền tự do kinh doanh mà thủ tục pháp lí này có tính đơn giản hay phức tạp khác nhau Thành lập doanh nghiệp được hiểu dưới các góc độ khác nhau như sau:

Ở góc độ kinh tế: thành lập doanh nghiệp là việc chuẩn bị các điều kiện vật chất cần và đủ để hình thành một tổ chức kinh doanh Nhà đầu tư phải chuẩn bị trụ sở, nhà xưởng, dây chuyền sản xuất, thiết bị kĩ thật, đội ngũ nhân công, nhà quản lý

Ở góc độ pháp lý: thành lập doanh nghiệp là một thủ tục pháp lý được thực hiện tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tuỳ thuộc vào loại hình doanh nghiêp, doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, hay thuộc sở hữu tư nhân, tuỳ thuộc vào mức độ cải cách hành chính và thái độ của nhà nước đối với quyền

tự do kinh doanh, thủ tục pháp lý này có tính đơn giản hay phức tạp khác nhau Theo đó, thủ tục thành lập doanh nghiệp có thể bao gồm thủ tục cho phép (hay quyết định) thành lập doanh nghệp, thủ tục ĐKKD hoặc chỉ có một thủ tục duy nhất là ĐKKD

Trang 16

ĐKTLDN được hiểu là thủ tục pháp lý có tính bắt buộc, được thực hiện tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, cho phép xác lập tư cách pháp lí của chủ thể kinh doanh (tức là xác định tư cách pháp lý của doanh nghiệp)

1.3.2 Đăng ký doanh nghiệp

Sau khi Nghị định số:43/2010/NĐ-CP về ĐKDN ngày 15/04/2010 có hiệu lực thì đồng nghĩa xuất hiện thuật ngữ ĐKDN thay thế cho thuật ngữ ĐKKD đã được đề cập trong các văn bản pháp luật ban hành trước như Luật doanh nghiệp 1999, Luật doanh nghiệp 2005 sđ,bs sử dụng thuật ngữ ĐKKD

để sử dụng cho việc đăng ký các hoạt động về doanh nghiệp ĐKDN là quyền của các cá nhân, tổ chức Người thành lập doanh nghiệp có nghĩa vụ thực hiện việc ĐKDN theo quy định của pháp luật Việc ĐKDN được quy định tại tại khoản 1, Điều 3, nghị định số:43/2010/NĐ-CP ngày 15/04/2010 về ĐKDN

của Chính Phủ Theo đó: “Đăng ký doanh nghiệp quy định tại Nghị định này

bao gồm nội dung về ĐKKD và đăng ký thuế đối với các loại hình doanh nghiệp thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp Đăng ký doanh nghiệp bao gồm đăng ký thành lập mới doanh nghiệp và đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp”

Như vậy, khi doanh nghiệp thực hiện hoạt động ĐKDN thì doanh nghiệp cùng một lúc thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ là ĐKKD và đăng ký thuế cho doanh nghiệp Với quy định mới này vừa mang lại lợi ích cho doanh nghiệp đăng ký là rút ngắn thời gian và chi phí vừa góp phần giúp cơ quan nhà nước thống nhất quản lý hoạt động của các cơ quan liên quan

ĐKDN bao gồm đăng ký thành lập mới doanh nghiệp và đăng ký thay đổi nội dung ĐKDN Đây là quy định có lợi cho doanh nghiệp trong việc đăng ký hoạt động của mình, không chỉ doanh nghiệp được đăng ký khi bắt đầu thành lập mà khi doanh nghiệp đã hoạt động mà có những thay đổi, bổ sung hay rút gọn nội dung hoạt động của mình thì Nhà nước cho phép doanh nghiệp được đăng ký thay đổi nội dung ĐKDN của doanh nghiệp mình

Thông qua việc ĐKDN, doanh nghiệp được ghi tên vào sổ đăng ký và được cấp giấy chứng nhận ĐKDN và mã số thuế Kể từ thời gian đó, doanh

Trang 17

nghiệp mới có tư cách pháp lí để hoạt động kinh doanh, hành vi của doanh nghiệp mới được coi là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ Theo pháp luật hiện hành, trong một thời hạn nhất định kể từ ngày được cấp giấy phép thành lập, doanh nghiệp phải tiến hành ĐKKD tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền (hiện nay là sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính)

1.3.3 Ý nghĩa đăng ký thành lập doanh nghiệp

ĐKTLDN là một thủ tục “khai sinh” ra doanh nghiệp giống như một chứng thư pháp lý của doanh nghiệp Nói cách khác, thông qua việc thành lập doanh nghiệp thì tư cách của doanh nghiệp mới được thừa nhận và làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý đối với doanh nghiệp Như vậy, việc ĐKTLDN có ý nghĩa rất lớn không những đối với các cơ quan nhà nước mà còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các chủ thể tiến hành hoạt động kinh doanh và các chủ khác trong xã hội, cụ thể:

* Đối với nhà nước

“Việc thực hiện hoạt động ĐKTLDN thể hiện sự bảo vệ của nhà nước đối với các chủ thể hoạt động kinh doanh nói chung và các doanh nghiệp trong nền kinh tế nói riêng Thực hiện hoạt động ĐKTLDN còn giúp Nhà nước thực hiện chức năng quản lý cơ cấu các thành phần kinh tế

xã hội, kiểm soát các hoạt động kinh doanh theo đường lối đã vạch ra ĐKTLDN giúp cho cơ quan quản lý nhà nước nắm bắt được các yếu tố mới trong kinh doanh để từ đó có những chủ trương, chính sách, biện pháp khuyến khích hoặc hạn chế phù hợp, giúp nhà nước có thể can thiệp một cách kịp thời và có mức độ vào nền kinh tế Bảo đảm có được một nền kinh tế hiện đại nhưng không xa rời chủ trương, chính sách của Đảng

và Nhà nước đã đề ra” [5; Tr 11]

* Đối với chủ thể đăng ký thành lập doanh nghiệp

“Sau khi được cấp giấy phép thành lập, doanh nghiệp được thừa nhận

về mặt pháp lý, có quyền tiến hành các hoạt động kinh doanh như đã đăng ký dưới sự bảo hộ của pháp luật ĐKTLDN cũng là cơ sở pháp lý chắc chắn nhất

Trang 18

để một doanh nghiệp yêu cầu các cơ quan nhà nước bảo vệ các quyền, lợi ích

và tài sản hợp pháp của mình cũng như bảo đảm tính pháp lý đối với các hoạt động của mình trong quá trình doanh nghiệp tiến hành hoạt động kinh doanh” [5; Tr 11]

* Về mặt pháp lý

“ Khi tổ chức, cá nhân tiến hành ĐKTLDN với cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì khi đó doanh nghiệp mới hình thành đó trở thành đối tượng điều chỉnh của pháp luật Mọi hoạt động liên quan đến doanh nghiệp phải đặt dưới sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam” [5; Tr 12]

* Về mặt xã hội

“ĐKTLDN còn nhằm công khai hoá các hoạt động của doanh nghiệp trước công chúng Xã hội có được các thông tin và các đảm bảo về tư cách pháp lý của doanh nghiệp Nó tạo ra niền tin với các đối tác khi thực hiện các giao dịch Đó cũng là điều kiện tiên quyết để một doanh nghiệp có thể tồn tại

và phát triển” [5; Tr 12]

* Về mặt kinh tế

“Khi bước vào hoạt động kinh doanh, doanh nghệp với tư cách là một thành viên trong cơ cấu các thành phần kinh tế, các hoạt động của doanh nghiệp còn góp phần tác động vào sự phát triển kinh tế của toàn xã hội Điều

đó được thể hiện ở việc hàng năm doanh nghiệp phải trích một phần trong doanh thu của mình để thực hiện nghĩa vụ thuế cho Nhà nước cũng như việc các doanh nghiệp thực hiện các hoạt động từ thiện, hay là đóng góp vào các quỷ công ích, xây dựng các công trình công cộng cho xã hội” [5;Tr 12]

Như vậy, việc ĐKTLDN không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo đảm quyền lợi cho bản thân các doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa đối với việc bảo đảm trật tự quản lý nhà nước và bảo vệ lợi ích cho các chủ thể khác trong xã hội Vì vậy, ĐKTLDN vừa là một nhu cầu tất yếu vừa là một đòi hỏi mang tính nghĩa vụ đối với mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường phát triển như hiện nay

Trang 19

1.4 Quá trình hình thành và phát triển của các quy định pháp luật

về đăng ký thành lập doanh nghiệp

Trước khi Luật doanh nghiệp 2005 ra đời thì hoạt động ĐKDN đã được Luật công ty, Luật doanh nghiệp tư nhân 1990 và Luật doanh nghiệp 1999 điều chỉnh Tuy nhiên, có một trở ngại lớn đối với Luật doanh nghiệp 1999 là ngoài Luật doanh nghiệp hiện hành lúc bấy giờ, vẫn có sự trùng lặp khi quy định về cùng một mô hình hoạt động, quy định không thống nhất, có sự phân biệt đối xử về điều kiện, thủ tục thành lập doanh nghiệp, đảm bảo đầu tư giữa nhà đầu tư trong nước thuộc các thành phần kinh tế khác nhau và nhà đầu tư trong nước với nhà đầu tư nước ngoài… Nhưng thực tiễn, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và cụ thể là việc tiến tới gia nhập tổ chức WTO đòi hỏi chúng

ta phải có một môi trường pháp lý kinh doanh thực sự phù hợp với tình hình chung của thế giới và có điểm thu hút, hấp dẫn đối với nhà đầu tư trong và ngoài nước Đặc biệt, pháp luật phải giữ vai trò định hướng và là sự bảo đảm

về mặt pháp lý cho sự ra đời, phát triển của hoạt động kinh doanh

Chính vì thế, Luật doanh nghiệp 2005 sđ,bs ra đời với mục đích khôi phục những bất cập của đạo luật trước, góp phần hoàn thiện môi trường kinh doanh, tiếp tục tạo môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, tích cực chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

Quy định cơ bản về thành lập doanh nghiệp trong Luật doanh nghiệp 2005 sđ,bs Luật doanh nghiệp 2005 sđ,bs đã đáp ứng yêu cầu nội tại, khách quan

về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa, khai thác mạnh mẽ mọi nguồn lực và khơi dậy tính năng động, sáng tạo của các doanh nghiệp Quy định về thành lập doanh nghiệp trong Luật doanh nghiệp 2005 sđ,bs có một số điểm nổi bật sau:

- Quy định về thành lập doanh nghiệp áp dụng thống nhất cho mọi loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Trang 20

Điều này đã góp phần đáp ứng yêu cầu bình đẳng, không phân biệt đối xử trong nền kinh tế

- Tiếp tục hoàn thiện cơ chế hậu kiểm đã được quy định trong Luật doanh nghiệp 1999

- Tiếp tục thể chế hóa tốt hơn quyền tự do kinh doanh đã được hiến pháp

1992 sđ,bs 2001 thừa nhận như mở rộng thêm về đối tượng có quyền thành lập doanh nghiệp

- Việc thực hiện quy định về ĐKKD đồng thời với quy định về đăng ký đầu tư trong Luật đầu tư 2005

Nhìn tổng quát, nội dung của Luật doanh nghiệp 2005 sđ,bs đã thể chế hoá được những chủ trương của Đảng về hội nhập, cải thiện môi trường kinh doanh và phát triển các thành phần kinh tế

Một điểm dễ nhận thấy là so với Luật doanh nghiệp 1999, Luật doanh nghiệp 2005 sđ,bs đơn giản và rõ ràng hơn trong thành lập và ĐKKD:

- Thứ nhất, Rút ngắn hơn thời hạn cấp giấy chứng nhận ĐKKD; đồng

thời quy định cụ thể hơn, rõ ràng hơn về hồ sơ ĐKKD đối với từng loại hình doanh nghiệp

- Thứ hai, Quy định cụ thể hơn, rõ hơn trách nhiệm của cơ quan ĐKKD

điều kiện cấp giấy chứng nhận ĐKKD; đặt tên doanh nghiệp để tránh trường hợp trùng tên hoặc gây nhầm lẫn trong đặt tên doanh nghiệp

- Thứ ba, Từng loại hình doanh nghiệp được cụ thể hoá mô hình quản

lý, đặc biệt là loại hình công ty hợp doanh và công ty TNHH một thành viên

Bổ sung thêm loại hình doanh nghiệp được đa dạng hơn để các nhà đầu tư lựa chọn bằng việc cho phép thành lập công ty TNHH có một thành viên là cá nhân

- Thứ tư, Thừa nhận tư cách pháp nhân của công ty hợp danh Điều này,

tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động kinh doanh của loại hình doanh nghiệp được coi là khá mới và chưa phổ biến này ở Việt Nam

Trang 21

Nghị định số:43/2010/NĐ-CP về ĐKKD ra đời thay thế Nghị định số: 88/2006/NĐ-CP về ĐKKD đã thay đổi thuật ngữ ĐKKD tại Luật doanh nghiệp

2005 sđ,bs thành ĐKDN

Kinh doanh là thực hiện liên tục một hoặc một số hoặc tất cả các công

đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi

Doanh nghiệp được dùng để chỉ một chủ thể kinh doanh độc lập có đủ

những đặc trưng pháp lý và thỏa mãn những điều kiện do pháp luật quy định Việc thay đổi từ thuật ngữ kinh doanh thành doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng, thể hiện cái nhìn mới và toàn diện của các nhà lập pháp về công tác ĐKTLDN Nếu dùng thuật ngữ “ĐKKD” thì ta có thể hiểu là một hoạt động pháp lý bao gồm hành vi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ĐKKD Theo đó, chủ thể trực tiếp tiến hành hoạt động kinh doanh phải khai báo theo đúng quy định của pháp luật với các nội dung cụ thể, còn các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành ghi tên vào sổ ĐKKD đồng thời cấp cho chủ thể ĐKKD giấy chứng nhận ĐKKD Giấy chứng nhận ĐKKD là bằng chứng pháp lý chứng minh chủ thể kinh doanh tiến hành các hoạt động kinh doanh một cách hợp pháp, được nhà nước công nhận và bảo hộ Còn ĐKDN quy định tại Nghị định số:43/2010/NĐ-CP về ĐKDN bao gồm nội dung về ĐKKD và đăng ký thuế đối với các loại hình doanh nghiệp thành lập theo quy định của Luật doanh nghiệp ĐKDN bao gồm ĐKTLDN và đăng ký thay đổi nội dung ĐKDN

Thuật ngữ ĐKKD giống như một khâu trong quá trình vận hành hoạt động của một doanh nghiệp, còn thuật ngữ ĐKDN là sự đánh dấu sự

ra đời của một thực thể - chủ thể kinh doanh mới Việc thay đổi thuật ngữ thể hiện cái nhìn sâu rộng, khái quát hơn của các quy định pháp luật Nghị định số:43/2010/NĐ-CP về ĐKDN ra đời còn có những nét đổi mới hoàn thiện hơn như: Phòng ĐKKD tiếp nhận, xem xét hồ sơ và thông báo kết quả giải quyết thủ tục qua hệ thống thông tin ĐKDN quốc gia Hồ sơ nộp

Trang 22

qua cổng thông tin ĐKDN quốc gia có giá trị pháp lý như hồ sơ nộp bằng bản giấy

Trường hợp người thành lập doanh nghiệp chưa có chữ ký điện tử, việc đăng ký qua mạng điện tử vẫn có thể gửi hồ sơ qua hệ thống thông tin ĐKDN quốc gia Nếu hồ sơ được chấp nhận, doanh nghiệp sẽ in giấy xác nhận nộp

hồ sơ qua mạng, sau đó người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp ký tên và gửi đến phòng ĐKKD cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính Nghị định số:43/2010/NĐ-CP về ĐKDN cũng quy định rút ngắn thời hạn cấp giấy chứng nhận ĐKTLDN, từ 10 ngày như trước đây, xuống còn 5 ngày Nếu quá thời hạn trên mà không được cấp giấy chứng nhận, người thành lập doanh nghiệp có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật

Cũng theo Nghị định này, doanh nghiệp đăng ký trùng tên với doanh nghiệp trước đó sẽ không phải đổi tên Mỗi doanh nghiệp sẽ được cấp một mã

số duy nhất gọi là mã số doanh nghiệp, mã số này đồng thời là mã số thuế của doanh nghiệp

1.5 Các quy định pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp

1.5.1 Điều kiện đăng ký thành lập doanh nghiệp

Trong nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế hôm nay việc thành lập của các doanh nghiệp mới ngày một nhiều và đa dạng, tuy nhiên bên cạnh đó

nó cũng không kém phần phức tạp Điều đó đã tạo nên một thách thức không nhỏ đối với các nhà làm luật và cơ quan quản lý nhà nước liên quan đến hoạt động ĐKTLDN Chính vì vậy, việc quy định và thể chế hóa các quy định thành các quy phạm pháp luật được các cơ quan lập pháp và các cơ quan liên quan vô cùng quan tâm Điều đó đã được cụ thể hóa bằng việc ban hành các Điều Luật quy định về các điều kiện ĐKTLDN Vì vậy, Việc thành lập doanh nghiệp và ĐKDN là quyền của nhà đầu tư, song để được cấp giấy chứng nhận ĐKKD cho doanh nghiệp, nhà đầu từ phải thỏa mãn những điều kiện nhất định như:

Trang 23

* Điều kiện về chủ thể

“Theo quy định của pháp luật mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền tham gia kinh doanh, nhưng muốn được ĐKKD thì những tổ chức, cá nhân đó phải đảm bảo một số điều kiện nhất định Tại khoản 2, Điều 13, Luật doanh nghiệp 2005sđ,bs đã quy định những tổ chức, cá nhân không được quyền thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam Luật doanh nghiệp 2005 sđ,bs đã quy định khá rõ ràng và cụ thể các điều kiện về chủ thể khi thành lập doanh nghiệp Điều đó giúp các nhà đầu tư hiểu một cách rõ ràng và tự nhận thức được quyền năng

của mình khi tiến hành ĐKKD một cách hợp pháp

Mỗi loại hình doanh nghiệp khác nhau lại có những quy định riêng về điều kiện thành lập và quản lý doanh nghiêp Nó hạn chế chủ thể có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp cụ thể loại hình doanh nghiệp đó chứ không loại trừ toàn bộ khả năng thành lập và tham gia quản lý doanh nghiệp của đối tượng này [14; Tr 21]

* Điều kiện về vốn

“Mục đích của doanh nghiệp là kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận, do đó doanh nghiệp phải có vốn, vốn kinh doanh của doanh nghiệp hình thành từ các nguồn vốn khác nhau như: do các thành viên đóng góp, do doanh nghiệp tích lũy được trong quá trình kinh doanh Vốn có thể bằng tiền Việt Nam, ngoại tệ hoặc các tài sản khác Mục đích của việc quy định vốn pháp định là giúp doanh nghiệp sau khi ra đời có thể hoạt động được, đồng thời là cơ sở đảm bảo các khoản vay vốn ngân hàng và các khoản thanh toán với các chủ

nợ khác Với ý nghĩa quan trọng việc quy định vốn pháp định của Nhà nước phù hợp với mục tiêu bảo vệ lợi ích của các chủ thể khi tham gia các giao dịch”[14; Tr 22]

Hiện nay, việc quy định về vốn pháp định chỉ bắt buộc đối với các ngành nghề như bảo hiểm, chứng khoán Việc pháp luật quy định vốn pháp định đối với một số ngành nghề kinh doanh giúp cho các nhà đầu tư tập trung kinh doanh, không lo nhiều về vốn, đồng thời tạo nên tâm lý yên tâm cho các đối tác khi hợp tác kinh doanh với doanh nghiệp hơn

Trang 24

* Điều kiện về ngành, nghề kinh doanh

Các loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được ĐKKD

ở hầu hết các ngành nghề trừ một số ngành nghề liên quan đến an ninh, xã hội

mà nhà nước cấm kinh doanh Thông qua việc quy định cụ thể các ngành nghề cấm kinh doanh, Nhà nước thừa nhận doanh nghiệp có quyền kinh doanh những ngành nghề mà pháp luật không cấm

+ Ngành nghề kinh doanh có điều kiện

Đối với các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện thì tùy từng ngành, nghề kinh doanh mà doanh nghiệp phải đáp ứng các yêu cầu sau như: xin giấy phép kinh doanh do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho ngành nghề kinh doanh đó (ví dụ như đối với ngành sản xuất phim, doanh nghiệp phải có giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh do Cục Điện ảnh cấp trước khi làm thủ tục ĐKKD); hoặc đáp ứng các quy định về tiêu chuẩn vệ sinh môi trường,

vệ sinh an toàn thực phẩm; quy định về phòng cháy, chữa cháy, trật tự xã hội,

an toàn giao thông và quy định về các yêu cầu khác đối với hoạt động kinh doanh tại thời điểm thành lập và trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp (ví dụ như kinh doanh vũ trường, karaoke)

Điều kiện kinh doanh là yêu cầu mà doanh nghiệp phải có hoặc phải thực hiện khi kinh doanh ngành, nghề cụ thể, được thể hiện bằng giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, chứng chỉ hành nghề, chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, yêu cầu về vốn pháp định hoặc yêu cầu khác Tuy nhiên có một số ngành, nghề không cần giấy phép kinh doanh nhưng phải đáp ứng được một số điều kiện mà pháp luật quy định cho ngành, nghề đó

+ Ngành nghề kinh doanh phải có chứng chỉ hành nghề

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì những ngành nghề sau đây đòi hỏi người kinh doanh phải có chứng chỉ hành nghề:

Kinh doanh dịch vụ pháp lý

Kinh doanh dịch vụ khám chữa bệnh và kinh doanh dược phẩm

Kinh doanh dịch vụ thú ý và kinh doanh thuốc thú y

Trang 25

Kinh doanh dịch vụ thiết kế công trình

Kinh doanh dịch vụ kiểm toán

Kinh doanh dịch vụ môi giới chứng khoán

Đây là những ngành nghề pháp luật quy định khi kinh doanh cần phải

có chứng chỉ hành nghề nhằm bảo vệ quyền lợi của khách hàng trong những trường hợp cần thiết Chứng chỉ hành nghề được cấp ở nước ngoài không có hiệu lực thi hành tại Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành hoặc Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác

Một số ngành nghề kinh doanh c n cần phải có vốn pháp định

Một số ngành như: chứng khoán, tín dụng, các dịch vụ hàng không, dịch

vụ bất động sản… là những ngành nghề kinh doanh đòi hỏi cần có vốn pháp định

Có 2 loại yêu cầu về vốn pháp định:

Loại thứ nhất là yêu cầu về vốn pháp định được coi như là một điều kiện để doanh nghiệp (sau khi thành lập) xin các giấy phép kinh doanh chuyên ngành Ví dụ, trong lĩnh vực hàng không, đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài

Loại thứ hai là yêu cầu ĐKTLDN

Điều kiện về tên của doanh nghiệp: tên doanh nghiệp không được trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên của doanh nghiệp khác đã ĐKKD, không được vi phạm truyền thống lịch sử, văn hoá đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc; phải thoả mãn các điều kiện được quy định tại Điều 31 và Điều 32 Luật doanh nghiệp 2005 sđ,bs

Trang 26

So với các văn bản pháp lý trước đây thì Luật doanh nghiệp năm 2005 sđ,bs đã có những tiến bộ trong việc quy định các ngành nghề kinh doanh, đây thực sự là bước đột phá vào lĩnh vực hành chính vốn lâu nay bị xem là còn nhiều hạn chế, khắc phục được phần lớn tình trạng làm dụng giấy phép làm công cụ quản lý Nhà nước Các quy định này đã góp phần mở rộng quyền

tự do kinh doanh nghiệp đồng thời cũng làm tăng hiệu lực quản lý của Nhà nước

1.5.2 Chủ thể có quyền và nghĩa vụ đăng ký thành lập doanh nghiệp

Hoạt động thành lập doanh nghiệp là một trong những quyền mà Nhà nước trao cho các chủ thể kinh doanh khi đáp ứng các điều kiện mà pháp luật quy định Đây là hoạt động không chỉ mang lại lợi ích trực tiếp cho các chủ thể kinh doanh mà nó còn góp một phần to lớn vào công cuộc xây dựng, phát triển đất nước và đồng thời tạo nên sự công bằng và bình đẳng trong xã hội Được quy định tại khoản 1, Điều 13, Luật doanh nghiệp năm 2005 sđ,bs, quy định về chủ thể có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp như sau:

“Tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.”

Vì thế, mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền tham gia thành lập doanh nghiệp, nhưng muốn được ĐKDN thì những tổ chức, cá nhân đó phải đảm bảo một số điều kiện nhất định Để đảm bảo quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong kinh doanh, bảo vệ lợi ích của xã hội, pháp luật quy định quyền thành lập, góp vốn, mua cổ phần và quản lý doanh nghiệp Tuy nhiên, tại khoản 2, điều 13, Luật doanh nghiệp 2005 sđ,bs cũng quy định các đối tượng không được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam

Như vậy, việc quy định chủ thể có quyền ĐKTLDN như trên ta có thể nhận thấy rằng hệ thống pháp luật đang ngày được hoàn thiện hơn, nhìn nhận đánh giá các chủ thể có điều kiện tham gia thị trường và những chủ thể không

đủ tư cách tham gia thị trường được đầy đủ và khách quan hơn Ngoài ra việc quy định cụ thể những chủ thể được thành lập doanh nghiệp và những chủ thể

Trang 27

không được thành lập doanh nghiệp như vậy sẻ góp phần giúp cơ quan quản

lý nhà nước thống nhất được quản lý của mình đồng thời góp phần sàng lọc những doanh nghiệp tốt nhất cho nền kinh tế

1.5.3 Chủ thể có thẩm quyền thực hiện đăng ký thành lập doanh nghiệp

Bên cạnh việc quy định các chủ thể được tham gia ĐKTLDN thì pháp luật cũng quy định cụ thể và chi tiếp các chủ thể có thẩm quyền thực hiện ĐKTLDN Đó là hệ thống các cơ quan chuyên trách từ Trung ương tới địa phương, được thành lập và hoạt động một cách chặt chẽ, theo một quy chế riêng biệt dưới sự quản lý của nhà nước Và chỉ có các chủ thể thuộc các cơ quan theo luật định mới có thẩm quyền thực hiện hoạt động ĐKTLDN

Theo quy định tại khoản 1, Điều 9, nghị định số:43/2010/NĐ-CP ngày 15/04/2010 về ĐKDN đã quy định khá rõ về điều này Theo quy định tại nghị định này thì chủ thể có thẩm quyền ĐKTLDN (hay còn gọi là cơ quan ĐKKD) được tổ chức thành một hệ thống trong toàn quốc với hai cấp là: cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Phòng ĐKKD thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư gọi chung là Phòng ĐKKD cấp tỉnh Căn cứ vào yêu cầu và nhiệm vụ cụ thể của công tác ĐKTLDN ở địa phương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập phòng ĐKKD cấp huyện, trường hợp không thành lập phòng ĐKKD cấp huyện thì giao phòng tài chính - kế toán hoặc phòng kinh tế thực hiện nhiệm

vụ ĐKKD và gọi chung là cơ quan ĐKTLDN cấp huyện Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thống nhất với Ban quản lý các khu kinh tế do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập (gọi chung là khu kinh tế) thành lập phòng ĐKKD tại khu kinh tế Phòng ĐKKD cấp tỉnh có chức năng ĐKKD cho các doanh

nghiệp

* Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc ĐKKD

+ Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh

Phòng ĐKKD cấp tỉnh là cơ quan trực thuộc sở Kế Hoạch và Đầu Tư cấp tỉnh và chịu sự giám sát, quản lý trực tiếp của bộ Kế Hoạch và Đầu Tư

Trang 28

Theo quy định của pháp luật tại Điều 10, nghị định số:43/2010/NĐ-CP về ĐKDN thì phòng ĐKKD cấp tỉnh có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

“Thứ nhất, trực tiếp nhận hồ sơ ĐKKD; xem xét tính hợp lệ của hồ sơ

ĐKDN và cấp hoặc từ chối cấp Giấy chứng nhận ĐKKD

Thứ hai, phối hợp xây dựng, quản lý, vận hành Hệ thống thông tin

ĐKKD việc chuyển đổi dữ liệu từ cơ sở dữ liệu về ĐKKD tại địa phương sang Cơ sở dữ liệu quốc gia về ĐKDN; cung cấp thông tin về ĐKDN trong phạm vi địa phương cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Cục thuế địa phương, các

cơ quan có liên quan, cho các tổ chức, cá nhân có yêu cầu

Thứ ba, yêu cầu doanh nghiệp báo cáo tình hình kinh doanh theo quy

định tại điểm c, khoản 1, Điều 163, Luật Doanh nghiệp 2005 sđ,bs; đôn đốc việc thực hiện chế độ báo cáo hàng năm của doanh nghiệp

Thứ tư, trực tiếp kiểm tra hoặc đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm

quyền kiểm tra doanh nghiệp theo nội dung trong hồ sơ ĐKDN; hướng dẫn cơ quan ĐKKD cấp huyện về hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký hộ kinh doanh; hướng dẫn doanh nghiệp và người thành lập doanh nghiệp về hồ sơ, trình tự, thủ tục ĐKDN

Thứ năm, yêu cầu doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh ngành, nghề

kinh doanh có điều kiện khi phát hiện doanh nghiệp không có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, đồng thời thông báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật

Thứ sáu, thu hồi Giấy chứng nhận ĐKDN đối với doanh nghiệp trong

các trường hợp quy định tại Điều 59 Nghị định số:45/2010/NĐ-CP về ĐKDN

Thứ bảy, đăng ký cho các loại hình khác theo quy định của pháp luật

+ Cơ quan ĐKKD cấp huyện

Với mục đích chia sẻ gánh nặng cho phòng ĐKKD cấp tỉnh, cũng như phân cấp quản lý để tránh sự chồng chéo, lộng quyền trong hoạt động thực hiện việc ĐKKD, thì ở cấp huyện thành lập thêm cơ ĐKKD doanh trực thuộc

Ủy ban nhân dân huyện và chịu sự giám sát, quản lý của cấp trên là sở Kế Hoạch và Đầu Tư cấp tỉnh của địa phương đó Theo đó, nhiệm vụ, quyền hạn,

Trang 29

trách nhiệm của cơ quan ĐKKD cấp huyện được quy định tại Điều 11, nghị định số:43/NĐ-CP/2010 về ĐKDN như sau:

“Thứ nhất, trực tiếp nhận hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh; xem xét tính

hợp lệ của hồ sơ và cấp hoặc từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh

Thứ hai, phối hợp xây dựng, quản lý, vận hành hệ thống thông tin về hộ

kinh doanh hoạt động trên phạm vi địa bàn; định kỳ báo cáo Ủy ban nhân dân cấp huyện, Phòng ĐKKD cấp tỉnh, cơ quan thuế cấp huyện về hộ kinh doanh trên địa bàn

Thứ ba, trực tiếp kiểm tra hộ kinh doanh theo nội dung trong hồ sơ

đăng ký trên phạm vi địa bàn; phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra doanh nghiệp; xác minh nội dung ĐKDN, chi nhánh, văn phòng đại diện và địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp trên phạm vi địa bàn theo yêu cầu của Phòng ĐKKD cấp tỉnh

Thứ tư, yêu cầu hộ kinh doanh báo cáo tình hình kinh doanh khi cần

thiết

Thứ năm, yêu cầu hộ kinh doanh tạm ngừng kinh doanh ngành, nghề

kinh doanh có điều kiện khi phát hiện hộ kinh doanh không có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, đồng thời thông báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật

Thứ sáu, thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh trong các trường hợp quy định tại Điều 61 Nghị định số:43/NĐ-CP/2010 về ĐKDN

Thứ bảy, đăng ký cho các loại hình khác theo quy định của pháp luật”

Như vậy, khi thực hiện hoạt động ĐKKD của mình thì tùy theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, thẩm quyền của mình mà cơ quan ĐKKD cấp tỉnh (Phòng đăng kí kinh doanh) và cơ quan ĐKKD cấp huyện phải thực hiện theo đúng các quy định mà pháp luật đã quy định Mọi hành vi vi phạm, sai trái không đúng pháp luật đều bị xử lí theo quy định

Trang 30

1.5.4 Hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp

Hồ sơ ĐKKD là điều kiện cần và đủ để Nhà nước xem xét, quyết định một doanh nghiệp có được ra đời hay không Chính vì vậy khi ĐKTLDN nhà đầu tư cần lưu ý và chuẩn bị đầy đủ nội dung cũng như thủ tục mà hồ sơ quy định

Luật doanh nghiệp 1999 quy định hồ sơ ĐKKD chung cho các loại doanh nghiệp, nhưng Luật doanh nghiệp 2005 sđ,bs thì tuỳ vào từng loại hình doanh nghiệp mà nhà nước có những quy định về nội dung hồ sơ ĐKKD khác nhau:

* Hồ sơ ĐKDN của doanh nghiệp tư nhân được quy định tại Điều 16, Luật doanh nghiệp 2005 sđ,bs

* Hồ sơ ĐKDN của công ty hợp danh được quy định tại Điều 17, Luật doanh nghiệp 2005sđ,bs

* Hồ sơ ĐKDN của công ty trách nhiệm hữu hạn được quy định tại Điều 18, Luật doanh nghiệp 2005 sđ,bs

* Hồ sơ ĐKKD của công ty cổ phần được quy định tại Điều 19, Luật doanh nghiệp 2005 sđ,bs

Như vậy, có thể thấy từ khi Luật doanh nghiệp 2005 sđ,bs và được hướng dẫn thi hành bằng Nghị định số:43/2010/NĐ-CP về ĐKDN, cụ thể được quy định tại chương III và chương IV của nghị định này Qua đó cho thấy đã có sự thông thoáng hơn trong việc nộp chứng chỉ cho những cá nhân khác trong doanh nghiệp chứ không giới hạn ở người quản lý phải có chứng chỉ hành nghề Có thể nộp chứng chỉ của giám đốc một trung tâm hay một nhóm làm việc nào đấy trong doanh nghiệp Số lượng chứng chỉ là không bắt buộc Có bao nhiêu chứng chỉ tương ứng với ngành nghề kinh doanh thì nộp bấy nhiêu, đây là yêu cầu tối thiểu chứ không yêu cầu tối đa, còn nếu có thêm thì nộp chứ không có bắt buộc về số lượng Hồ sơ ĐKKD đã có sự đơn giản hoá tối đa về mặt thủ tục hành chính nhưng lại tương đối chặt chẽ và là cơ sở

để tăng cường công tác quản lý của nhà nước và tính tự chịu trách nhiệm của người thành lập doanh nghiệp Việc áp dụng các quy định này trong thực tiễn

Trang 31

thời gian qua đã phát huy những tác dụng tích cực trong đời sống kinh tế của đất nước

1.5.5 Trình tự, thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp

Theo quy định trước đây, để thành lập Công ty hoặc Doanh nghiệp tư nhân, nhà đầu tư phải thực hiện thủ tục qua hai giai đoạn: xin phép thành lập

và ĐKKD mà trong mỗi giai đoạn nhà đầu tư cần phải làm rất nhiều các loại giấy tờ khác nhau Thủ tục hành chính phiền hà này khiến cho rất nhiều nhà đầu tư phải đau đầu

Cho đến khi Luật Doanh nghiệp 1999 ra đời và gần đây nhất là Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật doanh nghiệp 2005 sđ,bs thì thủ tục thành lập các công ty, doanh nghiệp đã hết sức đơn giản và nhà đầu tư chỉ phải thực hiện một thủ tục duy nhất là ĐKKD tại cơ quan có thẩm quyền Thành lập công ty hay doanh nghiệp là do tự bản thân nhà đầu tư tự quyết định, đó là quyền của

họ mà không một cơ quan, tổ chức nào có quyền ngăn cản Ngoài việc giản lược các quá trình thành lập công ty, doanh nghiệp, trong thủ tục ĐKKD cũng

có thay đổi theo hướng đơn giản, gọn nh , nhanh chóng, tạo ra một cơ chế thông thoáng là động lực thúc đẩy sự ra đời và phát triển của doanh nghiệp Trình tự thủ tục ĐKKD được pháp luật quy định cụ thể tại điều 15 Luật Doanh nghiệp 2005 sđ,bs theo đó việc ĐKKD được tiến hành tại cơ quan đăng ký kinh doanh qua các bước sau:

Bước 1 Nộp hồ s đăng ký kinh doanh

Hồ sơ ĐKKD theo quy định được nộp tại phòng ĐKKD cấp tỉnh (Phòng ĐKKD thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư) nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính

Hồ sơ ĐKKD là những khai báo về bản thân chủ đầu tư do chính họ lập

ra do đó pháp luật quy định họ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của nội dung hồ sơ ĐKKD trong quá trình ĐKKD và trong suốt thời gian doanh nghiệp hoạt động

Trang 32

Bước 2 Tiếp nhận hồ s đăng ký kinh doanh

Tiếp nhận hồ sơ được thực hiện bằng việc cơ quan ĐKKD ghi vào sổ tiếp nhận hồ sơ ĐKKD của cơ quan mình, đồng thời trao cho giấy biên nhận

về việc nhận hồ sơ cho người nhận hồ sơ Thời điểm tiếp nhận hồ sơ được coi

là căn cứ để xác định thời hạn thực hiện trách nhiệm ĐKKD của cơ quan ĐKKD Cũng chính vì thế mà giấy biên nhận về việc tiếp nhận hồ sơ là cơ sở pháp lý để nhà đầu tư có thể thực hiện quyền khiếu nại của mình trong trường hợp cơ quan đăng ký không tiến hành việc ĐKKD theo đúng thời hạn

Bước 3 Tạo và cấp mã số doanh nghiệp

Việc tạo và cấp mã số doanh nghiệp được quy định tại Điều 26 Quy trình phối hợp tạo và cấp mã số doanh nghiệp và Điều 28 Thời hạn cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp tại Nghị định số:43/2010/NĐ-CP về ĐKDN

Khi hồ sơ ĐKDN đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận ĐKDN theo quy định, thông tin về hồ sơ ĐKDN được chuyển sang cơ sở dữ liệu của Tổng cục Thuế (Bộ Tài chính) Trong thời hạn hai ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông tin từ cơ sở dữ liệu quốc gia về ĐKDN, Tổng cục Thuế có trách nhiệm tạo mã số doanh nghiệp và chuyển mã số doanh nghiệp sang cơ

sở dữ liệu quốc gia về ĐKDN để phòng ĐKKD cấp tỉnh cấp cho doanh nghiệp Thông tin về việc cấp giấy chứng nhận ĐKDN sẽ được chuyển sang tổng cục Thuế

Trường hợp Tổng cục Thuế từ chối cấp mã số cho doanh nghiệp thì phải gửi thông báo cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong đó nói rõ lý do từ chối

để chuyển cho cơ quan ĐKKD cấp tỉnh thông báo cho doanh nghiệp

Trong thời hạn chậm nhất 2 ngày làm việc kể từ khi nhận được hồ sơ đăng ký hợp lệ của doanh nghiệp, Phòng ĐKKD - Sở Kế hoạch và Đầu tư gửi tới Cục thuế tỉnh bản sao giấy đề nghị ĐKKD (đối với trường hợp thành lập doanh nghiệp) hoặc thông báo thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện) và bản kê khai thông tin đăng ký thuế

Bước 4 Cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

Cơ quan ĐKKD cấp giấy chứng nhận ĐKKD cho doanh nghiệp nếu:

- Nghành nghề ĐKKD không thuộc lĩnh vực cấm kinh doanh;

Trang 33

- Tên của doanh nghiệp được đặt theo đúng quy định của pháp luật;

- Có trụ sở chính theo quy định của pháp luật;

- Có hồ sơ ĐKKD hợp lệ theo quy định của pháp luật;

- Nộp đủ lệ phí ĐKKD theo quy định của pháp luật

Như vậy, doanh nghiệp sẽ không được cấp giấy chứng nhận ĐKKD trong trường hợp ngành, nghề kinh doanh của Doanh nghiệp thuộc danh mục ngành, nghề cấm kinh doanh Trường hợp người nộp hồ sơ nhưng không nộp hoặc nộp không đủ lệ phí thì coi như không nộp hồ sơ ĐKKD và vì vậy cũng không được ĐKKD Lệ phí ĐKKD được xác định căn cứ vào số lượng ngành, nghề ĐKKD; mức lệ phí do Chính phủ quy định

Sau khi được cấp chứng nhận ĐKKD, Doanh nghiệp sẽ được khắc con dấu và được sử dụng con dấu của mình, được quyền thực hiện các hoạt động kinh doanh theo đúng nội dung mà mình đã đăng ký Trừ trường hợp kinh doanh những ngành nghề có điều kiện thì Doanh nghiệp chỉ được tiến hành kinh doanh sau khi có cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép kinh doanh hoặc sau khi đã thỏa mãn các điều kiện theo quy định của pháp luật Việc cấp giấy chứng nhận ĐKKD đã hoàn toàn thừa nhận tư cách chủ thể của Công ty trên thương trường, đồng thời với việc cấp giấy chứng nhận ĐKKD đã chấm dứt vai trò của Nhà Nước trong giai đoạn “tiền kiểm” để chuyển sang một giai đoạn mới - giai đoạn “hậu kiểm”

Việc đăng báo vừa là để quảng bá sự xuất hiện của Doanh nhiệp trên thương trường, vừa là để đảm bảo sự quản lý của Nhà Nước đối với hoạt động của Doanh nghiệp do vậy nó vừa là quyền lợi vừa là trách nhiệm của mỗi

Doanh nghiệp

Bước 5 Công bố nội dung đăng ký kinh doanh

Được quy định tại Điều 28 Luật doanh nghiệp năm 2005 sđ.bs việc đăng báo vừa là để thông báo sự xuất hiện của doanh nhiệp trên thương trường, vừa là để đảm bảo sự quản lý của Nhà Nước đối với hoạt động của doanh nghiệp do vậy nó vừa là quyền lợi vừa là trách nhiệm của mỗi doanh nghiệp”

Ngày đăng: 21/08/2023, 01:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w