HỒ TRUNG TUYẾN MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI QUẢN LÝ CÔNG TÁC KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO
Trang 1HỒ TRUNG TUYẾN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI QUẢN LÝ
CÔNG TÁC KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP
CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2015
Trang 2HỒ TRUNG TUYẾN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI QUẢN LÝ
CÔNG TÁC KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP
CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Đinh Xuân Khoa
NGHỆ AN - 2015
Trang 3Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn trân trọng tới Ban Giám hiệu và tập thể giảng viên trường Đại học Vinh đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập và có được những kiến thức, kỹ năng cần thiết để nghiên cứu, thực hiện luận văn
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Giáo sư - Tiến sĩ Đinh Xuân Khoa, người đã tận tâm, nhiệt tình hướng dẫn khoa học và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện các nhiệm vụ của đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, chuyên viên Phòng Giáo dục và Đào tạo, các cán bộ quản lý, giáo viên và các em học sinh trong các trường THCS huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình
Sau cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn quan tâm giúp đỡ, cổ vũ, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Tác giả kính mong nhận được những ý kiến góp ý, của quý thầy
cô và đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Nghệ An, tháng 6 năm 2015
Tác giả
Trang 4SỞ 5
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.2 Một số khái niệm cơ bản 7
1.3 Một số vấn đề về công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh Trung học cơ sở 14
1.4 Một số vấn đề về đổi mới quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh Trung học cơ sở 19
Chương 2:THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞHUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH 29
2.1 Khái quát tình hình kinh tế, xã hội và giáo dục huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình 29
2.2 Khái quát về điều tra thực trạng quản lý công tác kiểm tra-đánh giá kết quả học tập của học sinh Trung học cơ sở huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình 35
2.3 Thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh trung học cơ sở 36
2.4 Thực trạng quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh Trung học cơ sở 40
2.5 Đánh giá chung về thực trạng quản lý công tác kiểm tra-đánh giá 51
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI QUẢN LÝ CÔNG TÁC KIỂM TRAĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINHTRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH 55
3.1 Các nguyên tắc đề xuất giải pháp 55
3.2 Các giải pháp đổi mới quản lý công tác kiểm tra-đánh giá kết quả học tập của học sinh Trung học cơ sở huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình 56
3.3 Thăm dò sự cần thiết và tính khả thi của các giải pháp 82
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Phụ lục: ……… 93
Trang 6Bảng 2.4: Thống kê về học lực HS THCS huyện Tuyên Hóa 32
Bảng 2.5: Thống kê kết quả tốt nghiệp của HS THCS huyện Tuyên Hóa 33
Bảng 2.6: Thống kê kết quả HS giỏi THCS huyện Tuyên Hóa 33
Bảng 2.7 Nhận thức của CBQL, GV về tầm quan trọng 37
của công tác KT-ĐG (%) 37
Bảng 2.8: Đánh giá của CBQL, GV về mức độ phù hợp của việc 38
áp dụng hình thức, phương pháp KT-ĐG (%) 38
Bảng 2.9: Đánh giá của GV về thực trạng sử dụng các phương pháp KT-ĐG đối với các bài kiểm tra định kỳ 39
Bảng 2.10: Đánh giá của CBQL, GV về tổ chức thực hiện kế hoạch KT-ĐG kết quả học tập của HS (%) 43
Bảng 2.11: Đánh giá của HS về thái độ của GV trong khi coi kiểm tra 45
Bảng 2.12: Đánh giá về mức độ nghiêm túc trong kiểm tra của GV, HS 46
Bảng 2.13: Đánh giá của CBQL, HS về mức độ phản ánh chất lượng 46
học tập của HS qua kết quả kiểm tra 46
Bảng 2.14: Đánh giá của CBQL, GV về khâu chấm, trả bài kiểm tra 47
Bảng 2.15.: Đánh giá của HS về khâu trả bài kiểm tra 48
Bảng 2.16: Đánh giá của CBQL, GV về khâu ghi và quản lý điểm kiểm tra (vào điểm của GV) 49
Bảng 2.17: Đánh giá của CBQL, GV về mức độ thực hiện kế hoạch KT-ĐG kết quả học tập của HS THCS 49
Bảng 2.18: Đánh giá của CBQL, GV về hiệu quả quản lý công tác tổ chức KT-ĐG (%) 51
Bảng 2.19: Đánh giá của CBQL, GV về những nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng quản lý công tác KT-ĐG kết học tập của HS 52
Bảng 3.1: Kế hoạch KT-ĐG kết quả học tập của HS 64
Bảng 3.2: Ma trận đề kiểm tra học kỳ 67
Bảng 3.3: Đánh giá của CBQL, GV về tính cần thiết, tính khả thi của các giải pháp quản lý 83
Trang 7MỚ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Bước vào thế kỷ 21 giáo dục Việt Nam đã trải qua nhiều cuộc đổi mới
và đã thu được những thành quả quan trọng về mở rộng quy mô, đa dạng hóa các loại hình giáo dục và nâng cấp CSVC cho nhà trường Trình độ dân trí được nâng cao, chất lượng giáo dục có những chuyển biến bước đầu, hệ thống giáo dục quốc dân đã được đa dạng hóa cả về loại hình, phương thức và nguồn lực… từng bước hòa nhập với xu thế chung của giáo dục thế giới
Trước thực tế trên, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã xác định "Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hoá,
hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế" và " hát triển
nh nh ngu n nh n c, nh t à ngu n nh n c ch t ư ng c o, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc d n"
Đặc biệt, ngày 04 tháng 11 năm 2013 Ban chấp hành Trung ương Đảng
khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW về "Đổi mới căn bản, toàn
diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩ và hội nhập quốc tế" một lần nữa khẳng định tầm quan trọng của giáo dục đối với sự phát
triển của quốc gia Trong đó việc đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục là một trong 9 nhiệm vụ và giải pháp mà nghị quyết đưa ra
Quản lý nhà trường nói chung và trường THCS nói riêng không thể tách rời quản lý công tác KT-ĐG Bởi vì mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học và giáo dục HS có quan hệ biện chứng với công tác KT-ĐG kết quả dạy học và giáo dục KT-ĐG khách quan kết quả dạy và học có vai trò vô cùng to lớn trong việc nâng cao chất lượng dạy và học của thầy và trò
Song thực tiễn quản lý công tác KT-ĐG trong dạy học ở trường THCS cho thấy: các nhà quản lý còn thiếu về kiến thức, yếu về năng lực tổ chức
Trang 8quản lý công tác KT-ĐG kết quả dạy học một cách khoa học, khách quan Vì vậy, việc KT-ĐG chưa phát huy được đúng vai trò và chức năng của nó trong việc nâng cao chất lượng dạy, học của thầy và trò
Là một cán bộ quản lý, tôi luôn trăn trở trước những thách thức và cơ
hội của ngành giáo dục, tôi đã chọn đề tài: "Một số giải pháp đổi mới quản
lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh Trung học cơ
sở huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình"
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số giải pháp đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá kết quả
học tập của học sinh ở các trường THCS huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng
Bình góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện
3 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Vấn đề quản lý công tác KT-ĐG kết quả học tập của học sinh THCS
3.2 Đối tượng nghiên cứu Giải pháp đổi mới quản lý công tác KT-ĐG kết quả học tập của học sinh
ở các trường THCS huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình
4 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được các giải pháp đổi mới quản lý công tác KT-ĐG kết quả học tập của học sinh đảm bảo tính khoa học và đảm bảo tính khả thi thì sẽ nâng cao hiệu quả công tác KT-ĐG ở các trường THCS huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình, góp phần nâng cao chất lượng dạy-học trên địa bàn huyện
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu lý luận về đổi mới quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh ở các trường THCS
5.2 Nghiên cứu thực tiễn về quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh ở các trường THCS huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình
Trang 95.3 Đề xuất giải pháp đổi mới quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh ở các trường THCS huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng 3 nhóm phương pháp nghiên cứu sau:
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
Sử dụng các phương pháp phân tích-tổng hợp, phân loại-hệ thống hóa và
cụ thể hóa lý thuyết… để xử lý thông tin nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn chủ yếu:
- Phương pháp quan sát về thực tiễn các giải pháp của hiệu trưởng các trường THCS trên địa bàn
- Phương pháp điều tra thực trạng hiện nay hiệu trưởng trên địa bàn huyện
tổ chức thực hiện đổi mới KT-ĐG kết quả học tập của học sinh; thăm dò tính đúng đắn và khả thi các giải pháp được đề xuất
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Ngoài ra có thể sử dụng phương pháp đàm thoại, lấy ý kiến chuyên gia… để thu thập xử lý thông tin thực tiễn làm phong phú và cơ sở cho việc nghiên cứu
6.3 Phương pháp thống kê toán học:
Sử dụng một số thuật toán thống kê áp dụng trong nghiên cứu giáo dục
để xử lý các kết quả điều tra, phân tích kết quả nghiên cứu, đồng thời để đánh giá mức độ tin cậy của phương pháp điều tra
7 Những đóng góp của luận văn
Đề tài góp phần hệ thống hóa các vấn đề lý luận về quản lý công tác KT-ĐG kết quả học tập của HS THCS, cũng như làm sáng tỏ thực trạng quản
lý công tác KT-ĐG kết quả học tập của HS THCS huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình
Trang 10Đề xuất được một số giải pháp đổi mới quản lý công tác KT-ĐG kết quả học tập của HS THCS huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về đổi mới quản lý công tác kiểm tra, đánh
giá kết quả học tập của học sinh THCS
Chương 2: Thực trạng quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học
tập của học sinh THCS huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình
Chương 3: Một số giải pháp đổi mới quản lý công tác kiểm tra, đánh
giá kết quả học tập của học sinh THCS huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình
Trang 11Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỔI MỚI QUẢN LÝ CÔNG TÁC KIỂM TRAĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Trên thế giới
KT-ĐG được hình thành khá sớm cùng với việc xuất hiện của xã hội loài người Trong các thời đại phong kiến ở Trung Quốc cũng như Việt Nam, đã
sử dụng các phép thử để chọn tướng, dùng người, … và được miêu tả cụ thể trong các truyện dân gian qua việc kén chồng, kén vợ, chọn dâu hiền, tôi trung xảy ra phổ biến, người ta còn tổng kết thành tục ngữ, ca dao, các câu thành ngữ Từ những năm 2000 trước Công nguyên, người Trung Hoa đã dùng trắc nghiệm trí tuệ để chọn thê thiếp hoặc người hầu Việc KT-ĐG thông thường có thể qua đối đáp, thi nấu ăn, dệt vải, thi đấu võ, thi viết Trong các trường học Việt Nam và Trung Quốc thời xưa, bài viết được đánh giá qua các buổi bình văn, hoặc do quan trường chấm bài, một số kỳ thi quan trọng Vua cũng tham gia chấm bài
Sự cải tiến các chương trình KT-ĐG xuất hiện từ những năm 70, 80 của thế kỷ trước Ở giai đoạn này, KT-ĐG đã có các tiêu chí, công cụ, chương trình có sự hỗ trợ của kỹ thuật
Tại Phần Lan, thành công trong giáo dục là kết quả của một quốc gia áp dụng hiệu quả phương pháp đánh giá quá trình và đánh giá tổng kết (Katie A Hendrickson, Ohio University, 2012) Mục đích đánh giá là nhằm hướng dẫn
và thúc đẩy việc học cũng như những kĩ năng tự đánh giá cho người học Phương pháp đánh giá là sự kết hợp giữa quá trình giáo dục, kĩ năng làm việc cũng như hành vi (Finnish National Board of Education, 2010) Quy trình đánh giá lớp học tại Phần Lan cho phép GV đánh giá và điều chỉnh chương trình giảng dạy dựa trên nhu cầu của HS Đối với Úc, đánh giá lớp học được
Trang 12coi là thành tố cơ bản trong giáo dục và lợi ích của đánh giá trong lớp học chính là chú trọng chiều sâu của quá trình học tập (J J Cumming, Griffith University, Brisbane, QLD, Australia, 2010) Singapore với những kinh nghiệm xây dựng lớp học/trường học tư duy và điểm mới trong hệ thống thi
cử chính là sử dụng bài tập Dự án Trong khi Anh đang hướng tới hệ thống đánh giá chú trọng vào hiệu quả (đánh giá trong lớp học) thì Scotland, Wales
và Bắc Ailen thậm chí đã có những bước tiến xa hơn trong những cách tiếp cận trong đánh giá quá trình Qua các nghiên cứu về kiểm tra đánh giá trong lớp học và kĩ thuật kiểm tra đánh giá trong lớp học của các nước trên thế giới
có thể tổng hợp và phân chia thành 3 nhóm kĩ thuật đánh giá là: (i) Kĩ thuật đánh giá kiến thức và kĩ năng; (ii) Kĩ thuật đánh giá thái độ, giá trị và sự tự nhận thức của người học; (iii) Kĩ thuật đánh giá phản ứng của người học đối với GV hướng dẫn học
1.1.2 Ở Việt Nam
Thời nhà Lý thế kỷ XI – XIII thông qua các kì thi Hương để chọn tú tài,
cử nhân; thi Hội để chọn Thái học sinh, phó bảng, thi Đình để chọn Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa với 3 hình thức cơ bản là thi văn, thi võ, thi Lại viên Trong các kì thi này được quy định rất chặt chẽ nhiệm vụ của các lực lượng, sự thưởng phạt nghiêm minh Tuy nhiên có nhiều phiền toái, gò
bó, không phát huy hết khả năng sáng tạo của thí sinh Cạnh đó kết quả của các kì thi thi này hoàn toàn phụ thuộc vào sự nhận xét chủ quan của giám khảo
Thời kỳ Pháp thuộc, nền giáo dục Việt Nam mang tính nô dịch thuộc địa với chủ trương đào tạo một số ít người làm tay sai, còn đại đa số nhân dân là
mù chữ (chính sách ngu dân để dễ cai trị) Song ở thời kỳ này các kỳ thi tuyển được tổ chức rất nghiêm túc và được bảo đảm bằng pháp luật, trung tâm khảo thí là đơn vị độc lập với Bộ Giáo dục Công tác kiểm tra – đánh giá chất lượng giáo dục luôn gắn liền với mục tiêu đào tạo của thực dân phong kiến
Trang 13Từ sau cách mạng tháng 8/1945 đến nay, KT - ĐG đã có nhiều biến đổi căn bản so với chế độ xã hội cũ Nền giáo dục Việt Nam đã trải qua 3 lần cải cách, với mỗi lần mục tiêu GD-ĐT được điều chỉnh cho phù hợp với tình hình đất nước Đặc biệt là trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển giáo dục – đào tạo, hoạt động nghiên cứu KT-ĐG; nghiên cứu công tác quản lý công tác KT-ĐG có những phát triển mới Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra những yêu cầu về đổi mới quản lý nhằm nâng cao chất lượng KT-ĐG góp phần nâng cao chất lượng dạy – học Dưới đây là một số tài liệu nghiên cứu
về KT-ĐG của các chuyên gia hàng đầu Việt Nam:
* Nguyễn Công Khanh(2004), Đánh giá và đo ường trong giáo dục,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
* Đặng Bá Lãm(2003), Kiểm tra – đánh giá trong dạy - học đại học,
Nxb Giáo dục, Hà Nội
* Lâm Quang Thiệp(2012), Đo ường và đánh giá hoạt động học tập
trong nhà trường,NXB ĐHSP Hà Nội
* Dương Thiệu Thống(2005), Trắc nghiệm và đo ường thành quả học
tập, Nxb Khoa học xã hội
* Nguyễn Đức Chính(2004), Đo ường đánh giá trong giáo dục, tập bài
giảng lưu hành nội bộ - khoa Sư phạm, Hà Nội
* Trần Thị Tuyết Oanh(2007), Đo ường và đánh giá kết quả học tập,
Nxb Đại học sư phạm Hà Nội
Tuy nhiên từ trước tới nay trên địa bàn của tỉnh Quảng Bình chưa có những nghiên cứu và tìm hiểu sâu về vấn đề đổi mới quản lý công tác KT-ĐG của các trường THCS
1.2 Một số khái niệm cơ bản 1.2.1 Khái niệm kiểm tra, đánh giá 1.2.1.1 Kiểm tra
a) Khái niệm:
Trang 14Có rất nhiều quan điểm khác nhau khi bàn về kiểm tra:
Trong Từ điển Tiếng Việt (1998) có định nghĩa: “Kiểm tra là xem xét
tình hình th c tế để đánh giá, nhận xét”[32]
Theo tác giả Đặng Bá Lãm “Kiểm tr à quá trình xác định mục đích,
nội dung, l a chọn phương pháp, tập h p số liệu, bằng chứng để xác định mức độ đạt đư c củ người học trong quá trình học tập, rèn luyện và phát triển Kiểm tra bao g m việc xác định điều cần kiểm tra, công cụ kiểm tra và
sử dụng kết quả kiểm tra, tức đánh giá” [15, tr.20]
Theo Nguyễn Đức Chính : “Đo ường là quá trình thu thập thông tin
một cách có định hướng về các đại ư ng đặc trưng như nhận thức, tư duy, kỹ năng và các phẩm ch t nhân cách khác trong quá trình giáo dục”[11,tr.4]
Qua các định nghĩa trên, ta có thể khái quát về kiểm tra như sau: Kiểm tra là công việc nhằm vào mục đích đo lường hay xác định mức độ đạt được
thành tích so với mục tiêu đặt ra
b) Mục đích, ý nghĩa của KT-ĐG KTĐG là hoạt động trong suốt cả quá trình quản lý nhằm đạt được mục đích:
- Bảo đảm kết quả đạt được phù hợp với mục tiêu của tổ chức
- Bảo đảm các nguồn lực được sử dụng một cách hữu hiệu
- Để xem xét mức độ hoàn thành những mục tiêu đã đề ra
- Làm sáng tỏ và đề ra những kết quả mong muốn chính xác hơn theo thứ tự quan trọng
- Xác định và dự đoán những biến động và những chiều hướng chính
- Phát hiện kịp thời các sai sót và bộ phận chịu trách nhiệm để chấn chỉnh
- Đơn giản hóa các vấn đề ủy quyền, chỉ huy, quyền hành và trách nhiệm
- Phác thảo các tiêu chuẩn tường trình báo cáo để loại bớt những gì quan trọng hay không cần thiết
Trang 15- Phổ biến những chỉ dẫn cần thiết một cách liên tục để cải tiến việc hoàn thành công việc, tiết kiệm thời gian, công sức của mọi người
Xây dựng cơ chế kiểm tra cần tuân theo các nguyên tắc: Căn cứ kế hoạch hoạt động và theo cấp bậc của đối tượng kiểm tra; Dựa vào đặc điểm cá nhân của nhà quản lý; Thực hiện tại những điểm trọng yếu; Khách quan; Phù hợp với bầu không khí của tổ chức; Tiết kiệm, công việc kiểm tra tương xứng với chi phí; Kiểm tra phải đưa đến hành động
Để hoạt động kiểm tra có ý nghĩa, trong kiểm tra cần thực hiện theo qui
trình, đó là: Xây dựng các tiêu chuẩn (định ư ng, định tính); Đo lường việc
thực hiện Điều chỉnh các sai lệch
Khi hoạt động kiểm tra đạt được mục đích nêu trên lúc đó có tác dụng: Làm nhẹ gánh nặng cấp chỉ huy; Kiểm tra lại quá trình hoạch định, tổ chức, điều khiển
1.2.1.2 Đánh giá
Theo Đại từ điển Tiếng Việt của tác giả Nguyễn Như Ý (1999): “
đánh giá là nhận xét bình phẩm về giá trị ”[13] Theo từ điển Tiếng Việt
của tác giả Văn Tân: “ đánh giá à nhận thức cho rõ giá trị của một người
hoặc một vật .” [32] Theo Nguyễn Đức Chính, thuật ngữ đánh giá được
định nghĩa “Đánh giá à quá trình thu thập và xử lý thông tin một cách có hệ
thống nhằm xác định mục tiêu đã và đ ng đạt đư c ở mức độ nào” [9]
Đánh giá là sự phán xét trên cơ sở đo lường thông qua kiểm tra Kiểm tra thường đi liền với đánh giá Vì vậy, KT-ĐG là một khâu không thể thiếu của quá trình dạy – học, là giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng dạy – học KT-ĐG là công việc của cả GV, HS và các nhà quản lý giáo dục Đánh giá có thể thực hiện bằng phương pháp định lượng hay định tính
1.2.2 Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh 1.2.2.1 Kiểm tra kết quả học tập của học sinh
Trang 16Từ điển Bách Khoa (2001) có định nghĩa thuật ngữ: “Kiểm tra là bộ phận hợp thành của quá trình hoạt động dạy – học nhằm uốn nắn được thông tin về trạng thái và kết quả học tập của HS, về những nguyên nhân cơ bản của thực trạng đó để tìm ra những giải pháp khắc phục những lỗ hổng, đồng thời
củng cố và tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạt động dạy – học”.” [33]
Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Kiểm tra là phương pháp xem xét thường xuyên quá trình học tập của HS Mục đích của kiểm tra là tích cực hóa hoạt động của HS, tăng cường chất lượng học tập Kiểm tra là khâu quan trọng trong quá trình dạy học nhằm đánh giá kết quả học tập” [34, tr.40]
1.2.2.2 Đánh giá kết quả học tập của học sinh
Theo từ điển Giáo dục học (2001), đánh giá kết quả học tập là “xác định mức độ nắm được kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo của HS so với yêu cầu của
chương trình đề ra” [33]
Theo Trần Kiểm: “có thể coi đánh giá kết quả học tập của HS là xác định mức độ đạt được về kiến thức, kỹ năng và thái độ của người học đối
chiếu với mục tiêu của chương trình môn học” [22]
Theo Hoàng Đức Nhuận và Lê Đức Phúc, “Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập và xử lý thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của HS, về tác động và nguyên nhân của tình hình đó nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của GV và nhà trường, cho bản thân HS để họ
học tập ngày một tiến bộ hơn.” ” [25]
Đánh giá HS là những hoạt động quan sát, kiểm tra quá trình và kết quả học tập, rèn luyện của HS để có những nhận định định tính và định lượng nhằm mục đích giúp: GV điều chỉnh, đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục ngay trong quá trình và kết thúc mỗi giai đoạn dạy học; kịp thời phát hiện những cố gắng, tiến bộ của HS để động viên, khích lệ
và những khó khăn không thể tự vượt qua của HS để hướng dẫn, giúp đỡ; đưa
ra nhận định đúng từng kết quả đạt được, những ưu điểm nổi bật và những
Trang 17hạn chế nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động học tập, rèn luyện của HS; góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục
Từ những nghiên cứu trên, chúng tôi cho rằng: đánh giá kết quả học tập của HS là đưa ra những nhận định, những phán xét về mức độ thực hiện mục tiêu giảng dạy đã đề ra của HS
1.2.2.3 Kiểm tra-đánh giá kết quả học tập của học sinh
Việc KT-ĐG kết quả học tập của HS chính là:
(1) Đo lường, lượng giá mức độ đạt được và chưa đạt được về các mục tiêu dạy học, tình trạng kiến thức, kĩ năng, kĩ xão, thái độ của HS so với yêu cầu của chương trình; phát hiện những sai sót và nguyên nhân dẫn tới những sai sót đó, giúp HS điều chỉnh hoạt động học tập của mình
(2) Nhận định khách quan về năng lực, kết quả học tập của mỗi em HS
và cả tập thể lớp, từ đó giúp các em có kĩ năng tự đánh giá đúng năng lực của bản thân, giúp GV điều chỉnh hợp lý quá trình dạy học, góp phần tích cực vào thúc đẩy việc học tập của HS ngày một tốt hơn
Muốn đánh giá kết quả học tập của HS thì việc đầu tiên là phải kiểm tra, soát xét lại toàn bộ công việc học tập của HS, sau đó tiến hành đo lường
để thu thập những thông tin cần thiết, cuối cùng là đưa ra một quyết định, nhận định khách quan về năng lực của HS và tập thể HS Trên cơ sở đó điều chỉnh quá trình giáo dục đến HS một cách hợp lý Kiểm tra nhằm cung cấp thông tin để hoạt động đánh giá diễn ra hiệu quả và đánh giá được cần thông qua kết quả của kiểm tra Hai khâu đó hợp thành một quá trình thống nhất của công tác KT-ĐG kết quả học tập của HS
1.2.3 Quản lý, đổi mới quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
1.2.3.1 Quản lý
Trang 18Khoa học quản lý xuất hiện cùng với sự phát triển của xã hội loài
người Nó là phạm trù tồn tại khách quan, được ra đời một cách tất yếu do nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi tổ chức, mọi quốc gia và mọi thời đại
Từ điển Tiếng Việt (1998) viết: “Quản lý là hoạt động của con người tác động vào tập thể người khác để phối hợp điều chỉnh phân công thực hiện mục tiêu chung” [32] Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm
tra” [7]
Như vậy: Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý một cách liên tục, có tổ chức, liên kết các thành viên trong tổ chức hành động nhằm đạt tới mục tiêu với kết quả tốt nhất
Có nhiều ý kiến khác nhau về sự phân chia các chức năng trong quá trình quản lý Tuy nhiên, các học giả thống nhất rằng: Các chức năng như lập
kế hoạch, tổ chức, điều hành, kiểm tra và điều chỉnh là phổ biến đối với mọi nhà quản trị, không phân biệt cấp bậc, ngành nghề, quy mô lớn nhỏ của tổ chức và môi trường xã hội, dù ở Mỹ, Nhật, Singapore hay ở Việt Nam Dĩ nhiên, phổ biến hay chung nhất không có nghĩa là đồng nhất Ở những tổ chức khác nhau, những cấp bậc khác nhau, có sự khác nhau về mức độ và sự quan tâm cũng như phương thức thực hiện các chức năng chung này
1.2.3.2 Đổi mới
Đổi mới là cải cách cái lỗi thời thay vào đó, thừa kế cái tốt cũ và thêm cái mới hợp với thời đại mới (tương thích) Đó là con đường tiến hóa của nền văn minh (khác với cách mạng) Đổi mới không bao giờ là đủ, nó kéo dài theo chiều dài của lịch sử Theo Wikipedia tiếng Việt, đổi mới giáo dục là chuyển
từ lối giáo dục từ chương (vốn là truyền thống trong cách giáo dục Á Đông) sang phương pháp giáo dục lấy người học làm trung tâm, tăng tính chủ động cho học sinh và tấn công vào căn bệnh thành tích
Trang 191.2.3.3 Đổi mới quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS
Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa
là từ chỗ quan tâm đến việc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh vận dụng được cái gì qua việc học Để đảm bảo được điều đó, nhất định phải thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất; đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề, coi trọng cả KT-ĐG kết quả học tập với KT-ĐG trong quá trình học tập để có thể tác động kịp thời nhằm nâng cáo chất lượng của các hoạt động dạy học và giáo dục
Đổ mới quản lý công tác KT-ĐG cần tập trung quan tâm chỉ đạo nâng cao chất lượng trong sinh hoạt tổ chuyên môn, chú trọng triển khai việc “Đổi mới sinh hoạt chuyên môn dựa trên nghiên cứu bài học”, xây dựng mô hình trường học đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và KT-ĐG kết quả học tập của HS, triển khai áp dụng ma trận đề kiểm tra và ra đề thi mở, gắn với thực
tế cuộc sống đối với các môn xã hội
Làm thay đổi nhận thức về sự cần thiết phải đổi mới PPDH, KT-ĐG và
ý thức thực hiện đổi mới của một bộ phận CBQL, GV Tăng cường năng lực
sử dụng các thiết bị dạy học hiện đại, ứng dụng CNTT-truyền thông vào giảng dạy và KT-ĐG Bồi dưỡng một cách có hệ thống lí luận về PPDH và KT-ĐG cho đội ngũ CBQL, GV; nâng cao năng lực quản lí, chỉ đạo đổi mới PPDH, KT-ĐG của các hiệu trưởng nhằm tạo sự đồng bộ và phát huy vai trò thúc đẩy của đổi mới KT-ĐG, đồng thời đổi mới cơ chế, chính sách trong quản lí KT-
ĐG đối với giáo viên nhằm khuyến khích được sự tích cực đổi mới PPDH, KT-ĐG
Trang 201.2.4 Giải pháp, giải pháp quản lý 1.2.4.1 Giải pháp
Theo Từ điển Tiếng Việt (1998), khái niệm giải pháp được hiểu như sau "Giải pháp là phương pháp giải quyết một vấn đề nào đó" [32] Như vậy nói đến giải pháp là nói đến những cách thức tác động nhằm thay đổi, chuyển biến một hệ thống, một quá trình, một trạng thái nhất định đẻ đạt được mục đích hoạt động Giải pháp càng thích hợp, càng tối ưu, càng giúp con người giải quyết tốt những vấn đề đặt ra Tuy nhiên, để có những giải pháp như vậy, cần phải dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn đáng tin cậy
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, chúng ta có thể hiểu: Để đạt được mục đích hoặc cho ra một kết quả nào đó phải có một hệ thống các cách thức tiến hành cụ thể trong hoạt động thực tiễn, hay nói cách khác là phải có các giải pháp
1.2.4.2 Giải pháp quản lý
Những cách thức tác động nhằm thay đổi, chuyển biến một hệ thống, một quá trình, một trạng thái nhất định để đạt được mục đích hoạt động Sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý một cách liên tục, có tổ chức, liên kết các thành viên trong tổ chức hành động nhằm đạt tới mục tiêu với kết quả tốt nhất
1.3 Một số vấn đề về công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh Trung học cơ sở
1.3.1 Mục tiêu kiểm tra, đánh giá
- Tạo ra sự phản hồi sau mỗi lần kiểm tra đánh giá nhằm giúp cho người học biết được mình đã đạt được đến đâu trên con đường chuẩn kiến thức, kỹ năng, giúp cho GV biết được những lỗi khuyết thiếu trong quá trình dạy học nhằm chỉnh sửa cho phù hợp hơn
Trang 21- Công khai hóa nhận định về năng lực và kết quả học tập của mỗi HS
và tập thể lớp, tạo cơ hội cho HS phát triển kỹ năng tự đánh giá, giúp HS nhận
ra sự tiến bộ của mình, khuyến khích động viên việc học tập của HS
- Giúp cho GV có cơ sở thực tế để nhận ra những điểm mạnh và điểm yếu của mình, tự hoàn thiện hoạt động dạy, phấn đấu không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học
Như vậy, KT-ĐG không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và định hướng, điều chỉnh hoạt động của HS mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định ra thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy
1.3.2 Nội dung kiểm tra, đánh giá
Để KT-ĐG kết quả học tập của HS cần cần dựa vào mục tiêu môn học Mục tiêu của môn học là những gì HS cần đạt được sau khi học xong môn học, nó bao gồm các thành tố:
- Hệ thống các kiến thức khoa học, bao gồm cả các phương pháp nhận thức;
- Hệ thống kỹ năng, kỹ xảo;
- Khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn;
- Thái độ nhận thức đối với môn học Nội dung KT-ĐG kết quả học tập của HS là KT-ĐG những gì HS đạt được sau khi đã học xong một đơn vị kiến thức, một quy tắc nào đó Nội dung KT-ĐG bao gồm các phần sau đây:
- KT-ĐG sự lĩnh hội tri thức của nhân loại nhằm đáp ứng nhu cầu nhận thức về tự nhiên và xã hội;
- KT-ĐG kiến thức của HS đạt được để đáp ứng nhu cầu về thi tuyển, nghề nghiệp và nhu cầu cuộc sống;
- KT-ĐG việc thu thập những kinh nghiệm, vận dụng sáng tạo để có thể độc lập học tập, nghiên cứu và hoạt động sau này
Việc KT- ĐG giữa mục tiêu của môn học và mục đích học tập có mối
Trang 22quan hệ chặt chẽ với nhau Mục tiêu của môn học và mục đích học tập là cơ
sở cho việc xác định nội dung, chương trình, phương pháp và quy trình dạy học đồng thời nó cũng là cơ sở để chọn phương pháp, quy trình KT-ĐG kết quả học tập của HS KT-ĐG kết quả học tập dựa trên tiêu chí của mục tiêu dạy học sẽ nhận được thông tin phản hồi chính xác nhằm bổ sung, hoàn thiện quá trình giáo dục
1.3.3 Phương pháp kiểm tra, đánh giá
hương pháp v n đáp là phương pháp GV khéo léo đặt hệ thống câu
hỏi để HS trả lời nhằm gợi mở cho họ sáng tỏ những vấn đề mới; tự khai phá những tri thức mới bằng sự tái hiện những tài liệu đã học hoặc từ những kinh nghiệm đã tích luỹ được trong cuộc sống, nhằm giúp HS củng cố, mở rộng, đào sâu, tổng kết, hệ thống hoá những tri thức đã tiếp thu được và nhằm mục đích KT-ĐG và giúp HS tự kiểm tra, tự đánh giá việc lĩnh hội tri thức Tuỳ theo cơ sở để phân loại, nên có những phương pháp vấn đáp sau:
- Dựa vào mục đích dạy học mà phân ra vấn đáp gợi mở, vấn đáp củng
cố, vấn đáp tổng kết, vấn đáp kiểm tra
Vấn đáp gợi mở là phương pháp GV khéo léo đặt câu hỏi hoặc một chuỗi câu hỏi nhằm dẫn dắt HS giải quyết một câu hỏi cơ bản, từ đó rút ra kết luận, nhờ vậy mà họ lĩnh hội tri thức mới
Vấn đáp củng cố là phương pháp GV khéo léo đặt ra một câu hỏi hoặc
hệ thống câu hỏi nhằm giúp HS củng cố những tri thức cơ bản hoặc giúp họ
mở rộng, đào sâu những tri thức đã thu lượm được
Vấn đáp tổng kết là phương pháp vấn đáp nhằm giúp HS khái quát, hệ thống hoá những tri thức sau khi đã học một số bài, một chương, một bộ môn nhất định
Vấn đáp kiểm tra là phương pháp vấn đáp nhằm kiểm tra những tri thức
đã học, đã được củng cố, khái quát, hệ thống hoá Qua câu trả lời của HS mà
GV có thể đánh giá và họ tự kiểm tra, tự đánh giá những tri thức đã được lĩnh
Trang 23hội một cách kịp thời, nhanh gọn
Dựa vào tính chất nhận thức của HS mà phân ra vấn đáp giải thích, minh hoạ, vấn đáp tái hiện, vấn đáp tìm tòi – phát hiện
Vấn đáp giải thích – minh hoạ là phương pháp mà GV đặt ra những câu hỏi đòi hỏi HS giải thích và nêu lên dẫn chứng để minh hoạ, làm sáng tỏ cho
sự giải thích của mình Trong câu trả lời của HS không chỉ đòi hỏi nhớ lại nội dung tri thức mà phải có sự cấu trúc lại tri thức để có sự suy luận cần thiết
Vấn đáp tái hiện là phương pháp GV đặt ra những câu hỏi đòi hỏi HS phải nhớ lại những tri thức đã học và vận dụng chúng để giải quyết những nhiệm vụ học tập trong hoàn cảnh đã biết
Vấn đáp tìm tòi – phát hiện là phương pháp mà GV đặt ra những câu hỏi có tính chất vấn đề gây cho HS gặp phải tình huống có vấn đề và qua đó
họ có nhu cầu phải lĩnh hội tri thức mới để giải quyết vấn đề đó
Trắc nghiệm khách qu n là phương tiện kiểm tra khả năng học tập của
HS Nó là một phương pháp trắc nghiệm mà đề kiểm tra (thi) gồm nhiều câu hỏi, ở mỗi câu hỏi đều nêu lên vấn đề và thông tin cần thiết, giúp HS trả lời một cách ngắn gọn nhất Trắc nghiệm khách quan được coi là khách quan vì việc cho điểm khách quan, kết quả điểm số phụ thuộc vào phương án lựa chọn của HS và chỉ có một phương án duy nhất, kết quả sẽ được chấm điểm như nhau, không phụ thuộc vào người chấm
Trắc nghiệm khách quan ngày càng được áp dụng rộng rãi do tính ưu việt của nó và trong giai đoạn thực hiện cuộc vận động 2 không do ngành Giáo dục phát động Nó là sự lựa chọn cần thiết và đang được khuyến khích trong các kỳ thi, KT-ĐG Tuy nhiên, trong một số môn học THCS thì trắc nghiệm khách quan không phải là sự lựa chọn tốt để đánh giá năng lực nhận thức của người học; có lúc cần phải chọn hình thức tự luận hoặc kết hợp trắc nghiệm khách quan với hình thức khác Ví dụ với môn Anh ngữ nếu chỉ đơn thuần sử dụng trắc nghiệm khách quan thì không thể đánh giá đúng thật sự
Trang 24năng lực người học vì 2 kỹ năng nghe-nói (hiện nay là rất quan trọng) của người học đã vô tình bị bỏ qua
Kiểm tr theo hình thức t uận, điều quan trọng là phải xác định được
hệ thống chuẩn đánh giá kiến thức, kỹ năng, vận dụng của HS Việc xác định tiêu chuẩn đánh giá là vấn đề rất phức tạp và trừu tượng Tuy nhiên, việc kiểm tra với những đề thi tự luận thường bộc lộ nhiều nhược điểm, đặc biệt là không phản ánh được toàn bộ nội dung, chương trình, dễ gây tâm lý học tủ, dạy tủ và khi chấm bài GV còn nặng tính chủ quan
Vì thế, để nâng cao tính khách quan trong KT-ĐG nên sử dụng đa dạng các phương pháp KT-ĐG Nhìn chung nếu xây dựng và sử dụng có hiệu quả
hệ thống trắc nghiệm thì chừng mực nhất định có thể khắc phục những hạn chế của hình thức kiểm tra tự luận
Trong xu thế phát triển của khoa học giáo dục nói chung, lý luận dạy học nói riêng, vấn đề KT-ĐG kết quả học tập của HS trong các loại hình nhà trường cần được nghiên cứu thực hiện nghiêm túc, trước hết là hoàn thiện các hình thức và cách thức KT-ĐG
1.3.4 Hình thức kiểm tra,đánh giá
Hình thức kiểm tr : Kiểm tra miệng (kiểm tr bằng hỏi đáp), kiểm tra
viết và kiểm tra thực hành Các loại bài kiểm tra: Kiểm tra thường xuyên,
kiểm tra định kỳ (g m kiểm tr viết từ 1 tiết ý thuyết và th c hành trở ên),
kiểm tra học kỳ [5]
Hình thức đánh giá: Đánh giá và cho điểm các bài kiểm tra, tính điểm
trung bình môn học và tính điểm trung bình các môn học sau một học kỳ, một năm học Việc đánh giá chất lượng giáo dục toàn diện đối với HS được thực hiện sau mỗi học kỳ, mỗi năm học nhằm thúc đẩy HS rèn luyện, học tập để không ngừng tiến bộ Căn cứ đánh giá, xếp loại hạnh kiểm và học lực của HS được dựa trên cơ sở: Mục tiêu giáo dục của cấp học, chương trình, kế hoạch
Trang 25giáo dục của cấp học, điều lệ nhà trường, kết quả rèn luyện và học tập của HS [5].
1.3.5 Sử dụng kết quả kiểm tra, đánh giá
Sau mỗi bài kiểm tra/ kỳ thi, giáo viên dùng điểm số của học sinh để lên bảng điểm, xếp loại, đánh giá, xếp loại theo quy chế; phân tích đánh giá chất lượng các đề kiểm tra/thi để rút kinh nghiệm…đồng thời xem xét chúng giúp phát hiện những thiếu hụt gì ở học sinh, để điều chỉnh hoạt động dạy và học
1.4 Một số vấn đề về đổi mới quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh Trung học cơ sở
1.4.1 Sự cần thiết đổi mới quản lý công tác kiểm tra-đánh giá kết quả học tập của học sinh Trung học cơ sở
Nghị quyết 29-NQ/TW về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế” được Hội nghị Trung ương 8 khóa XI thông qua ngày 04/11/2013 trong phần nhiệm vụ và giải pháp đã chỉ rõ: “Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan Việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo cần từng bước theo các tiêu chí tiên tiến được xã hội và cộng đồng giáo dục thế giới tin cậy và công nhận Phối hợp sử dụng kết quả đánh giá trong quá trình học với đánh giá cuối kỳ, cuối năm học; đánh giá của người dạy với tự đánh giá của người học; đánh giá của nhà trường với đánh giá của gia đình và xã hội” Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 29-NQ/TW đã nêu: “Đổi mới hình thức, phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục theo hướng đánh giá năng lực người học; kết hợp đánh giá cả quá trình với đánh giá cuối học kỳ, cuối năm học theo mô hình của các nước có nền giáo dục phát triển”
Muốn đổi mới căn bản toàn diện chương trình, SGK phổ thông từ năm
2015 theo yêu cầu của Bộ GD&ĐT, thì “mắt xích” cần phải tập trung, nỗ lực
Trang 26nhiều nhất, đầu tư nhiều thời gian, trí tuệ, tiền bạc nhất chính là khâu đổi mới cách thức kiểm tra đánh giá học sinh Trước hết chúng ta phải hiểu kiểm tra đánh là bộ phận không thể tách rời của quá trình dạy học bởi đối với người giáo viên, khi tiến hành quá trình dạy học phải xác định rõ mục tiêu của bài học, nội dung và phương pháp cũng như kỹ thuật tổ chức quá trình dạy học sao cho hiệu quả Muốn biết có hiệu quả hay không, người giáo viên phải thu thập thông tin phản hồi từ học sinh để đánh giá và qua đó điều chỉnh phương pháp dạy, kỹ thuật dạy của mình và giúp học sinh điều chỉnh các phương pháp học Như vậy, kiểm tra đánh giá là bộ phận không thể tách rời của quá trình dạy học và có thể nói kiểm tra đánh giá là động lực để thúc đẩy sự đổi mới quá trình dạy và học Đổi mới kiểm tra đánh giá sẽ là động lực thúc đẩy các quá trình khác như đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới cách thức tổ chức hoạt động dạy học, đổi mới quản lý… Nếu thực hiện được việc kiểm tra đánh giá hướng vào đánh giá quá trình, giúp phát triển năng lực người học, thì lúc đó quá trình dạy học trở nên tích cực hơn rất nhiều Quá trình đó sẽ nhắm
đến mục tiêu xa hơn, đó là nuôi dưỡng hứng thú học đường, tạo s t giác
trong học tập và qu n trọng hơn à gieo vào òng học sinh s t tin, niềm tin
“người khác àm đư c mình cũng sẽ àm đư c”… Điều này vô cùng quan
trọng để tạo ra mã số thành công của mỗi học sinh trong tương lai
Tại sao người ta nói kiểm tr đánh giá r t qu n trọng và kiểm tr đánh
giá thế nào thì việc dạy học sẽ bị ái theo cái đó Nếu chúng ta chỉ tập trung
đánh giá kết quả như một sản phẩm cuối cùng của quá trình dạy và học, thì học sinh chỉ tập trung vào những gì GV ôn và tập trung vào những trọng tâm
GV nhấn mạnh, thậm chí những dạng bài tập GV cho trước… học sinh chỉ việc thay số trong bài toán mẫu, bắt trước câu văn mẫu … để đạt được điểm
số tối đa theo mong muốn của thầy/cô giáo Và như vậy, kiểm tra đánh giá đã biến hình không còn theo đúng nghĩa của nó
Trang 271.4.2 Nội dung quản lý công tác kiểm tra-đánh giá kết quả học tập của học sinh Trung học cơ sở
1.4.2.1 Lập kế hoạch kiểm tra-đánh giá
Lập kế hoạch là quá trình xác định các mục tiêu và lựa chọn các phương thức để đạt được các mục tiêu đó Lập kế hoạch nhằm mục đích xác định mục tiêu cần phải đạt được là cái gì? và phương tiện để đạt được các mục tiêu đó như thế nào? Tức là, lập kế hoạch bao gồm việc xác định rõ các mục tiêu cần đạt được, xây dựng một kế hoạch tổng thể để đạt được các mục tiêu đã đặt ra, và việc triển khai một hệ thống các kế hoạch để thống nhất và phối hợp các hoạt động
Các nhà quản lý cần phải lập kế hoạch về KT-ĐG cho một năm học bởi
vì lập kế hoạch cho biết phương hướng hoạt động trong tương lai về Công tác KT-ĐG, làm giảm sự tác động của những thay đổi từ môi trường, tránh được
sự lãng phí và dư thừa nguồn lực, và thiết lập nên những tiêu chuẩn thuận tiện cho công tác KT-ĐG Hiện nay, trong các trường học có thể thấy việc lập kế hoạch có các vai trò to lớn đối với họ
a) Lập kế hoạch KT-ĐG kết quả học tập của HS năm học
Kế hoạch KT-ĐG kết quả học tập của HS cho một năm học là một trong những công cụ có vai trò quan trọng trong việc phối hợp nỗ lực của các thành viên trong nhà trường Lập kế hoạch KT-ĐG cho biết mục tiêu, và cách thức đạt được mục tiêu của trong công tác KT-ĐG Khi tất cả đội ngũ cán bộ,
GV, công nhân viên trong nhà trường biết được mình sẽ đi đâu và họ sẽ cần phải đóng góp gì để đạt được mục tiêu đó, thì chắc chắn họ sẽ cùng nhau phối hợp, hợp tác và làm việc một cách có tổ chức Nếu thiếu kế hoạch KT-ĐG thì quĩ đạo đi tới mục tiêu của công tác KT-ĐG sẽ là đường ziczăc phi hiệu quả
Lập kế hoạch KT-ĐG kết quả học tập của HS có tác dụng làm giảm tính bất ổn định của hoạt động này Sự bất ổn định và thay đổi của môi trường làm cho công tác lập kế hoạch KT-ĐG kết quả học tập của HS trở thành tất
Trang 28yếu và rất cần thiết đối với mỗi nhà trường, mỗi nhà quản lý Lập kế hoạch buộc những nhà quản lý phải nhìn về phía trước, dự đoán được những thay đổi trong nội bộ nhà trường cũng như môi trường bên ngoài và cân nhắc các ảnh hưởng của chúng để đưa ra những giải pháp ứng phó thích hợp
Lập kế hoạch KT-ĐG kết quả học tập của HS làm giảm được sự chồng chéo và những hoạt động làm lãng phí nguồn lực của nhà trường Khi lập kế hoạch KT-ĐG thì những mục tiêu đã được xác định, những phương thức tốt nhất để đạt mục tiêu đã được lựa chọn nên sẽ sử dụng nguồn lực một cách có hiệu quả, cực tiểu hoá chi phí bởi vì nó chủ động vào các hoạt động hiệu quả
có thể nói nếu không có kế hoạch KT-ĐG thì công tác KT-ĐG kết quả học tập của HS cũng không có hiệu quả
Như vậy, lập kế hoạch KT-ĐG quả thật là quan trọng đối với mỗi mỗi nhà trường trong quá trình quản lý Nếu không có kế hoạch thì người hiệu trưởng có thể không biết tổ chức, khai thác con người và các nguồn lực khác của nhà trường một cách có hiệu quả, thậm chí sẽ không có được một ý tưởng
rõ ràng về cái họ cần tổ chức và khai thác Không có kế hoạch KT-ĐG kết quả học tập của HS, nhà trường sẽ rất khó đạt được mục tiêu của mình, họ không biết khi nào và ở đâu cần phải làm gì
Trang 29b) Cụ thể hóa kế hoạch KT-ĐG năm thành kế hoạch KT-ĐG thường xuyên, định kỳ
Cụ thể hóa kế hoạch KT-ĐG kết quả học tập của HS là kế hoạch chi tiết cụ thể từ kế hoạch chung của nhà trường cho một năm học, việc cụ thể kế hoạch sẽ được các tổ bộ môn xây dựng nên trên cơ sở kế hoạch của nhà trường, kế hoạch này trình bày rõ chi tiết tổ chức cần phải làm như thế nào để đạt được những mục tiêu đã đặt ra trong kế hoạch KT-ĐG của nhà trường Việc vụ thể hóa kế hoạch KT-ĐG thể hiện chi tiết kế hoạch của cả năm học thành những hoạt động thường xuyên, định kỳ, hàng quý, hàng tháng, hàng tuần bao gồm các kế hoạch ôn tập trước kiểm tra, kế hoạch phân công trách nhiệm trong công tác KT-ĐG, kế hoạch KT-ĐG, thời gian tổ chức KT-ĐG…
Cụ thể hóa kế hoạch nhằm mục đích bảo đảm cho mọi người trong các tổ bộ môn đều hiểu về các mục tiêu kế hoạch KT-ĐG của nhà trường và xác định rõ ràng trách nhiệm của họ trong việc thực hiện mục tiêu chung đó và các hoạt động cần được tiến hành ra sao để đạt được những kết quả dự định trước
1.4.2.2 Tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch kiểm tra-đánh giá
a)Tổ chức, chỉ đạo, giám sát tất cả các khâu: ra đề, in ấn đề, coi kiểm tra (thi), chấm bài, lấy điểm, đánh giá - xếp loại, lưu trữ
- Quản lý công tác ra đề kiểm tra: Đề kiểm tra là các câu hỏi được đặt
ra để kiểm tra năng lực nhận thức của người học sau khi hoàn thành một chương trình học tập cụ thể, ở các trường phổ thông có các dạng bài kiểm tra: bài kiểm tra 15 phút được lấy vào điểm kiểm tra thường xuyên, hệ số 1; Bài kiểm tra 45 phút hệ số 2 là bài kết thúc chương, phần kiến thức và bài kiểm tra học kỳ là bài kết thúc mỗi kỳ học
Trước mỗi đề kiểm tra, nhóm chuyên môn thống nhất ma trận đề kiểm tra đó bám sát mục tiêu môn học Đề kiểm tra phải phù hợp với đối tượng được kiểm tra và phải phân loại được năng lực nhận thức của HS
Trang 30- Quản lý công tác coi thi (kiểm tra): Đó là việc giám sát kiểm tra việc thực hiện kế hoạch kiểm tra của GV đối với từng lớp học, về thái độ tinh thần trách nhiệm của GV trong mỗi giờ kiểm tra
Quản lý công tác chấm bài thi (kiểm tra): Chấm thi (kiểm tra) là công việc thường xuyên của GV phổ thông, chấm thi đó là việc xác nhận ý kiến trả lời của HS về câu hỏi đạt được theo một thang điểm nhất định Quản lý công tác chấm thi tốt sẽ tránh được các hiện tượng cho khống điểm (cấy điểm) trong giáo dục
b)Tổ chức, chỉ đạo công tác KT-ĐG theo quy trình:
- Xác định mục đích của hoạt động đánh giá: Ở cấp THCS các kỳ
KT-ĐG dưới dạng viết có các bài kiểm tra 15 phút, 45 phút, bài kiểm tra học kỳ với các mục đích khác nhau Việc xác định mục đích của các kì KT-ĐG là hết sức quan trọng, nó sẽ định hướng xây dựng các bài kiểm tra phải đạt được các mục đích này Khi tổ chức một kỳ KT-ĐG phải trả lời được câu hỏi: Cho ai?
Để làm gì? Làm như thế nào?
- Xác định hình thức KT-ĐG: Các phương pháp KT-ĐG phải phù hợp với mục tiêu, không chỉ là mục tiêu của môn học mà còn là mục tiêu của cả chương trình môn học cho nên phải do nhà tập thể quản lý quyết định Việc chọn lựa phương pháp kiểm tra chính xác sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc nâng cao chất lượng
- Xác định nội dung cần đánh giá và bậc nhận thức tương ứng với các nội dung đó, tỉ lệ các bậc nhận thức phù hợp, đáp ứng mục đích đánh giá
- Viết câu hỏi kiểm tra ứng với nội dung và bậc nhận thức của nội dung đó
- Sau khi có đủ các câu hỏi ứng với các nội dung và bậc nhận thức tương ứng, người phụ trách tổ hợp các câu hỏi thành đề kiểm tra đúng với tỉ lệ
đã quy định trong ma trận nội dung – bậc nhận thức
- Phân tích đề kiểm tra: Trước khi in ấn, người phục trách cần kiểm tra, phân tích đề bằng cách làm bài với tư cách là HS Trong quá trình làm bài sẽ
Trang 31phát hiện những sai sót có thể và độ dài của bài kiểm tra cho phù hợp với thời gian làm bài
- In ấn đề kiểm tra phải thật sự chú trọng, phải được kiểm tra trước khi niêm phong, khi đề in ấn bị thiếu hụt hoặc mờ nhạt chữ trong đề kiểm tra sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến độ chính xác trong đánh giá
- Chuẩn bị các điều kiện khác cho HS làm bài kiểm tra
- Chấm bài kiểm tra của HS
- Ghi chép điểm và nhận xét cho từng HS trong sổ điểm của GV, lưu ý các trường hợp đặc biệt
- Trả bài và nhận xét
Báo cáo, sử dụng kết quả KT-ĐG: Báo cáo kết quả KT-ĐG phải chỉ ra được những điểm mạnh và những điểm yếu của người học, đồng thời phải chỉ ra được những ưu, nhược điểm của các đối tượng liên quan như: HS, GV, CBQL
- Đánh giá toàn bộ quy trình : Đây là bước cuối cùng trong quy trình KT-ĐG Nhà trường thông qua các buổi họp chuyên môn, hoặc buổi họp chuyên đề để đánh giá, nhận xét việc thực hiện quy trình KT-ĐG đối với từng môn, chỉ rõ những thuận lợi, khó khăn khi thực hiện Từ đó, sẽ đưa ra những vấn đề cần chỉnh sửa (kế hoạch, chính sách, quy trình, …) giúp toàn thể đội ngũ thực hiện những quy trình tiếp theo có kết quả cao hơn
1.4.2.3 Sử dụng kết quả kiểm tra để đánh giá
Sử dụng kết quả KT-ĐG dân chủ tạo ra sự phản hồi từ HS, từ đó điều chỉnh phương pháp dạy học của GV và phương pháp học tập của HS, cũng như điều chỉnh mục tiêu dạy học và giáo dục
Quản lý thu thập thông tin phản hồi từ HS trong việc KT-ĐG: trên cơ
sở đó để GV và HS điều chỉnh hoạt động day và học của mình Đó cũng là cơ
sở để BGH nhà trường theo dõi, đôn đốc, nhắc nhở việc học của trò và giảng dạy của thầy GV chủ nhiệm lớp thông báo cho phụ huynh HS kết quả học tập rèn luyện của HS tại lớp để tạo nên những phải hồi có giá trị khác
Trang 32Những nội dung quản lý công tác KT-ĐG được xác định một cách có hiệu quả, khoa học sẽ là những yếu tố quyết định đến việc thực hiện tốt các chức năng của KT-ĐG
1.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý đổi mới công tác kiểm đánh giá kết quả học tập của học sinh Trung học cơ sở
tra-1.4.3.1 Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh về sự cần thiết và vai trò của công tác kiểm tra-đánh giá kết quả học tập
Yếu tố nhận thức được xác định là một yếu tố ảnh hưởng nhất tới toàn
bộ công tác KT-ĐG và công tác quản lý công tác KT-ĐG Những GV, HS có
tư duy đúng đắn về vai trò, ý nghĩa của công tác KT-ĐG, nhận thức đầy đủ về quy chế thi, kiểm tra sẽ giúp họ có những hành động đúng, ngược lại nếu nhận thức sai hoặc không đầy đủ sẽ khiến họ coi nhẹ hoạt động này, thậm chí
là có những tác động tiêu cực Điều này sẽ là trở ngại đến quá trình quản lý, người quản lý sẽ gặp rất nhiều khó khăn
Các nhà quản lý phải có triết lý KT-ĐG, nếu họ yếu về triết lý KT-ĐG
sẽ dẫn đến những quyết định sai lầm, ngược lại nếu họ có triết lý đúng đắn sẽ giúp họ đưa ra những tác động tích cực, những quyết định đúng đắn
Do vậy, trong quá trình quản lý công tác KT-ĐG cần phải giúp CBQL,
GV, HS nhận thức đúng vai trò của ĐG và có kiến thức nhất định về
KT-ĐG kết quả học tập của HS thông qua việc thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng về KT-ĐG nói chung, quy chế thi, kiểm tra, cách
thức xây dựng ma trận, nghiệp vụ soạn đề kiểm tra nói riêng
1.4.3.2 Kiến thức và kỹ năng quản lý và thực hiện hoạt động kiểm tra-đánh giá của cán bộ quản lý và giáo viên
Bên cạnh sự am hiểu về công tác KT-ĐG thì việc nhà quản lý phải trang bị cho mình kỹ năng quản lý hoạt động này là cần thiết, kỹ năng quản lý thuần thục sẽ giúp cho quá trình quản lý công tác KT-ĐG trở lên trôi chảy Có
thể đề cập tới một số kỹ năng cơ bản sau: thiết lập mục tiêu, xây d ng kế
hoạch, tổ chức th c hiện kế hoạch và kiểm tra việc th c hiện công tác
Trang 33KT-ĐG Đối với GV phải có nhận thức đúng đắn về vai trò, ý nghĩa của công tác
KT-ĐG là chưa đủ mà trong quá trình tổ chức và thực hiện hoạt động này cần nghiêm túc tuân thủ các nguyên tắc của KT-ĐG kết quả học tập Thực tế cho thấy hiện nay là đội ngũ những người làm giáo dục đã và đang trực tiếp hoặc gián tiếp vi phạm nguyên tắc của KT-ĐG Điều này đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới mục đích, ý nghĩa của công tác KT-ĐG
Bên cạnh sự am hiểu về công tác KT-ĐG thì việc nhà quản lý phải trang bị cho mình kỹ năng quản lý hoạt động này là cần thiết, kỹ năng quản lý thuần thục sẽ giúp cho quá trình quản lý công tác KT-ĐG trở lên trôi chảy Có
thể đề cập tới một số kỹ năng cơ bản sau: thiết ập mục tiêu, x y d ng kế
hoạch, tổ chức th c hiện kế hoạch và kiểm tr việc th c hiện kế hoạch công tác KT-ĐG
1.4.3.3 Cơ sở vật chất, trang thiết bị
CSVC trang thiết bị như phòng học, bàn ghế, phương tiện kiểm tra giám sát các hoạt động của thầy và trò, phòng thí nghiệm, phòng thư viện, phòng tin học… phục vụ cho hoạt động dạy và học cũng như công tác KT-
ĐG kết quả học tập của HS được đầy đủ sẽ là điều kiện tiền đề thuận lợi cho
tổ chức KT-ĐG, ngược lại nếu CSVC quá thiếu hụt, không đáp ứng được các nhu cầu phục vụ cho dạy và học sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động dạy
và học đặc biệt là ảnh hưởng đến công tác KT-ĐG kết quả học tập của HS
1.4.3.4 Chế độ, chính sách cho công tác kiểm tra-đánh giá
Chế độ, chính sách cho cán bộ, GV tham gia công tác KT-ĐG có tác động rất lớn tới kết quả của KT-ĐG Nếu chế độ, chính sách dành cho cán bộ,
GV tham gia công tác KT-ĐG phù hợp sẽ nâng cao được ý thức, trách nhiệm, năng lực chuyên môn, hạn chế được những tiêu cực thúc đẩy đổi mới KT-ĐG Trên thực tế những chế độ, chính sách hiện nay của nhà nước là chưa phù hợp, chậm được đổi mới; CSVC trang thiết bị thiếu thốn khiến cho việc tổ chức, triển khai gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc Đây là nguyên nhân, làm ảnh hưởng cho tiến trình đổi mới cũng như duy trì công tác KT-ĐG
Trang 34đó giúp tôi có cơ sở phân tích thực trạng quản lý công tác KT-ĐG kết quả học tập của HS trung học cơ sở huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình để từ đó đề xuất một số giải pháp quản lý công tác KT-ĐG kết quả học tập của HS trung học cơ sở góp phần thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, phát triển nguồn
nhân lực, bồi dƣỡng nhân tài trên địa bàn huyện mình
Trang 35Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH 2.1 Khái quát tình hình kinh tế, xã hội và giáo dục huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình
2.1.1 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của huyện Tuyên Hóa
Là huyện miền núi biên giới, tiếp giáp với biên giới Lào nằm ở phía Tây của tỉnh Quảng Bình , cách trung tâm tỉnh khoảng 100 km Có diện tích
tự nhiên là 1157 km2; trong đó có 19 xã và 01 thị trấn, tổng dân số 78256; tỷ
lệ phát triển dân số khoảng 1.05%
Do điều kiện địa lý không thuận lợi, đất đai cằn cỗi, manh mún không thuận lợi cho phát triển các mô hình sản xuất nông công nghiệp có quy mô lớn, vì vậy kinh tế của huyện chủ yếu là sản xuất nông nghiệp nhỏ, cây trồng chủ lực là các loại cây lương thực, một số vùng nhiều hộ gia đình phát triển kinh tế vườn rừng tuy nhiên diện tích không đáng kể Đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, tỉ lệ hộ nghèo trong toàn huyện chiếm 21.94%, thu nhập bình quân đầu người 18 triệu đồng/năm
Tuyên Hóa là một trong những huyện nghèo của tỉnh Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân 9.1%/năm Tỷ trọng nông – lâm – thủy sản chiếm 35.11%; Công nghiệp – xây dựng chiếm 22.67%; Dịch vụ thương mại chiếm 42.22%
2.1.2 Thực trạng giáo dục Trung học cơ sở huyện Tuyên Hóa
Mặc dù các điều kiện kinh tế - xã hội còn gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ HS cấp THCS vẫn còn tình trạng bỏ học nhiều CSVC ở một số trường học chưa được trang bị đầy đủ với nhu cầu, nhưng trong những năm học qua chất lượng giáo dục có nhiều chuyển biến
2.1.2.1 Về quy mô trường, lớp, học sinh
Trang 36Từ năm học 2011-2012 toàn cấp học có 20 trường THCS công lập với
qui mô lớp, HS cụ thể như sau:
Bảng 2.1: Thống kê số lớp, số HS cấp THCS huyện Tuyên Hóa
Năm học
Số lớp
Số HS đầu năm
(Ngu n: Báo cáo tổng kết củ hòng GD&ĐT)
Số liệu bảng số 2.1 cho thấy quy mô trường ổn định, quy mô lớp, HS
có chiều hướng giảm, số HS/lớp ít (khoảng 30HS/lớp), số lớp/trường không cao (khoảng 9 lớp/trường)
2.1.2.2 Về đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên
- Số lượng đội ngũ cán bộ, GV, nhân viên là 491 (bao g m cả GV h p
đ ng), với số nữ là 285 (chiếm 58,04 %), trong đó: CBQL: 37; GV giảng dạy:
355, chiếm tỉ lệ 2.06 GV/lớp; Nhân viên thí nghiệm, thư viện, hành chính: 99;
Cơ cấu GV theo môn học:
Bảng 2.2: Cơ cấu giáo viên theo môn học
(Ngu n: Báo cáo tổng kết củ hòng GD&ĐT năm học 2013 - 2014)
Số GV đứng lớp thừa so với qui định (2,06 GV/lớp) nhưng cơ cấu không hợp lý, thừa thiếu cục bộ
Trang 37(Ngu n: Báo cáo tổng kết củ hòng GD&ĐT năm học 2013 - 2014)
Đội ngũ đạt chuẩn về trình độ đào tạo, tỉ lệ trên chuẩn khá cao Phần
lớn đội ngũ GV có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ khá vững vàng, đáp ứng được yêu cầu giáo dục và giảng dạy theo tinh thần đổi mới phương pháp Tuy nhiên số CB, GV có trình độ trên đại học còn rất ít; ở một số đơn vị, phong trào học tập nâng chuẩn của GV còn hạn chế, trình độ chuyên môn nghiệp vụ chưa tương xứng với trình độ trên chuẩn, nhất là về đổi mới phương pháp dạy học
GV các trường khá tích cực trong thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, điều này thể hiện qua một số hoạt động như: Thiết kế bài giảng khoa học, các hoạt động của GV và HS được sắp xếp hợp lí đảm bảo được các yêu cầu
về kiến thức và kĩ năng của bộ môn, phát huy được tính tích cực học tập của HS; GV sử dụng hợp lý sách giáo khoa khi giảng bài trên lớp, cơ bản đã khắc phục được tình trạng dạy học theo lối "đọc - chép" Vai trò chủ đạo của GV
và tính cực, chủ động học tập của HS đã được thể hiện rõ nét trong quá trình dạy học; Ứng dụng CNTT trong soạn, giảng đã được các nhà trường quan tâm đầu tư, nhiều GV đã khai thác tốt hiệu năng các thiết bị dạy học, phương tiện nghe nhìn, phòng học bộ môn Tuy vậy, trong quá trình thực hiện cũng đã bộc
lộ nhiều hạn chế: Một bộ phận GV (chủ yếu là GV cao tuổi) chưa tích cực
thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, việc nghiên cứu vào vận dụng các kỹ thuật dạy học mới, ứng dụng CNTT trong dạy học còn hạn chế
Trang 38Bên cạnh đó các trường THCS tổ chức thực hiện nghiêm túc Quy chế đánh giá, xếp loại HS THCS do Bộ GD&ĐT ban hành; tổ chức đủ số lần kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ, kiểm tra học kỳ cả lý thuyết và thực hành Việc kiểm tra đối với các môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công dân đã hạn chế yêu cầu HS chỉ ghi nhớ máy móc Trong quá trình dạy học các câu hỏi nêu vấn đề mở đòi hỏi HS phải vận dụng tổng hợp kiến thức, kỹ năng
để giải quyết vấn đề thường xuyên được sử dụng Kĩ năng ra đề dưới hình thức tự luận kết hợp trắc nghiệm theo chuẩn kiến thức, kỹ năng với các cấp
độ: Biết, Thông hiểu, Vận dụng đã được các nhà trường thực hiện khá quyết
liệt, có hiệu quả
Tuy nhiên, nhận thức của một số CB, GV về mục đích, ý nghĩa của đổi mới KT-ĐG chưa toàn diện làm ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả đổi mới phương pháp dạy học, không động viên, khích lệ được HS Các bài kiểm tra thường xuyên, định kỳ chưa được quản lý chặt chẽ theo đúng quy trình, theo đúng nguyên tắc, phần lớn phó mặc cho GV dẫn tới kết quả kiểm tra chưa công bằng, chưa phản ánh chính xác kết quả học tập của HS Qua một số kì kiểm tra khảo sát do Phòng GD&ĐT tổ chức vẫn còn một số CB, GV có tâm
lý chạy theo thành tích dẫn tới hiện tượng tiêu cực, vi phạm quy chế kiểm tra gây dư luận không tốt trong ngành cũng như trong xã hội Những hạn chế này
sẽ được tác giả phân tích rõ ở phần sau
2.1.2.3 Về học lực của học sinh Trung học cơ sở Bảng 2.4: Thống kê về học lực HS THCS huyện Tuyên Hóa
Trang 39Thống kê tại bảng 2.4 đánh giá về học lực của HS thể hiện, chất lượng dạy – học tương đối ổn định và tiếp tục tiến bộ, tỷ lệ HS xếp loại học lực giỏi tăng hàng năm và chiếm tỷ lệ 10%, tuy nhiên tỷ lệ HS yếu, kém chiếm tỷ lệ
cũng còn cao (khoảng 5%) và có xu hướng giảm
Bảng 2.5: Thống kê kết quả tốt nghiệp của HS THCS huyện Tuyên Hóa
Năm học
Số
HS lớp 9
(Ngu n: Báo cáo tổng kết củ hòng GD&ĐT)
Từ kết quả đánh giá về học lực và hạnh kiểm trên kéo theo kết quả xét công nhận tốt nghiệp THCS cho HS lớp 9 đạt kết quả tốt Tỷ lệ HS không được công nhận tốt nghiệp hàng năm rất nhỏ Kết quả công nhận tốt nghiệp được thể hiện qua bảng thống kê 2.5
Bảng 2.6: Thống kê kết quả HS giỏi THCS huyện Tuyên Hóa
NĂM HỌC
(Ngu n: Báo cáo tổng kết củ hòng GD&ĐT)
Theo số liệu thống kê bảng 2.6, cho thấy số lượng học sinh giỏi còn khiêm tốn, đặc biệt là các giải quốc gia Chất lượng HS giỏi còn thấp, tuy nhiên có xu hướng phát triển
Trang 402.1.2.4 Về cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học
Do làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục, những năm học vừa qua, các trường đã tích cực đầu tư kinh phí tu bổ, sửa sang phòng học, phòng chức năng, cải tạo khuôn viên, cảnh quan môi trường và mua sắm thêm bàn ghế, bảng chuẩn và trang thiết bị phục vụ cho dạy và học Tính đến thời điểm này 100% số phòng học của các trường có bảng chuẩn, bàn ghế chuẩn Có 10/20 trường đã có phòng học thực hành thí nghiệm, phòng học bộ môn Âm nhạc,
Mĩ thuật; 20/20 trường có phòng máy tính được đưa vào sử dụng và khai thác
có hiệu quả Hầu hết các trường đều trang bị máy chiếu và các thiết bị khác như máy tính xách tay, camera số Hiện nay có 6/20 trường được công nhận dạt chuẩn quốc gia mức độ 1, đang tiếp tục xây dựng và đề nghị công nhận thêm 4 trường trong năm 2015
Mặc dù đã có sự cố gắng song nhiều trường còn gặp rất nhiều khó khăn
về CSVC như phòng học, phòng chức năng, phòng học bộ môn và các trang thiết bị dạy học
2.1.2.5 Về công tác xã hội hóa giáo dục
100% các xã, thị trấn có Hội khuyến học, Ban đại diện hội cha mẹ HS hoạt động có hiệu quả Các trung tâm học tập cộng đồng của 20/20 xã thị trấn phát huy tốt chức năng nhiệm vụ của mình
Phong trào toàn xã hội làm giáo dục phát triển mạnh mẽ, rộng khắp Sự quan tâm chăm lo đến công tác khuyến học từ trong các gia đình đến các dòng
họ, các cơ quan đơn vị Tổng số quỹ khuyến học của các gia đình dòng họ
cơ quan đơn vị hàng năm lên tới trên 1 tỷ 500 triệu đồng
Các nhà trường đã đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức của nhân dân trong việc tạo điều kiện cho con em đến trường, giáo dục đạo đức học sinh, huy động sự hỗ trợ trí lực, vật lực để củng
cố CSVC, mua sắm trang thiết bị