Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong gần bốn thập kỷ cải cách mở cửa, Trung Quốc đã đạt nhiều thành tựu đáng kể và thu hút sự quan tâm lớn từ giới nghiên cứu Cải cách giáo dục của Trung Quốc là một chủ đề hấp dẫn, thu hút đông đảo học giả, nhà nghiên cứu, chuyên gia và học viên trong và ngoài nước tìm hiểu và phân tích Các công trình nghiên cứu tiêu biểu về lĩnh vực này đã đóng góp quan trọng vào việc hiểu rõ hơn về quá trình đổi mới giáo dục của đất nước.
+ Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chặng đường lịch sử nửa thế kỷ
Trong cuốn sách "1949-1999," Nguyễn Huy Quý đã khái quát quá trình phát triển của Trung Quốc trong nửa thế kỷ qua dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc, nhấn mạnh các bước thăng trầm trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước Tác giả đã trình bày rõ những khó khăn, thử thách và thành tựu lớn trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội tại Trung Quốc, đồng thời điểm qua các tiến bộ cũng như những tồn tại của nền giáo dục Trung Quốc qua các giai đoạn từ 1949 đến 1999.
Giáo dục thế giới bước vào thế kỷ 21 đã chứng kiến những thay đổi sâu sắc, ảnh hưởng bởi sự phát triển của công nghệ và toàn cầu hóa Các chuyên gia hàng đầu như GS.VS Phạm Minh Hạc, PGS.TS Trần Kiều, PGS.TS Đặng Bá Lãm và PGS.TS Nghiêm Đình đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy và học để thích nghi với những yêu cầu mới của thời đại Sách "Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ 21" (tham khảo) cung cấp những quan điểm chiến lược giúp giáo viên và học sinh phát huy tối đa tiềm năng trong môi trường giáo dục hiện đại Đồng thời, nội dung sách còn phân tích các xu hướng giáo dục toàn cầu, nhấn mạnh vai trò của công nghệ và kỹ năng mềm trong hành trình phát triển kiến thức và năng lực.
Vì chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia năm 2002 Cuốn sách trình bày những
Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhd 77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77t@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn.Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn
Trong bài viết này, đề cập đến bốn vấn đề chính trong xu thế phát triển giáo dục ở các quốc gia như Pháp, Đức, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Indonesia và Trung Quốc Các tác giả phân tích đặc điểm của cải cách giáo dục, kinh nghiệm quản lý và nguồn tài chính dành cho giáo dục của từng quốc gia Họ nhấn mạnh rằng, hệ thống giáo dục hiện đại trong những năm đầu thế kỷ 21 đã đáp ứng các yêu cầu đổi mới theo xu thế toàn cầu Ngoài ra, bài viết cũng tổng hợp những nhận xét chung về sự phát triển và thách thức của các hệ thống giáo dục này trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Cuốn sách của GS.TSKH Vũ Ngọc Hải và PGS.TS Trần Khánh Đức do NXB Giáo dục phát hành năm 2003 cung cấp các thông tin chính về hệ thống giáo dục của các quốc gia trên thế giới và trong khu vực, giúp độc giả hiểu rõ về các nét đặc trưng cũng như xu hướng phát triển giáo dục toàn cầu Cuốn sách trình bày các xu thế giáo dục quốc tế, đặc biệt chú trọng vào những nét đặc trưng của các cuộc cải cách giáo dục, kinh nghiệm quản lý giáo dục của các nước như Pháp, Đức, Hoa Kỳ và Hàn Quốc Ngoài ra, tác phẩm còn giới thiệu tổng quan về hệ thống giáo dục Trung Quốc, bao gồm phương châm chiến lược và các trọng điểm chính của nền giáo dục nước này, cung cấp cái nhìn toàn diện về chiến lược phát triển giáo dục của Trung Quốc.
+ Cải cách giáo dục ở Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thời kỳ 1978-
Cuốn sách của Tiến sĩ Nguyễn Văn Căn (2003, Nxb KHXH, Hà Nội) tập trung phân tích quá trình phát triển và cải cách giáo dục tại Trung Quốc từ năm 1978 đến 2003, làm rõ những thành tựu đáng kể cũng như các hạn chế chính trong sự nghiệp giáo dục nước này Dựa trên các phân tích đó, tác phẩm còn đề xuất những bài học quý giá để tham khảo cho những ai quan tâm đến sự phát triển của giáo dục Trung Quốc và Việt Nam.
- Về Luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ liên quan đến đề tài có:
+ Luận văn Thạc sĩ Tư tưởng giáo dục ở Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (1949 đến nay), của Bùi Đức Thiệp, Viện Khoa học giáo dục, năm 1998
Luận văn trình bày tổng quan về quá trình phát triển giáo dục tại Trung Quốc, nhấn mạnh mối quan hệ biện chứng giữa sự phát triển kinh tế và hệ thống giáo dục Quá trình này phản ánh rõ ràng sự tác động lẫn nhau giữa tăng trưởng kinh tế và cải thiện chất lượng giáo dục, góp phần thúc đẩy sự tiến bộ toàn diện của đất nước Phát triển giáo dục ở Trung Quốc không chỉ là phần mở rộng quy mô mà còn là nâng cao chất lượng, đáp ứng nhu cầu chuyển đổi số và hội nhập quốc tế Chính sách giáo dục và chiến lược phát triển kinh tế được phối hợp chặt chẽ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Từ đó, có thể thấy rằng sự phát triển của giáo dục đóng vai trò then chốt trong quá trình xây dựng đất nước giàu mạnh và bền vững của Trung Quốc.
Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhd 77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77t@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn.Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn
Từ năm 1949 đến 1996, hệ thống giáo dục của Trung Quốc đã trải qua nhiều thay đổi quan trọng, đặc biệt từ sau năm 1978, khi đất nước bắt đầu thực hiện chính sách cải cách và mở cửa Các tư tưởng giáo dục của Trung Quốc trong giai đoạn này đã được hệ thống hóa và phân tích để hiểu rõ hơn vai trò của giáo dục trong quá trình phát triển đất nước Luận văn Thạc sĩ "Vai trò của giáo dục trong cải cách và mở cửa ở Trung Quốc (từ năm 1978 đến nay)" của Phạm Thị Hồng Nhung tại khoa Đông đã góp phần làm rõ những ảnh hưởng của quá trình này đối với hệ thống giáo dục và xã hội Trung Quốc.
Năm 2004, Phương trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã công bố một công trình nghiên cứu tổng quan về quá trình phát triển của giáo dục, bao gồm lịch sử giáo dục và hệ thống giáo dục Trung Quốc Nội dung chính của luận văn tập trung phân tích vai trò của giáo dục trong quá trình cải cách mở cửa và thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
- Về các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành đề cập đến giáo dục của Trung Quốc có:
Cải cách giáo dục đại học là nhu cầu cấp thiết nhằm thúc đẩy công nghiệp hóa đất nước Bài viết của Phạm Quốc Thái trên Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc năm 1998 nhấn mạnh tầm quan trọng của các cải cách về quản lý trong hệ thống giáo dục đại học Ngoài ra, tác giả cũng đưa ra các nhận xét về quá trình đổi mới đào tạo và nghiên cứu khoa học ở trình độ đại học tại Trung Quốc, nhấn mạnh khả năng nâng cao chất lượng giáo dục để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, công nghiệp hóa đất nước.
+ Trong: “Giáo dục trung học cơ sở và trung học phổ thông ở Trung
Quốc: Thực trạng và triển vọng-Một vài điểm so sánh với Việt Nam” của Đỗ
Tiến Sâm trên Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc số 2, năm 2002 đã trình bày tổng quát về tình hình giáo dục phổ thông Trung Quốc, nhấn mạnh các thành tựu đạt được cũng như những tồn tại cần khắc phục Bài viết xác định rõ mục tiêu phát triển của giáo dục phổ thông Trung Quốc trong thời gian tới nhằm nâng cao chất lượng và đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện đại Đồng thời, tác giả cũng đưa ra những mối liên hệ và bài học phù hợp cho giáo dục Việt Nam, góp phần thúc đẩy sự cải tiến và nâng cao hiệu quả giáo dục trong nước.
Trong bài viết của tác giả Nguyễn Văn Căn mang tựa đề “Quá trình chuẩn hóa giáo viên bậc phổ thông để thực hiện chiến lược khoa giáo hưng quốc ở Trung Quốc”, tác giả nhấn mạnh vai trò của việc nâng cao chất lượng giáo viên trong việc thúc đẩy chiến lược phát triển kinh tế và khoa học của đất nước Bài viết phân tích quá trình chuẩn hóa giáo viên phổ thông tại Trung Quốc nhằm đảm bảo đội ngũ giảng viên có phẩm chất và trình độ phù hợp để đáp ứng yêu cầu của chiến lược khoa học và giáo dục quốc gia Đồng thời, tác giả chỉ rõ tầm quan trọng của chính sách giáo dục trong việc xây dựng nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững và thúc đẩy sự tiến bộ của nền kinh tế Trung Quốc Những nội dung này đã được đăng tải trên Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc số 3 năm, góp phần làm rõ các bước đi chiến lược trong cải cách giáo dục của Trung Quốc.
Trong bài viết năm 2005, tác giả nêu rõ các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên của Trung Quốc nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Bài viết phân tích chi tiết các chính sách và chiến lược giúp tăng cường năng lực chuyên môn của giáo viên, từ đào tạo liên tục đến cải thiện điều kiện làm việc Kết quả của các biện pháp này thể hiện rõ qua sự nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên, góp phần vào thành tựu phát triển giáo dục của Trung Quốc Nhờ đó, hệ thống giáo dục Trung Quốc đã có bước tiến rõ rệt trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy sự nghiệp giáo dục phát triển bền vững.
Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhd 77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77t@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn.Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn
+ Hay bài viết: “Tìm hiểu cải cách giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số của
Từ năm 1978 đến đầu thế kỷ XXI, Trung Quốc đã triển khai nhiều cải cách giáo dục nhằm nâng cao chất lượng và mở rộng cơ hội học tập cho các vùng dân tộc thiểu số Những thành tựu đạt được bao gồm sự tăng cường cơ sở hạ tầng giáo dục, cải thiện chất lượng giảng dạy và thúc đẩy sự hòa nhập của các cộng đồng thiểu số vào hệ thống giáo dục quốc gia Bài viết của Nguyễn Văn Căn trên Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc đã phân tích rõ các chính sách và hoạt động đạt hiệu quả, đồng thời rút ra những bài học quý giá cho việc phát triển giáo dục vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam.
+ Và bài “Nền giáo dục Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa-55 năm xây dựng và phát triển” của tác giả Vũ Minh Tuấn, Tạp chí Nghiên cứu Trung
Bài viết tổng kết quá trình phát triển của nền giáo dục Trung Hoa từ khi thành lập chế độ mới, nhấn mạnh các thành tựu lớn đã đạt được Phần quan trọng của bài viết tập trung vào các cải cách giáo dục của Trung Quốc kể từ năm 1978 đến nay, đặc biệt là những chính sách thay đổi nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong hệ thống giáo dục Các cải cách này đã đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền giáo dục Trung Quốc và nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1.Đối tượng nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là quá trình cải cách giáo dục của Trung Quốc giai đoạn từ năm 1992 đến năm 2014
Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhd 77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77t@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn.Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn
- Về nội dung: Tiến hành nghiên cứu quá trình cải cách giáo dục của
Trung Quốc đã trải qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau, tập trung vào các chính sách và nội dung cải cách giáo dục để phù hợp với từng thời kỳ phát triển Những chính sách này nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đáp ứng nhu cầu của xã hội, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế và văn hoá của đất nước Qua đó, có thể rút ra bài học kinh nghiệm về tầm quan trọng của việc điều chỉnh nền giáo dục phù hợp với bối cảnh lịch sử và nhu cầu thực tiễn Áp dụng những bài học này, Việt Nam có thể xây dựng chiến lược cải cách giáo dục hiệu quả hơn, phù hợp với đặc thù và mục tiêu phát triển của đất nước.
Từ năm 1992 đến 2014, Trung Quốc đã trải qua nhiều cải cách giáo dục quan trọng phù hợp với quá trình xây dựng “Thể chế kinh tế thị trường XHCN” bắt đầu từ năm 1992, đánh dấu bước ngoặt lớn trong hệ thống giáo dục của đất nước Năm 1992 là điểm khởi đầu của quá trình đổi mới lớn, yêu cầu các hoạt động giáo dục thích ứng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường Trong bối cảnh này, cải cách giáo dục Trung Quốc đã có những thay đổi căn bản nhằm nâng cao chất lượng, mở rộng phạm vi và phù hợp với nền kinh tế đang chuyển mình Đồng thời, để hiểu rõ hơn về quá trình này, bài viết cũng đề cập đến tình hình cải cách giáo dục của Trung Quốc trước năm 1992, phản ánh bối cảnh lịch sử và chuẩn bị cho những bước tiến lớn trong giai đoạn từ 1992 đến 2014.
Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tài liệu: Để thực hiện đề tài luận văn, chúng tôi dựa vào các nguồn tài liệu chủ yếu sau:
Các văn bản của Đảng Cộng sản và Chính phủ Trung Quốc về chính sách cải cách giáo dục, như công văn, chỉ thị, văn kiện và thông báo, đóng vai trò là nguồn tài liệu gốc quan trọng để nghiên cứu đề tài luận văn Những tài liệu này cung cấp thông tin chính xác và cập nhật về các nội dung liên quan đến quá trình đổi mới giáo dục tại Trung Quốc Việc phân tích các văn bản này giúp hiểu rõ các chủ trương, chính sách và hướng đi của chính phủ trong lĩnh vực giáo dục Đây là nguồn dữ liệu then chốt hỗ trợ các nhà nghiên cứu xây dựng luận cứ vững chắc và nâng cao hiệu quả nghiên cứu.
Các công trình nghiên cứu, bài báo và bài viết của các học giả Trung Quốc về vấn đề giáo dục của Trung Quốc đã được đăng tải trên các tạp chí từ năm 1992 đến nay, góp phần nâng cao hiểu biết về sự phát triển giáo dục trong nước Những tài liệu này phản ánh các xu hướng đổi mới, chính sách giáo dục và các thách thức mà hệ thống giáo dục Trung Quốc đang đối mặt Nghiên cứu của các học giả Trung Quốc thể hiện sự quan tâm sâu sắc đến các vấn đề như nâng cao chất lượng giảng dạy, đổi mới phương pháp giáo dục và mở rộng tiếp cận giáo dục cho mọi tầng lớp xã hội Các bài viết này cung cấp cái nhìn toàn diện về quá trình phát triển giáo dục của Trung Quốc qua các thời kỳ, góp phần định hướng các chính sách giáo dục trong tương lai.
Các sách chuyên khảo và tạp chí chuyên ngành như Nghiên cứu Trung Quốc, Nghiên cứu Đông Bắc Á và Nghiên cứu Đông Nam Á thường đăng tải các bài viết và công trình nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến cải cách giáo dục của Trung Quốc, giúp làm rõ xu hướng và ảnh hưởng của các chính sách giáo dục trong khu vực.
- Các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ của các học giả Việt Nam đề cập đến nội dung mà đề tài luận văn tìm hiểu
Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhd 77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77t@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn.Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử và phương pháp logic để phân tích và giải quyết nội dung Ngoài ra, các phương pháp bổ sung như phân tích, xử lý, tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát hóa cũng được áp dụng để trình bày luận văn một cách chính xác và rõ ràng.
Đóng góp của luận văn
- Là công trình nghiên cứu tập trung về cải cách giáo dục của Trung Quốc trong giai đoạn từ năm 1992 đến năm 2014
Chính sách giáo dục của Trung Quốc đã có tác động sâu rộng đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nước này, thúc đẩy tăng trưởng bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Những bài học kinh nghiệm rút ra từ việc thực hiện chính sách giáo dục của Trung Quốc giúp Việt Nam định hình chiến lược cải cách giáo dục phù hợp hơn, góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo và phát triển nguồn nhân lực quốc gia Việc đánh giá tác động của chính sách giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc xác định các yếu tố thành công và hạn chế, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp để thúc đẩy sự phát triển giáo dục và kinh tế của Việt Nam trong tương lai.
Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhd 77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77t@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn.Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn
Tài liệu này là nguồn tham khảo giá trị, hỗ trợ học tập và nghiên cứu dành cho sinh viên, học sinh chuyên ngành lịch sử cũng như những người quan tâm đến nền giáo dục của Trung Quốc.
Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc trình bày trong 3 chương như sau:
Chương 1 Bối cảnh lịch sử tiến hành cải cách giáo dục ở Trung Quốc (1992-2014)
Chương 2 Quá trình cải cách giáo dục của Trung Quốc (1992-2014) Chương 3 Một số nhận xét về cải cách giáo dục ở Trung Quốc thời kỳ 1992-2014
Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhd 77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77t@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn.Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn
BỐI CẢNH LỊCH SỬ TIẾN HÀNH CẢI CÁCH GIÁO DỤC Ở
Bối cảnh thế giới, khu vực và của Trung Quốc
Vào những năm đầu thế kỷ XX, cuộc “chiến tranh lạnh” vẫn diễn ra với nhiều biến động chính trị phức tạp Tuy nhiên, từ tháng 2 năm 1989, Hội nghị bàn tròn giữa chính quyền và phe đối lập ở Ba Lan đã đạt được thỏa thuận đa nguyên công đoàn về chính trị và cải cách kinh tế, góp phần mở đường cho công đoàn Đoàn Kết trở lại hoạt động công khai vào tháng 4 cùng năm và giành thắng lợi lớn trong cuộc bầu cử Quốc hội tháng 6 năm 1989 Đồng thời, ngày 17 tháng 5 năm 1989, Liên Xô bắt đầu rút quân khỏi CHDC Đức, và đến ngày 18 tháng 10 năm đó, Ôtto Hônêcơ từ chức, còn ngày 9 tháng 11, Bức tường Berlin sụp đổ, mở ra chương mới cho sự sụp đổ của hệ thống cộng sản tại châu Âu.
Năm 1990 đánh dấu việc ký kết Hiệp định thống nhất nước Đức và diễn ra hàng loạt sự kiện quan trọng như các cuộc biểu tình của học sinh, sinh viên tại Tiệp Khắc, đảo lộn chính trị ở Bulgaria, cũng như sự lật đổ chính quyền của Xeeauxexcu ở Rumani và các cuộc biểu tình đòi độc lập tại Litva, Mông Cổ, Côxôvô Tuy nhiên, sự kiện mang tính bước ngoặt nhất là ngày 25 tháng 12 năm 1991, khi lá cờ tam tài của thời Nga hoàng được kéo lên và Mikhail Gorbachev thông báo từ chức Tổng thống Cộng hòa liên bang Xô Viết, đánh dấu sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu Biến cố này không chỉ tác động sâu sắc đến các quốc gia trong hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Châu Âu mà còn ảnh hưởng đến các phong trào yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới, trong đó có Trung Quốc, đặc biệt là giới học sinh, sinh viên - thành phần có vai trò quan trọng trong các cuộc cách mạng này.
Sự kiện mùa Xuân Bắc Kinh tháng 4 năm 1989 là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử Trung Quốc Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự kiện này là tình trạng trì trệ về kinh tế, khiến đời sống của người dân ngày càng sa sút nghiêm trọng Điều này dẫn đến việc đại đa số nhân dân mất niềm tin vào chủ nghĩa xã hội, thúc đẩy các cuộc biểu tình và phản đối chính phủ trong mùa Xuân năm đó.
Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhd 77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77t@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn.Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn
Ngày 2 tháng 8 năm 1990, quân đội Irak đã xâm lược Kuwait, gây ra cuộc khủng hoảng vùng Vịnh nghiêm trọng Tháng 1 năm 1991, liên quân do Mỹ dẫn đầu đã tiến hành chiến dịch "Bão táp sa mạc" dưới sự đồng ý của Liên Hợp Quốc, mở ra cuộc chiến 100 giờ giải phóng Kuwait Chiến tranh vùng Vịnh đã chứng minh sức mạnh của vũ khí hiện đại và trình độ khoa học kỹ thuật cao của Mỹ trong quân sự.
Trong bối cảnh khu vực châu Á vẫn chịu tác động của cuộc chiến tranh, các nước đang phát triển như Hàn Quốc, Thái Lan và Malaixia vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế ấn tượng, đều vượt trên 8,1% Trong khi đó, Trung Quốc ghi nhận mức tăng trưởng kinh tế khoảng 7%, thể hiện khả năng phục hồi và phát triển vững chắc của khu vực bất chấp những khó khăn hiện tại.
1.1.2 Tình hình kinh tế, chính trị - xã hội Trung Quốc
Năm 1978, Trung Quốc bắt đầu thực hiện chính sách cải cách và mở cửa, tạo nền tảng cho sự phát triển kinh tế vượt bậc Trong những năm 1980-1981, tốc độ tăng trưởng GDP của Trung Quốc đạt khoảng 8,9% mỗi năm, thể hiện sự phát triển nhanh chóng và bền vững của nền kinh tế quốc gia.
Đến đầu năm 1987, Trung Quốc đã hoàn thành mục tiêu đề ra cho giai đoạn 1980-1990 khi đạt tổng giá trị sản xuất công nghiệp 1.510,4 tỷ NDT, gấp đôi năm1980 Tuy nhiên, giai đoạn này cũng phát sinh nhiều vấn đề như giảm khả năng tuyển dụng lao động của các xí nghiệp hương trấn từ 12,6 triệu xuống còn 2,6 triệu người trong giai đoạn 1989-1992, thấp hơn nhiều so với số lao động dư thừa hàng năm khoảng 10 triệu người Tăng trưởng GDP năm 1990 chỉ đạt 3,9%, thấp hơn nhiều so với các năm trước, nguyên nhân chính là hiệu quả kinh tế thấp của các doanh nghiệp nhà nước và vai trò chủ đạo của chúng trong nền kinh tế quốc dân Hiện tại, Trung Quốc có khoảng 13.000 doanh nghiệp nhà nước lớn và vừa, chiếm 46% tổng giá trị sản phẩm công nghiệp, tuy nhiên, quá trình cải cách doanh nghiệp quốc doanh vẫn còn chậm trễ, nhiều doanh nghiệp chưa xây dựng được cơ chế kinh doanh phù hợp với thị trường.
Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhd 77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77t@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn.Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn
Trong bài viết, việc cải cách kinh tế quốc doanh vẫn đối mặt với nhiều khó khăn, như bị Đặng Tiểu Bình chỉ rõ trong chuyến “tuần du phương nam” năm 1992 khi nhấn mạnh rằng nhiều doanh nghiệp nhà nước đổi mới chậm, sản phẩm cạnh tranh kém và hiệu quả kinh tế thấp Điều này đặt ra yêu cầu tiếp tục thực hiện cải cách thể chế kinh tế, coi đó như một bước tiến quan trọng trong quá trình mở cửa và phát triển Hội nghị Trung ương lần thứ 3 khóa XI coi chủ trương này là “lần giải phóng tư tưởng lần thứ nhất,” còn cần tiến hành “giải phóng tư tưởng lần thứ hai” để thúc đẩy Trung Quốc thoát khỏi quan niệm rằng kinh tế thị trường chỉ dành cho chủ nghĩa tư bản, và rằng kinh tế kế hoạch mới là nền tảng của xã hội chủ nghĩa Tinh thần chủ đạo của cải cách trong giai đoạn mới này đã được thể hiện rõ trong Báo cáo chính trị của Đại hội XIV Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Sau một thời gian cải cách, chính trị và xã hội tại Trung Quốc cho thấy việc xử lý mối quan hệ giữa kinh tế kế hoạch và kinh tế thị trường là một thách thức lớn dễ dẫn đến sai lầm; đặc biệt vào cuối thập niên 80, Trung Quốc đối mặt với mất cân đối kinh tế, lạm phát vượt quá 10%, thất nghiệp tăng cao, và xuất hiện “chợ lao động” khắp các tỉnh thành Trong đời sống hàng ngày, người dân chứng kiến hàng hóa công nghiệp dư thừa trong khi nhu cầu vẫn chưa được đáp ứng, đặc biệt tại vùng nông thôn, nơi sản lượng nông nghiệp tăng nhưng giá thấp, ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng mua sắm của nông dân Những vấn đề này tác động trực tiếp đến cuộc sống của người dân Trung Quốc, trong đó có học sinh, sinh viên, đa số xuất thân từ lao động phổ thông, dẫn đến các hoạt động phản ánh ý chí đòi dân chủ như “Bức tường dân chủ Tây Đơn” tại Bắc Kinh, tranh luận “hữu và tả”, “vấn đề con người”, “chủ nghĩa Mác hết thời” và các cuộc biểu tình đòi đổi mới, dân chủ diễn ra sôi nổi.
Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhd 77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77t@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn.Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn
Vào ngày 15 tháng 4 năm 1989, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc thông báo về việc Hồ Diệu Bang đột ngột qua đời, gây xúc động mạnh trong nhân dân, đặc biệt là học sinh và sinh viên Từ ngày 15 đến 17 tháng 4, các hoạt động viếng thăm và tưởng niệm Hồ Diệu Bang diễn ra quy mô lớn tại nhà riêng và Quảng trường Thiên An Môn, phản ánh lòng tiếc thương của công chúng Tuy nhiên, đến ngày 18, các hoạt động này chuyển thành biểu tình và bãi khóa của giới trí thức, trong đó học sinh, sinh viên đưa ra kiến nghị 6 điểm thể hiện sự hoài nghi về con đường cải cách của Đảng và Nhà nước Đặc biệt, vào ngày 22 tháng 4, sau lễ truy điệu do chính phủ tổ chức, khoảng 200.000 sinh viên và quần chúng đã tuần hành thị uy, hô khẩu hiệu phản đối Đặng Tiểu Bình và các lãnh đạo khác.
Tử Dương và Lý Bằng là những nhân vật trung tâm trong các cuộc biểu tình diễn ra rộng khắp, thu hút sự chú ý của dư luận Cuộc biểu tình ban đầu bắt nguồn tại Bắc Kinh nhưng nhanh chóng lan rộng sang nhiều khu vực lân cận như thành phố Tây, thể hiện sự bất mãn và mong muốn thay đổi của người dân Những cuộc biểu tình này đã trở thành làn sóng phản kháng lớn, góp phần nâng cao nhận thức xã hội về các vấn đề chính trị và quyền tự do.
An, Trường Sa… Đây chính là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới sự kiện Thiên
An Môn mùa Hè 1989, một sự kiện mà theo báo chí thế giới đã cướp đi hàng nghìn mạng sống của giới sinh viên, học sinh
Sự kiện Thiên An Môn phản ánh rõ ràng mâu thuẫn nội bộ trong Đảng Cộng sản Trung Quốc Đặng Tiểu Bình từng nhận xét rằng phong trào đòi tự do dân chủ phát triển mạnh mẽ là do có hai bàn tay kiểm soát trong Bộ Chính trị, tức là có một Bộ tư lệnh đứng sau thúc đẩy phong trào này Theo Dương Thượng Côn, tình hình này thể hiện rõ phần chia rẽ và cạnh tranh nội bộ trong đảng, cho thấy sự bất đồng về hướng đi của chính sách và ý chí kiểm soát quyền lực.
Dương là người độc đoán, lợi dụng công tác Đảng để phục vụ mục đích cá nhân, thiếu tôn trọng lãnh đạo của Đảng cũng như coi thường Bộ Chính trị và Thường vụ Bộ Chính trị Trong Thường vụ, chỉ có đồng chí ấy có ý kiến trái chiều, gây ảnh hưởng tiêu cực đến nội bộ Trong bối cảnh đó, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã họp Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 4 khóa XIII để xử lý các vấn đề liên quan Hội nghị đã ra quyết định thông qua “Báo cáo về sai lầm của đồng chí Triệu Tử Dương trong vụ bạo loạn chống Đảng,” nhằm đảm bảo ổn định chính trị và giữ vững kỷ cương Đảng.
Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhd 77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77t@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn.Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn
14 chống CNXH” và quyết định cách chức Tổng Bí thư; Ủy viên Thường vụ Bộ
Chính trị, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ƣơng, cùng với Phó Chủ tịch thứ nhất Quân ủy Trung ƣơng, thể hiện vai trò quan trọng trong hệ thống lãnh đạo cao nhất của Đảng và Quân đội Hội nghị đã đề cử đồng chí Giang Trạch Dân giữ chức vụ Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, nhằm tiếp tục thực hiện công cuộc cải cách mở cửa và đổi mới đất nước.
Khi toàn nhân loại bước vào thế kỷ XXI, khái niệm kinh tế tri thức bắt đầu trở nên phổ biến toàn cầu, hứa hẹn mang diện mạo hoàn toàn mới trong nền kinh tế thế giới Nhiều chuyên gia dự đoán rằng, nền kinh tế tri thức sẽ thay thế nền kinh tế công nghiệp đã thống trị hơn 200 năm, ảnh hưởng sâu rộng đến chính trị, xã hội và chính sách giáo dục của các quốc gia, trong đó có Trung Quốc Sự chuyển đổi này đặt ra những thách thức và yêu cầu điều chỉnh chiến lược phát triển kinh tế, giáo dục phù hợp với xu hướng mới.
Nền giáo dục Trung Quốc trước năm 1992
1.2.1 Giai đoạn từ năm 1949 đến trước năm 1978
Ngày 21 tháng 9 năm 1949, Hội nghị chính trị hiệp thương nhân dân Trung Quốc lần thứ nhất tổ chức tại Bắc Kinh đã thông qua “Cương lĩnh chung”, quyết định thành lập nước CHND Trung Hoa và sau đó ngày 1 tháng
Năm 1949, nước CHND Trung Hoa chính thức ra đời, mở ra một thời kỳ cách mạng mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trong giai đoạn này, Trung Quốc đã hoàn thành cách mạng dân chủ nhân dân và tập trung củng cố chính quyền, xây dựng cơ sở vật chất cũng như chuẩn bị các điều kiện cần thiết để chuyển đổi từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, phong kiến sang xã hội chủ nghĩa Đồng thời, quá trình khôi phục và phát triển kinh tế cùng quốc phòng đã thúc đẩy nền giáo dục mới của Trung Quốc bắt đầu được xây dựng để tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của đất nước.
Trong giai đoạn từ năm 1949 đến 1952, Chính phủ CHND Trung Hoa tập trung củng cố chính quyền nhân dân và phục hồi nền kinh tế sau chiến tranh Sau các hiệp định quan trọng như Hiệp định Bàn Môn Điếm về Triều Tiên và Hiệp định Geneva về Đông Dương, quốc gia tích cực thúc đẩy hòa bình và hợp tác quốc tế dựa trên năm nguyên tắc chung sống hòa bình.
Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhd 77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77t@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn.Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn
Vào cuối năm 1952, Trung Quốc và Ấn Độ đề nghị Hội nghị Băng Đảng nhất trí thông qua, góp phần ổn định tình hình thế giới và khu vực trong những năm đầu thập niên 1950 Dựa trên các kết quả đạt được, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đề ra Đường lối chung cho thời kỳ quá độ và bắt đầu thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, tập trung cải tạo các lĩnh vực nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp, nhằm thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa và dân chủ hóa đất nước.
Sau giải phóng, Trung Quốc bắt đầu cải tổ hệ thống giáo dục cũ và xây dựng một hệ thống giáo dục mới do nhân dân lao động làm chủ, phát triển theo con đường XHCN Vào ngày 23 tháng 12 năm 1949, Bộ Giáo dục tổ chức Hội nghị công tác giáo dục toàn quốc lần thứ nhất tại Bắc Kinh, nhấn mạnh vai trò của giáo dục trong việc xây dựng đất nước và mở cửa nhà trường cho công nông Các báo cáo và trao đổi tại hội nghị đã xác định rõ phương châm, bước đi cụ thể để cải tạo giáo dục cũ và phát triển nền giáo dục mới, triển khai từ cuối năm 1949 trên toàn quốc Để cải tạo hệ thống giáo dục, ngày 16 tháng 12 năm 1949, Quốc vụ viện thành lập Đại học Nhân dân Trung Quốc tại Bắc Kinh nhằm đào tạo cán bộ phục vụ sự nghiệp giáo dục và xây dựng đất nước Trong năm 1950, Trung Quốc tiến hành thống nhất tuyển sinh và phân phối học sinh tốt nghiệp các trường đại học Ngoài Bắc Kinh, các địa phương đã nhanh chóng thành lập các trường trung học công nông cấp tốc cùng các lớp học ngoài giờ để thu hút thanh niên, trung niên và người lớn tuổi tham gia học tập Nhằm nâng cao trình độ văn hóa cho công nông, ngành giáo dục đã điều chỉnh mạng lưới đào tạo tại các trường đại học, cải cách phương pháp giảng dạy, mở các lớp cấp tốc cho công nhân và nông dân, đồng thời thực hiện chế độ trợ cấp học phí cho nhân dân lao động.
Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhd 77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77t@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn.Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn
Trong giai đoạn đầu, chính sách ưu tiên tập trung vào phát triển bậc tiểu học với thời gian học 5 năm nhằm nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông cơ sở Tuy nhiên, các trường tiểu học vẫn duy trì chế độ quản lý phù hợp để đảm bảo hệ thống giáo dục đồng bộ và hiệu quả Việc ưu tiên này nhằm thúc đẩy sự phát triển toàn diện của học sinh từ cấp tiểu học, góp phần nâng cao trình độ dân trí và đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế.
Trong hệ thống giáo dục Trung Quốc, "tứ nhị" phản ánh việc phân chia thành hai cấp học, bao gồm tiểu học sơ cấp 4 năm và tiểu học cao cấp 2 năm, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo Bậc trung học cũng được chia thành sơ trung và cao trung, mỗi cấp kéo dài 3 năm, phù hợp với kế hoạch phát triển giáo dục của nhà nước Những điều chỉnh này nhằm kết hợp hoạt động dạy học trong trường học với yêu cầu xây dựng nền kinh tế, củng cố quốc phòng, đồng thời đào tạo nhân tài chuyên môn để phục vụ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc.
Vào tháng 5 năm 1953, sau khi xác định phương hướng phát triển kinh tế xã hội theo kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, Bộ Chính trị Trung ƣơng Đảng Cộng sản Trung Quốc tổ chức hội nghị thảo luận về công tác giáo dục Hội nghị quyết định tiếp quản toàn bộ các trường trung học dân lập và tư thục để Nhà nước quản lý, ưu tiên tiếp quản các trường trung học trước, sau đó là các trường tiểu học, phản ánh chính sách ưu tiên giáo dục của Đảng và Nhà nước Trung Quốc Đồng thời, để thúc đẩy mục tiêu giáo dục phục vụ chính trị của giai cấp vô sản, kết hợp giáo dục với lao động sản xuất, Chủ tịch Nhà nước Lưu Thiếu Kỳ đã đề xuất các biện pháp cụ thể từ tháng 9 năm 1958, dựa trên thực tế của đất nước.
Trong hệ thống giáo dục Trung Quốc, có hai loại chế độ giáo dục chính gồm học cả ngày và vừa học vừa làm, nhằm mở rộng phạm vi tiếp cận giáo dục và phù hợp với thực tế sản xuất Đồng thời, có hai loại chế độ lao động là làm việc tại nhà máy, cơ quan 8 tiếng và kết hợp vừa làm vừa học, giúp nâng cao kỹ năng và kiến thức cho người lao động Chủ trương này đã tạo ra hướng đi mới cho việc phổ cập giáo dục, thúc đẩy phát triển dạy nghề và cải thiện chất lượng lao động, đồng thời góp phần chống mù chữ và tái mù chữ, tạo đà cho sự phát triển bền vững của nền giáo dục Trung Quốc.
Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhd 77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77t@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn.Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn
Trong công tác cải tạo và xây dựng giáo dục, bản “Cương lĩnh chung” do Hội nghị Chính trị hiệp thương nhân dân Trung Quốc lần thứ nhất thông qua vào tháng 9 năm 1949 đã trở thành cơ sở pháp lý nền tảng để hướng dẫn những bước đi đầu tiên của giáo dục trong giai đoạn xây dựng đất nước Việc thực hiện các nhiệm vụ đã đề ra đối với lĩnh vực văn hóa và giáo dục đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của quốc gia.
Năm 1949, Quốc vụ viện quyết định thành lập Bộ Giáo dục để quản lý giáo dục phổ thông, giáo dục sư phạm, giáo dục vùng dân tộc thiểu số và giáo dục công nông tại các địa phương Các cơ quan hành chính quản lý giáo dục địa phương được chia thành cấp tỉnh, địa khu và huyện, hình thành hệ thống quản lý ba cấp rõ ràng Quyết định này đã đặt nền tảng cho việc tổ chức và phát triển hệ thống giáo dục tại Việt Nam.
Ngày 10 tháng 1 năm 1951, Quốc vụ viện công bố quy định mới về cải cách thể chế đối với giáo dục Với những nhƣợc điểm của chế độ cũ, quy định đề xuất biện pháp khắc phục tình trạng này theo hướng tăng cường công tác giáo dục, bồi dƣỡng trình độ văn hóa cho lực lƣợng lao động; cần xây dựng một chế độ hợp lý các trường, các cấp học để có thể tương trợ giúp đỡ, tiếp thu thành quả của nhau Mục đích cao nhất của chế độ học tập này là nâng cao trình độ văn hóa cho người lao động, phục vụ cho sự nghiệp xây dựng đất nước Quy định này còn cụ thể các chế độ chính sách đối với từng cấp học, nghành học Để hoàn thành nhiệm vụ nâng cao trình độ văn hóa cho cán bộ, công chức là hết sức khó khăn nên đã giành đƣợc sự quan tâm thích đáng của Chính phủ Trong 5 năm, từ năm 1949 đến năm 1953, Quốc vụ viện đã chỉ đạo Bộ giáo dục tổ chức đến 15 cuộc hội nghị để bàn về nhiệm vụ phát triển giáo dục, bình quân tổ chức 3 lần trong 5 năm [67; tr.19] Đối với các trường đại học, trung học và tiểu học, công việc trước tiên phải làm là thủ tiêu “chế độ huấn đạo” phản động Đồng thời tiến hành xây dựng chương trình chính trị với mục tiêu lấy giáo dục nhân sinh quan cho học sinh làm chính và thực hiện chế độ quản lý dân chủ Ngay từ cuối năm 1949 đầu năm 1950, Trung Quốc đã thành lập các tổ chức Đảng Cộng sản trong nhà trường, thành lập Đoàn Thanh niên dân chủ mới, Đội Thiếu niên, Đội Nhi
Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhd 77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77t@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn.Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn
Trong giai đoạn từ năm 1950 đến 1951, các tổ chức như Hội học sinh và các công đoàn giáo viên, nhà chức trách nhà nước đã tích cực tham gia xây dựng hệ thống giáo dục Đúng thời điểm này, Quốc vụ viện đã cho phép thành lập Ủy ban Giáo dục công nhân viên chức tại các địa phương, nhằm thúc đẩy công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Đến ngày 24 tháng 01 năm 1951, Ủy ban Giáo dục công nhân viên chức toàn quốc chính thức được thành lập, đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý và phát triển giáo dục cho cán bộ, công nhân viên chức trên toàn quốc.
Sau hai năm thực hiện "Những quy định tạm thời với học sinh trung học", Bộ Giáo dục Trung Quốc đã tổ chức Hội nghị giáo dục trung học toàn quốc vào năm 1954 để đánh giá kết quả và đề ra các vấn đề cần giải quyết Hội nghị đã xác định những bài học cần nhân rộng dựa trên thực tế địa phương và đề xuất các hướng phát triển trong những năm tới Từ các kết quả này, tháng 4 năm 1954, Quốc vụ viện Trung Quốc chính thức ban hành "Chỉ thị về các vấn đề cải tiến và phát triển giáo dục trung học", thể hiện sự quyết tâm nâng cao chất lượng giáo dục trung học Tiếp theo, tháng 2 năm 1955, Quốc vụ viện lại ban hành "Điều lệ học sinh tiểu học", góp phần hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc gia.
Sau một thời gian cải tạo và xây dựng, lãnh đạo Đảng và Nhà nước Trung Quốc nhận thức rõ rằng tiếp cận tri thức khoa học và kỹ thuật tiên tiến của thế giới là yêu cầu cực kỳ quan trọng để xây dựng Chủ nghĩa xã hội Để thực hiện nhiệm vụ này, Trung Quốc cần phát huy vai trò của đội ngũ trí thức, điều này đã được thể hiện qua hội nghị về vấn đề trí thức tháng 1 năm 1956 do Trung ương Đảng tổ chức, nhấn mạnh mối liên hệ chặt chẽ giữa phát triển khoa học, tận dụng tri thức và nâng cao năng suất lao động trong thời kỳ xã hội chủ nghĩa Hội nghị đã kết luận rằng để công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa thành công, cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa lao động chân tay và lao động trí óc, dựa vào liên minh giữa công nhân, nông dân và trí thức Quan điểm này được khẳng định tại Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ VIII vào tháng 9 năm 1956, đồng thời Bộ Giáo dục cũng tổ chức các hội nghị về quy hoạch giáo dục nhằm tìm ra các biện pháp chỉ đạo để thúc đẩy công tác giáo dục địa phương.
Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhd 77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77t@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn.Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn
Yêu cầu cải cách giáo dục của Trung Quốc khi bước vào xây dựng kinh tế thị trường XHCN
Theo Trung Quốc nhận định, hệ thống giáo dục nói chung đã lộ rõ sự lạc hậu do ảnh hưởng của các cuộc cải cách mở cửa Cải cách, đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục, cần phải xem xét tình trạng lạc hậu đã hình thành từ những năm thi hành đường lối "cực tả" và giai đoạn đầu của quá trình đổi mới Tỷ lệ người mù chữ và nửa mù chữ vẫn còn lớn và tiếp tục gia tăng hàng năm Hệ thống giáo dục mẫu giáo còn yếu kém, hệ thống đào tạo kỹ thuật chuyên nghiệp ở mức độ thấp, trong khi chất lượng và số lượng các chuyên gia trình độ đại học và cao đẳng còn nhiều hạn chế.
Tình trạng này đặt ra những nhiệm vụ vô cùng nặng nề, chủ yếu liên quan đến một lượng dân cư lớn trong khu vực Đồng thời, nó góp phần làm nổi bật sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các vùng miền, đặc biệt là khu vực nông thôn, nơi sinh sống của trên 80% dân số cả nước.
Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhd 77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77t@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn.Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn
Trong bối cảnh hiện tại, cải cách giáo dục cần phải khám phá những hình thức mới trong lãnh đạo và kế hoạch hóa để nâng cao hiệu quả của các phương pháp nuôi dạy và giáo dục Đồng thời, cần tập trung giải quyết đồng bộ các vấn đề về chất lượng và số lượng đào tạo đội ngũ sư phạm có chuyên môn cao, đảm bảo các điều kiện vật chất và tài chính cần thiết để phát triển nền giáo dục bền vững.
Một yếu tố cần thiết là phải khắc phục hoàn toàn xu hướng coi thường ý nghĩa của giáo dục, điều đã ăn sâu vào trong văn hóa và xã hội, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển toàn diện của cá nhân và cộng đồng.
Về vấn đề phổ cập giáo dục, Trung Quốc xác định tiến trình dần dần hướng tới phổ cập nền giáo dục trung học bắt buộc 9 năm như một giai đoạn đầu của hệ thống giáo dục Mục tiêu đến năm 2000 là để 85-90% trẻ em trong độ tuổi đi học có điều kiện tiếp cận nền giáo dục theo quy định trong Hiến pháp 1982 Việc thực hiện nhiệm vụ phổ cập giáo dục 9 năm phải đồng bộ, không chỉ tại các đô thị, vùng duyên hải, mà còn mở rộng đến các khu dân cư, vùng nông thôn phát triển trung bình và các khu vực kinh tế kém phát triển như vùng biên giới, tỉnh có đông đồng bào dân tộc thiểu số Trong quá trình phổ cập giáo dục tiểu học còn đang diễn ra, công cuộc phổ cập 9 năm chủ yếu dựa vào giáo dục tiểu học và sự hỗ trợ của Nhà nước Để đảm bảo tiến trình này, cần tăng ngân sách cho giáo dục, tuy nhiên, phần lớn nguồn tài chính hiện chủ yếu dành cho giáo dục đại học và trung học chuyên nghiệp, khiến nguồn lực cho giáo dục bắt buộc còn hạn chế.
Các chi phí mới cho giáo dục phổ thông cần được huy động trước hết thông qua việc mở rộng quyền của các cơ quan chính quyền địa phương trong việc đánh thuế về giáo dục, thu học phí và huy động đóng góp từ các gia đình giàu có cũng như cộng đồng Hoa kiều ở nước ngoài Đây chính là đặc điểm nổi bật của quá trình tài trợ cho giáo dục phổ thông, nhằm đảm bảo nguồn lực cần thiết để nâng cao chất lượng giáo dục tại địa phương.
Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhd 77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77t@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn.Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn
40 triển hệ thống giáo dục ở Trung Quốc khác với các nước xã hội chủ nghĩa khác ở châu Á
- Về vấn đề xây dựng hệ thống giáo dục chuyên nghiệp
Hiện nay, giáo dục chuyên nghiệp ở Trung Quốc đang bị coi là khu vực lạc hậu trong hệ thống giáo dục quốc gia Dù đã trải qua thời kỳ khó khăn và bắt đầu phục hồi vào khoảng năm 1980, nhưng đến nay vẫn thiếu các văn bản pháp lý rõ ràng hướng dẫn về vấn đề này Trình độ học vấn của người lao động còn thấp, không đáp ứng được yêu cầu của các ngành công nghiệp then chốt như đường sắt, dịch vụ, kỹ thuật, công nghiệp và nông nghiệp Thực tế vẫn tồn tại nhiều người mù chữ hoặc nửa mù chữ, trong khi số lượng công nhân lành nghề còn rất khiêm tốn, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển kinh tế đất nước.
Nâng cao trình độ chuyên môn của người lao động bắt đầu bằng việc đẩy mạnh công tác xóa nạn mù chữ và cải tiến nền giáo dục trung học, đặc biệt là các lớp trên nhằm chuyển đổi thành trường cung cấp sự chuẩn bị cho nghề nghiệp Đa dạng hóa trình độ đào tạo chuyên nghiệp là cần thiết vì phần lớn học sinh tốt nghiệp chưa được trang bị kiến thức cần thiết để bắt đầu lao động hiệu quả Tuy nhiên, thách thức lớn nhất vẫn là thiếu giảng viên và không đủ các trường sư phạm đào tạo đội ngũ giáo dục đáp ứng nhu cầu phát triển hệ thống giáo dục chuyên nghiệp nhanh chóng.
- Vấn đề cải cách giáo dục đại học
Giáo dục đại học vẫn cần được đặc biệt coi trọng để đạt hiệu quả cao trong quá trình nuôi dưỡng và đào tạo sinh viên, góp phần thúc đẩy tư duy sáng tạo và củng cố mối liên hệ giữa các trường đại học và xã hội Để thực hiện mục tiêu này, giáo dục đại học cần thay đổi phương pháp kế hoạch hóa, quản lý, tận dụng tối đa mọi tiềm năng và mở rộng quyền tự chủ của các trường đại học, đặc biệt là trong bối cảnh phát triển kinh tế.
Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhd 77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77t@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn.Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn
Để giải quyết các vấn đề phức tạp hiện tại, cần phát triển các hệ đào tạo cao đẳng, chuyên nghiệp ngắn hạn và học buổi tối trong các trường đại học, đồng thời xem xét mở các trường dành riêng cho người lớn tuổi để nâng cao trình độ chuyên môn, đảm bảo bình đẳng trong đào tạo đại học Đẩy mạnh vị trí của người lớn tuổi trong các trường đại học và cao đẳng hiện có để nâng cao hiệu quả hoạt động, đồng thời đầu tư tăng nguồn lực cho cơ sở vật chất và trang thiết bị Việc tuyển sinh cần chú trọng vào các sinh viên do doanh nghiệp cử đi học hoặc có khả năng tự trang trải học phí, góp phần thay đổi tỷ lệ sinh viên các ngành xã hội so với ngành tự nhiên-kỹ thuật theo hướng có lợi cho khoa học xã hội Điều này đặc biệt quan trọng đối với các ngành then chốt trong các cuộc cải cách xã hội như tài chính, kinh tế, quản lý, pháp luật và nhà nước Trung Quốc trở thành quốc gia thứ ba trên thế giới có hệ thống giáo dục phát triển như hiện nay.
Xô và Ru-ma-ni đều cho rằng cần điều chỉnh về cân bằng số sinh viên giữa các ngành học và lĩnh vực kinh tế xã hội sau đào tạo để đáp ứng nhu cầu phát triển Sự khẩn thiết phát triển khoa học xã hội được nhiều người nhất trí, nhưng cũng cần xem xét liệu có nên giảm số sinh viên theo học các ngành kỹ thuật hay không Tỷ lệ giữa sinh viên các khóa học ngắn hạn và dài hạn, cùng với tỷ lệ sinh viên theo học cao đẳng so với trung cấp chuyên nghiệp và nghiệp vụ, cần điều chỉnh tăng nhằm nâng cao chất lượng và phù hợp với tiêu chuẩn của các nước phát triển Tuy nhiên, hiện tại các tỷ lệ này ở Trung Quốc chưa phản ánh đúng các tiêu chí quốc tế, đòi hỏi phải có sự thay đổi phù hợp để thúc đẩy sự phát triển bền vững của hệ thống giáo dục và đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế.
Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhd 77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77t@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn.Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn
- Vấn đề nâng cao công tác chính trị tư tưởng cho người học
Thế hệ trẻ không thể giáo dục bằng khẩu hiệu hay trích dẫn, đòi hỏi phải dựa trên các phương pháp chính trị và giáo dục phù hợp Trong quá trình giáo dục, việc tuyên truyền về “yêu nước” và “chủ nghĩa cộng sản” cần được đẩy mạnh, nhưng thực tế cho thấy khó phân biệt rõ ràng giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa dân tộc Do đó, nội dung môn “Chính trị” ở trung học và “Học thuyết Mác – xít” ở đại học cần được thường xuyên xem xét, cập nhật để phù hợp với thực tiễn Sự khác biệt trong giảng dạy và tài liệu giáo trình giữa các cơ sở giáo dục làm hạn chế việc thống nhất chương trình giáo dục chủ nghĩa Mác – xít trên toàn quốc Những khó khăn này đòi hỏi các quyết định của Đảng để đảm bảo tính nguyên tắc, đặc biệt khi Trung Quốc còn thiếu các nhà sư phạm giỏi và tài liệu học tập phù hợp.
- Vấn đề trao đổi giáo dục
Việc tăng cường số sinh viên được cử đi học ở nước ngoài là một yếu tố cần thiết trong quá trình phát triển giáo dục của Trung Quốc Điều này góp phần mở rộng trao đổi sinh viên quốc tế dựa trên các thành tựu của nền văn minh thế giới hiện nay Mục tiêu của chính sách này là xây dựng một hệ thống giáo dục xã hội chủ nghĩa mang đậm nét đặc trưng của Trung Quốc Ngoài ra, còn tạo ra những cơ hội hợp tác với các quốc gia xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo giảng viên, nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong hệ thống giáo dục của Trung Quốc.
- Vấn đề cải thiện, nâng cao chất lượng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên
Thực tế cho thấy, một trở ngại quan trọng trong việc cải cách hệ thống giáo dục là chậm thực hiện chương trình giảng dạy mới cho lực lượng trí thức và trình độ chuyên môn của giáo viên còn chưa đáp ứng yêu cầu Mặc dù số lượng giáo viên mới ra trường đủ để đảm nhiệm chương trình giáo dục 9 năm bắt buộc cũng như thay thế những giáo viên nghỉ hưu, nhưng vẫn chưa giải quyết được vấn đề thay thế những giáo viên gặp khó khăn về trình độ chuyên môn Vì vậy, việc nâng cao năng lực chuyên môn cho giáo viên trở nên vô cùng cần thiết để đảm bảo chất lượng đào tạo và sự phát triển của nền giáo dục.
Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhd 77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77t@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn.Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn
Đảm bảo tất cả giáo viên đã qua đào tạo tại các trường sư phạm và các lớp nâng cao trình độ chuyên môn có đủ chứng chỉ về trình độ nghiệp vụ phù hợp với yêu cầu đặt ra là điều kiện thiết yếu để nâng cao chất lượng giáo dục Trong trường hợp giáo viên không đáp ứng các tiêu chuẩn này, cần chuyển họ sang công tác khác nhằm đảm bảo hiệu quả của quá trình cải cách giáo dục và duy trì chuẩn mực chất lượng giảng dạy.
Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhd 77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77t@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn.Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn