1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hoạt động dạy học ở các trường trung học phổ thông ngoài công lập thành phố vinh, tỉnh nghệ an

100 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hoạt động dạy học ở các trường trung học phổ thông ngoài công lập thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
Tác giả Dương Nam Thắng
Người hướng dẫn PGS. TS. Mai Văn Trinh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Quản lý giáo dục
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 841,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

28 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGOÀI CÔNG LẬP THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN 29 2.1.. 55 CHƯƠN

Trang 2

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS MAI VĂN TRINH

Nghệ An - 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm chân thành, tác giả luận văn chân thành cảm ơn trường Đại học Vinh, UBND tỉnh Nghệ An, Sở GDĐT Nghệ An và các trường THPT ngoài công lập Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đã tạo điều kiện cho tôi tham gia khóa học thật sự hữu ích và cung cấp tài liệu, số liệu trong quá trình hoàn thành luận văn

Xin bày tỏ lòng biết ơn các thầy giáo, cô giáo đã tận tình giảng dạy, giúp

đỡ trong suốt quá trình học tập Đặc biệt xin chân thành cảm ơn PGS.TS Mai Văn Trinh đã trực tiếp tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn này

Xin cảm ơn đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã động viên và tạo mọi đều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành khóa học

Trong quá trình nghiên cứu và viết luận văn, không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong được chỉ dẫn và góp ý

Nghệ An, tháng 3 năm 2014

Tác giả

Dương Nam Thắng

Trang 4

TT CHỮ VIẾT TẮT CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Giả thuyết khoa học 4

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Những đóng góp của đề tài 5

8 Cấu trúc của luận văn 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGOÀI CÔNG LẬP 6 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

1.2 Các khái niệm cơ bản 7

1.2.1 Công nghệ thông tin 7

1.2.2 Ứng dụng công nghệ thông tin 9

1.2.3 Quản lý 10

1.2.4 Quản lý giáo dục 12

1.2.5 Hoạt động dạy học 14

1.2.6 Ứng dụng CNTT trong quản lý hoạt động dạy học 15

1.2.7 Trường THPT ngoài công lập 19

1.3 Một số vấn đề về ứng dụng CNTT trong quản lý hoạt động dạy học ở trường THPT ngoài công lập 5 20 1.3.1 Ứng dụng CNTT trong quản lý soạn thảo giáo án 20

1.3.2 Ứng dụng CNTT trong quản lý thực hiện bài giảng 21

Trang 6

1.3.5 Ứng dụng CNTT trong quản lý học tập của học sinh 24

1.4 Vai trò của CBQL với việc ứng dụng CNTT trong trường phổ thông 25 1.4.1 Xây dựng kế hoạch ứng dụng CNTT 25

1.4.2 Tổ chức triển khai và quản lý ứng dụng 26

1.4.3 Đánh giá hiệu quả ứng dụng 26

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả việc ứng dụng CNTT trong quản lý hoạt động dạy học ở các trường THPT ngoài công lập 27

1.5.1 Những yếu tố chủ quan 27

1.5.2 Những yếu tố khách quan 28

Tiểu kết chương 1 28

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGOÀI CÔNG LẬP THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN 29 2.1 Khát quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, truyền thống lịch sử văn hóa và giáo dục của Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An 29

2.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên; kinh tế - xã hội 29

2.1.2 Khái quát về truyền thống lịch sử văn hóa 30

2.1.3 Khái quát về giáo dục Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An 32

2.2 Thực trạng việc ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học ở các trường THPT ngoài công lập Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An 37

2.2.1 Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ công tác ứng dụng CNTT 37

Trang 7

2.2.3 Thực trạng việc ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học 39

2.3 Thực trạng việc ứng dụng CNTT trong quản lý hoạt động dạy học ở các trường THPT ngoài công lập Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An 44

2.3.1 Thực trạng thực hiện các nội dung việc ứng dụng CNTT trong quản lý hoạt động dạy học 44

2.3.2 Thực trạng việc ứng dụng CNTT trong quản lý hoạt động dạy học 9 46 2.4 Thực trạng về hệ thống mạng thông suốt từ Trung ương đến địa phương trong ngành GDĐT 48

2.4.1 Bộ GDĐT 48

2.4.2 Sở GDĐT 50

2.4.3 Trường THPT 52

2.5 Đánh giá chung thực trạng

2.5.1 Thành công

2.5.2 Hạn chế

2.5.3 Nguyên nhân của những hạn chế

52 52 53 54 Tiểu kết chương 2 55

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGOÀI CÔNG LẬP THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN 57 3.1 Các nguyên tắc đề xuất giải pháp

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi

3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống

57

57

57

58

58

58

Trang 8

3.2 Một số giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hoạt

3.2.1 Giải pháp 1: Nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý, giáo

viên, công nhân viên về việc ứng dụng CNTT trong hoạt động

dạy học 59

3.2.2 Giải pháp 2: Tăng cường công tác bồi dưỡng nâng cao năng lực CNTT cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên trong nhà trường……… 60

3.2.3 Giải pháp 3: Tăng cường lập kế hoạch và chỉ đạo triển khai các nội dung ứng dụng CNTT vào hoạt động dạy học 61

3.2.4 Giải pháp 4: Quản lý công tác biên soạn, lưu trữ các phần mềm dạy học và các bài giảng điện tử 63

3.2.5 Giải pháp 5: Xây dựng và sử dụng có hiệu quả hệ thống cơ sở vật chất, phương tiện CNTT 64

3.2.6 Giải pháp 6: Tăng cường kiểm tra việc thực hiện ứng dụng CNTT trong dạy học của giáo viên 66

3.2.7 Giải pháp 7: Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng thiết kế bài giảng trình chiếu trên máy tính 81 68 3.2.8 Giải pháp 8: Sử dụng các hình thức thi đua khen thưởng, hỗ trợ phù hợp kịp thời 81 74 3.3 Mối quan hệ giữa các giải pháp 86 75 3.4 Thăm dò tính cần thiết và khả thi của các giải pháp 86

3.4.1 Thăm dò và kết quả thăm dò

3.4.2 Đánh giá kết quả thăm dò

76 76 78 Tiểu kết chương 3 78

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1 Kết luận

2 Kiến nghị

80

80

82

Trang 9

2.1 Với Bộ GDĐT 83 2.2 Với Sở GDĐT tỉnh Nghệ An 2.3 Với các trường THPT ngoài công lập

83

84 TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 84 PHỤ LỤC……… 86

Trang 10

BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã nêu rõ: “Đối với

giáo dục và đào tạo, CNTT có tác động mạnh mẽ, làm thay đổi phương pháp, phương thức dạy và học CNTT là phương tiện để tiến tới một xã hội học tập”

Vấn đề ứng dụng CNTT trong giáo dục ở nước ta được Đảng, Nhà nước rất coi trọng đặc biệt yêu cầu đổi mới PPDH có sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật hiện đại Các Văn kiện, Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, Chính phủ, Bộ Giáo dục & Đào tạo (GDĐT) đã thể hiện rất rõ điều này: Nghị quyết của Chính phủ

về chương trình quốc gia đưa CNTT vào giáo dục đào tạo (1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII, Luật Giáo dục (1998), Luật Giáo dục sửa đổi (2005), Nghị quyết 81 của Thủ tướng Chính phủ, Chỉ thị 29 của Bộ GDĐT, Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010, Dự thảo chiến lược phát triển giáo dục 2009 -

2020 Đặc biệt là Chỉ thị số 55/2008/CT-2008 của Bộ GDĐT về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục giai đoạn 2008 -

2012 và quyết định số 698/QĐ-TTg, ngày 1/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực CNTT đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020

Trang 11

Trong “Chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo đến năm 2010” của Bộ

GDĐT đã yêu cầu ngành giáo dục phải từng bước phát triển giáo dục dựa trên

CNTT vì “CNTT và đa phương tiện sẽ tạo ra những thay đổi lớn trong quản

lý hệ thống giáo dục, trong chuyển tải nội dung chương trình đến người học, thúc đẩy cuộc cách mạng về phương pháp dạy và học”

Trong nhiều năm qua, vấn đề ứng dụng CNTT trong quản lý (QL) hoạt động dạy học được chúng ta quan tâm, các thiết bị, phương tiện kỹ thuật phục

vụ dạy học như máy tính, máy chiếu được các trường quan tâm trang bị, nhiều giáo viên (GV) đã đầu tư cho bài giảng của mình để nâng cao chất lượng giảng dạy Tuy nhiên việc ứng dụng CNTT trong QL hoạt động dạy học vẫn chưa được thường xuyên và rộng khắp

Với xu thế phát triển hiện nay, mô hình giáo dục cần phải có những thay đổi phù hợp, trường học phải thay đổi môi trường giáo dục Mỗi trường học cần tập trung vào việc tạo lập một môi trường học tập cởi mở, sáng tạo cho học sinh (HS) Một môi trường hiện đại sẽ cung cấp tối đa khả năng tự học, tự tìm kiếm thông tin cá nhân cho mỗi HS, GV chỉ đóng vai trò hướng dẫn kỹ năng, phương pháp giải quyết công việc Kỹ năng giải quyết công việc và xử

lý thông tin là cốt lõi của phương thức giáo dục này và CNTT chính là công

cụ, chìa khóa để hiện thực giá trị cốt lõi trên

Ứng dụng CNTT trong QL hoạt động dạy học được coi là một trong những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập Chỉ khi nào mỗi cán bộ (CB), GV coi đổi mới phương pháp giảng dạy và QL hoạt động dạy học thông qua việc ứng dụng CNTT như là một nhu cầu tự thân, không mang tính áp buộc từ trên, họ tự tìm tòi, không ngừng đổi mới và hoàn thiện tri thức, kỹ năng áp dụng sáng tạo các phương pháp dạy học (PPDH) tích cực thì việc đổi mới PPDH mới thực sự sâu rộng và có hiệu quả bền vững

Trang 12

1.2 Lý do về mặt thực tiễn

Cùng với các cơ sở giáo dục trên cả nước, nhiều năm qua các trường Trung học Phổ thông (THPT) nói chung và các trường THPT ngoài công lập (NCL) Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An nói riêng đã có nhiều nỗ lực trong việc ứng dụng CNTT trong QL hoạt động dạy học phù hợp cho riêng mình, những

cố gắng ấy đã tạo ra những chuyển biến đáng kể trong phong trào thi đua dạy tốt, học tốt của các trường thành phố

Tuy nhiên, phong trào ứng dụng CNTT trong QL hoạt động dạy học ở mỗi trường vẫn chưa đều khắp ở các tổ, đoàn thể và các CB, GV Nó mới chỉ dừng lại ở bề nổi của hình thức mà chưa đi vào chiều sâu chất lượng và chưa được thường xuyên, liên tục, nó chưa trở thành nhu cầu tự thân của mỗi GV Trong quá trình nghiên cứu thực tế, tôi nhận thấy có nhiều đề tài nghiên cứu về ứng dụng CNTT trong nhiều lĩnh vực khác nhau Trong ngành GDĐT cũng có nhiều đề tài nghiên cứu về ứng dụng CNTT trong dạy học các bộ môn nhưng còn ít đề tài nghiên cứu về ứng dụng CNTT trong QL hoạt động dạy học ở các trường THPT NCL

Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An hiện nay chưa có một công trình nghiên cứu khoa học nào bàn về vấn đề này, với những lý do trên, tôi đã chọn đề tài

nghiên cứu: “Một số giải pháp ứng dụng CNTT trong quản lý hoạt động

dạy học ở các trường THPT ngoài công lập Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An”

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở của việc hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp ứng dụng CNTT trong QL hoạt động dạy học ở các trường THPT NCL Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

Trang 13

3 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Việc ứng dụng CNTT vào QL hoạt động dạy học ở các trường THPT NCL

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Một số giải pháp ứng dụng CNTT trong QL hoạt động dạy học ở các trường THPT NCL Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu thực trạng ứng dụng CNTT trong QL hoạt động dạy học ở các trường THPT NCL Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, đó là: Trường THPT Nguyễn Trãi; Trường THPT Nguyễn Trường Tộ; Trường THPT VTC; Trường THPT Nguyễn Huệ; Trường THPT Hermann Gmeiner

4 Giả thuyết khoa học

Chất lượng dạy học ở các trường THPT NCL Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An sẽ được nâng cao nếu đề xuất được một số giải pháp ứng dụng CNTT vào QL hoạt động dạy học có tính khoa học và khả thi

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về việc ứng dụng CNTT trong QL hoạt động dạy học ở trường THPT NCL Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

- Nghiên cứu thực trạng việc ứng dụng CNTT trong QL hoạt động dạy học ở các trường THPT NCL Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

- Đề xuất, thăm dò tính cần thiết và khả thi của một số giải pháp ứng dụng CNTT trong QL hoạt động dạy học ở các trường THPT NCL Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

- Phân tích và tổng hợp

Trang 14

- Khái quát hóa các nhận định độc lập

6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Phương pháp điều tra; Phương pháp quan sát; Phương pháp phỏng vấn; Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia; Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động

7 Những đóng góp của đề tài

Khẳng định cơ sở lý luận khoa học về ứng dụng CNTT trong QL hoạt động dạy học là một việc làm quan trọng và cần thiết trong vai trò là nhà QL của Hiệu trưởng (HT), đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện Nhà trường trong

đó có yêu cầu đổi mới QL và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện

Hệ thống hóa các cơ sở lý luận về việc ứng dụng CNTT trong QL hoạt động dạy học ở các trường THPT NCL

Phân tích, đánh giá nguyên nhân tồn tại việc ứng dụng CNTT trong QL hoạt động dạy học Đưa ra một số giải pháp khả thi về ứng dụng CNTT trong

QL hoạt động dạy học ở các trường THPT nói chung và các trường THPT NCL Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An nói riêng

8 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và kiến nghị, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục tham khảo, luận văn chia làm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của việc ứng dụng CNTT trong quản lý hoạt

động dạy học ở các trường THPT NCL Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

Chương 2: Thực trạng việc ứng dụng CNTT trong quản lý hoạt động

dạy học ở các trường THPT NCL Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

Chương 3: Một số giải pháp ứng dụng CNTT trong quản lý hoạt

động dạy học ở các trường THPT NCL Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

Trang 15

CNTT ngày nay đang thâm nhập và làm thay đổi căn bản nội dung, công

cụ, phương thức và hiệu quả lao động của hầu hết các lĩnh vực kinh tế - xã hội Như chúng ta đã biết, hiện nay ứng dụng CNTT đã được áp dụng ở hầu hết các lĩnh vực hoạt động của xã hội và mang lại hiệu quả thiết thực Trong giáo dục cũng vậy, CNTT đã mang lại triển vọng lớn trong việc đổi mới phương pháp, hình thức dạy học và quản lý giáo dục (QLGD)

Đối với lĩnh vực GDĐT, CNTT đang làm thay đổi sâu sắc nội dung, phương pháp và hình thức dạy học và QLGD Việc ứng dụng và phát triển CNTT trong GDĐT đang trở thành yêu cầu cấp bách Chỉ thị 58-CT/TW đã

chỉ rõ: “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác GDĐT ở tất cả các cấp

học, bậc học, ngành học” Chỉ thị số 29/2001/CT-BGD&ĐT ngày 30/7/2001

của Bộ GDĐT cũng nhấn mạnh: “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong GDĐT ở

tất cả các cấp học, bậc học, ngành học theo hướng sử dụng CNTT như là một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập ở tất cả các môn học” Việc tăng cường ứng dụng và phát triển CNTT trong

GDĐT tất yếu dẫn tới việc phải xúc tiến xây dựng nền “Giáo dục điện tử”

Cùng với việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa thì việc đổi mới phương pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng giáo dục là hết sức cần thiết Hiện nay ngoài các phương pháp dạy học truyền thống, việc ứng dụng CNTT trong dạy học sẽ góp phần làm cho giờ học trở nên sinh động, hiệu quả, kích

Trang 16

thích được tính tích cực, sáng tạo của HS Hiện nay có nhiều trường phổ thông đã được trang bị phòng máy và các thiết bị Tin học nhưng việc sử dụng chủ yếu mới chỉ để dạy Tin học như một môn học, còn việc sử dụng phòng máy, các thiết bị Tin học cùng với các phần mềm dạy học như một công cụ dạy học còn là vấn đề cần giải quyết

CNTT tác động mạnh mẽ, làm thay đổi phương pháp, phương thức dạy

và học, CNTT là phương tiện để tiến tới một xã hội học tập CNTT có vai trò quan trọng trong việc đổi mới công tác QL và đổi mới PPDH theo hướng tích cực, phát huy tối đa khả năng chủ động, sáng tạo của HS

Khi ý tưởng ứng dụng CNTT trong GDĐT được đưa ra cách đây nhiều năm, đã có nhiều ý kiến cho rằng điều đó là chưa cần thiết Nhiều người còn cho rằng không có CNTT thì ngành GDĐT vẫn phát triển tốt trong nhiều năm qua, vẫn đào tạo được nhiều nhân tài cho đất nước Tuy nhiên, cả thế giới đang vận động theo hướng ứng dụng CNTT để nâng cao hiệu quả hoạt động

và ngành giáo dục cũng không nằm ngoài xu hướng đó

1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1.2.1 Công nghệ thông tin

1.2.1.1 Khái niệm công nghệ

Công nghệ (Technology) là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng,

bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm Như vậy công nghệ là việc ứng dụng của các dụng cụ, máy móc nguyên vật liệu và quy trình để giúp đỡ giải quyết những vấn đề của con người Với tư cách là hoạt động con người, công nghệ diễn ra trước khi có khoa học và kỹ nghệ Nó thể hiện những kiến thức của con người trong việc giải quyết các các vấn đề thực tế để tạo ra các dụng cụ, máy móc nguyên liệu hoặc quy trình tiêu chuẩn

Trang 17

1.2.1.2 Khái niệm thông tin

Thông tin là một khái niệm trừu tượng mô tả các yếu tố đem lại hiểu biết, nhận thức cho con người cũng như các sinh vật khác Thông tin tồn tại khách quan, có thể được tạo ra, truyền đi, lưu trữ, chọn lọc Thông tin cũng có thể bị sai lạc, méo mó do nhiều nguyên nhân khác nhau: bị xuyên tạc, cắt xén… Những yếu tố gây sự sai lệch thông tin gọi là các yếu tố nhiễu

Thông tin có thể tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau, xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau Người ta có thể định lượng tin tức bằng cách đo độ bất định của hành vi, trạng thái Xác suất xuất hiện một tin càng thấp thì độ bất ngờ càng lớn do đó lượng tin càng cao

Chất lượng của thông tin thường được đánh giá dựa trên các phương diện chủ yếu sau:

+ Tính cần thiết + Tính chính xác + Độ tin cậy + Tính thời sự Khi tiếp nhận được thông tin, con người thường phải xử lý nó để tạo ra những thông tin mới, có ích hơn, từ đó có những phản ứng nhất định Trong lĩnh vực quản lý, các thông tin mới là các quyết định quản lý

Với quan niệm của CNTT, thông tin là những tín hiệu, ký hiệu mang lại hiểu biết, nhận thức của con người Các tín hiệu thể hiện thông tin vô cùng đa dạng: âm thanh, hình ảnh, cử chỉ hành động, chữ viết, các tín hiệu điện từ… Thông tin được ghi lại trên nhiều phương tiện khác nhau như giấy, da, đá, bảng tin, băng hình, băng ghi âm, đĩa từ, đĩa quang… Trong CNTT, thông tin thường được ghi lên đĩa từ, đĩa quang, chíp điện tử (là tổ hợp các linh kiện điện tử)… Thông tin muốn được xử lý trên máy tính phải được mã hoá theo những cách thức thống nhất để máy tính có thể đọc và xử lý được Sau khi xử

Trang 18

lý, thông tin được giải mã trở thành các tín hiệu mà con người có thể nhận thức được

1.2.1.3 Khái niệm công nghệ thông tin

Công nghệ thông tin (Information Technology - viết tắt là IT) là một ngành ứng dụng công nghệ vào QL xã hội, xử lý thông tin Có thể hiểu CNTT

là ngành sử dụng máy tính và các phương tiện truyền thông để thu thập, truyền tải, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền thông tin Hiện nay, có nhiều cách hiểu về CNTT Ở Việt Nam, khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong Nghị quyết 49/CP ký ngày 04/08/1993 về phát triển CNTT của Chính phủ

Việt Nam như sau: “CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương

tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông -

nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người

và xã hội”

1.2.2 Ứng dụng công nghệ thông tin

Là việc sử dụng công cụ CNTT nhằm hỗ trợ cho một hoạt động nào đó

mà nó góp phần cho người sử dụng nó hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao trong một thời gian ngắn hơn, kết quả chuẩn xác hơn nhờ các tính toán chính xác từ máy tính

Việc ứng dụng CNTT trong việc dạy học đang phát triển ngày càng nhiều về số lượng ở Việt Nam với nhiều hình thức rất đa dạng

Luật CNTT số 67/2006/QH11, đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 6 năm

2006, tại Điều 4 Khoản 5, 6 đã nêu: “Ứng dụng CNTT là việc sử dụng CNTT

vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này” “Phát triển CNTT là hoạt động nghiên cứu - phát

Trang 19

triển liên quan đến quá trình sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số; Phát triển nguồn nhân lực CNTT; Phát triển công nghiệp CNTT và phát triển dịch vụ CNTT”

1.2.3 Quản lý

Khi xã hội loài người xuất hiện, một loạt các quan hệ: giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với xã hội và cả quan hệ giữa con người với chính bản thân mình xuất hiện theo Và chính vì điều này đã làm nảy sinh nhu cầu về QL

QL là một hoạt động, một dạng lao động có tính chất đặc thù, có tính tổ chức, hoạt động đa dạng rất phức tạp và có nhiều cách hiểu, cách tiếp cận khác nhau trên cơ sở phương pháp luận khoa học để nghiên cứu các yếu tố, lĩnh vực QL làm đối tượng của nghiên cứu Vì thế có rất nhiều định nghĩa, quan điểm, quan niệm về QL của các học giả, các nhà khoa học ở các thời kỳ lịch sử xã hội khác nhau, có người nói rằng QL là cai quản, điều hành, điều khiển, chỉ huy hướng dẫn; cũng có người cho rằng QL là một nghệ thuật Theo Tự điển Việt Nam thông dụng (NXB Giáo dục, 1998) QL là: tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan [18]

Mục tiêu của QL là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất QL là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất trong các hoạt động của con người QL đúng tức là con người đã nhận thức được quy luật, vận động theo quy luật và sẽ đạt được những thành công

to lớn Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại

và phát triển đều phải dựa vào sự nổ lực của cá nhân, của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, quốc tế và đều phải thừa nhận và chịu một sự quản lý nào đó

Trang 20

Các Mác đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động

chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một

sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”

[11]

Ngày nay thuật ngữ QL đã trở nên phổ biến, nhưng chưa có một định nghĩa thống nhất Có người cho rằng QL là hoạt động nhằm bảo đảm sự hoàn thành công việc thông qua sự nỗ lực của người khác, cũng có người cho QL là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm Tuy nhiên theo nghĩa rộng, QL là hoạt động có mục đích của con người, cho đến nay nhiều người cho rằng: QL chính là các hoạt động do một hoặc nhiều người điều phối hành động của người khác nhằm thu được kết quả mong muốn

Các nhà khoa học Việt Nam ở mỗi góc nhìn khác nhau khi đề cập đến

QL cũng đã đưa ra các khái niệm khác nhau Theo PGS.TS Đặng Quốc Bảo:

“QL về bản chất bao gồm quá trình quản và quá trình lý Quản là chăm sóc,

giữ gìn nhằm làm ổn định hệ thống Lý là xử lý, sửa sang, chỉnh đốn nhằm làm cho hệ thống phát triển.” [1, Tr 176]

Tác giả Trần Hữu Cát và Đoàn Minh Duệ cho rằng: “QL là hoạt động

thiết yếu nảy sinh khi con người hoạt động tập thể, là sự tác động của chủ thể vào khách thể, trong đó quan trọng nhất là khách thể con người nhằm thực hiện mục tiêu chung của tổ chức.” [5, Tr 41]

Tác giả Nguyễn Văn Lê thì quan niệm: “QL là một hệ thống xã hội, là

khoa học và nghệ thuật tác động vào từng thành tố của hệ thống bằng những

Trang 21

phương pháp thích hợp, nhằm đạt các mục tiêu đề ra cho hệ và từng thành tố của hệ.” [10,Tr 6]

Theo hai tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ: “QL là một quá trình

định hướng, có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định” [8, Tr 29]

Tóm lại, từ những quan điểm trên của các định nghĩa và xét QL với tư cách là một hành động, phần đông các nhà khoa học đều thống nhất rằng: QL

là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể QL tới đối tượng QL nhằm đạt mục tiêu đề ra

đây là quan hệ ra lệnh phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc

đi sau lĩnh hội, đồng thời phát triển những kinh nghiệm xã hội Đây là một phương thức để duy trì và phát triển xã hội loài người Vì thế giáo dục tồn tại, vận động và phát triển như một hệ thống Để quản lý vận hành tốt hệ thống này, sự ra đời của QLGD là một tất yếu

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “QLGD thực chất là tác động đến

nhà trường, làm cho nó tối ưu được quá trình dạy học, giáo dục theo đường lối, nguyên lý giáo dục của Đảng, quán triệt những tính chất của Nhà trường

Trang 22

THPT xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam, bằng cách đó tiến tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái chất lượng mới” [13, Tr 32]

“QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy

luật của chủ thể QL, nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện các tính chất của trường học XHCN, tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất QLGD là sự tác động của hệ thống QLGD Nhà nước từ cấp Trung ương đến địa phương, đến khách thể QL và hệ thống giáo dục quốc dân và sự nghiệp giáo dục của mỗi địa phương nhằm đưa hoạt động giáo dục đến kết quả mong muốn.”

[13, Tr 35]

Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng QLGD theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội

QLGD vừa là một khoa học đồng thời mang tính nghệ thuật

Tác giả Trần Kiểm có nêu QLGD có nhiều cấp độ, mà chủ yếu là ở hai cấp độ vĩ mô và vi mô

Cấp độ vĩ mô: “QLGD được hiểu là những tác động tự giác của chủ thể

QL đến tất cả hệ thống giáo dục nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội yêu cầu”

Cấp độ vi mô: “QLGD được hiểu là những tác động tự giác của chủ thể

QL đến GV, nhân viên (NV), HS và các lực lượng xã hội trong và ngoài Nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của Nhà trường” [9, Tr 36]

QLGD là sự tác động có ý thức của chủ thể QL tới khách thể QL nhằm đưa ra hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt đến kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất

Trang 23

Như vậy, QLGD là QL quá trình hoạt động dạy và học bao gồm các thành tố của hoạt động dạy học, những tác động của nó lên hệ thống là tác động kép tạo ra sức mạnh tổng hợp, vì thế chủ thể QL cần phải chú ý đến mối quan hệ QL dạy học trong hoạt động giáo dục, các mối quan hệ giữa các cấp

QL, quan hệ nội bộ và bên ngoài QLGD cũng có quy mô và các cấp độ đa dạng phức tạp chịu sự tác động của yếu tố khách quan, vận hành trong môi trường đa dạng, hoạt động theo quy luật, do đó người làm công tác QLGD cần hiểu rõ các yếu tố này để nhận thức đúng đắn từ đó cải tiến và đổi mới tư duy trong QLGD cho phù hợp với thời đại ngày nay

QLGD là tổng hợp các biện pháp kế hoạch hóa, tổ chức thực hiện nhằm đảm bảo sự vận hành các cơ quan trong hệ thống giáo dục các cấp QLGD chịu sự chi phối các quy luật xã hội và sự tác động của QL xã hội

Tóm lại, cũng như QL nói chung, QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể QL nhằm làm cho hệ thống giáo dục được vận hành theo đúng đường lối quan điểm của Đảng và thực hiện tốt mục tiêu giáo dục đã đề ra Trong QLGD, các hoạt động QL hành chính, QL chuyên môn đan xen lẫn nhau, tạo thành thể thống nhất

1.2.5 Hoạt động dạy học

Hoạt động dạy học là quá trình gồm hai hoạt động thống nhất biện chứng cho nhau: Hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS Trong đó dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của GV, người học tự giác, tích cực tự tổ chức,

tự điều khiển hoạt động học tập của mình, cả hai phía đều có sự cố gắng để nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học Trong quá trình dạy học, hoạt động dạy của GV có vai trò chủ đạo, hoạt động học của HS có vai trò tự giác, chủ động tích cực Nếu thiếu một trong hai hoạt động trên, quá trình dạy học không diễn ra

Trang 24

Hoạt động dạy và hoạt động học gắn liền với hoạt động của con người có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, thể hiện rõ ở mối quan hệ tương tác giữa các thành tố: mục tiêu, nội dung, phương pháp của hoạt động dạy học

Phân tích hoạt động dạy học, chúng ta thấy: Hoạt động học trong đó có hoạt động nhận thức của HS có vai trò quyết định đến kết quả dạy học Để hoạt động dạy và học có kết quả thì trước tiên phải coi trọng vai trò của người

GV, người thầy phải xuất phát từ logic của khái niệm khoa học, xây dựng công nghệ dạy học, tổ chức tối ưu hoạt động cộng tác của dạy và học, thực hiện tốt các chức năng dạy học Vì vậy muốn nâng cao mức độ khoa học của việc dạy học ở trường phổ thông, người QL cần đặc biệt chú ý hoạt động dạy của GV, chuẩn bị cho họ có khả năng hình thành và phát triển ở HS các phương pháp, cách thức phát hiện lại các thông tin học tập Đây là khâu cơ bản để tiếp tục hoàn thiện tổ chức hoạt động của HS

Nếu xét quá trình dạy học như là một hệ thống thì trong đó: Quan hệ giữa hoạt động dạy của thầy với hoạt động học của trò thực chất là mối quan

hệ điều khiển, với tác động sư phạm của mình, thầy tổ chức điều khiển hoạt động của trò Từ đó, chúng ta có thể thấy công việc của người QL nhà trường là: QL hoạt động dạy học chủ yếu tập trung QL hoạt động dạy của thầy và trực tiếp đối với thầy, thông qua hoạt động dạy của thầy mà QL hoạt động học của trò

1.2.6 Ứng dụng CNTT trong quản lý hoạt động dạy học

Trong xu thế mở cửa hội nhập với thế giới, lĩnh vực giáo dục đào tạo, đặc biệt là giáo dục phổ thông được cập nhật những tiến bộ trong cách dạy, cách học cũng như cách thức QLGD của các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới Một trong những đặc điểm nổi bật của xu hướng giáo dục hiện đại là sự thay đổi trong triết lý giáo dục, đó là xem người học là trung tâm của mô hình giáo dục thay cho GV là trung tâm như mô hình giáo dục truyền thống Vì

Trang 25

thế, giáo dục Việt Nam, nơi đề cao vị thế người Thầy phải thay đổi căn bản trong nhận thức HS là sản phẩm của Nhà trường, vì vậy chất lượng của người học chính là thước đo, là tiêu chí để đánh giá chất lượng và hiệu quả của ngành giáo dục

Với sự thay đổi mô hình giáo dục trong trường phổ thông như trên, vai trò của CNTT trở nên đặc biệt quan trọng, CNTT trở thành công cụ cần thiết phục vụ hiệu quả mọi hoạt động trong Nhà trường, vì vậy HT cần có ý thức cao về ứng dụng CNTT trong QL cũng như trong hoạt động dạy và học

Ứng dụng CNTT và truyền thông trong dạy học là xu thế tất yếu của giáo dục thế kỷ XXI Chúng ta đang sống trong thời đại kinh tế tri thức mà đặc trưng của nó thể hiện ở các đặc điểm sau:

- Thời đại thông tin và bùng nổ thông tin hình thành một xã hội thông tin,

thông tin trở thành “lực lượng sản xuất”

- CNTT được nhúng ghép vào hầu hết các sản phẩm và dịch vụ kinh tế

xã hội làm tăng giá trị hàng hóa và dịch vụ Điều này cũng khẳng định một vấn đề cụ thể là CNTT làm tăng chất lượng sản phẩm của công nghệ dạy học Sản phẩm đó là những người cán bộ được đào tạo qua trường lớp

CNTT mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới các phương pháp và hình thức dạy học Những PPDH theo cách tiếp cận kiến tạo, PPDH theo dự

án, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề càng có nhiều điều kiện để ứng dụng rộng rãi Các hình thức dạy học như dạy học đồng loạt, dạy theo nhóm, dạy cá nhân cũng có những đổi mới trong môi trường CNTT và truyền thông Chẳng hạn, cá nhân làm việc tự lực với máy tính, với Internet, dạy học theo hình thức lớp học phân tán qua mạng, dạy học qua cầu truyền hình Nếu trước kia người ta nhấn mạnh tới phương pháp dạy sao cho HS nhớ lâu, dễ hiểu, thì

học chủ động Nếu trước kia người ta thường quan tâm nhiều đến khả năng

Trang 26

ghi nhớ kiến thức và thực hành kỹ năng vận dụng, thì nay chú trọng đặc biệt

đến phát triển năng lực sáng tạo của HS Như vậy, việc chuyển từ “lấy GV

làm trung tâm” sang “lấy HS làm trung tâm” sẽ trở nên dễ dàng hơn

Cũng trong luật CNTT, theo Điều 34, ứng dụng CNTT trong lĩnh vực GDĐT:

“1 Nhà nước có chính sách khuyến khích ứng dụng CNTT trong việc dạy, học, tuyển sinh, đào tạo và các hoạt động khác trong lĩnh vực GDĐT trên môi trường mạng

2 Tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động GDĐT trên môi trường mạng phải tuân thủ quy định của Luật này và quy định của pháp luật về giáo dục

3 Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chịu trách nhiệm xây dựng, triển khai thực hiện chương trình hỗ trợ tổ chức, cá nhân nhằm thúc đẩy ứng dụng CNTT trong GDĐT

4 Bộ GDĐT quy định điều kiện hoạt động GDĐT, công nhận giá trị pháp lý của văn bằng, chứng chỉ trong hoạt động GDĐT trên môi trường mạng và thực hiện kiểm định chất lượng GDĐT trên môi trường mạng”

Ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học là một xu thế tất yếu đã và đang phát triển ngày càng nhiều về số lượng cũng như chất lượng trong ngành giáo dục trên thế giới nói chung và giáo dục Việt Nam nói riêng

Năm học 2008 - 2009 được chọn là “Năm học đẩy mạnh ứng dụng

CNTT, đổi mới QL tài chính và xây dựng trường học thân thiện, HS tích cực”,

tạo bước đột phá về ứng dụng CNTT trong giáo dục và tạo tiền đề phát triển ứng dụng CNTT trong những năm tiếp theo [6]

CNTT là công cụ đắc lực hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập

và hỗ trợ đổi mới QLGD, góp phần nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục Phát triển nguồn nhân lực CNTT và ứng dụng CNTT trong giáo dục

Trang 27

là một nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa quyết định sự phát triển CNTT của đất nước

Các Sở GDĐT chỉ đạo, tổ chức hướng dẫn cụ thể cho GV các môn học

tự triển khai việc tích hợp, lồng ghép việc sử dụng các công cụ CNTT vào quá trình dạy các môn học của mình nhằm tăng cường hiệu quả dạy học qua các phương tiện nghe nhìn, kích thích sự sáng tạo và độc lập suy nghĩ, tăng cường khả năng tự học, tự tìm tòi của người học

Các GV cần tích cực, chủ động tham khảo và sử dụng các phần mềm ứng

dụng tích hợp vào các môn học trên website http://edu.net.vn để cùng chia sẻ

kinh nghiệm, trao đổi học tập; Khuyến khích GV chủ động tự soạn giáo án, bài giảng và tài liệu giảng dạy để ứng dụng CNTT trong các môn học Không

dùng thuật ngữ “giáo án điện tử” cho các bài trình chiếu powerpoint, tham

khảo mẫu giáo án đã được đưa lên mạng giáo dục

Triển khai chương trình công nghệ giáo dục và E-Learning, chỉ đạo ứng dụng CNTT trong học tập và giảng dạy theo hướng người học có thể học qua nhiều nguồn học liệu; Hướng dẫn cho người học biết tự khai thác và ứng dụng CNTT vào quá trình học tập của bản thân, thay vì chỉ tập trung vào việc chỉ đạo GV ứng dụng CNTT trong giảng dạy, trong tiết giảng

Tiếp tục triển khai cuộc thi “Thiết kế hồ sơ bài giảng E-Learning” do Bộ GDĐT và Quỹ Laurence S.Ting tổ chức, với khẩu hiệu chung “Trong mỗi học

kỳ, mỗi GV xây dựng ít nhất một bài giảng điện tử (BGĐT)” Tạo thư viện học

liệu mở: Huy động GV tham gia đóng góp các bài trình chiếu, bài giảng Learning về Sở GDĐT Sau đó, Sở GDĐT tập hợp các phần mềm hỗ trợ, các giáo án, bài giảng và các bài thi theo từng môn học và đăng tải lên website

E-http://tainguyen.nghean.edu.vn để dùng chung Các GV cần tích cực, chủ

động tham khảo và sử dụng các phần mềm ứng dụng trên website

http://edu.net.vn

Trang 28

1.2.7 Trường THPT ngoài công lập

Trường phổ thông NCL (dân lập, tư thục) là cơ sở giáo dục phổ thông thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, do tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân tự đảm bảo kinh phí đầu tư xây dựng cơ

sở vật chất (CSVC) và hoạt động bằng vốn ngoài ngân sách Nhà nước; Được

cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập và hoạt động giáo dục Quyết định số 39/2011/QĐ-BGD&ĐT, ngày 28/8/2001 của Bộ GDĐT về

việc Ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của các trường NCL: “Trường

phổ thông NCL có tư cách pháp nhân, có con dấu và được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước hoặc Ngân hàng thương mại.”

Luật Giáo dục năm 1998 cũng đã nêu ra về trường NCL gồm 3 loại hình: Bán công - Dân lập - Tư thục Khái niệm Trường NCL được chính thức hoá tại Nghị định số 43/2000/NĐ-CP ngày 30/8/2000 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Giáo dục 1998, tại Điều 13 của Nghị

định này quy định: “Các cơ sở giáo dục bán công, dân lập, tư thục gọi chung

là cơ sở giáo dục NCL.”

Riêng với loại hình THPT NCL, Luật Giáo dục năm 2005 đã quy định chỉ có loại hình tư thục Theo Điều 4, Điều lệ trường THCS, THPT và trường

phổ thông có nhiều cấp học (Ban hành kèm theo Thông tư số

13/2011/TT-BGD&ĐT ngày 23/8/2011) nêu rõ: “Trường tư thục do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập khi được

cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép Nguồn đầu tư xây dựng CSVC và kinh phí hoạt động của trường tư thục là nguồn ngoài ngân sách Nhà nước”

* Nhiệm vụ và quyền hạn của trường THPT NCL:

Tại Điều 23, Luật Giáo dục năm 1998 đã ghi “Giáo dục THPT nhằm

giúp HS củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục Trung học Cơ sở (THCS), hoàn thiện học vấn phổ thông và những hiểu biết thông thường về kỹ

Trang 29

thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”

Trường phổ thông NCL có nhiệm vụ và quyền hạn như trường công lập theo quy định tại Điều lệ trường tiểu học; Điều lệ trường THCS, trường

THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học (Ban hành kèm theo Quyết định

số 07/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày 02/4/2007 của Bộ trưởng Bộ GDĐT); Quy

chế về tổ chức và hoạt động của Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp tương ứng đối với mỗi cấp học trong việc thực hiện mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục và các quy định liên quan đến giảng dạy, học tập, thi, kiểm tra, công nhận tốt nghiệp, cấp văn bằng chứng chỉ và các quy định…

Trường phổ thông NCL tự chủ và tự chịu trách nhiệm về thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển, tổ chức các hoạt động giáo dục, xây dựng và phát triển đội ngũ GV, huy động, sử dụng và QL các nguồn lực để thực hiện mục tiêu giáo dục phổ thông

Trường phổ thông NCL thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật

1.3 Một số vấn đề về ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hoạt động dạy học ở trường Trung học Phổ thông ngoài công lập

1.3.1 Ứng dụng trong quản lý soạn thảo giáo án

Những năm gần đây, ngành giáo dục đã đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT vào công tác giảng dạy; Một trong số đó là giảng dạy bằng giáo án điện tử (GAĐT)

Một trong những vấn đề ngành Giáo dục quan tâm hiện nay là yêu cầu

GV ứng dụng những thành tựu CNTT nhằm cụ thể hóa chủ trương đổi mới PPDH Điều này được cụ thể qua việc khuyến khích người dạy chuyển đổi từ việc soạn giáo án, bài giảng trên sổ giáo án sang soạn trên máy vi tính mà

Trang 30

chúng ta vẫn quen gọi là GAĐT Đây là một yêu cầu cần thiết đối với những người làm công tác giảng dạy nói chung trong xu thế hiện nay Điểm được lớn nhất ở mỗi tiết giảng bằng GAĐT chính là một lượng lớn kiến thức, hình ảnh trực quan sinh động được chuyển tải đến HS Nếu trong mỗi tiết học thông thường, GV phải dành khá nhiều thời gian để treo tranh ảnh, thao tác các hoạt

động thí nghiệm thì tất cả các thao tác này có thể “gói gọn” trong GAĐT Sự

giải phóng đôi tay cho cả GV và HS cho phép các em có thể tương tác nhiều hơn với thầy cô giáo, làm nâng cao hiệu quả giờ học

Ở mức độ nào đó, công cụ hiện đại này không thể hỗ trợ người dạy hoàn toàn trong các bài giảng của mình Trên thực tế không phải bài nào cũng cần

sử dụng GAĐT Điều này đòi hỏi chúng ta cần phải biết chọn lọc các bài có khả năng ứng dụng CNTT đạt hiệu quả cao, tránh việc lạm dụng

1.3.2 Ứng dụng trong quản lý thực hiện bài giảng

Một trong các yếu tố để đổi mới PPDH và nâng cao chất lượng dạy học

là phương tiện dạy học Đặc biệt khi sử dụng BGĐT, GV không thể không sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại CNTT đã cung cấp cho chúng ta những phương tiện dạy học hiện đại: Máy chiếu projector, smart board (bảng thông minh), mạng nội bộ, các phần mềm dạy học, các trang web… Để sử dụng các phương tiện dạy học, GV cần làm chủ phương tiện dạy học, trong đó projector là thiết bị dạy học phổ biến nhất hiện nay Mặc dù vậy, nhiều GV vẫn còn gặp nhiều khó khăn khi sử dụng nó Hiện nay, một số trường đã có smart board, tuy nhiên chưa nhiều vì giá quá cao và nó chưa có nhiều cơ sở bảo trì, sửa chữa trong nước Trong tương lai gần, xu thế sử dụng smart board vào dạy học là tất yếu vì những công nghệ nổi bật của nó: Điều khiển máy tính trực tiếp trên bảng, lưu bài giảng, thư viện đồ dùng dạy học, viết trực tiếp trên bảng, nhận dạng chữ viết…

Trang 31

Một sự thay đổi đáng kể trong việc ứng dụng CNTT vào dạy học là nhiều trường, sở đã đưa tiêu chí sử dụng CNTT vào việc đánh giá giờ dạy của GV Tuy mức độ chưa cao, nhưng nó đã trở thành động lực để GV khai thác các phương tiện dạy học hiện đại, nâng cao chất lượng bài dạy

1.3.3 Ứng dụng trong quản lý khai thác dữ liệu

Trong thời đại CNTT phát triển mạnh hiện nay, thông tin trên internet đã trở thành một kho tài nguyên tri thức vô tận, về mọi lĩnh vực đối với mọi người nếu biết cách khai thác nó

Để khai thác được các thông tin trên Internet, ta phải sử dụng các công

cụ tìm kiếm: google, search.netnam, vinaseek, socbay… Một trong các công

cụ được sử dụng phổ biến và hiệu quả là công cụ tìm kiếm google Đối với

GV, ngoài việc tìm kiếm các thông tin trên internet thông thường, cần biết khai thác từ các nguồn từ điển mở, thư viện bài giảng…

Từ điển mở: Trong xu thế người dùng khai thác thông tin trên Internet ngày càng nhiều, đòi hỏi phải có những công cụ hỗ trợ, tra cứu các khái niệm,

từ vựng một cách nhanh chóng, thuận tiện, điều này dẫn đến khái niệm từ điển mở ra đời Vậy từ điển mở là gì? Hiện nay chưa có một định nghĩa chính thức nào về từ điển mở, tuy nhiên khái niệm này được rất nhiều người sử dụng như một sự thừa nhận với một số đặc điểm nổi bật:

người khác

cách nhìn đa chiều khi tiếp cận một khái niệm Một số từ điển mở được dùng khá phổ biến hiện nay:

Trang 32

- Bách khoa toàn thư mở: www.wikipedia.org

- Bách khoa toàn thư mở tiếng Việt: http://vi.wikipedia.org/

- Từ điển tiếng việt mở: http://www.informatik.uni-lepzi.de/~duc/Dict/

- Từ điển Anh - Pháp - Việt - Hán: http://vdict.com/

Thư viện bài giảng: Thư viện bài giảng được phát triển dựa trên ý tưởng của việc xây dựng học liệu mở

Thuật ngữ Học liệu mở (OpenCourseWare) được Viện công nghệ Massachusetts - MIT (Mỹ) khai sinh vào năm 2002 khi MIT quyết định đưa toàn bộ nội dung giảng dạy của mình lên web và cho phép người dùng Internet ở mọi nơi trên thế giới truy nhập hoàn toàn miễn phí Bà Cecilia d’Oliveira, Giám đốc điều hành dự án học liệu mở của Viện Công nghệ

Massachusetts (MIT - Mỹ) cho biết “Học liệu mở (openCourseWare), cùng

với truyền thông đa phương tiện, không chỉ là cuộc cách mạng trong ý tưởng

mà sẽ tiếp tục có tác động lớn tới giáo dục đại học”

Hiểu một cách đơn giản, học liệu mở là một website chứa các bài giảng của một trường hay một tổ chức giáo dục nào đó, cho phép mọi người cùng sử dụng Học liệu mở được xem như là một kho tri thức của nhân loại, mọi người ở mọi nơi trên thế giới đều có cơ hội như nhau trong việc tiếp cận, khai thác, bổ sung các tri thức đó Học liệu mở là khái niệm chủ yếu dành cho giáo dục đại học Với ý tưởng của học liệu mở, ở phổ thông các sở, trường đã tạo

ra các thư viện bài giảng đặc biệt là thư viện BGĐT Chẳng hạn như thư viện

BGĐT Violet: http://baigiang.violet.vn/

Như chúng ta đã biết, để tạo được một BGĐT tốt, GV cần rất nhiều kỹ năng: Soạn thảo văn bản, đồ họa, quay phim, chụp ảnh, biên tập video, lồng tiếng… nhưng không phải GV nào cũng có thể thực hiện được Vì vậy, GV cần biết khai thác thông tin trên Internet để tìm kiếm các tư liệu phục vụ cho bài giảng của mình

Trang 33

1.3.4 Ứng dụng trong quản lý đánh giá

Ngày nay, CNTT được ứng dụng nhiều trong công tác đánh giá nói chung và đánh giá HS, CB nói riêng nhờ những lợi thế của nó về lưu trữ, thống kê, tính toán, sắp xếp, lọc dữ liệu…

Nhờ CNTT mà HS có thể tự đánh giá kiến thức của mình bằng các phần mềm trắc nghiệm để từ đó tự bổ sung, hoàn thiện kiến thức

GV, Nhà trường đánh giá kết quả học tập của HS một cách chính xác, khách quan hơn khi tổ chức thi, kiểm tra bằng máy tính Hiện nay, một số môn thi đại học đã chấm bằng máy chấm trắc nghiệm tự động mang lại độ chính xác gần như tuyệt đối Ở nhiều trường đã sử dụng các phần mềm thi trắc nghiệm để tổ chức thi học kỳ, thi thử cho HS Việc sử dụng các phần mềm thi trắc nghiệm trong đánh giá kết quả học tập của HS mang lại những lợi ích cơ bản sau:

trong một khoảng thời gian ngắn

Trong QL, các nhà QL sử dụng các kênh thông tin: diễn đàn, hệ thống bình chọn, các phần mềm QL để làm cơ sở đánh giá CB, NV của mình, đảm bảo tính tiện lợi, khách quan, nhanh chóng

1.3.5 Ứng dụng trong quản lý học tập của học sinh

Giáo dục đang thay đổi một cách mạnh mẽ, nhiều phương pháp, quan

điểm dạy học mới ra đời, hướng tới mục tiêu “dạy ít, học nhiều”, tăng tính

chủ động, khả năng tự học của người học Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, khối lượng tri thức được tạo ra nhanh chóng, đòi hỏi mỗi

Trang 34

người phải học thường xuyên, học liên tục, học suốt đời, học mọi lúc, học mọi nơi CNTT đang trở thành phương tiện không thể thiếu được để thực hiện các mục tiêu trên Ngoài ra, CNTT cũng hỗ trợ rất tốt cho việc học tập của HS dưới nhiều hình thức:

- Tìm kiếm, tra cứu tài liệu học tập trên mạng internet

- Tham gia các lớp học qua mạng

- Tự đánh giá kiến thức của mình bằng các phần mềm trắc nghiệm

- Chia sẻ thông tin với GV, bạn bè qua các diễn đàn

- Tham gia các cuộc thi trực tuyến (online)

- …

1.4 Vai trò của cán bộ quản lý với việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hoạt động dạy học ở các trường Trung học Phổ thông ngoài công lập

1.4.1 Xây dựng kế hoạch ứng dụng CNTT

Hiện nay, nhiều trường học phổ thông đã ứng dụng CNTT trong giảng dạy, quản lý Tuy vậy, việc ứng dụng còn mang tính tự phát, chắp vá, chưa theo kế hoạch tổng thể, lâu dài và chưa có một sự chỉ đạo thống nhất, vì vậy hiệu quả chưa cao

Để nâng cao hiệu quả ứng dụng, HT cần lập một kế hoạch ứng dụng CNTT một cách tổng thể, lâu dài như là một phần của kế hoạch chiến lược phát triển Nhà trường

Ngoài ra, trong từng giai đoạn, HT cần xây dựng một kế hoạch triển khai

cụ thể cho từng năm học nhằm đảm bảo tính đồng bộ của hệ thống ứng dụng, phù hợp với điều kiện thực tế của Nhà trường

Kế hoạch cần nêu rõ:

Trang 35

 Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng: Đối tượng, nội dung

đánh giá

1.4.2 Tổ chức triển khai và quản lý ứng dụng

Việc triển khai ứng dụng CNTT ở các trường thường gặp rất nhiều khó khăn Ngoài khó khăn về tài chính, CSVC, trình độ CNTT của CB, GV còn

có các khó khăn khác như nhận thức của CB, GV và HS, sự quan tâm, ủng hộ của các cấp, của chính quyền địa phương

Để tổ chức triển khai và quản lý ứng dụng CNTT có hiệu quả, lãnh đạo Nhà trường cần chú trọng một số vấn đề sau đây:

- Truyên truyền, vận động, định hướng, giúp đỡ và bồi dưỡng kiến thức một cách cụ thể để nâng cao nhận thức, kiến thức về CNTT cho CB, GV và

HS

- Làm cho CB, GV, NV Nhà trường thấy rõ tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT đối với sự phát triển của Nhà trường, vai trò trách nhiệm của mỗi người trong việc ứng dụng CNTT Tạo được sự thống nhất về chủ trương, kế hoạch trong toàn Nhà trường

- Tăng cường sự ủng hộ của chính quyền địa phương và các cấp lãnh đạo ngành

- Chỉ đạo thực hiện từng nội dung theo kế hoạch Kịp thời điều chỉnh kế hoạch một cách hợp lý khi cần thiết

- Mạnh dạn thể nghiệm các mô hình ứng dụng CNTT nhằm rút ra các kinh nghiệm, chỉ ra được hiệu quả trong lĩnh vực này

Trang 36

1.4.3 Đánh giá hiệu quả ứng dụng

Việc triển khai ứng dụng cần được tiến hành theo sự chỉ đạo, giám sát của HT về nội dung, thời gian, kinh phí,…

Cần đánh giá kết quả ứng dụng theo từng hoạt động cụ thể, trên cơ sở đó điều chỉnh kế hoạch cho giai đoạn tiếp theo một cách hợp lý, phù hợp với tình hình thực tế của Nhà trường trong từng giai đoạn

Chỉ ra hiệu quả do ứng dụng CNTT mang lại để tăng cường sự ủng hộ, tin tưởng của CB, GV, phụ huynh, HS và các cấp lãnh đạo

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hoạt động dạy học ở trường Trung học Phổ thông ngoài công lập

1.5.1 Những yếu tố chủ quan

Về đội ngũ GV: Trình độ, kiến thức về CNTT, kỹ năng sử dụng máy tính

và các phương tiện hỗ trợ của GV không đồng đều, thậm chí có người chỉ dùng máy tính với mục đích duy nhất là soạn thảo văn bản Vì vậy, việc nhận thức và thái độ của GV đối với việc ứng dụng CNTT trong đổi mới dạy học, những kiến thức và kỹ năng về CNTT, về ứng dụng CNTT để đổi mới PPDH có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả QL việc ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học

Về HS: Nhiều HS rất ít có điều kiện tiếp xúc với máy tính hoặc một số

em chưa từng biết sử dụng máy tính cũng là khó khăn cần được quan tâm Bởi vậy, dưới vai trò tổ chức, định hướng thì người GV phải hình thành ở HS có được những phẩm chất và năng lực như: có động cơ và thái độ học tập đúng đắn, tự giác, tích cực trong học tập, có năng lực về CNTT và phương pháp tự học với CNTT ở mọi lúc, mọi nơi

CSVC, trang thiết bị phục vụ cho dạy học, đặc biệt là phục vụ cho việc dạy tin học và ứng dụng CNTT còn nhiều hạn chế: Thiếu các phòng học chức

Trang 37

năng; Số máy tính phục vụ cho học tin học của HS còn ít Vì vậy HT cần phải

có kế hoạch, có biện pháp huy động nhiều lực lượng hỗ trợ kinh phí để trang

bị đồng bộ, từng bước chuẩn hóa, hiện đại hóa hệ thống

1.5.2 Những yếu tố khách quan

Chủ trương, cơ chế chính sách về ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học: Các Nghị quyết của Đảng các cấp, các văn bản chỉ đạo của Chính phủ, của Ngành giáo dục đã được các cấp QL cụ thể hóa và hướng dẫn thực hiện chính là môi trường pháp lý thuận lợi cho việc ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học ở các trường THPT hiện nay

Tiểu kết chương 1

CNTT ngày càng có nhiều ứng dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và trong lĩnh vực giáo dục có không ít những ứng dụng quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng dạy học cũng như QLGD với vai trò là công cụ hữu hiệu trong mọi công việc

Việc ứng dụng CNTT trong QL hoạt động dạy học là một trong những vấn đề mà Ngành giáo dục rất quan tâm, nó làm thay đổi cơ bản mô hình giáo dục hiện nay, từ truyền thống chuyển dần sang mô hình giáo dục hiện đại theo

xu thế chung của giáo dục tiên tiến trên thế giới Đảng và Nhà nước cũng như

Bộ GDĐT rất quan tâm đến việc ứng dụng CNTT trong QLGD Chính nhờ sự quan tâm này mà việc ứng dụng CNTT trong giáo dục ngày càng tốt hơn Tuy nhiên, thực trạng về CSVC, trình độ ứng dụng các phần mềm có sẵn vào từng công việc của đội ngũ cán bộ quản lý (CBQL) cũng như GV trong công việc của mình còn nhiều hạn chế

Với những nội dung trên, việc nghiên cứu tìm ra những giải pháp ứng dụng CNTT trong QL hoạt động dạy học ở các trường THPT NCL thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An là nội dung cần thiết để quan tâm, nghiên cứu

Trang 38

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGOÀI CÔNG LẬP THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN

2.1 Khát quát về điều kiện tự nhiên; Kinh tế - xã hội; Truyền thống lịch sử văn hóa và giáo dục của Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, Kinh tế - xã hội

Thành phố Vinh là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội của tỉnh Nghệ An, một tỉnh lớn của vùng Bắc Trung bộ; Có vị trí ở phía Đông - Nam của tỉnh Nghệ An; Phía Bắc và Đông giáp huyện Nghi Lộc, phía Nam giáp huyện Nghi Xuân của tỉnh Hà Tĩnh, phía Tây giáp huyện Hưng Nguyên Thành phố Vinh cách thủ đô Hà Nội 360km về phía Bắc, cách Thành phố Hồ

, quy

mô dân số là 435.208 người, gồm 16 phường và 9 xã

Thành phố Vinh được thành lập ngày 28/12/1961 Từ ngày thành lập đến nay, dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, Đảng bộ Thành phố Vinh đã lãnh đạo nhân dân vượt qua khó khăn do thiên tai và hậu quả nặng nề của chiến tranh, từng bước xây dựng Thành phố Vinh ổn định và phát triển

Tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm (2006 - 2010) là 16,01% tăng

3,65% so với thời kỳ 2001 - 2005 Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng Tỷ trọng ngành thương mại dịch vụ chiếm 58%, công nghiệp chiếm 34,77%, nông nghiệp chiếm 7,9% trong cơ cấu kinh tế địa phương

GDĐT tiếp tục phát triển kể cả về quy mô và chất lượng trong các cấp học, bậc học Công tác xã hội hóa giáo dục tiếp tục phát triển có hiệu quả

Trang 39

Hầu hết các trường được kiên cố hóa Đã hoàn thành phổ cập Tiểu học và THCS

Đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện Quốc phòng - an ninh được tăng cường, giữ vững ổn định về chính trị, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm, tạo điều kiện cho kinh tế - xã hội của Thành phố Vinh phát triển

Phương hướng, mục tiêu phát triển nhiệm kỳ 2010 - 2015 của Đại hội

Đảng bộ Thành phố Vinh lần thứ XXII đã nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới về tư duy,

nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, khai thác mọi nguồn lực, tranh thủ tối

đa hỗ trợ của Trung ương, của Tỉnh để đẩy mạnh phát triển kinh tế gắn với đảm bảo an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh” Mục tiêu tổng quát là "Xây dựng Thành phố Vinh phát triển nhanh, bền vững, xứng tầm Đô thị loại I và sớm trở thành trung tâm kinh tế - văn hoá của vùng Bắc Trung bộ"

2.1.2 Truyền thống lịch sử văn hóa

Thành phố Vinh, mảnh đất địa linh nhân kiệt, nơi hội tụ nhiệt huyết và tinh hoa xứ Nghệ trong chặng đường dài hơn 2 thế kỉ qua Cách đây vừa tròn 225 năm, Hoàng đế Quang Trung trong bước chân thần tốc hướng về kinh đô Thăng Long đại phá 20 vạn quân Thanh đã quyết định cho xây dựng kinh đô tại vùng đất thuộc huyện Chân Lộc, xã Yên Trường bao gồm một phần Dũng Quyết, Thanh Long Giang (Thành phố Vinh ngày nay) gọi là Trung Kinh Phượng Hoàng Thành (tức Phượng Hoàng Trung Đô) Lịch sử trong những năm đầu thế kỉ XX còn ghi lại nơi đây là một trong những đô thị công nghiệp lớn của cả nước dưới thời Pháp thuộc với những nhà máy, xí nghiệp, bến cảng, hãng buôn, nhà băng Đây là một trong những cái nôi của phong trào giai cấp công nhân gắn với phong trào yêu nước và cách mạng với sự bùng nổ của Cao trào cách mạng 1930 - 1931 Xô viết Nghệ Tĩnh Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ

Trang 40

cộng hoà đã ra Sắc lệnh số 77 ngày 21/12/1945, theo đó Vinh - Bến Thuỷ (cùng với Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Huế, Đà Nẵng, Đà Lạt và Sài Gòn -

Chợ Lớn) “được đặt làm thành phố” Ngày 10/10/1963 là thời điểm đánh dấu

mốc quan trọng trong sự hình thành và phát triển của Vinh ngày nay Thành phố Vinh chính thức được thành lập theo Nghị định số 148/NĐ-CP của Chính phủ Vinh trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của tỉnh Nghệ An Lịch sử hình thành và phát triển của Vinh cũng đồng hành với lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc Cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh 1930 - 1931 đã chứng minh cho truyền thống quật cường, bất khuất của người dân Thành phố

Đỏ Truyền thống đó càng thể hiện rõ nét trong 2 cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc trong thế kỷ XX Hàng ngàn người con thành phố đã ngã xuống

để những người khác tiếp tục đứng lên Từ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến chống đế quốc Mỹ, Vinh là địa bàn chiến lược Người dân thành

phố đã phải gạt nước mắt để “tiêu thổ kháng chiến”, phá huỷ không biết bao

nhiêu công trình được xây dựng bằng máu và mồ hôi để đánh giặc Và rồi những gì còn lại cũng bị đạn bom đế quốc tàn phá, giết chóc Kết thúc chiến tranh, toàn thành phố không còn một ngôi nhà nguyên vẹn Các cơ sở công nghiệp, dịch vụ, các khu dân cư, hệ thống giao thông, các trường học, bệnh viện và cơ sở văn hoá đều chung cảnh hoang tàn Bước ra khỏi cuộc kháng chiến từ đổ nát, bằng sức mạnh chiến thắng, tình yêu quê hương và quyết tâm cao độ, Đảng bộ và nhân dân Thành phố Vinh cùng với sự chỉ đạo, quan tâm của Đảng, Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương, Tỉnh ủy, Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân (UBND) các ban ngành cấp tỉnh, đặc biệt là sự giúp đỡ chí tình của nước bạn Cộng hoà dân chủ Đức, thành phố bước vào giai đoạn phát triển mới Cuộc cách mạng kiến thiết xây dựng lại quê hương Ngày 01/5/1974, Phó Thủ tướng Chính phủ Đỗ Mười đặt những viên gạch đầu tiên xây dựng lại thành phố quê hương Bác Hồ Những công trình đầu tiên đã

Ngày đăng: 21/08/2023, 01:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Quy mô trường, lớp, HS, GV, CBQL các trường THPT  NCL Thành phố Vinh trong 3 năm học gần đây - Một số giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hoạt động dạy học ở các trường trung học phổ thông ngoài công lập thành phố vinh, tỉnh nghệ an
Bảng 2.1 Quy mô trường, lớp, HS, GV, CBQL các trường THPT NCL Thành phố Vinh trong 3 năm học gần đây (Trang 44)
Bảng 2.2: Bảng số lượng và cơ cấu CBQL các trường   THPT NCL  Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An - Một số giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hoạt động dạy học ở các trường trung học phổ thông ngoài công lập thành phố vinh, tỉnh nghệ an
Bảng 2.2 Bảng số lượng và cơ cấu CBQL các trường THPT NCL Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An (Trang 45)
Bảng 2.4: Trình độ tin học của  đội ngũ CBQL, GV các trường THPT - Một số giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hoạt động dạy học ở các trường trung học phổ thông ngoài công lập thành phố vinh, tỉnh nghệ an
Bảng 2.4 Trình độ tin học của đội ngũ CBQL, GV các trường THPT (Trang 47)
Bảng 2.8. Kết quả xin ý kiến đánh giá của GV về tình hình ứng dụng  CNTT trong quản lý  hoạt động dạy học ở các trường THPT NCL - Một số giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hoạt động dạy học ở các trường trung học phổ thông ngoài công lập thành phố vinh, tỉnh nghệ an
Bảng 2.8. Kết quả xin ý kiến đánh giá của GV về tình hình ứng dụng CNTT trong quản lý hoạt động dạy học ở các trường THPT NCL (Trang 56)
Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi - Một số giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hoạt động dạy học ở các trường trung học phổ thông ngoài công lập thành phố vinh, tỉnh nghệ an
Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi (Trang 87)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w