Có thể nói đây là một loại nhân vật xuyên suốt, thể hiện một cách khá tập trung cái nhìn của Mạc Ngôn về thế giới và góp phần không nhỏ tạo nên đặc sắc tiểu thuyết của nhà văn.. Có thể c
Trang 1
NGUYỄN THÁI BÌNH
NGƯỜI ĐÀN BÀ TRONG TIỂU THUYẾT CỦA MẠC NGÔN
(QUA ĐÀN HƯƠNG HÌNH, BÁU VẬT CỦA ĐỜI
VÀ RỪNG XANH LÁ ĐỎ)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Trang 2NGUYỄN THÁI BÌNH
NGƯỜI ĐÀN BÀ TRONG TIỂU THUYẾT CỦA MẠC NGÔN
(QUA ĐÀN HƯƠNG HÌNH, BÁU VẬT CỦA ĐỜI
Trang 33 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát 6
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Cấu trúc của luận văn 7
Chương 1 TIỂU THUYẾT MẠC NGÔN TRONG BỐI CẢNH TIỂU THUYÊT TRUNG QUỐC ĐƯƠNG ĐẠI 8
1.1 Một số vấn đề của tiểu thuyết Trung Quốc đương đại 8
1.1.1 Khái niệm tiểu thuyết 8
1.1.2 Bối cảnh xã hội - thẩm mĩ của tiểu thuyết Trung Quốc đương đại 11
1.1.3 Một số thành tựu cơ bản của tiểu thuyết Trung Quốc đương đại 13
1.2 Mạc Ngôn, một tác giả xuất sắc của tiểu thuyết Trung Quốc đương đại 21
1.2.1 Mấy nét về cuộc đời Mạc Ngôn 21
1.2.2 Những nét chính trong văn nghiệp của Mạc Ngôn 23
1.2.3 Tiểu thuyết - một thể loại quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của Mạc Ngôn 24
1.3 Người đàn bà, một nhân vật quan trọng trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn 29
1.3.1 Những cảm hứng cơ bản trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn 29
1.3.2 Nhìn chung về người đàn bà trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn (qua Đàn hương hình, Báu vật của đời và Rừng xanh lá đỏ) 39
Chương 2 NỘI DUNG THẨM MĨ CỦA HÌNH TƯỢNG NGƯỜI ĐÀN BÀ TRONG TIỂU THUYẾT MẠC NGÔN 43
2.1 Người đàn bà - một biểu tượng văn hoá 43
2.1.1 Biểu tượng của văn hoá phồn thực 43
Trang 42.2.3 Bi kịch trong chính mình 58
2.3 Người đàn bà với những khát vọng mãnh liệt 64
2.3.1 Khát vọng hướng đến cái chân - thiện - mĩ 64
2.3.2 Khát vọng vượt thoát những định kiến và số phận 68
2.3.3 Khát vọng bản năng 73
Chương 3 NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN HÌNH TƯỢNG NGƯỜI ĐÀN BÀ TRONG TIỂU THUYẾT MẠC NGÔN 89
3.1 Nghệ thuật thể hiện hình tượng người đàn bà thể hiện trong tổ chức cốt truyện 89
3.1.1 Tổ chức cốt truyện theo sự kiện 89
3.1.2 Cốt truyện theo mạch vận động của tâm lí 93
3.1.3 Cốt truyện mang màu sắc huyền thoại 100
3.2 Nghệ thuật xây dựng tình huống 102
3.2.1 Đặt nhân vật vào tình huống tự nhận thức 102
3.2.2 Đặt nhân vật vào tình huống bi đát 105
3.3 Nghệ thuật miêu tả chi tiết 107
3.3.1 Chi tiết gợi dục 107
3.3.2 Chi tiết huyền thoại 110
KẾT LUẬN 113
TÀI LIỆU THAM KHẢO 115
Trang 51.1 Mạc ngôn là một tác giả lớn của văn học Trung Quốc, cũng như văn học thế giới đương đại, và là một nhà văn quen thuộc với với bạn đọc Việt Nam trong mấy thập kỉ nay Tìm hiểu sáng tác của nhà văn này không chỉ có ý nghĩa trong việc nhận diện giá trị các sáng tác của một tác giả cụ thể, mà còn góp phần không nhỏ vào việc nghiên cứu văn học Trung Quốc ở Việt Nam - nền văn học của một quốc gia có mối quan hệ sâu sắc
1.2 Trong các tiểu thuyết của Mạc Ngôn, các nhân vật nữ nói chung và nhân vật người đàn bà chiếm một vị trí hết sức quan trọng Có thể nói đây là một loại nhân vật xuyên suốt, thể hiện một cách khá tập trung cái nhìn của Mạc Ngôn về thế giới và góp phần không nhỏ tạo nên đặc sắc tiểu thuyết của nhà văn Nghiên cứu nhân vật người đàn bà trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn là góp phần nhận diện một khía cạnh hết sức lí thú và đặc sắc trong tiểu thuyết của nhà văn
1.3 Trong văn hoá - văn học Trung Quốc và văn hoá - văn học Việt Nam, cách quan niệm, nhìn nhận người phụ nữ có nhiều điểm tương đồng do sự giao thoa, ảnh hưởng của các vấn đề văn hoá, tư tưởng và cả văn học Tìm hiểu nhân vật người đàn bà trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn là góp phần hiểu thêm nhân vật đàn bà trong văn học Việt Nam
2 Lịch sử vấn đề
Tiểu thuyết Mạc Ngôn là những tiểu thuyết đương đại đang tạo được sức hút mạnh mẽ đối với độc giả và giới nghiên cứu bởi tính hiện thực và những nét đặc sắc nghệ thuật của nó Là những tác phẩm đương đại nhưng số lượng những bài nghiên cứu về Mạc Ngôn và tác phẩm của ông không phải là ít, đặc biệt là mấy năm gần đây, khi Mạc Ngôn trở thành một hiện tượng văn học đáng quan tâm cùng với Giải Nobel danh giá Tuy nhiên những bài nghiên cứu ấy cũng chỉ
tiếp cận tiểu thuyết Mạc Ngôn, đặc biệt là 3 tác phẩm Đàn hương hình, Báu vật
Trang 62.1 Nghiên cứu ở nước ngoài
Các nhà nghiên cứu Trung Quốc, Nhật và Đức đã đứng dưới góc độ xã hội hoặc dựa trên các yếu tố lịch sử… để đánh giá về nội dung và hình tượng nghệ thuật của tiểu thuyết Mạc Ngôn, đặc biệt là 3 tác phẩm trên Từ quan điểm xuất phát đó, họ chỉ ra những điểm tiến bộ và hạn chế của nhà văn
Có thể chia làm 2 nhóm như sau:
Thứ nhất: Nhóm các nhà nghiên cứu Trung Quốc đứng trên phương diện chính trị đã lên tiếng bài trừ 3 tác phẩm ngay từ khi 3 tác phẩm này được xuất bản tại Trung Quốc (Tác gia Xuất bản xã (9/1995) với lí do tác phẩm đã đi vào
“vùng cấm” của văn học (Mạc Ngôn và những lời tự bạch, 2004) Nhà phê bình Vương Cán phê phán Mạc Ngôn có tư tưởng chống lại quy phạm truyền thống Hạ Thiệu Tuấn, Phan Khải Hùng thừa nhận sức mạnh tưởng tượng của Mạc Ngôn rất phong phú, kì lạ nhưng ngòi bút của ông nhiều khi không giữ được mực thước
Thứ hai: Nhóm các nhà văn nghiên cứu dưới góc độ xã hội để tìm ra những nét độc đáo trong 3 tác phẩm này Trong các bài viết này, họ đã chỉ ra những sự sáng tạo trong việc tìm ra một thủ pháp lạ hoá độc đáo, sáng tạo những huyền thoại mới bên cạnh những huyền thoại cổ xưa Có người lại tìm sự ảnh hưởng của văn học Phương tây và Mĩ la tinh đối với Mạc Ngôn Từ đây, họ khẳng định “sự trở về và vượt lên” dân gian, dân tộc, và vượt lên đẳng cấp thế giới của tiểu thuyết Mạc Ngôn Tiêu biểu cho quan điểm này là ý kiến của Chu
Ân, Trương Thành Bản thân tác giả Mạc Ngôn cũng đã giãi bày về việc viết văn trong cuốn “Tự bạch” của mình
2.2 Nghiên cứu ở Việt Nam
Nhà văn Mạc Ngôn đươc độc giả Việt Nam biết nhiều khi Báu vật của
đời được dịch giả Trần Đình Hiến dịch và xuất bản tháng 2 năm 2001 các nhà
Trang 7Mạc Ngôn bằng cái nhìn tổng quát toàn bộ những tác phẩm đã được dich sang tiếng Việt (Tài phù phép của Mạc Ngôn, báo Tiền Phong, online) Trong bài “sự
sinh, sự chết, sự sống”: Đọc Báu vật của đời của Mạc Ngôn đăng trên trang
Tanviet.net (4/8/2005), Phạm Xuân Nguyên đã tóm lược những điểm chính trong Báu vật của đời và đưa ra những nhận định về tác giả và tác phẩm Có người lại
dựa vào Báu vật của đời để tìm ra sự sáng tạo của Mạc Ngôn trong việc đưa hơi
thở hiện đại vào đề tài lịch sử (Vương Trí Nhàn, Lê Huy Tiêu, Trần Trung Hỷ) Trong tiểu luận “Một số vấn đề văn học Trung Quốc đương đại”( 2007), PGS Hồ
Sĩ Hiệp cũng đã điểm qua những nét đặc sắc của Mạc Ngôn thông qua những tác phẩm đã được dịch Bài viết đã chỉ ra sự sáng tạo của Mạc Ngôn trong tiểu thuyết từ những tác phẩm đầu tiên Năm 2012, Nguyễn Thị Tinh Thy - Giảng viên Đại học Huế đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ với đề tài: Nghệ thuật tự
sự trong tiểu thuyết Mạc Ngôn Trên Tạp chí sáng tác nghiên cứu phê bình văn hoá, văn học nghệ thuật Số 169, trên cơ sở khảo sát, thống kê một cách hệ thống tiểu thuyết Mạc Ngôn, luận án đã đi vào ba phương diện cơ bản trong
tổ chức tự sự của Mạc Ngôn trong tiểu thuyết: người kể chuyện và điểm nhìn
tự sự; nghệ thuật tổ chức thời gian và kết cấu tự sự; nghệ thuật kiến tạo ngôn ngữ và giọng điệu tự sự Từ đó, tác giả luận án đã chỉ ra những thành tựu và hạn chế của nghệ thuật tiểu thuyết cũng như vị trí tiên phong của Mạc Ngôn trong dòng tiểu thuyết đương đại Trung Quốc, đồng thời xác định phong cách
“tự sự kiểu Mạc Ngôn” Theo tác giả, đó là phong cách “có sự kết hợp giữa đặc trưng tự sự cực hạn và đặc trưng tự sự hậu hiện đại của văn học Trung Quốc” Tuy nhiên, do mục đích nghiên cứu của đề tài, tác giả luận án cũng
viên này đã nói về yếu tố kì ảo hoá ngôn ngữ miêu tả cảm giác trong Báu vật của
đời, Đàn hương hình và Rừng xanh lá đỏ của Mạc Ngôn.
Trang 8Đã có nhiều bài viêt, nhiều bài nghiên cứu về Mạc Ngôn và tiểu thuyết của ông:
Lê Huy Tiêu trong bài viết: Mạc Ngôn và Đàn hương hình ( Văn nghệ số
27/2003) đã đánh giá cuốn tiểu thuyết này ở góc nhìn tự thuật Tác giả cho rằng:
“Cái độc đáo của Đàn hương hình thể hiện ở ngôn ngữ tự thuật Ngôn ngữ của
người kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật thường xen lẫn, đổi chỗ cho nhau làm cho trang viết sinh động” [80] Bài viết đưa ra cái nhìn khá đầy đủ những yếu tố làm nên nghệ thuât, tuy nhiên nó chỉ ở mức độ khái quát
Nhà nghiên cứu Lí Kiến Quân cho rằng: Báu vật của đời là “Phiến diện,
hẹp hòi, tình cảm uỷ mị, tiêu trầm, không lấy quan điểm duy vật để nhìn lịch
sử” Còn Đàn hương hình bị cho là “Chịu ảnh hưởng bởi khuynh hướng thưởng
thức hành vi tàn ác của truyền thống” [64]
Hồ Sĩ Hiệp lại có những nhận xét tỏ ra lạc quan hơn với bài viết Tiểu
thuyết Mạc Ngôn với độc giả Việt Nam: “Ngòi bút miêu tả của Mạc Ngôn trong Báu vật của đời tỉnh táo và lạnh lùng Mặc dù có một số đoạn rơi vào yếu tố tự
nhiên sắc dục nhưng toát lên trong toàn bộ tác phẩm vẫn là cái nhìn hiện thực và thái độ xây dựng của tác giả”
Gần đây, đã có nhiều khoá luận, luận văn tốt nghiệp từ bậc Cử nhân đến Thạc sĩ ở một số trường Đại học nghiên cứu về Mạc Ngôn Ở Trường Đại học
Vinh có Lương Thị Vân Anh với đề tài: Đặc trưng nghệ thuật tiểu thuyết Mạc
Ngôn Tác giả đã nói được một số nét về hình ảnh người phụ nữ, đặc biệt là tình
thương con vô bờ bến, cùng với nó là tấm lòng của Mạc Ngôn đối với đất mẹ quê hương Cũng qua đó, nhà văn thể hiện những trăn trở của mình về thời kì cải cách mở cửa, những day dứt về bản sắc văn hoá dân tộc Đề tài cũng đã khai thác được một số bình diện về hình thức như cốt truyện lồng ghép, cốt truyện đa tuyến; nghệ thuật miêu tả tâm lí…, tuy nhiên đang mang tính khái quát mà chưa
đi sâu phân tích cụ thể qua những tác phẩm cụ thể; Hoàng Thị Thanh Lê với đề
tài: Tìm hiểu 41 chuyện tầm phào của Mạc Ngôn khi bàn về tiểu thuyết Rừng
Trang 9xanh lá đỏ đã nói một khía cạnh của dục vọng con người là chạy theo lối sống
hưởng lạc qua nhân vật Lâm Lan; Lê Thị Hương Thuỷ với đề tài: Con người
bản năng trong Báu vật của đời đã nói được quan niệm nghệ thuật về con người
nhưng cũng chỉ mới chú tâm khai thác con người chủ yếu ở khía cạnh bản năng, con người với những dục vọng thấp hèn ; Và Nguyễn Thi Hoài với đề tài:
Những dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiên đại trong tiểu thuyết Mạc Ngôn chủ
yếu đi từ lí thuyết hậu hiện đại để nghiên cứu về tiểu thuyết Mạc Ngôn; Trường
ĐHSP.TPHCM có Trần Văn Tuân với đề tài: Văn hoá dân gian trong tiểu
thuyết Đàn hương hình của Mạc Ngôn đi vào khai thác tiểu thuyết Đàn hương hình dưới góc nhìn văn hoá với điệu Miêu Xoang
Trên nhiều trang mạng cũng như các báo đài cũng đã nói nhiều về Mạc Ngôn và tác phẩm của ông như:
Trần Đình Sử.worlpress.com: Báu vật của đời của Mạc Ngôn - lên bờ
xuống ruộng trước khi nhận giải Nobel
Dântri.com.vn: Những tác phẩm đáng đọc nhất của Mạc Ngôn: Với độc
giả Việt Nam, Mạc Ngôn đã từng làm nên cơn sốt sách với hàng loạt tác phẩm
có sức ám ảnh như Đàn hương hình, Báu vật của đời, Rừng xanh lá đỏ…
www.baothuathienhue.vn: 6/10/2013 cũng đã đưa ra nhận xét: Tiểu
thuyết Mạc Ngôn, hình ảnh thu nhỏ của Trung Quốc
Nobel văn học 2009 HerthaMuller chỉ trích quyết định của Viện Hàn lâm Thuỵ Điển khi trao giải cho Mạc Ngôn - người bà gọi là kẻ “tán dương sự kiểm duyệt”
Dântri.com.vn đăng bài của dịch giả Trần Đinh Hiến: Đọc văn Mạc Ngôn
thấy đau lắm: Để hiểu, tôi chỉ nên đọc Báu vật của đời, chỉ tác phẩm đó mới
đúng là Mạc Ngôn thật đến mức chẳng còn gì hoa mỹ
Vhnt.org.vn 15/12/2001 đăng bài: Kiểu nhân vật trẻ thơ - người lớn trong
tiểu thuyết Mạc ngôn bàn về hai hân vật Giáp con và Kim Đồng trong hai tiểu
thuyết Đàn hương hình và Báu vật của đời của Mạc Ngôn
Trang 10Trên trang Laodong.com.vn tác giả Trần Trung Hỷ mở đầu cuộc trao đổi
với báo Lao động Bắc Miền Trung cho rằng nhiều người nói Mạc ngôn ác tâm cay độc…nhưng theo tôi những gì ông viết, cho dù viết có ác đến mấy, mục tiêu của ông cũng hướng con người vào điều thiện
Trên đây là sơ lược một số công trình nghiên cứu về Mạc Ngôn và tiểu
thuyết Báu vật của đời và Đàn hương hình của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Riêng tiểu thuyết Rừng xanh lá đỏ chúng tôi hiện chưa phát hiện ra
công trình nghiên cứu nào thực sự
Chúng tôi chưa đọc thấy công trình nào đi sâu nghiên cứu phương diện hình tượng nhân vật ở 3 tác phẩm này trên bình diện so sánh, tổng hợp để từ đó làm nổi rõ hình tượng người đàn bà trên trong 3 tiểu thuyết này nói riêng và trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn nói chung
Chúng tôi kế thừa và tiếp thu có chọn lọc những thành tựu nghiên cứu, những ý kiến bổ ích của người đi trước trong quá trình hoàn thành luận văn này
3 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi khảo sát
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nhân vật người đàn bà trong tiểu thuyết Mạc Ngôn
3.2 Phạm vi khảo sát
Phạm vi khảo sát chính của luận văn là ba tác phẩm Đàn hương hình,
Báu vật của đời và Rừng xanh lá đỏ, ngoài ra, chúng tôi khảo sát thêm một số
tiểu thuyết, truyện ngắn của Mạc Ngôn
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Tìm hiểu vị trí của Mạc Ngôn trong tiểu thuyết Trung Quốc đương đại
4.2 Tìm hiểu nhân vật đàn bà trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn qua Đàn
hương hình, Báu vật của đời, Rừng xanh lá đỏ trên phương diện nội dung
4.3 Tìm hiểu nhân vật đàn bà trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn qua Đàn
hương hình, Báu vật của đời, Rừng xanh lá đỏ trên phương diện hình thức
thể hiện
Trang 115 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp cơ bản sau:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp
- Phương pháp khảo sát thống kê
- Phương pháp so sánh - đối chiếu
6 Cấu trúc của luận văn
Tương tự với mục đích, nhiệm vụ đề ra, ngoài Mở đầu, Kết thúc và Tài
liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được chia làm ba chương:
Chương 1 Tiểu thuyết của Mạc Ngôn trong bối cảnh tiểu thuyết Trung
Quốc đương đại
Chương 2 Nhân vật người đàn bà trong tiểu thuyết Đàn hương hình,
Báu vật của đời, Rừng xanh lá đỏ nhìn từ phương diện nội dung
Chương 3 Nhân vật người đàn bà trong các tiểu thuyết của Mạc Ngôn
nhìn từ phương diện hình thức
Trang 12
Chương 1 TIỂU THUYẾT MẠC NGÔN TRONG BỐI CẢNH TIỂU THUYÊT TRUNG QUỐC ĐƯƠNG ĐẠI
1.1 Một số vấn đề của tiểu thuyết Trung Quốc đương đại
1.1.1 Khái niệm tiểu thuyết
Theo Từ điển thuật ngữ văn học của nhóm Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,
Nguyễn Khắc Phi thì “Tiểu thuyết là loại hình tự sự cỡ lớn đặc biệt phổ biến trong thời cận đại và hiện đại Với những giới hạn rộng rãi trong hình thức trần thuật, tiểu thuyết có thể chứa đựng lịch sử của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục đạo đức xã hội, miêu tả cụ thể các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng Không phải ngẫu nhiên mà thể loại tiểu thuyết chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống thể loại văn học cận đại, hiện đại
Theo Bêlinxki, tiểu thuyết bắt đầu phát sinh từ lúc “vận mệnh con người, mọi mối liên hệ của nó với đời sống nhân dân được ý thức Vì vậy đới sống cá nhân bất luận thế nào cũng không thể là nội dung của anh hùng ca Hi Lạp nhưng có thể là nội dung của tiểu thuyết.” Ở Châu Âu, tiểu thuyết xuất hiện dưới dạng hiệp sĩ phiêu lưu vào thời kì xã hội cổ đại tan rã cũng như văn học cổ suy tàn Đến thời kì Phục Hưng, khi xảy ra quá trình giải phóng con người khỏi thần quyền của nhà thờ, khi con người bắt đầu ý thức như một thực thể xã hội thì tiểu thuyết mới bắt đầu khởi sắc Mãi đến thế kỉ XIX, tiểu thuyết mới đạt đến
sự nảy nở trọn vẹn với những tên tuổi lớn như Bandắc, Gôgon, Đônxtôiépki, Tuốcghenhép Ở Trung Quốc, tiểu thuyết xuất hiện rất sớm, từ thời Ngụy Tấn (thế kỉ III-IV) dưới dạng „chí quái‟, “chí nhân” Nhưng mãi đến thời Minh, Thanh, tiểu thuyết Trung Quốc mới khẳng định được vị trí của mình trên trường
Quốc tế Ở Việt Nam, tiểu thuyết xuất hiện khá muộn Có thể nói, từ khi Hoàng
Lê nhất thống chí ra đời (đầu thế kỉ XIX), Việt Nam mới có tiểu thuyết
Có nhiều khái niệm khác nhau về tiểu thuyết
Trang 13Theo từ điển bách khoa toàn thư thì “tiểu thuyết là một thể loại văn xuôi
có hư cấu, thông qua nhân vật, hoàn cảnh, sự việc để phản ánh bức tranh xã hội rộng lớn và những vấn đề của cuộc sống con người, biểu hiện tính chất tường thuật, tính chất kể chuyện bằng ngôn ngữ văn xuôi theo những chủ đề xác định”
Trong một cách hiểu khác, nhận định của Bêlinski: "tiểu thuyết là sử thi của đời tư" chỉ ra khái quát nhất về một dạng thức tự sự, trong đó sự trần thuật tập trung vào số phận của một cá nhân trong quá trình hình thành và phát triển của nó Sự trần thuật ở đây được khai triển trong không gian và thời gian nghệ thuật đến mức đủ để truyền đạt cơ cấu của nhân cách
Theo từ điển bách khoa Hoa Kì xuất bản 1963 trang 127 thì “tiểu thuyết
là một thể tản văn thuật lại một truyện tưởng tượng trong đó nhân vật và hoàn cảnh lấy ngay ở cuộc sống thực tại dựng thành cốt truyện”
Trong từ điển thuật ngữ văn học, tiểu thuyết là “tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng.” [24; 134]
Thật khó để đưa ra một khái niệm tiểu thuyết hoàn chỉnh Vì bản chất của tiểu thuyết là thể loại sống, thể loại đang và sẽ vận động, luôn tự đổi mới và cách tân Nhưng chúng ta có thể thấy các khái niệm đều chỉ ra được những đặc trưng cơ bản sau của tiểu thuyết
Thứ nhất, tiểu thuyết nhìn cuộc sống từ góc độ đời tư Mức độ đời tư có thể đậm nhạt khác nhau tùy theo từng thời kì Yếu tố đời tư càng phát triển, chất tiểu thuyết càng tăng, yếu tố lịch sử càng tăng, chất sử thi càng đậm đà Đặc trưng này giúp ta phân biệt tiểu thuyết với sử thi Tuy nhiên vẫn tồn tại một loại tiểu thuyết có
sự kết hợp giữa yếu tố sử thi và yếu tố tiểu thuyết: tiểu thuyết sử thi
Thứ hai, đó là chất văn xuôi Chính đặc trưng này giúp ta phân biệt thể loại này với thơ, trường ca, chuyện thơ Nếu như chất thơ là cụm từ chỉ những
Trang 14cái tồn tại cao hơn đời sống, gắn liền với cảm xúc, cái đẹp, cái dễ làm cho con người ta rung động thì chất văn xuôi lại là toàn bộ đời sống thực như vốn dĩ nó tồn tại, có buồn vui đẹp xấu đầy đủ sắc thái thẩm mĩ Tiểu thuyết miêu tả cuộc sống như bản chất cuộc sống vốn có Bao gồm mọi yếu tố ngổn ngang của cuộc đời; cái cao cả và cả cái thấp hèn; cái nghiêm túc và cái đùa cợt; cái bi và cả cái hài…
Thứ ba, nhân vật trong tiểu thuyết là “nhân vật nếm trải” Nhân vật kịch
là nhân vật của hành động Hứng thú của nhân vật kịch nằm ở hành động của nhân vật ấy Nhưng do hạn chế về mặt thời gian sân khấu và thiếu lời trần thuật nên nhìn chung kịch không tái hiện trọn vẹn quá trình nếm trải của nhân vật Nhân vật trong tiểu thuyết cũng hành động, hành động trong hoàn cảnh, chịu tác động của hoàn cảnh, tốt hơn hay trở nên xấu hơn vì hoàn cảnh Tiểu thuyết miêu
tả nhân vật như một con người đang trưởng thành và biến đổi, do đời dạy bảo Trong khi hành động, nhân vật hứng chịu đủ mọi tác động của đời Chính vì vậy, miêu tả thế giới bên trong, phân tích tâm lí là một phương diện rất đặc trưng cho tiểu thuyết, mặc dù nói chung, thể loại văn học nào cũng không thể
bỏ qua được khía cạnh tâm lí
Thứ tư, tiểu thuyết chứa đựng nhiều cái “thừa” so với những thể loại tự
sự khác Tiểu thuyết linh hoạt trong cấu trúc Ở những truyện vừa, truyện ngắn trung cổ, các yếu tố tác phẩm được tổ chức sát với sự vận động trong các liên
hệ nhân quả Lời nói nhân vật cũng chỉ là một khâu thúc đẩy cốt truyện phát triển, hoặc mở nút Yếu tố “thừa” chính là đặc trưng của tiểu thuyết Bởi vậy, tiểu thuyết thường có những đoạn trữ tình ngoại đề Có những tiểu thuyết chỉ dài khoảng một trăm trang, nhưng cũng có tiểu thuyết dài vài trăm trang, thậm chí hơn một ngàn trang như Sông Đông êm đềm của Sôlôkhôp Có khi một trăm năm được thâu gọn trong vài dòng, nhưng cũng khó khi một vài ngày kéo dài cả trăm trang sách
Thứ năm, tiểu thuyết miêu tả cuộc sống ở thì hiện tại chưa hoàn thành Nếu như thơ là tiếng nói của tâm trạng hoài niệm thì tiểu thuyết dù viết về đề tài
Trang 15cách nay cả nghìn năm nhưng người đọc vẫn có cảm giác nhà văn lôi sự kiện từ quá khứ về hiện tại để người đọc xem xét, đánh giá, nhận thức lại Nhìn quá khứ bằng nhãn quan của hiện tại Mọi việc của quá khứ như đang diễn ra trước mắt Nhà văn không còn ngồi trên cao để truyền đạo mà xuống ngang bằng với độc giả Độc giả cùng phán xét với nhà văn
1.1.2 Bối cảnh xã hội - thẩm mĩ của tiểu thuyết Trung Quốc đương đại
Mạc Ngôn từng viết: “Trong vũ trụ bao la, vị trí của con người là vô cùng
bé nhỏ” và “lịch sử của quá khứ và thế giới hiện đại liên quan mật thiết với nhau, máu của lịch sử lại chảy trong mạch máu của người đương đại” Mỗi nhà văn, không riêng gì Mạc Ngôn đều sống, hít thở bầu khí quyển của thời đại mình Từ đó họ đưa hết khả năng của mình để thi triển giữa cuộc đời Mỗi nghệ
sĩ là một thế giới tâm hồn riêng, lại được sinh ra trong một thời kỳ lịch sử nhất định cho nên cách biểu hiện tư tưởng nghệ thuật trong tác phẩm cũng mang dấu
mô hình ấu trĩ duy ý chí như “công xã nhân dân”, phong trào “đại nhảy vọt” Tình trạng quan liêu cửa quyền, tham nhũng triền miên, kinh tế suy đốn, xã hội điêu tàn, chính trị khủng hoảng, văn nghệ khô cứng Tình trạng đó tất yếu phải dẫn đến một sự đổ vỡ nào đó Vai trò lãnh đạo của Chủ tịch Mao Trạch Đông suy yếu, cặp Lâm Bưu - Giang Thanh rồi đến “bè lũ bốn tên” chụp lấy cơ hội thao túng chính trường, đặc biệt là “10 năm Đại cách mạng văn hóa vô sản”
Trang 16Thực chất cách mạng văn hóa chỉ diễn ra trong ba năm (1966-1969) nhưng hậu quả của nó kéo dài đến 1979 và những di chứng lâu dài hơn Lịch sử gọi đó là “10 năm động loạn”, làm cho văn học nghệ thuật chân chính bị tê liệt Trong thời kỳ xây dựng hòa bình mà có tới hàng triệu người, trong đó có hàng trăm văn nghệ sĩ cách mạng bị bức hại đến chết, tất cả trường đại học, học viện đóng cửa… Từ sau
1976 đến 1982, những người Đảng viên cộng sản chân chính với sự ủng hộ của quần chúng cách mạng, kiên quyết đấu tranh chống lại “bè lũ bốn tên” đã giành lại quyền lãnh đạo cách mạng Đất nước Trung Quốc tìm ra đường lối mở cửa, phong trào “bốn hiện đại hóa” theo đường lối tư tưởng của lãnh tụ Đặng Tiểu Bình
Cuộc sống xã hội đã có nhiều thay đổi, từ sự bưng bít, trói buộc đến sự tự
do, mở rộng cánh cửa giao lưu Như một tất yếu, trong hoàn cảnh đó, con người phải nhận thức lại các giá trị Văn nghệ sĩ luôn là những người nhạy cảm trước nhất, nhanh nhất trước sự biến động của thời cuộc Với tâm thế tiếp nhận mới, văn học cuộn mình trỗi dậy Dòng văn học “vết thương”, dòng văn học “sám hối” với những tác phẩm sục sôi đòi thanh toán nỗi uất ức “10 năm khủng khiếp”, triệt để phê phán giai đoạn sai lầm ấu trĩ đã ra đời, mở ra thời kỳ phục hưng văn học nghệ thuật Văn chương phải giữ vai trò tiên phong trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật và đời sống tinh thần của công chúng Trung Quốc
Kể từ năm 1982 về sau, văn học “trăm hoa đua nở” Những cây bút trẻ hăm hở tìm tòi phương pháp mới đồng thời kế thừa những phương pháp truyền thống của Trung Quốc và nhân loại Nhiều phong cách mới, nhiều tác giả mới xuất hiện, mau chóng tạo ra sức hút mạnh mẽ trong đời sống văn học nghệ thuật nảy sinh Có thể nói, cuộc “lột xác” để phục hưng của văn học Trung Quốc thật đớn đau, phải trả bằng những giá chưa từng có trong lịch sử Trong không khí
đó, Mạc Ngôn cùng Trương Hiền Lượng, Vương Mông, Giả Bình Ao, Vệ Tuệ, Cao Hiểu Thanh… nổi bật lên như những cây bút tiêu biểu với hàng trăm tác phẩm xuất sắc Những cây bút trẻ này với sự thông minh, sáng tạo đã bắt kịp tư tưởng, phương pháp nghệ thuật Tây Âu - Nga - Mỹ
Trang 17Bước vào xã hội hiện đại, cuộc sống con người không còn nguyên vẹn như trước, các giá trị truyền thống có nhiều thay đổi Một điều dễ nhận thấy trong tác phẩm của các nhà văn đương đại đó là vấn đề “trọng nam khinh nữ” Đây từng được xem là chuẩn mực, là thước đo “vĩnh cửu” trong xã hội phong kiến Mạc Ngôn cũng chẳng hề xa lạ về điều đó, vì thế mà ông đã thể hiện một cách chân thực điều đó trong tiểu thuyết của mình
Vượt qua chiến tranh, nội chiến, sai sót về chính trị… Trung Quốc bước vào thời kỳ của khoa học kĩ thuật, nhưng vẫn còn đâu đó, nếu không nói là nặng
nề những biến thiên, đảo lộn của cuộc sống con người Nhà văn, hơn ai hết, là người đứng giữa “tâm bão” của cuộc đời phải dũng cảm dấn mình vào cuộc đấu tranh chống lại những ngang trái bất công, phi nhân tính, góp phần bảo vệ quyền sống làm người cho mỗi cá nhân, cá thể, hướng tới những giá trị nhân văn cao cả Đó là sứ mệnh cao cả của một nhà văn chân chính mà lịch sử Trung
Hoa hiện đại đã đặt lên ngòi bút của thế hệ các nhà văn như Mạc Ngôn
Xu thế toàn cầu hóa tạo nên một luồng gió mới lạ thổi vào đất nước Trung Hoa rộng lớn vốn tự xem mình là trung tâm của nhân loại, dị ứng với những yếu tố ngoại lai Xu thế toàn cầu hóa tác động sâu sắc đến mọi mặt đời sống xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ, trong đó có văn học
Trong bối cảnh toàn cầu hoá về kinh tế và đồng nhất hoá về văn hoá như hiện nay, nhà văn phải dấn mình vào cuộc đấu tranh chống lại những biến động chính trị, kinh tế, xã hội không phải với tư cách một chiến binh chuyên nghiệp,
mà là với tư cách một con người biết động lòng trắc ẩn vì chân, thiện, mỹ Chiến đấu bằng ngòi bút là cách tốt nhất mà một nhà văn có thể làm Phần lớn người dân còn chưa ý thức về những gì đang diễn ra Vì vậy, chính những người nghệ sĩ phải là chiếc cầu nối người dân với các vấn đề xã hội nóng bỏng
1.1.3 Một số thành tựu cơ bản của tiểu thuyết Trung Quốc đương đại
Theo sự thống kê chưa đầy đủ, chỉ tính riêng năm 1978 ở Trung Quốc đã xuất bản được 55 bộ tiểu thuyết, năm 1979 tăng lên 61 bộ và năm 1980 lại tăng
Trang 18lên 90 bộ Từ năm 1980 đến 1982 bình quân mỗi năm có hơn 200 bộ tiểu thuyết được xuất bản Mười bảy năm trước cách mạng văn hoá đỉnh cao của sáng tác tiểu thuyết là năm 1959, năm thứ 10 của nước Trung Hoa mới ra đời (1949) cũng chỉ có 32 bộ Điều này chứng tỏ tiểu thuyết của thời kì mới gặt hái nhiều kết quả rực rỡ Không chỉ trên số lượng mà chất lượng tiểu thuyết của thời kì này phát triển chưa từng thấy ở cả hai bình diện nghệ thuật và tư tưởng
Tiểu thuyết của sáu năm sau cách mạng văn hoá mà nội dung chủ yếu là vạch trần tội ác của bè lũ bốn tên, chỉ ra cho người đọc thấy được sư ác độc, tàn bạo và nguy hiểm của cuộc cách mạng văn hoá Chỉ hai, ba năm sau khi đập tan tập đoàn “Bè lũ bốn tên” hàng loạt tác phẩm ưu tú đã ra đời, báo hiệu một mùa xuân mới của thời đại tiểu thuyết Đội ngũ tác giả tiểu thuyết của thời kì trước cách mạng văn hoá chủ yếu là các nhà văn lão thành nổi tiếng Trong thời kì mới, ngoài các nhà văn có tên tuổi như Ngụy Nguy, Chu Nhi Phục, Âu Dương Sơn, Ý Chuẩn, Lục Địa, Phùng Đức Anh, Khúc Ba, Lương Bân, Ngô Cường, Trần Đăng Khoa, Lý Anh Nho, Đoan Mộc, Củng Lương, Tuấn Thanh, Trần Học Chiêu, Bích Dã, còn có hàng loạt nhà văn mới xuất hiện với nhiều tài năng hứa hẹn, như: Chu Khắc Cần, Mạc Ứng Dụng, Lý Quốc Văn, Cổ Hoa, Mạc Vĩnh Tái, Trịnh Quốc Bồi, Từ Hưng Nghiệp, Lăng Lực, Tưởng Hoà Lâm, Nhiệm Quang Trung, Bảo Xương, Phùng Dực Tài, Dương Bội Cẩn, Tiêu Tổ Nghiên, Phùng Phần Thực, Diệp Tấn, Trúc Lâm, Đức Lan v.v…
Mười bảy năm trước khi xảy ra cuộc cách mạng văn hoá tiểu thuyết viết
về đề tài lịch sử cách mạng từ sau phong trào Ngũ tứ (1919) số lượng tương đối nhiều, làm cho người đọc yêu thích Đó là tác phẩm văn học ưu tú mà một thời
ai nấy đều không quên như Dưới ngọn cờ hồng, Đá đỏ, Bài ca tuổi trẻ, Mặt trời
đỏ, Ngõ ba nhà, Mùa xuân mùa thu của thành nhỏ…
Tiểu thuyết Trung Quốc đương đại đạt nhiều thành tựu, thể hiện trên nhiều bình diện Về mặt đề tài, tiểu thuyết của mười bảy năm viết về lịch sử cách mạng, chủ yếu tập trung miêu tả phong trào cách mạng quần chúng trong
Trang 19cuộc chiến tranh chống Nhật, cuộc đấu tranh giải phóng và cuộc đấu tranh phản
đế, phản phong của nhân dân Trung Quốc do Đảng cộng sản lãnh đạo Tiểu thuyết của thời kì mới cũng đề cập đến đề tài này nhưng lại không hạn chế về thời gian Dưới ngòi bút của nhà văn, phong trào cách mạng sau cách mạng Tân Hợi (1911) kéo dài đến khi thành lập Đảng cộng sản Trung Quốc (1921) đều
được miêu tả chân thực, sống động và đầy kịch tính Các tác phẩm như Đất đai (gồm 3 tập là Hoa lửa, Tự do và Ánh bình minh) của Diệp Quân Kiện và Thác
nước ( tập 1 là đêm dài) của Lục Địa phản ánh cuộc sống của thời đại rộng lớn
của miền nam Trung Quốc từ sau cách mạng Tân Hợi đến trước cuộc chiến tranh Bắc phạt Đó là sự phản kháng anh dũng và sự đàn áp tàn bạo, cuộc kình chống kịch liệt giữa các lực lượng chính phủ và các giai cấp; sự tranh giành quyền lực của chủ thể Trung Quốc; một số nhân sĩ trí thức trong con đường cứu
dân cứu quốc Tác phẩm Bất tận Trường Giang cổn cổn lai của Bành Tuệ, Gió
xoáy của Dương Bội Cẩn biểu hiện phong trào nông dân và công nhân trước và
sau cách mạng, miêu tả cuộc đấu tranh phức tạp, biểu thị sự trưởng thành của lực lượng công nông trong cuộc đấu tranh cách mạng; ghi chép lại những trang
lịch sử cực kì quan trọng trong lịch sử cách mạng Trung Quốc Tác phẩm Bắt
tay lần thứ hai của Trương Dương và Yêu và thù của Chu San từ trên các bình
diện khác nhau biểu hiện con đường trưởng thành của phần tử trí thức tiến bộ
phản kháng lại sự gian ác xấu xa để đi tìm chân lí và ánh sáng Tác phẩm Dòng
xoáy của Yên Quốc Bồi kết hợp giữa đấu tranh kinh tế với đấu tranh chính trị,
biểu hiện đời sống xã hội muôn màu, muôn vẻ của hai bên bờ Xuyên Giang
trong những năm 30 Tác phẩm Bắc quốc phong vân lục của Mã Như và Cáp
Nhĩ Tân dưới màn đêm của Trần Kỳ miêu tả chân thực âm mưu và hành động bỉ
ổi của quân đội Nhật trước và sau sự kiện “ngày 18 tháng 9”, miêu tả sự quật khởi của nghĩa quân chống Nhật và cả phong trào cứu vong kháng Nhật ở thành
thị, nông thôn, công xưởng, trường học Tác phẩm Bảo nương của Vương Bảo
miêu tả quá trình của một thanh niên đi theo cách mạng, lột tả một cách hình
Trang 20tượng vận mệnh bi thảm của người phụ nữ trong xã hội cũ và con đường sống
mới của họ Tác phẩm Lê Viên Phận của Ngọc Nhân Dịch dựa theo vở Xuyên
kinh Ngọc đĩnh ban miêu tả cuộc sống phiêu bạt vô định, lưu lạc trôi nổi của
những nghệ nhân trong xã hội cũ
Tiểu thuyết miêu tả lịch sử cách mạng trong mười bảy năm coi trọng ở việc theo đuổi tình tiết câu chuyện và sắc thái truyền kì, còn rất nhiều tiểu thuyết thời kì mới viết về lịch sử cách mạng thì coi trọng việc bộc lộ hoàn cảnh, phản ánh sự thay đổi, cuộc sống rộng lớn, đặc trưng bản chất của thời đại và sự
phát triển của lịch sử Tác phẩm Phương đông của Ngụy Nguy được coi là bức
tranh tráng lệ của cuộc kháng Mỹ viện Triều gần 3 năm, biểu thị tiến trình hoàn chỉnh của sự phát sinh, phát triển và kết thúc của cuộc chiến tranh Tác phẩm không những miêu tả cuộc chiến đấu to lớn của mặt trận Triều Tiên, sự diễn biến của cục diện chiến trường, sự thay đổi của phương châm chiến lược mà còn
tỏ rõ cuộc đấu tranh trong phong trào hợp tác hoá toàn quốc của thời kì đầu xây dựng một cách toàn diện, sâu sắc, làm cho người đọc cảm nhận tốt Tác phẩm
Thác nước được coi là „đỉnh cao nhất của văn học dân tộc Choang”, thể hiện sự
phát triển và bộ mặt thời đại của thời kì cách mạng dân chủ cũ Trung Quốc từ cuộc cách mạng Tân Hợi đến cuộc chiến tranh Bắc phạt, miêu tả sinh hoạt rộng lớn của thời đại đó: sự thất bại của phong trào học sinh, sinh viên và sự vùng lên của phong trào nông dân, phong trào yêu nước chính nghĩa; cuộc chiến tranh quân phiệt gay gắt; hoạt động của cách mạng Tôn Trung Sơn; sự truyền bá chủ nghĩa Mác ở Trung Quốc; sự gian khổ của phần tử nhân sĩ trí thức cùng với sự chìm nổi của thân phận bé nhỏ
Tiểu thuyết có tính sử truyện là một thành tựu quan trọng của sáng tác tiểu thuyết thời cổ đại Trong tiểu thuyết của thời kì mười bảy năm loại tác phẩm này rất ít Trong thời kì mới, sự đứt đoạn của dòng chảy này lại được tiếp tục và càng chảy mạnh hơn Chỉ mấy năm ngắn ngủi, tác phẩm mang tính sử
truyện xuất hiện không ít Có thể kể ra một số tác phẩm tiêu biểu như: Hận
Trang 21Trường thành của Trần Lập Đức, miêu tả cuộc đời của Cát Hồng Xương và tác
phẩm Cát Hồng Xương của Chu Dực Lương Ngoài ra còn có các tác phẩm khác như Lưu Chí Đan của Lí Kiến Sam, Tẩy Tinh Hải truyện của Mã Khang,
Trương Ngọc Lương truyện của Thạch Nôm v.v Những tác phẩm này không
những tái hiện lại bộ mặt tinh thần của một số nhân vật mà còn lưu lại rất nhiều
sử liệu có liên quan đến các mặt chính trị, quân sự và văn hoá của thời đại đó
Sự đột phá của tiểu thuyết lịch sử đã giành được sự thu hoạch to lớn và một khái niệm đẹp đẽ mà văn học thời kì mới đã mang lại cho độc giả
Trong tiểu thuyết của thời kì „mười bảy năm’ ngay cả thời ngũ tứ đến
nay, tiểu thuyết lịch sử của Trung Quốc là vùng trống vắng trong sáng tác văn học Trung Quốc Nguyên nhân này chủ yếu là do sự can thiệp của tư trào tả làm cho đề tài lịch sử trở thành vùng cấm không có ai đám vi phạm Trong văn học thời kì mới tình hình này có sự đổi khác.Vùng cấm được xoá bỏ không còn ranh giới, không còn cấm kị, phân biệt Tiểu thuyết lich sử đã giám đột phá vào thể loại này, viết nên những tác phẩm mang nhiều tính sử thi, sử truyện được độc giả đón nhận nồng nhiệt
Đề tài lịch sử trong tiểu thuyết mười bảy năm chủ nghĩa xã hội không nhiều, chủ yếu là tập trung miêu tả cuộc khởi nghĩa nông dân Tiểu thuyết lịch
sử của thời kì mới về phương diện đề tài có một sự đột phá và mở rộng hơn trước rất nhiều Một loạt tác phẩm lấy hiền thần lương tướng của xã hội phong kiến làm nhân vật chính, mở ra một lĩnh vực đề tài mới Đó là các tác phẩm
như: Kim âu khuyết, Mậu Tuất điệp huyêt kí, 103 ngày v.v…
Tiểu thuyết của thời kì mới còn xuất hiện các tác phẩm phản ánh cuộc sống của nước Trung Hoa mới Trong đó tác phẩm miêu tả cuộc sống của nhà
trường chiếm một vị trí chưa từng có Ví dụ tác phẩm Thời đại đại học của Trình Thụ Thung miêu tả đời sống của sinh viên đại học Tuổi trẻ muôn năm
của Vương Mông miêu tả đời sống của học sinh phổ thông trung học và ngay cả
tác phẩm Mã lan thảo của Cang Sam Bình miêu tả đời sống của thầy cô giáo đại
Trang 22học mà văn học từ khi thành lập nước đến nay rất ít thấy Những tác phẩm này phản ánh bộ mặt tinh thần của các trí thức thanh niên Trung Quốc trong những năm 50 Tác phẩm miêu tả cuộc sống của nông thôn cũng có nhiều Trước đây
về đề tài này độc giả rất quen thuộc với tác phẩm Sáng ngiệp sử của nhà văn Liễu
Thanh (2 tập) Giờ đây độc giả lại được thưởng thức các tác phẩm mang hơi thở
của cuộc sống ở nông thôn, như Phù Dung trấn của Cổ Hoa, một tiểu thuyết được
coi là “ngụ ý thời tiết chính trị nhưng ở bức tranh phong tục dân tình”
Ngoài các đề tài trên đây, Tiểu thuyết thời kì mới còn phản ánh đời sống
của các dân tộc ít người Đáng chú ý nhất là tác phẩm Cơ lộc nhai của Bành
Kình Phong lần đầu tiên đem cuộc sống của người khổ thông trong rừng sâu nguyên thuỷ ở núi An Lão bày ra trước mắt làm cho ai nấy đều ngạc nhiên, cảm
nhận Tác phẩm Đoá mai cách Tang của Giáng Biên Gia Tích miêu tả giải
phóng quân tiến quân vào Tây Tạng là một bộ tiểu thuyết đầu tiên của một nhà văn Tây Tạng đương đại
Tóm lại, về mặt phản ánh đời sộng hiện thực từ khi thành lập nước đến
nay thì tác phẩm Phù Dung Trấn của Cổ Hoa là xuất sắc, nổi bật nhất Nhưng
tác phẩm của loại đề tài này so với thời kì trước cách mạng văn hoá thì chưa nhiều Các tác phẩm miêu tả “cuộc đại cách mạng văn hoá” là một lĩnh vực
hoàn toàn mới Trong đó, tác phẩm Ngày lễ điên cuồng của hai tác giả Dương
Cơ Vĩ và Hồ Nguyệt Hâm, tác phẩm Tướng quân ngâm của Mạc Ứng Phong
miêu tả chính diện quá trình của cuộc cách mạng văn hoá, trong đó biểu hiện sự
hi vọng không thể dập tắt trong đầu óc mọi người trong những năm động loạn
Tác phẩm Con đường của cuộc sống của Trúc Lâm, Người trẻ đời này của
chúng ta và Năm tháng sa đà của Diệp Tân miêu tả cuộc sống của thanh niên
trí thức mà cuộc sống ngày nay chúng ta gọi là đề tài văn học trí thức Các tác
phẩm như Hứa Mậu và con gái ông ta của Chu Khắc Cần, Tình sông núi của Hạo Nhiên và Mùa thu không được thu hoạch của Mộc Thanh, đột phá con
đường mòn miêu tả cuộc sống ở nông thôn trong thời kì “mười bảy năm” mà lấy
Trang 23bút pháp của chủ nghĩa hiện thực nghiêm ngặt, miêu tả vận mệnh của bộ mặt nông dân, nông thôn ( bao gồm trí thức và thanh niên ) trong “mười năm động loạn” và biểu hiện tinh thần cởi trói của mọi người trong gian khổ Tác phẩm
Mùa xuân trong mùa đông của Lí Quốc Văn và Ghi chép phá bức tường của
Trần Đăng Khoa và Tiêu Mã lấy cán bộ làm nhân vật chính, không chỉ viết về
“cách mạng văn hoá” mà đối với lịch sử cũng có sự tìm tòi, suy nghĩ làm cho độc giả tiếp nhận một cách tích cực
Ngoài ra, các tác phẩm khác như Thay giá của Trần Quốc Khải và Cái
chết của nhà thơ của Đới Hậu Anh miêu tả sự gian khổ của tầng lớp trí thức tận
cùng của xã hội, biểu hiện tình cảm cao thượng, trong sáng và đẹp đẽ của họ Những tác phẩm này có đề tài mới, chủ đề mới và quan trọng hơn là sự lí giải, nắm vững, đề xuất và biểu hiện của tác giả đối với cuộc sống cũng là mới Tác phẩm loại đề tài này mang đến giòng máu mới để mọi người đi vào thời kì mới
Trong tiểu thuyết thời kì mới, tác phẩm của đời sống hiện thực sau khi đập tan tập đoàn Giang Thanh có số lượng không nhiều và chưa có tác phẩm nào thật vượt trội về nội dung và nghệ thuật Số lượng tuy ít và chất lượng chưa
cao nhưng nó được người đọc chú ý Trong đó, tác phẩm Đôi cánh nặng nề của Trương Khiết và Người cải cách của Dương Khiết lấy việc cải cách thể chế ở
thành thị trước đây làm chủ đề Từ trong cuộc sống hiện thực trước kia, nhanh chóng tạo thành một tấm gương lich sử, phê phán một cách sâu sắc tập quán cũ
và tư tưởng cũ nhằm cản trở công cuộc cải cách, ca ngợi một cách mạnh mẽ những con người vì sự chấn hưng của một nước Trung Hoa mới mà hiến dâng bản thân mình Những tác phẩm này trong việc phản ánh đời sống đã có tính sâu sắc và mẫn tiệp Nhưng do chu kì ngắn, sự am hiểu của nhà văn đối với cuộc sống chưa nhiều, nên biểu hiện ở mặt nghệ thuật chưa công phu Hai tác phẩm
Đôi cánh nặng nề và Người cải cách có thể coi là đại diện cho trào lưu sáng tác
mới trong tiểu thuyết thời kì mới
Qua sự trình bày có thể rút ra những thành tích đáng chú ý của tiểu thuyết thời kì mới:
Trang 24Trước hêt, nhiều tác phẩm đã duy trì, ủng hộ và phát huy một số truyền thống ưu tú của sáng tác tiểu thuyết trong thời kì “mười bảy năm” Đó là sự quan tâm to lớn đến đời sống, chú ý đến vận mệnh của nhân dân, đất nước Từ trong dòng chảy mạnh mẽ của đời sống, các tác giả đã chọn lựa chủ đề và đề tài
có liên quan mật thiết đến vân mệnh của nhân dân và tình hình đất nước Các tác phẩm đã chú ý đến yếu tố thẩm mỹ của nhân dân Trung Quốc, cổ vũ mạnh
mẽ niềm lạc quan phấn khởi của nhân dân trong phong trào cách mạng mới
Về mặt nghệ thuật, nhiều tác giả đã thể hiện hình thức biểu hiện mới, tỏ
rõ phong cách, phong thái của người sáng tác văn học, làm cho mọi người phấn khởi sáng tạo ra cái mới, nhất là việc sáng tạo ra hình thức nghệ thuật mới Nhân vật anh hùng mới được xây dựng đẹp đẽ, sáng tạo và có sức thuyết phục cao
Đề tài của tiểu thuyết thời kì mới tương đối rộng lớn, bao quát, có tính khái quát cao Trong sáng tác tiểu thuyết của thời kì “mười bảy năm”, tầm nhìn của nhà văn hẹp, giản đơn, nói chung chỉ chú trọng biểu hiện cuộc sống đấu tranh của cách mạng dân chủ mới và thời kì cách mạng xã hội chủ nghĩa Trong thời kì mới, tầm nhìn của nhà văn được mở rộng và được giải phóng Họ một mặt vẫn không từ bỏ việc miêu tả cuộc đấu tranh của giai đoạn cách mạng, mặt khác họ đem tầm nhìn đó đặt vào đời sống với giá trị thẩm mĩ mới Vì vậy, các loại cuộc sống của xã hội phong kiến kéo dài từ thời đại Xuân thu đến cách mạng Tân Hợi, đời sống của các thời đại dân chủ cũ và mới ở Trung Quốc từ sau khi nước Trung Hoa mới ra đời, đặc biệt là sau “cách mạng văn hoá” đều được phản ánh chân thưc, sâu sắc vừa có bề rộng, vừa có bề sâu Trong đó có rất nhiều tác phẩm chỉ viết về đề tài bình thường trong cuộc sống muôn màu muôn
vẻ của nhân dân
Tiểu thuyết của thời kì mới về mặt phương pháp nghệ thuật cũng dần dần
có sự cách tân, sáng tạo Tiết tấu trần thuât, kể chuyện được tăng nhanh; phê phán, trần thuật cũng dần dần được đa giạng hoá Về mặt kết cấu, các nhà văn
sử dụng phương pháp “từ đầu, nối đầu, nối tới”, đồng thời phương pháp kết cấu
Trang 25nhiều kiểu, nhiều dạng độc đáo Về mặt khắc hoạ tính cách nhân vật, các tác giả
đã sử dụng đặc trưng tính cách từ hành động miêu tả đơn nhất dần dần đi sâu vào miêu tả thế giới nhân vật, làm cho thủ pháp miêu tả phong phú, mới mẻ, gây
sự hấp dẫn cho người đọc
1.2 Mạc Ngôn, một tác giả xuất sắc của tiểu thuyết Trung Quốc đương đại
1.2.1 Mấy nét về cuộc đời Mạc Ngôn
Mạc Ngôn là bút danh Tên thật của nhà văn là Quản Mạc Nghiệp Sinh ngày 17/2/1955, xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo tại huyện Cao Mật, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc
Ngay từ nhỏ Mạc Ngôn đã là một cậu bé thông minh, ham học và tỏ ra có năng khiếu văn chương Khi còn là một đứa trẻ nghịch ngợm ngày ngày chăn trâu trên đồng cỏ quê hương, Mạc Ngôn đã thích đọc sách, ông đã phải lao động không công một cách cật lức cho nhà giàu để được mượn sách đọc Có được sách ông đọc rất say sưa và thường xuyên khóc, cười với nhân vật, thậm chí yêu các nhân vật nữ trong sách Lên lớp 4 Mạc Ngôn viết một bài về ngày Quốc tế lao động 1-5 khi trường tổ chức đại hội Thể dục thể thao Bài viết được thầy giáo Trương khen ngợi hết lời Sau đó Mạc Ngôn còn viết rất nhiều bài luận, tất
cả các bài viết đều được thầy giáo đọc trước lớp, được dán lên cả bảng tin nhà trường, thậm chí có bài còn được các trường trung học lân cận lấy làm bài văn mẫu Nhưng năm 11 tuổi cách mạng văn hoá nổ ra, Mạc Ngôn phải nghỉ học khi chưa học hết bậc tiểu học, phải tham gia lao động nhiều năm ở nông thôn Trong khoảng 10 năm kể từ ngày đó, tuổi thơ ông suốt ngày chăn dê ở ngoài đồng “đói khát và cô đơn luôn là người bạn đồng hành” Mạc Ngôn trong một bài phỏng vấn đã tâm sự: “Cuộc sống nghèo khổ đã bám tôi suốt hai mươi năm Nỗi sợ hãi đói khát luôn ám ảnh cuộc sống và tác phẩm của tôi sau này Nếu được chọn lại tôi muốn chọn lấy tuổi thơ có cơm no áo ấm”
Do thành phần xuất thân của gia đình nên việc đi học trở lại của Mạc Ngôn chấm dứt, tấm bằng trung học không thể lấy được, ngay cả đến đi bộ đội
Trang 26cũng không phải dễ, làm công nhân cũng chẳng có chút hi vọng gì và xem ra tương lai của Mạc Ngôn thật ảm đạm và mờ mịt… Trong tuyệt vọng, Mạc Ngôn
đã lục lọi những cuốn sách giảng văn của anh cả khi còn học trung học ra, đọc
đi đọc lại một cách say mê đến khi thuộc thì thôi, đầu tiên là độc những truyện ngắn và những đoạn trích tiểu thuyết rồi đến tản văn…
Cô đơn, đau khổ tuyệt vọng với cuộc sống tù đọng tăm tối không thể dìm chết một Mạc Ngôn đầy niềm khao khát, và ông phấn đấu để được học bắt đầu bằng con đường vào quân ngũ, cố gắng phấn đấu thật tốt để được đi học đại học Sau 4 năm liên tục nỗ lực, Mạc Ngôn đã được nhập ngũ
Tháng 2 năm 1976 Mạc Ngôn vào bộ đội Ôm giấc mơ vào đại học, chiến
sĩ Quản Mạc Nghiệp đã làm việc cật lực đến độ không thiết gì đến bản thân… việc gì ông cũng hoàn thành tốt Với thành tích ấy Mạc Ngôn đã dành được sự tán thưởng và cảm tình của toàn đơn vị Cuối năm 1977, lãnh đạo đơn vị quyết định cho Mạc Ngôn đến Bắc Kinh dự thi tại Học viện kĩ thuật công trình do quân đội quản lí Vô cùng phấn khởi vì cơ hội học tập đã đến, ông đã miệt mài ngày đêm với quá trình tự học gian khổ của mình Nhưng khi kì thi đến thì cấp trên gọi điện không phải thi nữa vì không có tên trong danh sách! Qua một phen lao đao, về cơ bản việc thi đại học đã tan vỡ Không lâu sau, Mạc Ngôn được điều động về một đơn vị mới ở Bảo Định, đảm nhiệm chức vụ giáo viên chính trị kiêm nhân viên quản lí thư viện Để có thể lên lớp, Mạc Ngôn đã dành nhiều thời gian nghiên cứu về lí luận chính trị và nhiều sách văn học nghệ thuật, không ngừng học tập phấn đấu, trang bị cho mình vốn văn hoá cần thiết để trở thành nhà văn Quá trình lao động và học tập không mệt mỏi ấy đã mở toang cánh cửa vào trường đại học tưởng chừng như đã đóng từ lâu đối với Mạc Ngôn vào ngày 1 tháng 9 năm 1984 Ông đã trúng tuyển vào khoa Văn thuộc Học viện Nghệ thuật Quân Giải phóng, và đến năm 1986 thì ông tốt nghiệp
Năm 1988 trúng tuyển lớp nghiên cứu sinh khoa Lí luận sáng tác thuộc Học viện Văn học Lỗ Tấn, trường Đại học Sư phạm Bắc Kinh, lấy bằng Thạc sĩ
Trang 27năm 1991 Lúc ấy ông cũng là sáng tác viên danh tiếng của Cục Chính trị - Bộ Tổng tham mưu Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc
1.2.2 Những nét chính trong văn nghiệp của Mạc Ngôn
Mặc dù trước đó Mạc Ngôn đã tập tành viết, nhưng phải nói rằng đến
năm 1978, khi ông viết truyện Chuyện về một người mẹ thì sự nghiệp văn chương của ông mới bắt đầu Tác phẩm viết về con gái của một lính vũ trang
thuộc Bát lộ quân, bỏ nhà theo người yêu, cuối cùng dẫn đội quay về giết chết người bố Hán gian của mình Nhưng rồi trong “Cánh mạng văn hoá”, do thành phần xuất thân không tốt nên bị đấu tố và cuối cùng phải nhận lấy cái chết thê
thảm Mạc Ngôn đã gửi truyện này cho tạp chí Văn nghệ Giải phóng quân nhưng bản thảo bị trả về Sau đó Mạc Ngôn viết kịch bản Li hôn, nội dung viết
về cuộc đấu tranh với “Tứ nhân bang” Lại gửi cho Văn nghệ Giải phóng, và lần
này cũng lại nhận bản thảo quay về Nhưng lần này thì Ban biên tập của tờ tạp chí đã viết cho Mạc Ngôn một lá thư với đại ý là: Do số trang tạp chí có hạn, kịch bản đồ sộ này không thể đăng tải hết được, nếu có thể thì cứ gửi cho nhà xuất bản nào đó hoặc là những đoàn kịch nói
Năm 1981 ông bắt đầu công bố tác phẩm và đến nay, ông đã cho in 10 truyện dài, 20 truyện vừa, 60 truyện ngắn và 5 tuyển tập những bài kí, phóng sự, tùy bút v.v…Tổng cộng trên 200 tác phẩm
Ông để lại nhiều tác phẩm có giá trị, trong đó phải kể đến Báu vật của
đời, nguyên tác Phong nhũ phì đồn(1985); Cao Lương đỏ, nguyên tác: Hồng Cao lương gia tộc(1998); Đàn hương hình; Cây tỏi nổi giận (Bài ca củ tỏi
Thiên Đường); Củ cải đỏ trong suốt; Rừng xanh lá đỏ( Rừng vẹt); Tửu quốc( Rượu chảy như suối); Châu chấu đỏ; Ma chiên hữu, nguyên tác: Chiến hữu
trùng phùng đề cập đến lính Trung Quốc chết trong chiến tranh biên giới Việt -
Trung năm 1979
Chính những đóng góp của mình mà ông đã được tặng Giải nhất về tiểu
thuyết của Hội Nhà văn Trung Quốc, tháng 12 năm 1995 cho tác phẩm Báu vật
Trang 28của đời Giải Mao Thuẫn cho tác phẩm Đàn hương hình Và giải thưởng danh
giá nhất: Giải Nobel văn học ngày 11/10/2012
Tháng 10 năm 1997 cho đến nay, ông chuyển sang hoạt động trên lĩnh vực báo chí và viết văn chuyên nghiệp
Quả thực Mạc Ngôn là con người giàu ý chí, nghị lực, có ước mơ và tràn đầy khát vọng; là con người dám nghĩ và dám làm, kiên định thực hiện ước mơ của mình, một điều tưởng chừng như rất dễ nhưng không phải ai cũng làm được
1.2.3 Tiểu thuyết - một thể loại quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của Mạc Ngôn
Lúc Mạc Ngôn mới bắt đầu sáng tác, văn học đương đại Trung Quốc đang ở vào hậu kì của “văn học vết thương”, hầu như tất cả các tác phẩm văn học đều tố cáo tội ác của cách mạng văn hoá Lúc đó văn học Trung Quốc còn phải mang rất nhiều nhiệm vụ chính trị, và không có được phẩm chất độc lập
Mạc Ngôn cũng không nằm ngoài dòng chảy lịch sử ấy và ông đã sáng tác một số tác phẩm khá đơn giản về kết cấu, chủ yếu là những sáng tác mô
phỏng, nặng về chính trị, đó là các sáng tác đầu tay như Đêm mưa xuân giăng
giăng, Người lính xấu, Vì con, Con đường bán bông, Âm nhạc dân gian, Gió trên đảo, Dòng sông trong mưa Một số tác phẩm được tán thưởng nhưng theo
Mạc Ngôn thì đó là những truyện tồi, “giờ đọc lại muốn đốt đi”
Trong quá trình học tập và nghiên cứu, vào giữa tháng 12 năm 1984, ông
đã bắt gặp được sách của Phôn-knơ một nhà văn người Mỹ, ông thấy rất thích, rất gần gũi và thân thiết với nhà văn này Trước đó Mạc Ngôn đã viết văn theo cách giáo trình dạy viết truyện đã dạy và ông đã không tìm được cái mình muốn viết Nhưng sau khi đọc Phôn-knơ thì ông như sực tỉnh ra nhà văn không chỉ hư cấu ra nhân vật, câu chuyện mà còn có thể hư cấu ra địa lý Và thế là ông mạnh dạn đưa thôn Đông Bắc Cao Mật của mình lên trang giấy Từ đó về sau ông không phải tìm cái để viết nữa mà chỉ thấy buồn vì không viết kịp và không viết
Trang 29nổi, “Tôi thường cảm thấy trong lúc viết một truyện nào đó, những cấu tứ mới
đã dồn đuổi tôi như một đàn chó dữ ở phía sau lưng” [51; 90]
Đặc biệt trên bước đường sáng tác của mình, ông càng trưởng thành hơn
về tư tưởng, đó là ý thức được rằng văn học cần phải thoát khỏi bóng đen ám ảnh của chính trị, văn học không chỉ phục vụ cho chính trị, văn học không chỉ thể hiện nỗi đau khổ về vật chất mà còn phải thể hiện nỗi đau khổ về tinh thần
và đặc biệt là khao khát muốn tác phẩm văn học của mình không chỉ có liên quan đến chính trị mà còn có ý nghĩa rộng rãi, phổ biến đến tất cả mọi người dân, muốn tác phẩm của mình được nhiều người chấp nhận và hiểu rõ hơn Đồng hành với sự trưởng thành ấy là hàng loạt những tác phẩm gây được tiếng vang trên văn đàn Hơn nữa ông còn là nhà văn có tâm huyết với nghề, luôn muốn hoạt động văn học là hoạt động sáng tạo Và ông cũng nhận thức được rằng không thể học cái kiểu của những người đang gặp may trên văn đàn, bằng cách thay tên đổi họ, biến những thứ của nhà văn phương Tây thành cái của mình Nên ông “muốn viết ra những thứ thuộc về tôi, nó khác với mọi người và khác với các nhà văn phương Tây và khác với các nhà văn Trung Quốc khác” [51;108]
Có thể thấy trên bước đường sáng tác, Mạc Ngôn đã thể hiện mình ở nhiều thể loại như báo chí, kịch, truyện ngắn, truyện vừa, đặc biệt là truyện dài (Tiểu thuyết trường thiên)
Mạc Ngôn để lại một khối lượng đồ sộ về thể loại tiểu thuyết như các
cuốn sau: Gia tộc Cao lương đỏ (1987), Bài ca ngồng tỏi Thiên Đường (1988),
Mười ba bước (1988), Bạch cẩu thu thiên giá (1989), Tửu Quốc (1993), Gia tộc thực thảo (1993), Báu vật của đời (1995), Rừng xanh lá đỏ (1999), Đàn hương hình (2001)
Thời gian sáng sác quả là tỉ lệ nghịch với số lượng tác phẩm Mạc Ngôn
đã công bố hơn 10 cuốn tiểu thuyết, hơn 20 truyện vừa, hơn 60 truyện ngắn và 5 tuyển tập những bài ký, phóng sự, tuỳ bút tổng cộng trên 240 tác phẩm
Trang 30Những thành tựu văn học cơ bản của nhà văn Mạc Ngôn đã thể hiện qua việc ông đoạt được nhiều giải thưởng lớn trong và ngoài nước Năm 2000 Hội Nhà văn Thượng Hải đã bình chọn 10 tác giả ưu tú và 10 tác phẩm xuất sắc nhất trong thập kỉ 1900, trong đó có Mạc Ngôn Mạc Ngôn được bình chọn là một trong mười nhà văn ưu tú của 10 năm cải cách, mở cửa cùng với Vương An, Dư Hoa, Hàn Thiếu Công, Trần Trung Thực, Sử Thiết Sinh, Trương Vĩ, Giả Bình
Ao, Trương Thừa Chí, Dư Thu Vũ Năm 1987, Giải tiểu thuyết toàn quốc lần
thứ 4 (1987) cho tiểu thuyết Cao lương đỏ, tác phẩm được chuyển thể thành bộ
phim truyện nhựa cùng tên (đạo diễn Trương Nghệ Mưu) đã đoạt giải Gấu vàng
tại Liên Hoan Phim Berlin lần thứ 38 Tháng ba năm 1989, tiểu thuyết Bạch cẩu
thu thiên giá được trao giải Liên hợp báo của Đài Loan Tháng 12-1995, tiểu
thuyết Báu vật của đời đã giành Giải nhất về tiểu thuyết do Hội Nhà văn Trung Quốc bình chọn Cũng trong năm này bộ phim hợp tác Mặt trời có tai đã giành được giải Gấu bạc tại Liên hoan phim Bec-lin Năm 2000, Một lần chạy dài của
30 năm trước giành được giải nhì cho truyện vừa xuất sắc nhất do Hội Nhà văn
Thượng Hải bình chọn năm 2000 (không có giải nhất) Năm 2003, tiểu thuyết
Bạch cẩu thu thiên giá được chuyển thể thành phim Sưởi ấm đoạt giải Kim Kì
Lân với số tiền thưởng là 80.000 USD tại Liên hoan phim quốc tế Tokyo đầu tháng 11, và còn được đề cử cho 7 giải thưởng khác tại giải Kim Kê Trung Quốc diễn ra trong tháng 11 cùng năm Đặc biệt năm 2004, trong số 23 tác
phẩm văn học bình chọn giải Mao Thuẫn lần thứ sáu thì tiểu thuyết Đàn hương
hình của Mạc Ngôn xếp vị trí số một, với 100% phiếu thuận Có thể tổng kết
các giải thưởng mà Mạc Ngôn giành được như: Giải Văn học Liên hợp (Đài
Loan), Giải Văn học Laure Batailin (cho tác phẩm Tửu Quốc được giành giải thưởng văn học có tên là Laurebataillon ở Pháp cho “những ý tứ sâu xa và nhiều
ý nghĩa tượng trưng” và “nhiều tinh thần sáng tạo”), Giải Văn học Quốc tế
Nonino (í), Giải thưởng lớn cho Văn hoá Châu á (Nhật), Giải Hồng Lâu Mộng cho Tiểu thuyết Hoa ngữ thế giới (Hồng Kông), Giải Văn học Hoa ngữ New
Trang 31York (Mỹ), Huân chương Kỵ sĩ Nghệ thuật Văn hoá Pháp (tháng 3, năm 2004), Tiến sĩ văn học danh dự do trường Đại học Công Khai Hồng Kông trao tặng (tháng12, năm 2005)
Mạc Ngôn đã đóng góp cho nền văn học Trung Quốc nhiều tác phẩm có giá trị và được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới ở Đức, bản tiếng I-ta-li của
cuốn Gia tộc Cao lương đỏ, tiêu thụ tới 10 ngàn cuốn; tiểu thuyết Báu vật của
đời sau 3 tháng xuất bản đã bán được 7 ngàn cuốn Con số trên chưa phải là lớn,
nhưng sách của một nhà văn Trung Quốc được tiêu thụ như thế ở nước ngoài thì
đã là một kì tích Hầu hết các tác phẩm của ông đều được dịch ra nhiều ngôn ngữ như Anh, Pháp, Đức, Ý, Nhật, Nga, Hàn, Hà Lan, Thụy Điển, Ba Lan, Việt Nam , và đều có sức ảnh hưởng lớn trong và ngoài nước Trở thành người nổi tiếng khiến Mạc Ngôn luôn bận rộn Ngoài việc sáng tác ông được mời đi dự nhiều cuộc hội thảo, trả lời phỏng vấn trên các báo, tạp chí có tiếng trong và ngoài nước, đi nói chuyện tại nhiều trường đại học danh tiếng
Trong sự nghiệp sáng tác của Mạc Ngôn, tiểu thuyết chỉ chiếm số lượng khá khiêm tốn nhưng được biết đến nhiều nhất Đây là thể loại có dung lượng lớn, thể hiện được độ sâu về vấn đề được đề cập Đồng cũng là thể loại chiếm được nhiều giải thưởng nhất trong lâu đài văn học của ông
Thành tựu tiểu thuyết là một tiêu chí quan trọng cho thành tựu nghệ thuật của một thời đại và cũng là tiêu chí quan trọng để đánh giá tài năng của một nhà văn Trong sự nghiệp sáng tác văn học, có thể thấy Mạc Ngôn thành công nhất ở thể loại tiểu thuyết, và ông được coi là nhà tiểu thuyết ưu tú Các đề tài mà ông
đề cập đến không chỉ là về hiện thực xã hội mà còn về lịch sử Vạch trần những vết thương đau trong “Đại cách mạng văn hoá”, thể hiện những nỗi trăn trở day dứt trước sự cải cách mở cửa, nỗi chiêm ngiệm về chiến tranh và cách mạng
Tất cả toát ra trong các tiểu thuyết Đàn hương hình, Báu vật của đời, 41 phát
đại bác, Sinh tử vần xoay, Rừng xanh lá đỏ, Tửu quốc, Cây tỏi nổi giận
Những tác phẩm này không chỉ tái hiện nhiều bức tranh lịch sử có tính bi kịch,
Trang 32mà còn làm bùng cháy lòng căm ghét đối với thế lực gian ác, và lòng tin kiên định ánh sáng tất chiến thắng đen tối Cũng như các nhà tiểu thuyết đương đại Trung Quốc, tiểu thuyết của Mạc Ngôn phản ánh cuộc sống xã hội với sự thay
đổi tâm lý con người ở thời kỳ mới Về mặt này, Rừng xanh lá đỏ đã gây phản
ứng mạnh mẽ trong người đọc Nó không chỉ phản ánh hiện thực cải cách về chính trị, kinh tế, mà còn miêu tả và thúc đẩy sự diễn biến tâm lý xã hội và đạo
đức luân lý đương thời Hàng loạt tiểu thuyết khác như Báu vật của đời, Cây
tỏi nổi giận, Sinh tử vần xoay, Tửu quốc từ những góc độ khác nhau đi sâu
phản ánh những mâu thuẫn xung đột gay gắt trong hiện thực biến đổi, biểu hiện mạnh mẽ tinh thần chiến đấu cách mạng thay đổi hiện trạng, chấn hưng Trung Hoa, đi sâu vào vấn nạn tinh thần của người dân Trung Quốc Đồng thời, phản ánh kịp thời ý thức của thời đại mới như giá trị đạo đức mới, quan điểm tâm lí mới, quan điểm mỹ thuật mới, thái độ nhân sinh mới
Tiểu thuyết của Mạc Ngôn còn thể hiện những suy ngẫm tìm tòi về chủ nghĩa nhân đạo, về nhân tính, đối thoại mang màu sắc tâm linh với những vấn
đề tình yêu, sự nghiệp, nhân sinh Cũng từ đó mà mổ xẻ, phán xét một cách lạnh lùng đối với những nhân vật mang nỗi đau tinh thần, tìm hiểu sâu sắc hình thái chính trị, kinh tế, đạo đức ở nông thôn Trung Quốc
Tiểu thuyết của Mạc Ngôn không chỉ phong phú, sâu sắc về nội dung phản ánh mà còn hiện đại về hình thức thể hiện Do sự thay đổi của bối cảnh cuộc sống xã hội, tư tưởng văn học mà các tiểu thuyết gia đương đại luôn coi trọng cá tính sáng tác bản thân, từ đó dẫn tới sự thay đổi về phong cách và hình thức văn học Mạc Ngôn cũng không nằm ngoài sự thay đổi ấy Ông tiếp thu những thủ pháp nghệ thuật, kĩ xảo biểu hiện của chủ nghĩa hiện đại như dùng thủ pháp tượng trưng, huyền ảo để phản ánh cuộc sống; sử dụng thủ pháp
“dòng ý thức” để biểu hiện tiềm thức của con người, tăng thêm dung lượng tác phẩm Ông còn sử dụng thêm thủ pháp của chủ nghĩa biểu hiện, chủ nghĩa siêu thực v.v… để phản ánh cuộc sống, mở rộng tầm nhìn của nhà văn và mở rộng
Trang 33không gian nghệ thuật Cao lương đỏ, Báu vật của đời, Đàn hương hình của
Mạc Ngôn là những tác phẩm như vậy
Từ năm 1986 cho đến nay, đặc biệt là từ năm 1990, một lượng lớn tác giả
đã tập trung sức chú ý vào truyện dài, một mặt họ nhận thấy rằng chỉ có dung lượng và quy mô sử thi của thể loại mới thể hiện hết được “bản sắc Trung Quốc”, “tinh thần Trung Quốc”, “phong cách Trung Quốc” trong văn học và mặt khác cũng không kém phần quan trọng đó chính là thể hiện “bản lĩnh nhà văn” Trong số tác giả, tác phẩm tiểu thuyết hiện nay được dư luận chú ý như
Phương Phương với Nước trong thời gian , Từ Quý Tường với Bốn mặt tám
phương , Thiết Ngưng với Cửa hoa hồng, Đại dục nữ, Bát hoa , Trương
Khiết với Linh hồn dùng để lưu lãng, Vô tự, Đôi cánh trĩu nặng , Thành Nhất với Xanh đỏ trà đạo , Lưu Chấn Vân với Một câu bằng vạn câu , Tô Đồng với Bờ sông, Thê thiếp từng bầy , Sử Thiết Sinh với Cuộc lữ hành Đinh Nhất
của tôi , Nghiêm Ca Linh với Dì Đa Hạc, Lời thì thầm của một nữ binh ,
Tưởng Tử Long với Đế quốc nông dân , Lâm Bội Phần với Thiên vấn , Diệp Văn Linh với Thu Cẩm , Chu Sùng San với Đèn trong gió, thì Mạc Ngôn với Gia tộc Cao lương đỏ, Bốn mốt phát đại bác, Báu vật của đời, Đàn hương
hình, Rừng xanh lá đỏ, Tửu quốc, Ếch gây xôn xao dư luận
Như vậy có thể nói rằng, mặc dù chiếm số lượng khá khiêm tốn, nhưng tiểu loại tiểu thuyết chiếm vị trí vô cùng quan trọng trong lâu đài văn học của Mạc Ngôn cũng như trong nền tiểu thuyết đương đại Trung Quốc Tiểu thuyết của Mạc Ngôn mang đậm hơi thở nóng hổi của hiện thực Trung Quốc Đồng thời, nó còn mang trong mình phong cách của cả thời đại, của cá nhân
1.3 Người đàn bà, một nhân vật quan trọng trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn
1.3.1 Những cảm hứng cơ bản trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn
1.3.1.1 Cảm hứng trào lộng
Trong thế giới hiện đại, mọi quy phạm, mọi chuẩn mực đều có dấu hiệu tan rã ý thức cá nhân trỗi dậy với yêu cầu được bình đẳng trước lịch sử, trước
Trang 34thế giới đã khiến con người có nhu cầu tự mình nhận thức lại con đường đã đi qua trong một ý thức đối thoại nghiêm túc Vậy nên, nếu ở thời đại của Xervantès, Rablaise, cái cười đã trở thành một ý thức thẩm mĩ quan trọng của thời đại, thì trong những năm cuối thế kỉ trước đến nay, cái cười cũng trở nên phổ biến và trở thành một đối tượng và phương tiện thẩm mĩ đối với không ít nhà văn Trung Quốc là một đất nước đầy những thiết chế áp bức con người, không chỉ ở thời thống trị của Nho giáo, mà ngay cả thời kì tư tưởng này không trở thành thống soái Trong một thời gian quá lâu, người Trung Quốc đã phải gồng mình lên để hô những câu khẩu hiệu mà họ thậm chí không hiểu gì về nó Đây là một nguyên cớ quan trọng cho sự xuất hiện cảm hứng trào lộng, giễu nhại trong sáng tác của nhiều nhà văn đương đại Trong số đó, nếu không nhầm, Mạc Ngôn là một trong những người có nhiều thành công khi dám và biết cách nhìn vào dân tộc, nhìn vào lịch sử và số phận con người với cái nhìn trào lộng chua chát
Các tiểu thuyết của Mạc Ngôn, dù viết về chủ đề lịch sử hay viết về số phận con người, đều luôn thẫm đẫm cảm hứng lịch sử vì như đã nói, số phận con người ấy luôn được miêu tả trong mối quan hệ chặt chẽ với những thăng trầm của lịch sử Chính vì thế, cảm hứng trào lộng trong tiểu thuyết của ông, trước hết thể hiện ở cái nhìn hài hước, nhìn rõ những hớ hênh, những cái đáng cười của lịch sử Lịch sử Trung Quốc lắm quanh co, đó là sự thật khó chối cãi,
và người viết có trách nhiệm trước lịch sử là không thể bỏ qua tính chất này Mạc Ngôn cũng thế, phản ánh một cách trung thành các khúc quanh ấy, nhưng những quanh co, khúc khuỷu này bước vào sáng tác của ông bao giờ cũng có cái
gì đó khiến người ta phải dấu một nụ cười Sự chồng chéo của các sự kiện theo
cơ chế tiểu thuyết của nhà văn, cho thấy lịch sử ở đây như là một trò chơi, nó nhiều khi bí hiểm, tắc tị, khi rồng rắn như đèn cù, khi loanh quanh, hối hả để cuối cùng trở lại với xuất phát điểm
Cái nhìn trào lộng này thể hiện đặc biệt đậm đặc khi nhà văn miêu tả những nhân vật, những sự kiện đánh dấu hoặc có tác động quan trọng đến sự
Trang 35vận động của lịch sử Không phải ngẫu nhiên mà câu chuyện lấy trận phân để chống lại vũ khí tối tân của đế quốc lại cứ trở đi trở lại trong tiểu thuyết của ông
(ít nhất là được sử dụng đến hai lần trong Đàn hương hình và Báu vật của đời)
Việc lấy phân làm vũ khí để chống lại kẻ thù có trang bị hiện đại vừa thể hiện
sự ấu trĩ trong tư duy của con người lúc bấy giờ, nhưng đồng thời cũng thấy
được cái hài hước trẻ con của cuộc chiến Trong Báu vật của đời có kể về lịch
sử của vùng Cao Mật với cuộc chiến trên bãi cát dài giữa cụ tổ Thượng Quan Đẩu và Tư Mã Răng-To với người Đức Một cuộc chiến có thể nói là rất oanh liệt nhưng đồng thời cũng cười ra nước mắt với cái cười “nôn ruột”: “Khi quân Đức qua cầu để vào thôn, Răng-To bắn về phía chúng một phát hoả mai, Thượng Quan Đẩu bắn một phát súng săn rồi dẫn toàn đội rút về phía bãi cát dài Rút đến bãi cát dài, toàn đội dàn hàng ngang mà chửi, chửi có vần có vè bọn lính Đức nhất loạt quỳ một chân xuống, tiếp đó là hàng loạt tiếng nổ, vài đội viên của đội Hổ Lang đang chửi bỗng ngã gục, trên người chảy máu Thấy tình thế bất lợi, Răng-To vội ra lệnh khênh những xác chết về phía sau bãi cát dài, khi Lính Đức rượt theo thì những chum lọ đựng cứt đái treo lẫn trong những cụm hoa hoè ào ào trút xuống trên đầu trên người bọn Đức như mưa, vài chum buộc không chặt rơi trúng đầu một tên Đức chết tại chỗ Bọn Đức kêu rầm trời, xách súng bỏ chạy tán loạn” [56; 133-134] Trận chiến có một không hai trong lịch sử ấy đáng lẽ ra thắng lợi một cách vẻ vang nếu như đội Hổ Lang thừa thắng xông lên thì tám mươi tên lính Đức chắc chắn không một tên sống sót Thế nhưng, như một trò chơi trận giả, ngay lúc đó “các ông tướng lại cứ đứng đực ra mà vỗ tay hoan hô, mà cười hể hả, để mặc bọn Đức rút về phía mé sông” [56; 134].,và kết thúc trận chiến là cái chết bi thương của Tư Mã Răng-To
và án hành hình Thượng Quan Đẩu, và còn là vùng Cao Mật bị đốt trụi!
Anh chàng Tôn Bính (Đàn hương hình) thì vừa làm những việc tày trời
vừa hát Miêu Xoang, kể cả khi đánh giặc Hành động ấy không chỉ cho thấy cái gắn bó sống chết của con người Cao Mật, rộng ra là người Trung Quốc với văn
Trang 36hóa của họ, mà còn cho ta thấy hành động có tính chất trò chơi của người anh hùng ít nhiều có dáng dấp, máu me Lương Sơn Bạc, và không phải chỉ của Tôn Bính, của những người chiến sĩ Miêu Xoang, mà cả lịch sử Trung Quốc vậy Những đội trưởng du kích, những chiến sĩ cách mạng trong sáng tác của ông cũng vậy, ngô nghê, đánh nhau mà không hiểu đánh nhau vì cái gì, vì ai Họ, thậm chí còn dị hợm, còn tật nguyền Những yếu nhân của một đội quân lại là những anh câm, hoặc nếu không câm thì mở mồm là chửi tục, làm bậy Và những cái hài hước, trào lộng ấy thậm chí còn xuất hiện ở những nhân vật cộm cán, những nhân vật có thể coi là “thiêng”
Cảm hứng trào lộng trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn còn thể hiện một cách sâu sắc trong cái nhìn về con người Trong mỗi thân phận con người rất phổ biến ta đều thấy những ngụ ý trào lộng Điều này chi phối một cách mạnh
mẽ đến ý thức miêu tả nhân vật Đó là những Tư Mã Khố, Tôn Câm trong Báu
vật của đời, Đại Đồng hay Đại Hổ và đồng bọn trong Rừng xanh lá đỏ, nhân vật
lùn, bí thư hoặc giám đốc trong Tửu quốc (hai nhân vật không phân biệt được -
có lẽ trong khi miêu tả họ, Mạc Ngôn đã chịu ảnh hưởng của Franz Kafka khi
miêu tả hai phụ tá của người đạc điền trong Lâu đài)… Và đặc biệt, cảm hứng
này chi phối một cách triệt để ngòi bút nhà văn khi xây dựng nhân vật Kim
Đồng trong Báu vật của đời và Tôn Bính, Giáp Con trong Đàn hương hình
Kim Đồng trong Báu vật của đời là một nhân vật đặc biệt, anh ta là một
đứa con lai giữa hai nền văn hoá Đông và Tây.Với xuất thân như vậy chắc chắn anh sẽ là một người đàn ông xuất chúng, làm nên những chuyện lạ, phi thường cho đời Quả đúng, anh ta đã làm nên được những chuyện “lạ đời”!? Từ nhỏ cho đến lúc bốn mươi anh ta ăn sữa, nguồn sống duy nhất của Kim Đồng là sữa mẹ Kim Đồng không ăn một thức ăn gì khác ngoài sữa mẹ cho tới năm lên bảy Đã nhiều lần mẹ và các chị tập cho Kim Đồng ăn nhưng hễ đưa thứ gì vào miệng là lập tức nôn oẹ, nhả ra ngay Và mỗi lần như thế thì nó rất cương quyết phản kháng: giả chết, thà chết còn hơn phải đưa những thứ “ô uế” kia vào miệng mà nuốt
Trang 37Cảm hứng trào lộng còn thể hiện trong tổ chức sự kiện, chọn lựa chi tiết
Trong Đàn hương hình Mạc Ngôn đã lựa chọn một số chi tiết rất đặc biệt, trong
số đó có chi tiết kể về sự thần kì của chiếc râu hổ Xuất phát từ mong ước có được cái râu hổ để nhận ra chân tướng mọi người của Giáp Con mà tác giả kể về truyền thuyết chiếc râu hổ Râu hổ là truyền thuyết từ xa xưa mà Giáp Con được nghe mẹ kể, cái râu hổ ấy có quyền lực vô biên Mẹ kể, có một người lúc ở Quan Đông, đập chết một con hổ, lấy được cái sợi râu quý về đến nhà anh ta khoe với mẹ có được một báu vật, nhưng khi đem báu vật ra thì anh ta không thấy mẹ mình đâu cả mà chỉ thấy một con chó già mắt kèm nhèm, bố đẻ của anh
ta là một con ngựa Khi nhận thấy những trò này là do chiếc râu hổ gây ra, nên anh ta đã giấu sợi râu hổ vào nơi kín đáo, và lúc đó anh ta thấy bố không phải là ngựa, mẹ không phải là chó nữa Dưới ngòi bút của Mạc Ngôn thì cái râu hổ ấy không phải lấy ở trên rừng mà là lấy ở giường nhà Tiền đại nhân (nơi giao hoan của Tiền đại nhân và Mi Nương), nó không phải là “sợi râu dài” mà là “một sợi loăn xoăn mầu vàng kim, sợi ấy mới thiêng, những sợi khác không thiêng” [53; 106]., rồi nữa “Cầm sợi lông trong tay, tớ cảm thấy cổ tay tê tê, báu vật có khác, nặng ra phết!” [53; 108] Bản tướng của vợ là bạch xà, người dân trong thôn hay
ra mua thịt chó là ngỗng, là lợn, là khỉ đột, ông lớn Tiền là bạch hổ, bố đẻ của hắn là con báo đen , lính tráng sai nha là nhím, là chó, ngựa Chiếc “lông hổ”
ấy quả thực có sức mạnh ghê gớm! Từ quan phụ mẫu (đại diện cho tầng lớp cao quý) cho đến thứ dân đều phải lộ rõ bản chất của mình qua cái lông “loăn xoăn”
ấy Thật thâm thuý và hài hước
Trang 38hứng bi kịch ấy, bi kịch trở thành một trong những cảm hứng lớn trong tiểu thuyết Mạc Ngôn là điều dễ hiểu
Cảm hứng bi kịch thể hiện một cách khá bao trùm trong phần lớn các tiểu thuyết Mạc Ngôn, thể hiện ở chỗ diễn biến cốt truyện luôn luôn được đặt trong tình trạng thử thách với đầy rẫy các biến cố khắc nghiệt, nghẹt thở Các tình huống, các sự kiện luôn luôn mang tính bi thảm, đau xót và vì thế, chủ âm là điệu buồn, dù tiết tấu nhanh chậm nhiều lúc khác nhau Trong bố cục ấy, kết thúc tác phẩm của Mạc Ngôn bao giờ cũng là những kết thúc tan rã, dang dở,
thậm chí là cả bể máu Đàn hương hình chẳng hạn, là câu chuyện kể với những
sự kiện chỉ diễn ra trong một không gian hẹp ngay chính ở cái làng quê Đông Bắc Cao Mật quê hương tác giả Quan hệ chính của truyện chủ yếu xoay quan mấy nhân vật cha con Triệu Giáp, Tôn Mi Nương, quan huyện Tiền Đinh và Tôn Bính Mỗi nhân vật này là một khối bi kịch: Triệu Giáp hành nghề đao phủ, cũng được nhiều vinh quang, và có lẽ đã đến tột đỉnh so với “làng” giết người này, lại bất lực, nhưng bỗng vớ được cô con dâu xinh đẹp; Tiểu Giáp được cô
vợ xinh đẹp, nhưng hắn ta là một kẻ ngớ ngẩn không ra người; quan huyện Tiền Đinh là một vị tiến sĩ, có nhân cách, có lòng yêu dân nhưng rơi vào chốn quan trường đầy cạm bẫy và tha hóa, nên cũng trở thành kẻ cô đơn Và dưới áp lực của triều đình rồi cũng phải ra tay đàn áp những người dân mà ông là cha mẹ của họ, đàn áp người anh hùng Tôn Bính mà ông chắc chắn có phần nể trọng; Tôn Mi Nương vừa là cô gái lẳng lơ, vừa là liệt nữ, cùng quan huyện Tiền trải
qua bi kịch của mối tình vụng trộm Trong Đàn hương hình, cảm hứng bi kịch
tuy vậy, không chỉ xuất hiện với những nhân vật ấy, mà xuất hiện hầu khắp tác phẩm, với cái chết của sáu vị đại thần, của chàng thanh niên sĩ quan cận vệ ám sát Viên Thế Khải không thành Ở cấp độ sự kiện chính, đấy là cuộc đàn áp khởi nghĩa do Tôn Bính cầm đầu trong bể máu, là cái chết của tất cả những người yêu Tôn Bính bị Viên Thế Khải dụ đến ngày xử đàn hương hình với người anh hùng nông dân này, và giờ phút khắc khoải trên cây gỗ đàn hương mà Triệu
Trang 39Giáp đã dày công chế tác Ngay cả tình tiết người ăn mày Út Sơn hi sinh thân mình để cứu Tôn Bính mà Tôn Bính không nghe theo, thật đẹp biết bao nhưng
cũng bi thương biết bao Kết thúc Đàn hương hình là một bể máu, các nhân vật
đều không ai đạt được mục đích, đạt được nguyện vọng, dù là Tôn Bính, là Viên Thế Khải hay Triệu Giáp
Báu vật của đời lấy thời gian từ 1939 đến 1991, khái quát một giai đoạn
lịch sử đầy bi tráng của Trung Quốc, từ kháng chiến, nội chiến đến đại cách mạng văn hóa, rồi cải cách mở cửa Tất cả các nhân vật đều có số phận bi kịch, trong đó tiêu biểu là người mẹ và chín chị em trong gia đình nhà Thượng Quan
Không lấy gì làm lạ khi cả một gia đình mười con người ai nấy đều đau khổ trong những biến cố vĩ đại và sâu sắc của lịch sử, nhưng rõ ràng dưới ngòi bút của Mạc Ngôn, ta thấy dường như ông cố gắng khắc họa nỗi đau của con người trong những sự biến của xã hội, và người ta thấy sự gắn bó sâu sắc giữa bi kịch cá nhân và bi kịch cộng đồng, khiến những tấn kịch buồn vì thế càng có
sức lây lan Có thể thấy rằng bi kịch là cảm hứng chủ đạo trong Báu vật của đời
Hầu như những nhân vật chính trong thiên tiểu thuyết ấy đều có số phận bi thương, hoặc là biến mất không tăm tích, hoặc chết một cách rất thương tâm Mỗi con người mỗi tâm trạng, mỗi cái chết khác nhau Tiên Chim Lãnh Đệ rơi
từ trên núi xuống, Ngọc Nữ chết chìm xuống sông, Lai Đệ phạm án tử hình, Phán Đệ tự vẫn, Chiêu Đệ, Niệm Đệ chết thương tâm trong tay chồng, Tưởng
Đệ chết một cách rùng rợn với thân thể thối rữa đầy giòi bọ, Cầu Đệ chết nhục nhã vì cái đói và Kim Đồng chết dần chết mòn vì “không thể lớn” Nhưng có lẽ
ấn tượng nhất là tấn bi kịch của người phụ nữ - người mẹ Thượng Quan Lỗ Thị Niềm hạnh phúc của người phụ nữ là được thương yêu, được sinh con và nuôi nấng chúng trưởng thành Trong xã hội phong kiến rất trọng lễ giáo ấy vậy mà Thượng Quan Lỗ Thị phải sinh chín đứa con với bảy người cha khác nhau Cứ mỗi một đứa trẻ ra đời là cả một tấn bi kịch đè lên người phụ nữ nhỏ bé này Bao nhiêu lần vượt cạn là bấy nhiêu lần đau đớn, nhục nhã, tủi hờn
Trang 40Không phải ngẫu nhiên mà Mạc Ngôn nói nhiều về cái chết thương tâm, đưa các hình phạt tàn khốc vào trong tác phẩm của mình để cho người đọc,
người phê bình đánh giá là “lạnh lùng vô cảm”, thậm chí còn bị xem là “thích
thú trước cái ác”, trước bạo lực Thực ra ông viết nhiều về cái ác, về bạo lực
cũng bắt nguồn từ cảm hứng bi kịch về Tính Người và cũng với mong muốn phơi bày những gì phức tạp nhất của thế giới con Người để từ đó mà mong
muốn con người đối xử với nhau Người hơn, văn hoá hơn Báu vật của đời là cả một trang chết chóc, cái chết thương tâm của mục sư Malôa tại nhà nguyện khi
không bảo vệ được người đàn bà đã sinh cho ông hai đứa con trước đội quân du kích Hoả - mai, chứng kiến cảnh người đàn bà của ông bị bọn du kích luân phiên làm nhục nơi thánh địa khiến ông vô cùng đau đớn, bất lực trước cái ác hoành hành nên ông đã nhảy gác chuông tự vẫn “Mục sư Malôa nhào ra khỏi gác chuông, như một con chim khổng lồ gãy cánh, rơi cắm đầu xuống đường phố, óc tung toé khắp mặt đất như bãi cứt chim mới ỉa” [56; 106]., rồi đến cái chết thương tâm nhiều con người trong những cuộc thanh trừng, đổi ngôi của các đảng phái như cái chết của hai đứa trẻ Tư Mã Phượng và Tư Mã Hoàng chỉ
vì là con của Tư Mã Khố - người anh hùng kháng Nhật lúc trước nay thất thế
trong cục diện chính trị Trong Rừng xanh lá đỏ là cái chết của cha Lâm Lam,
cái chết của Cường người chồng danh chính ngôn thuận của Lâm Lam Trong ngày hoả táng đứa con trai thì người cha (bí thư Tần) lại đòi quan hệ xác thịt với
con dâu (Lâm Lam) của mình Trong Cây tỏi nổi giận là cái chết kinh hoàng của người bị xe tông phải Trong Tửu quốc là tình trạng ăn thịt trẻ con, coi đó
là một trong những vị thuốc quý Đỉnh cao nhất là Đàn hương hình, Mạc Ngôn
đã để cho Triệu Giáp dẫn dắt người đọc trải qua các án phạt tàn khốc như câu chuyện về cuộc hành hình bằng Đai Diêm Vương đối với tên Mọt - kẻ ăn trộm khẩu thần công của nhà vua, câu chuyện về bọn coi kho ăn trộm bạc đã phải chịu án chém ngang lưng, chuyện về cái chết của “Lục công tử”, chuyện về án phạt lăng trì dành cho Tiền Hùng Phi