1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nông dân nghệ an với phong trào thi đua yêu nước từ năm 2015

126 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nông dân Nghệ An với phong trào thi đua yêu nước từ năm 2015
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Quang Hồng
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2016
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề (5)
  • 3. Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ của đề tài (6)
  • 4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu (7)
  • 5. Đóng góp của đề tài (8)
  • 6. Bố cục của đề tài (9)
  • B. NỘI DUNG (10)
  • Chương 1: BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA PHONG TRÀO (10)
    • 1.1. Vài nét về điều kiện tự nhiên, xã hội (10)
    • 1.2. Bối cảnh lịch sử và sự ra đời của phong trào thi đua yêu nước (12)
  • Chương 2. NÔNG DÂN NGHỆ AN VỚI PHONG TRÀO THI ĐUA YÊU NƯỚC TỪ NĂM 1948 ĐẾN NĂM 1975 (23)
    • 2.1. Khái quát đóng góp của nông dân Nghệ An trước khi Chủ tịch Hồ Chí (23)
    • 2.2. Nông dân Nghệ An tích cực tham gia phong trào thi đua yêu nước từ năm (30)
    • 2.3. Nông dân Nghệ An tham gia các phong trào thi đua yêu nước từ năm 1954-1964 (34)
      • 2.3.1. Thời kỳ từ năm 1954 đến 1960 (34)
      • 2.3.2. Thời kỳ từ năm 1961 đến 1965 (45)
    • 2.4. Nông dân Nghệ An với các phong trào thi đua yêu nước từ năm 1965 đến năm 1975 (53)
      • 2.4.1. Thời kỳ từ năm 1965 đến 1973 (53)
      • 2.4.2. Thời kỳ từ năm 1973 đến 1975 (71)
    • 3.3. Nông dân Nghệ An với các phong trào thi đua yêu nước từ năm 1986 đến năm 2015 (90)
      • 3.3.1. Thời kỳ từ năm 1986 đến 1991 (90)
      • 3.3.2. Thời kỳ từ năm 1991 đến 1995 (95)
      • 3.3.3. Thời kỳ từ năm 1995 đến 2000 (100)
      • 3.3.4. Thời kỳ từ năm 2000 đến 2015 (102)
  • KẾT LUẬN (116)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (118)

Nội dung

Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Phong trào thi đua yêu nước là chủ đề nhận được sự quan tâm lớn từ các nhà khoa học và nhà nghiên cứu, với nhiều bài viết và công trình nghiên cứu đa dạng về mặt nội dung và phạm vi Trong số đó, các nghiên cứu về "Phong trào thi đua ái quốc" đóng vai trò quan trọng trong việc phân tích ý nghĩa và ảnh hưởng của phong trào này đối với sự phát triển đất nước Các công trình này giúp làm rõ các nguyên nhân thúc đẩy phong trào thi đua yêu nước, cũng như các hình thức và kết quả đạt được từ các phong trào thi đua trên nhiều lĩnh vực khác nhau Đánh giá các thành tựu và bài học kinh nghiệm từ phong trào thi đua yêu nước còn góp phần nâng cao hiệu quả công tác thi đua, khơi dậy ý chí tự hào dân tộc và phát huy sức mạnh tập thể trong cộng đồng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh có vai trò trung tâm trong phong trào thi đua yêu nước, thể hiện qua các bài viết và lý luận của nhiều tác giả như Lê Quang Thiệu, Nguyễn Văn Tạo, và các tổ chức như Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần thúc đẩy phong trào thi đua yêu nước trở thành lực lượng quan trọng trong công cuộc phát triển đất nước và xây dựng đất nước theo con đường chủ nghĩa Mác-Lênin Các tác phẩm của ông đã khẳng định ý nghĩa của thi đua yêu nước như một phương tiện khích lệ tinh thần lao động, sáng tạo và đoàn kết của nhân dân Việt Nam Ngoài ra, các tài liệu lịch sử còn nhấn mạnh vai trò của Đảng và Bác Hồ trong việc định hướng, phát triển và duy trì phong trào thi đua yêu nước cũng như công tác thi đua khen thưởng nhằm thúc đẩy thành tích và phát huy các phong trào thi đua trong thời kỳ đổi mới.

Sự thật, Hà Nội, 1958; Trần Thương Hoàng - Luận án Tiến sĩ năm 2004; Thi đua ái quốc - Một nhân tố thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 -

1954) của tác giả Nguyễn Tố Uyên (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 4/(229)/1998); Chủ tịch Hồ Chí Minh với phong trào thi đua yêu nước của

Nghiên cứu Lịch sử, số 6(386)/2008;

- "Lịch sử phong trào nông dân và Hội nông dân thành phố Vinh",

Nguyễn Quang Hồng, Nhà Xuất bản Nghệ An, Vinh năm 2015

"Lịch sử phong trào nông dân và Hội nông dân Nghệ An Nghệ An", Nhà xuất bản Nghệ An, Vinh năm 2015; "Lịch sử Đảng bộ tỉnh Nghệ An" tập

Tác phẩm "Lịch sử Đảng bộ tỉnh Nghệ An" gồm nhiều tập, trong đó tập II được xuất bản bởi Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia năm 1998 và tập III ra mắt bởi Nhà xuất bản Nghệ An năm 2008 Ngoài ra, tác phẩm cũng bao gồm một phần quan trọng do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia phát hành năm 1999 Các tài liệu này góp phần ghi nhận và khẳng định quá trình phát triển, lịch sử của Đảng bộ tỉnh Nghệ An qua từng giai đoạn.

Các tác phẩm nghiên cứu chủ yếu tập trung giới thiệu các bài nói, bài viết và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cùng tài liệu của Đảng và Nhà nước về phong trào thi đua yêu nước từ khi phát động Tuy nhiên, các công trình này chưa đi sâu vào nghiên cứu lịch sử phát triển cụ thể của phong trào thi đua yêu nước ở từng vùng, từng địa phương cũng như thành tựu đạt được Lịch sử phong trào thi đua yêu nước còn chưa được phân tích đầy đủ, chưa thể hiện rõ quá trình hình thành và phát triển, cũng như chưa chứng minh rõ vai trò của phong trào trong công cuộc bảo vệ độc lập và xây dựng đất nước Mặc dù vậy, các công trình này đã mở ra nhiều vấn đề để nghiên cứu, cung cấp nguồn tài liệu tham khảo quan trọng giúp người viết, người nghiên cứu có thể hiểu, đánh giá và tiếp cận các khía cạnh khác nhau của phong trào thi đua yêu nước một cách toàn diện hơn.

Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu Đề tài “Nông dân Nghệ An với phong trào thi đua yêu nước", từ năm

Từ năm 1948 đến 2015, bài viết tập trung làm rõ bối cảnh lịch sử thúc đẩy phong trào thi đua yêu nước do Đảng và Chính phủ phát động Các hoạt động này đã góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế, xã hội và lòng tự hào dân tộc Phong trào thi đua yêu nước không chỉ nâng cao ý chí cách mạng mà còn thúc đẩy sự đoàn kết, sáng tạo trong cộng đồng Những đóng góp to lớn của phong trào đã góp phần vào thành tựu chung của đất nước qua từng giai đoạn phát triển.

Phong trào thi đua yêu nước của nông dân Nghệ An ra đời trong những năm kháng chiến chống Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong phong trào đấu tranh của nông dân Quá trình phát triển của phong trào thể hiện qua các hình thức đa dạng, nội dung phong phú, đặc điểm nổi bật và kết quả thiết thực góp phần cổ vũ tinh thần yêu nước, tăng cường sức mạnh đoàn kết của nhân dân Tác dụng của phong trào thi đua yêu nước không chỉ giúp thúc đẩy cuộc kháng chiến chống ngoại xâm thành công mà còn có ý nghĩa lớn trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay Phong trào góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nông dân, đồng thời là động lực thúc đẩy phong trào yêu nước và xây dựng đất nước vững mạnh.

Chuyên đề nghiên cứu về phong trào thi đua yêu nước bắt đầu từ thời điểm phong trào được phát động cho đến hiện tại, phản ánh quá trình phát triển và những bước tiến quan trọng của phong trào này trong suốt nhiều năm qua Việc phân tích các thời kỳ khác nhau giúp làm rõ ý nghĩa của phong trào thi đua yêu nước đối với sự tiến bộ của đất nước, cũng như những thành tựu đạt được qua các giai đoạn Nghiên cứu này không chỉ tập trung vào thời gian phát động ban đầu mà còn xem xét sự duy trì, mở rộng phong trào trong cộng đồng và các lĩnh vực khác nhau cho tới ngày nay.

Đề tài nghiên cứu xác định rõ các yêu cầu cần thiết dẫn đến sự hình thành phong trào thi đua, phản ánh chủ trương của Đảng và Chính phủ về thi đua yêu nước Phong trào thi đua yêu nước của nông dân Nghệ An từ năm 1948 đến 2015 đã góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội địa phương, nâng cao đời sống nông dân và khích lệ tinh thần đoàn kết, sáng tạo trong cộng đồng Nghiên cứu cũng làm rõ quá trình phát triển, kết quả đạt được và vai trò của phong trào trong việc thúc đẩy phong trào thi đua yêu nước, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tài liệu Để hoàn thành đề tài này, chúng tôi dựa vào những nguồn tài liệu cơ bản sau:

Các văn kiện của Đảng, Nhà nước về phong trào thi đua yêu nước và công tác thi đua khen thưởng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phong trào thi đua của đất nước Những tài liệu như Văn kiện Đảng toàn tập, Hồ Chí Minh toàn tập cùng các công trình nghiên cứu khác đã xác định rõ các nguyên tắc, chính sách và phương hướng phát triển của phong trào thi đua yêu nước Việc nghiên cứu, vận dụng các văn kiện này giúp nâng cao hiệu quả công tác thi đua khen thưởng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa và xây dựng đất nước ngày càng vững mạnh.

- Các tác phẩm, bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phong trào thi đua yêu nước;

Một số bài viết về phong trào thi đua yêu nước đã được đăng tải trên các tạp chí như Nghiên cứu Lịch sử, Lịch sử Đảng và Thi đua yêu nước, phản ánh chiều sâu và các khía cạnh đa dạng của phong trào Những hồ sơ, tài liệu lưu trữ do các cơ quan Đảng, Chính phủ, Nhà nước và các bộ ngành ban hành trong quá trình hình thành và phát triển của phong trào thi đua yêu nước hiện được bảo quản tại các Trung tâm Lưu trữ tỉnh, đóng vai trò là nguồn tài liệu quan trọng, cung cấp thông tin chính xác và đầy đủ cho quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài.

Trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic để phân tích và làm sáng tỏ các vấn đề nghiên cứu Bên cạnh đó, các phương pháp như phân tích, tổng hợp, thống kê và so sánh cũng được áp dụng nhằm làm rõ nội dung và nâng cao hiệu quả của quá trình nghiên cứu.

Đóng góp của đề tài

Nghiên cứu này tập trung vào sự ra đời và phát triển của phong trào thi đua yêu nước của nông dân Nghệ An từ năm 1948 đến 2015, nhấn mạnh vai trò và đóng góp của nông dân trong các cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cũng như trong quá trình hội nhập phát triển đất nước hiện nay Phong trào thi đua yêu nước của nông dân Nghệ An đã đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy phong trào cách mạng và phát triển kinh tế - xã hội địa phương Các phong trào thi đua đã góp phần nâng cao nhận thức, tinh thần đoàn kết, tự lực tự cường của nông dân Nghệ An trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước Nghiên cứu còn làm rõ ý nghĩa và tác dụng của phong trào thi đua yêu nước đối với sự phát triển bền vững của đất nước, thể hiện vai trò chủ đạo của nông dân trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế.

Phong trào thi đua yêu nước của nông dân Nghệ An có lịch sử phát triển lâu dài và phong phú, phản ánh tinh thần đoàn kết, năng động và sáng tạo của người nông dân qua các thời kỳ Các tài liệu tham khảo cho thấy rằng phong trào này đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp và cải thiện đời sống cộng đồng Lịch sử phong trào thi đua yêu nước của nông dân Nghệ An là minh chứng rõ nét cho ý chí vươn lên vượt khó và tinh thần cách mạng của nhân dân địa phương trong suốt nhiều giai đoạn lịch sử.

Từ năm 1948 đến 2015, nông dân Nghệ An đã thể hiện tinh thần thi đua yêu nước xuất sắc trong các giai đoạn lịch sử, từ hai cuộc chiến tranh đến thời kỳ xây dựng và phát triển đất nước Những tấm gương điển hình tiêu biểu của nông dân Nghệ An là minh chứng rõ nét cho tinh thần yêu nước nồng nàn, góp phần vào thành tựu chung của quê hương và đất nước Thể hiện vai trò quan trọng trong các phong trào thi đua yêu nước, họ đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao đời sống cộng đồng và xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.

Tài liệu này là nguồn tư liệu quan trọng góp phần tuyên truyền và thúc đẩy phong trào nông dân cùng Hội Nông dân phát động thi đua sản xuất, làm giàu cho bản thân và quê hương Đây cũng là cơ sở để nhân rộng các mô hình thi đua của nông dân Nghệ An trong tình hình mới, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế địa phương.

Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung chính được trình bày trong ba chương

Chương 1: Quan điểm của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về phong trào thi đua yêu nước

Chương 2: Nông dân Nghệ An với phong trào thi đua yêu nước từ năm

Chương 3: Nông dân Nghệ An với các phong trào thi đua yêu nước từ sau đại thắng mùa xuân 1975 đến năm 2015

NỘI DUNG

Nghệ An nằm ở trung tâm vùng Bắc Trung Bộ, có vị trí chiến lược nối liền các tỉnh phía Bắc, phía Nam, phía Tây và biển Đông Tỉnh giáp với tỉnh Thanh Hóa ở phía Bắc qua ranh giới dài 182 km, phía Nam tiếp giáp tỉnh Hà Tĩnh với ranh giới 91 km, phía Tây giáp 3 tỉnh của Lào gồm Bô Li Khăm Xay, Hủa Phăn, Xiêng Khoảng với tổng chiều dài biên giới 419 km, và phía Đông hướng ra biển Đông, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế, giao thương và du lịch.

Tỉnh có diện tích lớn nhất cả nước, rộng 1.648.997,1 ha, với địa hình đa dạng, phức tạp và chia cắt mạnh bởi các đồi núi cùng hệ thống sông suối Địa hình phân bố theo ba vùng sinh thái chính: miền núi, trung du và đồng bằng ven biển, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản toàn diện cũng như đa dạng hóa các loại hình nông thôn, đô thị Vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, đới gió mùa chí tuyến và vùng á đới mang lại mùa đông lạnh rõ rệt, tạo điều kiện phát triển các ngành kinh tế dựa trên thế mạnh của từng vùng sinh thái Tuy nhiên, tỉnh thường xuyên chịu tác động của các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt như bão, lụt, hạn hán, gió Phơn Tây Nam khô nóng, lũ ống lũ quét và xâm nhập mặn, gây ảnh hưởng tiêu cực đến năng suất cây trồng, vật nuôi và hoạt động sinh hoạt của người dân.

Với mạng lưới sông ngòi dày đặc, toàn tỉnh có 6 con sông chính chảy ra biển gồm sông Cả, sông Cấm, sông Bùng, sông Thái, sông Mơ (sông Đò Ông) và sông Hoàng Mai Trong đó, sông Cả là con sông lớn nhất, đóng vai trò quan trọng trong hệ thống thủy lợi và phát triển kinh tế của địa phương Hệ thống sông ngòi có giá trị lớn đối với việc phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững của tỉnh.

1 Niên giám thống kê 2014, tháng 6 2015

BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA PHONG TRÀO

Vài nét về điều kiện tự nhiên, xã hội

Nghệ An nằm ở trung tâm vùng Bắc Trung Bộ, với vị trí địa lý chiến lược tiếp giáp với nhiều tỉnh thành quan trọng Phía Bắc, tỉnh giáp Thanh Hóa với chiều dài đường biên giới 182 km, trong khi phía Nam giáp Hà Tĩnh với chiều dài 91 km Phía Tây, Nghệ An có đường biên giới dài 419 km tiếp giáp với ba tỉnh của Lào gồm Bô li khăm xay, Hủa phăn và Xiêng Khoảng Phía Đông, tỉnh hướng ra biển Đông, mở ra cơ hội phát triển du lịch và kinh tế biển.

Vĩnh Phúc là tỉnh có diện tích lớn nhất cả nước với 1.648.997,1 ha, nổi bật với địa hình đa dạng, phức tạp, chia cắt mạnh bởi hệ thống đồi núi và sông suối Toàn tỉnh có ba vùng sinh thái chính gồm miền núi, trung du và đồng bằng ven biển, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản toàn diện, đồng thời phong phú về các mô hình nông thôn, đô thị đa dạng Với khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, đới khí hậu gió mùa chí tuyến và có mùa đông lạnh, Vĩnh Phúc có đặc thù khí hậu phân hóa rõ rệt theo mùa, tạo điều kiện phát triển thế mạnh của từng vùng sinh thái và liên hoàn trong tổ chức lãnh thổ kinh tế Tuy nhiên, khí hậu tỉnh cũng đối mặt với nhiều hiện tượng thời tiết bất lợi như bão, lũ lụt, hạn hán, gió Phơn Tây Nam khô nóng, lũ ống, lũ quét và xâm nhập mặn, gây ảnh hưởng tiêu cực đến năng suất cây trồng, vật nuôi và sinh hoạt của người dân.

Với mạng lưới sông ngòi dày đặc, toàn tỉnh có 6 con sông lớn chảy ra biển, bao gồm sông Cả, sông Cấm, sông Bùng, sông Thái, sông Mơ (sông Đò Ông) và sông Hoàng Mai Trong đó, sông Cả là con sông lớn nhất, đóng vai trò quan trọng trong hệ thống thủy nền của tỉnh Hệ thống sông ngòi này có giá trị lớn đối với phát triển kinh tế nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, đóng góp đáng kể vào sự phát triển khu vực.

Theo Niên giám Thống kê 2014, đến tháng 6 năm 2015, các hồ đập và kênh mương đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nước tưới cho đồng ruộng và tiêu úng trong mùa mưa Diện tích mặt nước phong phú tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nuôi trồng thủy sản, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế của địa phương.

Nghệ An có đặc điểm địa hình, sông ngòi và nguồn nước thuận lợi, tạo điều kiện phát triển thủy lợi và thủy điện hiệu quả Các dòng sông trong khu vực có vị trí địa lý và địa chất phù hợp để xây dựng hồ chứa nước lớn, nhằm điều tiết nguồn nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt, giảm thiểu tác động của lũ lụt, đồng thời phát triển nguồn năng lượng điện từ thủy điện.

Các dòng sông hẹp và dốc gây hạn chế khả năng điều hòa nguồn nước mặt, ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản Thủy chế không đều và phân bổ thiếu đồng đều theo vùng và theo mùa khiến khu vực thường xuyên gặp phải các tình trạng hạn hán, lũ lụt.

Các điều kiện kinh tế - xã hội của Nghệ An đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy sự phát triển của ngành nông lâm thủy sản Những lợi thế này ảnh hưởng trực tiếp đến phân bố và hoạt động sản xuất của các ngành kinh tế nông nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng bền vững tại địa phương.

Nghệ An là tỉnh có quy mô dân số lớn thứ 4 trong cả nước, với hơn 3 triệu dân chủ yếu sống ở khu vực nông thôn chiếm tỉ lệ 84,9%, trong khi dân cư đô thị chiếm 15,1% Mật độ dân số trung bình đạt 184 người/km², cao nhất ở Quỳnh Lưu với 596 người/km² và thấp nhất ở Tương Dương với 26 người/km² Với đặc điểm dân cư đông đúc và người dân cần cù, chịu thương chịu khó trong lao động, Nghệ An trở thành nguồn cung lao động dồi dào, góp phần thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế nông lâm thủy sản.

Hoạt động khoa học công nghệ tập trung vào việc ứng dụng tiến bộ khoa học để phục vụ sản xuất và đời sống, đặc biệt trong các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản Các dự án chuyển giao công nghệ đạt hiệu quả cao trong việc phát triển giống cây trồng như lúa, ngô, đậu, cam và cỏ, cũng như mở rộng đàn bò lai, bò sữa, tôm, cua, cá và nhập khẩu các giống mới để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

2 Niên giám thống kê 2014, tháng 6 2015 chế biến nông lâm thủy sản

Việc ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất đã tạo ra những sản phẩm chất lượng cao như lạc nhân, chè khô, cà phê nhân, cao su mủ khô, sữa bò, góp phần nâng cao tính cạnh tranh trên thị trường Công nghệ mới thúc đẩy phát triển các trang trại, hộ nông dân sản xuất hàng hóa và các vùng chuyên canh, vùng nguyên liệu cho chế biến nông lâm thủy sản xuất khẩu ra nhiều nước trong khu vực và thế giới.

Tỉnh Nghệ An đã triển khai nhiều chính sách phát triển kinh tế - xã hội nhằm hướng tới công nghiệp hóa và hiện đại hóa Các chính sách nổi bật bao gồm hỗ trợ đầu tư vào phát triển nông nghiệp và nông thôn, xây dựng nông thôn mới và xóa đói giảm nghèo, cũng như chuyển giao công nghệ để thúc đẩy sự đổi mới sáng tạo Những nỗ lực này đã tạo ra sự thay đổi tích cực ở khu vực nông thôn, góp phần thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp tại địa phương.

Tỉnh có những thuận lợi và điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế như lực lượng lao động trình độ thấp và chưa đáp ứng yêu cầu phát triển Việc nâng cao tay nghề cho nông dân và ứng dụng công nghệ mới trong nông nghiệp cũng như các ngành kinh tế khác còn chậm Lực lượng lao động chưa thực sự tiếp cận với cơ chế thị trường, đồng thời tính công nghiệp hóa trong sản xuất còn thấp Mức sống của người dân giữa các vùng miền còn chênh lệch lớn, đời sống người dân miền núi, vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn so với đô thị Tỷ lệ thất nghiệp và việc làm chưa ổn định vẫn còn cao, đặc biệt ở khu vực nông thôn Tuy nhiên, hoạt động nông lâm thủy sản đã đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, giúp địa phương ngày càng vững mạnh qua các giai đoạn lịch sử.

Bối cảnh lịch sử và sự ra đời của phong trào thi đua yêu nước

Cách mạng Tháng Tám thành công đã chấm dứt gần một nghìn năm chế độ phong kiến phong kiến đặc quyền, đưa Việt Nam từ thuộc địa nửa phong kiến trở thành một nước độc lập, dân chủ cộng hòa, biến nhân dân từ thân phận nô lệ thành người làm chủ vận mệnh dân tộc Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba Đình, chính thức khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra kỷ nguyên mới của độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội Nhân dân Việt Nam tự hào, tin tưởng và sẵn sàng đấu tranh bảo vệ quyền làm chủ của mình và nhà nước mới, dựa trên truyền thống anh dũng, cần cù, nhanh nhẹn và sự lãnh đạo sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh Mặc dù gặp muôn vàn thử thách khó khăn lúc mới thành lập, nhưng với truyền thống đoàn kết và tinh thần cách mạng, nhân dân Việt Nam đã vượt qua, góp phần xây dựng và bảo vệ chính quyền, hướng tới sự phát triển bền vững của đất nước.

Về đối ngoại, quân đồng minh vào giải giáp quân Nhật và tiến vào Việt Nam, từ vĩ tuyến 16 trở lên như Hà Nội và các tỉnh phía Bắc, có gần 20 vạn quân Tưởng, đi cùng là các tổ chức phản động như Việt Quốc và Việt Cách nhằm tiêu diệt Đảng Cộng sản, phá tan Việt Minh, lật đổ chính quyền nhân dân và lập chính quyền tay sai Trong khi đó, từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam, quân Anh đã tạo điều kiện và hỗ trợ để thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam.

Vào ngày 23/9/1945, quân Pháp bắt đầu cuộc xâm lược lần thứ hai tại Nam Bộ bằng việc nổ súng chiếm đóng, tận dụng tình hình hỗn loạn để mở rộng ảnh hưởng Trong bối cảnh đó, các phần tử phản động trong nước nổi lên, chống phá cách mạng nhằm lợi dụng thời điểm này để chống phá chính quyền mới Bên cạnh quân Pháp, cả nước còn có khoảng 60.000 quân Nhật đang chờ giải giáp, nhưng một phần trong số này theo lệnh của quân Anh đã chống lại lực lượng vũ trang của Nam Bộ, tạo điều kiện để quân Pháp mở rộng phạm vi chiếm đóng tại khu vực miền Nam Việt Nam.

Chính quyền cách mạng mới thành lập, chưa củng cố, đất nước còn yếu về mọi mặt do kinh tế nghèo nàn, lạc hậu dưới ách thống trị của thực dân và phát xít, khiến tình hình ngày càng tồi tệ hơn do chiến tranh tàn phá Thiên tai, hạn hán, lũ lụt liên tiếp gây hậu quả nghiêm trọng, khiến hơn một nửa diện tích đất đai không thể sản xuất Nhiều xí nghiệp công nghiệp vẫn nằm trong tay tư bản Pháp, khiến sản xuất chưa được khôi phục, hàng hóa khan hiếm, giá cả tăng cao, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là nạn đói cuối năm 1944 – đầu năm 1945 cướp đi sinh mạng của hơn 2 triệu người Ngân sách nhà nước gần như trống rỗng, chỉ còn hơn 1,2 triệu đồng trong kho bạc, trong khi chính quyền chưa kiểm soát được Ngân hàng Đông Dương Đồng thời, quân Trung Hoa Dân quốc đã tung ra các loại tiền của Trung Quốc mất giá, làm tình hình tài chính đất nước thêm phần rối loạn.

Sau Cách mạng tháng Tám, Việt Nam đối mặt với những khó khăn nặng nề do di sản của chế độ thực dân phong kiến để lại, hơn 90% dân số mù chữ và các tệ nạn xã hội phổ biến, đặt đất nước trong tình thế cực kỳ nguy cấp Đảng và Chính phủ đã thúc đẩy phong trào thi đua sản xuất, mở lớp Bình dân học vụ để xóa mù chữ, đồng thời tận dụng sách lược ngoại giao khéo léo của Chủ tịch Hồ Chí Minh để đạt được các hiệp định tạm ước với Pháp nhằm giữ gìn hòa bình và xây dựng đất nước Tuy nhiên, thực dân Pháp ngày càng lấn tới, liên tiếp phá hoại các thỏa thuận và gây ra xung đột, đặc biệt ngày 18/12/1946, chúng gửi tối hậu thư đòi Chính phủ Việt Nam giải tán lực lượng tự vệ và giao thủ đô cho chúng Trước hành động xâm lược trắng trợn đó, nhân dân Việt Nam đã đứng lên kháng chiến bằng vũ khí để giữ gìn độc lập, tự do, bảo vệ thành quả cách mạng và xây dựng đất nước trong thời kỳ mới.

Ngày 18 và 19/12/1946, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp ở Vạn Phúc (Hà Đông) do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì đã quyết định phát động cuộc toàn quốc kháng chiến chống Pháp và đề ra những vấn đề cơ bản về đường lối kháng chiến chống Pháp, ngay đêm 19/12/1946, Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, đặt nền móng cho cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp bảo vệ độc lập dân tộc và xây dựng chế độ mới Cuộc kháng chiến toàn dân bắt đầu với tinh thần tự lực cánh sinh, kết hợp vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, đồng thời duy trì sản xuất và xây dựng tiềm lực kinh tế đất nước Trong thời kỳ chiến tranh, các phong trào thi đua lập công đã thể hiện tinh thần chiến đấu cao của quân dân, góp phần tạo nên chiến thắng ở chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947, chuyển đổi cục diện chiến trường từ phòng thủ sang phản công, củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thắng lợi của chiến dịch Việt Bắc là thành tựu quan trọng đầu tiên của quân và dân Việt Nam, thể hiện rõ nét tinh thần yêu nước và quyết tâm kháng chiến chống ngoại xâm Nó đánh dấu bước ngoặt quan trọng, khẳng định sức mạnh của phong trào cách mạng và lòng nhiệt huyết của nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập Thành công này góp phần nâng cao tinh thần chiến đấu, thúc đẩy hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ của cuộc kháng chiến và sự nghiệp cách mạng.

Dựa trên thực tiễn phong trào, nhận thức rõ cần thúc đẩy tinh thần thi đua yêu nước và thống nhất lãnh đạo, ngày 27/3/1948, Ban Thường vụ Trung ương Đảng dưới sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Chỉ thị phát động phong trào thi đua ái quốc trên toàn quốc Chỉ thị nhằm khích lệ sự sáng tạo, lòng nhiệt huyết cách mạng, khích lệ các tầng lớp nhân dân nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của cuộc kháng chiến Nội dung thi đua bao gồm mục đích, phạm vi, kế hoạch và tổ chức thi đua, tập trung vào ba mặt chính để phát huy tinh thần yêu nước và góp phần thắng lợi cho cuộc chiến.

1 Phương pháp: tức là nghĩ cách làm sao cho hợp lý;

2 Tinh thần: phấn đấu tích cực, hăng hái, không sợ gian lao, khổ sở;

3 Kết quả: mọi hoạt động phải nhằm vào kết quả thực tế, kết quả phải tính về phẩm và lượng trong thời gian nhất định

Ngày 01/5/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động phong trào Thi đua yêu nước với lời kêu gọi toàn thể dân tộc: “Nước ta kinh tế lạc hậu, nhưng lòng yêu nước và chí quật cường chẳng kém ai Muốn tự cấp, tự túc, bắt kịp thế giới, chúng ta phải thúc đẩy phong trào thi đua yêu nước để tăng gia sản xuất Điều này sẽ góp phần đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi và xây dựng đất nước thành công.”

Ngày 11/6/1948, nhân dịp kỷ niệm 1.000 ngày kháng chiến toàn quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động phong trào thi đua yêu nước, kêu gọi toàn quân và toàn dân tích cực đóng góp sức lực để phục vụ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Trong bài phát biểu, Bác nhấn mạnh tầm quan trọng của tinh thần đoàn kết, tranh thủ mọi nguồn lực và phát huy truyền thống yêu nước để nhanh chóng giành thắng lợi Đây là lời kêu gọi thi đua yêu nước nhằm tạo đà thúc đẩy phong trào chống giặc, đảm bảo sự thắng lợi của cuộc kháng chiến và góp phần giữ gìn độc lập, tự do của Tổ quốc.

Nội dung lời kêu gọi thi đua yêu nước:

“ Mục đích thi đua ái quốc là gì?

Diệt giặc đói khổ, Diệt giặc dốt nát, Diệt giặc ngoại xâm

Cách làm là dựa vào:

Lực lượng của dân Tinh thần của dân, để gây:

Vì vậy bổn phận của người dân Việt Nam, bất kỳ sĩ, nông, công, thương, binh; bất kỳ làm việc gì, đều cần phải thi đua

Làm cho mau Làm cho tốt Làm cho nhiều

Mỗi người dân Việt Nam, bất kể độ tuổi, giới tính hay hoàn cảnh, đều cần trở thành những chiến sĩ đấu tranh trên mọi mặt trận: quân sự, kinh tế, chính trị và văn hóa Những hành động này góp phần xây dựng và bảo vệ tổ quốc, thực hiện khẩu hiệu "đồng tâm, đồng lòng, chung sức phát triển đất nước." Trong thời kỳ đổi mới, vai trò của mỗi người dân là vô cùng quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước.

Toàn dân kháng chiến Toàn diện kháng chiến Trong cuộc thi đua ái quốc, chúng ta Vừa kháng chiến

Kết quả đầu tiên của thi đua ái quốc là:

Toàn dân đủ ăn đủ mặc

Toàn dân sẽ biết đọc biết viết Toàn bộ đội sẽ đầy đủ lương thực, khí giới, để giết giặc ngoại xâm

Toàn quốc sẽ thống nhất độc lập hoàn toàn

Thế là chúng ta thực hiện:

Ba chủ nghĩa mà nhà đại cách mạng Tôn Văn đã nêu ra Để đi đến kết quả tốt đẹp đó, tôi xin:

Các cụ phụ lão thi đua đốc thúc con cháu hăng hái tham gia mọi công việc, góp phần xây dựng cộng đồng vững mạnh Các cháu nhi đồng thi đua học hành chăm chỉ và giúp đỡ người lớn, phát triển tương lai đất nước Đồng bào công thương thi đua mở rộng doanh nghiệp, thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương Đồng bào công nông thi đua sản xuất phong phú, nâng cao đời sống nông dân Đồng bào trí thức và chuyên môn thi đua sáng tạo, phát minh và đóng góp vào tiến bộ khoa học kỹ thuật.

Nhân viên Chính phủ thi đua tận tụy làm việc phụng sự nhân dân;

Bộ đội và dân quân thi đua giết cho nhiều giặc, đoạt cho nhiều súng

Với tinh thần quật khởi và sức mạnh vô tận của dân tộc, lòng yêu nước và ý chí kiên cường của nhân dân và quân đội là những yếu tố quyết định giúp chúng ta giành thắng lợi trong các phong trào thi đua yêu nước Chúng ta tin rằng, với sự đoàn kết và quyết tâm, chắc chắn sẽ đạt được thành công rực rõ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Hỡi toàn thể đồng bào!

Hỡi toàn thể chiến sĩ!

Tiến lên! 3 (Ngày 11 tháng 6 năm 1948)

3 Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, NXB sự thật - Hà Nội, Tr 263-264

NÔNG DÂN NGHỆ AN VỚI PHONG TRÀO THI ĐUA YÊU NƯỚC TỪ NĂM 1948 ĐẾN NĂM 1975

Khái quát đóng góp của nông dân Nghệ An trước khi Chủ tịch Hồ Chí

Hồ Chí Minh phát động phong trào thi đua yêu nước 11/6/1948

Nông dân Nghệ An từ xa xưa đã góp phần to lớn vào lịch sử dân tộc và quê hương đất nước Một trong những đóng góp quan trọng của họ là tích cực khai hoang, mở rộng đất đai để xây dựng làng xã, góp phần phát triển cộng đồng và nền kinh tế địa phương.

Nghệ An là vùng đất cổ có lịch sử hàng vạn năm, bắt đầu từ thời đồ đá cũ với những bằng chứng khảo cổ tại hang Thẩm ồm (Quỳ Châu) Các di chỉ khảo cổ học cho thấy một sự liên tục phát triển từ thời đại đồ đá sang thời đại đồ đồng, đồ sắt, đặc biệt là di chỉ Làng Vạc thuộc văn hoá Đông Sơn, như một minh chứng cho vai trò trung tâm của Nghệ An trong sự hình thành và phát triển của cư dân cổ Việt Nam.

Trải qua quá trình phát triển lâu dài, nông dân Nghệ An đã đóng góp quan trọng trong việc khai hoang đất đai và xây dựng các làng xã đầu tiên trên địa bàn Làng xã cổ truyền Việt Nam hình thành từ cấu trúc công xã nông thôn dần chuyển hóa thành các đơn vị xã hội – hành chính của chế độ phong kiến, nhưng vẫn còn lưu giữ những tàn dư của công xã nông thôn nhất định theo vùng và thời kỳ Từ sau Cách mạng tháng Tám, sự hình thành và phát triển các làng mới, xã mới diễn ra mạnh mẽ hơn, mở rộng khắp tỉnh Dân số trong tỉnh đã tăng gấp 4 lần so với trước Cách mạng, không chỉ do tăng dân số của người Việt mà còn có sự gia tăng đáng kể của các dân tộc thiểu số như Thái, Mông, Thổ, Khơ Mú Nhiều làng nông nghiệp đã chuyển đổi thành các đô thị nhỏ, thị trấn, hoặc trở thành phần của các thị xã, thành phố, khiến người dân từ nông dân thuần túy chuyển sang làm dịch vụ, buôn bán, sửa chữa cơ khí, sản xuất hàng hóa và tham gia các hoạt động đô thị sôi động hơn.

Nông dân Nghệ An đã đóng vai trò quan trọng không chỉ trong khai phá đất đai, xây dựng làng xã mà còn góp phần lớn vào công cuộc chống giặc ngoại xâm trung và dài hạn Từ thế kỷ VIII, nhân dân xứ Nghệ đã nổi dậy chống lại nhà Đường, xây thành Vạn An và lập triều đình, thể hiện tinh thần đấu tranh kiên cường trong lịch sử mở nước Trong các thời kỳ lịch sử khác nhau, như nhà Lý, Trần, nhà Hồ, và thời kỳ kháng chiến chống giặc Minh, Nghệ An luôn là chiến trường quyết định, hậu phương vững chắc, góp phần vào những chiến thắng quan trọng của dân tộc Trong cuộc kháng chiến chống giặc Minh của Lê Lợi, đất Nghệ An là chiến trường quyết định mang lại thắng lợi, còn dưới thời Nguyễn Huệ – Quang Trung, nơi đây cung cấp nhân lực và vật lực giúp đánh bại quân Thanh lớn mạnh Trong hơn một thế kỷ chống xâm lược phương Tây, người Nghệ An luôn sát cánh cùng cả nước, đi đầu trong phong trào cách mạng, với nhiều con người tiêu biểu như Phan Bội Châu, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Thập, đã trở thành tấm gương sáng về lòng yêu nước và kiên cường đấu tranh vì độc lập dân tộc.

Minh Khai…và tiêu biểu nhất là Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hoá thế giới

Thiên nhiên khắc nghiệt và lịch sử đầy gian nan, thử thách đã rèn luyện nhân cách con người xứ Nghệ trở nên cần cù, sáng tạo, kiên trung và nghĩa hiệp Người xứ Nghệ luôn cầu thị và học giỏi, góp phần làm rạng danh quê hương và đất nước qua nhiều thế hệ Trên mảnh đất này, “thời nào cũng có danh nhân, vùng nào cũng có nhiều bậc anh hùng tài cao chí lớn,” góp phần làm giàu đẹp truyền thống văn hóa của quê hương Từ thời tiền sơ sử đến nay, người xứ Nghệ không chỉ đóng góp quan trọng vào lịch sử dân tộc mà còn kiến tạo nên một nền văn hóa đặc sắc, để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử và đời sống của đất nước.

Kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời với đường lối chiến lược cách mạng đúng đắn, Đảng đã lãnh đạo nhân dân cả nước, trong đó có nhân dân Nghệ An, giành thắng lợi trong cách mạng tháng Tám năm 1945, khai sinh ra nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Trong phong trào cách mạng này, nông dân Nghệ An đã hưởng ứng mạnh mẽ các cuộc đấu tranh do Đảng phát động, góp phần quan trọng vào sự thành công của phong trào cách mạng, bắt đầu từ phong trào đấu tranh năm 1930.

Năm 1931, đỉnh cao của phong trào là Xô viết Nghệ Tĩnh ngày 12/9/1930 của 20.000 nông dân Hưng Nguyên đã làm chính quyền địch ở nông thôn tan rã tê liệt Mặc dù Đảng không chủ trương giành chính quyền, các chi bộ Đảng và tổ chức Nông hội đỏ đã phải quản lý và điều hành các hoạt động của làng xã dựa trên những hiểu biết sơ lược về chính quyền Nga qua tài liệu huấn luyện và báo chí của Đảng Từ thực tế đó, lần đầu tiên ở Việt Nam xuất hiện chính quyền của người lao động - chính quyền Xô viết.

Phong trào nông dân – công nhân thành công đã làm chính quyền thực dân và phong kiến hoang mang tột độ, lo sợ về "loạn cộng sản" ở Nghệ Tĩnh đe dọa an ninh quốc gia Thành quả này phản ánh sức mạnh của phong trào cách mạng, gây ảnh hưởng lớn đến tình hình chính trị thời điểm đó Chính quyền thực dân phải đối mặt với sự thức tỉnh về khả năng vượt qua của phong trào đấu tranh của quần chúng Nhờ vào sự phối hợp giữa phong trào nông dân và công nhân, phong trào cách mạng đã tạo ra bước ngoặt quan trọng trong cuộc đấu tranh giành độc lập và tự do.

Dưới sự chỉ đạo của Xứ ủy Trung Kỳ, Ban Chấp hành Nông hội đỏ đã phát động phong trào đấu tranh chống âm mưu khủng bố trắng của địch, tạo đà cho cao trào cách mạng mới từ 1936-1939 Những hoạt động này góp phần thúc đẩy phong trào cách mạng, trực tiếp dẫn đến sự kiện tháng Tám năm 1945, khai sinh Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, mở ra bước ngoặt lịch sử quan trọng của đất nước.

Sau thành công của Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị Chính phủ lâm thời phát động các chiến dịch như tăng gia sản xuất để “diệt giặc đói”, chống mù chữ để “diệt giặc dốt”, và thực hiện phong trào “cần, kiệm, liêm, chính” nhằm giáo dục tinh thần dân chúng Người cũng khởi xướng phong trào “tuần lễ vàng” và “Nam tiến” nhằm tăng viện cho kháng chiến miền Nam chống thực dân Pháp Việc phát động toàn dân tham gia các phong trào này vừa giải quyết nhanh các vấn đề về đói, dốt, vừa góp phần nâng cao nhận thức chính trị và khẳng định quyền làm chủ của nhân dân đối với đất nước, tạo nền tảng vững chắc để bảo vệ thành quả cách mạng Những phong trào thi đua này do Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường sức mạnh vật chất và tinh thần của dân tộc, góp phần vào thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám.

Dân tộc ta luôn phát huy truyền thống "nhiễu điều phủ lấy giá gương", thể hiện tinh thần sẻ chia và đoàn kết Nông dân Nghệ An tích cực hưởng ứng phong trào "lạc quyên, cứu tế" theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, góp phần giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn Tinh thần "nhường cơm, sẻ áo", "lá lành đùm lá rách" đã trở thành nét đẹp văn hóa, thúc đẩy cộng đồng tự nguyện tiết kiệm và cùng nhau xây dựng cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc.

Hũ gạo cứu đói đã được quyên góp nhằm giúp đỡ các gia đình thiếu ăn Trong thời gian ngắn, người dân Nghệ An và Hà Tĩnh đã đóng góp tổng số gạo lớn, thể hiện tinh thần tương thân tương ái Chương trình kêu gọi sự ủng hộ lớn từ cộng đồng để hỗ trợ những hoàn cảnh khó khăn vượt qua giai đoạn khó khăn này Hành động nhân đạo này góp phần giảm bớt gánh nặng cho các gia đình nghèo, thể hiện sức mạnh đoàn kết của người dân địa phương.

Khoảng 476.562 kg gạo đã được cấp phát đến các khu vực khó khăn như Nghi Lộc, Diễn Châu, Hưng Nguyên, Quỳnh Lưu*, nhằm hỗ trợ người dân gặp khó khăn về lương thực Ngoài ra, nguồn hỗ trợ gạo còn được phân phối đến nhiều địa phương khác trong khu vực, góp phần đảm bảo an sinh xã hội và nâng cao đời sống người dân nghèo.

Trong giai đoạn này, nông dân toàn tỉnh tích cực tham gia phong trào khai hoang, phục hóa và đẩy mạnh sản xuất, đặc biệt là các loại rau ngắn ngày với phương châm “Tấc đất tấc vàng” Đến tháng 6/1946, các huyện như Yên Thành, Quỳnh Lưu, Nghĩa Đàn, Anh Sơn, Nghi Lộc đã khai hoang được hơn 700 mẫu trung bộ, góp phần mở rộng diện tích canh tác Công tác thủy lợi, tu bổ đê điều, sửa chửa hồ đập cũng được chú trọng nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất, với nhiều cán bộ và nhân dân vận dụng các giải pháp phù hợp mang lại hiệu quả rõ rệt Nhân dân các địa phương xây dựng các đập nước như Xuân Dương, La Vân, đắp đê ngăn cát và tiến hành nạo vét hệ thống thủy lợi Bắc Nghệ An để đảm bảo nguồn nước tưới tiêu thường xuyên cho các vùng trọng điểm Đặc biệt, nhân dân còn mở rộng và cải tạo các kênh thủy lợi như kênh Nhà Lê qua khe Nước Lạnh, kênh sông Mai Giang - sông Mơ và các tuyến sông liên quan, nhằm phục vụ tưới tiêu cho đồng ruộng, góp phần nâng cao năng suất và đảm bảo sự phát triển bền vững của nông nghiệp địa phương Hiện nay, bia dẫn tích lịch sử kênh Nhà Lê được đặt tại xã Nghi Yên, huyện Nghi Lộc để ghi nhận giá trị lịch sử của hệ thống thủy lợi này.

Nông dân Nghệ An tích cực tham gia phong trào thi đua yêu nước từ năm

Trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, Đảng bộ và chính quyền đã phát động phong trào thúc đẩy sản xuất nông nghiệp nhằm cải thiện đời sống nhân dân và đáp ứng nhu cầu thiết yếu của chiến tranh Nông dân các địa phương tích cực tham gia “Tăng gia sản xuất”, khai hoang, phục hóa, dẫn thủy nhập điền, giúp nâng cao sản lượng lương thực và không để xảy ra nạn đói trong suốt thời kỳ kháng chiến Từ năm 1947 đến 1948, toàn tỉnh khai hoang thêm 4.000 mẫu ruộng, góp phần tăng gấp đôi tổng sản lượng lương thực Bên cạnh đó, phong trào thi đua phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp như dệt vải, làm đường, muối, nước mắm, xà phòng, thuộc da cũng được đẩy mạnh tại các địa phương như Nam Đàn, Quỳnh Lưu, Hưng Nguyên, nhằm phục vụ đời sống và thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương Các khẩu hiệu thi đua như “Tập đoàn rảnh rải, dệt vải thêm công” đã khích lệ nhiều hộ gia đình nông dân trong tỉnh tích cực mở mang sản xuất, góp phần nâng cao đời sống cộng đồng Tính đến đầu năm 1949, toàn tỉnh đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong sản xuất nông nghiệp và công nghiệp nhỏ, góp phần vào thắng lợi chung của phong trào kháng chiến.

Trong lĩnh vực dệt may, có 69 khung dệt vải khổ rộng và 8.600 khung dệt thủ công gia đình, chủ yếu tập trung tại các huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nam Đàn Các cơ sở này đã sản xuất thành công hơn 48.114 xếp giấy các loại, góp phần thúc đẩy ngành dệt và vải địa phương phát triển bền vững.

Phong trào thi đua “Hiến điền” đã nổi bật với việc nông dân hiến đất, gia súc, lúa và tiền để tăng cường sản xuất phục vụ bộ đội và dân quân, trong đó đã hiến 11.232 mẫu ruộng, 140 con trâu bò, 17 tấn lúa và 16 triệu đồng Phong trào “Góp quỹ Tham gia kháng chiến” phát triển mạnh, với những đóng góp tiêu biểu như bà Đồ Lưu và bà Vũ Thị Mai đã góp hàng chục nghìn đồng để ủng hộ kháng chiến Các làng xã đã đào thêm 1.950 giếng nước và xây dựng 17.103 hố tiêu hợp vệ sinh, góp phần cải thiện đời sống cộng đồng Nhờ đẩy mạnh sản xuất, thực hiện các chính sách nông thôn của Đảng và Chính phủ, nông dân Nghệ An đã khai hoang, tăng vụ, giúp kinh tế địa phương phát triển rõ rệt, tự túc về lương thực, hàng hóa, đồng thời cung cấp thực phẩm và hàng hóa cho tiền tuyến và các tỉnh lân cận.

Nông dân Nghệ An đã đạt được những thành tích xuất sắc, được báo cáo lên Chủ tịch Hồ Chí Minh và tặng Người chiếc áo lụa “từ tơ tằm của quê nhà” nhân dịp sinh nhật ngày 19/5/1949 Trong thư gửi đồng bào Nghệ An, Người bày tỏ niềm vui và sự trân trọng trước thành tích của bà con, cảm ơn vì món quà quý báu này chính là thành tích thi đua xuất sắc của nhân dân quê nhà.

4 tháng đầu năm 1949 Sau đây tôi có mấy lời thân ái nhắn khuyên đồng bào:

“Thi đua phải bền bỉ, thiết thực, rộng khắp…

Để thúc đẩy sự phát triển bền vững, cần tập trung vào việc phát triển và củng cố phong trào hợp tác xã cùng các tập đoàn đổi công Những người phụ trách cần đảm bảo tính tháo vát, trong sạch và có trách nhiệm cao Đồng thời, nâng cao đời sống mới trong các thôn quê là yếu tố quan trọng giúp thúc đẩy sự phát triển kinh tế và xã hội địa phương.

Tỉnh ta đã có đà phát triển vững chắc để tiến bộ toàn diện Toàn thể đồng bào được khuyến khích thi đua và giúp đỡ nhau trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước Hướng tới mục tiêu trở thành một tỉnh kiểu mẫu trong công cuộc kháng chiến và kiến quốc, Nghệ An đang gặt hái những thành tựu đáng kể.

Tại Đại hội thi đua yêu nước lần thứ nhất họp từ ngày 1 đến ngày

5 -Tài liệu lưu trữ của Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An;

- Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Nghệ – Tĩnh: Bác Hồ với quê hương Nghệ – Tĩnh, Vinh, 1977, tr 38- 39

Vào ngày 6/5/1952 tại chiến khu Việt Bắc, đại hội đã có sự góp mặt của 150 chiến sĩ thi đua toàn quốc gồm công, nông, binh và lao động trí óc, nhằm tôn vinh những đóng góp to lớn trong phong trào thi đua yêu nước Trong sự kiện này, 7 Anh hùng tiêu biểu được vinh danh và 23 chiến sĩ xuất sắc nhận Huân chương Kháng chiến hạng nhất, thể hiện sự ghi nhận của Đảng và Nhà nước đối với các tập thể và cá nhân xuất sắc Những anh hùng và chiến sĩ thi đua tiêu biểu như Anh hùng Cù Chính Lan, chiến sĩ La Văn Cầu, nữ trung đội trưởng du kích Nguyễn Thị Chiên, chiến sĩ Ngô Gia Khảm, Hoàng Hanh (giáo dân xã Nam Lĩnh, huyện Nam Đàn), Giáp Văn Khương và Quang Vinh đã trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm và ý chí chiến đấu Đại hội cũng đánh dấu những thành tựu quan trọng trong phong trào diệt giặc dốt, giặc đói, giặc ngoại xâm, góp phần nâng cao tinh thần chiến đấu của toàn dân và toàn quân Thành công của sự kiện đã góp phần động viên nhân dân tích cực tham gia lập nhiều thành tích, góp phần vào chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi và giải phóng hoàn toàn miền Bắc.

Sau Đại hội thi đua yêu nước, phong trào thi đua tăng gia sản xuất đã lan rộng khắp các ngành và vùng miền trong tỉnh, từ đồng bằng đến miền núi, và từ đồng bào lương đến vùng giáo dân Các phong trào này thúc đẩy học tập kinh nghiệm của những Anh hùng Lao động như Hoàng Hanh ở Nam Đàn và chiến sĩ nông nghiệp Trịnh Xuân Bái ở Thanh Hóa, đặc biệt trong sản xuất luân canh, gối vụ và chuyển vụ, với các hoạt động cải tiến kỹ thuật canh tác ngày càng sôi động.

Trong những năm qua, nông dân các huyện đã vượt qua nhiều khó khăn, chống thiên tai, địch họa để phát triển sản xuất nông nghiệp, như đào mương, tát nước chống hạn và xây đập nhỏ để duy trì nguồn nước tưới tiêu Nhiều vùng đất cứng không cày nổi đã được bà con dùng cuốc xới hàng trăm mẫu ruộng để gieo trồng, góp phần nâng cao năng suất và đảm bảo vụ mùa Chính quyền và nhân dân đã phát động phong trào xây dựng nhà vệ sinh, lấy phân tiêu, phân bùn, ủ phân xanh, góp phần cải thiện môi trường nông thôn và nâng cao đời sống người dân Trong miền núi, các đồng bào dân tộc Thổ, Thái, Khơ Mú đã chuyển từ phương pháp làm đất bằng trâu giẫm sang cày bừa như đồng bào Kinh, tăng năng suất lao động Đặc biệt, phụ nữ đã đảm nhận mọi công đoạn trong canh tác, kể cả những công việc nặng nhọc như cày bừa, thay thế đàn ông đã đi bộ đội và dân công phục vụ chiến trường.

Ngày 6/12/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì Hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng, quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ với ý nghĩa chiến lược vô cùng quan trọng về mặt quân sự và chính trị Người nhấn mạnh rằng chiến dịch này không chỉ ảnh hưởng đến cuộc đấu tranh trong nước mà còn có tầm ảnh hưởng quốc tế, do đó toàn Đảng, toàn quân và toàn dân phải tập trung cao độ để hoàn thành mục tiêu đề ra.

Dưới tinh thần “Tất cả cho Điện Biên Phủ,” nhân dân Nghệ An đã nỗ lực tăng gia sản xuất và tiết kiệm để đáp ứng nhu cầu chiến trường Trong thời gian ngắn, nông dân toàn tỉnh đã nhập kho 1.460 tấn thóc phơi khô và quạt sạch, bằng 50% chỉ tiêu giao nộp năm 1953, thể hiện tinh thần đoàn kết và quyết tâm của nhân dân địa phương trong chiến đấu.

Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ, theo lời hiệu triệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Ruộng rẫy là chiến trường, cuốc cày là vũ khí, nhà nông là chiến sĩ, hậu phương thi đua với tiền phương”, trong chiến thắng to lớn đó có phần đóng góp xứng đáng của nông dân Nghệ An Nông dân Nghệ An đã vận dụng những kinh nghiệm lâu đời của dân tộc “Nước, phân, cần, giống”;”Tốt giống tốt mạ, tốt mạ tốt lúa”;

“Lúa cấy tháng chạp đạp không đổ”; “Chiêm xanh nhà, mùa già đồng”;

Lúa trổ đều đặn hàng năm là biểu tượng của mùa màng bội thu, như câu “Lúa trỗ thanh minh rinh cả xã” thể hiện niềm vui sum vầy của cả cộng đồng trong vụ mùa Tuy nhiên, khi lúa trổ muộn hơn, như “lúa trỗ lập hạ buồn cả xóm thôn”, người nông dân cảm thấy lo lắng về năng suất mùa vụ Những câu ca dân gian khuyên rằng, “Đói thì ăn ngô ăn khoai, chớ thấy lúa trổ giêng hai mà mừng”, nhấn mạnh sự cần thiết của lao động và kiên nhẫn chờ đợi mùa gặt bội thu Khi lúa trổ cốc vũ no đủ, đó là tín hiệu cho một vụ mùa tròn trĩnh, “Lúa trổ cốc vũ no đủ mọi bề” thể hiện sự thịnh vượng của người nông dân Ngoài ra, quá trình trồng lúa kéo dài qua nhiều năm, kết hợp với chăn tằm, như “Trồng lúa ba năm, chăn tằm ba lứa”, cho thấy sự bền bỉ và đa dạng trong canh tác của người dân miền quê Việt Nam.

Lão nông tri điền là những người tích tụ kinh nghiệm sản xuất, hiểu rõ quy luật tự nhiên và cụ thể hóa các phương pháp trồng trọt, chăm sóc nhằm tránh thiên tai Họ biết loại bỏ các kinh nghiệm cục bộ, nhất thời và rút ra bài học từ vụ mùa trước để áp dụng cho vụ sau Những nông dân này yêu nghề, yêu đồng ruộng, trở thành những người dẫn đầu trong các hoạt động canh tác của địa phương Ruộng vườn của họ không chỉ là nơi sản xuất mà còn là điểm trình diễn kỹ thuật, thu hút nông dân trong vùng đến tham quan, học tập và trao đổi kiến thức nông nghiệp.

Trong phong trào “Toàn dân canh tác”, nông dân đã biết ý nghĩa của từ

Người nông dân Nghệ An đã áp dụng kỹ thuật thâm canh, biết sử dụng phân hữu cơ, phân xanh, phân bắc, nước giải và làm hố xí hai ngăn để nâng cao năng suất Họ cày ải, cào cỏ cải tiến, chọn giống phù hợp với chân ruộng và đồng đất, đồng thời ngâm ủ giống ba sôi hai lạnh để đảm bảo mùa màng bội thu Nghệ An đã chọn lọc những giống ngô vàng mỡ, khoai từ khoai vạc, lúa như chiêm ba lá, dự hương, Nam Ninh, nếp rồng vàng cùng các loại cây ăn quả như chanh tứ mùa, cam Xã Đoài, bưởi đường, mít dai, trám Thanh Chương, hồng ngâm Nam Đàn, đáp ứng nhu cầu của người nông dân Trong thời kỳ chống thực dân Pháp, nông dân biết chuyển hướng canh tác khi các công trình thủy lợi bị phá hoại và sử dụng kinh nghiệm dân gian để phòng trừ dịch bệnh trên gia súc, gia cầm như dịch tả, bằng vác xin, ống tiêm chế từ vỏ đạn Người Thái còn lấy nước tưới bằng mương, phai, xe cọn như ở Châu Tiến (Quỳ Châu) Sau chiến tranh, nông dân cả nước, đặc biệt là Nghệ An, hăng hái tham gia xây dựng đất nước, góp phần vào công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh và chuẩn bị cho sự tiến lên chủ nghĩa xã hội, góp phần giữ vững miền Nam và đấu tranh thống nhất đất nước Những tấm gương Anh hùng Lao động Hoàng Hanh, các Chiến sĩ thi đua, lão nông tri điền cùng các đồng chí Trần Ngọc Cung, Hoàng Văn Liễn thể hiện ý chí và công lao vĩ đại của hàng triệu nông dân Nghệ An trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê hương.

Nông dân Nghệ An tham gia các phong trào thi đua yêu nước từ năm 1954-1964

2.3.1 Thời kỳ từ năm 1954 đến 1960

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ được ký kết, tạm thời chia nước ta thành hai miền Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đề ra hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất đất nước, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên toàn quốc Để đạt được mục tiêu này, dưới sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An, nông dân toàn tỉnh đã tích cực khôi phục và phát triển kinh tế, phục hồi sau chiến tranh, xây dựng cơ sở vật chất, đứng vững trong bối cảnh thuận lợi và khó khăn để hướng tới mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Nghệ An thực hiện chính sách "Tiêu thổ để kháng chiến" gây thiệt hại lớn về cơ sở vật chất kỹ thuật ngành nông nghiệp, làm giảm lực lượng lao động và dẫn đến đất đai bỏ hoang cùng tài nguyên lâm nghiệp bị tàn phá nặng nề Đồng thời, tỉnh chịu ảnh hưởng của trận lụt lớn từ ngày 23 đến 26/9/1954, gây thiệt hại về người và của Đầu năm 1955, thời tiết rét đậm khiến mùa màng thất thu, giá gạo tăng từ 300 đồng lên 550 đồng/kg, đẩy hàng nghìn nông dân, ngư dân vào cảnh đói khổ, nhiều người phải bán gia súc, dụng cụ sản xuất để mua gạo và khoai chống đói Đến tháng 9/1956, ba cơn bão liên tiếp gây thiệt hại nặng nề về người, tài sản, mùa màng, với hơn 18.600 nhà bị tốc mái, gần 15.000 mẫu lúa bị ngập, và nhiều phương tiện đánh bắt bị trôi dạt.

Trong khu vực có đồng bào theo đạo Thiên chúa, tình hình trở nên phức tạp khi các phần tử phản động kích động quần chúng và tung tin lừa bịp như "Chúa đã vào Nam", "Mỹ sẽ đánh chiếm miền Bắc", và "Mỹ sẽ thả bom nguyên tử", nhằm thực hiện âm mưu lôi kéo giáo dân di cư vào Nam Ngày 22/5/1954, hàng ngàn giáo dân và ngư dân đã tụ tập tại xã Hòa An (Quỳnh Lưu) để phản đối, yêu cầu được đi Nam Vào tháng 4/1955, tình hình thêm căng thẳng khi các phần tử gây ra vụ bạo loạn tại xã Diễn Tiến (huyện Diễn Châu), làm mất an ninh trật tự ở địa phương.

Trước tình hình khó khăn, Tỉnh ủy Nghệ An đã chủ trương đẩy mạnh sản xuất để cứu đói, khắc phục thiệt hại do chiến tranh và thiên tai, đồng thời sửa chữa cầu cống, hệ thống nông nghiệp, đê đập, phục hồi thuyền lưới và chống dụ dỗ, cưỡng ép giáo dân vào Nam Phong trào toàn dân ra đồng vớt lúa, diệt sâu bọ, cấy dặm lại ruộng bị ngập úng được phát động rộng rãi, trong đó nông dân các huyện như Đô Lương, Thanh Chương, Yên Thành, Diễn Châu, Hưng Nguyên tích cực tham gia với điển hình là ở Diễn Châu sử dụng 45 thuyền đánh cá để cứu vớt hơn 267 tấn lúa cùng nhiều gia súc, gia cầm và đồ vật khác Song song đó, tỉnh phát động phong trào tiết kiệm sản xuất chống đói, đoàn kết giúp đỡ nhau ổn định sinh hoạt và phát triển sản xuất, phát huy truyền thống tương thân tương ái để vượt qua khó khăn Nhiều vùng trong tỉnh tích cực mở rộng diện tích trồng rau màu ngắn ngày để sớm thu hoạch, mỗi gia đình trồng từ 3-4 ụ khoai lang và 9-10 gốc bầu bí, cùng nhau chia sẻ giống, vốn và vật tư nông nghiệp Cuộc đấu tranh của nhân dân Nghệ An đã đạt những kết quả khả quan, đặc biệt trong vụ khoai đông 1954 và vụ rau màu đông xuân 1954-1955, góp phần khắc phục nạn đói và đem lại niềm vui, tinh thần phấn khởi cho nhân dân.

Trong giai đoạn này, diện tích đất nông nghiệp ở Nghệ An ngày càng mở rộng nhờ sự đóng góp của nông dân trong việc khai hoang phục hóa, từ 338.680 ha năm 1955 lên 366.475 ha chỉ sau một năm Đồng thời, các chính sách cải tiến kỹ thuật và đẩy mạnh năng suất như cung cấp phân bón, giống cây trồng, nông cụ mới, cùng với việc sản xuất phân xanh, vôi nung, phân phốt phát và phòng chống dịch bệnh trong chăn nuôi được chú trọng, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp địa phương.

Trong thời gian này, ngành thủy lợi tập trung sửa chữa và khắc phục hậu quả trận lụt lịch sử năm 1954, như việc hàn gắn các công trình bị phá hoại do thực dân Pháp gây ra, bao gồm Bara Đô Lương, cống Nam Đàn và cống Bến Thủy Nhờ sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ và nỗ lực của toàn dân, đặc biệt là nông dân, Nghệ An đã nhanh chóng hoàn thành việc sửa chữa các tuyến đê vỡ, phục hồi các công trình thủy lợi như cống Mụ Bà, Vũng Bùn, cống Bảy Cửa, góp phần đảm bảo tưới tiêu cho vụ đông xuân 1954-1955 và tăng cường khả năng chống lũ trong năm 1955.

Trong giai đoạn từ tháng 11/1954 đến tháng 9/1955, các huyện Diễn, Yên, Quỳnh đã huy động hơn 22.500 lao động để xây dựng hệ thống thủy lợi, gồm 56 km kênh chính, 22 tuyến kênh cấp II, và 570 km kênh tiêu, với khối lượng xây dựng vượt quá 475.000m3 đất đắp và nạo vét hơn 80.800m3 Các công trình được sử dụng lượng lớn vật tư như 2.211 tấn xi măng, 52 tấn sắt thép, và 10.039m3 cát sỏi, cùng với 510.000 tấn than và 8.800 kw/h điện để hoàn thành dự án Nhờ đó, hệ thống thủy lợi đã dẫn nước tưới cho hơn 32.500 ha ruộng lúa của các huyện Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu, góp phần nâng cao năng suất và ổn định đời sống nông dân.

Các huyện vùng Nam - Hưng - Nghi đã huy động hơn 81.216 ngày công, đào đắp 36.534m³ đất, đổ 3.506m³ bê tông và hoàn thành sửa chữa cống Nam Đàn vào ngày 21/01/1956, dẫn nước sông Lam tưới cho đồng ruộng của ba huyện Nam Đàn, Hưng Nguyên, Nghi Lộc Huyện Diễn Châu huy động gần 1.000 lao động sửa chữa đập Xuân Dương, đào đắp 4.000m³ đất, và hoàn thành vào tháng 8/1956, cấp nước tưới cho hơn 600 ha ruộng của các xã phía Nam huyện Ngoài ra, toàn tỉnh huy động hàng triệu ngày công để xây dựng, sửa chữa đê Phượng Kỷ, đê biển ngăn mặn và các công trình thủy lợi nhỏ vùng trung du miền núi bị hư hỏng do trận lũ lịch sử năm 1954.

Phong trào làm tiểu thủy nông theo phương châm “ba chính”: “giữ nước là chính, thủy lợi nhỏ là chính, dân làm là chính” đã thúc đẩy nông dân toàn tỉnh đào đất tạo ao, giếng trữ nước, xây mương phai nhỏ, và tu bổ các thiết bị thủy lợi Họ đã thực hiện hơn 10.954 ao, 5.256 mương nhỏ, 466 guồng nước đạp chân, cùng với việc sửa chữa và làm mới 1.293 xe cọn nước, thể hiện tinh thần tự lực, sử dụng vật liệu dễ kiếm như tre nứa, gỗ, đá, và công cụ thủ công như cuốc xẻng Phương châm này phù hợp với hoàn cảnh, khơi dậy nội lực cộng đồng, không đòi hỏi kỹ thuật cao, góp phần nâng cao hiệu quả thủy lợi nhỏ trong sản xuất nông nghiệp.

Trong hai năm 1955-1956, các vụ sản xuất liên tiếp được mùa về năng suất và diện tích cày cấy, góp phần ổn định đời sống nhân dân và củng cố niềm tin vào chế độ Chính phủ tập trung vào phục hồi và sửa chữa các công trình đã có, cùng với việc xây dựng thêm các hồ chứa nhỏ như hồ Đình Dù, hồ Nghi Công, hồ Thạch Tiền, hồ Hao Hao và hồ Khe Bung, giúp cải thiện hiệu quả tưới tiêu Đồng thời, nông dân còn thi công nhiều công trình mương, phai nhỏ tại miền núi, góp phần nâng cao năng suất nông nghiệp trong hai năm này.

Trong giai đoạn từ 1956 đến 1957, huyện Nghĩa Đàn đã xây dựng 1.974 công trình thủy lợi và tưới nước cho 1.095 ha đất nông nghiệp Đồng thời, huyện Quỳ Châu hoàn thành 422 công trình, tưới cho 448 ha, huyện Con Cuông có 30 công trình, tưới 260 ha, còn huyện Tương Dương xây dựng 355 công trình và tưới 190 ha đất canh tác Các dự án thủy lợi này đã góp phần nâng cao năng suất và phát triển nông nghiệp tại các huyện miền núi của tỉnh.

Trong giai đoạn phục hồi sản xuất và hàn gắn vết thương chiến tranh, nông dân Nghệ An còn tích cực tham gia cải cách ruộng đất, một nhiệm vụ quan trọng lúc bấy giờ Dưới sự chỉ đạo của Đoàn, Đội Cải cách ruộng đất đã thực hiện hiệu quả các Nghị quyết của Bộ Chính trị và Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An, giúp hơn 143.590 hộ nông dân, gồm 605.154 nhân khẩu, nhận về 105.287 mẫu ruộng, 10.113 con trâu bò, 16.430 nông cụ và gần 8.500 tấn lương thực, đánh dấu bước tiến lớn trong quyền làm chủ đất đai của người nông dân Người nông dân từ chỗ không có đất, phải cày thuê, cuốc mướn, nay đã trở thành chủ sở hữu đất đai, nắm trong tay tư liệu sản xuất, biến ước mơ “Người cày có ruộng” của bao đời thành hiện thực.

Công cuộc Cải cách ruộng đất đã xoá bỏ quyền chiếm hữu tư nhân về ruộng đất của giai cấp địa chủ, chấm dứt tàn dư của chế độ phong kiến, giúp nông dân thoát khỏi ách áp bức và bóc lột Nhờ đó, nông dân thực sự được hưởng quyền tự do, dân chủ, làm chủ nông thôn và cuộc đời mình Họ tin tưởng vào đường lối của Đảng, hướng tới xây dựng cuộc sống mới và chế độ mới trên mảnh đất quê hương.

Trong phong trào cải cách ruộng đất, nhiều nhân tố nông nghiệp đã nổi bật, như ông Hoàng Mỹ ở xã Diễn Phúc (Diễn Châu), trở thành Anh hùng Lao động nhờ thành tích xuất sắc trong phong trào sản xuất và trồng cây, góp phần thúc đẩy phát triển nông thôn và nâng cao năng suất nông nghiệp của địa phương.

Trong quá trình tiến hành Cải cách ruộng đất, Nghệ An đã mắc phải nhiều sai lầm nghiêm trọng về chỉ đạo thực hiện, ảnh hưởng đến kết quả chung của phong trào Tuy nhiên, với tinh thần tự phê bình và phê bình, cùng ý thức trách nhiệm cao đối với nhân dân, Đảng ta đã nhanh chóng sửa chữa những sai lầm này Tháng 9/1956, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết về công tác sửa sai Cải cách ruộng đất, từ đó, Tỉnh ủy Nghệ An đã chỉ đạo thực hiện sửa sai một cách nghiêm túc và kiên quyết Đến cuối tháng 9/1957, công tác sửa sai đã hoàn thành về cơ bản, góp phần quan trọng vào thành công chung của phong trào.

Nông dân Nghệ An với các phong trào thi đua yêu nước từ năm 1965 đến năm 1975

2.4.1 Thời kỳ từ năm 1965 đến 1973

Qua 5 năm thực hiện kế hoạch nhà nước lần thứ nhất (1961-1965), nhân dân miền Bắc dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam đã giành được những thành tựu đáng kể trên các lĩnh vực Miền Bắc đang từng bước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, thực sự trở thành hậu phương vững chắc cho cách mạng miền Nam

Chiến thắng của quân và dân ta tại miền Nam đã đánh bại kế hoạch bình định của đế quốc Mỹ, đồng thời thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng chính trị và quân sự của ta Tuy nhiên, dù thất bại ở miền Nam, Mỹ vẫn tập trung tăng cường các hoạt động chống phá miền Bắc nhằm mục tiêu làm suy yếu sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam và ngăn chặn bước tiến của cách mạng Việt Nam.

Nằm trong âm mưu đánh phá vào hậu phương miền Bắc, Nghệ An là một trong những trọng điểm đánh phá ác liệt và tàn bạo nhất Trong những ngày đầu đánh phá miền Bắc, Mỹ đã tung biệt kích vào Hòn Ngư, dùng máy bay ném bom, bắn tên lửa vào đồn biên phòng Nậm Cắn và bản Noọng Dẻ (huyện Kỳ Sơn) Sau khi dựng lên cái gọi là “Sự kiện Vịnh Bắc bộ”, 12h30' ngày 5/8/1964, đế quốc Mỹ dùng không quân tập kích miền Bắc bằng những đợt ném bom bắn phá ở Cửa Hội - kho xăng dầu Hưng Hòa, vùng Bến Thủy, Trường trung cấp Thủy sản 3 ở xã Nghi Xuân (Nghi Lộc) Các lực lượng của quân đội, công an, dân quân, tự vệ tại chỗ cùng với quân và dân các địa phương khác của Nghệ An, đã đánh trả quyết liệt các đợt tấn công của máy bay Mỹ, bắn rơi một máy bay phản lực, bắn bị thương nhiều chiếc khác Thắng lợi trận đầu này đã củng cố niềm tin của quân và dân ta tạo nên khí thế quyết chiến quyết thắng giặc Mỹ xâm lược, nâng cao tinh thần vừa sản xuất, vừa chiến đấu, bảo vệ và xây dựng hậu phương, chi viện nhiều hơn nữa cho tiền tuyến miền Nam

Nông dân Nghệ An đang bước vào thời kỳ vừa sản xuất vừa chiến đấu trên quê hương, mọi hoạt động đều phù hợp với tinh thần quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược Từ năm 1965, cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ lan rộng toàn miền Bắc, đòi hỏi toàn dân đoàn kết chống lại quân xâm lược Trước tình hình chiến tranh lan rộng, Trung ương Đảng đã tổ chức Hội nghị lần thứ 11 và 12, ra Nghị quyết khẳng định quyết tâm chống Mỹ, cứu nước, và phát động phong trào chiến đấu toàn diện nhằm bảo vệ Tổ quốc.

Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng của cả dân tộc, đặc biệt khi miền Bắc vừa phải xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ và tích cực viện trợ cho cách mạng miền Nam Nhiệm vụ cấp bách lúc này là chuyển hướng tư duy và tổ chức, đổi mới phát triển kinh tế và tăng cường lực lượng quốc phòng để đảm bảo miền Bắc vững mạnh và trở thành hậu phương lớn của cách mạng miền Nam Đảng nhấn mạnh việc đẩy mạnh sản xuất chính gồm trồng trọt và chăn nuôi, khuyến khích áp dụng khoa học kỹ thuật mới nhằm tăng năng suất, mở rộng diện tích gieo trồng, qua đó duy trì sản xuất trong hoàn cảnh mới Để chiến thắng, cần đảm bảo quân dân có thực phẩm đầy đủ, vì sản xuất ổn định chính là nền tảng để thắng lợi cuối cùng.

Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, Nghệ An nhanh chóng nắm bắt và thực hiện chuyển hướng theo yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới

Ngày 17/7/1965, Tỉnh ủy Nghệ An quyết định đẩy mạnh việc chuyển hướng xây dựng và phát triển kinh tế, tăng cường quốc phòng trong 2 năm

Trong giai đoạn 1966-1967, Nhà nước đã tập trung đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp bằng mọi biện pháp, đặc biệt là thủy lợi và ứng dụng khoa học kỹ thuật, nhằm đảm bảo tự túc lương thực và thực phẩm Đồng thời, mục tiêu xây dựng dự trữ và dần đáp ứng nhu cầu thiết yếu của nhân dân về hàng tiêu dùng đã được đặt ra một cách chiến lược, góp phần ổn định đời sống xã hội và phát triển kinh tế bền vững.

Trong thời kỳ chiến tranh, sản xuất nông nghiệp vẫn là trọng tâm phát triển kinh tế của tỉnh Ngay từ vụ đông xuân 1964 - 1965, tỉnh đã đưa ra nhiều biện pháp nhằm giải quyết tốt vấn đề lương thực, thúc đẩy tăng trưởng nông sản hàng hóa và nâng cao thu nhập bằng tiền cho xã viên Đồng thời, tỉnh cũng chú trọng tăng cường lực lượng cho hợp tác xã, đảm bảo nhu cầu của Nhà nước và tích cực chi viện cho chiến trường miền Nam.

Ty Nông nghiệp phối hợp cùng chính quyền các huyện huy động nhân dân đẩy mạnh sản xuất lương thực, thực phẩm, góp phần đảm bảo an ninh lương thực địa phương Các hợp tác xã nông nghiệp tập trung dựa trên kế hoạch sản xuất nhằm tối đa hóa hiệu quả lao động, vốn và vật tư, thúc đẩy phương thức thâm canh để tăng năng suất lúa, màu và phát triển cả lĩnh vực trồng trọt lẫn chăn nuôi.

Trong bối cảnh địch đánh phá ngày càng ác liệt, các cấp ủy đảng và chính quyền đã triển khai nhiều biện pháp giáo dục chính trị, tư tưởng nhằm kịp thời uốn nắn những biểu hiện hoang mang, dao động của quần chúng Họ đã giúp nhân dân nhận rõ âm mưu và thủ đoạn của giặc Mỹ, đồng thời hướng dẫn cách phòng tránh và đánh địch hiệu quả Trên mặt trận sản xuất nông nghiệp, khí thế thi đua đạt thành tích nổi bật, góp phần vào công cuộc kháng chiến và xây dựng đất nước.

Nông dân đã tiến hành thu hoạch lúa chiêm xuân một cách nhanh chóng và triển khai kế hoạch làm vụ mùa kịp thời, góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp hiệu quả Phong trào thi đua “thâm canh cao sản” được phát động nhằm nâng cao năng suất và chất lượng vụ mùa Các hoạt động khai hoang, phục hóa, mở rộng diện tích đất canh tác, làm thủy lợi, phân bón, tuyển chọn và xử lý giống mới, phòng trừ sâu bệnh đều được triển khai liên tục để nâng cao hiệu quả sản xuất Các hình thức họp như đại hội xã viên, hội nghị dưới cờ cùng với các cuộc kiểm tra sơ kết, kiểm tra chéo giữa các hợp tác xã đã khích lệ mạnh mẽ phong trào thi đua của quần chúng xã viên trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi và mở mang ngành nghề, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của nông nghiệp.

Nông dân Nghệ An vượt qua mọi khó khăn, thiên tai và chiến tranh để giữ vững và phát triển sản xuất, thể hiện tinh thần kiên cường bất khuất Dù các xã như Hưng Dũng, Diễn Thành, Quỳnh Vinh, Đặng Sơn, Tràng Sơn và Nghĩa Hòa bị địch tấn công và phá hoại nhiều lần, phong trào sản xuất vẫn rất mạnh mẽ Trong đó, tiêu biểu là ở Tràng Sơn, một đội trưởng bị bom chết nhưng đảng bộ đã tổ chức lễ truy điệu và kêu gọi tiếp tục chống giặc Mỹ, đồng chí khác tình nguyện thay thế để tiếp tục chỉ đạo sản xuất Tại hợp tác xã Trường Xuân, dù bị Mỹ phá hoại tới 11 lần, các xã viên vẫn duy trì trồng dâu nuôi tằm, cuối năm đã bán cho Nhà nước 14 tạ tơ, cho thấy tinh thần đoàn kết và khát vọng vươn lên của người nông dân Nghệ An.

Trong vụ sản xuất Đông Xuân 1964-1965, nông dân toàn tỉnh thi đua cao vẻ với phong trào “thâm canh cao sản, làm cách mạng kỹ thuật”, góp phần tăng 90.000 tấn lương thực so với năm 1964 Các hợp tác xã tích cực xây dựng kho phân, lò nung vôi và sản xuất bèo hoa dâu, đồng thời thực hiện chặt chẽ các quy trình kỹ thuật như ủ, bón phân chuồng, nuôi và giữ giống bèo hoa dâu quanh năm, cùng với chọn và bảo quản lúa giống, góp phần thúc đẩy phong trào phát triển toàn diện Các phong trào như xóa làng mạc ô nhiễm, làm phân bón và phát triển bèo hoa dâu đã mở rộng khắp nơi, tiêu biểu là hợp tác xã Sơn Thành (Yên Thành) và Tân Sơn, góp phần vào sự phát triển nông nghiệp của địa phương.

Thanh niên Đô Lương đã thành công trong việc ứng dụng kỹ thuật nuôi bèo hoa dâu quanh năm, giúp giữ được bèo giống qua mùa hè trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt của Nghệ An, điều mà trước đó chỉ có Thái Bình làm được Nhờ đó, các huyện trong tỉnh now có thể tự cung cấp bèo giống mà không cần phải đi mua từ Thái Bình như trước, nâng cao hiệu quả sản xuất và giảm chi phí.

Năm 1965, nhờ thời tiết thuận lợi cùng với việc ứng dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến trong trồng trọt và chăn nuôi, năng suất cây trồng và vật nuôi đã tăng đáng kể Nhờ đó, sản lượng lương thực, thực phẩm đạt mức khá, góp phần nâng cao đời sống người dân.

Trên toàn tỉnh xuất hiện nhiều hợp tác xã đạt năng suất cao, như Hợp tác xã Hồng Long, Thống Nhất (Quỳnh Lưu) với lúa đạt 5 tấn/ha hai vụ, và hợp tác xã Kim Hùng (Anh Sơn) đạt năng suất ngô trung bình 3,6 tấn/ha, góp phần thúc đẩy nông nghiệp địa phương Năm 1965, sản lượng lương thực toàn tỉnh đạt 449.756 tấn, tăng 25.818 tấn so với năm 1964, trong đó thóc đạt 307.014 tấn và màu đạt 142.742 tấn, thể hiện tăng trưởng mạnh về năng suất và giá trị cây công nghiệp, tăng 23% so với năm trước Tuy nhiên, về chăn nuôi, số lượng đàn bò giảm, đàn trâu cũng giảm so với năm trước, cần có các giải pháp nâng cao chăn nuôi bền vững.

1964 tăng 2.573 con (tăng 2,1%), đàn lợn tăng 3.950 con (tăng 1,3%) Thóc nghĩa vụ bán cho Nhà nước đạt 62.500 tấn, tăng 22% so với năm 1964 Năm

Nông dân Nghệ An với các phong trào thi đua yêu nước từ năm 1986 đến năm 2015

3.3.1 Thời kỳ từ năm 1986 đến 1991

Vào tháng 12 năm 1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định đường lối đổi mới, mở ra bước ngoặt quan trọng trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam Trong lĩnh vực nông nghiệp, Đại hội nhấn mạnh việc đẩy mạnh phát triển nông nghiệp bằng cách đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp, đồng thời thực hiện ba chương trình kinh tế lớn gồm sản xuất lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng, và hàng xuất khẩu.

Nghệ Tĩnh đã phải đối mặt với nhiều thử thách khi triển khai ba chương trình kinh tế lớn trong điều kiện thời tiết biến động bất lợi Mùa đông xuân 1986-1987, nhiệt độ rét đậm kéo dài ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất và đời sống người dân Tiếp theo, năm 1988 xảy ra bão lụt gây thiệt hại nghiêm trọng cho hạ tầng và mùa màng Đặc biệt, từ ngày 3 đến 13/10/1989, Nghệ Tĩnh đối mặt với ba cơn bão dồn dập, gây ra thiệt hại lớn và đòi hỏi sự phối hợp và nỗ lực lớn của cộng đồng địa phương để vượt qua thiên tai.

Sau đợt cải cách giá lương, tiền cuối năm 1985, giá cả tăng mạnh vì lạm phát ngày càng leo thang, gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế Việc thực hiện cơ chế khoán theo Chỉ thị 100 của Ban Bí thư đã gặp phải nhiều mâu thuẫn mới, tập trung chủ yếu vào quản lý và phân phối mà chưa giải quyết triệt để vấn đề sở hữu ruộng đất cũng như khai thác tối đa tính chủ động sáng tạo của người lao động Nông dân phải đối mặt với tình trạng đất đai manh mún, không đủ điều kiện và yên tâm để canh tác hiệu quả, trong khi bộ máy hợp tác xã cồng kềnh và dịch vụ yếu kém dẫn tới hiện tượng khoán trắng Điều này khiến cho nguồn lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng ngày càng thiếu trầm trọng, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn.

Song, từ khi có Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (ra ngày 5/4/1988) về

Việc đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp theo chủ trương Khoán 10 đã tạo ra những chuyển biến rõ rệt trong sản xuất nông nghiệp Khoán 10, còn gọi là khoán hộ hoặc khoán gọn, giao trách nhiệm cho hộ xã viên đảm nhận tất cả các khâu sản xuất với nội dung chính là xác định hợp tác xã là đơn vị kinh tế tự chủ và tự quản, trong khi hộ xã viên là đơn vị nhận khoán từ hợp tác xã và được giao đất ổn định lâu dài Đây là một bước đột phá trong cơ chế quản lý nông nghiệp, nhận được sự ủng hộ nhiệt tình từ nông dân cả nước Tỉnh Nghi Lộc được chọn làm địa phương thí điểm thực hiện khoán 10, với huyện Nghi Lộc chọn từng xã làm điểm rút kinh nghiệm theo từng vùng như xã Nghi Lâm của vùng bán sơn địa, xã Nghi Diên của vùng lúa, xã Nghi Hương của vùng màu, xã Nghi Ân của vùng đất cát khó khăn và thị trấn Cửa Lò của vùng ngư nghiệp.

Vào ngày 10/10/1988, Tỉnh Ủy đã ban hành Nghị quyết 17 về hoàn thiện cơ chế khoán sản phẩm trong hợp tác xã nông nghiệp, phù hợp với tinh thần Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý nông nghiệp Việc thực hiện cơ chế khoán mới đã thúc đẩy nông dân tích cực sản xuất, nhận ruộng khoán và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, đồng thời tập trung đầu tư vào thâm canh, xen canh, gối vụ để tăng vụ và đa dạng hóa sản phẩm Nhờ đó, thu nhập của xã viên tăng rõ rệt, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất và hoàn thành nghĩa vụ đối với Nhà nước tốt hơn.

Trong giai đoạn 1986 - 1990, sản xuất nông nghiệp đạt những bước tiến mới về trồng trọt và chăn nuôi, góp phần giảm khó khăn và nâng cao đời sống nhân dân Các vụ hè thu mở rộng diện tích, thâm canh, đạt sản lượng cao, cùng với phát triển toàn diện vụ đông đã mang lại thắng lợi lớn cho ngành nông nghiệp Sự phát triển nhanh chóng của sản xuất lương thực nhờ chính sách đất đai mới, cải thiện cơ sở vật chất kỹ thuật, và việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật đặc biệt là giống mới, đã giúp tỉnh đạt thành tích toàn diện Việc đưa vào sản xuất các giống mới như IR 1820, CR 203, IR 352, CN2 chống sâu bệnh và thâm canh tốt hơn đã nâng cao năng suất và hiệu quảاقتصิ Năng suất trung bình đạt 1.8 - 2 tấn/ha/vụ đối với giống lạc lai, giúp tổng sản lượng lương thực hàng năm trong giai đoạn này đạt 770.000 tấn, tăng 184.000 tấn so với giai đoạn trước, trong đó năm 1990 đạt 800.000 tấn, tăng 40.000 tấn so với năm 1989 Các loại cây công nghiệp ngắn ngày như lạc, đậu, kê, vừng liên tục phát triển về diện tích, năng suất và sản lượng, trong đó cây lạc trở thành một trong những cây trồng chính mang lại giá trị kinh tế cao.

Nghệ An có 5 cây công nghiệp mũi nhọn trong tỉnh, trong đó diện tích trồng lạc lớn nhất cả nước, đạt đỉnh điểm 30.000 ha vào năm 1987 Các huyện như Diễn Châu (4.000 ha), Thanh Chương (3.000 ha), Quỳ Hợp (1.500 ha) có diện tích trồng lạc đáng kể, góp phần nâng cao giá trị cây trồng chủ lực của địa phương Năng suất lạc trung bình toàn tỉnh đạt khoảng 14 tạ/ha, đảm bảo nguồn nguyên liệu ổn định cho thị trường trong và ngoài tỉnh Vùng ven biển phía Bắc Nghệ An cũng đạt được những kết quả tích cực trong phát triển cây lạc, góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển bền vững.

11 tạ/ha (năm 1985) lên xấp xỉ 14 tạ/ ha (năm 1987); riêng huyện Diễn Châu đạt 16 tạ/ha, xã Diễn Thịnh đạt 18 - 20 tạ/ha trên diện tích 500 ha, có hộ đạt

28 - 30 tạ/ha Các huyện phía Nam từ 8,3 tạ/ha (1985) tăng lên 12 tạ/ha

Từ năm 1987, các cây công nghiệp dài ngày bắt đầu có bước tiến đáng kể tại khu vực trung du, miền núi, đặc biệt là các loại chè, hồ tiêu, cà phê và trẩu Trong đó, diện tích chè công nghiệp tăng nhanh, đạt 3.300 ha vào năm 1990, tập trung tại các vùng chuyên canh như Bãi Phủ, Hạnh Lâm, Thanh Mai, Sơn Thọ và cụm 20/4, 12/9, góp phần tạo ra trên 1.000 tấn chè khô xuất khẩu, thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương và xuất khẩu nông sản của khu vực.

Dưới chủ trương di dân kinh tế mới trong tỉnh, ban đầu các hộ dân tham gia xây dựng vùng kinh tế mới từ năm 1961 đến 1968 là nền tảng để tổ chức di dân nội tỉnh Tỉnh đã ban hành chính sách, tự tổ chức, huy động dân tự nguyện di chuyển và cấp kinh phí hỗ trợ nhằm thúc đẩy quá trình di dân Trong giai đoạn từ 1981 đến 1991, công tác di dân nội tỉnh Nghệ Tĩnh đạt được kết quả rõ rệt với 23.017 hộ, 113.935 khẩu, chuyển đến các huyện như Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Quế Phong, Con Cuông, Anh Sơn và vùng trung du của các huyện Thanh Chương, Đô Lương, Yên Thành, Quỳnh Lưu, Nam Đàn, Nghi Lộc, cùng các huyện của tỉnh Hà Tĩnh như Can Lộc, Cẩm Xuyên, Thạch Hà.

Kỳ Anh, Hương Khê, Hương Sơn, Đức Thọ là những địa phương trong tỉnh đã đạt được nhiều thành tựu trong công tác di dân nội tỉnh, góp phần phân bố lại dân cư một cách hợp lý Nhờ đó, dân cư được rải đều khắp các vùng, thúc đẩy mở mang và khai thác hiệu quả các loại cây công nghiệp, cây lương thực và phát triển chăn nuôi Công tác di dân nội tỉnh đã góp phần vào sự phát triển kinh tế bền vững của địa phương, tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng sản xuất và nâng cao đời sống cộng đồng.

Đến đầu năm 1986, Ủy ban nhân dân tỉnh đã thành lập Ban điều động lao động dân cư nhằm đẩy mạnh công tác định canh, định cư và đưa dân đi xây dựng kinh tế mới trong và ngoài tỉnh Công tác tổ chức đưa dân đi xây dựng kinh tế mới đã hoạt động mạnh từ năm 1982, với nhiều hộ dân ở các huyện đồng bằng, ven biển có nguyện vọng di cư vào các tỉnh miền Nam để định cư, làm ăn lâu dài theo chủ trương của tỉnh.

Việc đưa dân đi kinh tế mới ở miền Nam đã góp phần giảm đáng kể dân số tại địa phương Điều này giúp mở rộng diện tích đất canh tác cho bà con nông dân ở quê nhà, từ đó tăng hiệu quả sản xuất nông nghiệp Sự phát triển này không chỉ giúp gia đình làm giàu mà còn thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quê hương mới, góp phần nâng cao đời sống cộng đồng địa phương.

Trong thời gian thực hiện 3 kế hoạch 5 năm (1976 - 1980), (1981 -

Trong giai đoạn 1985-1990, ngành Nông nghiệp Nghệ Tĩnh đã trải qua nhiều thăng trầm, với những năm gặt hái thành công và thời kỳ trì trệ Tuy nhiên, nhờ sự đóng góp của nông dân, kinh tế nông nghiệp đã có bước phát triển vượt bậc, chuyển từ nền sản xuất độc canh, phân tán, tự cung tự cấp sang hướng chuyên canh, thâm canh và sản xuất hàng hóa Ngành trồng trọt vẫn giữ vị trí quan trọng, đặc biệt cây lương thực (lúa) phát triển nhanh về năng suất và mùa vụ, với sản lượng lúa năm 1976 đạt 488.072 tấn và tăng lên 654.400 tấn năm 1990 Cơ cấu cây công nghiệp trong trồng trọt chuyển đổi tích cực, từ 5,4% năm 1976 lên 9,1% năm 1990, trong đó các cây ngắn ngày như lạc, mía, đậu tương, rau vụ đông phát triển nhanh, còn các cây dài ngày như chè, cà phê, cao su, cây ăn quả ở các nông trường quốc doanh được phục hồi Giá trị sản lượng cây công nghiệp năm 1990 tăng 134% so với năm 1976 Ngành chăn nuôi ngày càng khẳng định vai trò quan trọng, với tỷ trọng giá trị từ 27,7% năm 1976 lên 35,2% năm 1990, giúp ngành nông nghiệp tăng tổng giá trị sản lượng 47,9%, trong đó ngành trồng trọt tăng 29,5% và ngành chăn nuôi tăng 97,5% Các dịch vụ nông nghiệp như giống cây, giống con, máy móc cơ giới cũng từng bước phát huy hiệu quả, góp phần nâng cao năng suất lao động xã hội.

Tháng 4/1991, Đại hội Đảng bộ Nghệ Tĩnh khóa XIII (vòng 1) được tổ chức, đánh dấu đại hội cuối cùng của Đảng bộ Nghệ Tĩnh khi còn hợp nhất Ngày 12/8/1991, Nghị quyết của Quốc hội khóa VIII chính thức tách tỉnh Nghệ Tĩnh thành hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, mở ra giai đoạn mới trong quá trình phát triển của địa phương Sau khi có quyết định chia tỉnh, các cơ quan, ban ngành và đoàn thể cấp tỉnh nhanh chóng triển khai công tác chia tách với tinh thần “đoàn kết khắc phục khó khăn, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau” để đảm bảo quá trình diễn ra suôn sẻ Chính phủ nhấn mạnh phương châm “chia tỉnh không chia tình”, nhằm xây dựng Nghệ An và Hà Tĩnh thành hai tỉnh gương mẫu về mọi mặt, xứng đáng là quê hương của Xô viết Nghệ Tĩnh anh hùng.

3.3.2 Thời kỳ từ năm 1991 đến 1995

Từ ngày 24 đến 27/6/1991, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Hà Nội đã tổng kết 5 năm thực hiện đường lối đổi mới (1986-1990) và xây dựng cương lĩnh chính trị phát triển đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cùng chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm (1991-2000) Ngày 12/8/1991, Quốc hội Việt Nam ban hành Nghị quyết điều chỉnh địa giới hành chính, trong đó chia tỉnh Nghệ Tĩnh thành hai tỉnh độc lập là Nghệ An và Hà Tĩnh, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội của các địa phương này.

An với diện tích tự nhiên là 16.449km2 và dân số là 2.415.425 người Nghệ

An gồm có 18 đơn vị hành chính gồm 1 thành phố và 17 huyện(1)

Ngày đăng: 21/08/2023, 00:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Ban chấp hành Đảng CSVN Tỉnh Nghệ An (1998), Lịch sử Đảng bộ Nghệ An, tập 1 (1930-1931). NXB Chính trị quốc gia- Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ Nghệ An
Tác giả: Ban chấp hành Đảng CSVN Tỉnh Nghệ An
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia- Hà nội
Năm: 1998
2. Ban nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh Nghệ - Tĩnh (1984) Lịch sử Nghệ - Tĩnh, tập 1, NXB Tỉnh Nghệ - Tĩnh, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: ) Lịch sử Nghệ - Tĩnh
Nhà XB: NXB Tỉnh Nghệ - Tĩnh
3. Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Tỉnh ủy Nghệ - Tĩnh. Lịch sử Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam Tỉnh Nghệ - Tĩnh, tập 1 (1925-1954) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam Tỉnh Nghệ - Tĩnh
4. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Thanh Chương (1985), Lịch sử Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam huyện Thanh Chương, NXB Nghệ - Tĩnh, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam huyện Thanh Chương
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ huyện Thanh Chương
Nhà XB: NXB Nghệ - Tĩnh
Năm: 1985
7. Bài nói của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng với cán bộ và nhân dân Nghệ - Tĩnh ngày 19/5/1985. Hồ sơ lưu tại Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Tỉnh ủy Nghệ - Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài nói của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng với cán bộ và nhân dân Nghệ - Tĩnh ngày 19/5/1985
8. Phong trào nông dân Nghệ An (1977), Sơ thảo 1929-1997, NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào nông dân Nghệ An
Tác giả: Phong trào nông dân Nghệ An
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 1977
9. Trần Thanh Tâm: “ Những điều kiện lịch sử nào đã để lại cho nhân dân Nghệ An một truyền thống đấu tranh anh dũng, đã để lại trên đất Nghệ An nhiều di tích lịch sử quan trọng. Ty văn hóa Nghệ An 1974” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Những điều kiện lịch sử nào đã để lại cho nhân dân Nghệ An một truyền thống đấu tranh anh dũng, đã để lại trên đất Nghệ An nhiều di tích lịch sử quan trọng." Ty văn hóa Nghệ An 1974
10. Trường Chinh (1975),Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam, tập 11 NXB sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam
Tác giả: Trường Chinh
Nhà XB: NXB sự thật
Năm: 1975
11.. Ráng đỏ Hồng Lam (2005), Bảo tàng cách mạng Việt Nam, bảo tàng Xô Viết Nghệ - Tĩnh, NXB lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ráng đỏ Hồng Lam
Tác giả: Ráng đỏ Hồng Lam
Nhà XB: NXB lao động
Năm: 2005
12. Ủy ban Mặt trận tổ quốc tỉnh Nghệ An (1996), Lịch sử Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam tỉnh Nghệ An, NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam tỉnh Nghệ An
Tác giả: Ủy ban Mặt trận tổ quốc tỉnh Nghệ An
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 1996
13.Viện lịch sử Đảng (1985), Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945, NXB sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945
Tác giả: Viện lịch sử Đảng
Nhà XB: NXB sự thật
Năm: 1985
14. Lịch sử Đảng bộ thành phố Vinh, NXB Chính trị Quốc gia (2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ thành phố Vinh
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia (2010)
15. Ban nghiên cứu lịch sử Đảng (1971), Cách mạng tháng Tám/1945, NXB sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách mạng tháng Tám/1945
Tác giả: Ban nghiên cứu lịch sử Đảng
Nhà XB: NXB sự thật
Năm: 1971
16. Ban nghiên cứu lịch sử Đảng (1976), Tìm hiểu cách mạng tháng Tám, NXB sự thật, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu cách mạng tháng Tám
Tác giả: Ban nghiên cứu lịch sử Đảng
Nhà XB: NXB sự thật
Năm: 1976
17. Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Tỉnh ủy Hà Tĩnh (1966), Hà Tĩnh trong thời kì cách mạng 1939-1945, Xưởng in văn hóa Hà Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Tĩnh trong thời kì cách mạng 1939-1945
Tác giả: Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Tỉnh ủy Hà Tĩnh
Năm: 1966
18. Ban nghiên cứu lịch sử và địa lí Nghệ - Tĩnh (1985), Nghệ - Tĩnh 40 năm sự kiện và con số, NXB Nghệ - Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ - Tĩnh 40 năm sự kiện và con số
Tác giả: Ban nghiên cứu lịch sử và địa lí Nghệ - Tĩnh
Nhà XB: NXB Nghệ - Tĩnh
Năm: 1985
19. Ban tuyên giáo Tỉnh ủy Nghệ An, Tiểu ban nghiên cứu lịch sử Đảng (2000), Nghệ An đỏ, hồi kí, NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ An đỏ
Tác giả: Ban tuyên giáo Tỉnh ủy Nghệ An, Tiểu ban nghiên cứu lịch sử Đảng
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 2000
20. Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Tỉnh ủy Nghệ - Tĩnh (1981), Những sự kiện lịch sử của Đảng bộ Nghệ - Tĩnh, NXB Nghệ - Tĩnh, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những sự kiện lịch sử của Đảng bộ Nghệ - Tĩnh
Tác giả: Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Tỉnh ủy Nghệ - Tĩnh
Nhà XB: NXB Nghệ - Tĩnh
Năm: 1981
21. Bài nói của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng với cán bộ và nhân dân Nghệ - Tĩnh ngày 19/5/1985. Hồ sơ lưu tại Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Tỉnh ủy Nghệ - Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài nói của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng với cán bộ và nhân dân Nghệ - Tĩnh ngày 19/5/1985
22. Đinh Trần Dương (2000) Nghệ - Tĩnh với phong trào cách mạng giải phóng dân tộc trong 30 năm đầu thế kỉ XX, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ - Tĩnh với phong trào cách mạng giải phóng dân tộc trong 30 năm đầu thế kỉ XX
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w