KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Cơ sở lý luận về hệ thống thông tin KH&CN quốc gia và vấn đề hiện đại hoá
VÀ VẤN ĐỀ HIỆN ĐẠI HOÁ
2.1.1 Khái niệm, lịch sử hình thành và phát triển Hệ thống thông tin KH&CN Quốc gia
Hệ thống thông tin khoa học và công nghệ (KH&CN) trên thế giới bắt đầu xuất hiện từ đầu thế kỷ XX, phản ánh sự phát triển của các cơ sở dữ liệu và mạng lưới chia sẻ thông tin trong lĩnh vực này Trong số các hệ thống sớm nhất, có thể kể đến Trung tâm Chỉ dẫn Thông tin Công nghệ (Technological Clearing House) dành cho các thành viên của Hiệp hội Kỹ sư Thành phố New York (Hoa Kỳ), đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ chia sẻ kiến thức và thúc đẩy nghiên cứu, đổi mới sáng tạo.
Sau đó, do suốt một thời kỳ dài chiến tranh, từ bắt đầu Thế chiến I
(1914) đến hết Thế chiến II (1945), việc ra đời và phát triển các hệ thống thông tin đã hầu như bị gián đoạn ở mọi nơi trên thế giới
Trong giai đoạn đầu những năm 20 của thế kỷ XX, hệ thống thông tin phục vụ nhiệm vụ đấu tranh giai cấp của Đảng Cộng sản được hình thành dưới sự khởi xướng của V.I Lê-nin, trong đó, việc xác định địa điểm đặt trụ sở là một vấn đề quan trọng Sau khi xem xét, Lê-nin khuyến nghị đặt trụ sở tại Đức, dựa trên điều kiện kinh tế, khoa học và công nghệ của các nước phương Tây thời đó Đồng thời, Người nhấn mạnh tầm quan trọng của hoạt động thông tin khoa học trong nhà nước Xô Viết, khẳng định rằng không có tri thức, kỹ thuật và văn hóa của các chuyên gia tư sản thì không thể xây dựng chủ nghĩa cộng sản Người còn chỉ đạo bắt chước các thành tựu khoa học của nền khoa học Âu-Hoa Kỳ để phát triển đất nước Quan điểm này thể hiện tầm nhìn chiến lược của V.I Lê-nin về vai trò của thông tin khoa học, giải thích vì sao các quốc gia có nền khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ có hệ thống thông tin tiên tiến, còn các nước nghèo, có nền KH&CN chưa phát triển thì hệ thống thông tin KH&CN luôn mang tính cấp thiết và bức thiết.
Hệ thống thông tin khoa học, mặc dù không trực tiếp phục vụ các hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ, nhưng đã góp phần vào cuộc đấu tranh chính trị, tư tưởng và giai cấp của các nhà cộng sản phương Tây trong nửa đầu thế kỷ XX Đây là một sự kiện quan trọng trong tiến trình hình thành và phát triển các hệ thống thông tin KH&CN quốc gia Mô hình hoạt động của hệ thống này đã được nghiên cứu kỹ lưỡng, đặc biệt khi các hệ thống thông tin khoa học xã hội của các nước Đông Âu phát triển mạnh mẽ vào các thập kỷ 1970-1980.
Hệ thống thông tin là một thuật ngữ chuyên ngành có nhiều ý nghĩa khác nhau Các yếu tố nhận diện và đặc trưng của hệ thống thông tin cũng được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau, dẫn đến các cách hiểu và trình bày đa dạng.
Có thể nêu ra ở đây có 2 cách hiểu khác nhau về khái niệm hệ thống:
Một tổ chức là một hệ thống gồm nhiều bộ phận khác nhau, được liên kết chặt chẽ để tạo thành một thể thống nhất Mục tiêu chính của tổ chức là thực hiện nhiệm vụ chung một cách hiệu quả và phối hợp linh hoạt giữa các bộ phận Sự liên kết chặt chẽ giữa các bộ phận đảm bảo hoạt động của tổ chức diễn ra trơn tru, đồng bộ, góp phần đạt được mục tiêu đề ra.
Tập hợp các tổ chức khác nhau hoạt động liên kết, phối hợp chặt chẽ trong quá trình triển khai hoạt động, duy trì và phát triển của hệ thống Sự hợp tác này đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả và bền vững của các hoạt động chung, thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của các tổ chức trong cộng đồng.
Hệ thống thông tin được xem là một tổ chức hoặc cơ quan nhằm cung cấp cho người dùng các điều kiện và khả năng truy cập, từ đó khai thác các nguồn thông tin nhất định Từ góc độ người dùng tin hoặc nhiệm vụ cần thực hiện, hệ thống thông tin là một tổ chức có mục đích cung cấp dữ liệu phù hợp, giúp người dùng tiếp cận và khai thác thông tin hiệu quả Cách hiểu này dựa trên quan điểm hệ thống như một tổ chức chuyên trách phục vụ mục tiêu cung cấp thông tin.
Thuật ngữ hệ thống thông tin KH&CN quốc gia có thể được hiểu theo 2 nghĩa [10, 11, 25]:
Hệ thống các cơ quan và tổ chức chịu trách nhiệm triển khai hoạt động thông tin KH&CN của quốc gia, đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý và phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ Các cơ quan này được tổ chức theo các lĩnh vực chuyên môn và theo vùng/địa phương, giúp đảm bảo thông tin KH&CN được cập nhật, phân bổ phù hợp với từng khu vực và lĩnh vực nghiên cứu Nhờ vào hệ thống này, hoạt động truyền thông và phát triển KH&CN của quốc gia đạt hiệu quả cao hơn, đáp ứng yêu cầu ngày càng mở rộng của xã hội.
Hệ thống quản lý hoạt động thông tin KH&CN của quốc gia được chia thành các phân hệ chức năng riêng biệt, đảm bảo triển khai hiệu quả các nhiệm vụ chính Các phân hệ tiêu biểu gồm hệ thống thông tin điều tra cơ bản quốc gia, hệ thống đăng ký nguồn lực thông tin quốc gia, và hệ thống kiểm soát thư mục các ấn phẩm quốc gia Các hệ thống này phối hợp nhịp nhàng giúp nâng cao năng lực thu thập, quản lý và khai thác dữ liệu KH&CN toàn diện và chính xác Việc tích hợp các phân hệ này góp phần thúc đẩy phát triển hệ sinh thái thông tin KH&CN quốc gia hiện đại, phù hợp với các yêu cầu của nền khoa học và công nghệ ngày càng phát triển.
Trong phạm vi đề tài này, có thể đồng nhất hai khái niệm "hệ thống các cơ quan thông tin KH&CN quốc gia" và "hệ thống thông tin KH&CN quốc gia," mặc dù còn tồn tại những khác biệt nhất định giữa chúng.
Hệ thống thông tin KH&CN quốc gia là tập hợp các cơ quan thông tin khác nhau của quốc gia, có mối quan hệ liên kết, phối hợp và hợp tác chặt chẽ nhằm thúc đẩy và triển khai hiệu quả các hoạt động thông tin KH&CN Đây là cấu trúc quan trọng giúp nâng cao năng lực nghiên cứu và chuyển giao công nghệ trong nền kinh tế quốc gia, góp phần phát triển bền vững và đổi mới sáng tạo.
Với cách hiểu đó, hệ thống thông tin KH&CN quốc gia được nhận biết qua các yếu tố, gồm:
- Những cơ quan thông tin KH&CN của quốc gia (theo mọi hình thái và mọi sở hữu)
- Các nguồn lực thông tin KH&CN và các kênh thông tin
- Quan hệ giữa các cơ quan tham gia hệ thống có thể là phối thuộc, phối vị, liên kết, liên đới với nhau,…
Các cơ quan chịu trách nhiệm xây dựng và thiết lập các quan hệ phối hợp, hợp tác, liên kết chặt chẽ theo quy chế và cơ chế đã được xác định rõ ràng trong quá trình triển khai hoạt động thông tin KH&CN Việc thiết lập các mối quan hệ này nhằm thúc đẩy sự phối hợp hiệu quả giữa các đơn vị, đảm bảo thông tin khoa học và công nghệ được trao đổi, chia sẻ một cách thống nhất và đồng bộ Điều này góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động truyền thông và phát triển nghiên cứu, ứng dụng KH&CN trong quốc gia.
- Cùng có mục đích chung là hướng tới việc thoả mãn nhu cầu thông tin KH&CN của người dùng tin của quốc gia
Xem xét sự phát triển hệ thống thông tin KH&CN quốc gia, có thể chia thành 3 giai đoạn chính sau đây:
Trong giai đoạn phát triển của hệ thống thông tin KH&CN các nước công nghiệp, nhiệm vụ chính là triển khai hoạt động cung cấp thông tin nhằm thúc đẩy phát triển và chuyển giao công nghệ Sau chiến tranh và quá trình phục hồi kinh tế, hoạt động thông tin công nghệ trở thành ưu tiên hàng đầu tại các quốc gia như Hoa Kỳ, Đức, Nhật Bản, Anh Bên cạnh việc phục vụ nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ trong các cơ quan, doanh nghiệp, các trường đại học như Harvard, MIT, Illinois (Hoa Kỳ), Oxford (Anh), Tokyo (Nhật Bản) còn xây dựng hệ thống thư viện lớn và cung cấp dịch vụ thông tin đa dạng, góp phần hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực và tiến bộ công nghệ quốc gia.
Từ năm 1945, Hoa Kỳ đã thành lập Cục Thông tin Kỹ thuật Quốc gia (NTIS) nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin về khoa học, công nghệ phục vụ nghiên cứu, triển khai kỹ thuật và sản xuất kinh doanh NTIS ban đầu là cơ quan quản lý và lưu giữ nguồn thông tin lớn nhất về thành tựu khoa học, kỹ thuật, công nghệ được tài trợ từ ngân sách nhà nước Trải qua hơn 60 năm phát triển, NTIS đã trở thành một tập đoàn thông tin quy mô lớn, cung cấp dịch vụ truy cập trực tuyến đa dạng, phục vụ doanh nghiệp và các trường đại học với hơn 3 triệu báo cáo kỹ thuật trong khoảng 350 lĩnh vực khác nhau Nhiệm vụ chính của NTIS là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao sức cạnh tranh của đất nước bằng cách cung cấp khả năng truy cập đến thông tin hỗ trợ đổi mới và phát triển khoa học, công nghệ.
Hệ thống thông tin KH&CN quốc gia các nước thuộc khối XHCN Đông Âu tập trung vào tuyên truyền, phổ biến kiến thức KHKT nhằm nâng cao dân trí và hỗ trợ hoạt động nghiên cứu khoa học Ví dụ tại Liên Xô cũ, có hai cơ quan thông tin khoa học quốc gia là VINITI và INION, đều trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học, đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin cho các tổ chức khoa học và trường đại học Bên cạnh đó, hệ thống thư viện công cộng thuộc Bộ Văn hóa-Thông tin cũng được chú trọng phát triển nhằm phục vụ cộng đồng và nâng cao nhận thức về KH&CN.
Hiện trạng của hệ thống thông tin KH&CN quốc gia Việt Nam
2.2.1 Khái quát về hoạt động của Hệ thống thông tin KH&CN ở Việt Nam Ở Việt Nam, hoạt động thông tin KH&CN được bắt đầu khá sớm, từ cuối những năm 50 của thế kỷ XX, và đến nay, cùng với hoạt động thư viện đã tạo thành Hệ thống thông tin KH&CN Quốc gia với hơn 500 cơ quan thông tin KH&CN hoạt động ở Trung ương, các Bộ/ngành, các tổng công ty, các địa phương và các đơn vị cơ sở Cùng với thời gian, sản phẩm và dịch vụ mà Hệ thống đưa ra phục vụ ngày nay khá đa dạng: từ những sản phẩm như ấn phẩm truyền thống, các bộ phiếu tra cứu thủ công cho tới các CSDL, các Website, bản tin điện tử, các dịch vụ tìm tin trong các CSDL, tìm tin trực tuyến
Trong bối cảnh hiện nay, phương thức phục vụ thông tin đã chuyển từ thủ công sang tự động hoá, phục vụ trực tuyến và thuê bao nguồn tin trên Internet, góp phần nâng cao hiệu quả và tiếp cận nhanh chóng Thông tin KH&CN ngày càng được coi là yếu tố nền tảng của kinh tế tri thức, với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng KH&CN, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông trong thập kỷ gần đây đã tác động sâu sắc đến hoạt động truyền thông và chia sẻ kiến thức Sự hội tụ giữa thông tin, viễn thông, tin học trở thành một xu hướng quan trọng thúc đẩy sự phát triển của hoạt động thông tin toàn cầu, trong đó đặc biệt chú trọng vào lĩnh vực thông tin KH&CN Ngoài ra, đầu tư vào thông tin KH&CN đã chuyển từ mục đích xã hội sang hướng phát triển kinh tế, góp phần đổi mới bộ máy và nâng cao hiệu quả của hệ thống thông tin KH&CN quốc gia tại Việt Nam.
2.2.1.1 Khung kh ổ pháp lý cho ho ạ t độ ng thông tin KH&CN
Trong quá trình phát triển, hoạt động thông tin KH&CN ở Việt Nam luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, qua đó thúc đẩy sự nghiệp khoa học và công nghệ phát triển bền vững Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm cụ thể hóa chính sách phát triển hoạt động thông tin KH&CN, tạo nền tảng pháp lý vững chắc để hỗ trợ nghiên cứu, trao đổi và phổ biến kiến thức khoa học Các văn bản này thể hiện rõ nỗ lực của chính phủ trong việc xây dựng môi trường thuận lợi cho hoạt động thông tin KH&CN, góp phần nâng cao năng lực sáng tạo và cạnh tranh của đất nước.
Nghị quyết 89-CP ngày 4/5/1972 của Chính phủ về tăng cường công tác thông tin KHKT đã đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển hệ thống thông tin khoa học công nghệ rộng khắp trên toàn quốc This pivotal resolution marked a significant milestone, thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành thông tin KH&CN tại Việt Nam The implementation of Nghị quyết đã góp phần nâng cao hiệu quả truyền tải kiến thức khoa học kỹ thuật, góp phần thúc đẩy quá trình đổi mới và phát triển công nghệ quốc gia.
Quyết định 133/QĐ ngày 2/4/1985 của Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học Nhà nước (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) đã ban hành quy định thống nhất về tổ chức và hoạt động thông tin KHKT, tạo nền tảng cho việc nâng cao hiệu quả hệ thống thông tin khoa học công nghệ quốc gia Dựa trên văn bản này, hoạt động của toàn hệ thống đã được tăng cường toàn diện về tổ chức, liên kết cũng như phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN.
Chỉ thị 95/CT ngày 04/04/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) về công tác thông tin KH&CN nhấn mạnh các nội dung trọng tâm nhằm phục vụ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Văn bản này tập trung quy hoạch phát triển hệ thống thông tin khoa học và công nghệ, xây dựng lực lượng cán bộ, nâng cao năng lực kỹ thuật, đồng thời đảm bảo nguồn kinh phí cần thiết để thúc đẩy hoạt động thông tin KH&CN hiệu quả.
Luật Khoa học và Công nghệ được Quốc hội Khóa X, kỳ họp thứ 7, thông qua vào ngày 9/06/2000, đã khẳng định vai trò quan trọng của việc xây dựng hệ thống thông tin KH&CN hiện đại để thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ quốc gia Chính phủ tập trung đầu tư vào hoạt động thông tin KH&CN như một phần chiến lược ưu tiên, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực khoa học công nghệ Chính sách thuế của Nhà nước ưu tiên hỗ trợ hoạt động thông tin KH&CN, coi đó là một nội dung cốt lõi trong phát triển kinh tế – xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia Thông tin KH&CN không chỉ là một yếu tố phát triển bền vững mà còn là chìa khóa thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế.
Theo Thông tư liên tịch số 15/2003/TTLT-BKH&CN-BNV ngày 15/7/2003, các Sở KH&CN các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương đã được quy định thành lập Trung tâm Tin học và Thông tin KH&CN Tính đến nay, cả nước đã có 31 tỉnh thành tiêu biểu đã xây dựng và phát triển Trung tâm Tin học và Thông tin KH&CN theo mô hình này, góp phần thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ tại địa phương.
Nghị định số 159/2004/NĐ-CP ngày 31/8/2004 của Chính phủ đã xác định rõ vai trò của Nhà nước trong việc xây dựng và phát triển Hệ thống thông tin KH&CN quốc gia hiện đại thông qua các chính sách và biện pháp cụ thể Chính sách này tập trung vào việc tăng cường quản lý Nhà nước đối với các nguồn tin KH&CN trong nước, đặc biệt là các kết quả nghiên cứu, đồng thời đổi mới cơ chế quản lý để nâng cao quyền tự chủ và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực này Nghị định cũng thúc đẩy xã hội hóa, đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư và khuyến khích phát triển dịch vụ thông tin KH&CN có thu phí, hướng tới xây dựng thị trường thông tin KH&CN phát triển và bền vững Để triển khai hiệu quả Nghị định, Bộ Khoa học và Công nghệ đang phối hợp với các bộ ngành liên quan xây dựng các văn bản hướng dẫn cụ thể nhằm thực thi các quy định của Nghị định một cách rõ ràng và thống nhất.
Những văn bản pháp lý này xây dựng khung pháp lý vững chắc, đảm bảo hoạt động thông tin KH&CN phát triển phù hợp với yêu cầu của chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và đổi mới công nghệ.
2.2.1.2 Quá trình phát tri ể n ho ạ t độ ng thông tin KH&CN ở Vi ệ t nam
HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN KH&CN tại Việt Nam đã diễn ra trong gần nửa thế kỷ, phản ánh sự phát triển liên tục của lĩnh vực này Quá trình này có thể được phân chia thành 4 giai đoạn chính, đánh dấu các mốc quan trọng trong sự tiến bộ và mở rộng của hoạt động truyền đạt thông tin khoa học và công nghệ quốc gia Các giai đoạn này thể hiện sự thích nghi với sự thay đổi của môi trường quốc tế và nội địa, nhằm nâng cao hiệu quả của việc phổ biến kiến thức KH&CN đến cộng đồng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước.
Trong giai đoạn mở đầu (1959-1972), hệ thống thư viện KHKT được khôi phục và phát triển, đồng thời hình thành các phòng, ban thông tin KHKT tại một số bộ, ngành chủ chốt, như Phòng Thông tin Khoa học thuộc Uỷ ban Khoa học Nhà nước thành lập năm 1961 Những năm này, các cơ quan thông tin KHKT chủ yếu phục vụ cho cơ quan chủ quản của mình, nhưng đến cuối thập kỷ 60, mạng lưới các cơ quan thông tin KHKT bắt đầu hình thành rộng khắp, và Uỷ ban Khoa học Nhà nước được giao nhiệm vụ quản lý hoạt động này trên phạm vi toàn quốc.
- Giai đoạn hình thành và phát triển Hệ thống (1972-1986)
Sau Hội nghị thông tin KHKT toàn quốc lần thứ I năm 1971 và Nghị quyết 89/CP tháng 5/1972, nhiều cơ quan thông tin ngành và địa phương được thành lập, đánh dấu bước phát triển quan trọng trong công tác truyền thông khoa học kỹ thuật Giai đoạn này, các cơ quan thông tin mới ra đời nhằm nâng cao công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức KHKT đến các cấp, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và xã hội của đất nước.
UNESCO đã triển khai hai chương trình phát triển thông tin toàn cầu là UNSIST (Hệ thống Thông tin KH&CN của Liên Hợp Quốc) và hệ thống thông tin quốc gia (NATIS), thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của các cơ quan thông tin KHKT Hệ thống thông tin KH&CN quốc gia gồm bốn cấp: trung ương, bộ/ngành, địa phương và cơ sở, trong khi hệ thống ngành được xây dựng qua sự thành lập của nhiều tổ chức thông tin cơ sở tại các viện nghiên cứu và trung tâm dưới sự chỉ đạo trực tiếp của cơ quan ngành Thời kỳ này chứng kiến sự tăng trưởng mạnh về số lượng và hoạt động của các cơ quan thông tin KH&CN theo cơ chế quản lý tập trung, bao cấp chặt chẽ về kế hoạch, nghiệp vụ, đào tạo cán bộ và hợp tác quốc tế.
Các cơ quan thông tin hiện vẫn đối mặt với khó khăn về nguồn lực, trang thiết bị và cán bộ, khiến hoạt động còn nhiều hạn chế Sản phẩm và dịch vụ chủ yếu vẫn dựa vào các ấn phẩm thông tin và phương pháp phục vụ thư viện truyền thống, cần được đổi mới để đáp ứng yêu cầu của thời đại số.
- Giai đoạn đổi mới hoạt động thông tin KH&CN (1986-1996)
Giải pháp hiện đại hoá hệ thống thông tin KH&CN quốc gia
2.3.1 Bối cảnh phát triển hoạt động thông tin KH&CN
Hiện nay, cuộc cách mạng KH&CN, đặc biệt là lĩnh vực CNTT và truyền thông (ICT), đang phát triển mạnh mẽ và ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển toàn cầu Thế giới đang chuyển từ xã hội công nghiệp sang xã hội thông tin dựa trên nền kinh tế tri thức Toàn cầu hóa kinh tế là xu thế khách quan mở ra nhiều cơ hội phát triển mới Khoa học và công nghệ dự kiến sẽ có những bước tiến vượt bậc, mang lại nhiều đột phá có ảnh hưởng sâu rộng đến các quốc gia Trong lĩnh vực truyền thông, sự phát triển mạnh mẽ của CNTT và ICT đã tác động mạnh mẽ đến hình thức tổ chức và quản lý thông tin toàn cầu.
Hệ thống thông tin KH&CN Quốc gia có quá trình phát triển theo mô hình từ phân tán sang tập trung và trở lại phân tán nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và chia sẻ dữ liệu Hầu hết các quốc gia đều trải qua các giai đoạn này để tối ưu hoá hệ thống thông tin khoa học và công nghệ, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ hội nhập và phát triển bền vững Quá trình này phản ánh sự thích nghi của các quốc gia trong việc tổ chức và vận hành hệ thống thông tin KH&CN để thúc đẩy nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, và hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội.
Sự khác nhau ở các nước chỉ thể hiện ở chu kỳ và mức độ phát triển
Trong giai đoạn đầu, khi chưa có máy tính và công tác truyền thông chưa phát triển, việc tổ chức truyền thông diễn ra ở dạng phân tán, nhằm phục vụ các bài toán cụ thể của từng đơn vị cơ sở như quản lý và thống kê.
Việc ra đời và phát triển máy tính vạn năng cỡ lớn đã đặt nền tảng kỹ thuật cho xu hướng tập trung trong hệ thống thông tin, nhằm xử lý và lưu trữ dữ liệu phục vụ nhiều khách hàng khác nhau Phương pháp tiếp cận tập trung trong tổ chức hệ thống thông tin được xem là phù hợp trong giai đoạn này vì để xây dựng một môi trường dữ liệu lớn (MTĐT), các cơ quan thông tin ít có khả năng tự trang bị hệ thống hiện đại, dẫn đến việc chia sẻ dữ liệu quy mô lớn trên toàn ngành và quốc gia gặp nhiều hạn chế Mặc dù tổ chức hệ thống thông tin tập trung mang lại những lợi thế tự nhiên, nhưng đồng thời cũng bộc lộ nhiều mặt yếu, như hạn chế trong khả năng mở rộng và linh hoạt trong đáp ứng yêu cầu ngày càng đa dạng của thị trường.
- Lộ trình TT xa xôi và qua nhiều cấp làm cho TT dễ bị "méo" và chậm;
- Dùng kênh thuê bưu điện sẽ làm mất thời gian và chậm trễ trong việc truyền tin, dùng kênh riêng lại tốn kém;
- Tập trung TT quá nhiều vào một nơi dễ gây ra quan liêu hoặc độc quyền và lũng loạn;
- Cơ quan TT càng lớn càng khó vận động, khó thích nghi với môi trường và nếu được thì lại tốn kém và chậm chễ
Với sự ra đời của máy tính cá nhân, hệ thống thông tin đã trở lại thời kỳ phân tán, mang lại khả năng khắc phục các thiếu sót của hệ thống tập trung Phương thức tổ chức hệ thống phân tán được nâng cao nhờ thành tựu công nghệ vi xử lý và máy tính cá nhân, kết hợp với lợi thế kỹ thuật viễn thông từ những năm 1980 trở đi Trong mô hình phân tán, vai trò tự chủ của các cơ quan thông tin được phát huy mạnh mẽ vì hai lý do chính: tăng tính linh hoạt và giảm phụ thuộc vào trung tâm, giúp hệ thống trở nên hiệu quả và bền vững hơn.
- Sản phẩm và dịch vụ TT đến với NDT cuối cùng không phải từ trên rót xuống;
Các cơ quan Thị trường trực tiếp tương tác với người tiêu dùng, từ đó tạo ra lực kéo của nhu cầu và thúc đẩy sự hình thành của thị trường thực sự Quá trình này là nền tảng cần thiết để xây dựng một thị trường phát triển bền vững, đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của người tiêu dùng và thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh trên thị trường.
Trong những năm 90, công nghệ đã tiến xa hơn trong quản trị thông tin truyền thông (ICT), khi kết hợp lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông thành công nghệ ICT Trước đó, hệ thống thông tin xây dựng theo mô hình phân tán hoạt động độc lập và truy cập qua các đường kết nối điểm-đến-điểm, nhưng nhờ ICT, các cơ quan truyền thông trong mô hình phân tán đã phát triển trong môi trường mạng, giúp việc truy cập và chia sẻ thông tin trở nên nhanh chóng và hiệu quả hơn Các hệ thống thông tin quốc tế như INIS/IAEA về năng lượng hạt nhân, ARGRIS/FAO về nông nghiệp, và INFOTERRA/UNEP về môi trường đều chứng minh xu thế phát triển tổ chức dựa trên các cơ quan truyền thông này.
Sau 20 năm thực hiện đường lối Đổi mới của Đảng, Việt Nam đã lớn mạnh về nhiều mặt, trình độ dân trí được nâng cao, kinh tế tăng trưởng khá nhanh, công cuộc CNH, HĐH đất nước đã đạt được những kết quả to lớn Công tác thông tin KH&CN cũng có những bước phát triển đáng kể Tuy nhiên, so với các nước tiên tiến, nền kinh tế nước ta vẫn trong tình trạng kém phát triển, nguy cơ tụt hậu so với nhiều nước trong khu vực và thế giới còn lớn; KH&CN vẫn còn ở trình độ thấp Trong bối cảnh của tiến trình toàn cầu hoá mà chúng ta cũng chấp nhận qua việc Việt Nam đang phấn đấu gia nhập vào WTO trong thời gian sớm nhất, hoạt động dịch vụ KH&CN nói chung, và dịch vụ thông tin KH&CN nói riêng vẫn chưa phát triển ngang tầm với các nước và chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp CNH và HĐH đất nước
Do vậy, chúng ta cần phân tích để xác định và nắm được cái tất yếu để xác định con đường phát triển
Trong lĩnh vực kinh tế - xã hội nói chung, và hoạt động khoa học công nghệ (KH&CN) nói riêng, Nhà nước đang thực hiện nhiều chính sách đổi mới cơ chế quản lý nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng cường sự tự chủ và trách nhiệm của các tổ chức dịch vụ KH&CN công lập Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế đang trở thành xu thế phát triển, hệ thống thông tin KH&CN quốc gia có nhiều cơ hội để phát triển, đồng thời đối mặt với những thách thức lớn đòi hỏi ngành thông tin xây dựng chiến lược và giải pháp phù hợp.
2.3.2 Định hướng trọng tâm phát triển hoạt động thông tin KH&CN trong giai đoạn tới năm 2010
1 M ụ c tiêu và m ộ t s ố ph ươ ng h ướ ng phát tri ể n kinh t ế xã h ộ i c ủ a Vi ệ t Nam giai đ o ạ n 2006-2010
Trong giai đoạn 2006-2010, mục tiêu và phương hướng của đất nước nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc để đẩy mạnh quá trình đổi mới và thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Chính sách này còn nhấn mạnh việc huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, thực hiện công bằng xã hội, củng cố quốc phòng và an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế, duy trì ổn định chính trị - xã hội, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển và xây dựng nền tảng để đến năm 2020 trở thành một nước công nghiệp hiện đại Đến năm 2010, mục tiêu là nâng cao trình độ khoa học công nghệ của đất nước theo hướng tiến bộ của khu vực, đặc biệt trên một số lĩnh vực trọng điểm Để đạt được các mục tiêu này, Đảng và Nhà nước xác định các phương hướng hoạt động chính trong phát triển khoa học công nghệ và hoạt động thông tin khoa học công nghệ.
Phát huy mọi nguồn lực để hoàn thiện thể chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việc phát triển đồng bộ năm loại thị trường, trong đó có thị trường công nghệ và thị trường thông tin, giúp tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, thuận lợi cho việc mua bán các sản phẩm khoa học và công nghệ Đồng thời, nhà nước khuyến khích và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ để thúc đẩy sáng tạo và đổi mới trong các lĩnh vực KH&CN, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia trên thị trường toàn cầu.
Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn liền với phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế là chiến lược trọng tâm của nền kinh tế Việt Nam Trong đó, ưu tiên chú trọng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực nông nghiệp Việc này sẽ góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Thôn là nơi chuyển giao nhanh các thành tựu KH&CN vào sản xuất nông nghiệp, thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương và nâng cao hiệu quả sản xuất Đồng thời, các lĩnh vực công nghiệp và xây dựng kết cấu hạ tầng được đẩy mạnh nhằm tạo cơ sở vững chắc cho sự phát triển bền vững của vùng Phát triển kinh tế vùng và kinh tế biển đóng vai trò then chốt trong chiến lược phát triển quốc gia, góp phần mở rộng tầm ảnh hưởng và nâng cao đời sống dân cư Nghiên cứu chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội được đổi mới để phù hợp với xu thế mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác này Bên cạnh đó, việc bảo vệ tài nguyên và cải thiện môi trường sinh thái là các mục tiêu ưu tiên nhằm đảm bảo phát triển bền vững, giữ gìn tài nguyên cho các thế hệ tương lai.
Để nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, đào tạo, cũng như phát triển lĩnh vực KH&CN và nguồn nhân lực, cần tập trung xây dựng "Hệ thống thông tin quốc gia về KH&CN" nhằm thúc đẩy chia sẻ dữ liệu và tối ưu hoá quản lý Đồng thời, việc "xoá bỏ cơ chế hành chính bao cấp" và chuyển sang "thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm" cho các tổ chức KH&CN công lập, bao gồm cả các tổ chức dịch vụ thông tin KH&CN, là yếu tố then chốt để thúc đẩy sáng tạo, tăng cường hiệu quả hoạt động và phát triển bền vững của hệ thống nghiên cứu và phát triển quốc gia.
Phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, đòi hỏi quan tâm hoàn chỉnh về quy hoạch phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của các hệ thống thiết chế văn hóa như bảo tàng, nhà truyền thống, thư viện, phòng đọc sách, nhà văn hóa, nhà thông tin - triển lãm, điểm bưu điện - văn hóa xã Đây được xem là những định hướng chiến lược cho hoạt động thông tin KH&CN của Việt Nam trong thời gian tới, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững và nâng cao đời sống tinh thần của cộng đồng.
2 M ộ t s ố ph ươ ng h ướ ng phát tri ể n ho ạ t độ ng thông tin KH&CN th ờ i gian t ớ i