1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ trung quốc hàn quốc từ 1992 đến 2013

140 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan hệ Trung Quốc - Hàn Quốc từ 1992 đến 2013
Tác giả Nguyễn Thị Anh
Người hướng dẫn TS. Nguyễn - Ệ
Trường học Trường Đại học Chính trị Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử thế giới
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 3. ối tượng và phạm vi nghiên cứu (12)
  • 4. Nguồn tư liệu (12)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (13)
  • 6. óng góp của đề tài (13)
  • 7. Bố cục của đề tài (14)
  • B. NỘI DUNG (15)
  • hương 1. NHỮNG NHÂN TỐ Á Ộ ẾN QUAN HỆ (15)
    • 1.1. Tình hình quốc tế và khu vực (15)
      • 1.1.1. Tình hình quốc tế (15)
      • 1.1.2. Tình hình khu vực ông ắc và bán đảo Triều Tiên (0)
    • 1.2. Quan hệ giữa Trung Quốc và Hàn Quốc trước năm 1992 (24)
    • 1.3. Tình hình mỗi nước và chính sách đối ngoại của Trung Quốc, Hàn Quốc từ 1992 đến 2013 (27)
      • 1.3.1. Tình hình và chính sách đối ngoại của Trung Quốc từ 1992 đến 2013 (27)
      • 1.3.2. Tình hình và chính sách đối ngoại của Hàn Quốc từ 1992 đến 2013 (32)
  • hương 2. NHỮNG NỘI DUNG CHỦ YẾU TRONG QUAN HỆ (40)
    • 2.1. Quan hệ chính trị - ngoại giao và quân sự, an ninh (40)
      • 2.1.1. Quan hệ chính trị - ngoại giao (40)
      • 2.1.2. Quan hệ quân sự, an ninh (57)
      • 2.3.2. Trong lĩnh vực giáo dục (83)
      • 2.3.3. Trong lĩnh vực khoa học - kỹ thuật (86)
  • hương 3. MỘT SỐ NH N XÉT VỀ QUAN HỆ TRUNG QUỐC - HÀN QUỐC TỪ 1992 ẾN 2013 (90)
    • 3.1. Những thành tựu và hạn chế của quan hệ Trung Quốc - Hàn Quốc từ 1992 đến 2013 (90)
      • 3.1.1. Thành tựu (90)
      • 3.1.2. Hạn chế (94)
    • 3.2. Tác động của mối quan hệ Trung Quốc - Hàn Quốc từ 1992 đến 2013 (0)
      • 3.2.1. ối với Trung Quốc (0)
      • 3.2.2. ối với Hàn Quốc (0)
      • 3.2.3. ối với khu vực ông ắc Á (0)
    • 3.3. Triển vọng của quan hệ Trung Quốc - Hàn Quốc (108)
    • C. KẾT LU N (110)
    • D. TÀI LIỆU THAM KHẢO (114)

Nội dung

ối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mối quan hệ giữa Trung Quốc và Hàn Quốc từ năm 1992 đến năm 2013, trong đó tập trung vào các lĩnh vực chính trị - ngoại giao, quân sự, an ninh, kinh tế, văn hóa, giáo dục và khoa học - kỹ thuật Mối quan hệ này phản ánh sự phát triển đa chiều và phức tạp giữa hai quốc gia trong giai đoạn lịch sử quan trọng, góp phần làm rõ các yếu tố thúc đẩy hoặc cản trở sự hợp tác song phương Các lĩnh vực hợp tác và xung đột trong mối quan hệ Trung Quốc - Hàn Quốc được phân tích để hiểu rõ hơn về ảnh hưởng của các yếu tố chính trị, kinh tế và chiến lược trong bối cảnh quốc tế.

Về mặt thời gian: từ khi hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao (năm 1992) đến năm 2013

Chúng tôi tập trung nghiên cứu mối quan hệ Trung Quốc - Hàn Quốc trên các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, quân sự, an ninh, kinh tế, văn hóa, giáo dục và khoa học kỹ thuật để hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến quan hệ hai nước Để đảm bảo phân tích toàn diện, chúng tôi cũng xem xét bối cảnh quốc tế và khu vực tác động đến mối quan hệ này, cùng chính sách đối ngoại của cả hai quốc gia để cung cấp cái nhìn đầy đủ và chính xác.

Quan hệ văn hóa ở đây chúng tôi tập trung vào báo chí, xuất bản, thể dục - thể thao, du lịch và các hoạt động chuyên biệt khác.

Nguồn tư liệu

ể thực hiện được đề tài này, chúng tôi dựa vào các nguồn tư liệu sau:

- Tài liệu tổng hợp: các sách chuyên khảo về lịch sử thế giới, lịch sử quan hệ quốc tế, lịch sử Trung Quốc, lịch sử Hàn Quốc

Các tạp chí nghiên cứu đáng chú ý bao gồm Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á và Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản, cùng với các tài liệu từ Thông tấn xã Việt Nam Những nguồn này cung cấp các bài viết chuyên sâu về các vấn đề khu vực và quốc tế, góp phần nâng cao hiểu biết về chính trị, kinh tế và văn hóa của Đông Bắc Á và Trung Quốc Việc tham khảo các tạp chí này giúp các nhà nghiên cứu cập nhật các xu hướng mới nhất và phân tích sâu sắc các sự kiện trong khu vực Trong bối cảnh nghiên cứu đa dạng và phong phú, các nguồn này đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy các nghiên cứu học thuật và cung cấp thông tin chính xác, có giá trị cho cộng đồng nghiên cứu Việt Nam và quốc tế.

- Các công trình nghiên cứu, báo cáo của các học giả trong và ngoài nước

- ác tư liệu từ một số website có độ tin cậy cao.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài lịch sử đòi hỏi tổng hợp các sự kiện trong quá khứ, xem xét tình hình hiện tại và dự đoán xu hướng tương lai Phương pháp lịch sử và phương pháp logic là hai công cụ chủ yếu giúp tiếp cận vấn đề một cách xuyên suốt và toàn diện Những phương pháp này cho phép rút ra bản chất, quy luật và xu hướng chung của quá trình phát triển lịch sử một cách rõ ràng và có hệ thống.

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng phương pháp bộ môn và liên môn để sưu tầm, chọn lọc, xử lý số liệu mới, cập nhật mang tính thời sự Phương pháp phân tích và tổng hợp được áp dụng nhằm đánh giá toàn diện các khía cạnh của đề tài, giúp rút ra nhận xét và kết luận chính xác nhất Việc này đảm bảo tính cập nhật và khách quan của nghiên cứu, phù hợp với yêu cầu sử dụng nguồn tư liệu phong phú và đa dạng.

óng góp của đề tài

Nghiên cứu toàn diện và sâu sắc về mối quan hệ Trung Quốc - Hàn Quốc từ 1992 đến 2013 giúp làm rõ những thành tựu, hạn chế và triển vọng trong quan hệ giữa hai nước Luận văn cung cấp nguồn tư liệu quan trọng cho nghiên cứu, giảng dạy lịch sử thế giới, lịch sử quan hệ quốc tế và dành cho những ai quan tâm đến sự phát triển của mối quan hệ Trung Quốc - Hàn Quốc Đây là tài liệu hữu ích giúp hiểu rõ hơn về diễn biến và ảnh hưởng của mối quan hệ song phương trong giai đoạn đầy biến động này.

Kết quả nghiên cứu giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện về các mối quan hệ chiến lược trong giai đoạn hiện nay, từ đó nâng cao hiểu biết về đường lối đối ngoại của các nước nói chung và của Việt Nam nói riêng.

Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Những nhân tố tác động đến quan hệ Trung Quốc - Hàn Quốc từ 1992 đến 2013 Chương 2: Những nội dung chủ yếu trong quan hệ Trung Quốc -

Hàn Quốc từ 1992 đến 2013 Chương 3: Một số nhận xét về quan hệ Trung Quốc - Hàn Quốc từ 1992 đến 2013

NỘI DUNG

1.1 Tình hình quốc tế và khu vực

Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, thế giới chuyển biến nhanh chóng và phức tạp, dẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các quốc gia châu Âu, làm thay đổi căn bản cấu trúc địa chính trị và quan hệ quốc tế Chủ nghĩa xã hội rơi vào thời kỳ thoái trào, phong trào cộng sản và phong trào công nhân toàn cầu rơi vào khủng hoảng sâu sắc và toàn diện Trật tự thế giới hai cực sau Chiến tranh thế giới thứ hai chấm dứt, gây ra sự đảo lộn về cơ cấu quyền lực toàn cầu cũng như phân bố quyền lực ở nhiều khu vực, khiến tương quan lực lượng quốc tế ngày càng thay đổi nhanh chóng.

Quá trình hình thành trật tự thế giới mới đang chịu nhiều yếu tố bất trắc và khó đoán định, nổi bật là sự đối lập giữa Mỹ chủ trương xây dựng trật tự đơn cực và các trung tâm quyền lực như Nga, Trung Quốc, cùng các nước châu Âu đấu tranh vì một thế giới đa cực Trong những năm gần đây, cuộc đấu tranh giữa hai xu hướng “đơn cực” và “đa cực” ngày càng gay gắt, với ưu thế rõ nét thuộc về xu hướng đa cực và đa phương Thực tế của cuộc tranh chấp này thể hiện qua việc các nước lớn như Nga, Pháp kiên quyết phản đối hành động của Mỹ trong Chiến tranh Iraq cũng như căng thẳng trong quan hệ giữa Nga và Mỹ liên quan đến việc NATO mở rộng về phía đông và sự triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa của Mỹ tại châu Âu.

NHỮNG NHÂN TỐ Á Ộ ẾN QUAN HỆ

Tình hình quốc tế và khu vực

Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, tình hình thế giới diễn biến nhanh chóng và phức tạp, gây ra sự thay đổi căn bản trong cấu trúc địa chính trị và quan hệ quốc tế Sự sụp đổ của Chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu khiến trật tự thế giới hai cực tan rã, khuấy đảo cấu trúc quyền lực toàn cầu và các khu vực Chủ nghĩa xã hội đứng trước tình trạng thoái trào, phong trào cộng sản và phong trào công nhân quốc tế rơi vào khủng hoảng sâu sắc và toàn diện Thời kỳ hậu Chiến tranh thế giới thứ hai chứng kiến sự thay đổi nhanh chóng về tương quan lực lượng, làm đảo lộn phân bố quyền lực trên toàn cầu và trong nhiều khu vực.

Trong quá trình hình thành trật tự thế giới mới, có hai xu hướng đối nghịch nổi bật: Mỹ chủ trương xây dựng thế giới đơn cực, còn các trung tâm quyền lực như Nga, Trung Quốc và các nước lớn thuộc Liên minh châu Âu lại đấu tranh vì một trật tự thế giới đa cực Gần đây, cuộc đấu tranh giữa các xu hướng này ngày càng gay gắt, với ưu thế rõ rệt thuộc về xu hướng đa cực và đa phương Các nước lớn như Nga, Pháp kiên quyết phản đối hành động của Mỹ trong chiến tranh Iraq và các căng thẳng liên quan đến NATO mở rộng, phản ánh rõ nét cuộc đấu tranh này Mỹ đã tận dụng ưu thế lực lượng để cố gắng thiết lập “trật tự mới”, thực chất là trật tự thế giới đơn cực do chính Mỹ kiểm soát, nhưng nhiều lần gặp khó khăn do các mâu thuẫn nội tại và phản đối quốc tế Trong bối cảnh đó, Mỹ thực thi các chính sách đơn phương, mang nặng tính vị kỷ trong quan hệ quốc tế, bất chấp phản đối từ các nước lớn và cộng đồng quốc tế, tuy nhiên, do hạn chế về nhiều mặt, Mỹ không dễ dàng áp đặt một trật tự thế giới như mong muốn Những mâu thuẫn giữa các mục tiêu của Mỹ và lợi ích của các quốc gia lớn cũng như nguyện vọng hòa bình, độc lập và phát triển của các dân tộc toàn cầu vẫn là những thách thức quan trọng trong quá trình xây dựng trật tự thế giới mới.

Sau Chiến tranh Lạnh, tính chất và nội dung trong giao lưu quốc tế đã có những chuyển biến rõ rệt, trong đó yếu tố kinh tế đã chiếm vị trí ưu tiên hàng đầu Các hoạt động hợp tác và cạnh tranh quốc tế ngày càng tập trung vào các mục tiêu kinh tế, thúc đẩy thương mại, đầu tư và phát triển kinh tế toàn cầu Điều này phản ánh sự thay đổi trong cách các quốc gia tiếp cận mối quan hệ quốc tế, từ cạnh tranh chính trị sang khai thác lợi ích kinh tế để phát triển bền vững và nâng cao vị thế trên trường quốc tế.

Trong bối cảnh quốc tế hiện đại, phương thức tập hợp lực lượng đã thay đổi mạnh mẽ, chủ yếu dựa trên lợi ích kinh tế - chính trị của các quốc gia Phương thức này ngày càng trở nên linh hoạt, cơ động, vừa hợp tác vừa đấu tranh để thích nghi với điều kiện toàn cầu Việc tập trung quyền lực và hình thành các trung tâm quyền lực mạnh dựa trên sức mạnh kinh tế - chính trị đã thúc đẩy sự mở rộng không gian ảnh hưởng và tăng cường lực lượng của các trung tâm này Điều này đã làm cho cuộc đấu tranh quyền lực toàn cầu ngày càng gay gắt, góp phần hình thành xu hướng đa cực trong quan hệ quốc tế hiện đại.

Trong bối cảnh biến đổi nhanh chóng và phức tạp của tình hình chính trị, an ninh toàn cầu, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ tiếp tục có bước tiến vượt bậc, ảnh hưởng sâu sắc đến nền kinh tế, xã hội và quan hệ quốc tế Các thành tựu của cuộc cách mạng này chủ yếu thuộc về các nước phát triển nhờ vào nền kinh tế mạnh mẽ, tiềm lực khoa học vững chắc và mạng lưới công ty xuyên quốc gia toàn cầu Trong khi đó, các nước đang phát triển gặp nhiều hạn chế, khó tiếp cận các thành tựu công nghệ tiên tiến, thậm chí phải đối mặt với nguy cơ nhận công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường từ các nước phát triển Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại đã thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ và thúc đẩy sự biến đổi sâu sắc trong các lĩnh vực đời sống xã hội.

Cách mạng khoa học - công nghệ đã tạo ra bước ngoặt lịch sử quan trọng với sự hình thành nền kinh tế tri thức, nơi thông tin, tri thức về khoa học, kỹ thuật, công nghệ và quản lý đóng vai trò trung tâm trong phát triển kinh tế Bất kỳ quốc gia nào không chú trọng đến lĩnh vực này đều có nguy cơ tụt hậu xa về mọi mặt và bỏ lỡ cơ hội tham gia toàn diện vào nền kinh tế tri thức thế giới Sang thế kỷ XXI, xu hướng phát triển kinh tế tri thức ngày càng mạnh mẽ, tác động sâu rộng tới các quốc gia, thay đổi căn bản trong đời sống xã hội và vị thế cạnh tranh trên trường quốc tế.

Toàn cầu hóa, đặc biệt về kinh tế, ngày càng phát triển mạnh mẽ và trở thành xu thế khách quan thu hút nhiều quốc gia tham gia Tuy nhiên, quá trình này đang bị chi phối bởi các nước phát triển và tập đoàn xuyên quốc gia, gây ra nhiều mâu thuẫn, vừa mang lại lợi ích vừa tạo ra thách thức Toàn cầu hóa thúc đẩy mối quan hệ liên quốc gia ngày càng sâu rộng về cả chiều rộng lẫn chiều sâu, với tự do hóa kinh tế và cải cách thị trường diễn ra phổ biến trên toàn cầu Các nền kinh tế trở nên phụ thuộc lẫn nhau, liên kết chặt chẽ, tạo điều kiện thúc đẩy hợp tác quốc tế, phân công lao động toàn cầu, góp phần vào tăng trưởng kinh tế Hình thức hợp tác và liên kết kinh tế ngày càng đa dạng và phong phú, thúc đẩy trao đổi văn hóa và tri thức quốc tế, đồng thời tăng cường hiểu biết, tình hữu nghị giữa các dân tộc Đồng thời, toàn cầu hóa còn tạo điều kiện để các lực lượng chính trị thể hiện chính kiến, bảo vệ lợi ích và tập hợp lực lượng nhằm thực hiện các mục tiêu chiến lược của từng quốc gia.

Toàn cầu hóa mang lại cả lợi ích và bất lợi, nhưng những hậu quả này không được chia sẻ đều, dẫn đến gia tăng chênh lệch phát triển giữa các quốc gia và trong nội bộ từng quốc gia Quá trình toàn cầu hóa là một cuộc đấu tranh gay gắt giữa các lợi ích của các thế lực tư bản, đế quốc và sự độc lập, chủ quyền của các quốc gia dân tộc; đồng thời còn diễn ra trong bối cảnh đối lập giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng xã hội, cũng như giữa áp lực của tư bản độc quyền và quyền lựa chọn con đường phát triển phù hợp của các nước đang phát triển Toàn cầu hóa không chỉ là một quá trình kinh tế kỹ thuật mà còn là cuộc đấu tranh xã hội, kinh tế, chính trị và văn hóa đầy gay gắt, đòi hỏi các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển, phải thích ứng với những cơ hội và thách thức đan xen Dù vậy, toàn cầu hóa vẫn là một xu thế lịch sử thu hút tất cả các quốc gia tham gia, vì vậy mỗi quốc gia cần xác định chiến lược hội nhập phù hợp để phát triển bền vững.

Hiện nay, xu thế phát triển của đời sống quốc tế là hướng về hòa bình, ổn định và hợp tác để thúc đẩy phát triển kinh tế Mặc dù còn tồn tại một số xung đột cục bộ, nhưng nhìn chung hòa bình và ổn định vẫn là dòng chảy chính trong chính trị quốc tế, phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng giữa các quốc gia Sự phát triển kinh tế toàn cầu đặt ra yêu cầu cần có một môi trường quốc tế hòa bình để các nước có thể tập trung phát triển kinh tế và nâng cao sức mạnh quốc gia Điều này đã làm giảm nguy cơ chiến tranh hủy diệt, khẳng định xu hướng hướng tới hòa bình đã chiếm ưu thế trong thực tiễn quốc tế.

Sau Chiến tranh lạnh, các vấn đề an ninh phi truyền thống như môi trường, tội phạm xuyên quốc gia, buôn lậu ma túy và chủ nghĩa khủng bố quốc tế nổi lên, đặt ra nhiều thách thức lớn cho các quốc gia và khu vực Các quốc gia không thể giải quyết hiệu quả những thách thức này một mình, do đó, cần thiết phải thúc đẩy sự hợp tác chặt chẽ giữa các quốc gia ở cả cấp khu vực và quốc tế để đối phó hiệu quả.

Trong thập niên cuối thế kỷ XX, khu vực châu Á - Thái Bình Dương trải qua nhiều biến đổi sâu sắc, với tình hình an ninh ngày càng ổn định sau Chiến tranh lạnh nhờ xu hướng hợp tác và thiết lập cơ chế an ninh đa phương Vai trò và tiếng nói của các quốc gia vừa và nhỏ, đặc biệt là ASEAN, được củng cố và nâng cao hơn trong các vấn đề khu vực Hiện nay, châu Á - Thái Bình Dương được xem là khu vực phát triển kinh tế năng động nhất thế giới, góp phần thúc đẩy sự phát triển toàn cầu.

Tình hình hiện nay tác động trực tiếp và nhạy cảm đến quan hệ quốc tế đương đại, đòi hỏi các nước phải điều chỉnh chính sách đối ngoại phù hợp Việc này nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc, đặc biệt là giữ vững nền độc lập và duy trì định hướng phát triển đã lựa chọn Đồng thời, các quốc gia cần hội nhập quốc tế một cách hiệu quả để thích nghi với tình hình toàn cầu ngày càng phức tạp.

Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, quan hệ giữa các nước lớn chuyển từ đối đầu, cạnh tranh sang đối thoại và hợp tác, khi ý thức hệ không còn là rào cản trong quan hệ quốc tế Hợp tác để phát triển trở thành lợi ích chung của tất cả các nước, tạo điều kiện cho các quốc gia tập trung vào phát triển đất nước Những biến đổi trong môi trường chính trị, an ninh và kinh tế quốc tế đã ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến quan hệ Trung Quốc - Hàn Quốc sau Chiến tranh lạnh Các xu thế hòa dịu bắt buộc họ phải điều chỉnh mối quan hệ phù hợp hơn với xu thế toàn cầu về hợp tác và đối thoại Đồng thời, những biến đổi này cũng mở ra cơ hội mới nhưng cũng đặt ra thách thức cho quan hệ Trung Quốc - Hàn Quốc trong giai đoạn tới.

1.1.2 Tình hình khu vực Đông Bắc Á và bán đảo Triều Tiên ông ắc Á là khu vực bao gồm các quốc gia và vùng lãnh thổ là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Triều Tiên, Mông Cổ và vùng Viễn ông của nước Nga ông ắc Á là một khu vực quan trọng của thế giới Sau khi Chiến tranh lạnh chấm dứt, tình hình ở khu vực này nổi lên một số nét lớn như sau:

Thứ nhất, về phương diện địa chính trị, khu vực này rất phức tạp với nhiều quốc gia có đặc điểm khác nhau về nhiều mặt, từ nền kinh tế đến chế độ chính trị Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan là những nền kinh tế hàng đầu thế giới, trong khi Mông Cổ và Triều Tiên còn đang phát triển kinh tế ở trình độ thấp Các hình thái chế độ xã hội cũng rất đa dạng: CHDCND Triều Tiên theo chế độ xã hội chủ nghĩa tập trung bao cấp, Trung Quốc theo mô hình xã hội chủ nghĩa có nền kinh tế thị trường, còn Hàn Quốc và Đài Loan theo chế độ tư bản nhưng đang trong giai đoạn đầu của quá trình dân chủ hóa Nhật Bản đã phát triển chế độ tư bản vững chắc trong nhiều thập kỷ qua Có thể nói, khu vực châu Á thể hiện rõ nét tính đa dạng và phức tạp của thế giới, như một hình ảnh thu nhỏ của toàn cầu.

Quan hệ giữa Trung Quốc và Hàn Quốc trước năm 1992

Trong giai đoạn Chiến tranh lạnh, quan hệ giữa Trung Quốc và Hàn Quốc gặp nhiều khó khăn do chịu ảnh hưởng lớn từ yếu tố ý thức hệ, khiến cho mối quan hệ này hầu như không có sự phát triển rõ rệt.

Sau khi thành lập vào ngày 1-10-1949, Trung Quốc chính thức tuyên bố trở thành một nước xã hội chủ nghĩa, trong khi đó, chính phủ Hàn Quốc do Mỹ bảo trợ đã được thành lập từ ngày 15-8-1948, đối lập với miền Bắc và theo con đường phát triển Tư bản chủ nghĩa Sự chia phe rõ ràng giữa phe xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu và phe tư bản chủ nghĩa do Mỹ lãnh đạo khiến Trung Quốc gặp khó khăn trong việc thiết lập quan hệ hợp tác với Hàn Quốc.

Trong cuộc Chiến tranh Triều Tiên (1950-1953), Trung Quốc và Hàn Quốc đối đầu trực tiếp, với Trung Quốc tham gia chiến tranh như một đội quân tình nguyện cùng Liên Xô để giúp đỡ CHDCND Triều Tiên chống lại cuộc tấn công xâm lược của Mỹ và Hàn Quốc Trong giai đoạn này, cả hai phía đều xem đối phương là mục tiêu cần đánh đuổi, làm rõ tính chất đối đầu gay gắt của cuộc chiến.

Trong giai đoạn đầu của Chiến tranh Lạnh, nguyên nhân gây tranh cãi chủ yếu dựa trên ý thức hệ, nhưng từ sau đó, nguyên nhân chính lại bắt nguồn từ lợi ích của Trung Quốc Trung Quốc đã bình thường hóa và thiết lập quan hệ ngoại giao với Nhật Bản (1972) và Mỹ (1979), hai nước đối đầu về ý thức hệ, nhằm mục đích thúc đẩy lợi ích quốc gia Tuy nhiên, Trung Quốc không muốn thiết lập quan hệ với Hàn Quốc trong thời kỳ này, lý do chính xuất phát từ lợi ích chiến lược của nước này Tiêu biểu, theo lời Tiêu Tiểu Bình, việc thiết lập quan hệ với Hàn Quốc không có lợi cho Trung Quốc, tương tự như mối quan hệ của Mỹ với Bắc Triều Tiên, và không phù hợp với lợi ích của Trung Quốc trong việc công nhận Hàn Quốc.

Trung Quốc hiểu rõ lo ngại của Triều Tiên và không muốn làm tổn hại mối quan hệ hữu nghị truyền thống giữa hai nước Nếu quan hệ giữa Trung Quốc và Triều Tiên trở nên đối đầu, Trung Quốc sẽ mất nhiều hơn những gì đạt được từ mối quan hệ với Hàn Quốc Hơn nữa, Trung Quốc có thể bị chỉ trích là “kẻ phản bội”, điều này ảnh hưởng đến uy tín của nước này trong cộng đồng phe XHCN, đặc biệt do mối quan hệ gần gũi với Hàn Quốc.

Trung Quốc nhận thức rõ rằng tồn tại hai nhà nước Triều Tiên gây ảnh hưởng lớn đối với chính sách ngoại giao của nước này Việc công nhận hai nhà nước Triều Tiên sẽ khiến Trung Quốc mất đi một đồng minh quan trọng trong cuộc cạnh tranh quyền lãnh đạo phe XHCN với Liên Xô, đặc biệt khi CHDCND Triều Tiên vẫn còn duy trì mối quan hệ đặc biệt với Liên Xô và chưa hoàn toàn hướng về Trung Quốc An ninh của Trung Quốc cũng đối mặt với nguy cơ bị đe dọa nghiêm trọng do bị kẹp giữa hai quốc gia láng giềng có sức mạnh quân sự lớn là Liên Xô và CHDCND Triều Tiên, trong khi Hàn Quốc, với vị trí chiến lược không nổi bật như Nhật Bản, vẫn chỉ được xem như một quốc gia nhỏ, “vệ tinh” của Trung Quốc.

Mỹ mà Trung Quốc đã đạt được quan hệ với Mỹ thì không cần quá coi trọng

Dù Hàn Quốc nỗ lực bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc từ đầu thập niên 1970, Bắc Kinh vẫn giữ chính sách “một Triều Tiên” và từ chối mọi đề nghị của Hàn Quốc Trung Quốc còn cấm tiếp xúc thường xuyên giữa các quan chức hai nước ở nước thứ ba và hạn chế mọi hình thức giao lưu văn hóa, nhấn mạnh mối quan hệ hữu nghị thân thiết nhất với Bắc Triều Tiên Bắc Kinh khẳng định sẽ không thực hiện chính sách hai Triều Tiên và tiếp tục duy trì tình bạn truyền thống cũng như liên minh với Bắc Triều Tiên, không chuẩn bị cho các cuộc tiếp xúc ngoại giao với Hàn Quốc.

Dù Trung Quốc thể hiện sự thiếu thiện chí, Hàn Quốc vẫn kiên trì theo đuổi mục tiêu bình thường hóa quan hệ Năm 1983, việc một máy bay dân dụng của Trung Quốc đến Hàn Quốc đã tạo bước đột phá trong quan hệ song phương Các đoàn đại biểu và giới học giả hai nước đã hợp tác trên nhiều diễn đàn quốc tế, thúc đẩy các cuộc giao lưu và tiếp xúc liên tục Trung Quốc tích cực cử đoàn vận động viên tham dự các kỳ Olympic tổ chức tại Seoul, góp phần củng cố mối quan hệ hợp tác và hiểu biết giữa hai quốc gia.

Vào những năm 1986 và 1988, Trung Quốc đã tham gia vào các hoạt động liên quan đến Thế vận hội Olympic, thể hiện vai trò quốc tế tích cực Đồng thời, Trung Quốc công nhận cả CHDCND Triều Tiên và Hàn Quốc là thành viên của Liên hợp quốc, cùng tổ chức các cuộc hội đàm bốn bên gồm Triều Tiên, Hàn Quốc, Trung Quốc và Mỹ để thúc đẩy hòa bình khu vực Đến đầu thập niên 1990, quan hệ giữa Trung Quốc và Triều Tiên có những tiến triển nhanh chóng, đặc biệt là việc ký kết Thông cáo chung về bình thường hóa quan hệ ngoại giao ngày 24-8-1992, mở ra một chương mới trong quan hệ lịch sử lâu đời giữa hai quốc gia láng giềng này.

Tình hình mỗi nước và chính sách đối ngoại của Trung Quốc, Hàn Quốc từ 1992 đến 2013

1.3.1 Tình hình và chính sách đối ngoại của Trung Quốc từ 1992 đến 2013

Sau Chiến tranh lạnh, Trung Quốc đã phát triển nhanh chóng và đạt được nhiều thành tựu vượt bậc, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế Những thành tựu ấn tượng này đã góp phần nâng cao vị thế của Trung Quốc trên trường quốc tế và thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước.

Trong hơn hai thập kỷ kể từ năm 1979, Trung Quốc đã duy trì tốc độ tăng trưởng GDP trung bình 9,3%, thể hiện sự phát triển bền vững và mạnh mẽ Từ năm 2001 đến 2005, tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc đạt 9,5%, cao hơn đáng kể so với trung bình toàn cầu (3,8%) và các nước phát triển (2,1%), đồng thời vượt xa các nước đang phát triển (5,8%), góp phần vào vai trò đầu tàu của nền kinh tế thế giới Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới, GDP Trung Quốc đóng góp 1,43% vào tăng trưởng toàn cầu trong giai đoạn 2000-2004, đứng thứ hai sau Mỹ Trong bối cảnh thế giới chìm trong khủng hoảng và trì trệ, Trung Quốc vẫn duy trì mức tăng trưởng ấn tượng 9,5%, thiết lập kỷ lục và nâng cao vị thế xếp hạng kinh tế toàn cầu Năm 2011, GDP của Trung Quốc tiếp tục tăng trưởng 9,3%, khẳng định tầm ảnh hưởng ngày càng lớn của quốc gia này trên thị trường toàn cầu.

2012 tiếp tục duy trì ở mức cao

Vào năm 2001, GDP của Trung Quốc chỉ đứng thứ 9 thế giới với gần 10.000 tỷ NDT, nhưng đến năm 2005, nền kinh tế Trung Quốc đã vươn lên vị trí thứ 4 sau khi vượt qua Anh và Pháp Đến năm 2007, tổng GDP của Trung Quốc đã vượt qua mức đó, vươn lên vị trí thứ 3 trên thế giới Đến năm 2010, GDP của Trung Quốc tiếp tục tăng trưởng và vượt Nhật Bản để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai toàn cầu, thể hiện sự phát triển ấn tượng của nền kinh tế Trung Quốc trong thập kỷ đầu của thế kỷ 21.

Năm 2011, GDP của Trung Quốc đạt 47,156 tỷ NDT (tương đương 7,48 nghìn tỷ USD), tăng gấp 4,72 lần so với năm 2001, chứng tỏ sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế nước này Từ vị trí thứ 9 trên thế giới vào đầu thập kỷ, Trung Quốc đã vươn lên đứng thứ 2, khẳng định vị thế mạnh mẽ của quốc gia này trên trường quốc tế Tổng giá trị công nghiệp của Trung Quốc cũng tăng đáng kể từ 4.260 tỷ NDT năm 2001 lên 16.003 tỷ NDT năm 2010, phản ánh sự mở rộng và phát triển ngành công nghiệp Bên cạnh đó, dự trữ ngoại hối của Trung Quốc đã tăng gấp 12 lần trong 10 năm, từ 212,2 tỷ USD lên 2.847,3 tỷ USD, là minh chứng rõ nét nhất cho sự trỗi dậy mạnh mẽ của nền kinh tế Trung Quốc trên toàn cầu.

Kết quả từ nền kinh tế đã góp phần nâng cao đời sống nhân dân không ngừng Trong giai đoạn từ năm 1989 đến 2001, thu nhập bình quân đầu người ở khu vực nông thôn tăng trưởng liên tục với mức 4,3%, trong khi đó, thu nhập bình quân khả dụng đầu người tại đô thị tăng 7,1% Đến năm 2010, GDP bình quân đầu người đạt khoảng 13.266 N T, gấp đôi so với năm 2000, thể hiện sự phát triển kinh tế rõ rệt và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

Sau 30 năm cải cách mở cửa, Trung Quốc đã đạt được những thành tựu quan trọng trong quan hệ quốc tế, chuyển mình từ một quốc gia “hạng hai” sang một đối tác có ảnh hưởng toàn cầu Trung Quốc hoàn toàn có thể từ chối các yêu cầu của Mỹ và các cường quốc khác trong các vấn đề quan trọng, từ đó giảm thiểu các mối đe dọa đến an ninh quốc gia Hiện tại, Trung Quốc đã bình thường hóa quan hệ với tất cả các nước lớn và là thành viên của phần lớn các tổ chức quốc tế và khu vực, thể hiện vị thế ngày càng tăng trên bàn cờ địa chính trị toàn cầu.

Những yếu tố trên đã giúp Trung Quốc trở thành một cường quốc của tương lai, thể hiện rõ nét qua các động thái khẳng định vị thế trên trường quốc tế.

Tuy nhiên, Trung Quốc cũng đang phải đối mặt với không ít khó khăn

Mặc dù Mỹ đã suy yếu, nhưng vẫn duy trì chính sách đề phòng nhằm cảnh giác cao độ với Trung Quốc Các nước lớn như Nhật Bản, Ấn Độ, Nga cũng cạnh tranh chiến lược với Trung Quốc để bảo vệ lợi ích quốc gia Các điểm nóng xung quanh Trung Quốc như vấn đề hạt nhân của CHDCND Triều Tiên, tình hình Biển Đông, và quan hệ qua lại giữa hai bờ eo biển Đài Loan vẫn chứa đựng nhiều yếu tố khó lường, làm gia tăng tính bất định trong khu vực Cạnh tranh giữa Trung Quốc và các nước phát triển về mặt kinh tế, khoa học - kỹ thuật ngày càng gay gắt, đặc biệt với các quốc gia xung quanh và các nước đang phát triển, đặt ra nhiều thách thức lớn cho ổn định và an ninh khu vực.

Sự mất cân đối trong cơ cấu kinh tế, chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn, chủ nghĩa ly khai và gia tăng dân số đang đe dọa đến sự phát triển bền vững của Trung Quốc Những vấn đề này ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế ổn định và gây ra những thách thức lớn cho chính sách phát triển quốc gia.

Trong quá trình cải cách mở cửa, Trung Quốc đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng về kinh tế Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, tình hình thế giới và khu vực trải qua nhiều biến động lớn, buộc Trung Quốc phải điều chỉnh chính sách đối ngoại của mình Từ sau khi chuyển sang cơ chế mở cửa, lãnh đạo Trung Quốc đã cập nhật nhận thức về tình hình quốc tế và điều chỉnh chính sách ngoại giao phù hợp, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước.

Trong giai đoạn từ những năm 1960-1970, đặc biệt là thời kỳ Cách mạng Văn hóa, lãnh đạo Trung Quốc tin rằng chiến tranh thế giới là điều không thể tránh khỏi và sắp xảy ra, thúc đẩy chủ trương chuẩn bị cho chiến tranh thông thường và chiến tranh hạt nhân Tuy nhiên, sau khi thực hiện các chính sách cải cách, Trung Quốc đã chuyển hướng sang xây dựng một môi trường quốc tế hòa bình nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế và hiện đại hóa đất nước.

Bình nhận định rằng lực lượng hòa bình thế giới hiện nay mạnh hơn trước và có khả năng duy trì hòa bình trong một thời gian dài, góp phần làm giảm khả năng xảy ra chiến tranh thế giới Sau giai đoạn "chiến tranh lạnh," lãnh đạo Trung Quốc vừa khẳng định xu thế hòa bình và phát triển toàn cầu, vừa chủ trương chống lại chủ nghĩa bá quyền để giữ vững ổn định và trật tự quốc tế.

Chính sách ngoại giao của Trung Quốc từ sau cải cách mở cửa hướng tới hai mục tiêu chiến lược: hiện đại hóa đất nước và thống nhất tổ quốc Chủ trương "chính trị cường quyền" nhằm thúc đẩy một thế giới "đa cực" trong quan hệ quốc tế, góp phần đưa Trung Quốc trở thành một quốc gia xã hội chủ nghĩa mạnh, thống nhất và phát triển vào giữa thế kỷ XXI.

Trung Quốc đặc biệt chú trọng củng cố và mở rộng quan hệ với các quốc gia láng giềng để thúc đẩy hòa bình và ổn định khu vực Từ khi mở cửa, Trung Quốc đã bình thường hóa và thiết lập quan hệ ngoại giao với tất cả các quốc gia và vùng lãnh thổ có chủ quyền, nâng cao vị thế quốc tế của mình Đồng thời, Trung Quốc đẩy mạnh hợp tác với các nước lớn như Mỹ, Nhật Bản và Liên minh châu Âu, nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế và địa chính trị trên bình diện toàn cầu.

Như vậy, mục tiêu chủ yếu mà Trung Quốc theo đuổi trong những năm

90 của thế kỷ XX là giữ vững môi trường hòa bình, ổn định ở khu vực châu Á

Thái bình và ổn định của các nước láng giềng là yếu tố then chốt đối với Trung Quốc, bởi mọi biến động tiêu cực trong khu vực đều tác động trực tiếp đến an ninh và sự phát triển của Trung Quốc Để duy trì hòa bình, Trung Quốc theo đuổi phương châm ngoại giao của Tiểu Bình: “tỉnh táo quan sát, trụ chân vững vàng, bình tĩnh ứng phó, giữ kín cái hay, biết che cái dở, quyết không đi đầu,” giúp chủ động trong ứng phó các vấn đề khu vực và quốc tế Phương châm này không chỉ bảo vệ lợi ích quốc gia mà còn làm yên lòng Mỹ và các nước phương Tây trước các lo ngại về khả năng mở rộng ảnh hưởng của Trung Quốc.

NHỮNG NỘI DUNG CHỦ YẾU TRONG QUAN HỆ

MỘT SỐ NH N XÉT VỀ QUAN HỆ TRUNG QUỐC - HÀN QUỐC TỪ 1992 ẾN 2013

Ngày đăng: 21/08/2023, 01:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Mai Hoài Anh (2003), Sự vận động chính trị trên bán đảo Triều Tiên sau Chiến tranh lạnh đến nay, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và ông ắc Á, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự vận động chính trị trên bán đảo Triều Tiên sau Chiến tranh lạnh đến nay
Tác giả: Mai Hoài Anh
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và ông ắc Á
Năm: 2003
2. ỗ Ánh (2006), Hướng tới cộng đồng Đông Á- một thách thức hiện tại, Tạp chí Nghiên cứu ông ắc Á, số 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng tới cộng đồng Đông Á- một thách thức hiện tại
Tác giả: ỗ Ánh
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu ông ắc Á
Năm: 2006
3. Nguyễn Văn nh, ỗ ình Hùng, Lê ình hinh (1996), Hàn Quốc- lịch sử văn hóa, Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàn Quốc- lịch sử văn hóa
Tác giả: Nguyễn Văn nh, ỗ ình Hùng, Lê ình hinh
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1996
4. Nguyễn Hồng Bắc (2012), Xu hướng điều chỉnh chiến lược phát triển kinh tế của Trung Quốc, Tạp chí kinh tế và chính trị thế giới, số 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu hướng điều chỉnh chiến lược phát triển kinh tế của Trung Quốc
Tác giả: Nguyễn Hồng Bắc
Nhà XB: Tạp chí kinh tế và chính trị thế giới
Năm: 2012
5. Mai Văn ảo (2005), Kinh tế Đông Bắc Á: đặc điểm và xu hướng biến đổi, Nghiên cứu Nhật Bản và ông ắc Á, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Đông Bắc Á: đặc điểm và xu hướng biến đổi
Tác giả: Mai Văn ảo
Nhà XB: Nghiên cứu Nhật Bản và ông ắc Á
Năm: 2005
6. Nguyễn Kim Bảo (2004), Điều chỉnh một số chính sách kinh tế ở Trung Quốc giai đoạn 1992 - 2020, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều chỉnh một số chính sách kinh tế ở Trung Quốc giai đoạn 1992 - 2020
Tác giả: Nguyễn Kim Bảo
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2004
7. Nguyễn Kim Bảo (2006), Điều chỉnh một số chính sách kinh tế ở Trung Quốc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều chỉnh một số chính sách kinh tế ở Trung Quốc
Tác giả: Nguyễn Kim Bảo
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2006
8. Ngô Xuân Bình (2005), Hướng tới một cộng đồng Đông Á phát triển bền vững, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và ông ắc Á, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng tới một cộng đồng Đông Á phát triển bền vững
Tác giả: Ngô Xuân Bình
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và ông ắc Á
Năm: 2005
9. Ngô Xuân Bình (2006), Liên kết kinh tế Đông Bắc Á, liệu có một FTA Trung Quốc - Nhật Bản - Hàn Quốc, Tạp chí Nghiên cứu ông ắc Á, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên kết kinh tế Đông Bắc Á, liệu có một FTA Trung Quốc - Nhật Bản - Hàn Quốc
Tác giả: Ngô Xuân Bình
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu ông ắc Á
Năm: 2006
10. Vương Phương ình (2004), Lại bàn về hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên, Tạp chí, Nghiên cứu quốc tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lại bàn về hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên
Tác giả: Vương Phương ình
Nhà XB: Tạp chí
Năm: 2004
11. ồng Văn hung (2012), Kinh tế Trung Quốc năm 2011 và triển vọng, Tạp chí Kinh tế và Chính trị thế giới, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Trung Quốc năm 2011 và triển vọng
Tác giả: ồng Văn hung
Nhà XB: Tạp chí Kinh tế và Chính trị thế giới
Năm: 2012
12. Hồ Anh ương (2003), Trung Quốc những chiến lược lớn, Nxb Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc những chiến lược lớn
Tác giả: Hồ Anh ương
Nhà XB: Nxb Thông tin
Năm: 2003
13. Nguyễn Thanh ức (2007), Những xu hướng cơ bản cho kinh tế khu vực Đông Bắc Á hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và ông ắc Á, số 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những xu hướng cơ bản cho kinh tế khu vực Đông Bắc Á hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thanh ức
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và ông ắc Á
Năm: 2007
14. Vũ Anh ũng, Phạm Thái Quốc (2011), Thương mại Trung Quốc 10 năm gia nhập WTO, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thương mại Trung Quốc 10 năm gia nhập WTO
Tác giả: Vũ Anh ũng, Phạm Thái Quốc
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc
Năm: 2011
15. Trần Thị Duyên (2008), Toàn cầu hóa và chính sách ngoại giao kinh tế của Hàn Quốc trong thập niên cuối thế kỉ XX, Tạp chí Nghiên cứu ông ắc Á, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu hóa và chính sách ngoại giao kinh tế của Hàn Quốc trong thập niên cuối thế kỉ XX
Tác giả: Trần Thị Duyên
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu ông ắc Á
Năm: 2008
16. Nguyễn Hoàng Giáp (chủ biên), Hàn Quốc với khu vực Đông Á sau chiến tranh lạnh và quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàn Quốc với khu vực Đông Á sau chiến tranh lạnh và quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc
Tác giả: Nguyễn Hoàng Giáp
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
17. Vũ Văn Hà (2005), Những đặc trưng biến đổi chủ yếu của cục diện kinh tế khu vực Đông Á, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và ông ắc Á, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đặc trưng biến đổi chủ yếu của cục diện kinh tế khu vực Đông Á
Tác giả: Vũ Văn Hà
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và ông ắc Á
Năm: 2005
18. Võ Thanh Hải (1999), Chiến lược cải cách kinh tế của Hàn Quốc trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế (1997-1999), Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược cải cách kinh tế của Hàn Quốc trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế (1997-1999)
Tác giả: Võ Thanh Hải
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản
Năm: 1999
19. Võ Thanh Hải (2001), Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Hàn Quốc trong những năm cuối thập kỉ 90, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và ông ắc Á, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Hàn Quốc trong những năm cuối thập kỉ 90
Tác giả: Võ Thanh Hải
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và ông ắc Á
Năm: 2001
20. Võ Thanh Hải (2004), Kinh tế Hàn Quốc trong những năm đầu thế kỉ 21: Tình hình và triển vọng, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và ông ắc Á, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Hàn Quốc trong những năm đầu thế kỉ 21: Tình hình và triển vọng
Tác giả: Võ Thanh Hải
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và ông ắc Á
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm