1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động quốc tế của đảng cộng sản đông dương góp phần tìm đồng minh chống phát xít và giành chính quyền giai đoạn 1941 1945

121 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoạt động quốc tế của đảng cộng sản đông dương góp phần tìm đồng minh chống phát xít và giành chính quyền giai đoạn 1941 - 1945
Tác giả Nguyễn Thị Anh Đào
Người hướng dẫn TS. Trần Vũ Tài
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 3. Đối tƣợng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài (7)
  • 4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu (8)
  • 5. Đóng góp của luận văn (8)
  • 6. Bố cục của luận văn (9)
  • Chương 1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG QUỐC TẾ CỦA ĐẢNG TRONG GIAI ĐOẠN 1941- 1945 (10)
    • 1.1. Bối cảnh lịch sử (10)
      • 1.1.1. Tình hình thế giới (10)
      • 1.1.2. Tình hình trong nước (11)
    • 1.2. Tham vọng các nước đế quốc đối với Việt Nam (13)
      • 1.2.1. Nhật Bản (14)
      • 1.2.2. Pháp (22)
      • 1.2.3. Mỹ (29)
      • 1.2.4. Trung Hoa Dân quốc (36)
      • 1.2.5. Anh (38)
    • 1.3. Vấn đề đặt ra trong quan hệ quốc tế của Đảng (41)
  • Chương 2. HOẠT ĐỘNG QUỐC TẾ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN ĐÔNG DƯƠNG43 2.1. Đứng về phe Đồng minh chống phát xít (46)
    • 2.2. Đặt quan hệ với Mỹ và Trung Hoa Dân quốc (55)
    • 2.3. Hoạt động quốc tế nhằm thành lập Mặt trận chống phát xít (74)
  • Chương 3. VAI TRÒ HOẠT ĐỘNG QUỐC TẾ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN ĐÔNG DƯƠNG (0)
    • 3.1. Tìm kiếm sự hậu thuẫn quốc tế và nâng cao uy tín của Mặt trận Việt Minh (86)
    • 3.2. Góp phần vào sự thành công của Cách mạng tháng Tám và tạo cơ sở pháp lý (91)
  • KẾT LUẬN (106)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (112)
  • PHỤ LỤC (115)

Nội dung

Đối tƣợng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu : “Hoạt động quốc tế của Đảng Cộng sản Đông Dương góp phần tìm đồng minh chống phát xít và giành chính quyền giai đoạn 1941 - 1945”

Trong nhiệm vụ nghiên cứu, việc nhận định và đánh giá bối cảnh lịch sử quốc tế và trong nước thời kỳ chuẩn bị cho Cách mạng tháng Tám đã đặt ra các chủ trương, sách lược mới của Đảng Cộng sản Đông Dương trong quan hệ quốc tế Đề tài nhằm làm rõ vai trò và hoạt động quốc tế của Đảng, qua đó thể hiện sự lãnh đạo tài tình, sáng tạo và linh hoạt của Đảng trong giai đoạn lịch sử quan trọng này.

Trong giai đoạn 1941-1945, vai trò của Đảng trong lãnh đạo là yếu tố quyết định giúp đưa Cách mạng Tháng Tám 1945 đến thắng lợi Qua hoạt động quốc tế của Đảng trong thời kỳ này, chúng ta có thể học hỏi và rút ra những bài học quý giá để nâng cao công tác đối ngoại hiện nay, góp phần giữ vững và thúc đẩy sự nghiệp cách mạng của đất nước.

Đề tài nghiên cứu toàn diện về tình hình thế giới và Việt Nam, đặc biệt là hoạt động của Đảng Cộng sản Đông Dương trong và ngoài nước trước và sau khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám Nghiên cứu này nhằm phân tích các diễn biến quốc tế và nội địa, cũng như vai trò của Đảng trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Các hoạt động của Đảng Cộng sản Đông Dương trong giai đoạn này đóng vai trò then chốt trong quá trình chuẩn bị cho cuộc cách mạng tháng Tám thành công.

Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

- Nguồn tài liệu lưu trữ: văn kiện Đảng và Hồ Chí Minh toàn tập về công tác đối ngoại thời kỳ 1941 - 1945

Nguồn tài liệu tham khảo chủ yếu bao gồm sách báo, tạp chí và các công trình đã được công bố trong và ngoài nước, chuyên sâu về ngoại giao Việt Nam trước và trong năm 1945 Những tài liệu này cung cấp cái nhìn toàn diện về lịch sử, chiến lược và hoạt động ngoại giao của Việt Nam trong giai đoạn quan trọng này Việc nghiên cứu các nguồn tham khảo đáng tin cậy giúp làm rõ vai trò của ngoại giao trong quá trình đấu tranh độc lập và xây dựng đất nước XXX

Tài liệu hồi cố là các hồi ký của các lãnh đạo và nhà hoạt động ngoại giao, cung cấp những câu chuyện chân thực về quá trình phát triển và sự kiện lịch sử quan trọng Những tài liệu này được viết bằng tiếng Việt hoặc đã được dịch sang tiếng Việt, giúp độc giả dễ dàng tiếp cận và hiểu rõ hơn về quá khứ Chúng tôi đã khai thác các tài liệu quý giá này tại Trung tâm Thư viện Trường Đại học Vinh, Thư viện Tỉnh Nghệ An và Thư viện Quốc gia, góp phần bảo tồn và truyền tải giá trị lịch sử đến cộng đồng.

- Tài liệu báo chí: báo viết, báo hình, báo điện tử liên quan đến đề tài nghiên cứu

Phương pháp luận của công tác ngoại giao được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận vững chắc của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam Những nguyên tắc này đảm bảo sự hợp lý, nhất quán và phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước, góp phần nâng cao hiệu quả ngoại giao trong sự nghiệp phát triển bền vững của Việt Nam.

Chúng tôi sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chính trong lĩnh vực chuyên ngành là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic để đảm bảo tính chính xác và logic của đề tài Ngoài ra, chúng tôi còn áp dụng các phương pháp liên ngành như phân tích, đánh giá, thống kê, xác minh nguồn tư liệu và phỏng vấn báo chí để mở rộng phạm vi nghiên cứu và đạt được kết quả toàn diện hơn.

Đóng góp của luận văn

Luận văn hoàn thành có những đóng góp về khoa học và thực tiễn sau đây:

- Phục dựng lại các hoạt động quốc tế của Đảng Cộng sản Đông Dương thời kỳ 1941 - 1945

- Phân tích đƣợc vai trò hoạt động quốc tế của Đảng đối với cách mạng Việt Nam giai đoạn 1941 - 1945

- Hệ thống lại nguồn tƣ liệu liên quan đến hoạt động quốc tế của Đảng giai đọan 1941 - 1945

- Góp phần nêu lên một số bài học cũng nhƣ đề xuất một vài kinh nghiệm trong công tác ngoại giao.

Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương sau:

Chương 1 Bối cảnh lịch sử và vấn đề đặt ra đối với hoạt động quốc tế của Đảng giai đoạn 1941 - 1945

Chương 2 Hoạt động quốc tế của Đảng Cộng sản Đông Dương

Chương 3 Vai trò hoạt động quốc tế của Đảng Cộng sản Đông Dương.

BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG QUỐC TẾ CỦA ĐẢNG TRONG GIAI ĐOẠN 1941- 1945

Bối cảnh lịch sử

Ngày 1 - 9 - 1939, Đức tấn công Ba Lan Ngày 3 - 9 - 1939, Anh và Pháp tuyên chiến với Đức Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ Tuy tuyên chiến với Đức nhƣng Anh và Pháp chƣa có động thái quân sự nào đối với quân Đức, mà ngồi dưới chiến hào nghe ngóng, hi vọng phát xít Đức sẽ tấn công và tiêu diệt Liên Xô, lịch sử gọi là “Cuộc chiến tranh kỳ quặc” Trước thái độ do dự của Anh và Pháp, phát xít Đức nhanh chóng tấn công và lần lượt chiếm các nước Châu Âu Đế quốc Pháp lao vào cuộc chiến Chính phủ của Mặt trận nhân dân Pháp do Bluma làm Thủ tướng bị lật đổ, chính phủ Daladier lên cầm quyền, thi hành những chính sách hết sức phản động: ở trong nước tiến hành đàn áp lực lượng dân chủ và tìm cách tiêu diệt phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa Đảng Cộng sản Pháp bị đặt ngoài vòng pháp luật

Tháng 6 - 1940, phát xít Đức tấn công Pháp Do thái độ “dung dƣỡng” của Anh, Pháp đối với Đức với hi vọng Đức sẽ tấn công Liên Xô Hơn nữa, Pháp chủ quan có chiến lũy Maginô đã đƣợc xây dựng kiên cố, quân Đức không thể vƣợt qua Nhƣng lính Đức đã không vƣợt qua chiến lũy Maginô mà đi vòng sang Bỉ, Hà Lan, Lucxămbua tiến ra biển, đe dọa bao vây quân Anh - Pháp trên đất Bỉ Chính phủ Hà Lan, Bỉ đầu hàng quân Đức đã đẩy quân Anh - Pháp vào tình thế nguy nan, 45 sƣ đoàn bị đẩy lùi ra biển Lúc này, các sƣ đoàn xe tăng của Đức dừng tiến công nên quân Anh - Pháp có cơ hội rút chạy, song tổn thất vẫn rất nặng nề: Anh - Pháp rút đƣợc 130.000 quân, 130.000 quân Pháp, 8000 quân bị bắt làm tù binh và 100 máy bay của Anh bị hạ, gần 200 tàu chiến bị đánh chìm và nhiều phương tiện chiến tranh bị phá hủy Quân Đức nhanh chóng tiến sâu vào lãnh thổ Pháp Ngày 12 - 6, Tổng tƣ lệnh Pháp là Weygand ra lệnh rút lui Thủ đô Pari bị bỏ ngỏ Ngày 14 - 6 Đức tiến vào Pari Ngày 17 - 6, Chính phủ Pêtanh đƣợc thiết lập, đóng đô ở Vichy, Pêtanh trở thành quốc trưởng, nền cộng hòa bị xóa bỏ Ngày 22 - 6 - 1940, Chính phủ Pêtanh đầu hàng, trở thành chính phủ bù nhìn và rút về miền Nam nước Pháp Chính phủ phản động này đã chấp nhận nộp 233.500 frăng tiền chiếm đóng và lệ phí cho quân Đức trong thời gian 4 năm từ 1940 đến 1944 Một bộ phận yêu nước do Đờ Gôn cầm đầu đã bí mật sang Anh tiến hành cuộc kháng chiến chống Đức Tại Angiêri, Đờ Gôn tuyên bố thành lập Chính phủ lâm thời Cộng hòa Pháp, không công nhận Chính phủ Pêtanh Chính sự thỏa hiệp, “dung dƣỡng” của Pháp và Anh đối với phe phát xít đã buộc Pháp phải trả giá bằng sự thất bại nhục nhã trước cuộc chiến tranh xâm lược của phát xít Đức Đó là “tấn trò đời”, là bi kịch của nước Pháp

Chiến tranh thế giới thứ hai đã ảnh hưởng sâu sắc đến khu vực Đông Dương nói chung, đặc biệt là Việt Nam Tháng 7 năm 1939, Tổng thống Catơru được bổ nhiệm làm toàn quyền Đông Dương, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong chính sách quản lý của thực dân Pháp tại khu vực Ngày 4 tháng 1, tại Hội đồng Chính phủ Đông Dương, các quyết định về chính sách đối với thuộc địa tiếp tục ảnh hưởng đến tình hình chính trị và xã hội của Việt Nam trong giai đoạn chiến tranh.

Năm 1940, ông ta tuyên bố: “Chúng ta đánh toàn diện và mau chóng vào các tổ chức cộng sản; trong cuộc đấu tranh này, phải tiêu diệt cộng sản thì Đông Dương mới được yên ổn và trung thành với nước Pháp,” nhấn mạnh rằng chiến tranh đòi hỏi phải hành động quyết đoán Ông nhấn mạnh rằng “chúng ta không có quyền không thắng,” khẳng định tính cấp bách của việc tiêu diệt cộng sản để đảm bảo ổn định cho Đông Dương Tuyên bố này phản ánh mục tiêu chiến lược của chính quyền thời đó nhằm loại bỏ mối đe dọa cộng sản để duy trì trật tự và liên minh với Pháp.

Ngày 28 - 9 - 1939, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định cấm tuyên truyền cộng sản, đặt Đảng Cộng sản Đông Dương ra ngoài vòng pháp luật, giải tán và tịch thu của cải của các hội hữu ái, nghiệp đoàn, đóng cửa các tờ báo và nhà xuất bản, cấm hội họp và tụ tập đông người Bộ máy đàn áp được tăng cường, lệnh thiết quân luật được ban bố Có thể nói rằng, thực dân Pháp ở Đông Dương đã xiết chặt bộ máy thống trị, thủ tiêu mọi quyền lợi mà nhân dân Đông Dương đấu tranh đạt được trong phòng trào dân chủ 1936 - 1939

Thực dân Pháp ban bố lệnh Tổng động viên và thực hiện chính sách "kinh tế chỉ huy" để tận dụng sức người sức của nhằm phục vụ chiến tranh đế quốc, gây hậu quả đau lòng khi 8 vạn người Việt bị đưa sang Pháp làm bia đỡ đạn Đồng thời, chúng xuyên tạc của cải, vàng bạc, kiểm soát sản xuất và độc quyền giá cả, tăng thuế cũ và áp đặt các thuế mới để vơ vét của cải Chính sách bóc lột tàn bạo của thực dân Pháp trong thời chiến được thể hiện qua lời phát biểu của Catơru tại Đại hội đồng kinh tế và tài chính Đông Dương tháng 11 năm 1939, nhấn mạnh rằng Đông Dương phải sáp nhập vào hệ thống thương nghiệp và phát triển sản xuất theo lợi ích của Pháp, cũng như cung cấp nguồn nhân lực cho chiến trường phương Tây Đông Dương đóng vai trò chiến lược lớn đối với cả thực dân Pháp và phát xít Nhật, đặc biệt là trong chiến tranh ở Thái Bình Dương Tận dụng thất bại của Pháp trước Đức, Nhật tăng cường sức ép và từng bước thực hiện ý đồ chiếm đóng Đông Dương, như yêu cầu đóng cửa biên giới Việt - Trung và chấm dứt hoạt động tiếp tế chiến tranh tại Hải Phòng vào tháng 6 năm 1940.

Ngày 2 - 8 - 1940, Nhật yêu cầu Pháp cho quân đội Nhật vào Đông Dương, sử dụng các sân bay, hải cảng vào mục đích quân sự Hơn nữa, Nhật bắt buộc Pháp phải cung cấp đầy đủ lương thực, thực phẩm, tài chính, doanh trại cho quân đội Nhật Chính quyền Pháp ở Đông Dương chấp nhận hầu hết các yêu sách của phát xít Nhật Tuy nhiên, ngày 23 - 9 - 1940, Nhật vẫn đánh chiếm Lạng Sơn, ném bom ở Hải Phòng, đổ bộ lên Đồ Sơn, quân Pháp mau chóng thất bại

Trước sự bỏ chạy của quân Pháp, nhân dân Bắc Sơn đã nhanh chóng tổ chức khởi nghĩa, dẫn đến thắng lợi dễ dàng và thành lập đội du kích Bắc Sơn Nhằm đối phó với phong trào đấu tranh mạnh mẽ này của quân dân Bắc Sơn, Nhật - Pháp đã vội vàng hợp tác và cấu kết nhau để đàn áp phong trào cách mạng.

Sự cấu kết giữa Nhật Bản và Pháp đã khiến nhân dân Đông Dương và Việt Nam phải chịu cảnh bóc lột và đàn áp hai chiều, đẩy đời sống nhân dân vào cảnh nghèo đói, khốn khổ và nạn đói hoành hành Hồ Chí Minh đã viết: “Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở rộng căn cứ đánh Đồng minh, trong khi thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa đất nước rước Nhật.” Điều này khiến nhân dân ta chịu hai tầng xiềng xích, bị bóc lột nặng nề dưới sự kìm kẹp của cả Pháp lẫn Nhật Bản.

Chính sách thống trị tàn bạo của phát xít Nhật - Pháp đã khiến hơn hai triệu đồng bào Việt Nam chết đói vào năm 1945 Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc, phát xít Pháp - Nhật trở nên gay gắt hơn bao giờ hết Đây chính là nguyên nhân làm bùng lên ngọn lửa cách mạng “Hoàn cảnh Đông Dương sẽ tiến bước đến vấn đề dân tộc giải phóng” [ 45; 19]

Việt Nam và Đông Dương là khu vực có tính chiến lược quan trọng, không chỉ là miếng mồi tranh chấp giữa thực dân Pháp và phát xít Nhật mà còn là điểm nhòm ngó từ các cường quốc lớn Tham vọng xâm lược và kiểm soát của các đế quốc đối với Việt Nam, Đông Dương thể hiện rõ nét trong và sau Chiến tranh thế giới thứ hai, phản ánh tầm quan trọng chiến lược của khu vực này đối với các cạnh tranh địa chính trị toàn cầu.

Tham vọng các nước đế quốc đối với Việt Nam

Đông Dương có vị trí chiến lược quan trọng, nằm tiếp giáp với Thái Bình Dương và kết nối với lục địa Châu Á, là cửa ngõ đến Trung Á và Vân Nam - Trung Quốc, nơi có tiềm năng kinh tế lớn và tiềm lực quân sự mạnh mẽ Vị trí của Đông Dương giúp kiểm soát tuyến giao thông hàng hải quan trọng từ Đông Bắc Á xuống Đông Nam Á và từ Thái Bình Dương sang Ấn Độ Dương Từ Đông Dương, có thể kiểm soát việc vận chuyển dầu mỏ từ Trung Đông đến các khu vực Đông Bắc Á, tăng cường chiến lược an ninh và phát triển kinh tế khu vực.

Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Việt Nam và Đông Dương trở thành đối tượng tranh chấp của các đế quốc lớn như Mỹ, Anh, Pháp, Nhật và Trung Hoa Dân quốc, đều có tham vọng và toan tính nhằm mở rộng ảnh hưởng Nhật Bản, với tư cách là đế quốc phát xít hung hăng nhất, đã có những hành động xâm lược Đông Dương và Việt Nam một cách quyết liệt và bạo lực.

Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933 đã đẩy Nhật Bản đi theo con đường phát xít, ảnh hưởng đến chính sách quốc tế của nước này Việt Nam và Đông Dương trở thành vị trí chiến lược quan trọng trong kế hoạch mở rộng của Nhật Bản nhằm thôn tính châu Á Theo tài liệu công bố của Bộ Tham mưu Hải quân Nhật Bản ngày 1-8-1940, khu vực Đông Dương được xem là căn cứ địa then chốt để Nhật Bản tiến hành các chiến dịch xâm lược nhằm kiểm soát toàn bộ khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Nghiên cứu chính sách đối với Đông Dương cho thấy, đây là khu vực có lợi thế chiến lược quan trọng đối với Nhật Bản, vì có thể sử dụng làm bàn đạp để tấn công Myanmar và Malaysia Việt Nam nằm ở vị trí chiến lược lý tưởng để hỗ trợ cuộc tiến quân của Nhật, đặc biệt với cảng Cam Ranh – một trong những cảng quân sự tốt nhất thế giới, nằm ở vị trí thuận lợi, kết nối các tuyến đường thủy quan trọng trong khu vực Đông Nam Á và toàn cầu Trong chiến tranh Thái Bình Dương, Đông Dương còn đóng vai trò điều động quân tiếp ứng cho mặt trận này Ngay từ khi Nhật Bản bắt đầu xâm lược Trung Quốc vào năm 1937, Đông Dương trở nên ngày càng quan trọng hơn vì giáp với khu vực phía Nam Trung Quốc, nơi tiếp giáp Việt Nam và Đông Dương Dù Nhật đã chiếm nhiều lãnh thổ Trung Quốc, họ vẫn không thể kiểm soát toàn bộ các tuyến đường tiếp tế vũ khí qua Đông Dương, khiến các lãnh đạo quân sự Nhật tin rằng cắt đứt tuyến viện trợ này có thể đẩy nhanh chiến thắng Để làm điều đó, đầu năm 1939, Tướng Trushibashi yêu cầu Pháp hạn chế việc vận chuyển vũ khí qua đường trung chuyển vào Trung Quốc, nhưng Pháp không chấp nhận, dẫn đến Nhật Bản đã ném bom các tuyến đường sắt biên giới Việt-Trung vào tháng 4 năm 1939, mặc dù không mấy hiệu quả.

Ngày 18 - 6 - 1940, Nhật gửi tối hậu thư, buộc toàn quyền Đông Dương phải cho ngừng mọi hoạt động vận chuyển hàng hóa, phương tiện chiến tranh vào Trung Quốc qua Đông Dương và Pháp phải đồng ý để phái đoàn Nhật sang Đông Dương giám sát việc Pháp thực hiện Đồng thời điều tra thực lực của Pháp ở Đông Dương, thăm dò tình hình dân chúng và thám thính về quân sự, chuẩn bị cho việc đem quân sang xâm lược Đông Dương Ngày 29 - 6 - 1940, tướng Nishihara cùng với phái đoàn giám sát đến Hà Nội Sang Việt Nam, Nhật Bản tiến hành thiết lập các trạm kiểm soát ở Móng Cái, Lạng Sơn, Cao Bằng,

Trong bối cảnh chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản đã yêu cầu Pháp chuyển giao tất cả hàng hóa quá cảnh qua biên giới Việt - Trung và cho phép đưa đạn dược, vũ khí từ Trung Quốc qua Bắc Kỳ, cùng với việc điều trị thương binh Nhật tại các bệnh viện địa phương Nhật Bản còn đòi quyền tiến quân sang Trung Quốc qua tuyến biên giới Việt - Trung và yêu cầu cung cấp khoáng sản quý để phục vụ công nghiệp chiến tranh Tất cả đề nghị này đều được Toàn quyền Đông Dương Catơru chấp nhận vào ngày 9-7-1940, bởi ông tin rằng nhờ đó có thể giữ Đông Dương dưới sự kiểm soát của Pháp nhằm tránh mất toàn bộ thuộc địa này, đặc biệt sau thất bại của Pháp trước Đức tháng 6 năm 1940 Nhà sử học Yoshizawa cho biết, chính quyền thuộc địa Đông Dương đã thể hiện thiện chí tối đa và hợp tác nhằm duy trì lợi ích của Pháp trong khu vực Tuy nhiên, chính phủ Pêtanh không hài lòng với các nhượng bộ của Catơru và đã cử Đờcu thay thế, dù ông này tỏ ra thiếu quyết đoán và vẫn hợp tác với Nhật Bản.

Trong năm 1940, giới quân sự Nhật Bản mong muốn dùng vũ lực để trở thành bá chủ Đông Á, nhưng giới cầm quyền đã chọn giải pháp thỏa hiệp Chính phủ Nhật tuyên bố mục tiêu của quốc gia là xây dựng trật tự mới tại Đông Á thông qua biện pháp hòa bình Lý do Nhật Bản chưa sử dụng vũ lực để chiếm lĩnh khu vực Đông Á thời điểm đó chính là nhằm duy trì hình ảnh hòa bình và tránh các phản ứng tiêu cực từ quốc tế, đồng thời chuẩn bị cho các bước đi chiến lược dài hạn.

Mỹ vẫn là cường quốc mạnh mẽ trong khi đế quốc Anh chưa bị phát xít đánh bục Ở Đông Dương, phát xít Nhật nuôi tham vọng xâm chiếm, nhưng trong thời gian này, Nhật áp dụng các biện pháp hòa bình thay vì dùng vũ lực Giới cầm quyền Nhật coi chính quyền thực dân Pháp là công cụ giúp Nhật kiểm soát khu vực chiến lược này một cách khéo léo và tiết kiệm Năm 1940, Nagata Yasukichi, Tổng lãnh sự Nhật ở Hà Nội, đề nghị chiếm Đông Dương bằng cách kích động ý thức dân tộc và xây dựng chính phủ lâm thời nhằm tận dụng tinh thần chống Pháp của nhân dân Việt Nam để phát triển phong trào độc lập thân Nhật, qua đó dẫn đến việc lập chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim sau đảo chính Pháp Trong khi đó, Nhật chọn sử dụng chính quyền Pháp làm công cụ thống trị Đông Dương nhằm phục vụ mục tiêu lớn hơn là chiến thắng trong cuộc chiến Thái Bình Dương Theo Hội đồng Chiến tranh tối cao Nhật, mục tiêu của Nhật gồm khai thác nguồn nguyên liệu, đảm bảo vận chuyển nguyên liệu và quân đội, đồng thời đàn áp người bản địa như ở Trung Quốc nhưng vẫn tranh thủ tổ chức hiện hành và tôn trọng phong tục địa phương Sau hai lần tối hậu thư đòi đưa quân vào chiếm sân bay Đông Dương, Nhật vẫn gây áp lực mạnh mẽ và cuối cùng được giới thiệu quyền lợi tối cao trong lĩnh vực kinh tế và chính trị ở Viễn Đông, mặc dù giới lãnh đạo Pháp và Vichy hy vọng việc Nhật chiếm đóng chỉ là tạm thời và giới hạn ở Bắc Kỳ.

Pháp và Nhật Bản đã đi đến thống nhất về việc Nhật Bản thừa nhận chủ quyền của Pháp tại Đông Dương Ngoại trưởng Nhật Bản Matsuoka Yosuke đã gửi thư cho đại sứ Chính phủ Vichy ở Nhật, khẳng định rằng Chính phủ Nhật luôn tôn trọng quyền lợi của Pháp tại Viễn Đông, đặc biệt là sự toàn vẹn lãnh thổ của Đông Dương và chủ quyền của Pháp trên toàn Liên bang Đông Dương.

Vào tháng 9 năm 1940, Nhật Bản tiếp tục gây áp lực buộc Pháp phải nhượng bộ bằng tối hậu thư thứ ba, dẫn đến việc Pháp cho phép Nhật sử dụng cảng Hải Phòng để chuyển quân và tiếp nhận nguyên liệu chiến tranh tại miền Nam Trung Quốc Điều này giúp Nhật ngăn chặn nguồn tiếp tế của Đồng minh cho Tưởng Giới Thạch thông qua cảng Hải Phòng, đồng thời Pháp đồng ý cho Nhật thiết lập ba sân bay và triển khai 6.000 quân để chiếm đóng tại Bắc Việt Nam.

Vào ngày 22-9-1940, Nhật Bản đã tấn công và chiếm Lạng Sơn, Đồng Đăng, đồng thời sử dụng máy bay ném bom để uy hiếp Hà Nội, khiến chính quyền Pháp ở Đông Dương hoảng sợ và vội hàng, ký kết các thỏa thuận đầu hàng Sau đó, Đông Dương trở thành bán thuộc địa của Nhật, với chính quyền Pháp chỉ còn chức năng quản lý hạn chế; Nhật Bản tự do sử dụng vùng lãnh thổ này để củng cố quân sự, thiết lập đường biên giới Việt-Trung chặt chẽ và làm hậu phương cung cấp vật lực, hỗ trợ mưu đồ thôn tính Trung Quốc và khu vực Đông Nam Á.

Nhật Bản muốn lợi dụng thời cơ Pháp thất trận để chiếm một phần thuộc địa của Pháp ở Đông Dương, nhằm kiểm soát các nguồn nguyên liệu phong phú để phục vụ chiến tranh Đồng thời, Đông Dương trở thành căn cứ quân sự để tấn công Hoa Nam và cắt đứt đường tiếp tế quân nhu, khí giới cho Trung Quốc qua Yangon Mục tiêu của Nhật là nhanh chóng thoát khỏi tình cảnh khó khăn ở Trung Quốc, sử dụng Đông Dương làm cầu nối tiến xuống vùng Nam Dương Á, mở rộng ảnh hưởng trong khu vực.

Từ ngày 22-9-1940 đến ngày 9-3-1945, Nhật - Pháp đã cấu kết thống trị nhân dân Đông Dương, thành lập Ủy ban Hỗn hợp Pháp - Nhật để hợp pháp hóa quyền lực, nhưng trên thực tế Nhật trở thành kẻ ra lệnh còn Pháp buộc phải nghe lời Hồ Chí Minh nhận xét sắc sảo về tình hình Đông Dương thời kỳ này: “Người Nhật trở thành chủ nhân đích thực, người Pháp trở thành nô lệ được tôn trọng, còn nhân dân Đông Dương phải chịu cảnh “một cổ hai tròng”, vừa làm nô lệ cho Nhật, vừa nô lệ cho Pháp.” Trong giai đoạn này, phát xít Nhật đã biến Pháp thành công cụ phục vụ lợi ích của mình, thể hiện qua các Hiệp ƣớc bất bình đẳng về kinh tế, quân sự, chính trị và tư tưởng mà Pháp buộc phải ký.

Ngày 6-5-1941, Hiệp định Tôkiō được ký kết, trong đó Pháp thừa nhận những quyền lợi kinh tế của Nhật tại Đông Dương, biến khu vực này thành thị trường độc quyền của Nhật Nhật yêu cầu Pháp nhường 50% giá trị nhập khẩu và 15% giá trị xuất khẩu ở Đông Dương, đồng thời kiểm soát hệ thống đường sắt và yêu cầu Pháp cung cấp đầy đủ lương thực, thực phẩm và tài chính cho Nhật Trong khoảng thời gian từ 1940 đến 1945, cứ mỗi năm, thực dân Pháp đều phải nộp một khoản tiền lớn cho Nhật, số tiền này liên tục tăng theo cấp số nhân, từ 6 triệu đồng năm 1940 đến 363 triệu đồng năm 1944.

4 năm 6 tháng, chính quyền thực dân Pháp phải nộp một khoản tiền là 723.786 nghìn đồng” [26; 24-25]

Vào ngày 29-7-1941, Pháp ký kết Hiệp định phòng thủ chung Đông Dương với Nhật Bản, mở đường cho quân Nhật vào Sài Gòn Hiệp định này cho phép Nhật Bản chiếm giữ các vị trí chiến lược tại Nam Bộ, tạo đòn bẩy chuẩn bị cho kế hoạch xâm chiếm toàn bộ khu vực.

Vấn đề đặt ra trong quan hệ quốc tế của Đảng

Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, phong trào cách mạng của Việt Nam và các nước Đông Dương đứng trước vô vàn khó khăn do sự cấu kết thống trị của đế quốc và phát xít Nhật - Pháp, gây ra áp lực đàn áp khốc liệt nhằm tiêu diệt phong trào cách mạng Các cường quốc đế quốc như Mỹ, Anh, Pháp có những tham vọng lớn về Việt Nam và khu vực Đông Dương, bao gồm ý đồ xâm chiếm, gây ảnh hưởng hoặc biến chính quốc gia thành lợi ích riêng của họ Việt Nam - Đông Dương trở thành chiến trường tranh chấp của các cường quốc tư bản, nơi các bên liên minh nhằm vun vén lợi ích riêng và liên kết để đàn áp, tiêu diệt phong trào cách mạng trên bán đảo Đông Dương.

Đảng Cộng sản Đông Dương đã xác định rõ các chủ trương và sách lược phù hợp để đối phó với các đế quốc, đồng thời lợi dụng mâu thuẫn giữa các nước đế quốc cũng như phân biệt rõ bạn - thù để đạt được lợi ích chiến lược Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, đảng đã dẫn dắt cách mạng vượt qua nhiều thử thách, xác định đối tượng đế quốc chính cần tiêu diệt và duy trì đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cùng xã hội chủ nghĩa Cách mạng Việt Nam luôn xác định là một phần của cách mạng thế giới, cần đoàn kết quốc tế và tranh thủ sự ủng hộ của các lực lượng yêu chuộng hòa bình trên toàn cầu Đáp lại lời kêu gọi của Quốc tế cộng sản, Đảng Cộng sản Đông Dương đã phối hợp thành lập Mặt trận chung chống phát xít và chiến tranh đế quốc, như Mặt trận dân chủ Đông Dương của Việt Nam, Lào, Campuchia.

Hồ Chí Minh trở về nước giữa cơn lốc của cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai, một bước ngoặt quan trọng ảnh hưởng sâu sắc đến vận mệnh của đất nước Dưới ách áp bức "một cổ hai tròng" của phát xít, đế quốc Pháp, Nhật, nhân dân Việt Nam phải chịu đựng cuộc sống căng thẳng và bức xúc Việt Nam bị cuốn vào cuộc chiến tranh đế quốc và trở thành con cờ trong bàn cờ của các cường quốc đế quốc Đảng Cộng sản Đông Dương và Hồ Chí Minh đã trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam dựa trên tư tưởng của Người, mở đường cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Trong quan điểm cách mạng của Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam không tách rời khỏi xu thế cách mạng trên thế giới, nhấn mạnh vai trò của các yếu tố nội tại kết hợp với sự hỗ trợ từ bên ngoài để đạt được thành công Người nhận thức rõ tác động của các mối quan hệ quốc tế đối với tiến trình cách mạng Việt Nam và luôn chú trọng việc phát hiện, phân biệt bạn - thù để xây dựng liên minh và cô lập đối phương hiệu quả Hồ Chí Minh đề ra các chủ trương, biện pháp cụ thể nhằm tranh thủ đồng minh, phân hóa kẻ thù, đồng thời phân tích sâu sắc các mâu thuẫn của các nước đế quốc để tận dụng và khai thác tối đa các cơ hội quốc tế cho sự nghiệp cách mạng.

Trong quá trình xây dựng đường lối chiến lược cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh luôn đặt sự quan tâm đặc biệt vào chủ trương đối ngoại và hoạt động quốc tế của Đảng Những hoạt động quốc tế của Đảng trong giai đoạn 1941-1945 thể hiện tài năng ngoại giao xuất sắc của Người, khi biết tận dụng thời cơ, biết lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù để mở rộng mối quan hệ hòa bình Hồ Chí Minh đã thể hiện sự nhạy bén trong nhận diện tình hình quốc tế, biết cách dừng bước hay biến chuyển phù hợp, góp phần củng cố vị thế của cách mạng Việt Nam trên trường quốc tế.

Hoạt động quốc tế của Đảng Cộng sản Đông Dương trong thời kỳ 1941 -

Năm 1945 là thời điểm cực kỳ quan trọng để mở rộng quan hệ ngoại giao nhằm xây dựng thêm bạn, giảm bớt thù địch và tìm kiếm sự công nhận quốc tế cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta Các hoạt động đối ngoại chính là nỗ lực tìm kiếm sự hậu thuẫn từ bên ngoài, góp phần chuẩn bị cho Cách mạng tháng Tám thành công Những chủ trương đối ngoại của Đảng đã trở thành yếu tố then chốt quyết định thắng lợi vang dội của Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, khiến hệ thống tư bản chủ nghĩa chia thành hai phe và dẫn đến cuộc chiến tranh thảm khốc nhằm giành quyền kiểm soát thị trường toàn cầu Các quốc gia thuộc địa và phụ thuộc cũng bị ảnh hưởng sâu sắc, góp phần làm mở rộng quy mô và tầm ảnh hưởng của cuộc chiến.

Ngày đó, Việt Nam là thuộc địa của Pháp và chịu ảnh hưởng nặng nề từ cuộc chiến tranh toàn cầu Phát xít Nhật đã xâm lược Đông Dương, bao gồm Việt Nam, Lào và Campuchia, đồng thời đẩy nhân dân các nước này vào cảnh nô lệ hai tầng Trong và sau Thế chiến II, Việt Nam trở thành điểm tranh chấp giữa các đế quốc, nơi chứng kiến các cuộc xung đột dữ dội và hậu quả nặng nề Quân Nhật tấn công và chiếm đóng Việt Nam, lợi dụng sự yếu kém của Pháp, dẫn tới Pháp buộc phải đầu hàng và hợp tác với Nhật để duy trì quyền kiểm soát Tuy nhiên, Nhật không mong muốn mất vùng đất giàu có, đẹp đẽ này khỏi tay mình, vì vậy Việt Nam ngày càng trở thành mục tiêu chiến lược trong cuộc tranh giành quyền lực giữa các đế quốc.

Pháp đang chuẩn bị lực lượng chờ thời cơ để tấn công Nhật Bản trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt giữa hai đế quốc Cả Pháp và Nhật đều mong muốn kiểm soát Việt Nam và Đông Dương để mở rộng ảnh hưởng khu vực Trong cuộc chiến tranh quyền lực đó, phát xít Nhật đã giành thắng lợi trước đế quốc Pháp, thiết lập vị thế kiểm soát tại Đông Dương.

Việt Nam trở thành chiến trường tranh chấp địa vị giữa các đế quốc, phản ánh tham vọng mở rộng ảnh hưởng của các nước như Nhật Bản, Anh, Pháp và Mỹ trong hệ thống tư bản chủ nghĩa Nhật Bản coi việc chiếm Việt Nam và Đông Dương là mục tiêu sống còn để khẳng định vị thế khu vực và mở rộng chiến tranh châu Á - Thái Bình Dương Trong khi đó, Pháp coi Việt Nam là thuộc địa quý giá mang lại nguồn lợi lớn, cố gắng giữ và bảo vệ đất nước khỏi sự xâm lược của Nhật Bản Các cường quốc đế quốc trong quá trình này thường tìm cách thỏa hiệp, nhượng bộ lẫn nhau nhằm xóa bỏ ảnh hưởng của cách mạng và phong trào giải phóng dân tộc, đặc biệt tại Việt Nam.

Trong bối cảnh không thể đánh bại quân Nhật, Pháp buộc phải chấp nhận thỏa hiệp và tìm kiếm sự giúp đỡ từ Đồng minh Khi chiến tranh sắp kết thúc và chủ nghĩa phát xít bị tiêu diệt gần như toàn diện, đế quốc Pháp tích cực tuyên bố chủ quyền tại Việt Nam và Đông Dương Để tránh bị cô lập, Pháp đã liên minh với Anh để chống lại chính sách "ủy trị quốc tế" của Mỹ, đồng thời Anh, một đồng minh thân cận của Pháp, cũng phản đối quyết liệt chính sách này.

Mỹ đã bảo vệ và giúp Pháp xác lập chủ quyền tại Việt Nam và Đông Dương nhằm cả mục đích bảo vệ lợi ích của mình ở Đông Nam Á và mở rộng ảnh hưởng tại Trung Đông Để cạnh tranh ảnh hưởng toàn cầu, Mỹ đã thực hiện chính sách "ủy trị quốc tế", lên án chủ nghĩa thực dân cũ, phủ nhận ảnh hưởng của Pháp và thiết lập ảnh hưởng riêng tại khu vực Mỹ đã sử dụng lực lượng quân sự của Tưởng – một thế lực quân phiệt Trung Hoa Dân Quốc – để tiến vào miền Bắc Việt Nam, giải giáp quân Nhật và thực hiện các mục tiêu chiến lược của mình Sau chiến tranh thế giới thứ hai, chính quyền Mỹ đã chính thức công nhận Việt Nam và Đông Dương là của Pháp, đồng thời ủng hộ Pháp tái chiếm khu vực này.

Trong bối cảnh các cường quốc tư bản có tham vọng mở rộng ảnh hưởng, cách mạng Việt Nam đối diện với nhiều khó khăn và thử thách lớn Đảng Cộng sản Đông Dương xác định hoạt động đối ngoại là yếu tố then chốt để gắn kết phong trào cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới, nhằm tìm kiếm đồng minh và tranh thủ sự hỗ trợ quốc tế Việc phân hóa, cô lập và tiêu diệt kẻ thù trở thành chiến lược quan trọng trong hoạt động đối ngoại của đảng Đảng đã thể hiện rõ vai trò lãnh đạo và xây dựng đường lối đối ngoại đúng đắn, góp phần đưa cách mạng Việt Nam vượt qua thử thách và đạt được những chiến thắng to lớn.

HOẠT ĐỘNG QUỐC TẾ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN ĐÔNG DƯƠNG43 2.1 Đứng về phe Đồng minh chống phát xít

VAI TRÒ HOẠT ĐỘNG QUỐC TẾ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN ĐÔNG DƯƠNG

Ngày đăng: 21/08/2023, 01:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Anh (1986) Những ngày gần Bác, trong tập Bác Hồ về nước, Nxb Hội văn học - nghệ thuật Cao Bằng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những ngày gần Bác", trong tập "Bác Hồ về nước
Nhà XB: Nxb Hội văn học - nghệ thuật Cao Bằng
2. Báo cứu quốc, số 57, ngày 03 - 10 - 1945 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cứu quốc
3. Báo Cờ giải phóng, ngày 23 - 7 - 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Cờ giải phóng
4. Bộ ngoại giao (1976), Đấu tranh ngoại giao trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đấu tranh ngoại giao trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
Tác giả: Bộ ngoại giao
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1976
5. Bộ ngoại giao (2004) Ngoại giao Việt Nam 1945 - 2000, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngoại giao Việt Nam 1945 - 2000
Nhà XB: Nxb CTQG
6. Trường Chinh (1956), Bàn về cách mạng Việt Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về cách mạng Việt Nam
Tác giả: Trường Chinh
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1956
7. Trường Chinh (1964), Kháng chiến nhất định thắng lợi, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kháng chiến nhất định thắng lợi
Tác giả: Trường Chinh
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1964
8. Trường Chinh (1970), Bàn về cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam, tập 2, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam
Tác giả: Trường Chinh
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1970
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1983), Những Nghị quyết cơ bản dẫn đến thắng lợi Cách mạng tháng Tám, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những Nghị quyết cơ bản dẫn đến thắng lợi Cách mạng tháng Tám
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1983
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2000
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện toàn tập, tập 8, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2000
12. Đixee R. Bartholomew - Feir (2007), OSS và Hồ Chí Minh đồng minh bất ngờ trong cuộc chiến chống phát xít Nhật, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: OSS và Hồ Chí Minh đồng minh bất ngờ trong cuộc chiến chống phát xít Nhật
Tác giả: Đixee R. Bartholomew - Feir
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2007
13. Phạm Văn Đồng (1964), Nhà nước dân chủ nhân dân Việt Nam, Nxb Sự thật. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nước dân chủ nhân dân Việt Nam
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Nhà XB: Nxb Sự thật. Hà Nội
Năm: 1964
14. Trần Đường (2008), Hồ Chí Minh nhà dự báo thiên tài, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh nhà dự báo thiên tài
Tác giả: Trần Đường
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2008
15. Nguyễn Kiến Giang (1961), Việt Nam năm đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam năm đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám
Tác giả: Nguyễn Kiến Giang
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1961
16. Võ Nguyên Giáp (1974), Những năm tháng không thể nào quên, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những năm tháng không thể nào quên
Tác giả: Võ Nguyên Giáp
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 1974
17. Võ Nguyên Giáp (1975), Chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước
Tác giả: Võ Nguyên Giáp
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 1975
18. Võ Nguyên Giáp (1994), Những chặng đường lịch sử, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những chặng đường lịch sử
Tác giả: Võ Nguyên Giáp
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1994
19. Võ Nguyên Giáp (2007), Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
Tác giả: Võ Nguyên Giáp
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2007
20. Lê Kim Hải (1995), Hồ Chí Minh với quan hệ ngoại giao Việt - Pháp thời kỳ 1945-1946, Nxb ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh với quan hệ ngoại giao Việt - Pháp thời kỳ 1945-1946
Tác giả: Lê Kim Hải
Nhà XB: Nxb ĐHQG
Năm: 1995

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w