Một số công trình còn đi sâu hơn về những khía cạnh cụ thể như quản lý nhà nước đối với các hoạt động văn hóa nghệ thuật, biểu diễn ca nhạc, thời trang, sân khấu, điện ảnh, các tụ điểm v
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
*****************
NGUYỄN TRƯỜNG GIANG
NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
TRONG CÔNG TÁC CHẤN CHỈNH TRẬT TỰ XÃ HỘI
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
CHUYÊN NGÀNH : CHÍNH TRỊ HỌC
Mã số : 60.31.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS Nguyễn Thái Sơn
Nghệ An, 2015
Trang 2Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù đã rất cố gắng song Luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được sự chỉ dẫn, góp ý của Quý Thầy,
Cô giáo và đồng nghiệp để Luận văn hoàn thiện hơn
Nghệ An, tháng 5 năm 2015
Tác giả
Trang 3B NỘI DUNG 11
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÔNG TÁC CHẤN CHỈNH TRẬT TỰ XÃ HỘI 11
1.1 Một số khái niệm cơ bản 11
1.2 Vai trò của quản lý nhà nước trong công tác chấn chỉnh trật tự xã hội 19
1.3 Mục đích của quản lý Nhà nước về chấn chỉnh trật tự xã hội 26
1.4 Nội dung quản lý nhà nước về chấn chỉnh trật tự xã hội 28
Kết luận chương 1 32
Chương 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÔNG TÁC CHẤN CHỈNH TRẬT TỰ XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 33
2.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội, hệ thống chính trị Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh 33
2.2 Tình hình môi trường xã hội và trật tự xã hội tại Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh những năm qua 36
2.3 Thực trạng quản lý nhà nước trong công tác chấn chỉnh trật tự xã hội tại Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh 39
2.4 Đánh giá chung về quản lý nhà nước trong công tác chấn chỉnh trật tự xã hội tại Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh 57
Kết luận chương 2 68
Trang 4TẠI QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 69
3.1 Phương hướng nhằm tăng cường quản lý nhà nước về chấn chỉnh trật tự xã hội tại Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh 69
3.2 Các nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong chấn chỉnh trật tự xã hội trên địa bàn Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn hiện nay 72
Kết luận chương 3 92
C KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 93
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 5
UBND Ủy ban nhân dân
UBMTTQ VN Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Trang 6Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, quá trình đô thị hóa cũng diễn ra hết sức sôi động và mạnh mẽ Đặc biệt là dân số ở các đô thị tăng cao liên tục hàng năm, tạo sức ép lớn cho công tác quản lý, yêu cầu giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh cũng ngày càng trở nên nặng nề, bức xúc hơn Điều đó đòi hỏi chính quyền các cấp phải có những chính sách thật sự hiệu quả, phù hợp để giải quyết tốt những mặt trái của quá trình đô thị hóa Trong đó, công tác đảm bảo an ninh chính trị, giữ vững trật tự xã hội có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc phát triển đô thị theo hướng bền vững Đây
là việc làm mang tính cấp thiết, không chỉ với mục đích đấu tranh phòng chống tệ nạn xã hội mà còn góp phần xây dựng bộ mặt đô thị văn minh hiện đại, làm giảm những tác hại đối với môi trường và con người, tạo ra mối quan hệ tốt đẹp hòa nhã giữa người với người trong xã hội hôm nay và mai sau
Thành phố Hồ Chí Minh nói chung và Quận 1 nói riêng được xem là trọng điểm của trung tâm giao dịch thương mại, văn hóa, hành chính,… của cả nước, với nhiều ưu thế thuận lợi cho phát triển kinh tế, đặc biệt là lĩnh vực dịch vụ, thương mại, du lịch Trên cơ sở thế mạnh sẵn có, cùng với định hướng phát triển phù hợp và đầu tư hợp lý, những năm gần đây, khả năng khai thác và tốc độ tăng trưởng kinh tế trên địa bàn Quận
1 có nhiều bước phát triển vượt bậc
Đặc thù Quận 1 là quận trung tâm của Thành phố, có nhiều đơn vị thuộc Trung Ương, Thành phố và cơ quan ngoại giao trú đóng, có nhiều doanh nghiệp đầu tư nước ngoài hoạt động Mặt khác, Quận 1 còn diễn ra các hoạt động kinh tế, dịch vụ, du lịch khá phức tạp, có nhiều trung tâm thương mại, khách sạn, nhà hàng, các tụ điểm vui chơi giải trí, hải cảng, bến xe và nhiều những địa danh lịch sử, hệ thống các cụm bảo tàng, di
Trang 7tích,… Đây là điểm đến thường xuyên của khách du lịch và khách quốc tế để làm việc, giao dịch và vui chơi giải trí Hàng ngày, Quận 1 đón chào hàng trăm ngàn lượt khách đến tham quan, buôn bán, làm việc,… Vì vậy, trên những con đường trung tâm luôn tấp nập một lượng lớn du khách lui tới tham quan, vui chơi giải trí, song song đó có một bộ phận không nhỏ người địa phương và vãng lai buôn bán kiếm sống xung quanh khu vực này Người có điều kiện thì thuê mướn mở cửa hàng, nhà hàng để kinh doanh, người ít tiền thì chiếm dụng vỉa hè, lòng lề đường để buôn bán mà không tuân thủ pháp luật, giữ gìn mỹ quan chung Người dân kinh doanh lấn chiếm chỉ nghĩ đến lợi nhuận và họ tự tiện xả rác, xả chất thải bừa bãi,… kéo theo những nhếch nhác và tiềm ẩn tệ nạn xã hội Những việc làm đó ảnh hưởng không ít đến an ninh chính trị, trật tự xã hội chung
Ý thức được vai trò và vị trí trung tâm của Quận 1, trong nhiều năm qua Quận ủy –
Ủy ban nhân dân – Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Quận 1 đã đề ra nhiều Nghị quyết, Nghị quyết liên tịch, phát động nhiều chương trình hành động thiết thực và phù hợp nhằm xây dựng Quận 1 trở thành quận xanh, sạch, đẹp Các cấp, các ngành từ Thành phố, Quận và 10 Phường đã có sự chỉ đạo thường xuyên, mạnh mẽ; lực lượng nòng cốt với số lượng đông đảo, có kinh nghiệm và trình độ, làm tốt công tác phối hợp tuyên truyền, kiểm tra chấn chỉnh cùng với các sở, ban ngành và đoàn thể góp phần làm cho công tác chỉnh trang đô thị, tôn tạo và xây dựng mới cơ sở hạ tầng đạt hiệu quả cao, hạn chế phạm pháp hình sự, triệt phá nhiều ổ nhóm hoạt động có tổ chức, đấu tranh phòng chống tệ nạn xã hội Những việc làm đó đã tạo cho Quận 1 một diện mạo mới, góp phần thu hút đầu tư, thúc đẩy kinh tế, du lịch phát triển, cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân trên địa bàn
Trong thời gian qua, tuy đã đạt được một số kết quả nhất định nhưng vẫn còn gặp nhiều hạn chế trong quản lý nhà nước đối với công tác chấn chỉnh an ninh trật tự, phòng chống tệ nạn xã hội Nhận thức được tầm quan trọng trong công tác kiểm tra liên ngành,
Trang 8kiểm tra phối hợp trên địa bàn quận là hết sức cần thiết, Ủy ban nhân dân Quận 1 đã ban hành Quyết định số 444/QĐ–UBND ngày 26/4/2014 về việc kiện toàn Đội kiểm tra liên ngành hoạt động văn hóa, thông tin và phòng, chống tệ nạn xã hội Quận 1 (gọi tắt là Đội kiểm tra liên ngành văn hóa – xã hội) dựa trên các căn cứ của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26/11/2003; Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ngày 02/7/2002 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ngày 02/4/2008; Nghị định số 178/2004/NĐ–CP ngày 15/10/2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh phòng, chống mại dâm; Nghị định số 103/2009/NĐ–CP ngày 06/11/2009 của Chính phủ ban hành Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng; Chỉ thị 814/TTg ngày 12/12/1995 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý, thiết lập trật tự kỷ cương trong các hoạt động văn hóa và dịch vụ, đẩy mạnh bài trừ một số tệ nạn xã hội nghiêm trọng; Chỉ thị 17/2005/CT–TTg ngày 25/5/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc chấn chỉnh các hoạt động tiêu cực trong quán bar, nhà hàng karaoke, vũ trường; Thông tư số 05/2006/TT–BLĐTBXH ngày 22/6/2006 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn thành lập và tổ chức hoạt động của Đội kiểm tra liên ngành về phòng, chống
tệ nạn mại dâm; Quyết định số 39/2012/QĐ–UBND ngày 28/8/2012 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Lực lượng kiểm tra liên ngành hoạt động văn hóa, thông tin và phòng, chống tệ nạn xã hội Thành phố Hồ Chí Minh; triển khai thực hiện Nghị quyết liên tịch số 01/2008/NQLT–BLĐTBXH–BCA–BVHTT–UBMTTQVN giữa các Bộ ngành về chuyển hóa địa bàn, xây dựng phường lành mạnh không có tệ nạn ma túy, mại dâm Qua đó, đã tạo cơ sở pháp lý cho Quận 1 thực hiện công tác kiểm tra, chấn chỉnh, trấn áp các loại hình kinh doanh vi phạm pháp luật và các đối tượng phạm tội liên quan đến tệ nạn xã hội, xây dựng nếp sống văn minh đô thị sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân, mang lại hiệu quả thiết thực hơn
Trang 9Là một cán bộ thuộc biên chế của Ủy ban nhân dân Quận 1, đồng thời xuất phát từ tình hình thực tiễn trong công tác kiểm tra liên ngành cần phải giữ vững được địa bàn trong sạch, đấu tranh phòng chống tệ nạn xã hội, tác giả đã mạnh dạn lựa chọn nghiên
cứu đề tài: “Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong công tác chấn chỉnh trật tự
xã hội trên địa bàn Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn hiện nay” làm luận
văn tốt nghiệp Cao học Thạc sĩ chuyên ngành Chính trị học
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Mảng đề tài liên quan đến chất lượng, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước trong chấn chỉnh trật tự xã hội ở các đô thị, thành phố tương đối phong phú, đa dạng Bước đầu tìm hiểu, tác giả thấy có một số công trình tiêu biểu liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu như sau :
Thứ nhất : Các nghiên cứu về hiệu quả tuyên truyền
Về hiệu quả của công tác tuyên truyền, có những tác giả và công trình tiêu biểu
như: PGS.TS Hà Học Hợi chủ biên (2002), Đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả
công tác tư tưởng, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Tác giả Hoàng Quốc Bảo (2006), Học tập phương pháp tuyên truyền cách mạng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội; PGS.TS Lương Khắc Hiếu (chủ biên) (2008), Nguyên lý công tác tư tưởng tập
2, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; PGS.TS Đào Duy Quát (chủ biên) (2010), Công tác
tư tưởng, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; TS Phạm Tất Thắng (chủ biên), TS Nguyễn
Thúy Anh, ThS Phùng Văn Đông (2010), Đổi mới công tác tư tưởng, lý luận phục vụ sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Thị Thúy
Hằng (2014), Hiệu quả tuyên truyền Luật Hôn nhân và Gia đình cho đồng bào Khmer
Tỉnh Sóc Trăng hiện nay, luận văn Thạc sĩ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền,…
Trang 10Nhìn chung những công trình nghiên cứu nói trên đã đi sâu nghiên cứu, phân tích vai trò, hiệu quả tác dụng của công tác tuyên truyền, phổ biến về tư tưởng, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, nhà nước đối với quần chúng nhân dân Trên cơ sở đó hướng tới mục đích làm tốt hơn, nâng cao hơn chất lượng công tác quản lý nhà nước trên mọi lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực chấn chỉnh trật tự xã hội ở môi trường đô thị
Thứ hai : Các nghiên cứu về quản lý nhà nước trong công tác chấn chỉnh trật tự
xã hội, quản lý xã hội
Có thể nói những công trình nghiên cứu từ góc độ, khía cạnh này là những căn cứ quan trọng về mặt lý luận cũng như thực tiễn để tác giả triển khai đề tài của mình Qua tìm hiểu, tham khảo, chúng tôi thấy nổi bật lên một số tài liệu, công trình cơ bản như sau
: Ủy ban nhân dân Thành phố – Viện Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (2005), Hoàn
thiện nội dung quản lý nhà nước một số ngành nghề dịch vụ văn hóa trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh; Sở Khoa học và Công nghệ (2007), Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động ca nhạc tại Thành phố Hồ Chí Minh; TS Trần
Quốc Bảng (1994), Quản lý nhà nước về văn hóa nghệ thuật trong cơ chế thị trường, Đề
tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội; TS Đinh Thị Vân Chi
(2005), Quản lý nhà nước đối với thị trường băng đĩa trong giai đoạn hiện nay, Đề tài
nghiên cứu khoa học cấp bộ, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội; PGS.TS Phạm Thanh
Tâm (2012), Viện Văn hóa, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, “Thực trạng và những
vấn đề đặt ra về quản lý hoạt động kinh doanh và dịch vụ văn hóa ở cấp cơ sở hiện nay”, Trang thông tin điện tử Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày 05/02/2009; Tác
giả Nguyễn Đạo Toàn (2012), “Tổ chức và quản lý các hoạt động văn hóa cơ sở hiện
nay”, Báo điện tử Cục văn hóa cơ sở ngày 18/6/2014
Trang 11Nhìn chung những công trình nghiên cứu trên đây đã đề cập một cách khá sâu sắc, toàn diện các vấn đề về quản lý nhà nước trong chấn chỉnh trật tự xã hội, văn hóa, tư tưởng, môi trường đô thị Các công trình đã chỉ ra vai trò, tầm quan trọng của công tác quản lý nhà nước, chỉ ra những nội dung cơ bản của quản lý nhà nước trong việc chấn chỉnh trật tự đô thị Một số công trình còn đi sâu hơn về những khía cạnh cụ thể như quản lý nhà nước đối với các hoạt động văn hóa nghệ thuật, biểu diễn ca nhạc, thời trang, sân khấu, điện ảnh, các tụ điểm vui chơi giải trí, các sinh hoạt cộng đồng, các dịch
vụ văn hóa,… Những kết quả nghiên cứu của các công trình có lien quan được tác giả kế thừa một cách có chọn lọc trên cơ sở tiếp thu những hạt nhân hợp lý
Thứ ba : Liên quan đến phòng chống tệ nạn xã hội có một số nghiên cứu, bài viết, bài báo, diễn đàn, hội thảo như sau
Viện nghiên cứu Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh (2013), Tài liệu “Hội thảo Tệ
nạn xã hội trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh – Nguyên nhân và những giải pháp cấp thiết”; Nhóm tác giả Xuân Thái – Đình Hải (2012), Tài liệu “Hội thảo đánh giá mô hình cai nghiện ma túy tại gia đình và cộng đồng” Trang thông tin điện tử Sở Lao động –
Thương binh và Xã hội Tỉnh Hà Tĩnh, ngày 07/04/2013; Hội Liên hiệp phụ nữ Huyện
Yên Thế (2012), “Hiệu quả phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội ở các cấp Hội liên
hiệp phụ nữ Huyện Yên Thế”, Cổng thông tin điện tử Huyện Yên Thế, Tỉnh Bắc Giang;
TS Vũ Mạnh Lợi (2014), “Hợp pháp hóa mại dâm - vấn đề “bất khả thi”, Báo điện tử Pháp luật ngày 27/4/2014; Lê Thị Mai (2013), Hiện tượng mại dâm từ hướng tiếp cận xã
hội học, luận văn Tiến sĩ, Đại học Tôn Đức Thắng; Tác giả Trương Thùy Minh (2013),
Tệ nạn mại dâm trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Đại
học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh; Vũ Thị Hương (2013), Ảnh hưởng của tệ nạn ma
túy đến xã hội, Viện nghiên cứu Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh; Vũ Thị Ngọc Linh
(2010), Lớp QLVHTT–K29A1, Tăng cường công tác tuyên truyền phòng chống tệ nạn
Trang 12xã hội cho sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền, luận văn cử nhân, Học viện Báo
chí và Tuyên truyền
Ngoài ra, còn có nhiều văn bản cụ thể của Đảng và Nhà nước ta về quản lý hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng như : Nghị quyết Hội nghị lần thứ IX Ban chấp hành Trung ương khóa XI về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, Nghị định 103/2009/NĐ–CP ngày 06/11/2009 của Chính phủ về ban hành Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng, Nghị định 158/2013/NĐ–CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo, Nghị định 83/2013/NĐ–CP ngày 29/7/2013 của Chính phủ về kinh doanh trò chơi điện tử có thưởng dành cho người nước ngoài, Nghị định 72/2009/NĐ–CP ngày 03/9/2009 quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề kinh doanh có điều kiện; công tác phòng chống tệ nạn xã hội như : Luật phòng chống ma túy năm 2000 – sửa đổi năm 2008, Luật phòng chống mua bán người năm 2011, Pháp lệnh phòng chống mại dâm năm 2003, Chỉ thị số 21–CT/TW ngày 26/3/2008 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy trong tình hình mới”, Chỉ thị số 22/CT–TTg ngày 15/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ về “Tăng cường thực hiện các nhiệm vụ và giải pháp phòng chống mại dâm trong tình hình hiện nay”,…
Có thể thấy rằng, ngoài các văn bản của Đảng và Nhà nước, các nhà khoa học, nghiên cứu đã tập trung nghiên cứu về hiệu quả tuyên truyền, công tác quản lý các ngành nghề, hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa và phòng chống tệ nạn xã hội dưới nhiều góc độ khác nhau Trong quá trình tham khảo các công trình nghiên cứu nêu trên, tác giả đã tiếp thu được một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hiệu quả tuyên truyền, công tác quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa và công tác phòng chống một số
Trang 13loại tệ nạn xã hội thường xảy ra trong cộng đồng Chính vì thế, tác giả chọn đề tài liên quan đến lĩnh vực này nhằm giúp các cơ quan quản lý nhà nước nói chung và tại Quận 1 nói riêng có những biện pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu quả công tác chấn chỉnh trật tự
xã hội, góp phần kéo giảm tệ nạn xã hội, từng bước xây dựng Quận 1 đạt chuẩn văn hóa, phát triển kinh tế bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân và trở thành điểm đến an toàn, hấp dẫn đối với khách du lịch
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu nghiên cứu 3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở khảo sát thực trạng quản lý nhà nước đối với công tác chấn chỉnh an ninh trật tự xã hội tại địa bàn Quận 1, luận văn hướng tới mục đích đề xuất một số giải pháp có tính khả thi, có hiệu quả thiết thực để tăng cường, đẩy mạnh hơn nữa việc quản
lý nhà nước trong công tác chấn chỉnh trật tự xã hội ở Quận 1, đẩy lùi các tệ nạn, xây dựng và đảm bảo môi trường trong sạch, lành mạnh, cởi mở, thân thiện cho người dân
và khách tham quan, du lịch cũng như các thành phần xã hội khác
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu được xác định trên đây, luận văn hướng tới các nhiệm
vụ cơ bản như sau :
- Phân tính làm rõ cơ sở lý luận của quản lý nhà nước đối với công tác chấn chỉnh trật tự xã hội trong môi trường đô thị ở nước ta nói chung và trên địa bàn Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng
- Điều tra, khảo sát, tìm hiểu thực trạng hiệu quả quản lý nhà nước đối với công tác chấn chỉnh trật tự xã hội trên địa bàn Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, tìm ra hạn chế nhằm đề xuất các giải pháp thích hợp
Trang 14- Đề xuất phương hướng và một số giải pháp tăng cường hiệu quả của quản lý nhà nước đối với công tác chấn chỉnh trật tự xã hội trên địa bàn Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình quản lý nhà nước đối với công tác chấn chỉnh an ninh trật tự xã hội và chất lượng, hiệu quả của công tác này trong môi
trường đô thị, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở khảo sát thực tiễn quản lý nhà nước trong công tác chấn chỉnh trật tự xã hội tại địa bàn Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh Trong phạm vi nội dung nghiên cứu của đề tài, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu công tác quản
lý nhà nước đối với việc tổ chức kiểm tra, xử lý các hiện tượng vi phạm trật tự xã hội, nghiên cứu nội dung các biện pháp chấn chỉnh trật tự, đảm bảo việc chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật của người dân kinh doanh các ngành nghề nhạy cảm trên địa bàn
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình triển khai nghiên cứu luận văn, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu của các ngành khoa học xã hội và nhân văn như phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, phương pháp nghiên cứu tài liệu Bên cạnh đó tác giả sử dụng các phương pháp điều tra xã hội học kết hợp khảo sát, phỏng vấn thực tiễn
6 Đóng góp mới của luận văn
Trang 15Luận văn sẽ là tài liệu có đóng góp vào quá trình tăng cường chấn chỉnh trật tự xã
hội, góp phần phòng chống các tệ nạn, làm trong sạch môi trường nhân văn trên địa bàn Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay Ngoài ra luận văn cũng có thể trở thành tài liệu tham khảo cho những đề tài, những công trình nghiên cứu khoa học
có liên quan đến lĩnh vực này
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn dự kiến bao gồm 3 chương :
Chương 1 : Cơ sở lý luận của việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với công
tác chấn chỉnh trật tự xã hội
Chương 2 : Thực trạng hiệu quả quản lý nhà nước đối với công tác chấn chỉnh trật
tự xã hội trên địa bàn Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3 : Phương hướng và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý
nhà nước đối với công tác chấn chỉnh trật tự xã hội trên địa bàn Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn hiện nay
Trang 16B NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI CÔNG TÁC CHẤN CHỈNH TRẬT TỰ XÃ HỘI 1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm quản lý và quản lý nhà nước
1.1.1.1 Khái niệm quản lý
Việc hình thành và quá trình phát triển xã hội loài người đã làm nảy sinh nhu cầu quản lý Chính quản lý đã trở thành hoạt động phổ biến và là nhân tố của sự phát triển xã
hội Theo quan niệm của C.Mác “Bất kỳ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung
nào đó mà được tiến hành tuân theo một quy mô tương đối lớn đều cần có sự quản lý ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, sự vận động này khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của cơ thể đó Một nhạc công tự điều khiển
mình, nhưng một dàn nhạc phải có nhạc trưởng”[24; 23]
Có thể hiểu quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý, để chỉ huy điều khiển hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp với qui luật khách quan
Theo Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý)
nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [28; 63]
Trang 17Tác giả Trần Kiểm thì cho rằng quản lý là các hoạt động được thực hiện nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của người khác, là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những người cộng sự khác nhau cùng chung một tổ chức Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến khách thể quản
lý (tập thể những người lao động) nhằm thực hiện mục tiêu đề ra Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất [22; 15] Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý đến đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường
[23;38]
Như vậy, theo cách hiểu chung nhất thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý Việc tác động theo cách nào còn tuỳ thuộc vào các góc độ khoa học khác nhau, các lĩnh vực khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu
* Chức năng quản lý
Chức năng quản lý là một dạng hoạt động quản lý đặc biệt, thông qua đó chủ thể quản lý tác động đến khách thể quản lý nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định Chức năng quản lý gắn liến với sự phân công và hợp tác lao động trong quá trình lao động Quản lý có 04 chức năng chủ yếu, cơ bản có liên quan mật thiết với nhau: kế hoạch hóa,
tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra Cụ thể như sau :
a) Chức năng kế hoạch :
Trang 18- Đây là quá trình xác định các mục tiêu phát triển giáo dục và quy định những biện pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu
Khi tiến hành chức năng kế hoạch, người quản lý cần hoàn thành được hai nhiệm
vụ là xác định đúng những mục tiêu cần để phát triển giáo dục và quy định những biện pháp có tính khả thi (phù hợp với quan điểm, đường lối theo từng giai đoạn phát triển của đất nước)
- Trong quá trình quản lý, chức năng kế hoạch là chức năng đầu tiên, nó có vai trò định hướng cho toàn bộ các hoạt động, là cơ sở để huy động tối đa các nguồn lực cho việc thực hiện các mục tiêu và là căn cứ cho việc kiểm tra quá trình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của tổ chức đơn vị và từng cá nhân của quá trình quản lý
“hiệu ứng tổ chức”
c) Chức năng chỉ đạo :
- Là quá trình tác động ảnh hưởng tới hành vi thái độ của những người khác nhằm đạt tới các mục tiêu với chất lượng cao
Trang 19- Là chức năng thứ ba trong một quá trình quản lý, nó có vai trò cùng với chức năng tổ chức để hiện thực hóa các mục tiêu Chức năng chỉ đạo được xác định từ việc điều hành và hướng dẫn các hoạt động nhằm đạt được các mục tiêu có chất lượng và hiệu quả Do vậy, chức năng chỉ đạo là cơ sở để phát huy các động lực cho việc thực hiện các mục tiêu quản lý và góp phần tạo nên chất lượng và hiệu quả cao của các hoạt động
d) Chức năng kiểm tra :
- Là quá trình đánh giá và điều chỉnh nhằm đảm bảo cho các hoạt động đạt tới mục tiêu của tổ chức
- Là chức năng cuối cùng của một chu trình quản lý, có vai trò giúp cho chủ thể quản lý biết được mọi người thực hiện các nhiệm vụ ở mức độ như thế nào, tốt, vừa, xấu, đồng thời cũng biết được những quyết định quản lý ban hành có phù hợp với thực
tế hay không, trên cơ sở đó điều chỉnh các hoạt động, giúp đỡ hay thúc đẩy các cá nhân, tập thể đạt được các mục tiêu đề ra
Như vậy, chức năng kiểm tra thể hiện rõ vai trò cung cấp thông tin và trợ giúp các
cá nhân và đơn vị hoàn thành nhiệm vụ theo mục tiêu và kế hoạch đã xác định
Do đó, hoạt động quản lý là quá trình hoạt động để đạt được mục tiêu của tổ chức bằng việc thực hiện các chức năng quản lý : kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra Quá trình này diễn ra trình tự theo một vòng khép kín được gọi là chu trình quản lý Để thực hiện có hiệu quả chu trình quản lý thì vai trò của thông tin chiếm một vị trí rất quan trọng, bởi quản lý gắn liền với thông tin và thực chất của quản lý là quá trình thu thập,
xử lý và truyền đạt thông tin, nó là phương tiện không thể thiếu trong quá trình hoạt động của quản lý Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý và vai trò của thông tin trong hoạt động quản lý thể hiện bằng sơ đồ 1
Trang 20Sơ đồ chu trình quản lý
1.1.1.2 Khái niệm quản lý nhà nước
Theo Giáo trình quản lý hành chính nhà nước : “Quản lý nhà nước là sự tác động
có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành
vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc
xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc Xã hội chủ nghĩa” [21; 407]
Như vậy, quản lý nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước, được sửa dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội Quản lý nhà nước được xem là một hoạt động chức năng của nhà nước trong quản lý xã hội và có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt Quản lý nhà nước được hiểu theo hai nghĩa
Theo nghĩa rộng : quản lý nhà nước là toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước, từ hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp, đến hoạt động tư pháp
Theo nghĩa hẹp : quản lý nhà nước chỉ bao gồm hoạt động hành pháp
Kế hoạch
Thông tin
Chỉ đạo Kiểm tra,
Trang 21Quản lý nhà nước được đề cập trong đề tài này là khái niệm quản lý nhà nước theo nghĩa rộng; quản lý nhà nước bao gồm toàn bộ các hoạt động từ ban hành các văn bản luật, các văn bản mang tính luật đến việc chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng
bị quản lý và vấn đề tư pháp đối với đối tượng quản lý cần thiết của Nhà nước Hoạt động quản lý nhà nước chủ yếu và trước hết được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước, song có thể các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng và nhân dân trực tiếp thực hiện nếu được nhà nước uỷ quyền, trao quyền thực hiện chức năng của nhà nước theo quy định của pháp luật
* Đặc điểm quản lý nhà nước
Từ khái niệm trên về quản lý nhà nươc ta rút ra các đặc điểm của quản lý nhà nước như sau :
Quản lý nhà nước mang tính quyền lực đặc biệt, tính tổ chức cao và tính mệnh lệnh đơn phương của nhà nước Quản lý nhà nước được thiết lập trên cơ sở mối quan
hệ “quyền uy” và “sự phục tùng”
Quản lý nhà nước mang tính tổ chức và điều chỉnh Tổ chức ở đây được hiểu như một khoa học về việc thiết lập những mối quan hệ giữa con người với con người nhằm thực hiện quá trình quản lý xã hội Tính điều chỉnh được hiểu là nhà nước dựa vào các công cụ pháp luật để buộc đối tượng bị quản lý phải thực hiện theo quy luật xã hội khách quan nhằm đạt được sự cân bằng trong xã hội
Quản lý nhà nước mang tính khoa học, tính kế hoạch Đặc trưng này đỏi hỏi nhà nước phải tổ chức các hoạt động quản lý của mình lên đối tượng quản lý phải có một chương trình nhất quán, cụ thể và theo những kế hoạch được vạch ra từ trước trên cơ sở nghiên cứu một cách khoa học
Trang 22Quản lý nhà nước là những tác động mang tính liên tục, và ổn định lên các quá trình xã hội và hệ thống các hành vi xã hội Cùng với sự vận động biến đổi của đối tượng quản lý, hoạt động quản lý nhà nước phải diễn ra thường xuyên, liên tục, không bị gián đoạn Các quyết định của nhà nước phải có tính ổn định, không được thay đổi quá nhanh Việc ổn định của các quyết định của nhà nước giúp cho các chủ thể quản lý có điều kiện kiện toàn hoạt động của mình và hệ thống hành vi xã hội được ổn định
1.1.2 Khái niệm trật tự xã hội và quản lý nhà nước về chấn chỉnh trật tự xã hội
1.1.2.1 Khái niệm trật tự xã hội
Trật tự xã hội là khái niệm chỉ sự hoạt động ổn định hài hòa của các thành phần
xã hội trong cơ cấu xã hội; trật tự xã hội nhằm duy trì sự phát triển xã hội và cơ chế bảo đảm tính trật tự xã hội là các thiết chế xã hội Trật tự xã hội biểu hiện tính tổ chức của đời sống xã hội, tính chuẩn mực của các hành động xã hội Nhờ trật tự xã hội mà hệ thống xã hội đạt được sự ổn định, cho phép nó hoạt động một cách có hiệu quả dưới sự tác động của các yếu tố bên trong và bên ngoài
Các cơ chế đảm bảo cho trật tự xã hội là các thiết chế xã hội Các thiết chế xã hội điều chỉnh các mối quan hệ – chủ yếu là quan hệ kinh tế giữa các nhóm hoặc các giai cấp xã hội Việc điều chỉnh này thường cần đến những lợi ích của các nhóm, các lợi ích này sẽ được điều chỉnh cho đến khi đạt được một sự công bằng theo quan niệm của xã hội cụ thể đó Thông qua chức năng kiểm soát xã hội các thiết chế xã hội đảm bảo tính
ổn định, tính có thể dự đoán, tính có thể điều khiển của những hành vi cá nhân, việc tuân thủ những giới hạn xã hội mà nếu như vi phạm nó sẽ làm giảm bớt sự ổn định và trật tự
xã hội Sự ổn định và trật tự xã hội phụ thuộc vào sự mềm dẻo, tính hiệu quả của các thiết chế đó Nó còn phụ thuộc vào khả năng điều khiển và duy trì sự kiểm soát, sự tương tác của các lợi ích và sự lệch lạc của hành vi
Trang 23Như vậy, trật tự xã hội là một trong những mối quan tâm hàng đầu Khi tất cả các thành phần trong xã hội thực hiện tốt chức năng của mình thì sẽ có trật tự xã hội Bởi vì mỗi thành phần sẽ có những chức năng đặc thù và chúng phù hợp với nhau, nên có thể phối hợp với nhau một cách hài hòa để phục vụ cho việc ổn định của toàn xã hội Ở cấp
độ cá nhân, nếu chúng ta thực hiện tốt các vai trò của mình trong một nhóm, làm đúng theo mong đợi của những người xung quanh, thì cũng có trật tự xã hội
1.1.2.2 Quản lý nhà nước về chấn chỉnh trật tự xã hội
Quản lý nhà nước về chấn chỉnh trật tự xã hội là một bộ phận của quản lý nhà nước nói chung, quản lý nhà nước về an ninh trật tự nói riêng Thực chất đó là sự tác động đồng bộ có mục đích của nhà nước thông qua hoạt động của một hệ thống các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội được chức năng hóa trên lĩnh vực này (trên cơ sở những quy định của pháp luật) vào tất cả các yếu tố cấu thành nên trật tự an toàn xã hội nhằm tạo nên sự ổn định, an toàn cho đất nước trên mọi phương diện về chính trị, kinh
tế, văn hóa, xã hội nhằm đạt tới mục tiêu xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Thực hiện quản lý nhà nước về chấn chỉnh trật tự xã hội trước hết là nhằm đem lại
sự bình yên trong hoạt động của các cơ quan, các tổ chức xã hội, cá nhân nhằm đảm bảo
kỷ cương pháp luật và trật tự xã hội, thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của công dân Về thực chất, quản lý nhà nước về chấn chỉnh trật tự xã hội đó là sự tác động có tổ chức, có hệ thống và bằng pháp luật vào tất cả những yếu tố cấu thành nên trật tự xã hội, nhằm điều chỉnh có hiệu lực, có hiệu quả các mối quan hệ xã hội, tạo nên cơ sở vững chắc đảm bảo nên trật tự xãc hội theo ý chí của nhà nước Đồng thời, đó cũng là một dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực của nhà nước để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người có liên quan đến trật tự an toàn xã hội Đối tượng quản lý nhà nước về chấn chỉnh trật tự xã hội là tất cả các cơ quan, tổ chức, cá
Trang 24nhân tham gia các mối quan hệ thuộc phạm trù trật tự xã hội Do đó, chấn chỉnh trật tự
xã hội là sự bố trí các chuẩn mực, các giá trị cùng những chế tài để ép buộc việc thực hiện chúng Sự chấn chỉnh trật tự xã hội sẽ làm cho hành vi của các cá nhân, các nhóm vào các khuôn mẫu đã được xã hội thừa nhận là đúng, cần phải làm theo, đẩy các hành
vi lệch lạc vào khuôn phép hay vào một trật tự nhất định
Như vậy, có thể hiểu quản lý nhà nước về trật tự xã hội là hoạt động chấp hành và điều hành của cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các tổ chức xã hội được nhà nước
ủy quyền, được tiến hành trên cơ sở pháp luật để thi hành pháp luật nhằm thực hiện trong cuộc sống hằng ngày các chức năng của nhà nước trong lĩnh vực về trật tự an toàn
xã hội
1.2 Vai trò của quản lý nhà nước trong công tác chấn chỉnh trật tự xã hội
1.2.1 Vai trò của quản lý nhà nước đối với xã hội
Nhà nước là thiết chế quyền lực chính trị của một giai cấp (nhóm giai cấp, tập đoàn) này đối với toàn bộ giai cấp khác trong xã hội, đồng thời còn là quyền lực công đại diện cho lợi ích chung của cộng đồng xã hội nhằm duy trì và phát triển xã hội trước lịch sử và trước các xã hội khác Nhiệm vụ quan trọng nhất của nhà nước đó là phải bảo
vệ được cuộc sống an toàn cho nhân dân, đảm bảo dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Chính vì thế, nhà nước cần có sự quản lý nhằm đưa xã hội vào trật tự, khuôn khổ theo quy định của pháp luật
Quản lý nhà nước đối với xã hội là sự tác động liên tục, có hướng đích theo các đặc trưng đã định bằng pháp quyền của bộ máy nhà nước đối với xã hội, nhằm thực hiện đường lối, chiến lược, mục tiêu đã định, nhằm ổn định trật tự xã hội và phát triển xã hội theo định hướng của Đảng và Nhà nước Chính vì thế, việc nhà nước quản lý xã hội
có vai trò hết sức quan trọng, thông qua các công cụ quản lý (chủ yếu là pháp luật) nhà
Trang 25nước duy trì, bảo đảm ổn định trật tự xã hội và sử dụng các phương pháp, biện pháp để duy trì ổn định trật tự xã hội, nhằm đảm bảo, giữ gìn độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia; cuộc sống an toàn, ổn định cho mọi công dân, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
1.2.2 Vai trò của quản lý nhà nước trong chấn chỉnh trật tự xã hội
1.2.2.1 Xuất phát yêu cầu xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, đảm bảo môi trường xã hội trong sạch, lành mạnh
Sau gần 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung Ương 5 khóa VIII, sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đã có chuyển biến tích cực, đạt kết quả quan trọng Tư duy lý luận về văn hóa có bước phát triển; nhận thức về văn hóa của các cấp, các ngành và toàn dân được nâng lên Đời sống văn hóa của nhân dân ngày càng phong phú, nhiều giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc được phát huy, nhiều chuẩn mực văn hóa, đạo đức mới được hình thành Nhiều phong trào, hoạt động văn hóa đạt được những kết quả cụ thể, thiết thực; phát huy được truyền thống văn hóa gia đình, dòng họ, cộng đồng, Xã hội hóa hoạt động văn hóa ngày càng được mở rộng, góp phần đáng kể vào việc xây dựng các thiết chế văn hóa Công tác quản lý nhà nước về văn hóa được tăng cường, thể chế văn hóa từng bước được hoàn thiện Đội ngũ làm công tác văn hóa, văn nghệ có bước trưởng thành; quyền tự do sáng tạo của văn nghệ sĩ được tôn trọng Giao lưu và hợp tác quốc tế về văn hóa có nhiều khởi sắc
Tuy nhiên, so với những thành tựu trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, thành tựu trong lĩnh vực văn hóa chưa tương xứng; chưa đủ để tác động
có hiệu quả xây dựng con người và môi trường văn hóa lành mạnh Tình trạng suy thoái
về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng và trong xã hội có chiều hướng gia tăng Đời sống văn hóa tinh thần ở nhiều nơi còn ngh o nàn, đơn điệu Môi trường văn
Trang 26hóa còn tồn tại tình trạng thiếu lành mạnh, ngoại lai, trái với thuần phong mỹ tục; tệ nạn
xã hội, tội phạm có chiều hướng gia tăng,… Chính vì thế, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững
và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh là một yêu cầu cấp thiết hiện nay
Chăm lo xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, trọng tâm là bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo đức, lối sống và nhân cách Tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật, mọi người Việt Nam đều
hiểu biết sâu sắc, tự hào, tôn vinh lịch sử, văn hóa dân tộc Đồng thời, hướng các hoạt
động văn hóa, giáo dục, khoa học vào việc xây dựng con người có thế giới quan khoa học, hướng tới chân – thiện – mỹ Gắn xây dựng, r n luyện đạo đức với thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Nâng cao trí lực, bồi dưỡng tri thức cho con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, của kinh tế tri thức và xã hội học tập Đúc kết và xây dựng hệ giá trị chuẩn của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
hội nhập quốc tế
Xây dựng và phát huy lối sống "Mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người"; hình thành lối sống có ý thức tự trọng, tự chủ, sống và làm việc theo Hiến pháp
và pháp luật, bảo vệ môi trường; kết hợp hài hòa tính tích cực cá nhân và tính tích cực
xã hội; đề cao trách nhiệm cá nhân đối với bản thân, gia đình và xã hội Khẳng định, tôn vinh cái đúng, cái tốt đẹp, tích cực, cao thượng; nhân rộng các giá trị cao đẹp, nhân văn
Trang 27Đấu tranh phê phán, đẩy lùi cái xấu, cái ác, thấp h n, lạc hậu; chống các quan điểm, hành vi sai trái, tiêu cực ảnh hưởng xấu đến xây dựng nền văn hóa, làm tha hóa con người Có giải pháp khắc phục những mặt hạn chế của con người Việt Nam
Thực hiện chiến lược phát triển gia đình Việt Nam, xây dựng gia đình thực sự là nơi hình thành, nuôi dưỡng nhân cách văn hóa và giáo dục nếp sống cho con người Phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh Xây dựng và nhân rộng các mô hình gia đình văn hóa tiêu biểu, có nền nếp, ông bà, cha
mẹ mẫu mực, con cháu hiếu thảo, vợ chồng hòa thuận, anh chị em đoàn kết, thương yêu nhau Xây dựng mỗi trường học phải thực sự là một trung tâm văn hóa giáo dục, r n luyện con người về lý tưởng, phẩm chất, nhân cách, lối sống; giáo dục truyền thống văn hóa cho thế hệ trẻ Xây dựng đời sống văn hóa ở địa bàn dân cư, các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đoàn kết, dân chủ, văn minh, đạt chuẩn thực chất về văn hóa; thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở; xây dựng nếp sống văn hóa tiến bộ, văn minh, nhất là trong việc cưới, việc tang, lễ hội Nâng cao chất lượng, hiệu quả các cuộc vận động văn hóa, phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa"
Gắn các hoạt động văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng,
an ninh, với chương trình xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh Từng bước thu hẹp khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa các vùng miền, giữa các giai tầng xã hội, giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi, vùng sâu, vùng xa Xây dựng, hoàn thiện đi đôi với nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hóa Tạo điều kiện để nhân dân chủ động tổ chức các hoạt động văn hóa cộng đồng
1.2.2.2 Xuất phát từ tình hình thực tiễn phòng, chống, bài trừ các tệ nạn xã hội
Trang 28Tệ nạn xã hội là những hành vi vi phạm pháp luật nhưng chưa phải là tội phạm, là những thói hư tật xấu, trái với thuần phong mỹ tục, đạo đức của dân tộc do nhiều người mắc phải gây tác hại đến đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân Từ góc độ khác, có thể hiểu tệ nạn xã hội là hiện tượng xã hội bao gồm những hành vi sai lệch chuẩn mực
xã hội có tính phổ biến tác động xấu đến đạo đức và gây hậu quả nghiêm trọng trong đời sống con người
Xét về bản chất, tệ nạn xã hội là những hành vi “lệch chuẩn” xã hội của các cá nhân, các nhóm xã hội cần phải loại bỏ; đồng thời là một hiện tượng xã hội tiêu cực dễ lây lan và lây lan rất nhanh trong cộng đồng; hình thức rất đa dạng, phong phú, luôn biến đổi, phát triển; gây tác hại lớn cho cộng đồng trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, sức khỏe
Tệ nạn xã hội còn là nguồn gốc của lối sống ăn chơi buông thả trong các tầng lớp thanh thiếu niên do không tự kiềm chế được những nhu cầu không lành mạnh, làm mất dần tính văn hóa và trí tuệ Đồng thời nó làm cho những quan hệ thân thương trong gia đình trở thành thù hận, gây tang thương, chết chóc, có nhiều gia đình tan nát vì ma túy, mại dâm, cờ bạc, Ngoài ra, tệ nạn xã hội còn gây ảnh hưởng rất lớn đến tương lai giống nòi của dân tộc
Cùng với sự phát triển kinh tế và quá trình hội nhập, giới trẻ tiếp cận ngày càng nhiều các luồng văn hóa khác nhau Choáng ngợp trước vật chất, không ít bạn trẻ đắm mình trong những định chuẩn “ảo” Hờ hững với những giá trị truyền thống, những người trẻ tìm cách đốt cháy mình trong các cuộc chơi sa đọa - đặc trưng bởi thuốc lắc, tình dục và cuồng loạn Môi trường lý tưởng nhất cho những cuộc chơi như thế là các cơ
sở kinh doanh dịch vụ “nhạy cảm” - những nơi sẵn sàng cổ súy cho người lớn sa ngã và
sự dại dột của tuổi thiếu thời Thực trạng này đã dấy lên mối quan ngại của toàn xã hội
Trang 291.2.2.3 Xuất phát từ yêu cầu nâng cao vai trò, sức mạnh của nhà nước chuyên chính vô sản trong việc thực hiện các chức năng xã hội vốn có
Chức năng chủ yếu của chuyên chính vô sản là thực hiện dân chủ đối với nhân dân, tổ chức xây dựng và bảo vệ chế độ Chủ nghĩa Mác – Lênin đã nêu rõ: giữa xã hội
tư bản với xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia Thích ứng với thời kỳ ấy là thời kỳ quá độ chính trị và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản Nền tảng của cách mạng vô sản là liên minh công nông, trong đó giai cấp công nhân thông qua đảng tiên phong của mình giữ vai trò lãnh đạo Chuyên chính vô sản là một hình thức tổ chức nhà nước kiểu mới, là hình thức chuyên chính mang tính giai cấp cuối cùng, có sứ mệnh xóa bỏ giai cấp, tiến tới xã hội không còn giai cấp, chuyên chính vô sản có nhiều hình thức khác nhau, thích ứng với những điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau, nhưng tựu chung vẫn là quyền lực của giai cấp vô sản, của người nhân dân lao động
Bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa (nhà nước chuyên chính vô sản) trước hết
nó mang bản chất giai cấp công nhân Nhưng giai cấp công nhân lại là giai cấp thuộc
nhân dân lao động mà ra, đại biểu phương thức sản xuất mới, hiện đại, gắn với và đại biểu cho lợi ích của toàn thể nhân dân lao động và dân tộc, do vậy nhà nước xã hội chủ
nghĩa vừa có bản chất giai cấp công nhân, vừa có tính nhân dân rộng rãi và tính dân
tộc sâu sắc (giống như bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa)
Chức năng giai cấp của nhà nước vô sản được thực hiện cả bằng việc thực hiện có hiệu quả công tác tổ chức, xây dựng toàn diện xã hội mới, cả bằng việc sử dụng những công cụ bạo lực đã có trong tay để đập tan sự phản kháng của kẻ thù giai cấp chống lại công cuộc tổ chức, xây dựng đó Khi đề cập tới sự cần thiết phải sử dụng phương thức thứ hai vừa nêu, Các Mác cho rằng: “sở dĩ giai cấp vô sản cần sử dụng công cụ bạo lực
Trang 30để bảo vệ thành quả cách mạng của mình vì chính giai cấp tư sản không cần đắn đo trong việc sử dụng những biện pháp cứng rắn nhất nhằm khôi phục lại trật tự tư bản chủ nghĩa của chúng” [26;118-124] Tiếp tục phát triển lý luận về chuyên chính vô sản trong thời kỳ trực tiếp lãnh đạo quá trình xây dựng xã hội mới trong điều kiện có sự chống đối mạnh mẽ tới mức nội chiến do lực lượng phản cách mạng gây ra, V.I.Lênin đã nhấn mạnh sự cần thiết phải thực hiện cưỡng bức như là lý do tồn tại của nhà nước nhằm chuyển từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn xuất phát từ thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam, vận dụng sáng tạo các quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin; đồng thời, nghiên cứu, tiếp thu có chọn
lọc tinh hoa của nhân loại, bao gồm các tư tưởng tích cực, tiến bộ về nhà nước pháp quyền, tổ chức nhà nước và kinh nghiệm áp dụng các học thuyết đó của các nước trên thế giới để đưa vào thử nghiệm và từng bước xây dựng, hoàn thiện ở Việt Nam Đây là quá trình tìm tòi, nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc, không sao chép, rập khuôn, giáo điều
mà luôn luôn sáng tạo để vận dụng một cách linh hoạt vào thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam
Đặc biệt, từ sau Đại hội VI của Đảng (1986) đến nay, tư tưởng về Nhà nước pháp quyền được thể hiện trong các văn kiện của Đảng, phản ánh quá trình nhận thức ngày càng đúng đắn, đầy đủ, cụ thể và toàn diện hơn về xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Với quan điểm Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân, mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, Nhà nước tôn trọng, thực hiện và bảo vệ quyền con người, tất
cả vì hạnh phúc của con người Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật và bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp và pháp luật trong đời sống xã hội
Trang 31Trong thời đại ngày nay, khi mà những tiến bộ, những thành tựu của khoa học kỹ thuật đã làm cho sự phát triển toàn diện của mỗi cá nhân trở thành một tất yếu như Mác
đã từng tiên đoán thì xu hướng chung của các Nhà nước trên thế giới là xác định lại vai trò của mình trong xã hội, từ đó Nhà nước hướng các hoạt động vào các lĩnh vực của đời sống xã hội, vì sự phát triển toàn diện của con người Do đó, vấn đề chức năng xã hội của Nhà nước đang trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực khoa học (chính trị, pháp lý), trở thành mối quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong các chế độ Nhà
nước khác nhau
Một trong những nội dung cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là phải củng cố và phát huy bản chất dân chủ, phát huy vai trò của Nhà nước trong việc bảo đảm các quyền tự do, dân chủ của nhân dân, nhân dân là chủ nhân của xã hội và Nhà nước là tổ chức công quyền phục vụ nhân dân, đảm bảo cho xã hội ngày ổn định và phát triển
1.3 Mục đích của quản lý Nhà nước về chấn chỉnh trật tự xã hội
Quản lý nhà nước về chấn chỉnh trật tự xã hội, như đã phân tích, là một bộ phận trong quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, vì vậy, mục đích của công tác này cũng phải được định hướng và nhằm góp phần thực hiện mục đích chung Mục tiêu cụ thể của quản lý nhà nước về chấn chỉnh trật tự xã hội là nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ bảo vệ
an toàn các cơ quan nhà nước, các tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật và các kỷ cương xã hội, đấu tranh có hiệu quả đối với tình trạng phạm tội, với các vi phạm pháp luật và các loại tệ nạn xã hội, giữ cho xã hội luôn luôn ở trong trạng thái bình yên, trật tự, nề nếp
kỷ cương,
Đại hội lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định :
Trang 32“Mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững chủ quyền biển đảo, biên giới, vùng trời; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững ổn định chính trị, trật
tự, an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống mang tính toàn cầu, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống Tăng cường tuyên truyền, giáo dục tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc, trách nhiệm và nghĩa vụ bảo
vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia và kiến thức quốc phòng, an ninh, làm cho mọi người hiểu rõ những thách thức lớn tác động trực tiếp đến nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới như : chiến tranh bằng vũ khí công nghệ cao, tranh chấp chủ quyền biển đảo, vùng trời, “diễn biến hòa bình”, bạo loạn chính trị, khủng bố, tội phạm công nghệ cao, tội phạm xuyên quốc gia, hối lộ và tham nhũng của các quan chức cấp cao Tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh cả về tiềm lực và thế trận; xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững mạnh; xây dựng thế trận lòng dân vững chắc trong thực hiện chiến
lược bảo vệ Tổ quốc” [20; 233]
Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo trực tiếp, toàn diện, tuyệt đối sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội, vì vậy, Nghị quyết của Đảng là định hướng cho việc xác định mục đích công tác quản lý nhà nước trên mọi lĩnh vực trong giai đoạn hiện nay, trong đó có quản lý nhà nước về chấn chỉnh trật tự xã hội
Cụ thể, trong các lĩnh vực chủ yếu của đời sống, công tác quản lý nhà nước về chấn chỉnh trật tự xã hội hiện nay có mục đích như sau :
Về chính trị : Giữ vững sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự vững chắc
của chế độ chính trị Xã hội chủ nghĩa và tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đối với lĩnh vực trật tự an toàn xã hội,
Trang 33Về kinh tế – xã hội : Đảm bảo sự ổn định và phát triển các thành phần kinh tế - xã hội
theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, phòng ngừa, ngăn chặn và đấu tranh với những hoạt động tội phạm và những vi phạm pháp luật trên lĩnh vực kinh tế
Về tư tưởng văn hóa : Bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cùng
những giá trị trong truyền thống và bản sắc dân tộc, phát hiện kịp thời và có những biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh với hoạt động tội phạm, tệ nạn xã hội và những
vi phạm pháp luật trên lĩnh vực này
Về đối ngoại : Góp phần tích cực trong thực hiện chính sách đối ngoại độc lập,
tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa của Đảng, củng cố và nâng cao vị thế của Việt Nam trên Thế giới
Về an ninh quốc phòng : Xây dựng vững chắc nền an ninh nhân dân và thế trận an
ninh nhân dân gắn với nền quốc phòng toàn dân và thế trận quốc phòng toàn dân xây dựng lực lượng Công an nhân dân và Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy tinh nhuệ, hiện đại Chống âm mưu của các thế lực thù địch, phi chính trị hóa và chia rẽ lực lượng vũ trang
1.4 Nội dung quản lý nhà nước về chấn chỉnh trật tự xã hội
1.4.1 Quản lý nhà nước về đấu tranh phòng, chống tội phạm
Đấu tranh phòng, chống tội phạm là việc tiến hành các biện pháp loại trừ nguyên nhân, điều kiện của tội phạm; phát hiện để ngăn chặn kịp thời các hành vi phạm tội, hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả, tác hại do tội phạm gây ra cho xã hội; điều tra khám phá tội phạm và người phạm tội để đưa ra xử lý trước pháp luật đảm bảo đúng người, đúng tội; giáo dục, cải tạo người phạm tội giúp họ nhận thức được lỗi lầm và cố gắng cải tạo tốt, có thể tái hòa nhập cộng đồng xã hội, trở thành người lương thiện, sống có ích cho
xã hội
Trang 341.4.2 Quản lý hành chính về trật tự xã hội
Quản lý hành chính về trật tự xã hội là hoạt động chấp hành và điều hành của các
cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội được nhà nước ủy quyền, được tiến hành chủ yếu bằng pháp luật và các phương tiện khác để thực hiện các nhiệm vụ của nhà nước quản lý hành chính về trật tự xã hội
Quản lý hành chính nhà nước về trật tự xã hội có phạm vi rộng lớn bao gồm : quản lý việc cấp phát, quản lý giấy chứng minh nhân dân và các loại giấy tờ khác; quản
lý công tác đăng ký, quản lý hộ khẩu; quản lý vũ khí, vật liệu nổ; quản lý các ngành nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự; quản lý các dịch vụ bảo vệ
1.4.3 Quản lý nhà nước về giữ gìn trật tự nơi công cộng
Trật tự công cộng là trạng thái xã hội có trật tự, được hình thành và điều chỉnh bởi các quy tắc, quy phạm nhất định ở những nơi công cộng mà mọi người phải tuân theo Trật tự công cộng là một mặt của trật tự, an toàn xã hội và có nội dung bao gồm những quy định chung về trật tự, yên tĩnh, vệ sinh, nếp sống văn minh; sự tuân thủ những quy định của pháp luật và phong tục, tập quán, sinh hoạt được mọi người thừa nhận Giữ gìn trật tự nơi công cộng chính là giữ gìn trật tự, yên tĩnh chung, giữ gìn vệ sinh chung, duy trì nếp sống văn minh ở những nơi công cộng, nơi diễn ra các hoạt động chung của nhiều người, đảm bảo sự tôn trọng lẫn nhau trong lao động, sinh hoạt, nghỉ ngơi của mọi người
1.4.4 Quản lý nhà nước về phòng cháy, chữa cháy
Đây là biện pháp quản lý hành chính của nhà nước được thực hiện thông qua việc điều hành và chấp hành của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trên cơ sở Luật Phòng cháy và chữa cháy nhằm bảo đảm an toàn về phòng cháy, chữa cháy, góp phần đảm bảo
Trang 35an ninh, trật tự Nội dung quản lý nhà nước về phòng cháy, chữa cháy bao gồm : ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về phòng cháy, chữa cháy; tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về phòng cháy, chữa cháy; tổ chức kiểm tra, hướng dẫn việc chấp hành các qui định an toàn về cháy, nổ trong các cơ quan, tổ chức, khu dân cư; tham gia thẩm tra, xét duyệt luận chứng kỹ thuật, thỏa thuận thiết kế và thiết bị trước khi thi công công trình, giải quyết, xử lý các vi phạm về an toàn cháy, nổ
Lực lượng công an tiến hành tuyên truyền để mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân nắm được quyền và nghĩa vụ về công tác phòng cháy, chữa cháy và có ý thức chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về công tác này Cần phải thường xuyên kiểm tra các quy định
an toàn về phòng cháy, chữa cháy tại các cơ quan, xí nghiệp và tại các nhà dân Kịp thời tìm hiểu nguyên nhân và điều kiện gây cháy để có biện pháp phòng ngừa, tổ chức cứu
chữa khi có vụ cháy xảy ra
1.4.5 Quản lý Nhà nước về đảm bảo trật tự an toàn, giao thông
Trật tự an toàn, giao thông là trạng thái xã hội có trật tự được hình thành và điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực giao thông, vận tải công cộng mà mọi người phải tuân theo khi tham gia giao thông, nhờ đó đảm bảo cho hoạt động giao thông thông suốt, có trật tự, an toàn, hạn chế đến mức thấp nhất tai nạn giao thông gây thiệt hại
về người và tài sản Đảm bảo trật tự an toàn, giao thông không phải là nhiệm vụ của riêng các lực lượng chức năng (cảnh sát giao thông, thanh tra giao thông công chánh, )
mà là trách nhiệm của tất cả mọi người khi tham gia giao thông Điều đó thể hiện ở việc nắm vững và tuân thủ nghiêm túc luật giao thông, mọi hành vi vi phạm pháp luật về trật
tự an toàn, giao thông phải được xử lý nghiêm khắc Mặt khác, cơ quan chức năng cùng nhân dân kịp thời phát hiện những thiếu sót, yếu kém trong công tác quản lý, điều hành
Trang 36cũng như những nguyên nhân, điều kiện khác gây cản trở, gia tăng tình trạng tai nạn giao thông và đề xuất biện pháp, giải pháp khắc phục
Quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông là hệ thống các biện pháp quản lý của nhà nước do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo qui định của pháp luật, có sự tham gia của các đoàn thể, tổ chức xã hội và công dân, nhằm bảo đảm cho hoạt động giao thông luôn ổn định, trật tự, thông suốt và an toàn, góp phần phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật trên lĩnh vực giao thông vận tải, bảo đảm quyền và lợi ích của mọi công dân khi tham gia giao thông
1.4.6 Quản lý nhà nước về phòng chống ma túy và bài trừ các loại tệ nạn xã hội
Tệ nạn xã hội là hiện tượng xã hội bao gồm những hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội, có tính phổ biến (từ các hành vi vi phạm những nguyên tắc về lối sống, truyền thống văn hóa, đạo đức, trái với thuần phong mỹ tục, các giá trị xã hội tốt đẹp cho đến các hành vi vi phạm những quy tắc đã được thể chế hóa bằng pháp luật, kể cả pháp luật hình sự) ảnh hưởng xấu về đạo đức và gây hậu quả nghiêm trọng trong đời sống cộng đồng
Tệ nạn xã hội bao gồm : mại dâm, nghiện ma túy, cờ bạc, mê tín dị đoan, Tệ nạn
xã hội là cơ sở xã hội của tình trạng phạm tội, là một trong những nguồn gốc phát sinh tội phạm, liên quan đến vấn đề trật tự an toàn xã hội Phòng, chống tệ nạn xã hội là nhiệm vụ của toàn xã hội, phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, bằng những biện pháp đồng bộ, tích cực, kiên quyết và triệt để
Trang 37Kết luận chương 1
An ninh quốc gia cùng với trật tự an toàn xã hội tạo nên sự ổn định, phát triển bền vững của đất nước, là hàng rào an toàn trước những nguy cơ tấn công từ mọi phía, bằng mọi thủ đoạn của các thế lực thù địch với Việt Nam, đồng thời góp phần củng cố vị thế của nước ta trên trường quốc tế Giữ cho xã hội được an toàn, có trật tự, kỷ cương cũng
có nghĩa là tạo được môi trường sống yên ổn, góp phần đảm bảo cuộc sống vui vẻ, lành mạnh, hạnh phúc cho mọi người, vì vậy đây cũng là lĩnh vực được quần chúng quan tâm
và sẵn sàng tham gia Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, do đó, giữ gìn trật tự an toàn xã hội cũng là nhiệm vụ chung của toàn Đảng, toàn dân ta, trong đó lực lượng Công
an nhân dân có vai trò là nòng cốt, xung kích Bước vào thời kỳ mới, nhiệm vụ bảo vệ
An ninh quốc gia, giữ gìn Trật tự an toàn xã hội lại càng quan trọng Tình hình chính trị, kinh tế trên thế giới diễn biến phức tạp, khó lường; những khó khăn trong nước do tác động từ bên ngoài và cả những tồn tại từ những giai đoạn trước để lại đã bộc lộ và tác động tiêu cực đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Xã hội chủ nghĩa hiện nay Cộng vào đó, tình hình tội phạm, tệ nạn xã hội còn diễn biến phức tạp, có mặt, những lĩnh vực đang có chiều hướng gia tăng, gây lo ngại, bức xúc xã hội, Vì thế, cần nhận thức sâu sắc hơn nữa rõ về vai trò, ý nghĩa quan trọng của việc chấn chỉnh trật tự xã hội, góp phần đắc lực vào sự nghiệp bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Ðảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ Xã hội chủ nghĩa
Trang 38Chương 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÔNG TÁC CHẤN CHỈNH TRẬT TỰ XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH 2.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội, hệ thống chính trị Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Quận 1 ở vị trí trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh, diện tích 7.721,1 km2, dân số 186.345 người Cơ cấu hành chính : Có 10 phường, 66 khu phố, 914 tổ dân phố Phía bắc giáp Quận Bình Thạnh, Quận Phú Nhuận, lấy rạch Thị Nghè làm ranh giới và giáp Quận 3, lấy đường Hai Bà Trưng và Nguyễn Thị Minh Khai làm ranh giới Phía đông giáp Quận 2, lấy sông Sài Gòn làm ranh giới Phía tây giáp Quận 5 Quận 10, lấy đường Nguyễn Văn Cừ làm ranh giới Phía nam giáp Quận 4, lấy rạch Bến Nghé làm ranh giới
2.1.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
- Về kinh tế : Kinh tế Quận 1 phát triển theo hướng chuyển dịch sang thương mại
dịch vụ, đến năm 2012 thương mại dịch vụ chiếm 89,88% Hiện nay Quận 1 có 18.000
hộ kinh doanh, 8.900 doanh nghiệp, 20 hợp tác xã, 45 công ty chứng khoán, 05 công ty tài chính, 327 cơ sở kinh doanh vàng bạc, đá quý, 148 ngân hàng (cả hội sở và chi nhánh), có 14 siêu thị và 13 trung tâm thương mại, 69 cửa hàng văn minh tiện lợi Đặc biệt các cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hóa và có liên quan đến lĩnh vực văn hóa chiếm khoảng 30% tổng doanh nghiệp và hộ kinh doanh trên địa bàn
Quận 1 tạo mọi điều kiện để phát triển các thành phần kinh tế, tổ chức các cuộc gặp gỡ, đối thoại doanh nghiệp để giải quyết những khó khăn, vướng mắc của doanh
Trang 39nghiệp, tạo mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, chính quyền với dân và doanh nghiệp Hằng năm tổ chức khen thưởng, biểu dương những cá nhân và doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, đóng góp lớn cho ngân sách nhà nước, qua đó vận động các doanh nghiệp cùng với Đảng và chính quyền tham gia công tác xã hội, chăm lo đời sống nhân dân Các hoạt động kinh tế tiếp tục tăng trưởng bền vững, thu ngân sách năm 2013 đạt hơn 5.000 tỷ đồng
- Về văn hóa xã hội : Quận 1 có 49.612 hộ, dân số 186.345 người, là địa bàn đa
dạng về tôn giáo và dân tộc, trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số với 166.742 người
(chiếm tỷ lệ 89,6%) Ngoài ra, do địa bàn là đô thị trung tâm, Quận 1 còn là nơi tập
trung đông đảo nhân dân từ khắp mọi miền đất nước đến làm việc và sinh sống Đồng thời, lượng khách du lịch quốc tế đến Quận 1 tham quan, mua sắm ước trên 04 triệu lượt khách/năm
Cùng với thành tựu to lớn đạt được về kinh tế, Quận 1 cũng tự hào là vùng đất có bề dày lịch sử, văn hóa mà dấu ấn còn ghi lại trên các di tích, các công trình kiến trúc Quận 1
có 01 di tích cấp Quốc gia đặc biệt (Dinh Thống Nhất – trước 30/4/1975 là Dinh Độc Lập,
là nơi làm việc cao nhất của Tổng thống và nội các Chính phủ nước Việt Nam Cộng Hòa thuộc miền Nam Việt Nam trước đây), 07 di tích cấp quốc gia (05 di tích lịch sử, 02 di tích kiến trúc), 03 di tích cấp thành phố, 33 công trình tiêu biểu dự kiến xếp hạng và đề nghị bảo tồn Hệ thống thiết chế văn hóa tại Quận 1 được tận hưởng từ các công trình của thành phố như Nhà hát Thành phố, các sân khấu kịch, các trung tâm, Riêng quận đã quan tâm đầu tư phát triển thêm các điểm sinh hoạt văn hóa như Nhà hát Bến Thành, Nhà thiếu nhi, Nhà thi đấu Nguyễn Du, tạo điều kiện để người dân hưởng thụ tốt nhất đời sống văn hóa tinh thần Đồng thời, quận cũng tập trung nhiều giải pháp chăm lo an sinh xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân
2.1.2 Hệ thống chính trị
Trang 40Đảng bộ Quận 1 hiện có 52 tổ chức cơ sở đảng với 7.298 đảng viên, trong đó có
01 đảng bộ doanh nghiệp với 41 chi bộ và 458 đảng viên; bộ máy chính quyền quận có
12 phòng ban, 01 đội quản lý trật tự đô thị, 55 đơn vị sự nghiệp, các chợ và 10 phường với hơn 5.000 cán bộ công chức, viên chức Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các
tổ chức thành viên với 111.622 hội viên, đoàn viên Ngoài ra, quận cũng có các tổ chức
xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp như : Hội luật gia, Hội doanh nghiệp, Hội khuyến học, cùng tham gia thực hiện các nhiệm vụ chính trị và phục vụ nhân dân
Công tác xây dựng Đảng, chính quyền và các tổ chức quần chúng tại Quận 1 thường xuyên được kiện toàn Công tác quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được tập trung chỉ đạo Đặc biệt công tác bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tuyên giáo, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên cấp quận và cơ sở trong những năm gần đây được tập trung quan tâm chấn chỉnh Đây là điều kiện thuận lợi để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng và đảng viên trong công tác đấu tranh phòng chống các biểu hiện lệch lạc về chính trị tư tưởng và các hiện tượng tiêu cực xã hội khác
Tất cả các đặc điểm về vị trí địa lý, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội nêu trên đã tác động không nhỏ đến hiệu quả tuyên truyền phòng chống tệ nạn xã hội trong các cơ
sở kinh doanh dịch vụ văn hóa tại Quận 1 Sự tác động này thể hiện ở một số vấn đề như sau :
- Đô thị trung tâm, du lịch, kinh tế phát triển, là đầu mối giao lưu văn hóa xã hội của cả nước, Quận 1 tiếp cận được mọi nguồn nhân lực, tài lực để tiếp tục phát triển, nhưng đồng thời cũng đối diện với áp lực đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, trong đó công tác phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng
- Đời sống vật chất tinh thần của người dân từng bước được nâng cao, ngày càng
có điều kiện tiếp thu nhiều giá trị văn hóa, hoạt động vui chơi giải trí và khoa học kỹ