1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hóa học cơ sở lớp 10 bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh

115 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hóa học cơ sở lớp 10 bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh
Tác giả Hoàng Đăng Cường
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Xuân Trường
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Giáo dục học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 2. Mục đích nghiên cứu (11)
  • 4. Giả thuyết khoa học (12)
  • 5. Nhiệm vụ của đề tài (12)
  • 6. Phương pháp nghiên cứu (12)
  • 7. Những đóng góp mới của đề tài (12)
  • CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỰ HỌC (13)
    • 1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu (13)
      • 1.1.1. Quan điểm và tư tưởng về tự học trên thế giới (13)
      • 1.1.2. Quan điểm và tư tưởng về tự học trong lịch sử giáo dục Việt Nam (14)
      • 1.1.3. Quan điểm và tư tưởng về tự học đối với bộ môn Hóa học (15)
    • 1.2. Đổi mới phương pháp dạy học (17)
      • 1.2.1. Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học (17)
      • 1.2.2. Các xu hướng đổi mới phương pháp dạy học [5], [11] (18)
    • 1.3. Tự học (18)
      • 1.3.1. Khái niệm tự học [29] (18)
      • 1.3.2. Các hình thức của tự học [12], [13] (19)
      • 1.3.3. Chu trình tự học [15], [17] (24)
      • 1.3.4. Vai trò của tự học (26)
    • 1.4. Bài tập hóa học (27)
      • 1.4.1. Khái niệm bài tập hóa học (27)
      • 1.4.2. Tác dụng của BTHH [3], [5] (28)
      • 1.4.3. Phân loại BTHH [24], [30] (30)
      • 1.4.4. Hoạt động của học sinh trong quá trình tìm kiếm lời giải cho BTHH (31)
      • 1.4.5. Xu hướng phát triển của BTHH [5] (33)
    • 1.5. Tình hình sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ HS tự học hiện nay ở trường THPT (34)
      • 1.5.1. Mục đích điều tra (0)
      • 1.5.2. Đối tượng, phương pháp điều tra (34)
      • 1.5.3. Kết quả điều tra (34)
      • 2.1.1. Đảm bảo tính khoa học (0)
      • 2.1.2. Đảm bảo tính logic (37)
      • 2.1.3. Đảm bảo tính đầy đủ, đa dạng (0)
      • 2.1.4. Đảm bảo tính hệ thống của các dạng bài tập (0)
      • 2.1.5. Đảm bảo tính vừa sức (0)
      • 2.1.6. Phù hợp với điều kiện thực tế (38)
      • 2.1.7. Tạo điều kiện thuận lợi cho HS tự học (38)
      • 2.1.8. Bám sát nội dung dạy học (38)
      • 2.1.9. Chú trọng kiến thức trọng tâm (39)
      • 2.1.10. Gây hứng thú cho người học (39)
    • 2.2. Tuyển chọn, xây dựng hệ thống bài tập các chương Nguyên tử, Bảng tuần hoàn các nguyên tố - định luật tuần hoàn và Liên kết hóa học hổ trợ tự học cho học sinh lớp 10 (39)
      • 2.2.1. Bài tập tự luận và trắc nghiệm chương Nguyên tử (39)
      • 2.3.2. Bài tập tự luận và trắc nghiệm Chương liên kết hóa học (0)
  • CHƯƠNG 3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM (37)
    • 3.1. Mục đích thực nghiệm (94)
    • 3.2. Nhiệm vụ thực nghiệm (94)
    • 3.3. Tiến trình và nội dung thực nghiệm sư phạm (95)
      • 3.3.1. Chọn lớp thực nghiệm và lớp đối chứng (95)
      • 3.3.2. Trao đổi với giáo viên dạy thực nghiệm (95)
      • 3.3.3. Tiến hành thực nghiệm ................... Error! Bookmark not defined. Tổ chức kiểm tra (0)
      • 3.3.4. Nội dung thực nghiệm sư phạm (95)

Nội dung

Mục đích nghiên cứu

Hệ thống bài tập chương Nguyên tử, Bảng tuần hoàn - Định luật tuần hoàn và Liên kết hóa học được tuyển chọn và xây dựng nhằm hỗ trợ học sinh tự học, tự đánh giá trình độ của mình Nội dung này không chỉ giúp học sinh nắm vững kiến thức lý thuyết mà còn phát triển kỹ năng giải các dạng bài tập hóa học cơ sở lớp 10 Đồng thời, giáo viên có cơ sở hướng dẫn học sinh tự học hiệu quả, tiết kiệm thời gian trên lớp mà vẫn khai thác tối đa các khía cạnh lý thuyết và thực hành trong chương trình hóa học phổ thông.

Thực hiện đề tài này mang lại cơ hội để người viết nâng cao kiến thức và đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh Đồng thời, nó giúp rèn luyện năng lực tự học cho học sinh, góp phần nâng cao hiệu quả học tập và phát triển toàn diện.

3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

Quá trình dạy học Hóa học ở trường THPT

Hệ thống bài tập phần hóa học cơ sở ở trường THPT phục vụ cho việc bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh.

Giả thuyết khoa học

Xây dựng hệ thống bài tập chất lượng cao về Nguyên tử, Bảng tuần hoàn, định luật tuần hoàn và Liên kết hóa học phù hợp với trình độ học sinh là yếu tố quan trọng giúp giáo viên thành công trong việc phát triển năng lực tự học của học sinh Những bài tập linh hoạt và hợp lý sẽ thúc đẩy học sinh hình thành thói quen tự học, làm việc độc lập và chủ động trong việc tìm tòi, lĩnh hội kiến thức môn Hóa học Việc này không chỉ nâng cao hiệu quả giảng dạy mà còn giúp học sinh phát triển kỹ năng tự nghiên cứu và tư duy phản biện một cách bền vững.

Nhiệm vụ của đề tài

- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về phương pháp tự học

- Điều tra thực trạng việc hướng dẫn tự học cho HS trong quá trình dạy học hóa học ở một số trường THPT

Nghiên cứu nội dung chương trình hóa học đại cương nhằm xây dựng hệ thống bài tập phù hợp cho các chủ đề chính như nguyên tử, bảng tuần hoàn, định luật tuần hoàn và liên kết hóa học Các bài tập này nhằm mục đích bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh, giúp các em hiểu rõ kiến thức cơ bản và phát triển kỹ năng tự nghiên cứu Việc tuyển chọn và xây dựng hệ thống bài tập chất lượng sẽ hỗ trợ học sinh nâng cao khả năng tư duy logic, vận dụng kiến thức vào thực tế Đồng thời, dự án này góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy và giảng dạy tự học trong môn Hóa học, thúc đẩy sự chủ động và sáng tạo của học sinh trong quá trình học tập.

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả và tính khả thi của hệ thống bài tập đã đề xuất.

Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu để xây dựng phần cơ sở lý luận của đề tài

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Điều tra thực trạng việc tự học và trình độ của học sinh lớp 10 trường THPT

- Tham khảo, sưu tầm và tuyển chọn bài tập trong sách giáo khoa, sách tham khảo và đề kiểm tra, đề thi của học sinh lớp 10

Thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá chất lượng hệ thống bài tập đã biên soạn, từ đó xác định những bài tập phù hợp để nâng cao năng lực tự học của học sinh Quá trình này giúp đảm bảo các bài tập không chỉ nâng cao kiến thức mà còn phát triển kỹ năng tự học hiệu quả Việc đánh giá chính xác hệ thống bài tập đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng phương pháp giảng dạy phù hợp, thúc đẩy sự tự lập và tự tin của học sinh trong học tập.

6.3 Phương pháp thống kê toán học

Dùng phương pháp thống kê toán học xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm.

Những đóng góp mới của đề tài

Trong chương Nguyên tử, Bảng tuần hoàn, Định luật tuần hoàn và Liên kết hóa học lớp 10, việc tuyển chọn và xây dựng hệ thống bài tập phù hợp là yếu tố quyết định giúp học sinh nâng cao kiến thức và kỹ năng Các bài tập được thiết kế linh hoạt phù hợp với quá trình nhận thức đa cấp độ của học sinh từ thấp đến cao, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tự học hiệu quả Hướng dẫn tự học đi kèm giúp học sinh dễ dàng nắm bắt kiến thức cơ bản, đồng thời phát triển khả năng tư duy phản biện và liên hệ thực tiễn trong môn Hóa học.

Chương 7.2 đề xuất xây dựng các bộ đề giúp học sinh tự kiểm tra và đánh giá kết quả học tập, từ đó nâng cao khả năng tự nhận thức về tiến trình học tập của bản thân Trong khi đó, Chương 7.3 hướng tới việc sử dụng các bài tập nhằm rèn luyện tư duy hóa học hiệu quả, phát triển năng lực tự học của học sinh một cách bền vững Các nội dung này góp phần thúc đẩy quá trình học tập chủ động, tăng cường khả năng tự đánh giá và nâng cao năng lực tư duy logic trong học sinh.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỰ HỌC

Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Vấn đề tự học của HS đã được rất nhiều các nhà nghiên cứu quan tâm ở nhiều góc độ khác nhau

1.1.1 Quan điểm và tư tưởng về tự học trên thế giới

Vấn đề tự học đã được nghiên cứu từ rất sớm trong lịch sử giáo dục toàn cầu, cho thấy tầm quan trọng của việc tự học trong quá trình phát triển giáo dục Tự học vẫn là đề tài nóng bỏng được các nhà nghiên cứu quan tâm hiện nay và trong tương lai vì nó đóng vai trò quyết định thành công trong học tập Đây là yếu tố then chốt đảm bảo hiệu quả và chất lượng của mọi quá trình giáo dục và đào tạo.

John Dewey (1859-1952) đã phát biểu rằng "Học sinh là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục," nhấn mạnh vai trò trung tâm của học sinh trong quá trình dạy và học Theo quan điểm này, nhiều phương pháp giảng dạy tiên tiến đã ra đời, như phương pháp tích cực và phương pháp hợp tác, nhằm thúc đẩy hoạt động học tập tích cực, phát triển kỹ năng cộng tác và tư duy phản biện của học sinh Áp dụng những phương pháp này giúp tạo môi trường giáo dục hiện đại, phù hợp với xu hướng phát triển của giáo dục hiện đại.

Phương pháp cá thể hoá là các phương pháp giúp học sinh không chỉ tiếp cận kiến thức qua nghe giảng và học thuộc mà còn tự chủ động trong hoạt động tự học và khám phá tri thức Giáo viên đóng vai trò như người trọng tài, đạo diễn, thiết kế hoạt động giúp học sinh biết cách tự làm, tự học hiệu quả Đây là phương pháp khuyến khích sự tự chủ, sáng tạo và phát triển kỹ năng tự học của học sinh.

 T Makiguchi, nhà sư phạm nổi tiếng người Nhật Bản, trong những năm

Trong thế kỷ XX, có ý kiến cho rằng "Mục đích của giáo dục là hướng dẫn quá trình học tập và đặt trách nhiệm học tập vào tay mỗi học sinh." Giáo dục được xem như một quá trình giúp học sinh tự học một cách chủ động và hiệu quả Điều này nhấn mạnh vai trò của giáo dục trong việc phát triển khả năng tự lập và tự điều chỉnh trong quá trình học tập của học sinh.

 “Tự học như thế nào” của Rubakin, dịch giả là Nguyễn Đình Côi, xuất bản

1982 đã giúp bạn đọc biết tự học tập, nâng cao kiến thức toàn diện của mình

Gần đây, khá nhiều cuốn sách cũng đề cập đến vấn đề tự học

Cuốn “Phương pháp dạy và học hiệu quả” của Cark Rogers, nhà giáo dục học và nhà tâm lý học người Mỹ, đã cung cấp câu trả lời cho học sinh về cách học và nội dung học, giúp định hướng rõ ràng về phương pháp dạy và học hiệu quả Cuốn sách đã làm sáng tỏ câu hỏi “học cái gì và học như thế nào”, đồng thời trả lời rõ ràng về “dạy cái gì và dạy như thế nào”, góp phần nâng cao kỹ năng giảng dạy và học tập phù hợp và hiệu quả.

Hiểu biết đóng vai trò là sức mạnh thúc đẩy thành công, như được trình bày trong tác phẩm "Hiểu biết là sức mạnh của thành công" do Klas Mellander chủ biên Các tác giả đã làm rõ bí quyết của quá trình học tập, nhấn mạnh tầm quan trọng của tự học và hướng dẫn trong việc xây dựng kiến thức vững chắc, qua đó mở đường cho sự phát triển cá nhân và thành công bền vững.

5 bước cần thực hiện để giúp chúng ta dễ dàng hơn trong quá trình học hỏi

Năm 2008, cuốn “Tôi tài giỏi, bạn cũng thế!” của Adam Khoo, do Trần Đăng Khoa và Uông Xuân Vy dịch, đã được Nhà xuất bản Phụ nữ tái bản Cuốn sách này chứng minh khả năng trí tuệ tiềm ẩn và sự sáng tạo vượt xa giới hạn thông thường của con người Tác giả đã khẳng định rằng trí tuệ và sự thông minh không chỉ nằm trong giới hạn mà chúng ta thường nghĩ, mà còn tiềm ẩn và có thể được phát huy tối đa.

1.1.2 Quan điểm và tư tưởng về tự học trong lịch sử giáo dục Việt Nam Ở nước ta, tự học đã có từ thời phong kiến Truyền thống tự học là một bộ phận trong truyền thống hiếu học của nhân dân ta Vấn đề tự học được phát động, nghiên cứu nghiêm túc và rộng rãi từ năm 1945, mà chủ tịch Hồ chí Minh vừa là người khởi xướng vừa là tấm gương để mọi người noi theo Người từng nói “còn sống thì còn học” và “về cách học phải lấy tự học làm cốt” Sau đó, truyền thống tự học vẫn tiếp tục phát huy nhưng vẫn là khả năng tự học tự phát vì hồi đó chưa có chủ trương, chính sách chăm lo việc tự học, thầy giáo cũng không có trách nhiệm khơi dậy và phát triển năng lực tự học của HS Nhưng thực tiễn chứng minh rằng khả năng tự học tiềm tàng là rất dồi dào và nội lực cố gắng tìm học, tự học là nội lực quyết định đối với sự nghiệp giáo dục

GS.TSKH Nguyễn Cảnh Toàn là một tấm gương sáng về tự học ở nước ta

Bắt đầu là một giáo viên trung học vào năm 1947, ông đã tự học và tự nghiên cứu để trở thành nhà toán học nổi tiếng Ngoài việc đóng góp vào lĩnh vực toán học, ông còn viết nhiều bài về khoa học giáo dục và vấn đề tự học Ông nhấn mạnh rằng sự kiên trì và đam mê tự nghiên cứu là yếu tố quyết định thành công trong học tập và phát triển bản thân.

“học bao giờ cũng gắn liền với tự học, tự rèn luyện, coi trọng việc tự học, nêu cao những tấm gương tự học thành tài”

Trong những năm gần đây cũng đã xuất hiện một số bài viết về tự học

Trần Anh Tuấn đã trình bày bài viết "Vấn đề tự học của học sinh từ góc độ đánh giá chất lượng kỹ năng nghề nghiệp" đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục số 5 năm 1996 Bài viết nêu bật tầm quan trọng của khả năng tự học trong việc nâng cao chất lượng kỹ năng nghề nghiệp của học sinh Đồng thời, tác giả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tự học và đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động tự học hiệu quả trong giáo dục hiện đại Nội dung bài viết góp phần nâng cao nhận thức về vai trò của tự học trong việc phát triển kỹ năng nghề nghiệp cho học sinh, phù hợp với các tiêu chuẩn giáo dục hiện hành.

PGS.TSKH Thái Duy Tuyên và Trần Thị Trúc đã có bài viết quan trọng mang tên “Tổ chức dạy học trên lớp để giúp sinh viên tự học,” đăng trên Tạp chí Giáo dục số 123 năm 2005 Bài viết nhấn mạnh vai trò của việc tổ chức dạy học hiệu quả trong lớp để thúc đẩy khả năng tự học của sinh viên, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục Theo tác giả, việc áp dụng các phương pháp giảng dạy phù hợp và tạo không khí học tập tích cực giúp sinh viên phát triển kỹ năng tự nghiên cứu và tự lập trong học tập Nội dung bài viết cũng đề cập đến các chiến lược tổ chức lớp học linh hoạt, khích lệ sự chủ động của sinh viên, góp phần nâng cao hiệu quả học tập và chuẩn bị cho sinh viên những kỹ năng cần thiết trong công cuộc tự học và phát triển bản thân. -Khám phá giải pháp giảng dạy hỗ trợ tự học hiệu quả với Talkpal, đồng hành cùng bạn nâng cao kỹ năng học tập sinh viên [Learn more](https://pollinations.ai/redirect/2699274)

 Tác giả Võ Thành Phước có bài viết: “Các yếu tố ảnh hưởng đến việc tự học của của HS THCS” đăng trên Tạp chí Giáo dục số 201 năm 2008

PGS.TS Đỗ Xuân Thảo và Lê Hải Yến đã viết bài “Đọc sách hiệu quả - Một kỹ năng quan trọng để tự học thành công” đăng trên Tạp chí Giáo dục số 198 năm 2008 Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đọc sách một cách khoa học để nâng cao khả năng tự học Các tác giả chia sẻ những phương pháp giúp đọc sách hiệu quả, từ việc chọn lựa tài liệu phù hợp đến kỹ năng ghi chép và hệ thống lại kiến thức Việc đọc sách đúng cách góp phần phát triển tư duy sáng tạo, nâng cao kiến thức và kỹ năng, từ đó thúc đẩy thành công trong học tập và cuộc sống Nội dung bài viết phù hợp với các chiến lược SEO, tập trung vào từ khóa “đọc sách hiệu quả”, “kỹ năng tự học”, và “phát triển kỹ năng đọc”.

 Tác giả Võ Thành Phước có bài viết: “Quan niệm về tự học môn toán của

HS THCS” đăng trên Tạp chí Khoa học giáo dục số 32 năm 2008

TS Ngô Quang Sơn trong bài viết "Thiết kế và sử dụng hiệu quả tài liệu tự học điện tử ở các trường Cao đẳng và Đại học: Thực trạng và các biện pháp quản lý" đăng trên Tạp chí Khoa học Giáo dục số 43 năm 2009 phân tích thực trạng sử dụng tài liệu tự học điện tử trong các cơ sở đào tạo Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thiết kế nội dung phù hợp để nâng cao hiệu quả tự học của sinh viên Bài viết cũng đề xuất các biện pháp quản lý nhằm thúc đẩy việc sử dụng hiệu quả tài liệu điện tử, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đại học và cao đẳng tại Việt Nam.

 PGS.TS Nguyễn Văn Bản có bài viết: “Dạy phương pháp học cho HS” đăng trên Tạp chí Khoa học giáo dục số 50 năm 2009

TS Nguyễn Gia Cầu trong bài viết đăng trên Tạp chí Giáo dục số 237 năm 2009 đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bồi dưỡng cho học sinh tính tích cực và chủ động trong quá trình tự học văn Ông cho rằng, phát huy khả năng tự học của học sinh là yếu tố then chốt giúp các em nâng cao kỹ năng và yêu thích môn văn Để đạt được điều này, cần xây dựng các hoạt động học tập sáng tạo, khuyến khích sự chủ động của học sinh trong việc tiếp cận và phân tích nội dung văn học Đồng thời, giáo viên cần tạo môi trường học tập tích cực, kích thích sự ham muốn khám phá kiến thức của học sinh để hình thành thói quen tự học và phát triển năng lực tự lập trong học tập môn văn.

Bên cạnh đó, một số cuốn sách về tự học cũng được xuất bản như :

Thu Giang và Nguyễn Duy Cần đã đúc kết những kinh nghiệm quý báu trong quá trình tự học, chia sẻ 8 nguyên tắc giúp nâng cao hiệu quả làm việc và học tập Những nguyên tắc này giúp người học tự chủ động, phát triển kỹ năng tự học, từ đó đạt được thành công bền vững Áp dụng các nguyên tắc này, học viên sẽ hình thành thói quen làm việc khoa học, tối ưu hóa thời gian và nâng cao chất lượng kiến thức.

Đổi mới phương pháp dạy học

1.2.1 Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học

Trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nền kinh tế Việt Nam đang chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang thị trường có sự quản lý của nhà nước Sự thay đổi này đòi hỏi ngành giáo dục cần đổi mới để đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực phù hợp với xã hội phát triển.

Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 4 (khóa VII) nhấn mạnh tầm quan trọng của việc khuyến khích tự học và áp dụng các phương pháp giáo dục hiện đại để phát triển năng lực tư duy sáng tạo và giải quyết vấn đề của học sinh Định hướng này đã được pháp chế hóa trong Luật giáo dục điều 24.2, trong đó quy định phương pháp giáo dục phổ thông phải thúc đẩy tính tích cực, tự giác và sáng tạo của học sinh, đồng thời bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến cảm xúc và tạo niềm vui học tập Tuy nhiên, đến nay, việc đổi mới phương pháp dạy học trong các trường phổ thông theo hướng này chưa thực sự được triển khai rộng rãi, chủ yếu vẫn dựa trên hình thức dạy học truyền thống, thụ động Do đó, nhà trường cần phải thay đổi toàn diện các nội dung, phương pháp và tổ chức dạy học để nâng cao chất lượng đào tạo, phù hợp với thị trường lao động ngày càng biến đổi của xã hội.

1.2.2 Các xu hướng đổi mới phương pháp dạy học [5], [11]

Một số xu hướng đổi mới phương pháp dạy học trên thế giới và ở nước ta hiện nay là:

1 Phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng tạo của người học Chuyển trọng tâm hoạt động từ GV sang HS Chuyển lối học từ thông báo tái hiện sang sáng tạo, tìm tòi, khám phá

2 Cá thể hóa việc dạy học

3 Sử dụng tối ưu các phương tiện dạy học đặc biệt là tin học và công nghệ thông tin vào dạy học

4 Tăng cường khả năng vận dụng kiến thức vào đời sống Chuyển từ lối học nặng về tiếp nhận kiến thức sang lối học coi trọng việc vận dụng kiến thức

5 Cải tiến việc kiểm tra - đánh giá kết quả dạy học

6 Phục vụ ngày càng tốt hơn hoạt động tự học và phương châm học suốt đời

7 Gắn dạy học với nghiên cứu khoa học với mức độ ngày càng cao (theo sự phát triển của HS, theo cấp học, bậc học)

Trong 7 xu hướng đổi mới trên thì việc phát huy tính tích cực và khả năng tự học của HS đang là những xu hướng đổi mới quan trọng về phương pháp dạy học hiện nay

Tự học

Theo từ điển Giáo dục học của Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa (2001), tự học được định nghĩa là quá trình tự mình hoạt động để lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kỹ năng thực hành Đây là phương pháp học tập chủ động, giúp người học phát triển khả năng tự quản lý và nâng cao kiến thức một cách hiệu quả Tự học không chỉ giúp mở rộng kiến thức mà còn thúc đẩy sự tự lập và sáng tạo trong quá trình học tập.

Tự học là một phần quan trọng của quá trình học tập, phản ánh rõ nhất nhu cầu bức xúc về học của người học và thể hiện tính tự giác cùng sự nỗ lực của họ Theo Tiến sĩ Võ Quang Phúc, tự học được hình thành thông qua các thao tác, cử chỉ, ngôn ngữ và hành động của người học trong hệ thống tương tác của hoạt động dạy học Nó còn phản ánh năng lực tổ chức, tự điều khiển của người học để đạt được kết quả nhất định trong những hoàn cảnh và mức độ học tập cụ thể.

Tự học được định nghĩa là quá trình cá nhân tự giác, tích cực và độc lập trong việc tự chiếm lĩnh kiến thức ở một lĩnh vực cụ thể trong cuộc sống Quá trình này dựa trên hành động của chính người học nhằm đạt được mục tiêu riêng, góp phần phát triển năng lực và nâng cao hiểu biết một cách tự chủ.

Tự học thể hiện qua việc tự đọc tài liệu giáo khoa, sách báo các loại, nghe radio, truyền hình, xem phim, kịch, tham quan bảo tàng, triển lãm và giao tiếp với những người có học, chuyên gia hoặc hoạt động thực tiễn trong các lĩnh vực khác nhau Người tự học cần biết cách lựa chọn tài liệu phù hợp, tìm ra điểm chính và điểm quan trọng, ghi chép cần thiết, viết tóm tắt và làm đề cương, đồng thời biết tra cứu từ điển và tài liệu tham khảo trong thư viện Đối với học sinh, tự học còn bao gồm làm các bài tập chuyên môn, tham gia câu lạc bộ, nhóm thực nghiệm và các hoạt động ngoại khóa khác Tự học đòi hỏi sự độc lập, tự chủ, tự giác và kiên trì cao để phát triển kiến thức và kỹ năng một cách hiệu quả.

1.3.2 Các hình thức của tự học [12], [13]

Theo tài liệu Lí luận dạy học, tự học có 3 hình thức :

- Tự học không có hướng dẫn: Người học tự tìm lấy tài liệu để đọc, hiểu, vận dụng các kiến thức trong đó

- Tự học có hướng dẫn: Có GV ở xa hướng dẫn người học bằng tài liệu hoặc bằng các phương tiện thông tin khác

Tự học có hướng dẫn trực tiếp giúp học viên nắm vững kiến thức qua các tài liệu học tập và các buổi gặp mặt trực tiếp với giáo viên Trong những tiết học này, giáo viên sẽ hướng dẫn giảng giải các nội dung cần thiết, sau đó học sinh có thể về nhà để tự ôn tập, củng cố kiến thức đã học Phương pháp này kết hợp giữa học tự lập và sự hỗ trợ từ thầy cô, tạo điều kiện học tập hiệu quả hơn.

Theo tài liệu của Khoa y sinh học - Trường Đại học TDTT Bắc Ninh, hoạt động tự học diễn ra dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau:

Hình thức 1 Cá nhân tự mày mò theo sở thích và hứng thú độc lập không có sách và sự hướng dẫn của GV

Hình thức tự nghiên cứu của các nhà khoa học là quá trình tự chủ hoàn toàn trong việc khám phá và sáng tạo tri thức mới, thể hiện đỉnh cao của hoạt động tự học Để đạt được trình độ này, nhà nghiên cứu phải dựa trên niềm đam mê khám phá, có vốn kiến thức rộng và sâu, không phụ thuộc vào thầy và sách vở Người học tự học hiệu quả bằng cách cọ sát trực tiếp với thực tiễn, từ đó tổ chức và điều chỉnh hoạt động nghiên cứu của mình một cách linh hoạt và sáng tạo.

Hình thức 2 Tự học có sách nhưng không có GV bên cạnh Ở hình thức tự học này có thể diễn ra ở hai mức:

Thứ nhất, tự học theo sách mà không có sự hướng dẫn của thầy:

Người học tự học để hiểu và thấm nhuần kiến thức trong sách, từ đó phát triển tư duy một cách độc lập Tự học hoàn toàn qua sách là mục tiêu quan trọng để xây dựng xã hội học tập suốt đời Phương pháp học này giúp nâng cao khả năng tự lập, mở ra cơ hội tiếp cận tri thức mọi lúc, mọi nơi và thúc đẩy sự phát triển bền vững của cộng đồng học tập.

Thứ hai, tự học có thầy ở xa hướng dẫn:

Mặc dù thầy ở xa, nhưng vẫn duy trì các mối quan hệ trao đổi thông tin hiệu quả với trò qua nhiều phương tiện, từ truyền thống đến hiện đại Các phương tiện này giúp phản ánh và giải đáp các thắc mắc của học sinh, đồng thời hỗ trợ làm bài, kiểm tra và đánh giá hiệu quả quá trình học tập từ xa Nhờ đó, việc duy trì liên lạc giữa thầy và trò vẫn đảm bảo sự liên kết chặt chẽ và nâng cao chất lượng giảng dạy.

Hình thức tự học kết hợp sách vở và sự hướng dẫn trực tiếp của giảng viên trong một số tiết học, sau đó sinh viên tự học tại nhà dưới sự hỗ trợ gián tiếp của giảng viên, giúp phát triển khả năng tự lập trong học tập Trong quá trình học tập trên lớp, vai trò của thầy là nhân tố hỗ trợ, tạo điều kiện thúc đẩy sinh viên tự chiếm lĩnh tri thức và phát triển năng lực Sinh viên đóng vai trò là chủ thể của quá trình nhận thức, với tinh thần tự giác, tích cực, say mê và sáng tạo trong học tập Mối quan hệ giữa thầy và trò thể hiện sự cân bằng giữa Nội lực và Ngoại lực, trong đó Ngoại lực chỉ đóng vai trò là chất xúc tác thúc đẩy Nội lực phát triển mạnh mẽ hơn.

Trong quá trình tự học tại nhà, mặc dù người học không gặp trực tiếp giảng viên, nhưng nhờ sự hướng dẫn gián tiếp của thầy cô, họ cần phát huy tính tích cực, tự giác và chủ động lên kế hoạch để vận dụng tối đa trí tuệ và kỹ năng của bản thân nhằm hoàn thành các yêu cầu đề ra Tự học theo hình thức này liên kết chặt chẽ với yêu cầu của giảng viên, được giảng viên định hướng về nội dung và phương pháp phù hợp để người học thực hiện hiệu quả Quá trình tự học của sinh viên trong hình thức thứ ba này có mối liên hệ mật thiết với quá trình dạy học, chịu tác động bởi nhiều yếu tố, trong đó có vai trò của tổ chức và quản lý quá trình giảng dạy của giảng viên cũng như kỷ luật tự học của sinh viên.

Theo GS.TSKH Nguyễn Cảnh Toàn, khi đã có hệ thống sách giáo khoa (SGK), việc tự học có thể thực hiện theo ba cách chính, giúp nâng cao hiệu quả học tập Các phương pháp này được trình bày trong tác phẩm "Học và dạy cách học" của Nguyễn Cảnh Toàn cùng các cộng sự, nhằm hỗ trợ người học phát triển kỹ năng tự lập và tự chủ trong quá trình học tập Việc áp dụng các phương pháp này không chỉ giúp học sinh nắm vững kiến thức mà còn phát triển khả năng tự khám phá, phân tích và tư duy độc lập Đây là những nguyên tắc quan trọng để xây dựng hệ thống tự học hiệu quả trong giáo dục hiện đại, góp phần nâng cao chất lượng học tập của học sinh.

Có sách giáo khoa sẵn, người học có thể tự đọc và hiểu sâu các kiến thức, qua đó rút ra bài học về tư duy và tự phê bình tính cách như thiếu kiên trì, thiếu tư duy tiến công, dễ thỏa mãn, thể hiện mức tự học cao.

Có sách giáo khoa (SGK) đi kèm và các thầy cô ở xa hướng dẫn tự học thông qua tài liệu hoặc phương tiện thông tin viễn thông, giúp học sinh nắm vững kiến thức một cách hiệu quả Hướng dẫn tự học không chỉ tập trung vào việc truyền đạt kiến thức mà còn hướng dẫn tư duy để chiếm lĩnh kiến thức một cách có hệ thống Ngoài ra, quá trình tự học còn bao gồm việc tự phê bình, đánh giá tính cách của bản thân trong quá trình tiếp cận kiến thức, từ đó phát triển kỹ năng tự học có hướng dẫn.

Trong quá trình học, học sinh có cơ hội gặp thầy cô trực tiếp một số tiết nhất định trong ngày hoặc trong tuần Hình thức học tập này chính là sự kết hợp giữa việc học trực tiếp không qua trung gian công nghệ và sự hỗ trợ ít nhiều của các thiết bị điện tử đặt tại lớp Thầy cô hướng dẫn học sinh trong quá trình trên lớp, đồng thời cung cấp hướng dẫn tự học tại nhà để đảm bảo quá trình tiếp thu kiến thức được liên tục và hiệu quả.

Trong quá trình học tập, thuận lợi của người học tăng dần từ cách 1 đến cách 3, nhưng thực tế cho thấy sự vật rất biện chứng, khó khăn và thuận lợi có thể chuyển hóa lẫn nhau Ở cách 1, người học gặp nhiều khó khăn, đôi khi không biết hỏi ai để giải đáp những vấn đề, khiến họ phải lúng túng và mất nhiều thời gian, nhưng chính những lúng túng này thúc đẩy nội lực của người học phát triển mạnh mẽ hơn Trong khi đó, cách thứ 3 mang lại nhiều thuận lợi nhất, tuy nhiên, nếu thầy không cảnh giác và làm thay trò những việc trò có thể tự làm, hoặc trò ỷ lại vào thầy khi gặp khó khăn, thì thuận lợi đó có thể biến thành trở ngại, gây ảnh hưởng đến quá trình học tập hiệu quả.

Theo http://webdayhoc.net, tự học có các hình thức sau :

- Tự học hoàn toàn (không có GV)

Thông qua tài liệu, qua tìm hiểu thực tế, học kinh nghiệm của người khác

Bài tập hóa học

1.4.1 Khái niệm bài tập hóa học

Trong thực tiễn ở trường phổ thông, bài tập đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo Bài tập không chỉ là mục đích, nội dung và phương pháp dạy học hiệu quả mà còn giúp học sinh tiếp cận kiến thức, khám phá và tìm ra đáp số, tạo ra niềm vui sướng và hứng thú nhận thức Đặc biệt, trạng thái hưng phấn và tâm lý tích cực khi học tập góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động thực tiễn của học sinh, điều này được chú trọng nhiều trong hệ thống giáo dục của các nước phát triển.

BTHH (bài tập hướng hành động) là khái niệm quan trọng trong giáo dục, đặc biệt là đối với giáo viên trong việc sử dụng bài tập để nâng cao hiệu quả giảng dạy về trí tuệ và đạo đức Theo từ điển tiếng Việt, bài tập là yêu cầu của chương trình nhằm giúp học sinh vận dụng kiến thức đã học và giải quyết vấn đề bằng phương pháp khoa học Một số tài liệu lý luận dạy học thường nhấn mạnh việc sử dụng bài tập hóa học định lượng, là những bài tập có tính toán đòi hỏi học sinh thực hiện các phép tính nhất định để nâng cao kỹ năng thực hành và tư duy phản biện.

Theo các nhà lý luận dạy học Liên Xô cũ, bài tập bao gồm cả câu hỏi và bài toán giúp học sinh vừa nắm bắt kiến thức mới vừa hoàn thiện kỹ năng thông qua các hoạt động như trả lời miệng, viết hoặc thực nghiệm Trong giáo dục Việt Nam, sách giáo khoa và sách tham khảo thường sử dụng khái niệm “bài tập” dựa trên quan điểm này, nhấn mạnh vai trò của bài tập trong quá trình học tập và phát triển kỹ năng của học sinh.

Trong quá trình dạy học, để phát huy tối đa tác dụng của phương pháp BTHH, người giáo viên cần sử dụng và hiểu nó dựa trên quan điểm hệ thống và lý thuyết hoạt động Bài tập chỉ trở thành đối tượng hoạt động của học sinh khi nó phù hợp với trình độ và nhu cầu của người giải, nghĩa là một bài tập phù hợp với học sinh lớp 1 sẽ không phù hợp với học sinh lớp 10, và ngược lại Mối quan hệ giữa bài tập và người học là một hệ thống chặt chẽ, thống nhất, trong đó bài tập trở thành đối tượng hoạt động của chủ thể khi có một người giải nó vì nhu cầu và mong muốn thực hiện, tạo nên sự liên kết chặt chẽ giữa nội dung và hoạt động của người học.

Bài tập là một hệ thống thông tin chính xác, gồm hai tập hợp gắn bó chặt chẽ với nhau, đó là các điều kiện và các yêu cầu Quá trình này thể hiện mối quan hệ tác động qua lại giữa các yếu tố, giúp đảm bảo tính chính xác và hiệu quả trong việc hoàn thành nhiệm vụ Hiểu rõ các điều kiện và yêu cầu là chìa khóa để xây dựng một hệ thống bài tập hiệu quả và phù hợp với mục tiêu đề ra.

- Người giải (hệ giải) bao gồm hai thành tố là cách giải và phương tiện giải (các cách biến đổi, thao tác trí tuệ, )

Hình 1.2 Sơ đồ cấu trúc của hệ bài tập

Trong sách giáo khoa và tài liệu lý luận dạy học bộ môn, bài tập thường được hiểu là những bài luyện tập được chọn lựa phù hợp nhằm nghiên cứu các hiện tượng hóa học, hình thành khái niệm mới, phát triển tư duy hóa học và rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn học sinh.

BTHH là phương tiện dạy học hiệu quả, giúp học sinh vận dụng kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống, sản xuất và nghiên cứu Đây là một trong những phương pháp cơ bản nhằm phát triển kỹ năng thực hành, nâng cao khả năng sáng tạo và tư duy phản biện cho học sinh Việc sử dụng BTHH không chỉ giúp học sinh hiểu bài sâu sắc hơn mà còn thúc đẩy khả năng giải quyết các vấn đề thực tiễn, phù hợp với yêu cầu nâng cao năng lực học tập trong nhà trường.

Bài tập Những điều kiện

Người giải Phương pháp giải

Phương tiện giải khoa học giúp biến những kiến thức đã học qua bài giảng thành kiến thức của chính bản thân người học Theo nhận định của M.A Đanilôp, kiến thức sẽ được nhớ lâu và hiểu sâu khi học sinh thường xuyên vận dụng vào thực tế, đặc biệt qua việc làm bài tập lý thuyết và thực hành Việc vận dụng kiến thức một cách thành thạo không chỉ giúp củng cố kiến thức mà còn nâng cao khả năng vận dụng trong các tình huống thực tế, góp phần nâng cao hiệu quả học tập.

Đào sâu và mở rộng kiến thức đã học một cách sinh động, phong phú giúp học sinh hiểu rõ và chuẩn bị tốt hơn cho bài tập Chỉ khi vận dụng kiến thức vào giải bài tập, học sinh mới nắm vững kiến thức một cách sâu sắc và toàn diện, từ đó nâng cao kỹ năng học tập và tư duy logic.

- Là phương tiện để ôn tập, củng cố, hệ thống hoá kiến thức một cách tốt nhất

Rèn luyện kỹ năng hóa học cho học sinh bao gồm các kỹ năng cốt lõi như viết và cân bằng phương trình phản ứng chính xác, kỹ năng tính toán dựa trên công thức và phương trình hóa học để nâng cao năng lực hiểu biết Bên cạnh đó, phát triển kỹ năng thực hành thực tế như cân, đo, đun nóng, nung, sấy, lọc và nhận biết hóa chất giúp học sinh nắm vững kiến thức thực tiễn và tăng khả năng ứng dụng trong thực tế.

Phát triển năng lực nhận thức và rèn luyện trí thông minh cho học sinh đòi hỏi họ phải hiểu sâu vấn đề để nắm bắt toàn diện nội dung Các bài tập có tình huống đặc biệt, ngoài cách giải thông thường, còn thúc đẩy học sinh sáng tạo và tư duy sắc sảo khi tìm các cách giải độc đáo Thường xuyên yêu cầu học sinh giải bài bằng nhiều phương pháp, như tìm cách giải ngắn nhất hoặc hay nhất, giúp rèn luyện khả năng tư duy linh hoạt và sáng tạo Khi học sinh phân tích và áp dụng nhiều cách giải khác nhau từ các góc độ khác nhau, khả năng tư duy của các em sẽ được nâng cao gấp nhiều lần so với việc chỉ giải nhiều bài toán bằng một phương pháp duy nhất mà không phân tích sâu.

BTHH còn được sử dụng như một phương tiện nghiên cứu tài liệu mới để hình thành khái niệm và định luật mới, giúp học sinh tích cực, tự lực và lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc và bền vững Điều này thể hiện rõ khi học sinh thực hiện các bài tập thực nghiệm định lượng, từ đó nâng cao khả năng ứng dụng kiến thức vào thực tiễn.

- BTHH phát huy tính tích cực, tự lực của HS và hình thành phương pháp học tập hợp lý

- BTHH còn là phương tiện để kiểm tra kiến thức, kỹ năng của HS một cách chính xác

BTHH góp phần giáo dục đạo đức, tác phong và rèn luyện tính kiên nhẫn, trung thực, chính xác theo phương pháp khoa học Đồng thời, nó thúc đẩy sự sáng tạo và phong cách làm việc khoa học, có tổ chức và kế hoạch rõ ràng Nhờ đó, học sinh nâng cao hứng thú học tập bộ môn, đặc biệt thể hiện rõ qua quá trình giải bài tập thực nghiệm.

Một BTHH chưa có tác dụng gì nếu chưa được sử dụng đúng cách, vì không phải một BTHH "hay" luôn mang lại tác dụng tích cực Hiệu quả của BTHH phụ thuộc chủ yếu vào cách người sử dụng nó áp dụng và khai thác, chứ không hoàn toàn nằm ở bản chất của chính BTHH đó.

Để đạt hiệu quả trong quá trình giảng dạy, cần biết cách trao đổi đúng đối tượng và khai thác triệt để mọi khía cạnh của bài toán Điều này giúp học sinh tự mình tìm ra cách giải, từ đó phát huy tối đa khả năng tư duy và sáng tạo Khi học sinh chủ động khám phá và hiểu rõ vấn đề, phương pháp Bồi dưỡng tư duy hệ thống (BTHH) mới phát huy hết ý nghĩa và mang lại hiệu quả rõ rệt trong việc học tập.

Tình hình sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ HS tự học hiện nay ở trường THPT

Trong giáo dục hóa học ở trường THPT, việc hiểu rõ hình thức sử dụng hệ thống bài tập là rất quan trọng để nâng cao hiệu quả dạy học Các phương pháp giảng dạy kết hợp bài tập như tiết luyện tập và tiết tự chọn giúp học sinh phát triển kỹ năng vận dụng kiến thức một cách linh hoạt Giáo viên thường xuyên sử dụng các tiết học có tích hợp bài tập để hỗ trợ quá trình tiếp thu và ghi nhớ kiến thức của học sinh một cách hiệu quả hơn Áp dụng phương pháp này không chỉ giúp tăng cường sự hiểu biết mà còn thúc đẩy khả năng tự học và tư duy sáng tạo của học sinh trong môn Hóa học.

- Nắm được cách GV hướng dẫn HS giải bài tập trên lớp, các dạng bài tập mà

GV đã sử dụng trong các tiết bài tập cũng như việc hướng dẫn HS tự học

1.5.2 Đối tượng, phương pháp điều tra

Dưới đây là các đối tượng được nghiên cứu chính trong đề tài: hoạt động dạy và học các tiết học sử dụng bài tập tại các trường THPT Tân Kỳ – Tân Kỳ (Nghệ An), THPT Lê Lợi và THPT Yên Thành 3 Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá phương pháp giảng dạy hiệu quả, sự tham gia của học sinh và tác động của bài tập đến kết quả học tập tại các trường trung học phổ thông này Kết quả sẽ giúp nâng cao chất lượng giảng dạy và phát triển chiến lược phù hợp trong giáo dục trung học phổ thông ở khu vực.

- Phương pháp điều tra: Phát phiếu điều tra cho các giáo viên dạy hóa học ở các trường nói trên

+ Những ý kiến của giáo viên về việc sử dụng hệ thống bài tập ở trường THPT nhằm hỗ trợ HS tự học

+ Các phương pháp dạy học được giáo viên sử dụng khi dạy các tiết có sử dụng bài tập

Dựa trên kết quả khảo sát ban đầu (phiếu khảo sát trong phụ lục 1 của luận văn) về việc sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ học sinh tự học, chúng tôi nhận thấy rằng hệ thống này góp phần nâng cao khả năng tự chủ và tự quản lý học tập của học sinh, đồng thời thúc đẩy quá trình tự nghiên cứu và học hỏi độc lập Việc ứng dụng hệ thống bài tập hỗ trợ đã giúp học sinh tiếp cận kiến thức một cách linh hoạt hơn, từ đó cải thiện kết quả học tập rõ rệt Các phản hồi từ học sinh cũng cho thấy họ đánh giá cao tính tiện lợi và hiệu quả của hệ thống trong việc hỗ trợ quá trình tự học.

Theo khảo sát, có tới 67% giáo viên không tự biên soạn hệ thống bài tập mới mà chủ yếu sử dụng các bài tập trong SGK, SBT hoặc từ internet, ít khi biên soạn lại để phù hợp với lớp học của mình Trong khi đó, chỉ có 33% giáo viên tự xây dựng hệ thống bài tập, nhưng phần lớn trong số họ ít chú trọng việc phân chia bài theo từng nội dung kiến thức của chương hoặc dạng bài tập, đặc biệt là các bài sau mỗi bài học nhằm hỗ trợ học sinh tự học ở nhà và làm rõ lý thuyết Điều này cho thấy sự thiếu linh hoạt trong thiết kế bài tập phù hợp với từng đối tượng học sinh.

Trong việc sử dụng bài tập, có đến 73% giáo viên chú trọng đảm bảo kiến thức cơ bản cho học sinh, giúp các em nắm chắc kiến thức nền tảng Khoảng 12% giáo viên tập trung vào việc đảm bảo điểm số trong kiểm tra, sử dụng bài tập như một công cụ kiểm tra năng lực của học sinh Tuy nhiên, việc hướng dẫn học sinh tự rút ra quy luật giải toán, khuyến khích các em nhìn nhận vấn đề hoặc bài toán dưới nhiều góc độ khác nhau, cũng như giúp học sinh vượt qua chướng ngại về nhận thức thông qua phát hiện và giải quyết vấn đề vẫn chưa nhận được sự quan tâm đúng mức từ phía giáo viên.

Trong việc hướng dẫn học sinh giải bài tập tại lớp, có đến 58% giáo viên vẫn áp dụng phương pháp truyền thống, trong đó giáo viên hướng dẫn mẫu bài, yêu cầu học sinh làm theo hoặc gọi học sinh lên bảng giải bài và xác nhận bài của học sinh Số giáo viên cho phép học sinh thảo luận nhóm rồi yêu cầu thành viên nhóm thuyết trình chỉ chiếm 27% Thực tế, việc giáo viên gợi ý để học sinh tự xây dựng quy trình luận giải hoặc để học sinh tự suy nghĩ cách giải bài tập chiếm tỷ lệ khá thấp, phản ánh cần cải thiện phương pháp hướng dẫn phù hợp hơn nhằm nâng cao khả năng tự học và tư duy độc lập của học sinh.

Trong quá trình giảng dạy, giáo viên thường thiết kế các tiết học sử dụng hệ thống bài tập để luyện tập, ôn tập hoặc tự chọn, giúp học sinh củng cố kiến thức hiệu quả Các tiết học này thường bao gồm việc học sinh sửa bài tập trong sách giáo khoa, làm thêm bài tập nâng cao hoặc hệ thống hóa kiến thức đã học qua các bài kiểm tra cũ Việc áp dụng hệ thống bài tập không chỉ giúp học sinh nắm vững kiến thức mà còn nâng cao kỹ năng tự học, chuẩn bị tốt hơn cho các kỳ thi.

Dựa trên số liệu và ý kiến từ giáo viên, nhận thấy học sinh chưa được hướng dẫn phương pháp tự học thông qua hệ thống bài tập, do giáo viên chưa chỉ dẫn cách xây dựng tiến trình luận giải hoặc khuyến khích nhìn nhận bài tập từ nhiều góc độ khác nhau Các em thường bị áp đặt phương pháp giải và không được hướng dẫn tự học ở nhà, dẫn đến hạn chế trong khả năng tự lập trong học tập Ngoài ra, công tác biên soạn và sử dụng bài tập hỗ trợ tự học của giáo viên chưa được quan tâm đúng mức do áp lực điểm số, thi cử, chương trình nặng và thiếu cơ sở vật chất, khiến việc sử dụng bài tập chỉ như một công cụ kiểm tra kiến thức và phục vụ đánh giá thi cử hiện nay.

Trong chương này chúng tôi đã trình bày những vấn đề cơ bản về cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

- Quan điểm và tư tưởng về tự học trên thế giới, trong lịch sử giáo dục Việt Nam và đối với nhà hóa học

- Đổi mới phương pháp dạy học : Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy và học, các xu hướng đổi mới phương pháp dạy và học

- Tự học: Khái niệm, các hình thức tự học, chu trình tự học của HS, vai trò của tự học

- BTHH: Khái niệm, phân loại, tác dụng BTHH, hoạt động của HS trong quá trình tìm kiếm lời giải cho BTHH, xu hướng phát triển của BTHH

Kết quả điều tra về thực trạng sử dụng hệ thống BTHH trong việc hỗ trợ học sinh tự học tại trường THPT cho thấy cần thiết phải phát triển hệ thống hỗ trợ học sinh tự học để vượt qua những khó khăn gặp phải khi giải bài tập hình học Việc áp dụng hệ thống BTHH giúp nâng cao khả năng tự học và khắc phục những hạn chế trong quá trình giải bài tập của học sinh Đồng thời, hệ thống hỗ trợ này góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học, tạo điều kiện thuận lợi để học sinh nắm vững kiến thức hình học một cách dễ dàng hơn.

Chúng tôi nhận thấy việc xây dựng và sử dụng hệ thống hỗ trợ tự học (HTBT) là xu hướng đổi mới quan trọng trong giảng dạy môn Hóa học hiện nay Hệ thống này giúp học sinh tự học hiệu quả hơn, nâng cao khả năng tự chủ trong học tập và đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học Áp dụng HTBT góp phần thúc đẩy đổi mới phương pháp giảng dạy môn Hóa học, phục vụ tốt hơn cho quá trình phát triển năng lực của học sinh.

TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP VỀ NGUYÊN TỬ - BẢNG TUẦN HOÀN - LIÊN KẾT HÓA HỌC NHẰM

BỒI DƢỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC

SGK Hóa học là nguồn tri thức cơ bản giúp học sinh tiếp cận kiến thức một cách có hệ thống và hiệu quả Nó cũng là công cụ quan trọng để giáo viên tổ chức các hoạt động dạy học nhằm nâng cao chất lượng kiến thức, phát triển khả năng tự học và tự lĩnh hội kiến thức của học sinh Hiện nay, SGK Hóa học ở Việt Nam đã được biên soạn thành tài liệu đầy đủ, chứa đựng mục tiêu, nội dung và phương pháp giảng dạy, mặc dù vẫn nặng về phần nội dung bài học Để hỗ trợ học sinh tự học và nâng cao kết quả học tập, khi xây dựng hệ thống bài tập và hoạt động bổ trợ, chúng tôi đặc biệt chú trọng các nguyên tắc phù hợp nhằm thúc đẩy khả năng tự học, tự lĩnh hội kiến thức của học sinh một cách hiệu quả và bền vững.

2.1.1 Đảm bảo t nh khoa học Đảm bảo tính khoa học là nguyên tắc chủ yếu của việc lựa chọn nội dung Theo nguyên tắc này, bảo đảm tính cơ bản là phải đưa vào hệ thống BTHH những kiến thức cơ bản về hoá học Bảo đảm tính hiện đại tức là phải đưa trình độ của môn học đến gần trình độ của khoa học, đưa vào hệ thống BTHH những quan điểm cơ bản của kiến thức hoá học, đảm bảo tính đúng đắn và tính hiện đại của các sự kiện được lựa chọn Điều kiện quan trọng để thực hiện nguyên tắc này là tính hệ thống của kiến thức, thiết lập mối liên hệ giữa các kiến thức, kĩ năng; dùng phương pháp khái quát hoá để diễn đạt kiến thức; tập trung vào kiến thức trọng tâm,

Tính logic được hiểu đơn giản là sự hợp lý trong việc chọn nội dung kiến thức phù hợp với đối tượng sử dụng HTBT, đặc biệt là học sinh học chương trình nâng cao Ngoài ra, tính logic còn thể hiện qua cách trình bày các kiến thức một cách rõ ràng, dễ hiểu và cấu trúc hợp lý HTBT cần được trình bày một cách tinh gọn, giúp học sinh dễ dàng tiếp thu và vận dụng kiến thức một cách hiệu quả.

2.1.3 Đảm bảo t nh đầy đủ, đa dạng

- Thông qua HTBT, HS tái hiện hầu hết các kiến thức cần nhớ

- Đầy đủ các dạng bài tập thường gặp

2.1.4 Đảm bảo t nh hệ thống của các dạng bài tập

Sắp xếp các dạng bài tập một cách hợp lý, có trình tự rõ ràng nhằm giúp người học dễ dàng nhận diện mối liên hệ giữa các phần Việc tổ chức các bài tập liên tục và có hệ thống không chỉ nâng cao hiệu quả học tập mà còn giúp người dùng thấy rõ các bộ phận trong nội dung đều liên kết chặt chẽ với nhau, tạo nên sự liền mạch và dễ hiểu Điều này đảm bảo quá trình học tập diễn ra một cách có tổ chức và hiệu quả hơn, thúc đẩy sự tiếp thu kiến thức một cách toàn diện.

2.1.5 Đảm bảo t nh vừa sức

Tính vừa sức cần hiểu theo 2 khía cạnh :

Chọn bài tập phù hợp với trình độ học sinh, với độ khó vừa phải, giúp học sinh phát huy khả năng của mình mà không gây nản chí Nếu bài tập quá dễ, học sinh dễ ỷ lại, còn nếu quá khó thì dễ bỏ cuộc giữa chừng Giáo viên cần đưa ra những bài tập có tính hệ thống, kết hợp củng cố lý thuyết và hướng dẫn cách giải cụ thể cho từng dạng bài, đi kèm đáp số để hỗ trợ học sinh nâng cao kỹ năng làm bài và tự tin hơn trong học tập.

THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

Ngày đăng: 21/08/2023, 01:04

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w