Các nghiên cứu về họ Nhái bầu Microhylidae ở Việt Nam nói chung và khu vực Bắc Trung Bộ nói riêng được biết đến chủ yếu trong các điều tra thành phần loài, bổ sung các vùng phân bố và c
Trang 1NGUYỄN THỊ HUẾ
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI PHÂN LOẠI
CÁC LOÀI TRONG HỌ MICROHYLIDAE
Ở KHU VỰC BẮC TRUNG BỘ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
VINH, 2014
Trang 2NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI PHÂN LOẠI
CÁC LOÀI TRONG HỌ MICROHYLIDAE
Trang 3thân, em đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của nhiều tập thể và cá nhân
Nhân dịp này em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các Ban giám hiệu Trường Đại học Vinh, Ban chủ nhiệm khoa Sinh học, tổ bộ môn động vật đã giúp đỡ tạo điều kiện cho em về cơ sở vật chất, điều kiện học tập nghiên cứu
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Sinh đã trực tiếp giảng dạy, hướng dẫn về phương pháp luận giúp em hoàn thành đề tài này
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng sâu sắc tới thầy giáo TS Hoàng Ngọc Thảo đã trực tiếp hướng dẫn em trong quá trình học tập nghiên cứu để hoàn thành đề tài
Nghệ An, tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Huế
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ vi
DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC vii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Nội dung nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa của đề tài 3
Chương 1 TỔNG QUAN 4
1.1 Lược sử nghiên cứu họ Nhái bầu Microhylidae ở Việt Nam và khu vực Bắc Trung Bộ 4
1.1.1 Nghiên cứu họ Microhylidae ở Việt Nam 4
1.1.2 Nghiên cứu họ Microhylidae ở khu vực Bắc Trung Bộ 7
1.2 Khái quát về điều kiện tự nhiên khu vực Bắc Trung Bộ 13
1.2.1 Vị trí địa lý 13
1.2.2 Đặc điểm địa hình 13
1.2.3 Khí hậu, thủy văn 14
1.2.4 Tài nguyên thiên nhiên 15
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1 Đối tượng nghiên cứu 17
2.2 Tư liệu nghiên cứu 17
2.3 Phương pháp phân tích hình thái 17
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 19
3.1 Thành phần loài ếch nhái trong họ Microhylidae ở Bắc Trung Bộ 19
Trang 5Trung Bộ 20
3.2.3 Đặc điểm hình thái phân loại các loài trong họ Microhylidae 21
3.2.3.1 Đặc điểm hình thái phân loại loài Cóc đốm 22
3.2.3.2 Đặc điểm hình thái phân loại loài Ễnh ương 24
3.2.3.3 Đặc điểm hình thái phân loại loài Nhái bầu hây môn 27
3.2.3.4 Đặc điểm hình thái phân loại loài Nhái bầu vân 29
3.2.3.5 Đặc điểm hình thái phân loại loài Nhái bầu béc mơ 32
3.2.3.6 Đặc điểm hình thái phân loại loài Nhái bầu hoa 34
3.2.3.7 Đặc điểm hình thái phân loại loài Nhái bầu trung bộ 37
3.2.4 Biến dị hình thái giữa các loài trong giống Microhyla 39
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 50
I Kết luận 50
II Đề nghị 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
PHỤ LỤC 57
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
LC&BS : Lưỡng cư và bò sát KBTTN : Khu bảo tồn thiên nhiên KH&KT : Khoa học và kỹ thuật
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Thành phần loài ếch nhái trong họ Microhylidae ở Bắc Trung Bộ 19
Bảng 3.2 Khóa định loại các loài trong họ Microhylidae ở khu vực Bắc Trung Bộ 21
Bảng 3.3 Chỉ tiêu hình thái của loài Cóc đốm 23
Bảng 3.4 Tỉ lệ hình thái của Cóc đốm 24
Bảng 3.5 Chỉ tiêu hình thái của Ễnh ương Kaloula pulchra 26
Bảng 3.6 Tỉ lệ hình thái của Ễnh ương Kaloula pulchra 27
Bảng 3.7 Chỉ tiêu hình thái của Nhái bầu hây môn Microhyla heymonsi 28
Bảng 3.8 Tỉ lệ hình thái của Nhái bầu hây môn Microhyla heymonsi 29
Bảng 3.9 Chỉ tiêu hình thái của Nhái bầu vân Microhyla pulchra 31
Bảng 3.10 Tỉ lệ hình thái của Nhái bầu vân Microhyla pulchra 32
Bảng 3.11 Chỉ tiêu hình thái của Nhái bầu bec mơ Microhyla berdmorei 33
Bảng 3.12 Tỉ lệ hình thái của Nhái bầu bec mơ Microhyla berdmorei 34
Bảng 3.13 Chỉ tiêu hình thái của loài Nhái bầu hoa Microhyla fissipes 36
Bảng 3.14 Tỉ lệ hình thái của Nhái bầu hoa Microhyla fissipes 36
Bảng 3.15 Chỉ tiêu hình thái của Nhái bầu trung bộ Microhyla annamensis 38
Bảng 3.16 Tỉ lệ hình thái của Nhái bầu trung bộ Microhyla annamensis 39
Bảng 3.17 Bảng tỉ lệ hình thái của các loài trong giống Microhila 39
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
Hình 2.1 Sơ đồ đo ếch nhái không đuôi (theo Banikov A G et al., 1977;
có bổ sung) 18 Biểu đồ 3.1 Tương quan giữa chiều dài thân với tỉ lệ SVL/HL của các loài
trong giống Microhyla 40
Biểu đồ 3.2 Tương quan giữa chiều dài thân với tỉ lệ SVL/FL của các loài
trong giống Microhyla 41
Biểu đồ 3.3 Tương quan giữa chiều dài thân với tỉ lệ HL/HW của các loài
trong giống Microhyla 42
Biểu đồ 3.4 Tương quan giữa chiều dài thân với tỉ lệ PalW/IUE của các loài
trong giống Microhyla 43
Biểu đồ 3.5 Tương quan giữa chiều dài thân với tỉ lệ EL/PalW của các loài
trong giống Microhyla 44
Biểu đồ 3.6 Tương quan giữa chiều dài thân với tỉ lệ EL/SE của các loài
trong giống Microhyla 44
Biểu đồ 3.7 Tương quan giữa chiều dài thân với tỉ lệ EL/IUE của các loài
trong giống Microhyla 45
Biểu đồ 3.8 Tương quan giữa chiều dài thân với tỉ lệ SN/EN của các loài
trong giống Microhyla 46
Biểu đồ 3.9 Tương quan giữa chiều dài thân với tỉ lệ FL/TL của các loài
trong giống Microhyla 46
Biểu đồ 3.10 Tương quan giữa chiều dài thân với tỉ lệ TL/TW của các loài trong
giống Microhyla 47
Biểu đồ 3.11 Tương quan giữa chiều dài thân với tỉ lệ IMT/ITL của các loài
trong giống Microhyla 47
Biểu đồ 3.12 Tương quan giữa chiều dài thân với tỉ lệ EL/HL của các loài
trong giống Microhyla 48
Trang 9
DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC
Phụ lục 1 Hình ảnh về các loài trong giống Microhyla 57
1.1 Cóc đốm 57
1.2 Ễnh ương 58
1.3 Nhái bầu bec mơ 58
1.4 Nhái bầu hây môn 59
1.5 Nhái bầu hoa 59
1.6 Nhái bầu trung bộ 60
1.7 Nhái bầu vân 60
Phụ lục 2 Số đo hình thái các loài trong giống Microhyla 61
2.1 Số đo hình thái loài Cóc đốm Kalophrynus interlineatus 61
2.2 Số đo hình thái loài Ễnh ương Kaloula pulchra 61
2.3 Số đo hình thái loài Nhái bầu hây môn Microhyla heymonsi 62
2.4 Số đo hình thái loài Nhái bầu vân Microhyla pulchra 63
2.5 Số đo hình thái loài Nhái bầu béc mơ Microhyla berdmorei 64
2.6 Số đo hình thái loài Nhái bầu hoa Microhyla fissipes 64
2.7 Số đo hình thái loài Nhái bầu trung bộ Microhyla annamensis 72
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Động vật là một thành viên rất quan trọng trên Trái Đất, phong phú và đa dạng
Do hoạt động thường xuyên tích cực để sống và phát triển, động vật có quan hệ trực tiếp đến loài người Vì thế, ngay từ thời cổ đại loài người đã chú ý đến các loài động vật, đặc biệt là nhóm lưỡng cư
Hiện nay trên thế giới có khoảng trên 4.000 loài lưỡng cư và 6.000 loài bò sát
Ở nước ta theo Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc và Nguyễn Quảng Trường (2009) thống kê có 176 loài lưỡng cư và 369 loài bò sát
Việt Nam được thiên nhiên ưu đãi về nguồn tài nguyên di truyền, các loài lưỡng
cư bò sát và hệ sinh thái rất đa dạng Đặc biệt, các loài đặc hữu chiếm tỷ lệ cao so với một số nước trong khu vực Trong khoảng thời gian 20 năm trở lại đây, cùng với công tác nghiên cứu cơ bản về thành phần loài và sinh thái học của các loài, các lĩnh vực khác liên quan đến lưỡng cư bò sát cũng được phát triển
Lưỡng cư là nhóm động vật có giá trị kinh tế cao Đa dạng thành phần loài lưỡng cư trên hành tinh nói chung và ở Việt Nam nói riêng là một tài sản vô giá đối với cộng đồng, là nền tảng quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội và bảo vệ môi trường Thực vậy, các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong đó có các loài lưỡng cư là nguồn gen quý của giới động vật Ngay từ thuở sơ khai cho đến thời kỳ đại công nghiệp phát triển, trải qua hàng trăm triệu năm tiến hóa, các loài lưỡng cư không những góp phần duy trì sự cân bằng sinh thái trên trái đất làm ổn định chu trình tuần hoàn dinh dưỡng tự nhiên, mà chúng còn cung cấp trực tiếp hoặc gián tiếp các sản phẩm cần thiết phục vụ cho mọi phúc lợi của xã hội, góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng dinh dưỡng cho cộng đồng nhất là các cộng đồng ở nông thôn, miền núi
Thực vậy, đa dạng các loài lưỡng cư ở Việt Nam có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với nông nghiệp và góp phần vào việc cân bằng sinh thái trong hệ tự nhiên và hệ nhân văn Như chúng ta đều biết kể từ khi loài người biết chăn nuôi thuần dưỡng động vật cũng đã biết khai thác sử dụng, chế biến thực phẩm, dược phẩm từ nguyên liệu của nhiều loài lưỡng cư Trong các phòng thí nghiệm lưỡng cư còn được dùng như một đối tượng nghiên cứu
Trang 11Nghiên cứu khoa học về lưỡng cư không những có ý nghĩa cực kỳ quan trọng,
là cơ sở để bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên này phục vụ cho nền kinh tế xanh,
mà còn là cơ sở để tổ chức giám sát quản lý và bảo tồn các nguồn gen mà thiên nhiên
đã dày công sinh tạo
Tuy nhiên theo James Collins – chủ tịch nhóm nghiên cứu thuộc Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (2010) cho biết “ Động vật lưỡng cư đang phải vật lộn với sự sinh tồn của chúng, các nguyên nhân bất lợi như bệnh truyền nhiễm, nơi cư trú bị phá hoại, biến đổi khí hậu hay không khí bị ô nhiễm… đều đang đe dọa đến sự sinh tồn của động vật lưỡng cư”
Từ trước tới nay các nhà khoa học nghiên cứu về bò sát- lưỡng cư Việt Nam đã đóng góp to lớn về công tác điều tra cơ bản phát hiện, thu thập, phân loại một cách hệ thống thành lập danh lục về các loài thuộc lớp bò sát- lưỡng cư, công bố nhiều loài mới cho khoa học Là một bộ phận trong kiểm kê đánh giá hiện trạng đa dạng sinh học Việt Nam cũng như ở một số VQG, KBTTN Đây là một đóng góp cực kỳ quan trọng trong khoa học của nước nhà, là nền tảng cho công tác bảo tồn và phát triển
Tuy nhiên cho đến nay chưa có nhiều nghiên cứu sâu cho mỗi nhóm, đặc biệt đối với ếch nhái chưa có nhiều mô tả kỹ lưỡng làm cơ sở cho công tác phân loại học
Họ Nhái bầu Microhylidae gồm có 3 giống: giống Cóc đốm Kalophrynus, giống Ễnh ương Kaloula, giống Nhái bầu Microhyla Các nghiên cứu về họ Nhái bầu
Microhylidae ở Việt Nam nói chung và khu vực Bắc Trung Bộ nói riêng được biết đến chủ yếu trong các điều tra thành phần loài, bổ sung các vùng phân bố và các đặc điểm hình thái phân loại Hiện nay, ngoài những nghiên cứu đó cần phải tiếp tục nghiên cứu
ở mức độ quần thể của các loài, sự phân hóa các đặc điểm hình thái phân loại các quần thể loài ở các điểm nghiên cứu theo điều kiện địa hình, khí hậu cũng như các đặc điểm sinh thái học làm cơ sở cho phân loại học và bảo vệ đa dạng sinh học
Việc nghiên cứu các loài trong họ Microhylidae là việc làm cần thiết nhằm phục vụ cho nghiên cứu về lưỡng cư ở Bắc Trung Bộ nói riêng cũng như ở Việt Nam Bên cạnh đó cũng là nguồn tư liệu phục vụ cho biên soạn động vật chí Việt Nam, chính vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm hình thái phân loại các loài trong họ Microhylidae ở khu vực Bắc Trung Bộ”
Trang 122 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đặc điểm hình thái các loài trong họ Microhylidae ở khu vực Bắc Trung Bộ nhằm cung cấp dẫn liệu một cách có hệ thống về các loài lưỡng cư trong họ Mycrohylidae trong vùng và bổ sung tư liệu về đặc điểm hình thái phân loại của các loài cho bộ môn ếch nhái, bò sát ở Việt Nam
3 Nội dung nghiên cứu
- Xác định thành phần loài trong họ Microhylidae ở khu vực Bắc Trung Bộ
- Mô tả đặc điểm hình thái và xây dựng khóa định loại cho các loài trong họ
Mycrohylidae
4 Ý nghĩa của đề tài
- Cung cấp dẫn liệu hình thái phân loại và phân bố của các loài trong họ
Microhylidae cho bộ môn ếch nhái, bò sát học ở Việt Nam, làm cơ sở cho công tác
phân loại học
- Bổ sung vùng phân bố của các loài ở Bắc Trung Bộ cho khu hệ ếch nhái bò sát
Việt Nam
- Góp thêm tư liệu giảng dạy cho nội dung thực hành phân loại lưỡng cư, bò sát
thuộc học phần Động vật học ở Trường đại học
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Lược sử nghiên cứu họ Nhái bầu Microhylidae ở Việt Nam và khu vực Bắc Trung Bộ
1.1.1 Nghiên cứu họ Microhylidae ở Việt Nam
Ở Việt Nam, các nghiên cứu điều tra cơ bản lưỡng cư đã được tiến hành từ lâu Năm 1992, Trần Kiên, Hoàng Xuân Quang nghiên cứu về phân khu động vật – địa lý học bò sát, ếch nhái Việt Nam đã thống kê ở khu Tây Bắc có 116 loài bò sát, 52 loài ếch nhái Ở khu Đông Bắc có 125 loài bò sát, 53 loài ếch nhái Ở khu đồng bằng Bắc Bộ - Thanh Nghệ Tĩnh có 27 loài bò sát, 12 loài ếch nhái Ở khu Bắc Trung Bộ có
76 loài bò sát, 32 loài ếch nhái Khu Trung Trung Bộ có 84 loài bò sát và 36 loài ếch nhái Khu Nam Trung Bộ có 10 loài bò sát và 48 loài ếch nhái Khu đồng bằng Nam
Bộ có 96 loài bò sát và 24 loài ếch nhái [13]
Năm 1997, Lê Nguyên Ngật, Nguyễn Văn Sáng, Hoàng Xuân Quang, Ngô Đắc Chứng, Đoàn Thị Phương Lý nghiên cứu thành phần loài, sinh học một số loài ếch nhái, bò sát ở hệ sinh thái rừng đã thống kê được số loài ở 9 khu vực là 151 loài, trong
đó ếch nhái có 65 loài, 9 họ, 3 bộ, lớp bò sát có 86 loài, 18 họ, 3 bộ Cụ thể ở rừng Tam Đảo có 107 loài, 21 họ, 5 bộ; Ba Vì 62 loài, 16 họ, 3 bộ; Cúc Phương 59 loài, 17
họ, 3 bộ; Hoàng Liên Sơn 82 loài, 14 họ, 3 bộ; Tây Nam Nghệ An 56 loài, 19 họ, 3 bộ; Bắc Trung Bộ 93 loài, 23 họ, 4 bộ; Bạch Mã 49 loài, 15 họ, 3 bộ; Ngọc Linh 53 loài,
20 họ, 4 bộ; Tây Quảng Nam 66 loài, 19 họ, 3 bộ Trong đó họ Microhylidae có 7 loài
là Kalophrynus pleurostigma, Kaloula pulchra, Microhyla berdmorei, Microhyla
heymonsi, Microhyla ornata, Microhyla picta và Microhyla pulchra [17]
Năm 2000, Phạm Văn Hòa, Ngô Đắc Chứng, Hoàng Xuân Quang nghiên cứu khu hệ bò sát, ếch nhái ở vùng núi Bà Đen (Tây Ninh) đã thống kê được 71 loài ếch nhái, bò sát thuộc 5 bộ, 19 họ gồm 59 loài bò sát thuộc 14 họ, 3 bộ và 12 loài ếch nhái
thuộc 5 họ, 2 bộ Trong đó họ Microhylidae có 5 loài là Glyphoglous molosus, Kaloula
pulchra, Microhyla inornata, Microhyla ornata và Microhyla palmipes [10]
Trang 14Năm 2002, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc nghiên cứu thành phần loài bò sát, ếch nhái của Vườn quốc gia Cát Tiên đã xác định được 121 loài, gồm 79 loài bò sát thuộc 17 họ, 4 bộ và 42 loài ếch nhái thuộc 6 họ, 2 bộ Trong đó họ Microhylidae có
11 loài là Kaloula pulchra, Calluela guttulata, Glyphoglossus molossus, Kalophrynus
pleurostigma, Microhyla annamensis, Microhyla butleri, Microhyla berdmorei, Microhyla heymonsi, Microhyla inornata, Microhyla pulchra và Microhyla ornata
[37] Nguyễn Văn Sáng, Trần Văn Thắng nghiên cứu thành phần loài bò sát, ếch nhái của khu bảo tồn thiên nhiên U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang bước đầu đã xác định được có 38 loài bò sát, ếch nhái thuộc 14 họ, 3 bộ, 2 lớp Trong đó họ Microhylidae không có loài nào [41] Hồ Thu Cúc đánh giá nguồn tài nguyên bò sát, ếch nhái của khu vực đầm Ao Châu, Hạ Hòa, Phú Thọ đã thống kê được 54 loài, trong đó có 36 loài
bò sát thuộc 15 họ, 2 bộ và 18 loài ếch nhái thuộc 5 họ, 2 bộ Họ Microhylidae có 5
loài là Kaloula pulchra, Microhyla butleri, Microhyla heymonsi, Microhyla ornata và
Microhyla pulchra [4] Nguyễn Quảng Trường khảo sát thành phần loài bò sát, ếch
nhái của khu vực rừng sản xuất Konplông, tỉnh Kon Tum thống kê được 20 loài bò sát thuộc 11 họ, 2 bộ và 26 loài ếch nhái thuộc 5 họ, 1 bộ Trong đó họ Microhylidae có 4
loài là Microhyla heymonsi, Microhyla ornata, Microhyla sp1 và Microhyla sp2 [51]
Ngô Đắc Chứng, Phạm Văn Hòa nghiên cứu sự phân bố của các loài ếch nhái và bò sát theo độ cao và sinh cảnh ở vùng núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh đã cho biết hầu hết các loài ếch nhái và bò sát phân bố ở độ cao dưới 700m, tất cả các loài thuộc nhóm ếch nhái đều phân bố ở độ cao dưới 50m, trong đó họ Microhylidae có 5 loài, từ 50-200m
có 6 loài, họ Microhylidae có 2 loài [2]
Năm 2005, Nguyễn Văn Sáng nghiên cứu thành phần loài ếch nhái, bò sát của tỉnh Sơn La đã thống kê được 104 loài Ếch nhái, Bò sát thuộc 22 họ, 4 bộ Trong đó họ
Mycrohylidae có 6 loài là Kaloula pulchra, Microhyla berdmorei, M butleri , M
heymonsi, M ornata và M pulchra [38] Hồ Thu Cúc, Nikolai Orlov, Amy Lathrop
nghiên cứu ếch nhái, bò sát ở khu bảo tồn thiên nhiên Pia Oắc, tỉnh Cao Bằng đã thống
kê được 65 loài bò sát thuộc 10 họ, 2 bộ và 36 loài ếch nhái thuộc 7 họ, 3 bộ Trong đó
họ Mycrohylidae có 3 loài là Microhyla heymonsi, M ornata và M pulchra [6]
Nguyễn Văn Sáng, Nguyễn Quảng Trường, Hồ Thu Cúc nghiên cứu ếch nhái,
bò sát của huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai đã thống kê được 80 loài, gồm 38 loài bò sát
Trang 15thuộc 12 họ, 2 bộ và 42 loài ếch nhái thuộc 6 họ, 2 bộ Trong đó họ Mycrohylidae có 3
loài là Microhyla butleri, M pulchra và M ornate [39]
Năm 2007, Nguyễn Văn Sáng, Nguyễn Quảng Trường, Hồ Thu Cúc, Đoàn Văn
Kiên nghiên cứu thành phần loài ếch nhái (Amphibia) và bò sát (Reptilia) vùng núi
Mẫu Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã thống kê được 74 loài thuộc 16 họ, 4 bộ bao gồm 28 loài
ếch nhái và 46 loài bò sát Trong đó, họ Microhylidae có 4 loài là Microhyla butleri,
Microhyla fissipes, Microhyla heymonsi và Microhyla pulchra [40] Nguyễn Quốc
Thắng, Nguyễn Ngọc Sang điều tra ếch nhái và bò sát tại Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát, Tây Ninh đã thống kê được 80 loài, thuộc 4 bộ, 21 họ, 56 giống bao gồm 57 loài
bò sát, thuộc 2 bộ, 15 họ, 41 giống và 23 loài ếch nhái thuộc 2 bộ, 6 họ, 15 giống Họ
Microhylidae có 11 loài là Calluella guttulata, Kalophrynus interlineatus, Kaluola
baleata, Kaloula pulchra, Microhyla berdmorei, Microhyla butleri, Microhyla fissipes, Microhyla heymonsi, Microhyla picta, Microhyla pulchra và Micryletta inornata [45] Nguyễn Quốc Thắng, Nguyễn Ngọc Sang điều tra ếch nhái và bò sát tại
Vườn quốc gia Núi Chúa, Ninh Thuận đã thống kê được 74 loài thuộc 50 giống, 20 họ,
3 bộ gồm 53 loài sát, thuộc 2 bộ, 13 họ và 21 loài ếch nhái thuộc 6 họ Họ
Microhylidae có 5 loài là Kaloula pulchra, Microhyla heymonsi, Microhyla fissipes,
Microhyla picta và Microhyla pulchra [46] Trần Thị Anh Thư, Lê Nguyên Ngật
nghiên cứu lưỡng cư, bò sát ở thành phố Cần Thơ, Hậu Giang và Vĩnh Long đã thống
kê được 52 loài thuộc 42 giống, 19 họ, 4 bộ Trong đó họ Microhylidae có 4 loài là
Kalophrynus interlineatus, Kaloula pulchra, Microhyla heymonsi và Microhyla ornata
[55] Lê Đình Thủy, Đặng Huy Phương, Hồ Thu Cúc nghiên cứu đa dạng sinh học thú, chim, bò sát, ếch nhái của khu du lịch sinh thái hồ Tuyền Lâm, tỉnh Lâm Đồng đã thống kê được có 54 loài bò sát, ếch nhái bao gồm 32 loài bò sát thuộc 10 họ, 2 bộ và
22 loài ếch nhái thuộc 5 họ, 1 bộ [47]
Năm 2011, Hoàng Thị Nghiệp, Ngô Đắc Chứng nghiên cứu thành phần loài lưỡng cư ở vùng An Giang và Đồng Tháp đã xác định được 24 loài thuộc 2 bộ, 6 họ,
14 giống Trong đó họ Microhylidae có 4 loài là Kaloula pulchra, Microhyla fissipes,
Microhyla heymonsi và Micryletta inornata [21] N.A Poyarkov, A.B Vassillieva
nghiên cứu sự đa dạng của bò sát và lưỡng cư tại Côn Đảo và danh mục sơ bộ của bò
Trang 16sát, lưỡng cư ở Vườn quốc gia Côn Đảo (tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Việt Nam) đã ghi nhận có sự hiện diện của 11 loài động vật lưỡng cư và 31 loài thuộc lớp bò sát, trong
đó có 12 loài, 9 giống, 4 họ và 1 bộ lần đầu tiên được phát hiện tại Côn Đảo [22] Lê Nguyên Ngật, Lê Thị Ly, Hoàng Văn Ngọc nghiên cứu lưỡng cư bò sát ở vùng Tây Bắc Việt Nam đã xác định được 98 loài bò sát thuộc 65 giống, 16 họ, 2 bộ và 59 loài
lưỡng cư thuộc 29 giống, 9 họ, 3 bộ Trong đó họ Microhylidae có 7 loài là Calluella
yunnanensis, Kaloula pulchra, Microhyla berdmorei, Microhyla butleri, Microhyla fissipes, Microhyla heymonsi và Microhyla pulchra [20]
Năm 2012, Nguyễn Huy Hoàng, Vũ Ngọc Thành, Phí Bảo Khanh, Lê Vũ Khôi nghiên cứu bộ sưu tập lưỡng cư, bò sát tại Bảo tàng sinh học, Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên, Đại Học Quốc Gia Hà Nội đã xác định được 219 loài thuộc 33 họ và 6
bộ, gồm 57 loài lưỡng cư thuộc 10 họ, 3 bộ và 163 loài bò sát thuộc 23 họ, 3 bộ Trong
đó họ Microhylidae có 8 loài là Kaloula pulchra, Kalophrynus interlineatus,
Microhyla berdmorei, Micryletta inornata, Microhyla heymonsi, Microhyla fissipes, Microhyla picta và Microhyla pulchra [9] Đàm Thị Hà Trang, Lê Thị Thùy Dương
nghiên cứu lưỡng cư đô thị khu vực trung tâm thành phố Hồ Chí Minh đã ghi nhận 8 loài lưỡng cư thuộc 5 họ trong cùng bộ Anura tại 18 điểm khảo sát trong khu vực nội
thành thành phố Hồ Chí Minh Trong đó, họ Microhylidae có 7 loài là Microhyla
fissipes, Kaloula pulchra, Glyphoglossus molossus, Microhyla butleri, Microhyla heymonsi, Microhyla pulchra và Micryleta inornata [54]
1.1.2 Nghiên cứu họ Microhylidae ở khu vực Bắc Trung Bộ
Ở khu vực Bắc Trung Bộ, nhiều nghiên cứu về khu hệ lưỡng cư, bò sát đã được thực hiện:
Năm 1992, Hoàng Xuân Quang thống kê danh sách sát, ếch nhái Bắc Trung
Bộ đã ghi nhận họ Microhylidae có các loài là Kalophrynus pleurostigma, Kaloula
pulchra, Microhyla heymonsi, Microhyla ornaya, Microhyla pulchra Nguyễn Văn
Sáng, Hoàng Xuân Quang điều tra bò sát, ếch nhái tại Vũ Quang, Hà Tĩnh đã thống kê được khu vực Vũ Quang có 37 loài bò sát thuộc 12 họ, 2 bộ, 20 loài ếch nhái thuộc 5
họ, 1 bộ [35]
Trang 17Hoàng Xuân Quang nghiên cứu ếch nhái bò sát trong hệ sinh thái nông lâm nghiệp trung du, miền núi Nghệ An đã thống kê được 54 loài bò sát và 19 loài ếch nhái Trong đó họ Microhylidae có 3 loài, số loài phân bố không đều ở các sinh cảnh,
ở sinh cảnh đồng ruộng, nhóm ếch nhái có số loài nhiều hơn cả với 7 loài trong đó có
Microhyla pulchra và Microhyla ornata [23]
Hoàng Xuân Quang, Nguyễn Văn Sáng, Lê Nguyên Ngật nghiên cứu thành phần loài ếch nhái bò sát Tây Nam – Nghệ An đã thống kê được 38 loài bò sát và 18
loài ếch nhái thuộc 3 bộ, 19 họ Trong đó họ Microhylidae có 2 loài là Microhyla
pulchra và Microhyla ornata [25]
Năm 1999, Hoàng Xuân Quang, Mai Văn Quế nghiên cứu thành phần loài ếch nhái bò sát khu vực Chúc A (Hương Khê, Hà Tĩnh) đã thống kê được 46 loài ếch nhái
bò sát bao gồm 33 loài bò sát và 13 loài ếch nhái thuộc 18 họ Trong đó họ
Microhylidae có 2 loài là Microhyla sp1 và Microhyla sp2 [26] Hoàng Xuân Quang,
Ngô Đắc Chứng nghiên cứu về khu phân bố ếch nhái bò sát Nam Đông – Bạch Mã – Hải Vân đã thống kê được 41 loài bò sát và 23 loài ếch nhái Trong đó họ Microhylidae có 2 loài [27]
Trong báo cáo khoa học hội nghị sinh học quốc gia, Hoàng Xuân Quang, Mai Văn Quế điều tra nghiên cứu bò sát ếch nhái khu vực Chúc A (Hương Khê, Hà Tĩnh) (1998 – 4/2000) đã xác định có 18 họ, 40 giống, 53 loài gồm có 35 loài bò sát và 18
loài ếch nhái Trong đó họ Microhylidae có 1 loài là Microhyla ornata [28]
Năm 2000, Nguyễn Văn Sáng, Hoàng Xuân Quang nghiên cứu khu hệ bò sát, ếch nhái Vườn quốc gia Bến En (Thanh Hóa) đã thống kê được 85 loài gồm 54 loài bò
sát và 31 loài ếch nhái Trong đó họ Microhylidae có 9 loài là Kaloula pulchra,
Mcrohyla annamensis, Microhyla iornata, Microhyla heymonsi, Microhyla ornata, Microhyla butleri, M picta, Microhyla pulchra và M berdmorei [36]
Năm 2001, Lê Nguyên Ngật, Hoàng Xuân Quang điều tra về thành phần loài ếch nhái, bò sát ở khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát, tỉnh Nghệ An đã thống kê được 71 loài, trong đó 21 loài ếch nhái thuộc 5 họ, 1 bộ và 50 loài bò sát thuộc 16 họ, 3 bộ Họ
Microhylidae có 3 loài là Kaloula pulchra, Microhyla ornata và Microhyla pulchra [19]
Trang 18Năm 2002, Hồ Thu Cúc điều tra bò sát, ếch nhái của khu vực A Lưới, tỉnh Thừa Thiên – Huế đã thống kê được 49 loài bò sát thuộc 13 họ, 2 bộ và 27 loài ếch nhái
thuộc 7 họ, 2 bộ Trong đó họ Microhylidae có 3 loài là Microhyla berdmorei,
Microhyla heymonsi và Microhyla ornata [5] Lê Vũ Khôi, Bùi Hải Hà, Đỗ Tước,
Đinh Thị Phương Anh khảo sát thành phần loài ếch nhái của khu vực Bà Nà (Hòa Vang, Đà Nẵng) bước đầu đã thống kê được 24 loài ếch nhái thuộc 6 họ của Bộ không
đuôi (Anura) Trong đó họ Microhylidae có 3 loài là Microhyla ornata, Microhyla
picta và Kaloula pulchra [11] Trần Kiên, Hoàng Xuân Quang, Nguyễn Thị Bích Mẫu,
Cao Tiến Trung nghiên cứu thành phần loài ếch nhái bò sát và mật độ của chúng ở đồng ruộng và khu dân cư của thành phố Vinh và huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An đã thống kê được 8 loài bò sát thuộc 4 họ, 1 bộ và 10 loài ếch nhái thuộc 5 họ, 1 bộ
Trong đó họ Microhylidae có 2 loài là Microhyla pulchra và Kaloula pulchra [14]
Hoàng Xuân Quang, Trần Ngọc Lân, Cao Tiến Trung, Nguyễn Thị Bích Mẫu, Đậu Quang Vinh, Trần Kiên tìm hiểu mối quan hệ giữa ếch nhái thiên địch và sâu hại trên ruộng lúa của xã Vinh Tân trong vụ đông xuân và vụ hè thu, năm 2001 cho thấy một
số loài ếch nhái thiên địch là những loài ăn tạp Trong 5 loài ếch nhái nghiên cứu, ngóe
Rana limnocharis là loài có thành phần thức ăn đa dạng nhất, tiếp đến là Ễnh ương Kaloula pulchra, chẫu chuộc Rana guentheri, chàng hiu Rana guentheri và nhái bầu Microhyla pulchra có thành phần thức ăn hẹp nhất [30] Nguyễn Kim Tiến điều tra
thành phần loài ếch nhái, bò sát của khu di tích lịch sử Lam Kinh và vùng phụ cận, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa đã thống kê được 28 loài ếch nhái, bò sát thuộc 11
họ, lớp bò sát có 18 loài thuộc 7 họ, 3 bộ, lớp ếch nhái có 10 loài thuộc 4 họ, 1 bộ Họ
Microhylidae có 2 loài là Microhyla ornata và Microhyla pulchra [50]
Năm 2002, Hoàng Xuân Quang, Trần Ngọc Lân, Cao Tiến Trung, Nguyễn Thị Bích Mẫu, Nguyễn Thị Thanh nghiên cứu cơ sở phục hồi và phát triển một số động vật thiên địch nhóm bò sát lưỡng cư ở hệ sinh thái đồng ruộng Nghệ An và Hà Tĩnh đã thống kê được thành phần ếch nhái bò sát thiên địch trên ruộng lúa ở Quỳnh Lưu, Vinh, thị xã Hồng Lĩnh và xã Cẩm Mỹ hiện biết 10 loài ếch nhái thuộc 5 họ, 1 bộ và
16 loài bò sát thuộc 6 họ, 1 bộ Trong đó trên sinh quần nông nghiệp ở các xã Quỳnh Hậu, Quỳnh Hưng và Quỳnh Giang hiện biết 10 loài ếch nhái bò sát thuộc 7 giống, 5
Trang 19họ, 1 bộ và 18 loài bò sát thuộc 14 giống, 7 họ, 2 bộ Trong 6 loài nghiên cứu thì họ
Microhylidae có 2 loài là Kaloula pulchra và M pulchra có mật độ cá thể trung bình
thấp Trên đồng ruộng Vinh Tân hiện biết 10 loài ếch nhái thuộc 5 họ, 1 bộ và 6 loài
bò sát thuộc 4 họ, 1 bộ Trong đó, họ Microhylidae có hai loài là Microhyla pulchra và
Kaloula pulchra có mật độ cá thể thấp Trên ruộng lúa Hồng Lĩnh hiện biết 9 loài ếch
nhái thiên địch thuộc 4 họ, 1 bộ Trong đó, họ Microhylidae có 2 loài là Microhyla
pulchra và Kaloula pulchra có mật độ cá thể tương đối cao [29]
Năm 2003, Hoàng Xuân Quang, Nguyễn Ngọc Hợi, Trần Ngọc Lân, Cao Tiến Trung, Nguyễn Đức Diện, Nguyễn Văn Quế, Nguyễn Văn Hiếu, Đậu Quang Vinh đánh giá nhanh đa dạng sinh học khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống cho thấy có 35 loài bò sát thuộc 12 họ, 2 bộ và 19 loài ếch nhái thuộc 5 họ, 1 bộ Trong đó họ Microhylidae có 3
loài là Kaloula pulchra, Microhyla pulchra và Microhyla heymonsi [31]
Năm 2005, Lê Nguyên Ngật nghiên cứu ếch nhái, bò sát ở khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông, tỉnh Quảng Trị đã thống kê được 32 loài bò sát thuộc 30 giống của 13
họ, 2 bộ và 17 loài ếch nhái thuộc 11 giống của 5 họ, 1 bộ Trong đó họ Mycrohylidae
có 4 loài là Kalophrynus interlineatus, Microhyla anamensis, M heymonsi và M
ornata [18]
Hoàng Xuân Quang, Hoàng Ngọc Thảo, Cao Tiến Trung nghiên cứu ếch nhái,
bò sát ở khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống, tỉnh Nghệ An đã thống kê được 87 loài gồm 62 loài bò sát thuộc 21 họ của 3 bộ và 25 loài ếch nhái Trong đó họ
Mycrohylidae có 4 loài là Kaloula pulchra, Microhyla heymonsi, M ornate và M
pulchra [24]
Năm 2007, Hoàng Xuân Quang, Hoàng Ngọc Thảo, Hồ Anh Tuấn, Cao Tiến Trung, Nguyễn Văn Quế nghiên cứu lưỡng cư, bò sát ở vườn quốc gia Bạch Mã (1996- 2006) đã thống kê được 93 loài lưỡng cư, bò sát thuộc 19 họ, 3 bộ, trong đó có
56 loài bò sát và 37 loài lưỡng cư Trong đó họ Mycrohylidae có 5 loài là Kaloula
pulchra, Microhyla annamensis, Microhyla berdmorei, Microhyla ornata và Microhyla pulchra [32] Hồ Thu Cúc, Nguyễn Quảng Trường, Nikolai orlov nghiên
cứu thành phần loài ếch nhái (Amphibia) và bò sát (Reptilia) khu vực huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị đã ghi nhận được có 92 loài gồm 51 loài bò sát thuộc 8 họ, 2 bộ
Trang 20và 41 loài ếch nhái thuộc 6 họ, 1 bộ Trong đó họ Microhylidae có 5 loài là Microhyla
berdmorei, Microhyla fissipes, Microhyla heymonsi, Microhyla marmorata và Microhyla pulchra [7] Đoàn Văn Kiên, Hồ Thu Cúc nghiên cứu thành phần loài ếch
nhái (Amphibia) và bò sát (Reptilia) tại khu vực Lệ Thủy và Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình đã ghi nhận được 75 loài thuộc 56 giống, 19 họ, 4 bộ, trong đó có 51 loài bò sát
và 24 loài ếch nhái Họ Microhylidae có 5 loài là Kaloula pulchra, Microhyla butleri,
Microhyla heymonsi, Microhyla ornata và Microhyla pulchra [16] Nguyễn Kim Tiến
nghiên cứu thành phần loài lưỡng cư, bò sát ở xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy, Thanh Hóa đã thống kê được 29 loài bò sát thuộc 2 bộ, 10 họ và 18 loài lưỡng cư
thuộc 1 bộ, 4 họ Trong đó họ Microhylidae có 4 loài là Calluela guttulata, Microhyla
ornata, M picta và Micryletta inornata [49]
Năm 2009, Đậu Quang Vinh, Hoàng Ngọc Thảo nghiên cứu ếch nhái, bò sát ở huyện Quỳ Hợp, Nghệ An đã thống kê được có 74 loài gồm 18 loài ếch nhái và 56 loài
bò sát thuộc 21 họ, 3 bộ Trong đó họ Mycrohylidae có 4 loài là Kaloula pulchra,
Microhyla heymonsi, Microhyla ornata và Microhyla pulchra [56]
Năm 2011, Lê Vũ Khôi, Hoàng Ngọc Thảo, Hoàng Xuân Quang nghiên cứu khu hệ động vật có xương sống trên cạn (thú, chim, bò sát, ếch nhái) ở khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống đã ghi nhận có 462 loài thuộc 101 họ, 28 bộ Trong đó, lớp Bò sát có 72 loài thuộc 15 họ, 2 bộ và lớp Lưỡng cư có 25 loài thuộc 7 họ, 1 bộ [12]
Năm 2011, Nguyễn Kim Tiến, Nguyễn Thị Dung, Hoàng Thị Ngân, Trương Nho Tự nghiên cứu thành phần loài lưỡng cư, bò sát khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu, tỉnh Thanh Hóa đã ghi nhận có 78 loài thuộc 22 họ, 3 bộ gồm 32 loài lưỡng cư thuộc 7
họ, 1 bộ và 46 loài bò sát thuộc 15 họ, 2 bộ Trong đó họ Microhylidae có 5 loài là
Microhyla butleri, Microhyla fissipes, Microhyla pulchra, Microhyla heymonsi và Kaloula pulchra [52]
Năm 2012, Ngô Đắc Chứng, Võ Đình Ba, Cáp Kim Cương ghi nhận bước đầu
về thành phần loài lưỡng cư, bò sát ở tỉnh Quảng Trị có 102 loài lưỡng cư, bò sát thuộc
3 bộ, 23 họ, 67 giống Trong đó, bò sát có 64 loài thuộc 2 bộ, 16 họ, 47 giống, lưỡng
cư có 38 loài thuộc 1 bộ, 7 họ, 20 giống Họ Mycrohylidae có 8 loài là Kalophrynus
interlineatus, Kaloula pulchra, Microhyla annamensis, Microhyla berdmorei,
Trang 21Microhyla butleri, Microhyla heymonsi, Microhyla fissipes và Micryletta inornata [3]
Phạm Thế Cường, Hoàng Văn Chung, Nguyễn Quảng Trường, Chu Thị Thảo, Nguyễn Thiên Tạo khảo sát thành phần loài bò sát và ếch nhái ở khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa sơ bộ thống kê được 70 loài, trong đó có 38 loài bò sát thuộc 11
họ, 2 bộ và 32 loài ếch nhái thuộc 7 họ, 2 bộ Trong đó họ Mycrohylidae có 3 loài là
Microhyla butleri, Microhyla heymonsi và Microhyla pulchra [8] Lê Thị Thanh, Đinh
Thị Phương Anh khảo sát thành phần loài lưỡng cư và bò sát ở vùng Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi đã ghi nhận được 65 loài lưỡng cư và bò sát gồm 29 loài lưỡng cư thuộc 2
bộ, 7 họ và 36 loài bò sát thuộc 2 bộ, 11 họ Trong đó họ Microhylidae có 2 loài là
Microhyla fissipes và M heymonsi [42] Hoàng Ngọc Thảo, Hoàng Xuân Quang, Cao
Tiến Trung, Ông Vĩnh An, Nguyễn Thị Lương dựa trên các kết quả điều tra nghiên cứu trước đây và các nghiên cứu bổ sung ở khu dự trữ sinh quyển Tây Nghệ An đã xác định có 144 loài gồm 57 loài ếch nhái và 87 loài bò sát thuộc 24 họ, 5 bộ Trong đó, họ
Microhylidae có 9 loài là Kalophrynus interlineatus, Kaloula pulchra, Microhyla
annamensis, Microhyla berdmorei, Microhyla heymonsi, Microhyla marmorata, Microhyla fissipes, Microhyla picta và Microhyla pulchra [43] Nguyễn Kim Tiến,
Phạm Thị Bình, Lê Thị Hồng nghiên cứu thành phần loài lưỡng cư, bò sát ở khu bảo tồn Rừng Sến Tam Quy, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa cho biết có 51 loài lưỡng
cư, bò sát thuộc 3 bộ, 22 họ Trong đó, có 38 loài, 15 họ, 2 bộ bò sát và 13 loài, 7 họ, 1
bộ lưỡng cư Họ Microhylidae có 3 loài là Kaloula pulchra, Microhyla pulchra và
Microhyla fissipes [53]
Năm 2013, Hoàng Ngọc Thảo, Ngô Thị Lê, Lê Thị Quý nghiên cứu đặc điểm
sinh học quần thể loài Nhái bầu hoa Microhyla fissipes ở xã Châu Bính, huyện Quỳ
Châu, tỉnh Nghệ An đã cho thấy quần thể loài Nhái bầu hoa có sự ổn định về các tính trạng và tỉ lệ hình thái, sự sai khác giữa các cá thể đực và cái trong quần thể là không đáng kể Các cá thể cái có khối lượng buồng trứng trung bình 0,23g (dao động từ 0,01 đến 0,72g) Các cá thể đực có khối lượng tinh hoàn trung bình 0,009g (dao động từ 0,001 đến 0,007g) Phổ thức ăn ở Nhái bầu hoa là khá hẹp với 6 bộ, loại thức ăn phổ biến thuộc bộ Cánh màng Hymenoptera và bộ Cánh cứng Coleoptera [44]
Trang 22Trong số các nghiên cứu ở khu vực Bắc Trung Bộ, có 2 công trình nghiên cứu được viết thành chuyên khảo là công bố về khu hệ lưỡng cư bò sát của KBTTN Pù Huống (2008) và VQG Bạch Mã (2012) của Hoàng Xuân Quang và cộng sự [33, 34] Đây được xem là các công bố một cách đầy đủ và quan trọng về khu hệ lưỡng cư bò sát của một vùng
1.2 Khái quát về điều kiện tự nhiên khu vực Bắc Trung Bộ
1.2.1 Vị trí địa lý
Khu vực Bắc Trung Bộ có tọa độ địa lý từ 16012’ – 20040’ vĩ độ Bắc, 1040
25’-108010’ kinh độ Đông Phía Bắc giáp đồng bằng sông Hồng, phía Nam giáp duyên hải Nam Trung Bộ, phía tây giáp với Trường Sơn và Lào, phía đông giáp biển Đông (Vịnh Bắc Bộ), bao gồm cả trung du và miền núi, hải đảo dọc suốt lãnh thổ Vị trí địa lý của vùng giống như chiếc cầu nối giữa phần phía Bắc với phần phía Nam nước ta, giữa nước Lào và biển Đông Bao gồm 6 tỉnh từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên - Huế Diện tích toàn vùng 51 500,7km2
1.2.2 Đặc điểm địa hình
Địa hình Bắc Trung Bộ đa dạng có cả trung du, miền núi, hải đảo dọc suốt lãnh thổ, địa hình phân dị phức tạp, chia cắt lớn hẹp ngang và lại kéo dài Đại bộ phận là đồi núi, sườn phía đông hướng ra biển có độ dốc lớn, đồng bằng nhỏ hẹp và bị chia cắt, sông suối dốc, chảy xiết, thường gây lũ lụt bất ngờ Có nhiều vũng nước sâu, cửa sông và các đầm phá, các dải cồn cát ven biển, tiếp đến là các dải đồng bằng nhỏ hẹp ở giữa hoặc đồng bằng bãi bồn ven sông, trong vùng có hai đồng bằng có diện tích đáng
kể là đồng bằng ven biển Thanh Hóa và Nghệ An Ở phía tây là trung du và miền núi thuộc dải Trường Sơn Bắc Bao gồm các dãy núi phía Tây (dải Trường Sơn Bắc, hướng Tây Bắc – Đông Nam) Nơi giáp Lào có độ cao trung bình và thấp Riêng trung
du và miền núi thuộc dải Trường Sơn Bắc Bao gồm các dãy núi phía Tây (dải Trường Sơn Bắc, hướng Tây Bắc – Đông Nam) Riêng miền núi phía Tây tỉnh Thanh Hóa có
độ cao từ 1000-1500m Khu vực miền núi Nghệ An – Hà Tĩnh là đầu nguồn của dãy Trường Sơn có địa hình rất hiểm trở, phần lớn các núi cao nằm rải rác ở đây
Đây là nơi bắt đầu của dãy Trường Sơn, địa hình chia cắt phức tạp bởi các con sông và một số dãy núi đâm ra biển Đó là các dãy núi Hoàng Mai (Nghệ An), Hồng
Trang 23Lĩnh (Hà Tĩnh), Hoành Sơn (Quảng Bình), Bạch Mã (Nam Thừa Thiên – Huế), khu vực Thanh Hóa và Bắc sông Cả có hệ thống núi tiếp nối với Tây Bắc Dãy núi đá vôi
Pù Luông – Cúc Phương thuộc khu vực rừng núi đá vôi đất thấp lớn nhất còn lại ở miền Bắc Việt Nam Các dãy núi chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam; Dãy Bắc Trường Sơn chạy theo hướng song song với biển Có cả dãy núi ra sát biển tạo thành đèo Ngang (dãy Hoành Sơn) và đèo Hải Vân (dãy Bạch Mã) Ngoài ra còn có các dãy núi đá vôi như Quỳ Hợp, Quỳ Châu (Nghệ An), Phong Nha Kẻ Bàng (Quảng Bình)…
Khu vực Bắc Trung Bộ với diện tích chiếm 15,64% diện tích của cả nước nhưng có tới 14 khu bảo tồn, gồm có các Vườn quốc gia (VQG), khu Bảo tồn thiên nhiên (KBTTN), khu đề xuất BTTN và một khu Dự trữ sinh quyển thế giới miền Tây Nghệ An Trong khu vực có nhiều cảnh quan đa dạng
Khu vực này có các vườn quốc gia: Vườn quốc gia Bến En, Vườn quốc gia Pù Mát, Vườn quốc gia Vũ Quang, Vườn quốc gia Phong Nha – Kẽ Bàng, Vườn quốc gia Bạch Mã
1.2.3 Khí hậu, thủy văn
Đây là vùng khắc nghiệt nhất so với các vùng trong cả nước, hàng năm thường xảy ra nhiều thiên tai như bão, lũ lụt, gió Lào (gió Phơn Tây Nam), hạn hán mà nguyên nhân cơ bản là do vị trí và cấu trúc địa hình tạo nên Nằm ở khoảng giữa nước
ta, nơi hằng năm chịu ảnh hưởng nhiều nhất các đợt hoạt động của khí áp Tây Thái Bình Dương (áp thấp nhiệt đới) là nguyên nhân gây ra lũ lụt Mùa mưa lũ ở Bắc Trung
Bộ thường xảy ra từ tháng 7 đến tháng 10
Vào mùa đông, do gió mùa thổi theo hướng Đông Bắc mang theo hơi nước từ biển vào nên toàn khu vực chịu ảnh hưởng của thời tiết lạnh kèm theo mưa, từ cuối tháng 10 cho tới tháng 3 năm sau Những đợt hoạt động mạnh của gió mùa Đông Bắc tác động sâu sắc tới nền khí hậu trong vùng Đến mùa hè (từ tháng 4 đến tháng 8 hàng năm) gió Tây (gió mát) khi vượt qua dãy Trường Sơn đổ xuống đây lại là gió nóng, vì hơi nước đã bị ngăn lại ở sườn Tây Chính gió này mang hơi nóng tới các vùng ven biển, gọi là gió Lào, thổi ngược lên gây nên thời tiết khô nóng, trong khi đó độ ẩm không khí lại rất thấp Nơi chịu ảnh hưởng sâu sắc nhất của gió Lào là các tỉnh Nghệ
An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và Quảng Trị Gió này không những gây ảnh hưởng tới sức
Trang 24khỏe con người, vật nuôi, cây trồng mà có những năm kết hợp với hạn hán đã đốt cháy
cả cây cối mùa màng trong khu vực
Hệ thống sông ngòi của khu vực Bắc Trung Bộ tương đối dày, cứ 20 km ven bờ lại có một cửa sông đổ ra biển Từ phía Nam đèo Ngang những đoạn kênh đào lại xuất hiện vào tận Nam Thừa Thiên – Huế Bao gồm nhiều sông, suối, các con sông lớn chủ yếu được bắt nguồn từ dãy Trường Sơn và đổ ra biển Đông Các con sông chính như: Sông
Mã (Thanh Hóa), sông Cả (Nghệ An), sông Nhật Lệ (Quảng Bình), sông Bến Hải (Quảng Trị), sông Hương (Thừa Thiên – Huế)…Đặc điểm sông ngòi vùng Bắc Trung
Bộ là ngắn, dốc, lòng sông không rộng, phần hạ lưu bị thu hẹp, nhưng sông ngòi ở đây lại có nhiều lạch gần cửa sông có mực nước sâu, nước thủy triều lên xuống tương đối đều đặn Lũ thường lên nhanh và rút nhanh
1.2.4 Tài nguyên thiên nhiên
- Bắc Trung Bộ có diện tích đất cát, đất bạc màu, đất trơ sỏi đá chiếm tỉ lệ lớn
Có ba loại đất chính: Đất đỏ vàng trung du miền núi, bao gồm đất đỏ feralit, đất đỏ bazan hoặc đất feralit đã phân hủy từ nguồn gốc đá vôi Đất phù sa bồi tụ ven sông hoặc đồng bằng ven biển và đất cát hoặc cát pha ven biển
- Đất tự nhiên của vùng có hơn 5 triệu ha, trong đó đã sử dụng là 2,8 triệu ha, đất lâm nghiệp của toàn vùng là 3,4 triệu ha, trong đó đất có rừng gần 1,7 triệu ha Trong số đất có rừng bao gồm 1,5 triệu ha rừng tự nhiên và 168,4 nghìn ha rừng trồng Tổng diện tích đất lâm nghiệp không còn rừng là 1,6 triệu ha, diện tích núi đá là
204,011 ha
- Rừng Bắc Trung Bộ là một trong những nguồn lực phong phú Tài nguyên rừng của vùng chỉ đứng sau Tây Nguyên, chính rừng đã cung cấp một phần quan trọng
về gỗ và lâm sản, hàng hóa cho đất nước và xuất khẩu, các sản phẩm như nứa, luồng…
- Bắc Trung Bộ là cái nôi của hệ thực vật nhiệt đới ẩm ở Việt Nam, mang tính
đa dạng cao, với nhiều nét đặc thù hiếm có Hệ thực vật khu vực Bắc Trung Bộ cung cấp nguồn tài nguyên phong phú về cây làm thuốc, cây lấy gỗ, cây làm thức ăn, cây làm cảnh, cho dầu béo, cho chất độc, cho tinh dầu, cho lấy sợi và các công dụng khác
Ngoài ra khu vực này còn có nhiều đặc sản dưới tán rừng và tài nguyên động vật phong phú có giá trị kinh tế như hươu, nai, khỉ…nhiều loài lưỡng cư bò sát có giá trị
Trang 25- Bắc Trung Bộ còn có nhiều bãi ngang, đầm phá Vùng biển có thềm lục địa rộng và nhiều tài nguyên khoáng sản biển Qua điều tra có 30 – 40 loài cá kinh tế, khoảng 30 loài tôm he, và nhiều loài mực
- Bên cạnh tài nguyên đất, rừng và biển khu vực còn có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, đa dạng mà nổi bật là một số loài có tỉ trọng lớn so với khu vực khác như: Cromatít, quặng sắt, đá vôi xi măng, cát, thủy tinh, sét làm gạch, ngói, titan, đá vôi làm xi măng, nhôm…
Trang 26Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các loài lưỡng cư trong họ Microhylidae ở khu vực Bắc Trung Bộ
2.2 Tư liệu nghiên cứu
- Tổng số mẫu vật nghiên cứu: 135 mẫu
- Mẫu thu ở các địa điểm thuộc khu vực Bắc Trung Bộ: Thanh Hóa, Nghệ An,
Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế, Vườn quốc gia Bạch Mã
- Nơi lưu giữ và bảo quản: Mẫu được bảo quản trong dung dịch formalin 5 – 8%, lưu giữ tại phòng thí nghiệm Động vật, Trung tâm thực hành thí nghiệm Trường Đại học Vinh
2.3 Phương pháp phân tích hình thái
Phân tích hình thái ếch nhái theo Banikov A.V.et al (1997) Các kí hiệu và
phương pháp đo kích thước các phần cơ thể (đơn vị: mm): SVL: Dài thân (từ mút mõm đến khe huyệt) HL: Dài đầu (từ góc sau hàm dưới đến mút mõm) HW: Rộng đầu (chiều rộng lớn nhất của đầu, thường là khoảng cách hai góc sau của hàm) MN: Khoảng cách sau hàm dưới đến mũi MFE: Khoảng cách sau hàm dưới đến trước mắt
MBE: Khoảng cách sau hàm dưới đến sau mắt IFE: Khoảng cách phía trước giữa hai
mắt IBE: Khoảng cách phía sau giữa hai mắt IN: Gian mũi (khoảng cách giữa hai lỗ mũi) EN: Khoảng cách trước mắt đến mũi EL: Dài mắt SN: Khoảng cách từ mũi đến mút mõm SE: Dài mõm (từ trước mắt đến mút mõm) TYD: Đường kính lớn nhất của màng nhĩ TYE: Khoảng cách từ màng nhĩ đến sau mắt IUE: Gian mí mắt (khoảng cách nhỏ nhất giữa hai bờ trong của mí mắt) PalW: Chiều rộng lớn nhất của
mí mắt trên HAL: Dài bàn tay (từ bờ trong củ bàn ngoài đến mút của ngón tay dài nhất) FLL: Dài ống tay (từ khuỷu tay tới gốc củ bàn ngoài) TFL: Dài ngón III chi trước (từ củ khớp dưới ngón đầu tiên đến mút ngón tay thứ III) FL: Dài đùi TL: Dài ống chân (từ khớp gối đến cuối khớp chày – cổ) TW: Rộng ống chân FOL: Dài bàn chân (từ gốc củ bàn trong đến mút ngón dài nhất) FTL: Dài ngón IV chi sau (từ củ khớp dưới ngón đầu tiên đến mút ngón chân IV) IMT: Chiều dài của củ bàn trong
Trang 27OMT: Chiều dài của bàn ngoài (nếu có) ITL: Chiều dài ngón I chi sau (từ củ khớp
dưới ngón đầu tiên đến mút ngón chân I)
Hình 2.1 Sơ đồ đo ếch nhái không đuôi (theo Banikov A G et al., 1977; có bổ sung)
1 Lỗ mũi; 2 Mắt; 3 Màng nhĩ; 4 Dải mũi; 5 Mí mắt trên; 6 Rộng mí mắt trên;
7 Gian mí mắt; 8 Gian mũi; 9 Khoảng cách giữa 2 dải mũi; 10 Khoảng cách từ
mõm đến mũi; 11 Dài mõm; 12 Đường kính mắt; 13 Dài màng nhĩ; 14 Dài thân; 15 Rộng đầu; 16 Lỗ huyệt; 17 Dài đùi; 18 Dài ống chân; 19 Đùi; 20 Ống chân; 21 Cổ chân; 22 Dài củ bàn trong; 23 Dài bàn chân; 24 Rộng đĩa
ngón chân
- Phương pháp định loại:
Định tên khoa học các loài theo tài liệu của Đào Văn Tiến, 1977 về định loại ếch nhái Việt Nam [48]; Bourret R., 1942 [1] Tham khảo các tài liệu có liên quan của Hoàng Xuân Quang và cs (2008, 2012) [33,34]
Trang 28Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thành phần loài ếch nhái trong họ Microhylidae ở Bắc Trung Bộ
Kết quả phân tích nghiên cứu đã xác định được 7 loài thuộc 3 giống trong họ Microhylidae ở khu vực Bắc Trung Bộ (bảng 3.1)
Bảng 3.1 Thành phần loài ếch nhái trong họ Microhylidae ở Bắc Trung Bộ
Ghi chú: I: Thanh Hóa; II: Nghệ An; III: Hà Tĩnh; IV: Quảng Bình; V: Quảng Trị; VI: Thừa Thiên - Huế
Về phân bố của các loài ở Bắc Trung Bộ: Trong số các loài ếch nhái trong họ Microhylidae, các loài phổ biến có ở hầu hết các tỉnh thuộc khu vực Bắc Trung Bộ là
Ễnh ương thường Kaloula pulchra, Nhái bầu hoa Microhyla fissipes, Nhái bầu hây môn Microhyla heymonsi Hai loài có phân bố khá rộng là Nhái bầu trung bộ
Microhyla annamensis và Nhái bầu vân Microhyla pulchra
(Blyth, 1855)
Nhái bầu becmơ
(Boulenger, 1884)
Nhái bầu hoa + + + + + +
1911
Nhái bầu hây môn
Trang 29Các loài có phân bố hẹp được tìm thấy trong vùng là Cóc đốm Kalophrynus
interlineatus và Nhái bầu bec mơ Microhyla berdmorei
3.2 Mô tả đặc điểm hình thái phân loại
3.2.1 Đặc điểm chẩn loại các giống trong họ Microhylidae
- Giống Kalophrynus Tschudi, 1838 – Giống Cóc đốm:
Mõm nhọn Có màng nhĩ Đường kính màng nhĩ bằng khoảng 3/4 đường kính mắt Ngón chân 1/4 màng Có nếp da từ sau mắt qua màng nhĩ tới vai Toàn thân nổi hạt Có hai đốm đen phía trên gốc đùi
- Giống Kaloula Gray, 1831 – Giống Ễnh ƣơng:
Mõm tròn, không có màng nhĩ Không có gờ mõm Thân nổi hạt bé, hạt tập trung rõ gần nếp da hai bên sườn Có vệt trắng sát hai bên sườn Có vệt sáng ngang giữa hai mắt
- Giống Microhyla Tschudi, 1838 – Giống Nhái bầu:
Mõm hơi tròn hoặc tù Không có màng nhĩ Có vệt sẫm hai bên thân đối xứng nhau Hai bên sườn thường có đốm đen nhỏ Chi sau có các vệt sẫm màu vắt ngang Chiều dài củ bàn trong bé hơn chiều dài ngón I (IMT/ITL<1) Khi ép hai chi sát đùi hai khớp khuỷu chạm nhau hoặc gối nhau
3.2.2 Khóa định loại các loài trong họ Microhylidae ở khu vực Bắc Trung Bộ
Trên cơ sở phân tích các mẫu thu được và tham khảo các tài liệu có liên quan, khóa định tên các loài trong họ Microhylidae được xây dựng như sau:
Trang 30Bảng 3.2 Khóa định loại các loài trong họ Microhylidae ở khu vực Bắc Trung Bộ
1(2) Lỗ mắt ngang Da nổi hạt Mõm nhọn, vượt quá hàm dưới, gờ mõm rõ
………… ……… Kalophrynus interlineatus
2(1) Lỗ mắt tròn Da nhẵn Mõm hơi tròn, không vượt quá hàm dưới, gờ mõm
không rõ
3(4) Thân mập, da dày Có gờ nổi sau lỗ mũi trong ……… … Kaloula pulchra
4(3) Thân mảnh, da mỏng Không có gờ nổi sau lỗ mũi trong
5(10) Mút ngón chân phình thành đĩa
6(7) Ngón chân có đĩa nhỏ, hơi có màng da ……… Microhyla heymonsi
7(6) Đĩa ngón chân lớn, ngón chân có màng hoàn toàn hoặc gần hoàn toàn
8(9) Có củ bàn ngoài, ngón tay I bình thường, màng ngón chân hoàn toàn….……
……… … Microhyla berdmorei
9(8) Không có củ bàn ngoài, ngón tay I rất nhỏ, màng ngón chân gần hoàn
toàn…… ……… … … Microhyla
annamensis
10(5) Mút ngón chân không có đĩa
11(12) Ngón chân ½ có màng da Lưng có vân thẫm – nhạt xen kẽ Khớp chày –
cổ đạt hay vượt mắt một chút……… … Microhyla pulchra
12(11) Ngón chân hơi có màng da Lưng nâu có đốm thẫm ở giữa Khớp chày – cổ
chưa đến mắt……… …….Microhyla fissipes
3.2.3 Đặc điểm hình thái phân loại các loài trong họ Microhylidae
MICROHYLIDAE Gunther, 1858 – Họ Nhái bầu
KALOPHRYNUS Tschudi, 1838 – Giống Cóc đốm
Kalophrynus J.J Von Tschudi, 1838, Classif Batrach., Neuchâtel, 48: 86
Trang 313.2.3.1 Đặc điểm hình thái phân loại loài Cóc đốm
Tên khoa học: Kalophrynus interlineatus (Blyth, 1855)
Engystoma interlineatum E Blyth, 1855 “1854”, Jour Asiat Soc Bengal, Calcutta,
Mắt trung bình, đường kính mắt là 4,14mm, đường kính mắt so với chiều dài đầu bằng 0,33 lần, đường kính mắt trung bình bằng khoảng 1/3 lần dài đầu (EL/HL: 0,33), tương đương dài mõm (EL/SE: 1), gần gấp 2 lần chiều rộng mí mắt trên (EL/PaLW: 1,77) và nhỏ hơn gian ổ mắt (EL/IUE: 0,97)
Màng nhĩ không rõ ràng, nằm sát phía sau ổ mắt, đường kính màng nhĩ bé hơn đường kính mắt (TYD/EL: 0,74)
* Chi:
Kích thước trung bình Các ngón tay tự do, chiều dài ngón I tương đương ngón
II, ngón III dài nhất, ngón IV ngắn nhất, mút ngón hơi tròn, củ khớp dưới ngón lồi rõ,
củ bàn tay rõ
Chi sau ngắn, màng ngón chân 1/4, chiều dài ống chân gấp gần 3 lần chiều rộng ống chân (TL/TW: 2,94), củ khớp dưới ngón lồi rõ, củ bàn trong dài gần bằng ngón I,
Trang 32củ bàn trong, củ bàn ngoài tròn, kích thước gần tương đương, khi ép hai chi sát đùi, hai khớp khuỷu chạm nhau
* Da:
Có nếp da từ sau mắt qua màng nhĩ tới vai, có nếp da từ sau mắt tới gần bờ trước gốc đùi, có nếp sọc giữa lưng Toàn thân nổi hạt, các hạt ở vùng mõm bé, các hạt
ở vùng lưng, bụng và các chi lớn hơn
* Màu sắc bảo quản:
Thân màu nâu đất, màng nhĩ, vai và hai bên sườn màu nâu sẫm, cằm và họng màu sáng hơn, có các đốm chấm, có hai đốm đen phía trên gốc đùi, bụng màu trắng đục
Chỉ tiêu và tỉ lệ hình thái của loài Cóc đốm Kalophrynus interlineatus được
tổng hợp ở bảng 3.3 và 3.4
Bảng 3.3 Chỉ tiêu hình thái của loài Cóc đốm
Trang 33KALOULA Gray, 1831 – Giống Ễnh ƣơng
Kaloula J E Gray, 1831, Zool Misc., London, 1: 38
3.2.3.2 Đặc điểm hình thái phân loại loài Ễnh ương
Tên khoa học: Kaloula pulchra Gray, 1831
Kaloula pulchra J E Gray, 1831, Zool Misc., London, 1: 38
Trang 34Kaloula pulchra macrocephala R Bourret, 1937, Bull Gén Instr Publ., Hanoi, 4: 54
Tên phổ thông: Ễnh ương
Lỗ mắt gần tròn, đường kính mắt là 6,31mm, đường kính mắt trung bình gần bằng 1/3 lần dài đầu (EL/HL: 0,29), dài hơn chiều dài mõm (EL/SE: 1,11), gần tương đương gian ổ mắt (EL/IUE: 0,93), lớn gấp 1,74 lần chiều rộng mí mắt trên (EL/PaLWW: 1,74), gian ổ mắt rộng, gấp khoảng 2 lần chiều rộng mí mắt trên (PaLW/IUE: 0,55)
* Chi:
Chi trước dài, các ngón tay tự do, ngón II và IV gần bằng nhau, ngón I ngắn nhất, ngón III dài nhất, củ khớp dưới ngón lồi rõ, mút ngón tay phình rộng thành đĩa, hơi bằng ở phía trước, chi trước không có củ bàn ngoài
Chi sau: ngón dài, ngón chân có 1/4 màng, mút ngón chân phình rộng thành đĩa, đĩa ngón chân bé hơn đĩa ngón tay, chiều dài ống chân gấp khoảng 2,7 lần chiều rộng ống chân (TL/TW: 2,7), củ khớp dưới ngón lồi rõ, củ bàn trong dài, củ bàn ngoài bé, chiều dài củ bàn trong dài gấp 1,12 lần chiều dài ngón I (IMT/ITL: 1,12), khi ép hai chi sát đùi, hai khớp khuỷu cách xa, không chạm nhau
* Da:
Da nhẵn, nếp da hai bên thân chạy từ sau mắt xuống gốc đùi, chạy dọc sống lưng, có các nếp da chạy giữa lưng, thân nổi hạt bé, thấy rõ ở hai bên sườn và bụng, hai bên sườn hạt có kích thước bé hơn ở bụng, phần cằm và họng có những hạt nhỏ li
ti, hạt tập trung rõ ở gần nếp da hai bên sườn
Trang 35* Màu sắc bảo quản:
Mặt trên lưng, hai bên sườn, đùi và ống chân màu nâu sẫm, có vệt trắng sát hai bên sườn, có vệt sáng ngang giữa hai mắt, kéo dài từ hai bên thân đến gốc đùi, phía trên mõm và mép trên sáng màu hơn, bụng màu trắng xám, lốm đốm các chấm, phần cằm họng màu xám nhạt
Chỉ tiêu và tỉ lệ hình thái của loài Ễnh ương được tổng hợp ở bảng 3.5 và 3.6
Bảng 3.5 Chỉ tiêu hình thái của Ễnh ƣơng Kaloula pulchra
Chỉ tiêu hình thái
Trang 36Bảng 3.6 Tỉ lệ hình thái của Ễnh ƣơng Kaloula pulchra
MICROHYLA Tschudi, 1838 – Giống Nhái bầu
Microhyla J.J von Tschudi, 1838, Classif Batr., Neuchâtel:28, 71
3.2.3.3 Đặc điểm hình thái phân loại loài Nhái bầu hây môn
Tên khoa học: Microhyla heymonsi Vogt, 1911
Microhyla heymonsi T Vogt, 1911, Sitzungsber Gesellsch Naturforsch Freunde
Chiều dài và chiều rộng đầu gần tương đương nhau (HL/HW: 0,91), gờ mõm
rõ, mõm hơi tròn, mõm vượt quá hàm dưới, không có màng nhĩ Lỗ mũi nằm gần mắt hơn mút mõm, khoảng cách từ mũi đến mút mõm lớn hơn khoảng cách từ mũi đến trước mắt (SN/EN: 1,12), gian mũi bé hơn gian ổ mắt (IN/IUE: 0,86)
Trang 37Mắt bé, đường kính mắt là 2,76mm, đường kính mắt trung bình bằng khoảng 1/3 lần dài đầu (EL/HL: 0,39), gần tương đương dài mõm (EL/SE: 0,97), gấp 1,68 lần chiều rộng mí mắt trên (EL/PaLW: 1,68) và lớn hơn gian ổ mắt (EL/IUE: 1,19)
* Chi:
Chi dài, mảnh
Các ngón tay tự do hoàn toàn, không có màng, ngón I<II<IV<III, ngón III dài nhất, ngón I ngắn, đạt gần bằng 1/2 ngón II, mút ngón tay hơi phình ra, củ khớp dưới ngón lồi, rõ, củ bàn tay không rõ lắm
Chi sau dài, các ngón dài, củ khớp dưới ngón lồi rõ, củ bàn trong bé hơn củ bàn ngoài, củ bàn trong bé hơn chiều dài ngón I, mút ngón chân phình ra, chiều dài ống chân gấp hơn 3 lần chiều rộng ống chân (TL/TW: 3,53), khi ép hai chi sát đùi, hai khớp khuỷu gối lên nhau
* Da: Da trơn, có nếp da rõ hai bên sườn, nếp da rõ từ mút mõm đến gốc đùi
* Màu sắc bảo quản:
Thân màu xám nhạt, có các vệt sẫm hơn trên lưng, các vệt sẫm hai bên đối diện nhau, giữa lưng có vệt trắng mảnh với một đốm đen nhỏ Mỗi bên thân có vệt đen sẫm kéo dài từ mõm đến gốc đùi, chi sau có các vệt đen mảnh, sẫm màu vắt ngang Phần cằm và họng có các đốm chấm nhỏ màu sẫm, mặt dưới đùi màu sẫm hơn, bụng màu nhạt
Chỉ tiêu và tỉ lệ hình thái của loài Nhái bầu hây môn được tổng hợp ở bảng 3.7
và 3.8
Bảng 3.7 Chỉ tiêu hình thái của Nhái bầu hây môn Microhyla heymonsi
Trang 383.2.3.4 Đặc điểm hình thái phân loại loài Nhái bầu vân
Tên khoa học: Microhyla pulchra (Hallowell, 1861)
Engystoma pulchrum E Hallowell, 1861 “1860”, Proc Acad Nat Sci Philadel-phia,
12:506
Microhyla pulchra, G.A Boulenger, 1882, Cat Batr Sal Coll Brit Mus., Ed 2:165
Tên phổ thông: Nhái bầu vân
Trang 39Mắt trung bình, hơi lồi, đường kính mắt 3,57mm, đường kính mắt trung bình bằng khoảng 1/3 lần dài đầu (EL/HL: 0,33), tương đương dài mõm (EL/SE: 1,02), lớn gấp gần 2 lần chiều rộng mí mắt trên (EL/PaLW: 1,93) và lớn hơn 3/2 lần gian ổ mắt (EL/IUE: 1,53)
* Chi:
Chi trước ngắn, các ngón tay tự do, không có màng, chiều dài ngón I<II<IV<III, củ khớp dưới ngón lồi rõ, củ bàn ngoài lớn hơn củ bàn trong, củ bàn tay không rõ
Chi sau dài, ngón dài, ngón chân có 1/2màng, chiều dài ống chân gấp 3,45 lần chiều rộng ống chân (TL/TW: 3,45), củ khớp dưới ngón lồi rõ, củ bàn trong, củ bàn ngoài lồi rõ, củ bàn trong bé hơn củ bàn ngoài, củ bàn trong ngắn hơn chiều dài ngón I, khi ép hai chi sát đùi, hai khớp khuỷu gối lên nhau, củ bàn ngoài tròn, củ bàn trong hình dài, màu trắng, chiều dài củ bàn trong bằng khoảng 1/2 lần chiều dài ngón I (IMT/ITL: 0,59)
* Da:
Có nếp da hai bên sườn chạy từ bờ sau ổ mắt đến giữa bụng, có nhiều nếp da kéo dài từ giữa gian ổ mắt đến gốc đùi Mặt dưới da nổi hạt kích thước nhỏ, tập trung
ở mặt dưới đùi và phần dưới của bụng
* Màu sắc bảo quản:
Thân màu xám nhạt Trên đầu, lưng, chi, mặt trên của thân có các hoa văn màu nâu sẫm, nhạt xen kẽ, phía hai bên thân có vệt đen từ sau mắt đến gần gốc đùi, mặt sau
Trang 40đùi, ống chân, bẹn có màu vàng nhạt, bụng màu trắng đục, cằm và họng màu tối hơn với nhiều hoa văn màu chấm
Chỉ tiêu và tỉ lệ hình thái của loài Nhái bầu vân được tổng hợp ở bảng 3.9 và 3.10
Bảng 3.9 Chỉ tiêu hình thái của Nhái bầu vân Microhyla pulchra