1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu dòng họ nguyễn và lê đình ở xã đông ninh, huyện đông sơn, tỉnh thanh hóa từ thế kỷ xv đến đầu thế kỷ xxi

176 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu dòng họ Nguyễn và Lê Đình ở xã Đông Ninh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XXI
Tác giả Phạm Thị Hồng
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Quang Hồng
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử
Năm xuất bản 2012
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 176
Dung lượng 2,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ khoa học của đề tài (9)
  • 4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu (10)
  • 5. Đóng góp khoa học giá trị thực tiễn của đề tài (12)
  • 6. Bố cục của luận văn (14)
  • Chương 1. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ ĐỊNH CƯ CỦA MỘT SỐ DÕNG HỌ TRÊN ĐỊA BÀN XÃ ĐÔNG NINH - HUYỆN ĐÔNG SƠN (15)
    • 1.1. Vài nét về mảnh đất và con người Đông Ninh (15)
      • 1.1.1. Địa lý - lịch sử hình thành xã Đông Ninh (15)
      • 1.1.2. Truyền thống văn hóa - lịch sử của Đông Ninh (19)
      • 1.1.3. Một số dòng họ lớn ở Đông Ninh - Đông Sơn (25)
  • Chương 2. QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA DÕNG HỌ NGUYỄN VÀ LÊ ĐÌNH XÃ ĐÔNG NINH, HUYỆN ĐÔNG SƠN (36)
    • 2.1. Sự phát triển của các nhánh, chi họ (36)
      • 2.1.1. Dòng họ Nguyễn (36)
      • 2.1.2. Dòng họ Lê Đình (44)
    • 2.2. Mở rộng địa bàn cƣ trú (54)
      • 2.2.1. Dòng họ Nguyễn (54)
      • 2.2.2. Dòng họ Lê Đình (56)
    • 2.3. Đền thờ, bia ký, mồ mả tổ tiên (58)
      • 2.3.1. Họ Nguyễn (58)
      • 2.3.2. Họ Lê Đình (74)
      • 3.1.2. Dòng họ Lê (97)
    • 3.2. Đóng góp về mặt kinh tế (105)
      • 3.2.1. Dòng họ Nguyễn (105)
      • 3.1.2. Dòng họ Lê Đình (110)
    • 3.3. Đóng góp về mặt quân sự (112)
      • 3.3.1. Dòng họ Nguyễn (112)
      • 3.3.2. Họ Lê Đình (124)
    • 3.4. Đóng góp về mặt văn hóa - giáo dục (134)
      • 3.4.1. Dòng họ Nguyễn (134)
      • 3.4.2. Dòng họ Lê Đình (140)
  • KẾT LUẬN (151)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (159)
  • PHỤ LỤC (163)

Nội dung

Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ khoa học của đề tài

Đề tài tập trung nghiên cứu nguồn gốc và lịch sử phát triển của hai dòng họ Nguyễn tại thôn Vạn Lộc và dòng họ Lê Đình ở thôn Hữu Bộc, xã Đông Nghiên cứu này giúp làm rõ quá trình hình thành, quá trình phát triển và vai trò của các dòng họ trong cộng đồng địa phương Thông qua việc tìm hiểu các nguồn tư liệu lịch sử và những nét đặc trưng, bài viết góp phần làm rõ đặc điểm văn hóa và di sản truyền thống của hai dòng họ Đây là những đối tượng nghiên cứu quan trọng để hiểu rõ hơn về lịch sử xã hội, văn hóa của khu vực.

Nghiên cứu tập trung vào hai dòng họ Nguyễn và Lê Đình, giai đoạn từ thế kỷ XV đến thế kỷ XX, nhằm khảo sát quá trình phát triển và lịch sử của các dòng họ này Phạm vi địa lý của đề tài gồm hai thôn Vạn Lộc và Hữu Bộc, thuộc xã Đông Ninh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa Mục tiêu chính là làm rõ mối quan hệ, ảnh hưởng và đóng góp của các dòng họ trong cộng đồng địa phương qua các thời kỳ lịch sử Kết quả nghiên cứu giúp cung cấp cái nhìn toàn diện về vai trò của dòng họ Nguyễn và Lê Đình trong bối cảnh lịch sử và văn hóa của khu vực.

3.3 Nhiệm vụ khoa học của đề tài Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung cụ thể sau:

- Khái quát lịch sử định cƣ của một số dòng họ trên địa bàn xã Đông Ninh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa

Luận văn tập trung nghiên cứu nguồn gốc và quá trình phát triển của dòng họ Nguyễn thôn Vạn Lộc cùng dòng họ Lê Đình thôn Hữu Bộc trong lịch sử dân tộc Nội dung bao gồm việc mở rộng chi, nhánh họ, cũng như mở rộng địa bàn cư trú của các dòng họ này Đồng thời, luận văn cũng đề cập đến quá trình xây dựng nhà thờ tổ tiên và mồ mã, thể hiện lòng thành kính và truyền thống gìn giữ nét văn hoá của các dòng họ qua các thời kỳ.

- Nghiên cứu một số đóng góp của các dòng họ đối với lịch sử dân tộc.

Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi dựa vào nguồn tài liệu sau:

Chúng tôi dựa trên các bộ chính sử quan trọng như Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt sử ký tục biên (1676 - 1679), Lịch triều hiến chương loại chí và Đại Nam nhất thống trí để nghiên cứu và tổng hợp thông tin lịch sử Ngoài ra, gia phả của các họ Lê Lệnh, Lê Viết, Lê Kinh cũng được tham khảo, giúp làm rõ truyền thống dòng họ và các di tích lịch sử quan trọng của triều đại Lê Những nguồn tư liệu này cung cấp dữ liệu chính xác và đầy đủ để phục vụ công tác biên soát, nâng cao giá trị nội dung và tối ưu hóa SEO cho bài viết về lịch sử và gia phả họ Lê.

Gia phả công thần họ Nguyễn ở thôn Vạn Lộc và tộc phả họ Lê Đình (viết bằng chữ Hán và chữ Quốc ngữ) tại thôn Hữu Bộc, xã Đông Ninh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa giữ vai trò quan trọng trong việc ghi lại quá trình hình thành và phát triển các dòng họ địa phương Những tài liệu này giúp bảo tồn nét đẹp văn hóa truyền thống, thể hiện tinh thần kết nối và tự hào dân tộc qua các thế hệ Việc nghiên cứu gia phả không chỉ giúp hiểu rõ nguồn gốc dòng họ mà còn góp phần thúc đẩy hoạt động gìn giữ và truyền bá di sản văn hoá Việt Nam Các bản ghi chép này phản ánh lịch sử lịch sử gia đình phong phú và là tài sản quý giá của cộng đồng địa phương, góp phần thúc đẩy du lịch văn hóa và phát triển bền vững vùng đất Thanh Hóa.

Hồ sơ khoa học về lý lịch di tích mộ, bia đá và đền thờ Nguyễn Chích

Hồ sơ khoa học về lý lịch di tích đền thờ Quận Công Lê Giám cung cấp thông tin quan trọng về lịch sử và giá trị văn hóa của công trình này Các hoành phi, câu đối, văn bia và hiện vật còn lưu giữ tại đền thờ Nguyễn Chích, nhà thờ họ Nguyễn, đền thờ Quận Công Lê Giám và nhà thờ họ Lê Đình thể hiện sự đa dạng và phong phú của di tích Ngoài ra, các bài văn cúng tế còn phản ánh tín ngưỡng, nghi lễ truyền thống được bảo lưu qua nhiều thế hệ Các tài liệu này không chỉ giúp xác định rõ nguồn gốc và vai trò của các di tích mà còn góp phần quan trọng trong việc gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa dân tộc.

Một số tài liệu mà chúng tôi tham khảo nghiên cứu nhƣ: Danh nhân xứ

Thanh (tập 1 và 2) của Ban Nghiên cứu và Biên soạn Lịch sử Thanh Hóa là nguồn tài liệu quan trọng về quá trình phát triển lịch sử tỉnh Thanh Hóa Lịch sử Thanh Hóa tập 2 cung cấp những phân tích chi tiết về các sự kiện và giai đoạn lịch sử nổi bật của địa phương này Bia văn miếu Hà Nội của Nhà xuất bản Thế giới là tư liệu quý giá ghi nhận những giá trị truyền thống, văn hóa của thủ đô Gia phả khảo luận và thực hành của Dã Lan, Nguyễn Đức Dụ giúp làm rõ vai trò của các dòng họ và cộng đồng trong xã hội Việt Nam cổ đại và trung đại Lịch sử Việt Nam của Trương Hữu Quýnh tập hợp những mốc son quan trọng trong lịch sử dân tộc, góp phần nâng cao nhận thức về quá trình lịch sử của đất nước Việc họ của Tân Việt thể hiện sự nghiên cứu sâu rộng về các dòng họ, góp phần vào công cuộc bảo tồn di sản văn hóa Việt Nam.

Chúng tôi đã điền dã tại mộ, bia đá và nhà thờ Nguyễn Chích, nhà thờ họ Nguyễn, đền thờ quận công Lê Giám, nhà thờ họ Lê Đình và các dòng họ khác để bổ sung nguồn tư liệu cho đề tài Quá trình này bao gồm quay phim, chụp ảnh, nghiên cứu thực địa và thu thập dữ liệu Chúng tôi đã có cơ hội gặp gỡ và trao đổi trực tiếp với các cụ trong dòng họ Nguyễn như Nguyễn Nạy, Nguyễn Sỏi, Nguyễn Hân và các cụ trong dòng họ Lê Đình như Lê Đình Kính, Lê Đình Thương, Lê Đình Hân cùng các con cháu trong họ.

Ngoài các tài liệu đã đề cập, chúng tôi còn sử dụng các loại công cụ tra cứu như Từ điển nhân vật lịch sử của Nguyễn Quang Thắng và Nguyễn Bá Thế để cung cấp thông tin chính xác về các nhân vật lịch sử Đồng thời, nghiên cứu văn hóa làng xứ Thanh qua tác phẩm của Lê Huy Trâm và Hoàng Anh Nhân giúp làm rõ nét đặc trưng văn hóa địa phương Thêm vào đó, Hương ước Thanh Hóa của Vũ Quang Trung và Vũ Ngọc cung cấp dữ liệu quý giá về tập quán, lễ nghi và các quy định xã hội trong cộng đồng xưa, góp phần làm rõ nội dung của bài viết.

Khánh cho biết, bên cạnh đó, chúng tôi còn khai thác nhiều tài liệu quý giá liên quan như kỷ yếu hội thảo về văn hóa làng xứ Thanh và các hội thảo khác từ năm 1997 Ngoài ra, các tài liệu về văn hóa truyền thống của các tỉnh Bắc Bộ và báo Văn Hóa Thông Tin Thanh Hóa cũng được chúng tôi nghiên cứu để bổ sung kiến thức và làm rõ hơn về các giá trị văn hóa đặc sắc của khu vực.

Chúng tôi đã sưu tầm, tham khảo và tích lũy tài liệu tại Thư viện Quốc gia Hà Nội, Thư viện khoa học tổng hợp tỉnh Thanh Hóa, và Ban Quản lý di tích và danh thắng Thanh Hóa để xây dựng nguồn tư liệu phong phú cho đề tài nghiên cứu Quá trình này bao gồm sao chép gia phả bằng chữ Hán, hoành phi, câu đối, sắc phong, rập chép bia ký và nghiên cứu thực địa tại đền thờ Quận Công Lê Giám, Nguyễn Chích cùng nhiều đền thờ khác như nhà thờ họ Lê Đình, nhà thờ họ Nguyễn Đồng thời, chúng tôi đã chụp ảnh các công trình, điều tra dân tộc học, và phỏng vấn các bô lão địa phương để hiểu rõ hơn về các dòng họ trong làng, đặc biệt tập trung tại xã Đông Ninh.

Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic để trình bày một cách hệ thống về quá trình hình thành và phát triển của dòng họ theo thời gian và diễn biến của lịch sử Ngoài ra, chúng tôi còn áp dụng phương pháp so sánh, đối chiếu gia phả với các nguồn sử liệu khác để đánh giá, phân tích, tổng hợp và xác minh tính chính xác của các tài liệu đã sưu tập Các phương pháp này giúp đảm bảo độ chính xác và đáng tin cậy của nghiên cứu, góp phần làm rõ sự phát triển của dòng họ qua các thời kỳ lịch sử.

Phương pháp điền dã, điều tra xã hội học và dân tộc học tại địa điểm nghiên cứu giúp chúng tôi có cơ hội quan sát, gặp gỡ và ghi chép những câu chuyện của các cụ già cao tuổi Những trải nghiệm này làm nền tảng để phân tích, tổng hợp và đánh giá mối quan hệ chặt chẽ giữa dòng họ Nguyễn, Lê Đình và quê hương, đất nước Qua đó, chúng tôi làm nổi bật tác động của các dòng họ này đối với cộng đồng và sự phát triển của đất nước.

Đóng góp khoa học giá trị thực tiễn của đề tài

Luận văn “Tìm hiểu dòng họ Nguyễn và Lê Đình ở xã Đông Ninh, Đông Sơn, Thanh Hóa từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XXI” cung cấp cái nhìn toàn diện về nguồn gốc, lịch sử hình thành và phát triển của hai dòng họ này trên đất Đông Ninh Bài viết làm rõ những đóng góp quan trọng của dòng họ Nguyễn và Lê Đình trong quá trình dựng nước, giữ nước và phát triển của dân tộc Việt Nam Đồng thời, nội dung hướng tới việc giáo dục đạo đức, truyền cảm hứng về ý thức giữ gìn cội nguồn, phát huy những truyền thống quý báu của gia đình và dòng họ trong cộng đồng.

Bài viết làm sáng tỏ một số sự kiện lịch sử quan trọng và nhân vật tiêu biểu của hai dòng lịch sử, những người đã bị chính sử nói đến một cách sơ sài hoặc chưa đề cập đến đầy đủ Nội dung giúp độc giả hiểu rõ hơn về những đóng góp và vai trò của các nhân vật này trong quá trình hình thành và phát triển của lịch sử Việt Nam Đây là nguồn tư liệu quý giá, giúp làm phong phú thêm kiến thức về các giai đoạn lịch sử chưa được khai thác sâu trong các tài liệu chính thống.

Luận văn là nguồn tư liệu quý giá giúp nghiên cứu lịch sử địa phương, góp phần làm phong phú kho tài liệu về lịch sử và văn hóa dân tộc Nó đóng vai trò quan trọng trong việc bổ sung các kiến thức về lịch sử địa phương và làm giàu bộ sử địa phương, phục vụ cho các nghiên cứu về lịch sử văn hóa dân tộc một cách toàn diện và sâu sắc.

Nhu cầu tìm về cội nguồn để phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc ngày càng tăng cao, thúc đẩy nhiều địa phương và dòng họ khôi phục nhà thờ, lăng mộ, gia phả nhằm giữ gìn giá trị truyền thống Tuy nhiên, cũng tồn tại hiện tượng lợi dụng, gây mất đoàn kết trong gia tộc và cộng đồng để vụ lợi cá nhân, như hiện tượng "một người làm quan, cả họ được nhờ" Luận văn góp phần tích cực trong việc thúc đẩy giá trị đoàn kết, xóa bỏ tiêu cực, hướng tới xây dựng gia đình, làng xóm và xã hội văn minh, hiện đại.

Luận văn góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của dòng họ, giữ gìn bản sắc dân tộc amidst sự biến đổi của thế giới hiện nay Việc này góp phần nâng cao nhận thức về vai trò của dòng họ trong sự phát triển bền vững của cộng đồng, đồng thời thúc đẩy sự phát triển văn hóa đa dạng và phong phú Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của dòng họ là góp phần quan trọng trong công cuộc đổi mới, thúc đẩy sự gắn kết cộng đồng và phát triển bền vững trong thời đại mới.

Luận văn nhấn mạnh vai trò của việc gắn bó trong dòng họ, dù các thành viên thuộc các giai cấp, vị trí xã hội khác nhau và có quan hệ xa gần hay thân sơ Nó khẳng định rằng, dù phân biệt về địa vị, "máu loãng còn hơn nước lã", tình cảm họ hàng vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì sự đoàn kết và gắn bó bền chặt trong cộng đồng dòng họ.

Luận văn hoàn thành góp phần vào việc gìn giữ, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa của dòng họ và làng xã Đặc biệt, công trình nhấn mạnh vai trò của việc bảo vệ các di tích lịch sử đã được nhà nước xếp hạng, góp phần giữ gìn nét đẹp truyền thống của dân tộc Ngoài ra, nghiên cứu còn nhằm giáo dục thế hệ trẻ về giá trị truyền thống và nguồn cội của dòng họ, góp phần phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam.

Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn được chia làm 3 chương như sau:

Chương 1: Khái quát lịch sử định cư của một số dòng họ trên địa bàn xã Đông Ninh, Đông Sơn, Thanh Hóa

Chương 2: Quá trình phát triển của dòng họ Nguyễn và dòng họ Lê Đình

Chương 3: Một số đóng góp của dòng họ Nguyễn và Lê Đình đối với lịch sử dân tộc.

KHÁI QUÁT LỊCH SỬ ĐỊNH CƯ CỦA MỘT SỐ DÕNG HỌ TRÊN ĐỊA BÀN XÃ ĐÔNG NINH - HUYỆN ĐÔNG SƠN

Vài nét về mảnh đất và con người Đông Ninh

1.1.1 Địa lý - lịch sử hình thành xã Đông Ninh

Đông Ninh nằm ở phía Tây Nam của huyện Đông Sơn, cách trung tâm huyện 8km và cách thành phố Thanh Hóa khoảng 12km, có vị trí địa lý thuận lợi gần trung tâm huyện và thành phố lớn Năm 2012, dân số Đông Ninh gồm 1.684 hộ với tổng cộng 7.017 nhân khẩu, thể hiện quy mô dân cư đáng kể của địa phương này.

Phía Bắc của Đông Ninh giáp xã Đông Khê, có tuyến quốc lộ 47 chạy qua từ thành phố Thanh Hóa đến các huyện Thọ Xuân và Ngọc Lặc, tạo điều kiện thuận lợi cho giao thương Phía Nam tiếp giáp xã Tiến Nông và Khuyến Nông huyện Triệu Sơn, với con sông Hoàng Giang làm ranh giới tự nhiên giữa Đông Ninh và Khuyến Nông Phía Đông giáp các xã Đông Minh và Đông Hòa, tạo nên mối liên kết vùng chặt chẽ Phía Tây tiếp giáp xã Đông Hoàng, có chi nhánh của chi giang 10 làm ranh giới phân định rõ ràng giữa Đông Ninh và Đông Hoàng, góp phần vào phát triển hạ tầng giao thông và kết nối các địa phương.

Hiện nay Đông Ninh gồm các thôn: Thôn Hữu Bộc, thôn Trường Xuân, thôn Vạn Lộc, thôn Hạc Thành, thôn Thanh Huy, thôn Phù Bình và Phù Chẩn

Diện tích đất tự nhiên của huyện là 555,6 ha, đứng thứ 7 trong toàn huyện, trong đó đất nông nghiệp chiếm 384 ha, đất ao hồ 9,38 ha, đất ở 61,26 ha, và đất xây dựng các công trình công cộng là 4,4 ha, mang lại bình quân diện tích đất tự nhiên là 0,0781 ha/người Đặc biệt, đất đai ở đây có đặc điểm phì nhiêu, bằng phẳng, chủ yếu được sử dụng để trồng lúa và các cây hoa màu phục vụ nhu cầu của nhân dân trong huyện và thông qua trao đổi với các huyện lân cận Các yếu tố này thể hiện tiềm năng phát triển nông nghiệp và sinh hoạt cộng đồng của vùng đất.

Xã Đông Ninh nằm bên dòng sông Hoàng, một con sông dài 81 km, lưu vực rộng 336 km² chảy qua các huyện Triệu Sơn, Nông Cống, Đông Sơn, và đổ vào sông Yên ở ngã ba Yên Sở, cách biển gần 30 km Tại địa phận Đông Sơn, sông Hoàng dài 9 km, có lưu lượng dòng chảy 11 m³/s, diện tích lưu vực 1.000 ha, chạy qua các xã Đông Hoàng, Đông Ninh, Đông Hòa, Đông Nam, trong đó sông tự nhiên uốn lượn theo hình vòng cung, đặc biệt qua các khu dân cư như Vạn Lộc, Hạc Thành, Thanh Huy, Phù Bình nằm trên dải đất bồi ven sông Trước đây, sông Hoàng chủ yếu dùng làm tuyến đường thủy để thông thương khi chưa phát triển đường bộ, đồng thời cung cấp nguồn nước tưới tiêu, tiêu úng cho mùa vụ và là nguồn cung cấp nước sinh hoạt, cùng các loại thủy sản như tôm, cá, trai, hến cho cộng đồng địa phương Hệ thống sông đào, kênh mương được xây dựng từ thời Pháp thuộc còn hỗ trợ phát triển nông nghiệp vùng, góp phần nâng cao đời sống người dân trên địa bàn xã Đông Ninh.

Khí hậu Đông Ninh thuộc vùng tiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt: mùa khô từ tháng 10 đến tháng 2 với thời tiết hanh khô và rét, và mùa hè từ tháng 3 đến tháng 6 với nhiệt độ cao, cộng thêm gió Lào khô nóng có thể lên tới 45ºC Từ tháng 6 đến tháng 10 là mùa mưa, lượng mưa trung bình từ 14.000 đến 18.000 mm, gây ra bão và ngập úng Vùng này có nền nhiệt cao, mùa đông không lạnh lắm, mùa hè khá nóng, mùa mưa có mức độ trung bình và chịu ảnh hưởng của gió Tây khô nóng cùng hạn hán, có thể khắc phục nhờ thủy lợi hóa Điều kiện khí hậu, địa hình và thủy văn đã hình thành các quy luật tự nhiên kéo dài hàng ngàn năm, ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống, thói quen lao động, tính cách, khí chất của người dân Đồng thời, khí hậu còn tác động mạnh mẽ đến cảm hứng sáng tạo về văn hóa, nghệ thuật, góp phần tạo nên đặc sắc riêng của từng vùng nói chung và của Thanh Hóa nói riêng.

Với đặc điểm địa lý phù hợp, Đông Ninh có điều kiện phát triển nông nghiệp, chăn nuôi gia súc, gia cầm, hàng hóa và nghề thủ công như sản xuất gạch, ngói, mộc dân dụng Người dân trong vùng duy trì mối quan hệ lâu đời với cư dân các vùng lân cận, tạo nên cộng đồng chung sống và buôn bán hòa thuận, mật thiết Hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, các tầng lớp nhân dân nỗ lực lao động sáng tạo để khai thác tối đa tiềm năng tạo nên sự phát triển bền vững của Đông Ninh Địa phương không ngừng khắc phục khó khăn, xây dựng Đông Ninh trở thành xã ngày càng giàu mạnh, đóng góp vào sự phát triển chung của huyện Đông Sơn trong công cuộc đổi mới.

Dựa trên nhiều nghiên cứu lịch sử và gia phả các dòng họ, từ thời xa xưa đã có những người đầu tiên đến vùng đất Đông Ninh để khai hoang, sinh cơ lập nghiệp và xây dựng thôn làng Ông tổ họ chính là người khai sáng và tiên phong trong việc định cư, góp phần hình thành cộng đồng mạnh mẽ tại khu vực này.

Lê Nhâm Bốn, họ Vũ, họ Lưu, họ Nguyễn và họ Ngô đã sinh sống qua các thời kỳ lịch sử khác nhau tại xã Đông Ninh, huyện Cửu Chân Trong thời Đinh và Lê, Đông Ninh thuộc huyện Cửu Chân, còn thời Trần, thuộc huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Thiên; thời Gia Long, cũng thuộc huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Hóa Đầu thế kỷ XX, Đông Ninh nằm trong phủ Thạch Khê, huyện Đông Sơn Năm 1928, Đông Ninh thuộc Tổng Thạch Khê, phủ Đông Khê Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa quyết định đổi tên phủ Đông Sơn thành huyện Đông Sơn, giải thể cấp tổng và thành lập cấp xã, gồm các xã Điện Bàn và Duy Tân ngày nay.

Xã Điện Bàn gồm các làng: Phù Chẩn, Phù Bình, Thanh Huy, Hạc Thành và Vạn Lộc

Xã Duy Tân gồm các làng: Hữu Bộc, Trường Xuân và Cẩm Tú (hiện nay cắt về xã Đông Hoàng)

Xã Điện Bàn do ông Lê Văn Tƣ làm Chủ tịch Ủy ban và ông Lê Lệnh Hiệu làm Chủ nhiệm Mặt Trận Việt Minh, góp phần vào phong trào kháng chiến của địa phương Trong khi đó, xã Duy Tân được lãnh đạo bởi ông Lê Nhƣ Viện, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính xã Cái tên Đông Ninh ra đời từ tình cảm thân thương của nhân dân dành cho địa phương trong suốt quá trình lịch sử.

Năm 1953, Đông Sơn đã phân chia 13 xã thành 22 xã, trong đó Đông Ninh trở thành một trong 22 xã của huyện Đông Sơn, thể hiện sự mở rộng và phát triển của địa phương Đến cuối năm 1954, huyện Đông Sơn tiếp tục điều chỉnh bằng việc nâng số xã lên thành 25, trong đó Đông Ninh vẫn giữ vai trò là một trong các xã của huyện, góp phần vào quá trình phát triển hệ thống hành chính địa phương.

Thực hiện quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa, năm 1955 Đông Ninh chia 7 thôn thành 15 xóm nhƣ sau:

Thôn Hữu Bộc chia thành xóm Hòa, Bình, Thế và xóm Giới

Thôn Trường Xuân chia thành xóm Tiền và xóm Phong

Thôn Vạn Lộc chia thành xóm Phúc, Thọ và xóm Khang

Thôn Mỹ Xương chia thành xóm Hạc Thành

Thôn Thanh Huy gọi là xóm Vinh và xóm Quang

Thôn Phù Bình gòi là xóm Bình

Thôn Phù Chẩn chia thành xóm Bình và xóm Đại Đồng

Năm 1973, thôn Cẩm Tú thuộc xã Đông Ninh đã được chuyển về xã Đông Hoàng, góp phần làm rõ lịch sử phát triển của địa phương Đông Ninh là một vùng đất giàu truyền thống, xuất phát từ lâu trong lịch sử Việt Nam Vùng đất này đã sinh ra nhiều nhân tài, anh hùng, và những vị trạng nguyên tiêu biểu, luôn cống hiến hết mình cho đất nước Chính vì vậy, Đông Ninh được mệnh danh là “địa linh nhân kiệt”, nơi hội tụ của những con người kiên trung, nghĩa khí, góp phần xây dựng và phát triển quê hương.

1.1.2 Truyền thống văn hóa - lịch sử của Đông Ninh

Lịch sử xã Đông Ninh - Đông Sơn gắn liền với lịch sử dân tộc Việt Nam, thể hiện qua hình ảnh những thế hệ cha ông anh dũng, cần cù trong công cuộc đấu tranh với thiên nhiên để xây dựng quê hương và duy trì cuộc sống Trên mảnh đất này, Đông Ninh luôn giữ vị trí quan trọng trong các sự kiện lịch sử của đất nước, thể hiện bề dày truyền thống văn hóa, yêu nước và cách mạng đáng tự hào Truyền thống này đã trở thành nguồn cảm hứng to lớn, giúp địa phương phát triển mạnh mẽ và bền vững qua các thời kỳ.

Khoảng 6000-7000 năm trước, vùng Đông Ninh trải qua những biến đổi về địa hình, tự nhiên và khí hậu, hình thành một đồng bằng ổn định và màu mỡ Điều kiện khí hậu ôn hòa đã thu hút cư dân cổ di chuyển từ hang động xuống định cư tại đây Chính nhờ những yếu tố này, vùng đất Đông Ninh trở thành một trong những điểm tụ cư quan trọng của người Việt Cổ, góp phần vào sự phát triển của nền văn minh cổ đại tại khu vực.

Qua hàng vạn năm khai sơn phá thạch, chống chọi với thiên tai, thú giữ và giặc giã, cư dân bản địa ngày càng đông đúc và tiếp nhận nhiều nguồn dân từ nơi khác đến khai khẩn đất hoang lập làng xã mới Trong các triều đại lịch sử, cộng đồng cư dân Đông Ninh đã định cư và sinh sống ở hầu hết các vùng trong xã, góp phần hình thành và phát triển làng mạc bền vững.

Trong lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc trên mảnh đất Đông Ninh còn ghi lại nhiều dấu tích văn hóa của nhiều cuộc khởi nghĩa

Trong thời kỳ Đời Tiền Tống (420 - 479), quận trị Cửu Chân được dời từ Từ Phố về Đông Phố, và suốt thời kỳ đô hộ nhà Đường, Đông Phố vẫn giữ vai trò trung tâm hành chính của Cửu Chân Đông Phố thời Tùy bao gồm các xã ngày nay là Đông Hòa, Đông Ninh thuộc huyện Đông Sơn Vào thời gian này, Lê Ngọc là Thái Thú quận Cửu Chân, và sau khi nhà Đường diệt nhà Tùy, ông không quy phục nhà Đường mà tự xưng Hoàng Đế, xây dựng kinh đô Trường Xuân (nay là xã Đông Ninh, huyện Đông Sơn) để chống lại nhà Đường.

QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA DÕNG HỌ NGUYỄN VÀ LÊ ĐÌNH XÃ ĐÔNG NINH, HUYỆN ĐÔNG SƠN

Sự phát triển của các nhánh, chi họ

2.1.1.1 Quá trình định cƣ Đầu thế kỷ XV nhà Minh mƣợn cớ khôi phục nhà Trần chính thống, đánh nhà Hồ, xâm lược nước ta với chủ trương “dùng vũ lực thôn tính Đại Việt bằng phương thức cổ truyền của họ là xâm lược và đồng hóa Đại Việt” Cuối năm 1406, nhà Minh đã huy động hơn 20 vạn quân chiến đấu tinh nhuệ, xâm lƣợc Đại Việt [28;91] Cuộc kháng chiến do nhà Hồ lãnh đạo thất bại đau đớn sau nửa năm chiến đấu Những sai lầm về chính trị, quân sự mà điều cơ bản là không thu phục đƣợc nhân dân, không đoàn kết đƣợc toàn dân để đánh giặc giữ nước, đã dẫn tới kết thúc bi thảm của triều Hồ

Sau khi nhà Hồ sụp đổ năm 1407, các cuộc khởi nghĩa chống chính quyền mới nổ ra liên tiếp, trong đó nổi bật là các cuộc đấu tranh phục quốc của con cháu nhà Trần như Trần Ngỗi và Trần Quý Khoáng Trong thời điểm đó, nhiều cuộc nổi dậy diễn ra liên tục tại các địa phương khác nhau, thể hiện tinh thần đấu tranh kiên cường của nhân dân nhằm chống lại sự thống trị của nhà Hồ Những cuộc khởi nghĩa này góp phần duy trì khí thế kháng chiến và khát vọng phục hồi nền độc lập của đất nước.

Nguyễn Chích lớn lên trong bối cảnh đất nước đang trải qua những biến động lớn của lịch sử, chứng kiến sự sụp đổ của triều Trần, các cuộc khởi nghĩa của nông dân và nô tỳ, cũng như những nỗ lực cải cách của triều Hồ, ảnh hưởng đến nhận thức và tư tưởng của ông Những biến cố chính trị và xã hội đó đã hình thành nên tư duy phản ánh sâu sắc về lòng yêu nước và khát vọng đấu tranh vì độc lập của Nguyễn Chích Trong bối cảnh chiến tranh xâm lược, tinh thần kiên cường, ý chí chiến đấu vì tổ quốc của ông càng được tôi luyện và thể hiện rõ nét qua các hoạt động đấu tranh chống giặc ngoại xâm.

Trong suốt 20 năm thống trị của nhà Minh, những cuộc đàn áp đẫm máu và mưu đồ đồng hóa quỷ quyệt của chủ nghĩa bành trướng Đại Hán đã kéo đất nước vào cơn khủng hoảng sâu sắc, đe dọa sự sống còn của dân tộc và con người Trong bối cảnh đó, Nguyễn Chích đã thể hiện lòng yêu nước nhiệt thành, thương dân tha thiết, cùng ý chí và nghị lực phi thường, không thể đứng ngoài cuộc đấu tranh cứu nước Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời hoạt động của Nguyễn Chích, đồng thời là nền tảng giúp ông trở thành anh hùng dân tộc vẻ vang.

Trong bối cảnh lịch sử đó, mục đích của ông tổ dòng họ Nguyễn là cứu nước, đuổi quân xâm lược khỏi bờ cõi và tìm vùng đất sinh cơ lập nghiệp cho muôn đời con cháu Chính vì lý do này, ông quyết định chọn vùng đất Vạn Lộc - Đông Ninh làm nơi định cư và bắt đầu sự nghiệp của mình Đây là nguyên nhân chính khiến ông Nguyễn Chích chọn vùng đất Vạn Lộc để sinh sống, lập nghiệp và phát triển dòng họ.

Vị trí của Vạn Lộc gần hai con sông lớn là sông Mã và sông Chu, cách đó khoảng 9km về phía tây bắc, cùng với núi Nưa cách 7km về phía tây, là những địa danh mang ý nghĩa lịch sử quan trọng như trận địa của bà Triệu ngày xưa Khu vực gần núi, gần sông, với đất đai rộng rãi, phù hợp cho hoạt động nông nghiệp và góp phần nuôi dưỡng lực lượng quân đội, đồng thời thúc đẩy tinh thần chiến đấu để đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi bờ cõi Hiện nay, trên các cánh đồng của khu vực đội 7,8 vẫn còn tồn tại những địa danh như cồn Pháo, cồn Cán Cờ, cồn Trãi Trống phản ánh hoạt động quân sự của Nguyễn Chích trong quá khứ.

2.1.1.2 Mở rộng chi, nhánh họ

Dòng họ Nguyễn có lịch sử gần 700 năm với 19 đời con cháu kể từ ông tổ Nguyễn Bái, đã phát triển mạnh mẽ và lan tỏa khắp các huyện thuộc tỉnh Thanh Hóa cùng nhiều tỉnh thành trên cả nước, thậm chí có một số thành viên sinh sống tại nước ngoài Riêng tại làng Vạn Lộc, xã Đông Ninh, huyện Đông Sơn, dòng họ Nguyễn đã trở thành cộng đồng lớn với gần 35 hộ và 121 thành viên, trong đó có 7 liệt sĩ hy sinh chống Pháp và chống Mỹ.

Gia phả họ Nguyễn được dịch từ bản chữ Hán dày 70 trang do cụ Nguyễn Trị, đời thứ 13, dịch vào ngày 1/8 năm Canh Thân (1800), và các đời sau tiếp tục bổ sung gia phả Từ thế kỷ XV đến nay, dòng họ Nguyễn đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển và phát huy truyền thống văn hóa, lịch sử của dòng tộc.

19 đời nhƣ sau: Đời thứ 1: Tỵ tổ Nguyễn Bái sinh Nguyễn Liêu Đời thứ 2: Thủy tổ Húy Liêu sinh được 3 người con trai: trai cả là

Nguyễn Chích, trai thứ hai và thứ ba của gia đình mất sớm, có truyền thuyết về một vị thần sư hỏi ông khi còn nhỏ rằng muốn áo đỏ hay áo xanh, và sau đó dự đoán về sự giàu sang khi ông chọn áo đỏ Theo truyền thuyết, ông đã dẫn mộ vị thần sư để đổi mộ cha và dự đoán cuộc đời giàu sang của mình Khởi tổ của họ, Húy Chích, sinh năm Quý Hợi 1383 tại Đồng Phố, ghi dấu ấn trong lịch sử của dòng họ.

Xã Đông Hòa, nơi ghi dấu truyền thống gia đình với các thế hệ nối tiếp nhau, có các con trai của ông Nguyễn Công Chính gồm Nguyễn Chiêm Lạp và Nguyễn Công Chính, cùng với người con gái Ngọc Vĩ Đời thứ 4, ông Chi cả Nguyễn Công Chính còn được gọi là Đoãn Chi, đã sinh ra hai người con trai là Nguyễn Thiên và Nguyễn Đầu, tiếp tục giữ gìn và phát triển dòng họ.

Chi thứ Chiêm Lạp tên hiệu Minh Đại Phủ Quân, đã chuyển về quê ngoại ở xã Yên Tôn, huyện Ngọc Sơn (nay thuộc tỉnh Gia Lai) vào khoảng năm Vĩnh Thọ (1658-1661) Thông tin về con cháu của ông không được ghi chép rõ ràng Đến đời thứ 5, chi họ gồm có hai nhánh chính là chi cả Nguyễn Thiên và chi thứ Nguyễn Đầu, phản ánh dòng họ phát triển qua các thế hệ.

Nguyễn Thiên tên chữ là Minh Đạo Phủ Quân Sinh được một người con trai là Nguyễn Vạn

Nguyễn Đầu dời về quê ngoại tại xã Yên Tôn, huyện Ngọc Sơn, tỉnh Gia ngày nay, nơi ông sinh ra người con trai đầu lòng là Nguyễn Kiên Trong dòng họ Nguyễn, đời thứ sáu gồm các con của cụ Nguyễn Thiên và Nguyễn Đầu, góp phần gìn giữ và phát huy truyền thống gia đình qua nhiều thế hệ.

Nguyễn Vạn, tên hiệu là Minh Lễ Phủ Quân Sinh được 2 người con trai là Nguyễn Nga và Nguyễn Lâm

Nguyễn Kiên: Sinh được 2 người con trai: Nguyễn Lý và Nguyễn Khán Đời thứ bảy: Gồm các con của cụ Nguyễn Vạn và Nguyễn Kiên

Nguyễn Nga tên hiệu là Minh Nghĩa Phủ Quân Sinh được 3 người con: Nguyễn văn Bảng, Nguyễn Bá Vô và Nguyễn Chuyên

Nguyễn Lý có 3 người con trai là Đình Tuấn, Đình Độ và Đình Lộc Trong khi đó, Nguyễn Khán sinh ra 2 người con trai là Đình Hoạch và Đình Chức Đời thứ 8 bao gồm các con của các thế hệ trước đó, cụ thể là các con của Nguyễn Nga, Nguyễn Lý và Nguyễn Khán.

Nguyễn Chuyên là con trai ông Nguyễn Nga, hiệu là Minh Sùng Phủ Quân, và có một người con trai tên Nguyễn Để Nguyễn Để tên hiệu là Minh Phú Phủ Quân, sinh ra ba người con trai: Nguyễn Tiện, Nguyễn Nghiêm, Nguyễn Vị Nguyễn Tiện lấy hiệu là Minh Chất Phủ Quân, sinh ra năm người con trai gồm Nguyễn Lượng, Nguyễn Yêm, Nguyễn Thảo, Nguyễn Vận và Nguyễn Uy, trong đó Nguyễn Vận và Nguyễn Uy mất sớm Đình Tuấn sinh ra người con trai Đình Tường; Đình Tường sinh ra Đình Cổn; Đình Lộc có ba con trai là Đình Phúc, Đình Luận, Đình Hầu; Đình Hoạch sinh được một con trai là Đình Vấn Các thế hệ tiếp theo đều kế thừa dòng tộc với nhiều người con và truyền thống dòng họ Nguyễn.

Chi thứ Nguyễn Nghiêm có tên thụy là Minh Mẫn Phủ Quân Sinh được 2 người con gái là Thị Xí và Thị Lãnh

Chi thứ Nguyễn Vị là cháu của công thần kiêm lý trưởng, có 4 người con trai gồm Oanh, Tùng, Trừng (đều mất sớm) và con trai trưởng Nguyễn Nghiêm Trong đời thứ 11, dòng họ gồm có một chi trưởng là Nguyễn Lượng và bốn chi thứ, thể hiện sự phát triển và truyền thống gia đình lâu đời.

Nguyễn Lƣợng là con trai cả của ông Nguyễn Tiện Ông sinh đƣợc 2 người con trai: Nguyễn Trọng và Nguyễn Hài

Mở rộng địa bàn cƣ trú

Thôn Vạn Lộc, trung tâm của xã Đông Ninh, là nơi sinh sống chủ yếu của dòng họ Nguyễn, nổi bật với vị trí địa lý thuận lợi Phía Bắc của thôn giáp với thôn Hạc Thành, được ngăn cách bởi khu ao cổ “Ao Vạn Lộc” dọc theo Đồng Pho (Đông Hòa), mang giá trị lịch sử và văn hóa đặc trưng Phía Tây của thôn giáp với thôn Thanh Huy, trong khi phía Đông giáp với thôn Trường Xuân, đều thuộc cùng xã Đông Ninh, tạo nên khu vực phát triển cộng đồng ổn định và bền vững.

Thời Lê thôn Vạn Lộc ban đầu được gọi là xã Phú Lộc thuộc huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Hóa, theo ghi chép của Lê Quý Đôn trong "Kiến văn tiểu lục" Đến cách mạng tháng 8 năm 1945, Vạn Lộc vẫn là một xã của tổng Thạch Khê, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa Đến năm 1953, xã Vạn Lộc chính thức được gọi là Vạn Lộc thôn của xã Đông Ninh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa, phản ánh quá trình đổi tên và địa giới hành chính qua các thời kỳ.

Xã Vạn Lộc nằm ở phía Đông Nam, quanh khu vực cánh đồng Mã Pheo, Mã Bốn, là nơi khởi nguồn của dòng họ Nguyễn từ thời xưa Đây là địa bàn dòng họ Nguyễn Chích chọn làm căn cứ nghĩa quân và nơi sinh cơ lập nghiệp của gia đình, từ đó chủ yếu cư trú tại thôn Vạn Lộc, xã Đông Ninh Thủ tổ Nguyễn Chích có hai con trai là Nguyễn Công Chính và Chiêm Lạp; Nguyễn Công Chính định cư tại quê hương, còn Chiêm Lạp dời về quê ngoại ở xã Yên Tôn, huyện Ngọc Sơn Ngày 17/4 Vĩnh Thọ thứ 4 (1661), vua ban sắc chỉ ghi nhận các hậu duệ của dòng họ Nguyễn đã đóng góp trong cuộc chống giặc Ngô và mở nước, thể hiện truyền thống anh hùng của gia đình tại xã Vạn Lộc, huyện Đông Sơn.

Nguyên tiền thân của dòng họ có công lao lớn trong việc dẹp giặc Ngô, mở nước và phục hồi đất nước Việt Nam, được ghi nhận trong các tài liệu lịch sử như khoán sắt và sách son thề Thời Thái Bảo hiến quốc công, các thế hệ con cháu được vinh danh theo tổ quán ghi trong sổ sách để tôn vinh công lao của các vị tổ tiên Đời thứ 4, ông Công Chính sinh được hai người con là Nguyễn Thiên và Nguyễn Đầu, trong đó Nguyễn Đầu di cư về quê ngoại ở xã Yên Tôn, huyện Ngọc Sơn Nguyễn Đầu sinh được một người con trai độc đinh là Nguyễn Kiên, và Nguyễn Kiên có hai người con trai là Nguyễn Lý và Nguyễn Khán, từ đó các chi phái trong dòng họ ngày càng phát triển và mở rộng địa bàn cư trú ra khắp xã Yên Tôn, huyện Ngọc Sơn và các vùng lân cận.

Dòng họ Nguyễn có nguồn gốc từ thủy tổ Nguyễn Chích sinh tại thôn Vạn Lộc, xã Đông Ninh, với lịch sử cư trú chủ yếu tại thôn Vạn Lộc – Đông Ninh và xã Yên Tôn – huyện Ngọc Sơn Nguyễn Trị thuộc đời thứ

13 trong “Bài phú thế hệ họ Nguyễn” có ghi:

“Ơn thành vốn mở đầu từ võ Đến như Yên Tôn một phái, vốn gốc theo ngoại tổ về quê;

Hãy đem theo truyền thống tổ ta, thường được tước hầu phong thụ Chi thứ đó từ nơi khác biệt Ở chính bản cũng nên ghi chú

Thống kê mở đầu tích cũ, họ dài trãi hơn chục đời rồi; Đinh biên làm kể từ nay, sẽ càng thêm ức vạn năm nữa” [20;9]

Dòng họ Nguyễn có lịch sử gần 700 năm, hiện diện khắp tỉnh Thanh Hóa và mọi miền đất nước Nhiều thế hệ con cháu dòng họ đã định cư và làm việc tại nước ngoài như Nhật Bản, Đài Loan Dù sinh sống ở đâu, người con dòng họ Nguyễn luôn nỗ lực học tập, rèn luyện phẩm chất và trí tuệ để đóng góp vào sự phát triển của quê hương, đất nước.

Theo gia phả cho biết dòng họ Lê Đình cƣ trú trên 3 địa bàn chủ yếu:

Ngành nghề truyền thống ở huyện Hữu Bộc - Đông Ninh - Đông Sơn có lịch sử hình thành phong phú bắt đầu từ thế kỷ thứ 7, với các tổ tiên như ông Chích Trực, người đã di cư về xã Viên Quang, huyện Thiệu Hóa ngày nay Ngoài ra, còn có ngành nghề bắt nguồn từ ông Thông Đạt, người theo vợ về quê ngoại ở xã Trương Xá, huyện Hậu Lộc, thể hiện sự phân bổ và phát triển của các nghề truyền thống qua các thế hệ trong vùng.

Tỵ tổ Chúc Giang là người đặt nền móng cho việc định cư của dòng họ Lê Đình tại thôn Hữu Bộc, xã Đông Ninh, với truyền thuyết cho rằng ông quê ở Hậu Lộc, làm nghề thợ rèn, sau đó quyết định di cư để lập nghiệp lâu dài tại vùng Hữu Bộc Từ đây, dòng họ Lê Đình phát triển mạnh mẽ và ổn định cư tại thôn Hữu Bộc – Đông Ninh Đến đời thứ 7, ông Thông Đạt là người đầu tiên chuyển về Trương Xá, được giới thiệu nhờ sự tín nhiệm của Hưng Quận Quân, bạn thân của ông, và đã cưới Lê Thiêm – người con gái nổi tiếng xinh đẹp, tài giỏi trong vùng Ông Thông Đạt cùng vợ sinh ba con trai: Đôn Cẩn, Điển và Thông Trí, trong đó Đôn Cẩn làm quan lớn ở Đông Kinh và sau này không trở về do loạn Tây Sơn, còn ông Thông Đạt cùng hai con sinh sống tại Trương Xá, đều cưới vợ và nhập tịch địa phương theo quy định của triều đại Quang Trung.

Hai ông tìm đến ông Điển nhưng không còn thấy đâu nữa, chỉ còn con trai là Cư lưu lạc ở Hà Nội Ông Thông Trí đưa Cư về quê, sau hơn một năm, Cư lấy vợ người làng Hữu Bộc và nhập tịch ở đó, phù hợp với lời ông bà xưa nói "quay về đất mẹ." Như vậy, gia đình ông Thông Đạt có ngành nghề tại Trương Xá và Hữu Bộc, thể hiện sự liên kết bền vững giữa các làng quê trong việc xây dựng truyền thống và phát triển cộng đồng.

Ông Chích Trực bắt đầu từ Viên Quang (nay là Thiệu Hóa, Thanh Hóa), thuộc đời 7, là anh em con chú bác với ông Thông Đạt, và là con của cụ Phúc Hậu Sau khi mẹ mất sớm, ông phải về sống cùng mẹ ở Viên Quang, sau đó lập gia đình với các bà Tô Thị Thục Hành và Lê Thị Từ Thực, đều ở Viên Quang, sinh ra 4 người con là Thuần Chính, Đoan Trang, Phúc Thận và Phúc Lương Ông còn lấy thêm vợ người Hữu Bộc, sinh ra Trọng Lộc, Trọng Quang và Trọng Bích.

Sau đó, Thuần Chính và Đoan Tranh trở về nhập tịch tại Hữu Bộc, trong khi Phúc Thận ở lại Viên Quang nhưng vẫn giữ hộ tịch tại Hữu Bộc Phúc Thận có hai con, trong đó con cả là Luyện, đã định cư hẳn tại Hữu Bộc và sau đó qua đời mà không có con cái.

Em trai là Tích Sai, con thứ hai của Nhuận, trở về Hữu Bộc để thừa tự và nối dõi cho ông Luyện, thể hiện ý muốn của cha và lòng trung thành với anh em Hai ông Phúc Lương và Trọng Lộc đến Hữu Bộc nhờ có vợ ở đó và có nơi nương tựa, trong khi Trọng Bích phải ở lại Viên Quang để thờ cúng Nghiêm Công, bố của họ Đến đời thứ chín, ông Đốc Kính, con của ông Phúc Thận ở Viên Quang nhưng hộ tịch ở Hữu Bộc, giữ chức tá sĩ huyện Nông Cống Ông Trung Mẫn, thuộc đời thứ ba, sinh được bốn người con là Hùng Vĩ, Ninh, Côn và Lữ, trong đó Hùng Vĩ và Ninh chủ yếu sinh sống ở Hữu Bộc.

Bộc, Đông Ninh là những địa danh liên quan đến ngành nghề của ông Côn và ông Lữ Tuy nhiên, thông tin về tung tích của hai ông vẫn chưa rõ ràng, chỉ biết rằng một ngành nghề nằm tại Hà Nội và ngành còn lại ở huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh Gia phả không cung cấp các chi tiết cụ thể về nguồn gốc hay hoạt động của hai ông trong các ngành này.

Ban đầu, địa bàn cư trú của họ Lê Đình chỉ có một, nhưng sau đó phát triển thành nhiều tầng lớp con cháu và hình thành các chi phái khác nhau Các chi phái của họ Lê Đình định cư tại ba vùng chính: Chi Thông Đạt ở Trương Xá - Hoa Lộc - Hậu Lộc; Chi Chính Trực tại Viên Quang - Thiệu Viên - Thiệu Hóa; và Chi Trung Kính ở Hữu Bộc - Đông Ninh - Đông Sơn (dòng chính) Hiện nay, con cháu dòng họ Lê Đình phân bố khắp huyện Đông Sơn và nhiều tỉnh thành khác trong cả nước, đồng thời có nhiều người sinh sống và định cư ở nước ngoài như Nhật Bản, Đài Loan, Malaysia và Liên Xô.

Đền thờ, bia ký, mồ mả tổ tiên

2.3.1.1 Đền thờ Đền thờ là một trong những di sản văn hóa vật thể vô giá của các dòng họ và của dân tộc Nó không chỉ là một bảo tàng lịch sử, lưu giữ những sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử, những phong tục tập quán, lễ nghi kiến trúc mà là một bộ phận quan trọng không thể thiếu để hình thành nền văn hóa truyền thống dòng họ nói riêng và truyền thống văn hóa dân tộc nói chung

Trên mảnh đất Đông Ninh - Đông Sơn có nhiều đền thờ được công nhận là di tích văn hóa cấp quốc gia và cấp tỉnh, như Đền thờ Hoàng Đế Lê Ngọc (Lê Cốc), Đền thờ họ Lê Đình (Lê Giám Quận Công), và Đền thờ họ Nguyễn (Nguyễn Chích) Để tìm hiểu thêm về dòng họ Nguyễn ở xã Đông Ninh, chúng tôi đã nhiều lần khảo sát thực địa, đặc biệt là đền thờ cụ Nguyễn Chích tại thôn Vạn Lộc, Đông Ninh, Đông Sơn, nghiên cứu về lịch sử đền, nhân vật, sự kiện và giá trị văn hóa của di tích Ngày 2/12/1992, Nhà nước đã chính thức công nhận và cấp bằng di tích quốc gia cho đền thờ này, góp phần bảo tồn giá trị lịch sử và văn hóa của địa phương.

Đền thờ Nguyễn Chích hiện nằm tại thôn Vạn Lộc, xã Đông Ninh, huyện Đông Sơn, cách thị xã Thanh Hóa khoảng 13 km Để đến đền, từ thị xã Thanh Hóa qua huyện lỵ Đông Sơn rẽ trái tại km 13, đi bộ 200m vào thôn Hữu Bộc, sau đó tiếp tục đi qua các thôn Hữu Bộc, Hạc Thành để đến khu di tích tại thôn Vạn Lộc Đường vào khu di tích dài khoảng 2 km từ đường 47, thuận tiện cho việc đi lại bằng ô tô hoặc xe máy, tạo điều kiện thuận lợi cho du khách tham quan, tìm hiểu về lịch sử.

Theo truyền thống dân gian, từ xưa đến nay, giữa tiền đường (đền) và đình thường có quy mô giống nhau, thậm chí đền còn rộng hơn Gia phả ghi lại rằng “Nhất sở đường thế nghiệp thổ trì tam mẫu, tư sào”, thể hiện sự liên quan giữa các di tích này Sau khi cắt một mẫu đất để làm chùa, xung quanh đền còn có thành lũy bao bọc, tạo nên hệ thống bảo vệ vững chắc Hiện nay, diện tích đất của họ quản lý đang còn lại là 748m², góp phần giữ gìn và phát huy giá trị lịch sử, văn hóa của khu vực.

Khu vực đường được bố trí theo cột dọc từ hướng đông nam, nằm phía trước có đường làng và ao cá cảnh dài 15m, rộng 16m, tổng diện tích 240m² Chính giữa khu vực là nghinh môn cao 2,5m, rộng 2,2m, có 4 trụ cộng và mái che, tạo điểm nhấn đặc trưng Trước đây, sân đất bao quanh các cây cổ thụ như cây quéo (đã hạ năm 1958), hiện còn các loại cây như dừa, mít, quéo con, bàng, cau với diện tích khoảng 16m*10m Kế đến là sân tiền đường rộng 12m, dài 5m, tổng diện tích khoảng 60m², góp phần hoàn thiện cảnh quan và kiến trúc của khu vực.

Tiền đường là ngôi nhà ba gian xây dựng theo kiểu truyền thống, gồm hai hồi trước và sau không có cửa Kiến trúc của ngôi nhà này mang nét đơn giản, đã bị hạ thấp vào khoảng năm 1956, nhưng hiện nay đã được khôi phục lại nguyên dạng để giữ gìn giá trị văn hóa.

Sân rồng có chiều dài theo hai ngôi nhà: Tiền đường và chính tẩm Dài 10m, rộng 1,6m = 16m² Hai đầu sân rồng ngày xƣa trồng hai cây vạn tuế

Ngôi chính tẩm gồm ba gian hướng Đông Nam, có diện tích 64m² với chiều dài 8m và rộng 6m, được phân chia thành gian giữa rộng hơn và hai gian bên hẹp hơn Nhà có kiểu dáng lợp ngói cổ, với hai hồi đắp am sơn để tăng tính mỹ thuật và độ bền Bờ cái của ngôi nhà được trát gạch nổi, trang trí kẻ chì và bờ dọc, thể hiện nét kiến trúc truyền thống đặc sắc.

Ngôi nhà được thiết kế theo phong cách kiến trúc truyền thống gồm ba cột chính và hai cột quân, thể hiện sự cân đối và vững chãi Các cột đều làm bằng chất liệu liêm, mang lại vẻ đẹp nguyên sơ và bền chắc Cột hiên trước được xây bằng gạch, tạo điểm nhấn nổi bật, trong khi cột hiên sau là tường ngăn, giúp phân chia không gian hợp lý Hệ thống cột chính và cột quân đều thể hiện sự tinh xảo trong kỹ thuật xây dựng truyền thống, góp phần tạo nên vẻ đẹp bền vững và trang nghiêm cho công trình.

Vì kèo cấu trúc bẩy trước sau, lòng quá giang tạo nên hệ thống chịu lực ổn định cho ngôi nhà Các vì giữa đóng vai trò quan trọng trong việc phân bổ trọng lượng, đảm bảo sự vững chắc của kết cấu Trong khi đó, hai vì bên chốn cột cái và trụ giúp chống đỡ trực tiếp xà nhà khi đâm vào tường, còn chỏ có hai cột con hỗ trợ thêm sự bền vững và phân chia lực đều trong tổng thể cấu trúc.

Bài viết nhấn mạnh rằng thượng lương đề “Hoàng triều Khải Định tam niên khởi dựng thượng lương” đã trải qua nhiều lần chỉnh sửa, đặc biệt trong việc hoàn thiện công trình kiến trúc Công trình ban đầu có các yếu tố như bố trí tứ linh (Long, Ly, Quy, Phượng) và tứ quý (Thông, Cúc, Trúc, Mai), được sắp xếp hài hòa để thể hiện linh thiêng và phù hợp với truyền thống dân gian lẫn cung đình Kiến trúc gồm 4 vì và 6 cột, trong đó có 2 vì còn sót lại, cùng với 6 tảng đá, nhưng qua quá trình sửa chữa năm 1919, nhiều phần đã bị phá hỏng hoặc cải tạo như xây lại tường đầu hồi, nền móng lòi ra, cho thấy công trình đã trải qua nhiều lần trùng tu, sửa chữa để giữ gìn và phục dựng giá trị lịch sử.

Trong thơ ca của Nguyễn Trị (1746 - 1815), con cháu đời thứ 13 đã viết gia phả ghi lại về miếu thủy tổ, mô tả công trình xây dựng kiên cố, đồ thờ đầy đủ Tuy nhiên, theo thời gian, công trình đã bị thu nhỏ, đồ thờ cúng bị mất mát, phản ánh sự xuống cấp và cần được gìn giữ, tu bổ để bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống.

Hiện nay, trong nhà thờ còn các hiện vật sau:

Sập hương án (Hương án tiền) đặt ở giữa nhà

Hai bộ bát biểu (Hiện còn có thất = 7) gồm có: Hai đại dao, hai kiếm, hai giáo, hai biển, đặt hai bên hương án giữa nhà

Bàn thờ trước hương án tiền: Bát hương hội đồng bằng đá, 1 cây nến, một ống hương hoa

Bàn thờ giữa: Dài 1,64m, Rộng 1,23m, cao 0,98m Đặt long cung: Trong long cung có hai thần vị: 1 của ông Nguyễn Chích, 1 của bà Bành (vợ)

Lòng văn ghi lại rằng các chiến công của các tướng lĩnh đã góp phần vào việc “suy thành bảo chính hiệp mưu” và “bình ngô khai quốc công thần”, thể hiện vai trò quan trọng trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước Các vị tướng như Lỗi giang trấn phục quốc, thượng tướng quân đặc tiến nhập nội đô đốc tham dự triều chính, đã chỉ huy hành quân và dẫn dắt chiến dịch tiêu diệt quân địch tại Nam Sách vệ Những danh tướng này còn được phong tặng nhiều danh hiệu cao quý như Thần trụ quốc, Thượng trụ quốc, cùng các phẩm hàm cao nhất như Thái Bảo, Tặng Thái Bảo, và Thái Bảo hiến quốc công thần, thể hiện sự kính trọng và ghi nhận công lao đóng góp của họ đối với quốc gia.

Bao phong hiển doãn tuyên ghi dịch nghị, truy đại vương tuấn mại cương truy, dực bảo trung hưng - quan úy truy đẳng thần

Hai đai lớn phi 18cm cao 30cm Hai đai nhỏ phi 10,5cm cao 20 cm

Mâm… dài 48cm; Rộng 222cm; Cao 25cm Chúc bản dân chúc văn

Bát hương đá cao 25,5cm là vật phẩm trang nghiêm đặt trên bàn thờ Long cung đặt ở chính giữa bàn thờ có chiều cao 1,45 mét, rộng 0,84 mét, sâu 0,51 mét, giúp tạo không gian thờ cúng trang nghiêm và hài hòa Bên trong lòng long cung, gia chủ đặt hai thần vị của Nguyễn Chích và vợ (Nguyễn Thị Bành), thể hiện lòng thành kính và sự tôn trọng đối với tổ tiên Các yếu tố này đều nhằm mục đích cầu bình an, vượng khí và thể hiện truyền thống thờ cúng quan trọng trong văn hóa Việt Nam.

Hai bàn hai bên chỉ có hai bát hương bằng đá thờ các vị từ đời thứ 4 đến đời thứ 13

Trong di sản văn hóa dân tộc, bia và văn bia không chỉ là các tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu qua từng giai đoạn lịch sử, mà còn là nguồn tư liệu quý giá giúp chúng ta hiểu rõ hơn về thân thế, sự nghiệp, tầm vóc nhân vật lịch sử và những đóng góp của ông cha đối với lịch sử đất nước Nhà bia Nguyễn Chích nổi bật với giá trị nghệ thuật phong phú và ý nghĩa lịch sử sâu sắc, thể hiện rõ nét qua các văn bia Khảo sát và tìm hiểu về văn bia giúp lưu giữ những giá trị truyền thống, góp phần làm phong phú kho tàng di sản văn hóa Việt Nam.

Bia quốc tá mệnh công thần bi, do Trình Thuấn Du soạn năm 1450, cách đây hơn 560 năm, ghi lại các ghi chú về công lao của các vị tiền nhân Tiến sĩ Nguyễn Hiền là người viết chữ trên bia, trong khi Nguyễn Thiên Lộc đảm nhận khắc chữ, thể hiện sự trân trọng và tôn vinh công đức Bia được dựng vào năm Thái Hòa thứ 8 (1480) tại thôn Vạn Lộc, xã Đông Ninh, với kích thước lớn 2m x 1,4m, mang ý nghĩa lịch sử và văn hóa đặc biệt của địa phương.

Bia đặt hướng đông nam Cao 1,95m, rộng 1,13m, dày 0,205m

Bia trang trí hai mặt, khắc chữ một mặt trước, tổng số 41 dòng, 20 dòng suốt, dòng nhiều chữ nhất là 76 chữ

Đóng góp về mặt kinh tế

Những thần dân yêu nước, các vị quan yêu dân, người họ Nguyễn luôn tận tâm với mong muốn mang lại cuộc sống bình yên, hưng thịnh cho toàn dân và đất nước Đây là những người đặt lợi ích của nhân dân lên hàng đầu, dù giữ chức vụ cao hay là những trí sĩ, dân thường Để đạt được mục tiêu phát triển đất nước bền vững, việc thúc đẩy phát triển kinh tế đóng vai trò vô cùng quan trọng.

Các quan họ Nguyễn luôn giữ vững trách nhiệm là rường cột của triều đình, bất kể chức vụ hay vùng miền, với tấm lòng yêu nước và tận tụy chăm lo cho dân Họ luôn đặt lợi ích của nhân dân lên hàng đầu, nỗ lực đảm bảo cuộc sống an yên, ấm no trong mọi hoàn cảnh Khi rời khỏi quan trường, họ không ngừng cống hiến, tiếp tục góp sức xây dựng quê hương, góp phần phát triển đất nước từ bên ngoài các chức vụ chính thức.

Ngay từ những ngày đầu ở Nô Bộc (Hữu Bộc ngày nay), sáu dòng họ chung lưng đấu cật, sử dụng trí lực tập thể và tinh thần đoàn kết để xây dựng nền sản xuất và phát triển cộng đồng, tạo nền móng vững chắc cho cuộc sống Dòng họ Nguyễn cùng các dòng họ khác đã góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển phồn vinh, cạnh tranh mạnh mẽ với các xã lớn như Đông Hưng, Đông Tân, Đông Tiến, nhờ vào địa thế thuận lợi gần sông, chợ và đường cái lên huyện Người dân nơi đây có nền kinh tế sầm uất dựa trên hoạt động thương mại hàng hóa như vàng mã, ngô, mía, với kỹ năng tổ chức và sắp xếp hợp lý, luôn tính toán để đạt hiệu quả cao trong sản xuất Con người chăm chỉ, cần cù, biết cách làm giàu, góp phần vào sự phát triển thịnh vượng của vùng đất này.

Nền kinh tế địa phương phát triển dựa trên điều kiện thiên nhiên ưu đãi, gồm ba lĩnh vực chính: trồng trọt và chăn nuôi, buôn bán nhỏ và nghề thủ công Người đời thứ 3, Nguyễn Chích, có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, được phong danh hiệu “nhập nội đô đốc” và tham gia triều chính, người được phong tặng nhiều danh hiệu và phù hiệu cao quý như Cá Vàng Túi Bạc, phong đình thượng hầu, cùng các danh hiệu tướng công và tước vị khác như Thái Bảo Hiến Quốc Công và Hiễn Doãn Đại Vương Vì có nhiều đóng góp với đất nước, ông được nhà vua ban thưởng nhiều ruộng đất, và các thế hệ sau tiếp tục thừa hưởng những phần thưởng này.

“…Nhà kế thừa một mạch đức tổ cũng sâu Truyền trãi đã 7 đời ơn Vua cũng hậu Rồi đến đời thứ 8, thứ 9, càng thêm chi phái họ hàng;

Trãi truyền đời thứ 10, 11, 12, càng tiếp vườn hòe tiếp bước” [20;8]

Khi Nguyễn Chích mất, được ban thưởng rất nhiều ruộng cúng tế, ruộng thế nghiệp và ruộng đất công

Về ruộng thế nghiệp ở các làng trong huyện, các diện tích đất đai được ghi nhận rõ ràng qua các thời kỳ lịch sử Tại thôn Nương Xá, xã Vận Quy, có 50 mẫu đất ruộng thuộc diện thế nghiệp, liên quan đến xứ Đồng Ngang Ở xã Hoa Đường, bản huyện, có 8 mẫu đất chuyển đổi từ ruộng thế sang loại khác trong thời Ngụy Mạc đại chính thứ 9 năm 1538 Tại xã Thạch Khê, đất ruộng rộng 8 mẫu 1 sào, còn ở xã Phù Liễn, diện tích lên tới 12 mẫu 8 sào, phản ánh quy mô đất đai đáng kể trong vùng Các xã Đinh Xá huyện Duy Tân có đất ruộng khoảng 10 mẫu 3 sào, trong khi ở Vạn Lộc, đất mộ không thành đất ruộng, với diện tích 3 mẫu; tại Mã Trạch cũng có khoảng 3 mẫu đất ruộng Các thông tin này cho thấy quy mô và biến động của đất đai qua các thời kỳ lịch sử, phản ánh rõ nét về quá trình quản lý đất đai của địa phương.

9 sào, 2 thước 5, ở Than Than ruộng 3 sào 2 thước, ở Thiên Bồng 3 sào 11 thước, ở Nhĩ ruộng 6 sào - bến Mãn ruộng 1 mẫu 5 thước 2 tấc, ở Doãn 6 sào

- ở cửa 3 sào, nhà Na 1 sào, ở Quan 4 mẫu 1 sào 6 thước, gồm các thửa sau:

Ruộng mẫu Sào Thước Mẫu Sào Thước Tấc

Trong lịch sử đất đai địa phương, gia đình đã sở hữu đất nông nghiệp rộng lớn, với các khu đất như 3 mẫu 4 sào tại xứ sở nhà thờ, 1 mẫu 5 sào ở Bao Hòa, và tổng cộng 44 mẫu 7 sào, 8 thước, 2 tấc tại xã Vạn Lộc, huyện Đông Sơn Theo chỉ thị của đời thứ 9 Đại nguyên soái trưởng quốc chính thượng sư thái phụ đức công nhân uy minh thánh Tây Vương (Trịnh Tạc 1668), các công thần cùng dòng họ như Nguyễn Văn Bảng, Nguyễn Năng, Nguyễn Bá Vô, Nguyễn Nga, Nguyễn Huyên đã được vua cấp đất đai, giữ gìn mồ mã và hưởng các thưởng đất, ao, ruộng công để duy trì truyền thống và phát triển bền vững của gia đình.

Ruộng xứ sở Diện tích

Vào năm Chính Hòa thứ 7 (1686), ngày 12 tháng 13, Đại nguyên soái Tổng quốc chính Thượng thánh phụ sư Trịnh Công, Nhân Minh, Úy Dực Đại Vương (Trịnh Căn 1682) đã ban hành lệnh chỉ: “Vâng cấp bản quán đất thế nghiệp giữ mộ, cấp thưởng các xứ sở đất ở, ao, ruộng công cộng 44 mẫu, 7 sào, 8 thước, 2 tấc.” Lệnh này thể hiện việc cấp đất đai và trao thưởng cho các vùng đất công, đồng thời xác lập quyền sở hữu và quản lý các khu vực đất đai quan trọng trong giai đoạn này.

Năm Vĩnh Thịnh 6 (1710 ngày 24 tháng 6 Nguyên soái tổng quốc chính

An Đô Vương (Trịnh Cương 1709) lệnh chỉ các con cháu công thần xã Vạn

Lộc, huyện Đông Sơn “…cấp bản quán nối nghiệp giữ mộ, cấp thưởng đất ao, ruộng công, cộng 44 mẫu, 7 sào, 8 thước, 2 tấc”…[20;20]

Trong các vùng đất này, con cháu Nguyễn Chích không ngừng mở rộng đất đai và khẩn hoang, xây dựng những làng trù phú nhờ phát triển nền nông nghiệp cây lúa nước, nguồn sống chủ yếu của làng Vạn Lộc Nhờ áp dụng cải tiến công cụ, năng suất lúa liên tục tăng lên, giúp nâng cao đời sống của người dân Trước kia, nông dân thường cấy lúa thành hai vụ chính là vụ chiêm và vụ mùa; vụ chiêm thường trồng giống lúa Chiêm ri mọc chậm, cây mềm, chịu ngâm nước một tháng mà không ảnh hưởng đến kết quả thu hoạch Các giống lúa chiêm dự lá to, bông thưa, phù hợp trồng muộn, cho ra gạo trắng, cơm dẻo và thơm ngon Ngoài ra, lúa chiêm vàng cây cao, lá to, chịu gió mưa tốt, thường trồng trên vùng đất tốt để thu hoạch thóc đỏ, gạo không trắng lắm, cơm cứng hơn Việc lựa chọn giống lúa phù hợp với từng loại đất đai là yếu tố quyết định thành công trong sản xuất nông nghiệp, trong đó người dân chủ yếu trồng các giống lúa quen thuộc, đã phù hợp với điều kiện nơi họ sinh sống.

“Chiêm, Tép, Ri Sống để dạ, chết mang theo”

Vụ mùa thường trồng các giống lúa như tám xoan và cây cao bông dài, đặc trưng bởi hạt nhỏ, hơi dài, sắc vàng và gạo rất trắng, thơm Lúa dé sớm, dé dèn, dé sùng có cây nhỏ, yếu dễ đổ, thích hợp trồng trên ruộng vừa phải; trong khi đó, lúa dé muộn cần cấy trên ruộng cao vừa, cây thấp, bông cứng Lúa Tám lùn có cây thấp, hạt nhỏ trắng, khi nấu cơm rất ngon và vẫn mềm sau khi để lâu Lúa hiên cao, bông dài thường gồm hai giống, phù hợp với điều kiện đất đai và thời vụ trồng trọt.

Giống trỗ muộn, gạo trắng dẻo và thơm Giống trỗ sớm, gạo đỏ, nhọn và cứng

Lúa dé nên trồng trên những ruộng cao, nhiều màu sắc, cây thấp, lá thẳng, bông chắc, thóc nhiều, hạt dẹt nhỏ, nhẵn, và gạo trắng nở cơm ngon Gạo của loại lúa này nhẹ hơn so với các loại khác, giúp thổi 4 đấu bằng 5 đấu Ngoài ra, lúa ba trăng còn gọi là lúa ba tháng, từ lúc gieo đến khi chín chỉ mất khoảng 3 tháng, gạo trắng, thơm, dẻo, chứa nhiều bột, phù hợp cho các món cơm ngon và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nhanh chóng.

Ngoài ra, còn trồng các loại lúa nếp đa dạng như lúa nếp hương bông to, hạt tròn lớn, gạo trắng thơm dẻo, mang lại chất lượng cao cho sản phẩm Lúa nếp hoa vàng có cây cao, hạt nhiều, bông to, hạt dẹt vàng, gạo trắng cơm dẻo, phù hợp để sản xuất các món truyền thống Thêm vào đó, lúa cẩm ngọn với cây cao vừa phải, ngọn tía, bông đen và gạo xanh biếc cũng góp phần làm phong phú đa dạng các loại lúa của địa phương.

Các loại gạo truyền thống của dòng họ đã được chế biến thành các sản phẩm đặc biệt như bánh chưng, bánh dày, chè lam, bánh khảo, xôi, oản và bánh nếp để dâng tổ tiên và trời đất, giữ gìn nét đẹp văn hóa truyền thống và thể hiện lòng thành kính.

Dòng họ Nguyễn đã kế thừa những tư duy đạo đức lành mạnh và các giá trị truyền thống của tổ tiên, góp phần xây dựng cộng đồng đoàn kết và gắn bó Các thế hệ trong dòng họ luôn vun đắp tinh thần nghĩa nhân trong cuộc sống, đồng thời phát huy trí lực và phong cách làm ăn, sản xuất hiệu quả Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, cụ Nguyễn Văn Bê là điển hình tiêu biểu trên mặt trận sản xuất nông nghiệp, ông đã đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua toàn quốc ngành nông nghiệp năm 1957 và vinh dự nhận huân chương lao động hạng Ba.

Chiến tranh chống Mỹ kéo dài 21 năm đã kết thúc thắng lợi vẻ vang với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử Chiến thắng này mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam, đánh dấu sự độc lập, thống nhất đất nước và bước vào giai đoạn phát triển xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Sau chiến tranh, đất nước ta đã vượt qua khó khăn, xây dựng một cuộc sống mới, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Nhà nước, dòng họ Nguyễn đã có bước phát triển vượt bậc về học vấn và kinh tế, góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng đất nước Những người từng tham gia hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc hôm nay dành phần đời còn lại để bảo vệ tổ quốc, phát triển kinh tế, và đóng góp cho cộng đồng, như ông Nguyễn Văn Sỏi tích cực phát triển kinh tế địa phương, tiến sĩ Nguyễn Văn Quý vừa là nhà giáo, vừa là doanh nhân thành đạt, và đại tá Nguyễn Minh Ánh nổi tiếng trong giới doanh nghiệp.

Đóng góp về mặt quân sự

Từ xưa đến nay, xây dựng và bảo vệ tổ quốc luôn đi đôi với nhau, trong đó mặt trận an ninh không phải lúc nào cũng diễn ra chiến sự gay gắt Tuy nhiên, không một triều đại hay nhà nước nào được phép lơ là nhiệm vụ quốc phòng dù chỉ trong một ngày Võ quan được coi trọng như văn quan, và những võ quan anh kiệt đã được triều đình ghi nhận công lao, truyền lại cho hậu thế như những tấm gương quan võ tài trí Thậm chí, nhiều triều đại sau chiến tranh đã chọn lấy võ quan xuất thân từ các tầng lớp quân nhân để xây dựng vương triều và củng cố nền móng quốc gia.

Triều đại Lê Sơ được thiết lập sau cuộc chiến chống ách đô hộ của nhà Minh, do Lê Lợi khởi nghĩa và lãnh đạo Dòng họ Nguyễn, có nguồn gốc từ làng Vạn Lộc - Đông Ninh - Đông Sơn, đã đóng góp to lớn vào sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam, đặc biệt qua sự đóng góp của Nguyễn Chích, một trong những vị khai quốc công thần của nhà Lê sơ Những nỗ lực của dòng họ Nguyễn và các nhân vật tiêu biểu như Nguyễn Chích đã góp phần quan trọng vào thành công của phong trào khởi nghĩa chống ngoại xâm.

Lê Lợi đã lãnh đạo đất nước sau khi từng là thủ lĩnh tại căn cứ Hoàng Nghiêu, thể hiện khả năng chỉ huy và bản lĩnh lãnh đạo xuất sắc Truyền thống gia đình Nguyễn tiếp nối qua nhiều hậu duệ xuất sắc có tài năng và đức độ, giữ chức vụ quan trọng trong hệ thống văn võ cao cấp Những đóng góp của họ đã không nhỏ trong việc đảm bảo an ninh quốc phòng và phát triển đất nước.

Nguyễn Chích, thuộc đời thứ 3 và là con độc nhất của cụ Thiện Hiền, sinh năm Quý Hợi tại thôn Vạn Lộc, xã Đông Ninh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa Vì mất cha mẹ từ nhỏ và em út cũng qua đời sớm, ông sống trong hoàn cảnh bơ vơ, không nơi nương tựa, phải đi chăn trâu từ lúc niên thiếu Trong những ngày chăn trâu, Nguyễn Chích thường rủ bạn tập trận giả để vui chơi Lớn lên, ông bắt đầu suy nghĩ về con đường cứu nước và cứu dân, thể hiện chí hướng lớn qua những hành động và suy nghĩ của mình Văn bia nhận xét rằng ông ít nói, hiền lành, trung thực, có chí lớn và không mải mê công việc làm ăn riêng, phản ánh rõ tính cách và chí hướng của ông.

Văn bia và gia phả họ Nguyễn không ghi rõ chính xác ngày tháng Nguyễn Chích khởi nghĩa, chỉ nhấn mạnh vào thời điểm nhà Minh đang rình rập căng thẳng Sau thất bại của cuộc khởi nghĩa các quý tộc Trần, quân Minh tăng cường đàn áp, gây náo động trong nhân dân Nguyễn Chích đã dựn cờ khởi nghĩa trong giai đoạn này và chắc chắn diễn ra trước năm 1418, trước cuộc khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi.

Nguyễn Chích đã tập hợp lực lượng rồi nổi dậy khởi nghĩa, với phạm vi hoạt động chủ yếu tại vùng Đông Sơn và căn cứ chính đặt tại khu làng ông Nghĩa quân của ông đã đắp thành lũy, lập doanh trại và luyện tập binh lính để chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa Truyền thuyết dân gian cùng gia phả dòng họ Nguyễn cũng ghi nhận các địa điểm luyện quân và doanh trại của Nguyễn Chích, bao gồm các khu cồn Pháo, cồn Trống, công Voi, cồn cán cờ và cồn lưỡi kiếm.

Dưới căn cứ Vạn Lộc, nghĩa quân nhận được sự ủng hộ của nhân dân để phát triển lực lượng và kiểm soát toàn bộ huyện Đông Sơn Phương thức chiến đấu du kích "ông ra vào bí mật" giúp nghĩa quân liên tục đánh bại quân giặc nhiều lần, làm cho quân địch nhiều lần thất bại Nhờ đó, quân giặc không thể tiến vào cướp phá vùng đất Đông Sơn, giữ vững an ninh và trật tự địa phương.

Lương Nhữ Hốt là một nhà lãnh đạo kiên cường trong cuộc kháng chiến chống giặc, giữ chức tham chính và quản lý Thanh Hóa, với lòng trung thành và bản lĩnh vượt mọi thử thách Khi quân giặc tổ chức cướp vàng bạc, châu báu và dụ dỗ ông đầu hàng, ông đã dũng cảm đem quân đánh bại Lương Nhữ Hốt ở đồn Cổ Vô, buộc tên phản tặc chạy dài khắp vùng Đông Sơn Chiến thắng vang dội tại Cổ Vô đã làm nức lòng nhân dân và chinh phục lòng tin của Nhà vua, phong ông làm tướng vệ quân Lâm Hổ và có Vinh Lộc Sau đó, ông lại lên yết kiến vua, được ban thưởng chức Thượng trị tự, quần áo mặc và tước hầu Dù vậy, ông vẫn trở về quê hương Đông Sơn để chiến đấu chống giặc, lập nhiều chiến công và được bổ nhiệm làm Đô đại Phủ, tổng đốc việc quân dân, thể hiện đức hy sinh và tinh thần kiên trung của người anh hùng dân tộc.

Trong thời kỳ nhà Minh, khu vực núi Hoàng và núi Nghiêu đóng vai trò chiến lược quan trọng về mặt quân sự ở miền nam Thanh Hóa Để mở rộng lực lượng và phạm vi giải phóng nghĩa quân, việc chiếm giữ vùng núi này là bước đi cần thiết nhằm củng cố vị trí và tạo đà cho các hoạt động chống lại nhà Minh.

Núi Hoàng và núi Nghiêu là nơi giáp danh 3 huyện: Đông Sơn, Nông Cống và Triệu Sơn Dân gian thường nói: Một con gà gáy 3 huyện cùng nghe

Vùng núi nằm giữa đồng bằng rộng lớn ở Nam Thanh Hóa, cách Tây Đô khoảng 40 km, vượt qua hai sông lớn là sông Chu và sông Mã Nơi đây có núi Nưa cách Vạn Lộc khoảng 9 km về phía tây bắc và cách Tây 7 km là trận địa đánh giặc của bà Triệu trong quá khứ Từ Hoàng Nghiêu có thể kiểm soát một vùng đất rộng lớn bao gồm cả đồng bằng và bờ biển Nam Thanh Hóa Tuy nhiên, Giặc Minh đã lợi dụng Hoàng Nghiêu làm căn cứ để đàn áp phong trào yêu nước của địa phương.

Trước yêu cầu mở rộng của cuộc khởi nghĩa, căn cứ Vạn Lộc trở nên chật hẹp, buộc Nguyễn Chích phải chọn vùng Hoàng Nghiêu làm căn cứ lâu dài để làm trung tâm phong trào chống Minh tại Nam Thanh Hóa Ông đã đánh bại trại Hoàng Sơn và được vua Lê Lợi phong làm hậu vệ tướng quân Lâm Hổ, tước quan nội hầu, đồng thời được thưởng 100 mẫu ruộng công, thể hiện tầm ảnh hưởng và uy tín của ông trong phong trào yêu nước.

Dựa vào địa hình thiên nhiên hiểm trở, Nguyễn Chích đã huy động nhân dân địa phương đào hào, đắp lũy để xây dựng doanh trại, tăng cường phòng thủ Nhiều hào lũy này vẫn còn dấu tích cho đến ngày nay và được nhân dân gọi là hào lũy Lê Chích, trở thành những chứng tích quan trọng của lịch sử vùng đất này.

Nguyễn Chích từ một người nông dân nghèo đã trở thành người khởi xướng, lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa quan trọng ở vùng Đông Sơn, Nông Cống, Tỉnh Gia Dưới hiệu lệnh của ông, nghĩa quân hoạt động rộng khắp từ căn cứ Hoàng Sơn, Nghiêu Sơn, đến nam Thanh Hóa và bắc Nghệ An Sách Đại Nam Nhất Thống Trí ghi nhận: “Hiệu lệnh của ông được thi hành ở các huyện Đông Sơn, Nông Cống, Ngọc Sơn”, thể hiện tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường và tài năng lỗi lạc của Nguyễn Chích trong cuộc khởi nghĩa, góp phần giữ vững chủ quyền và khí thế cách mạng vùng Đông Sơn.

Trước phong trào cứu nước đang dần phục hồi, Nguyễn Chích hoạt động mạnh ở vùng nam Thanh Hóa, biết rõ lực lượng nghĩa quân nhờ các mưu kế của Lê Lợi Tuy nhiên, ông vẫn về bản huyện đánh giặc và đạt nhiều thành tích lớn Khi lực lượng nghĩa quân Nguyễn Chích ngày càng mạnh, căn cứ Hoàng Nghiêu trở nên chật hẹp, ông mong muốn liên kết lực lượng cùng Lê Lợi để tạo ra chiến thắng lớn hơn Văn bia ghi nhận những hoạt động đáng kể của ông trong phong trào cứu nước thời đó.

Vua đóng tại Mường Ninh, nằm ở động Hoàng Sơn xa xôi, vùng thường xuyên bị giặc tấn công Khi đó, nhà vua đã đưa các tưỡng sĩ, vợ con về cùng để an toàn hơn Nhà vua đánh giá cao lòng trung thành của họ và đã bổ nhiệm họ giữ chức thiết đột hữu vệ cùng với tổng đốc đảm trách các nhiệm vụ quân sự.

Đóng góp về mặt văn hóa - giáo dục

Mỗi dòng họ đều giữ gìn truyền thống văn hóa đặc trưng, được truyền qua nhiều thế hệ Những giá trị này đã góp phần làm rạng danh quê hương, bản quán và ghi dấu trong lịch sử dân tộc Truyền thống dòng họ không chỉ là di sản văn hóa quý báu mà còn là nền tảng gắn kết cộng đồng, thúc đẩy phát triển bền vững của địa phương.

Dòng họ này nổi bật với truyền thống võ công phát triển rực rỡ, với nhiều thế hệ con cháu theo đuổi nghiệp võ và giữ vị trí quan trọng trong triều đình Ngoài ra, họ còn có truyền thống khoa bảng vững chắc, với nhiều người đạt thành tích cao qua các kỳ thi của thời phong kiến, thể hiện sự đa dạng và giàu truyền thống văn hóa của dòng họ.

Dòng họ Nguyễn tự hào tiếp nối truyền thống tốt đẹp của ông cha, góp phần giữ gìn giá trị văn hóa và đạo lý của người Việt Hàng năm, gia tộc tổ chức lễ giỗ tại nhà thờ Nguyễn Chích để tưởng nhớ tổ tiên và ông bà, thể hiện lòng biết ơn sâu sắc Việc viết tiếp gia phả và chăm sóc, bảo vệ mồ mã tổ tiên còn là nét đẹp truyền thống thể hiện lòng kính trọng và trách nhiệm của con cháu đối với dòng họ.

Ngày 26/11 hàng năm là ngày giỗ chính của họ, thể hiện lòng kính nhớ và tưởng niệm tổ tiên Trước đó, vào ngày 23, họ tổ chức cúng cáo lễ với các món lễ truyền thống như gà luộc, nếp, rượu và trầu, do trưởng họ lo lễ vật, thể hiện sự trang nghiêm và thành kính trong nghi thức cúng tế Cỗ cáo lễ được chuẩn bị tỉ mỉ, sử dụng nguyên liệu từ ruộng đất như gà trống giá hai mạch gạo, nếp mười mũng, rượu một bình, nhằm thể hiện lòng thành kính và truyền thống văn hóa của dòng họ.

Ngày 24 bản họ cáo tế, tế dùng một con lợn, nếp mỗi xuất 12 mũng rượu trầu đầy đủ hôm đó trầu cau, trưởng họ xin văn hội bản xã giúp tế Xin bản xã già trẻ xóm, vùng lân cận cùng đến hưởng tế lễ song Ngoài bản xã già trẻ cùng thôn Thanh Huy một cỗ nữa con lợn Nếp 30 mũng long bàn một cổ rƣợu một gù Biển văn hội một cỗ một đầu lợn, nếp 12 mũng long bàn một cỗ rượu một bình, trầu một gói Biểu Phường Đoài một cổ nếp 10 mũng

Ngày 25 bản xã tế một con lợn, long bàn hai cỗ Nếp cùng với vật thờ cúng khác đã có thường lễ của xã Các viên binh lính tới tế: Một con lợn, long bàn hai cỗ Nếp cùng các vật thờ cúng khác đã có như thường lệ Đến ngày 26 là ngày giỗ chính Bản họ lại theo thường lệ đến cúng tế trên nhà thờ, dãy trên hai gian, dãy dưới ba gian đều dùng các phản gỗ

Nghi lễ tế gồm có bia gỗ hai thần vị bằng chữ vàng mô tả duệ hiệu, tạo nên không khí trang nghiêm và linh thiêng Trên bàn hương án đặt đôi hạc cùng các vật phẩm như quạt, dù, long một đôi, roi bốn đôi, dao đồng hai đôi, trùy đồng, rìu, búa mỗi thứ một đôi do trưởng họ giữ gìn Trước khi tiến hành lễ, trưởng họ đọc văn cúng tế thể hiện lòng thành kính và cầu mong sự phù hộ, bình an cho cộng đồng.

Văn tế Cúng kỵ 26 tháng 11

Ông tổ mở đầu sự nghiệp bằng việc được phong là bậc thần có công khai sáng đất nước, hết lòng thành và bảo vệ chính đáng, hợp mưu dẹp giặc Ngô Ông giữ chức trọng trấn Lỗi Giang, giúp nước bằng vai trò thượng tướng quân, tham dự triều chính, tổng quản hành quân các vệ Nam Sách Hạ, trở thành trụ cột của quốc gia Những công lao to lớn của ông được ban cấp túi cá vàng phù hiệu bạc, phong danh Đình thượng hầu Nguyễn tướng công, tặng thêm họ nước Lê tướng công, truy tặng Thái Bảo hiến quốc công, đồng thời ban phong danh hiệu cao quý như ruyên uy địch, nghị thôi Trung Đại Vương, và tặng thêm bậc thần trung đẳng sáng lạm, đánh dấu vị thế vững chắc trong lịch sử.

Tiến lên trước bàn thờ khần: Xuân, Thu dâng lễ Cúi xin bậc thủy tổ:

Nghiệp trước dấy hưng vua, Mừng nối dài hậu thế

Dòng họ tuôn dài, Muôn năm nối chí Nay gặp xuân thu Kính bày lễ tế Mong chứng lòng thành Ban cho phúc khỏe

Bà thủy tổ Nguyễn Quý Thị cẩn thận tốt lành về cùng các bậc linh thiêng trong họ phối cùng hưởng” [20;6]

Sau phần cúng tế của dòng họ, người dân địa phương và khách thập phương từ các vùng lân cận đều đến tham dự để thắp nén nhang, dâng lễ vật với lòng thành kính Đây là dịp thể hiện lòng biết ơn, tôn trọng tổ tiên và cầu mong những điều tốt lành trong cuộc sống Hoạt động cúng lễ còn góp phần giữ gìn nét đẹp văn hóa truyền thống và tăng cường tình đoàn kết cộng đồng.

Ngày 26/11 là ngày giỗ chính của dòng họ, nhưng trong năm họ còn tổ chức lễ cúng vào các dịp như Tết Thanh Minh, rằm, cúng giao thừa và các ngày Tết khác, nhằm tụ họp và giữ gìn truyền thống gia đình thiêng liêng Những ngày giỗ là dịp để mọi người gặp gỡ, ôn lại truyền thống, tự hào về công lao tổ tiên và nhắc nhở các thế hệ tiếp theo về nghĩa vụ giữ gìn bản sắc, đoàn kết, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, đồng thời tôn vinh những thành tựu của gia đình như làm ăn phát đạt hay con cháu đỗ đạt Trong các dịp này, dòng họ còn thảo luận về các công việc quan trọng như lập hoặc bổ sung gia phả, xây dựng mồ mả, nhà thờ họ, góp phần phát huy truyền thống dòng họ lên tầm cao mới Đôi khi, các hoạt động này còn mở rộng đối tượng tham gia, bao gồm những người từng vướng mắc hoặc đã rời dòng họ vì lý do cá nhân, nhằm duy trì mối liên hệ và truyền thống gia đình.

Ngoài ngày giỗ chính 26/11, dòng họ còn tổ chức cúng tế vào các ngày rằm tháng Giêng (15/1), Tết Thanh Minh (3/3), Tết Nguyên Đán, rằm tháng Bảy (15/7) và ngày độc lập (2/9) để tưởng nhớ tổ tiên và thể hiện lòng thành kính Nhà thờ Nguyễn Chích không chỉ là nơi tổ chức các lễ hội truyền thống nhằm tôn vinh anh hùng dân tộc và tưởng nhớ tổ tiên mà còn là địa điểm để người dân địa phương và khách du lịch cầu may, cầu phúc lộc và tìm kiếm thuận lợi trong cuộc sống Bên cạnh đó, nhà thờ Nguyễn Chích còn thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước, góp phần phát triển du lịch địa phương và làm phong phú tài nguyên du lịch của khu vực.

Dòng họ luôn đề ra và phấn đấu xây dựng gia đình văn hoá, dòng họ văn minh, trở thành tập thể ấm no, tiến tới giàu sang và hạnh phúc Họ chú trọng rèn luyện đức hạnh hiếu học, phát huy chí tài, sống tình nghĩa thủy chung, đoàn kết thương yêu giúp đỡ lẫn nhau Đồng thời, họ duy trì nề nếp, kỷ cương, tuân thủ pháp luật của nhà nước, bài trừ thói hư tật xấu, và xây dựng mối quan hệ đoàn kết, gắn bó với nhân dân cũng như các dòng họ khác trong cộng đồng Họ góp phần xây dựng và bảo vệ tổ quốc, quê hương ngày càng giàu đẹp và phát triển bền vững.

Năm 1992, ủy ban nhân dân xã và dòng họ đã tổ chức lễ đón nhận bằng công nhận mộ, bia và đền thờ Nguyễn Chích là di tích lịch sử quốc gia, đánh dấu sự kiện trọng đại của cộng đồng địa phương Sự kiện này góp phần lưu giữ và phát huy giá trị lịch sử văn hóa của quê hương, thể hiện lòng thành kính của con cháu đối với các bậc tiền nhân.

Dòng họ Nguyễn tích cực hưởng ứng cuộc vận động xây dựng gia đình văn hóa, dòng họ văn minh, ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu hiếu thảo, góp phần thúc đẩy nếp sống văn hóa trong lễ cưới, tang lễ và lễ hộ Họ cùng nhân dân địa phương tham gia tích cực các phong trào văn hóa của huyện và xã, thể hiện rõ nét nét đẹp truyền thống và ý thức cộng đồng Qua các kỳ bình xét hàng năm, dòng họ Nguyễn là một trong số ít các dòng họ đạt nhiều danh hiệu nhất, chứng tỏ sự nỗ lực và duy trì các giá trị văn hóa tốt đẹp của gia đình và cộng đồng.

Trong dòng họ, sự nghiệp giáo dục luôn được coi trọng và xem như một truyền thống quý báu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Ngoài lĩnh vực văn hóa, giá trị về giáo dục vẫn giữ vị trí trung tâm trong đời sống cộng đồng, góp phần nuôi dưỡng những thế hệ tương lai có tri thức và đạo đức vững chắc Truyền thống giáo dục của dòng họ không chỉ thể hiện qua việc học hành mà còn phản ánh qua việc duy trì các giá trị nhân văn và phát triển bền vững cộng đồng.

Ngày đăng: 21/08/2023, 01:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Đào Duy Anh (1992), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 1992
[2] Nguyễn Huyền Anh, Việt Nam danh nhân từ điển Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam danh nhân từ điển
Tác giả: Nguyễn Huyền Anh
[3] Ban chấp hành Đảng bộ huyện Đông Sơn (2006), Lịch sử Đảng bộ huyện Đông Sơn (thế kỷ X - 2005), Nxb Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Đông Sơn (thế kỷ X - 2005)
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ huyện Đông Sơn
Nhà XB: Nxb Thanh Hóa
Năm: 2006
[4] Ban chấp hành Đảng bộ xã Đông Ninh (2006), Lịch sử Đảng bộ xã Đông Ninh huyện Đông Sơn (1858 - 2005), Nxb Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ xã Đông Ninh huyện Đông Sơn (1858 - 2005)
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ xã Đông Ninh
Nhà XB: Nxb Thanh Hóa
Năm: 2006
[5] Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hóa (1994), Lịch sử Thanh Hóa, (tập 2), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Thanh Hóa
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1994
[6] Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hóa (2001), Tên làng xã Thanh Hóa, (tập 2), Nxb Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tên làng xã Thanh Hóa
Nhà XB: Nxb Thanh Hóa
Năm: 2001
[7] Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hóa, Danh nhân Thanh Hóa, Nxb Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh nhân Thanh Hóa
Nhà XB: Nxb Thanh Hóa
[8] Bảo tàng tổng hợp tỉnh Thanh Hóa (1989), Lý lịch di tích lịch sử văn hóa đền thờ Quận Công Lê Giám, thôn Hữu Bộc - xã Đông Ninh - Đông Sơn - Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý lịch di tích lịch sử văn hóa đền thờ Quận Công Lê Giám
Nhà XB: Bảo tàng tổng hợp tỉnh Thanh Hóa
Năm: 1989
[9] Bảo tàng tổng hợp tỉnh Thanh Hóa (1992), Lý lịch di tích văn hóa mộ - bia đá và đền thờ Nguyễn Chích, thôn Vạn Lộc - xã Đông Ninh - Đông Sơn - Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý lịch di tích văn hóa mộ - bia đá và đền thờ Nguyễn Chích
Nhà XB: Bảo tàng tổng hợp tỉnh Thanh Hóa
Năm: 1992
[10] Phan Kế Bính (1988), Nam hải dị yên, Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam hải dị yên
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 1988
[11] Bia văn miếu Hà Nội (1997), Nxb Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bia văn miếu Hà Nội
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 1997
[12] Phạm Bảo, Nguyễn Hữu Chúc (1997), Thanh Hóa trong tay bạn, Nxb Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh Hóa trong tay bạn
Tác giả: Phạm Bảo, Nguyễn Hữu Chúc
Nhà XB: Nxb Thanh Hóa
Năm: 1997
[13] Các sắc phong của Quận Công Lê Giám, nhà thờ Quận Công Lê Giám, Hữu Bộc, Đông Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các sắc phong của Quận Công Lê Giám
Nhà XB: nhà thờ Quận Công Lê Giám
[14] Phan Huy Chú (1992), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1992
[15] Quỳnh Cƣ - Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, NXB Thanh niên Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các triều đại Việt Nam
Tác giả: Quỳnh Cƣ, Đỗ Đức Hùng
Nhà XB: NXB Thanh niên Hà Nội
Năm: 2001
[16] Cao Xuân Du phiên dịch, Đào Duy Anh hiệu đính, chú giải và khảo luận (1968), Đại Việt sử ký toàn thư, (tập 3), NXB Khoa học Xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn thư
Tác giả: Cao Xuân Du, Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội Hà Nội
Năm: 1968
[17] Phạm Thị Diễn, Tìm hiểu về nhà thờ Quận Công Lê Giám, Báo cáo thực tập cuối khóa, 2010, Đại học Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu về nhà thờ Quận Công Lê Giám
Tác giả: Phạm Thị Diễn
Nhà XB: Đại học Hồng Đức
Năm: 2010
[18] Lê Quý Đôn (1997), Kiến văn tiểu lục, (tập 2), Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến văn tiểu lục
Tác giả: Lê Quý Đôn
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 1997
[19] Lê Quý Đôn (1978), Đại Việt thông sử toàn tập, (tập 3), Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt thông sử toàn tập
Tác giả: Lê Quý Đôn
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1978
[20] Gia phả công thần họ Nguyễn, thôn Vạn Lộc, Đông Ninh, Đông Sơn, Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia phả công thần họ Nguyễn

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w