1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chủ nghĩa hiện thực trong truyện ngắn nam cao và truyện ngắn a sêkhốp (qua cái nhìn so sánh)

113 5 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chủ nghĩa hiện thực trong truyện ngắn Nam Cao và truyện ngắn A. Sêkhốp (qua cái nhìn so sánh)
Tác giả Ngô Đức Nam
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Văn Hạnh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ ngữ văn
Năm xuất bản 2015
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 836,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu (14)
  • 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu (14)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (15)
  • 6. Cấu trúc của luận văn (15)
  • Chương 1. CON ĐƯỜNG ĐẾN VỚI CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC CỦA (16)
    • 1.1. Khái lược về chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam, văn học Nga (16)
      • 1.1.1. Khái niệm chủ nghĩa hiện thực (16)
      • 1.1.2. Chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam (18)
      • 1.1.3. Chủ nghĩa hiện thực trong văn học Nga (23)
    • 1.2. Chủ nghĩa hiện thực trên hành trình sáng tạo nghệ thuật của Nam (26)
      • 1.2.1. Hành trình sáng tạo nghệ thuật của Nam Cao (26)
      • 1.2.2. Hành trình sáng tạo nghệ thuật của A. Sêkhốp (30)
      • 1.2.3. Sự gặp gỡ giữa Nam Cao và A. Sêkhốp trong nguyên tắc nhận thức và tái hiện hiện thực (34)
    • 1.3. Quan điểm nghệ thuật của Nam Cao và của A. Sêkhốp (36)
      • 1.3.1. Quan điểm nghệ thuật của Nam Cao (36)
      • 1.3.2. Quan điểm nghệ thuật của A. Sêkhốp (42)
  • Chương 2. CÁI NHÌN NGHỆ THUẬT CỦA NAM CAO VÀ A. SÊKHỐP VỀ HIỆN THỰC ĐỜI SỐNG (44)
    • 2.1. Giới thuyết khái niệm "Cái nhìn nghệ thuật" (44)
      • 2.2.4. Khát vọng vượt thoát hoàn cảnh sống thực tại (65)
    • 2.3. Những điểm khác biệt giữa Nam Cao và Sêkhốp trong cái nhìn hiện thực (68)
      • 2.3.1. Những khác biệt trong cái nhìn hiện thực đời sống của (69)
      • 2.3.2. Những khác biệt trong cái nhìn số phận con người của (71)
  • Chương 3. NGHỆ THUẬT ĐIỂN HÌNH HÓA TRONG TRUYỆN NGẮN (77)
    • 3.1. Giới thuyết khái niệm "điển hình hóa" (77)
    • 3.2. Những gặp gỡ giữa Nam Cao và A. Sêkhốp trong nghệ thuật điển hình hóa (78)
      • 3.2.1. Xây dựng những hoàn cảnh điển hình (78)
      • 3.2.2. Khắc họa tính cách điển hình (81)
      • 3.2.3. Lựa chọn những chi tiết điển hình (84)
    • 3.3. Những khác biệt giữa Nam Cao và A. Sêkhốp trong nghệ thuật điển hình hóa (88)
      • 3.3.1. Nghệ thuật điển hình hóa trong truyện ngắn Nam Cao (88)
      • 3.3.2. Nghệ thuật điển hình hóa trong truyện ngắn A. Sêkhốp (95)
  • KẾT LUẬN (106)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (109)

Nội dung

Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích chính của đề tài là phân tích và hiểu rõ chủ nghĩa hiện thực trong truyện ngắn của Nam Cao và A Sêkhốp, qua góc nhìn so sánh giữa hai tác giả Bài viết nhằm làm rõ những đặc điểm nổi bật của chủ nghĩa hiện thực trong tác phẩm của từng nhà văn, từ đó thấy được nét tương đồng và điểm khác biệt trong cách thể hiện quan điểm về cuộc sống và con người Phương pháp so sánh giúp làm sáng tỏ giá trị nghệ thuật cũng như ý nghĩa nhân sinh của các truyện ngắn của Nam Cao và A Sêkhốp.

3.2 Với mục đích đó, đề tài có nhiệm vụ:

Thứ nhất, chỉ ra con đường đến với chủ nghĩa hiện thực trong sáng tác của Nam Cao và A Sêkhốp

Thứ hai, chỉ ra được những tương đồng, khác biệt trong cái nhìn nghệ thuật của Nam Cao và A Sêkhốp qua truyện ngắn

Thứ ba, chỉ ra những tương đồng, khác biệt trong nghệ thuật điển hình hóa của Nam Cao và A Sêkhốp trong truyện ngắn.

Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ khoa học của đề tài, chúng tôi đã lựa chọn hướng tiếp cận thi pháp học, kết hợp với các phương pháp nghiên cứu đa dạng nhằm đảm bảo tính toàn diện và sâu sắc trong quá trình phân tích.

- Khảo sát thống kê, miêu tả

- Phân tích theo đặc trưng thể loại

Cấu trúc của luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận, Luận văn gồm ba chương:

Chương 1 Con đường đến với chủ nghĩa hiện thực của Nam Cao và

Chương 2 tập trung vào góc nhìn nghệ thuật của Nam Cao và A Sêkhốp về hiện thực đời sống, thể hiện qua cách họ phản ánh thực tế xã hội một cách chân thực và sâu sắc Trong khi đó, Chương 3 phân tích khả năng điển hình hóa trong các tác phẩm truyện ngắn của Nam Cao và A Sêkhốp, nhấn mạnh vào việc sử dụng hình ảnh biểu tượng để làm nổi bật những vấn đề xã hội và tâm lý nhân vật một cách sinh động và thuyết phục Các tác phẩm của họ không chỉ phản ánh cuộc sống mà còn góp phần nâng cao nhận thức của độc giả về những mặt trái của xã hội, thể hiện rõ nét nghệ thuật điển hình hóa đặc trưng trong truyện ngắn của cả hai nhà văn.

Cuối cùng là Tài liệu tham khảo.

CON ĐƯỜNG ĐẾN VỚI CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC CỦA

Khái lược về chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam, văn học Nga

1.1.1 Khái niệm chủ nghĩa hiện thực

Chủ nghĩa hiện thực là một khái niệm đã trở nên quen thuộc trong lĩnh vực văn học, nhưng cách hiểu về nó vẫn còn nhiều khác biệt, đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải xây dựng khái niệm làm nền tảng lý thuyết để phân tích sáng tác của các nhà văn như Nam Cao và Sêkhốp Theo Abrams, chủ nghĩa hiện thực có hai tầng ý nghĩa: thứ nhất, là trào lưu văn học thế kỷ XIX nổi bật trong tiểu thuyết, lấy Balzac và George Eliot làm trung tâm; thứ hai, là thủ pháp miêu tả chân thực cuộc sống xuất hiện xuyên suốt mọi thời đại, đặc biệt trong các tác phẩm thuộc trào lưu lịch sử Năm 1890, nhà phê bình William Dean Howells định nghĩa chủ nghĩa hiện thực như một kỹ xảo miêu tả tinh tế và chính xác dựa trên tổng hợp về hiện thực, phù hợp với nhiều dạng vật phức tạp hoặc trừu tượng, đòi hỏi sự sáng tạo cao và liên quan đến yếu tố tinh thần lãng mạn Nhà phê bình Pháp A Thibaudet nhấn mạnh rằng, từ thế kỷ XIX, các nhà tiểu thuyết đã phát triển khả năng tưởng tượng sáng tạo, cạnh tranh với sổ hộ tịch, và từ khoảng năm 1850, vai trò này chuyển thành việc trở thành những người thư ký trung thành của hiện thực Tại Việt Nam, theo Từ điển thuật ngữ văn học, chủ nghĩa hiện thực được hiểu theo hai nghĩa: một là, trong phạm vi rộng, phản ánh mối liên hệ giữa tác phẩm và hiện thực đời sống, gần như đồng nghĩa với sự thật cuộc sống; hai là, cách hiểu này hiện nay không còn phổ biến vì ít hỗ trợ cho nghiên cứu văn học và đánh giá các tác phẩm của các nhà văn cổ điển như Home, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị.

Chủ nghĩa hiện thực là một phương pháp nghệ thuật và trào lưu văn học có nội dung chặt chẽ, dựa trên nguyên tắc mô tả cuộc sống chân thực qua hình tượng phản ánh bản chất của cuộc sống và điển hình hóa các sự kiện thực tế Nó thừa nhận mối quan hệ qua lại giữa con người và môi trường, giữa tính cách và hoàn cảnh, nhằm tái hiện chân thực mối quan hệ này trong nghệ thuật Chủ nghĩa hiện thực coi trọng chi tiết cụ thể và độ chính xác trong mô tả, khách quan hóa các đối tượng để chúng tự thể hiện, góp phần làm rõ nội dung nội tại của cuộc sống Đồng thời, chủ nghĩa hiện thực luôn quan tâm đến sự đa dạng về hình thức, sử dụng huyền thoại, tượng trưng, cường điệu hay ẩn dụ, nhưng tất cả đều phải tuân theo nguyên tắc sáng tác hiện thực và phù hợp với nhận thức của con người về các điều kiện lịch sử - xã hội phức tạp.

Nhà văn hiện thực chủ nghĩa tiếp cận các hiện tượng đời sống với ý thức chủ động khám phá chứ không phải là người ghi chép thụ động hay dửng dưng Sự trung thành và chính xác trong nhận thức cũng như chuyển đạt bản chất cuộc sống là yếu tố quan trọng nhất đối với văn học hiện thực chủ nghĩa Ngoài ra, tầm quan trọng của những tư tưởng mà nhà văn muốn thể hiện đóng vai trò then chốt trong quá trình sáng tạo và thể hiện nội dung của tác phẩm.

1.1.2 Chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam

Chủ nghĩa hiện thực, xuất phát từ nguồn cảm hứng chính là việc miêu tả xã hội một cách phê phán, hình thành tại châu Âu vào những năm 1830 của thế kỷ XIX, đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của văn học hiện đại Ở Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, trào lưu chủ nghĩa hiện thực chỉ thực sự xuất hiện vào những năm 1930 của thế kỷ XX, muộn hơn khoảng một trăm năm so với văn học thế giới Nguyên nhân của sự chậm trễ này đến từ các yếu tố khách quan và chủ quan, phản ánh bối cảnh lịch sử và xã hội đặc thù của Việt Nam.

Từ thế kỷ X đến cuối thế kỷ XIX, nền văn học Việt Nam chủ yếu phát triển mạnh về thi ca, với số lượng tác phẩm văn xuôi hạn chế, đặc biệt là ít sử dụng chữ Nôm và chữ Hán trong sáng tác Thơ ca Việt Nam, dựa trên truyền thống tập trung vào phản ánh thực tại bằng tâm trí, không tự nhiên dẫn đến con đường hiện thực chủ nghĩa trong văn học Do đó, văn học Việt Nam trong giai đoạn này chủ yếu thể hiện qua các tác phẩm thơ ca giàu tính trữ tình và phản ánh tâm trạng con người, ít chú trọng tới văn xuôi tự sự hay hiện thực xã hội.

Đến thế kỷ XIX, văn học Việt Nam từ dân gian đến văn học viết đều chứa đựng yếu tố hiện thực, phản ánh cuộc sống đời thường một cách chân thực Tuy nhiên, những yếu tố này chưa đủ để hình thành một trào lưu văn học hoặc chủ nghĩa hiện thực một cách độc lập và mạnh mẽ.

Văn học dân tộc Việt Nam có mối liên hệ chặt chẽ với hoàn cảnh xã hội và văn hóa của đất nước từ thế kỷ X đến cuối thế kỷ XIX, thậm chí đến những năm đầu thế kỷ XX Trong suốt thời kỳ này, điều kiện xã hội và văn hóa chưa đủ để hình thành trào lưu văn học hiện thực phê phán Trần Đình Hượu nhận xét chính xác rằng, nền văn học Việt Nam đã phản ánh sâu sắc thực tế cuộc sống và được hình thành dựa trên bối cảnh lịch sử, xã hội đặc trưng của từng thời kỳ.

Trong hơn một thế kỷ, sự phát triển của văn học Việt Nam vẫn mang đậm tính trì trệ và quanh quẩn, khi các thể loại như Ngâm khúc, truyện Nôm và hát nói kế tục nhau cả về nội dung lẫn hình thức, chưa tạo được bước đột phá đáng kể Điều này khác xa với tình hình phát triển của phương Tây cũng như các nước Nhật Bản, Trung Quốc ở phương Đông, khi đô thị phát triển mạnh mẽ dẫn đến quan hệ tư sản và ý thức cá nhân trở thành trung tâm xã hội Thiếu nền kinh tế đô thị, Việt Nam không có điều kiện phát triển khoa học, điều này hạn chế khả năng nhận thức đúng đắn về xã hội và con người, từ đó ảnh hưởng đến sự hình thành chủ nghĩa hiện thực trong văn học Đến cuối thế kỷ XIX, văn học Việt Nam vẫn còn chịu sự kiềm chế của các thiết chế tinh thần Nho giáo, chưa thể đi vào quỹ đạo của chủ nghĩa hiện thực, do chưa có cuộc cách mạng xã hội tư sản hay cách mạng khoa học kỹ thuật, và thế giới quan khoa học, duy vật vẫn còn mang tính tự phát, chưa hình thành hệ thống rõ ràng.

Văn học Việt Nam thời kỳ trung đại chịu ảnh hưởng sâu sắc của quan điểm Nho giáo “văn dĩ tải đạo” và “thi ngôn chí”, khiến tác phẩm thường mang tính giáo điều và minh họa đạo lý sẵn có, hạn chế khả năng phân tích hiện thực khách quan Xu hướng bộc lộ cảm xúc chủ quan và giáo huấn trong sáng tác khiến văn học thiếu tính thực tiễn, không phù hợp với nguyên lý của chủ nghĩa hiện thực Chính vì vậy, văn học trung đại chưa thể phát triển theo chủ nghĩa hiện thực do trình độ nhận thức và phân tích cuộc sống còn hạn chế Trong khi đó, theo Trần Đăng Suyền, Truyện Kiều chưa thể có chủ nghĩa hiện thực, và trong văn học phương Đông nói chung, chủ nghĩa hiện thực chưa đủ điều kiện ra đời Tuy nhiên, từ thế kỷ XX, chủ nghĩa hiện thực bắt đầu lĩnh hội và phát triển qua các tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ, Lê Hữu Trác, và các nhà văn, nhà thơ thời cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX như Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Phạm Duy Tốn, Vũ Đình Long, góp phần mở đường cho dòng văn học hiện thực phê phán Trần Đình Hượu nhận định rằng, văn học cận - hiện đại Việt Nam, đặc biệt thơ trào phúng, đã chuẩn bị trực tiếp cho sự ra đời của văn học hiện thực phê phán.

Trần Nho Thìn nhấn mạnh rằng: “Trào phúng là một biểu hiện quan trọng của sự giải thể nhà nho, mở đường cho nền văn học mới, hướng vào hiện thực” [64, 681] Tuy nhiên, các sáng tác của các nhà thơ, nhà văn thời kỳ này vẫn chưa thực sự phản ánh chủ nghĩa hiện thực một cách chính xác và chặt chẽ Truyện ngắn của Phạm Duy Tốn có yếu tố hiện thực và tiến bộ, cùng với những đổi mới về nghệ thuật, nhưng vẫn chưa đạt tới mức độ của những tác phẩm hiện thực chủ nghĩa Hồ Biểu Chánh, với vai trò nhà tiểu thuyết miền Nam, vượt qua nhiều nhà văn cùng thời nhờ việc mô tả chân thực cuộc sống và thế giới nhân vật đông đúc, đa dạng để phản ánh xã hội đương thời, song tác phẩm của ông chỉ dần dần tiếp cận chủ nghĩa hiện thực chứ chưa hoàn toàn thể hiện nó.

Vào đầu thế kỷ XX, những tiền đề về chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa đã tạo nền móng cho sự xuất hiện của chủ nghĩa hiện thực ở Việt Nam Sau gần nửa thế kỷ chiến tranh xâm lược, đến những năm đầu thế kỷ XX, đất nước tạm thời ổn định về mặt quân sự, trong khi thực dân Pháp tiếp tục củng cố bộ máy thống trị và bắt đầu khai thác kinh tế triệt để Thực dân Pháp đã hai lần tiến hành khai thác thuộc địa quy mô lớn, khiến nền kinh tế nước ta kiệt quệ và đẩy nhân dân vào cảnh nghèo đói trầm trọng Sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929-1933), chính quyền thực dân càng tăng cường vơ vét, bóc lột, đặt thêm nhiều loại thuế mới nhằm tăng nguồn thu Trong khi nhân dân lao động bị đàn áp và bóc lột tàn nhẫn, thì giới thực dân và giai cấp thống trị lại giàu lên nhanh chóng, sống xa hoa, phung phí Chính quyền thực dân còn khuyến khích lối sống hưởng thụ, ăn chơi sa đọa nhằm mục đích phục vụ chính sách ngu dân hóa và làm suy giảm đạo đức của thanh niên Tại các thành phố, các hoạt động giải trí như sòng bạc, nhà chứa, tiệm hút xuất hiện tràn lan, cùng với phong trào Âu hóa "vui vẻ trẻ trung" đã kéo tầng lớp thanh niên vào lối sống tiêu cực, mất orient, gây ra những hệ lụy xã hội nghiêm trọng.

Chính sách bóc lột về kinh tế và sự truỵ lạc hoá của thanh niên đã khiến chính quyền thực dân Pháp đàn áp dã man phong trào yêu nước và cách mạng, làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giữa dân tộc ta với thực dân Pháp cũng như giữa nhân dân lao động với giai cấp thống trị Xã hội thực dân phong kiến, dù ở nông thôn hay thành thị, thể hiện rõ sự thối nát, bất công và vô nhân đạo, tạo điều kiện cho nhiều nhà văn khám phá sâu sắc bản chất xã hội Việt Nam đương thời và tập trung vào việc “tả thực xã hội”.

Sự xuất hiện của chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ của thời đại, tập trung vào những vấn đề xã hội sâu sắc liên quan đến hàng triệu nhân dân lao động nghèo khổ Trào lưu này đã kế thừa và phát huy truyền thống văn học Việt Nam về việc gắn kết nghệ thuật với cuộc sống và các vấn đề xã hội thiết yếu Trong bối cảnh văn học thị trường cạnh tranh quyết liệt, chủ nghĩa hiện thực đã thúc đẩy sự sáng tạo của các nhà văn, đồng thời góp phần vào sự phát triển của hoạt động xuất bản, in ấn và báo chí, thúc đẩy quá trình hiện đại hóa văn học mạnh mẽ Báo chí phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ chưa từng có, đóng vai trò quan trọng trong việc phổ biến và phát triển các giá trị của chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam thời kỳ này.

Báo chí đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của văn học Việt Nam, giúp hình thành lớp công chúng mới với thị hiếu hiện đại Văn học hiện đại Việt Nam thoát thai từ báo chí, khác với các nước phương Tây nơi văn học hình thành để phục vụ báo chí Thạch Lam (Việt Sinh) nhấn mạnh rằng, để thu hút độc giả, các tác phẩm cần tạo cảm xúc và vui thích dựa trên sự thật, thay vì giảng dạy đạo lý như trước đây Đọc truyện báo chí cần mang lại cảm xúc chân thật và đem lại sự cảm động cho người đọc.

Chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam ra đời như một tất yếu để phản ánh thực tế một cách chân thực và sinh động Nó không chỉ đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ và khát vọng Chân - Thiện - Mĩ của con người, mà còn phục vụ các mục đích xã hội, giúp nhìn nhận đúng đắn cuộc sống và thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội.

1.1.3 Chủ nghĩa hiện thực trong văn học Nga

Chủ nghĩa hiện thực trên hành trình sáng tạo nghệ thuật của Nam

1.2.1 Hành trình sáng tạo nghệ thuật của Nam Cao

Nam Cao, tên thật là Trần Hữu Tri, sinh ngày 29/10/1917 theo giấy khai sinh, nhưng theo người em ruột là Trần Hữu Đạt, ông sinh năm 1915 Quê ông tại làng Đại Hoàng, huyện Nam Sang, tỉnh Hà Nam, nay là xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân Ông đã lấy bút danh Nam Cao bằng cách ghép hai chữ của tên tổng và huyện nơi ông sinh sống.

Nam Cao sinh trưởng trong gia đình trung nông theo đạo Thiên chúa, với cha là ông Trần Hữu Huệ, một thợ mộc kiêm làm thuốc, mẹ là bà Trần Thị Minh, người làm vườn, làm ruộng và dệt vải Hoàn cảnh gia đình này đã ảnh hưởng sâu sắc đến con đường học vấn và sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật của ông Ngay từ nhỏ, Nam Cao đã chịu ảnh hưởng từ môi trường nông nghiệp và đời sống chân chất của gia đình, hình thành nên những cảm xúc chân thật trong các tác phẩm của ông.

Ông bắt đầu học sơ học tại trường làng, sau đó được gia đình gửi xuống Nam Định để học tại trường Cửa Bắc rồi trường Thành Chung, nhằm nâng cao trình độ giáo dục Tuy nhiên, do sức khỏe yếu, ông chưa kịp thi vào trường Thành Chung và phải về nhà điều trị bệnh Năm 18 tuổi, ông kết hôn, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời.

Nam Cao đã trải qua nhiều nghề để kiếm sống, trong đó có nghề viết văn, bắt đầu từ những ngày tuổi trẻ khi sang Sài Gòn làm thư ký cho một hiệu may Những sáng tác của ông trong giai đoạn này chịu ảnh hưởng của văn chương lãng mạn đương thời, phản ánh một tâm hồn mơ mộng về tình yêu trong trẻo, cảm động và những mảnh ký ức về tình cảm thầm kín, trộm nhớ, buồn vơ vẩn.

Tâm hồn tan tác làm trăm mảnh Vương vấn theo ai bốn góc trời Rồi để một chiều theo gió thổi Bay lên thành những mảng mây trôi

Tuy nhiên, cùng với những bài thơ lãng mạn buồn vơ vẫn (Nếu ta bảo,

Nam Cao đã thể hiện rõ nét cảm hứng hiện thực qua các tác phẩm như "Nghèo", phản ánh cảnh ngộ thảm thương của người nông dân nghèo đói, bệnh tật, phải tìm đến cái chết để giải thoát gánh nặng gia đình Các sáng tác thời kỳ này như "Đui mù" và "Một bà hào hiệp" thể hiện cái nhìn sâu sắc về cuộc sống, đánh dấu bước đầu trong hành trình đi tới chủ nghĩa hiện thực của ông Phạm Xuân Nguyên nhận xét rằng ảnh hưởng của phong trào lãng mạn đã qua nhanh đối với Nam Cao, khi ông chuyển sang văn hiện thực mạnh mẽ, xa rời lối văn lãng mạn, thể hiện cuộc sống một cách chân thực, phê phán Trong "Truyện tình", Nam Cao phản ánh sự bóng bẩy và giả dối của lối kết thúc lãng mạn, nhấn mạnh rằng nghệ thuật chân chính là tiếng nói của đau thương, phản ánh cuộc sống thực tế, như nhân vật Điền trong "Trăng sáng" đã nhận thức rõ: "Nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than".

Nam Cao trở lại Bắc sau thời gian tự học để lấy bằng Thành chung, bắt đầu giảng dạy tại Trường tư thục Công Thành ở Hà Nội Ông đã đăng tải truyện ngắn "Cái chết của con Mực" và sáng tạo thơ trên báo Hà Nội Tân Văn dưới các bút danh Xuân Du, Nguyệt Năm 1941, tập truyện đầu tay "Đôi lứa xứng đôi" được xuất bản bởi Nxb Đời mới, Hà Nội, với tên trong bản thảo là "Cái lò gạch cũ", nhanh chóng trở thành hiện tượng văn học thời đó và sau này đổi tên thành "Chí Phèo" Những sáng tác của Nam Cao giai đoạn này phản ánh một bối cảnh lịch sử và xã hội đặc biệt: năm 1939, chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, phong trào dân chủ kết thúc, đảng cộng sản hoạt động bí mật, cách mạng bị đàn áp, sách báo tiến bộ bị cấm đoán, Nhật Bản xâm lược Đông Dương khiến nhân dân ta rơi vào nạn đói khủng khiếp với hơn hai triệu người chết vào năm 1945 Thực tế生活 quanh Nam Cao trở nên đen tối, ngột ngạt, bế tắc, quê hương làng Đại Hoàng cũng chịu cảnh bóc lột tàn bạo, lý dịch hoành hành, xã hội đầy tệ nạn và nghèo đói, đẩy người nông dân vào cảnh bần cùng, có người bỏ quê hương hoặc rơi vào vòng tội lỗi Trong "Heo may buồn," Nam Cao mô tả rõ nét thực trạng này với hình ảnh “cả một vùng bị trói, trộm cướp như rươi”, nhân tính bị đe dọa nghiêm trọng Cuộc sống của tầng lớp trí thức tiểu tư sản, như nhà văn, giáo viên trong các trường tư, cũng đầy khó khăn, nghèo nàn, nhàm chán, thể hiện qua cảnh sống "đời thừa", "sống mòn" trong cảnh nghèo đói và kiệt quệ.

Sinh ra ở một vùng chiêm trũng đồng bằng Bắc Bộ, từ nhỏ Nam Cao đã chứng kiến những gian truân vất vả, những lục đục trong gia đình do cái nghèo, cái khó Khi đã có gia đình riêng, Nam Cao càng thấm thía cái nghèo, cái khó Ông thuộc vào số những nhà văn nghèo nhất của thế hệ nhà văn trước cách mạng Là người bề ngoài có vẻ nhút nhát, khinh khỉnh lạnh lùng đến mức khó gần, nhưng, ông lại có trái tim nhân hậu, chan chứa yêu thương Lớn lên trong sự yêu thương đùm bọc của những người nông dân nghèo đói đã hình thành trong Nam Cao mối thiện cảm với người nông dân, thôi thúc ông khám phá về họ

Năm 1943, Nam Cao tham gia cách mạng Lí tưởng cách mạng đã đem đến cho ông niềm tin vào tương lai, tiền đồ của dân tộc Cách mạng tháng Tám thành công, ngòi bút Nam Cao nhiệt tình phục vụ cách mạng, ông tự nguyện làm người cán bộ tuyên truyền "nhãi nhép" và luôn có ý thức tự rèn luyện mình trong thực tế kháng chiến Điều này đã phần nào được ông thể hiện trong truyện ngắn Đôi mắt (1948) Tác phẩm được xem như một tuyên ngôn nghệ thuật của Nam Cao nói riêng, các nhà văn lớp trước nói chung, trong buổi đầu đi theo cách mạng Ông đã tự nguyện đem ngòi bút của mình phục vụ cách mạng, phục vụ kháng chiến với một ý thức sâu sắc “sống đã rồi hãy viết” (Nhật ký ở rừng)

Nam Cao đứng trên con đường phát triển của chủ nghĩa hiện thực không phải là ngẫu nhiên, mà bắt nguồn từ thực trạng xã hội và ý thức trách nhiệm của nhà văn trước cuộc đời Từ nhà văn theo cảm hứng lãng mạn, ông chuyển sang thể hiện hiện thực phê phán và cuối cùng trở thành nhà văn cách mạng với ý thức công dân sâu sắc Dù đã qua đời ở tuổi 36, dự định viết về quê hương vùng địch hậu trong kháng chiến của ông chưa thể hoàn thành, nhưng ông đã khẳng định vị trí của mình trong văn học hiện đại Việt Nam như một nhà văn hiện thực xuất sắc.

1.2.2 Hành trình sáng tạo nghệ thuật của A Sêkhốp

A Sêkhốp (1860-1904) là nhà văn viết truyện ngắn bậc thầy của văn học Nga nói riêng và của văn học thế giới nói chung Ông sinh ra trong một gia đình tiểu thị dân ở thị trấn Taganroc, một thành phố cảng cổ, một nơi buôn bán sầm uất Dòng họ Sekhov có tới năm đời là nô lệ Đến đời ông nội của Sêkhốp mới chuộc được tự do Thoát khỏi kiếp nô lệ, nhưng cuộc sống của gia đình Sêkhốp rất khó khăn Họ phải sống trong sự chắt bóp, dè sẻn, tằn tiện Cuộc sống vất vả đã khiến cho cha Sêkhốp - E S Peven áp dụng lối giáo dục nghiêm khắc đối với con cái Điều này đã làm cho tuổi thơ Sêkhốp trải qua trong nhàm chán, buồn tẻ, sợ hãi Khi đã trưởng thành, Sêkhốp chua chát khi cho rằng “Thưở nhỏ tôi không có thời thơ ấu”

Khác với Nam Cao, Sêkhốp bắt đầu con đường sáng tạo văn học bằng những truyện ngắn trào phúng học phổ thông Tuy nhiên, sự nghiệp văn chương của ông chính thức khởi đầu vào năm 1800 khi đang theo học nghề y, với các tác phẩm hướng tới độc giả bình dân yêu thích truyện hài hước, nhẹ nhàng, chưa mang màu sắc chính trị, xã hội nghiêm túc Các sáng tác của ông chủ yếu là truyện ngắn được viết nhanh, phù hợp với mục đích mưu sinh, trang trải học phí và hỗ trợ tài chính cho gia đình Ông sử dụng nhiều bút danh như "Bác sĩ không có bệnh nhân", "Người không lá lách", "Anh của tôi", "Người bẳn tính", trong đó phổ biến nhất.

"Antonsha Chekhonche" là cách đọc chệch chữ Sêkhốp mang chút giễu cợt, gây cười, thể hiện sự nhại lại phong cách của nhà văn nổi tiếng Trong một thời gian ngắn, ông đã sáng tác một khối lượng truyện ngắn đồ sộ, với 120 truyện năm 1883, 129 truyện năm 1885 và 112 truyện năm 1886, cho thấy khả năng sáng tạo vượt trội Điều này phản ánh khả năng làm việc không ngừng nghỉ của ông và cho thấy dù là những nhà văn tài năng bậc thầy cũng khó sánh kịp với năng suất sáng tác của ông trong giai đoạn này.

Trong hàng trăm truyện ngắn viết nhanh, viết vội để mưu sinh, Sêkhốp đã lấp lánh những mảy vàng tài năng, báo hiệu phong cách nghệ thuật độc đáo và cách tiếp cận mới đối với nhiều đề tài Ông cộng tác với các tờ báo lá cải, khai thác những đề tài vặt vãnh, từ đó rèn luyện kỹ năng phát hiện những điều trần tục trong cuộc sống hàng ngày mà người khác khó nhận ra Phong cách viết của ông thời kỳ này nổi bật với câu ngắn gọn, “thật đơn giản mà buồn cười”, một nghệ thuật đỉnh cao đã trở thành bí quyết thành công của nhiều tác phẩm sau này Nhờ việc lựa chọn chi tiết có dụng ý nghệ thuật, tính hài hước trong truyện ngắn của ông dần chuyển hóa thành trào lộng thâm trầm, tiêu biểu là các tác phẩm như “Cái chết của một viên chức”.

(1883), Thằng ôn vật (1883) Anh béo và anh gầy (1883), Con kì nhông

Trong giai đoạn sáng tác 1884, ông khai thác triệt để các xung đột để tạo nên tính kịch cho cốt truyện, đồng thời tự giấu mình để nhân vật bộc lộ tính cách qua sân khấu cuộc đời Nội dung chính tập trung phê phán “thói nô lệ” và các khiếm khuyết làm méo mó nhân cách con người như thói hống hách, hai mặt, với tiếng cười mang ý nghĩa triết học thay vì thuần túy giải trí Truyện “Cái chết của một viên chức” là minh chứng rõ nét, kể về viên chức vô tình làm bắn nước bọt vào đầu quan chức cao cấp, rồi chết trong cơn sợ hãi dù thoạt nhìn tưởng chừng tiếu lâm phóng đại Sau đó, người đọc nhận ra tiếng cười ẩn chứa nội dung phản ánh vấn đề nhân cách nghiêm trọng, phong cách này tiếp tục được Sêkhốp phát triển sâu rộng hơn trong các sáng tác sau này.

Vào giữa những năm 80 của thế kỷ XIX, Sêkhốp bắt đầu cảm thấy chật chội trong lĩnh vực diễn hài hước và mong muốn khai phá những hình thức nghệ thuật rộng lớn hơn với nội dung sâu sắc Ngày 25/3/1886, ông nhận được thư của nhà văn lão thành D Grigorovich, người đã bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với tài năng của ông và khuyên ông coi trọng công việc hơn thay vì làm việc vội vàng Thư của Grigorovich đã truyền cảm hứng và định hướng cho Sêkhốp trên con đường sáng tạo nghệ thuật Cũng trong thời gian này, nhà báo A Suvorin chủ bút tờ Thời Mới đã chính thức mời ông hợp tác, và nhà văn đã nhận lời, bắt đầu cộng tác với các tạp chí uy tín như Người đưa tin phương Bắc, góp phần nâng cao vị thế của ông trong giới văn chương.

Quan điểm nghệ thuật của Nam Cao và của A Sêkhốp

1.3.1 Quan điểm nghệ thuật của Nam Cao

Nam Cao là nhà văn có ý thức trách nhiệm cao đối với nghề viết, thể hiện qua những trăn trở và ý thức sáng tạo trong tác phẩm Ngay từ những ngày đầu bước chân vào con đường sáng tạo, ông đã thể hiện rõ quan điểm nghệ thuật của mình và luôn giữ vững sự trung thành với quan điểm đó.

Nam Cao ban đầu đến với văn chương nhằm mục đích mưu sinh, nhưng ông không vì thế mà đánh mất giá trị và trách nhiệm của người cầm bút Viết văn, theo ông, là một nghề cần nhiệt huyết, trách nhiệm và một trái tim yêu đời, yêu người Đến năm 1941, với sự ra đời của truyện ngắn Chí Phèo, Nam Cao đã khẳng định khả năng sáng tạo trong thể loại hiện thực, chuyển đổi từ chủ nghĩa lãng mạn sang chủ nghĩa hiện thực một cách rõ nét Quá trình này thể hiện rõ qua các tác phẩm của ông, đặc biệt là truyện ngắn Trăng sáng, phản ánh sự thay đổi trong quan điểm nghệ thuật và bút pháp của ông.

Nam Cao là người khá kín tiếng và ít tham gia vào các tranh luận sôi động về nghệ thuật thời kỳ của mình, nhưng quan điểm của ông về văn chương được thể hiện rõ qua các tác phẩm tiêu biểu như Tráng sáng và Đời thừa Nguyễn Hoành Khung nhận xét rằng, dù Nam Cao không trực tiếp phát biểu về quan điểm nghệ thuật trong các cuộc tranh luận, nhưng qua những ý kiến rải rác trong các tác phẩm của ông, người đọc có thể thấy rõ sự nhất quán, tiến bộ và sâu sắc trong tư duy nghệ thuật của nhà văn Điều này phản ánh sự trăn trở, suy tư và thái độ nghiêm túc của Nam Cao trong việc cầm bút và thể hiện trách nhiệm với nghệ thuật.

Nam Cao thể hiện rõ quan điểm của mình về mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống, cho rằng nghệ thuật không thể là "ánh trăng lừa dối" thi vị hóa cuộc sống Ông phản ánh rằng ánh trăng huyền ảo làm đẹp những cảnh đời thường, xấu xa, nhưng đồng thời che giấu thực tại tàn nhẫn của nhân dân Cái đẹp và thi vị của trăng chỉ là vẻ bề ngoài, che giấu sự khốn khổ, đau thương của người nghèo, như trong tác phẩm "Trăng sáng" mô tả Nam Cao nhấn mạnh rằng nghệ thuật chân chính không cần lừa dối bằng những hình ảnh đẹp giả tạo, mà phải phản ánh đúng thực tế cuộc sống, đúng như quan điểm trong "Truyện người hàng xóm."

Nam Cao lên án gay gắt xu hướng thoát ly tiêu cực của văn chương lãng mạn, chỉ chạy theo cái đẹp, lẩn trốn vào tình yêu và quay lưng làm ngơ trước nỗi đau khổ của nhân dân Ông chế giễu những nhà tiểu thuyết viết về những chuyện phù phiếm như trăng hoa, cô gái ốm tương tư hay cậu con nhà giàu thất vọng vì tình Theo ông, tác phẩm của họ mang giọng điệu thất tình, chủ yếu dành cho những người phụ nữ chỉ biết ăn ngon, mặc đẹp mà không làm gì có ý nghĩa Nam Cao phản đối việc một số tác giả rời xa cuộc sống thực, chạy theo những hình thái nghệ thuật phù phiếm, thể hiện quan điểm nhân đạo rõ ràng về trách nhiệm của văn học trong việc phản ánh thực tế, đấu tranh vì cuộc sống chân thực của nhân dân.

Nam Cao lên án văn chương lãng mạn thoát ly khỏi thực tế, nhấn mạnh nghệ thuật phải trở về phản ánh chân thực cuộc sống Ông khẳng định rằng nghệ thuật chân chính phải nhìn thẳng vào sự thật, phản ánh cuộc sống đói khổ, cực nhọc của người lao động và tình trạng con người bị tha hóa bởi hoàn cảnh Theo Nam Cao, người cầm bút có lương tâm không thể trốn tránh hiện thực mà phải "đứng trong lao khổ, mở hồn ra đón lấy tất cả những vang động của đời" (Trăng sáng) Nguyên tắc thẩm mỹ của ông là trung thành với chân lý đời sống và hiện thực khách quan, như rõ nét trong truyện ngắn Đời thừa.

Vào năm 1943, Nam Cao thể hiện rõ hơn và sâu sắc hơn quan điểm nghệ thuật hiện thực của mình, cho rằng một tác phẩm có giá trị phải chứa đựng cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi Ông tin rằng sứ mệnh của nghệ thuật không chỉ phản ánh những khó khăn, bất công của xã hội mà còn thể hiện niềm vui, hạnh phúc của con người Với quan điểm này, Nam Cao đòi hỏi nghệ thuật phải chân thực, vị nhân sinh và gắn bó mật thiết với nhân dân, tự nguyện đứng trong lao khổ để đồng hành cùng người lao động Tác phẩm "Trăng sáng" chính là bản tuyên ngôn nghệ thuật sâu sắc, xúc động nói lên tâm huyết của ông về nghệ thuật hiện thực, nhân đạo, thể hiện rõ nguyện vọng từ bỏ con đường nghệ thuật thoát ly để trở về gắn bó chung thủy với nhân dân lao động nghèo khổ.

Nam Cao là một nhân cách lớn, một con người chân thật “trung thực vô ngần” (Tô Hoài), với bản lĩnh viết chân thật, không bị ảnh hưởng bởi sở thích hay thói quen của độc giả (Lê Văn Trương) Ông luôn viết đúng với những điều mình nghĩ, cảm nhận, phát hiện, thể hiện sự chân thành và sâu sắc trong từng tác phẩm, mang lại tính chân thật và ý nghĩa nhân sinh rõ nét Các nhà văn hiện thực thường nhấn mạnh vai trò của hoàn cảnh xã hội trong việc hình thành tính cách nhân vật, và trong sáng tác của Nam Cao, quan điểm này được thể hiện rõ nét Trong truyện ngắn “Tư cách mõ,” Nam Cao đã miêu tả quá trình anh Cu Lộ từ một nông dân hiền lành, chăm chỉ trở thành một thằng mõ đốn mạt, thể hiện rõ ảnh hưởng của hoàn cảnh xã hội đến tính cách của nhân vật.

Lộ mang trong mình vẻ ngoài và cốt cách của một người hiểu rõ vai trò của người mõ từ khi còn trong bụng mẹ, như thể sinh ra đã định sẵn để làm mõ Tuy nhiên, thực tế, Lộ là con của một ông quan tử tế, hoàn toàn không có tính cách ăn chơi hay rượu chè, mà chỉ chăm chỉ làm việc để nuôi vợ con Dù nghèo khó, nhưng tâm hồn Lộ trong sáng, không có thái độ kiêu căng hay tự cao tự đại Dù bị người khác dụ dỗ, lừa gạt để trở thành mõ, hoặc bị nhục mạ và coi thường, nhưng Lộ vẫn giữ vững nhân cách, cuối cùng đã trở thành một người mõ chân chính.

Nam Cao qua nhân vật Lộ nhận xét rằng, “hơn cả những thằng mõ chính tông”, thể hiện sự xem thường và khinh rẻ của xã hội đối với những người bị coi thường Ông khái quát rằng, lòng khinh trọng của chúng ta có ảnh hưởng rất lớn đến nhân cách của người khác, để thấy rõ tác động tiêu cực của sự coi nhẹ và khinh thường trong cách cư xử hàng ngày Đây là bài học về tầm quan trọng của thái độ và cảm xúc trong việc hình thành nhân cách và mối quan hệ xã hội.

Bài viết mô tả quá trình biến đổi đáng kể của nhân vật từ một người phụ nữ quê mùa, có tính cách xấu, lười biếng, thành bà Hưng Phú – người phụ nữ quý phái, có đức tính tốt đẹp, giàu sang, lịch thiệp Trước đây, bà Hưng Phú là vợ cũ của Hiệp, với hình ảnh xấu xí, cục mịch, và tính cách gian dối, luôn mang trong mình những thái độ thiếu lịch sự, kém cởi mở Trong mắt của Hiệp, bà là một người đàn bà xấu tính, mộc mạc, bị xã hội nhìn nhận qua những đặc điểm tiêu cực như vụng về, lười biếng, ăn cắp vặt và chẳng thể nói chuyện ý nghĩa Tuy nhiên, sau hơn mười năm thay đổi hoàn cảnh, bà Hưng Phú đã trở thành một người phụ nữ lịch sự, giỏi giao tiếp, có giáo dục, và có tâm hồn trắc ẩn – khiến chính người chồng cũ của mình cũng không thể nhận ra người vợ cũ ngày xưa.

Trong tác phẩm của mình, Nam Cao nhấn mạnh rằng tính cách con người chịu ảnh hưởng lớn từ hoàn cảnh xã hội và môi trường sống, thể hiện qua sự chuyển biến nội tâm của nhân vật như Lộ và bà Hưng Phú Ông lên tiếng phê phán những thành kiến ngu ngốc về con người và khẳng định rằng, một cô gái giang hồ hay người đàn bà lương thiện chỉ khác nhau bởi hoàn cảnh thay đổi, chứ không phải do bản chất cố định Qua đó, Nam Cao tạo nên một quan điểm mới về cuộc sống và con người, nhấn mạnh rằng thời thế và hoàn cảnh quyết định đặc trưng nhân cách của mỗi người.

Nam Cao là nhà văn luôn ý thức rõ về "đôi mắt" trong cách nhìn nhận hiện thực và lập trường của người cầm bút Trước cách mạng, trong truyện ngắn "Lão Hạc", ông từng phản ánh rằng nếu không hiểu rõ người xung quanh, chúng ta dễ dàng coi thường, khinh miệt họ mà không nhận thấy họ đáng thương Sau cách mạng, ý thức này càng trở nên sâu sắc hơn trong tác phẩm "Đôi mắt" (1948), nơi Nam Cao trực tiếp đề cao cách nhìn nhân dân lao động với thái độ nhân văn và tích cực hơn.

Trong cuộc kháng chiến, chủ yếu là người nông dân đã góp phần to lớn vào sự nghiệp đấu tranh chống xâm lược Tô Hoài nhận định rằng, “đôi mắt là một thứ tuyên ngôn nghệ thuật chung của lớp nghệ sĩ” thời kỳ này, thể hiện rõ lập trường cách mạng và kháng chiến của các văn nghệ sĩ tiểu tư sản Nhà văn Nam Cao thể hiện ý chí “vứt bút để cầm súng” (Bút ký đường vô Nam), thể hiện tinh thần sẵn sàng cống hiến hết mình cho công cuộc đấu tranh, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của người nghệ sĩ chính nghĩa trong giai đoạn này Khi bước vào cuộc kháng chiến, Nam Cao hiểu rằng con đường sáng tạo của mình là góp phần vào công việc không nghệ thuật hiện tại để chuẩn bị cho một nghệ thuật cao hơn trong tương lai (Nhật ký ở rừng), thể hiện ý thức công dân mạnh mẽ và trách nhiệm xã hội sâu sắc của người nghệ sĩ.

1.3.2 Quan điểm nghệ thuật của A Sêkhốp

Sêkhốp sinh ra và lớn lên trong giai đoạn đầy biến động của lịch sử nước Nga, sớm hòa nhập vào cuộc sống của thời đại, tiếp xúc với đời sống tiểu thị dân và là sinh viên trường y, hình thành một quan điểm nghệ thuật dựa trên hiện thực xã hội Ông cho rằng nghệ thuật phải phản ánh cuộc sống qua những hình ảnh đời thường, tầm thường và vặt vãnh, với một quan điểm hiện thực triệt để và nghiêm nhặt Trong cuộc sống, Sêkhốp luôn cố gắng vượt qua những thử thách để khẳng định chính mình, tôn trọng người khác, giữ vững phẩm giá và không khuất phục trước hoàn cảnh hay môi trường Ông luôn cảnh giác với nguy cơ tha hóa và dành cuộc đời để truyền đạt chí hướng vươn lên, viết ra những trang sách mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc Sêkhốp khuyên những nhà văn trẻ hãy miêu tả chân thực cuộc đời những con người thấp cổ bé họng, từ đó họ có thể vắt kiệt những giọt nô lệ trong tâm hồn để thức tỉnh thành tự chủ tự do Tâm nguyện và ý thức nghệ thuật của ông đã giúp ngòi bút thoát khỏi khuynh hướng cá nhân, bè phái và bóng dáng của những văn nhân lớn, qua đó, Gorki từng ca ngợi: “Tôi chưa từng biết ai tự do hơn anh”.

CÁI NHÌN NGHỆ THUẬT CỦA NAM CAO VÀ A SÊKHỐP VỀ HIỆN THỰC ĐỜI SỐNG

NGHỆ THUẬT ĐIỂN HÌNH HÓA TRONG TRUYỆN NGẮN

Ngày đăng: 21/08/2023, 01:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w