Có nhiều nhân tố chủ quan và khách quan đã được đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu như lòng kiên trì và quyết tâm cao độ của Nguyễn Ánh; việc khai thác triệt để yếu tố địa lợi
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Liêu Th ị Linh
CĂN CỨ LONG HƯNG - SA ĐÉC VỚI
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Liêu Th ị Linh
CĂN CỨ LONG HƯNG - SA ĐÉC VỚI
Chuyên ngành: L ịch Sử Việt Nam
Mã s ố: 602254
LU ẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS LÊ H ỮU PHƯỚC
Thành ph ố Hồ Chí Minh – 2011
Trang 3L ời cam đoan
Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sự kiện, số liệu, tài liệu trích dẫn và kết quả nghiên cứu trong Luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan khoa học và nghiêm túc
Tác giả Luận văn
Liêu Thị Linh
Trang 6-M Ở ĐẦU
1 Lí do ch ọn đề tài
Triều Nguyễn là triều đại cuối cùng của lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, được thành lập trên sự thắng lợi của Nguyễn Ánh trước Tây Sơn vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX
Vậy, những nhân tố nào đã góp phần làm nên thắng lợi của Nguyễn Ánh? Có nhiều nhân tố chủ quan và khách quan đã được đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu như lòng kiên trì và quyết tâm cao độ của Nguyễn Ánh; việc khai thác triệt để yếu tố địa lợi và nhân hoà ở miền đất Gia Định; sự kém cõi của chính quyền Tây Sơn trong việc quản lý địa bàn này
Trong đó, có một nhân tố quan trọng là vai trò của căn cứ Long Hưng (nay thuộc huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp) đối với quá trình khôi phục và phát triển lực lượng của Nguyễn Ánh để cuối cùng giành thắng lợi Ngày nay tại Long Hưng còn những di tích về cuộc nội chiến Nguyễn Ánh-Tây Sơn Do đó, việc tìm hiểu vùng đất Long Hưng hay vai trò của căn cứ Long Hưng đối với thắng lợi của Nguyễn Ánh là điều cần thiết đối với nghiên cứu lịch sử địa phương cũng như lịch sử dân tộc
Về mặt khoa học, đề tài “Căn cứ Long Hưng – Sa Đéc với quá trình khôi phục lực
lượng của Nguyễn Ánh (1787-1789)” sẽ làm rõ thêm những điều kiện tự nhiên và xã hội tại
vùng đất Long Hưng, tạo cơ sở để Nguyễn Ánh quyết định chọn làm nơi đặt căn cứ để khôi phục và phát triển lực lượng, rồi giành thắng lợi Nói cách khác, đề tài sẽ góp phần lý giải sâu hơn một trong những vấn đề quan trọng liên quan đến cuộc nội chiến Tây Sơn-Nguyễn Ánh; đó là quá trình khôi phục và phát triển lực lượng của Nguyễn Ánh tại căn cứ Long Hưng (Sa Đéc) và vai trò của căn cứ này đối với thắng lợi của Nguyễn Ánh
Về mặt thực tiễn, đề tài sẽ góp phần vào việc nghiên cứu, biên soạn địa chí, lịch sử địa phương cũng như việc khôi phục, tôn tạo các di tích lịch sử ở Đồng Tháp, giúp người dân địa phương hiểu thêm một số vấn đề lịch sử trên cả hai khía cạnh chính diện và phản diện
Vì vậy tôi chọn đề tài “Căn cứ Long Hưng-Sa Đéc với quá trình khôi phục lực
lượng của Nguyễn Ánh (1787-1789)” để làm luận văn tốt nghiệp của mình
Trang 72 L ịch sử nghiên cứu đề tài
Không kể những công trình nghiên cứu về phong trào Tây Sơn và cuộc chiến tranh Tây Sơn-Nguyễn Ánh nói chung, thời gian qua cũng đã có một số tài liệu nghiên cứu riêng
về Vùng đất Long Hưng gắn với cuộc nội chiến Nguyễn Ánh-Tây Sơn
Có thể kể đến các tài liệu sau:
- L ịch sử vùng Long Hưng (TK XVIII – 2000), đề tài khoa học cấp tỉnh năm 2005 do
UBND huyện Lấp Vò thực hiện (Nguyễn Văn Lây làm chủ nhiệm; Nguyễn Hữu Hiếu sưu
tầm và biên soạn) Đề tài trình bày đặc điểm tự nhiên và xã hội vùng đất Long Hưng; bối cảnh Long Hưng cuối thế kỉ XVII đến cuối thế kỉ XIX; Long Hưng trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và vùng đất Long Hưng ngày nay
Hòa-Nguyễn Đắc Hiền biên soạn Tác phẩm viết về vùng đất và con người Đồng Tháp, trong
đó có đề cập đến vùng đất Long Hưng Đồng thời, tác phẩm cũng đề cập đến cuộc nội chiến trên vùng đất Long Hưng, nhưng chưa nêu bật được vai trò của vùng đất này đối với thắng lợi của Nguyễn Ánh
- Sadec Xưa và Nay của Huỳnh Minh, NXB Cảnh Bằng,1971 Tác phẩm nêu lên vị trí
địa lý của Sadec; các danh nhân lịch sử; di tích lịch sử và huyền sử; sinh hoạt tôn giáo và các nguồn lợi về thiên nhiên
Lấp Vò và Đảng ủy xã Long Hưng A tổ chức biên soạn, 12/2005 Tập sách chủ yếu đề cập lịch sử truyền thống cách mạng của nhân dân Long Hưng A từ thế kỷ XVIII; xây dựng và phát triển của xã Long Hưng A ngày nay
Lấp Vò và Đảng ủy xã Long Hưng B tổ chức biên soạn, 12/2005 Tác phẩm chủ yếu đề cập đến lịch sử truyền thống cách mạng của nhân dân Long Hưng B từ thế kỷ XVIII; sự phát triển của xã Long Hưng B ngày nay
Có thể thấy rằng, số lượng tác phẩm viết về đề tài này là khá ít ỏi và chưa đi sâu làm
rõ vị thế, vai trò của vùng đất Long Hưng trong những năm cuối thế kỷ XVIII, gắn với cuộc nội chiến Nguyễn Ánh-Tây Sơn Từ việc kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có, tác giả Luận văn muốn nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này như đã trình bày trong lý do chọn đề tài
Trang 83 Ngu ồn tài liệu
Để viết Luận văn, tôi đã sử dụng các nguồn tài liệu sau:
- Tài liệu thành văn bao gồm sách chuyên khảo, đề tài khoa học
- Tài liệu khảo sát thực địa bao gồm ảnh chụp các di tích có liên quan đến căn cứ Long Hưng ở xã Long Hưng A và xã Long Hưng B, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp
- Phỏng vấn nhân chứng ở địa phương bằng phương pháp đàm thoại và chép tay
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu đặt ra của đề tài, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã dựa trên nền tảng Chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp lịch sử là phương pháp nhằm xem xét các hiện tượng, sự vật qua từng giai đoạn cụ thể của nó Cụ thể trong đề tài, phương pháp lịch sử dùng để trình bày, miêu tả các sự kiện lịch sử của quá trình khôi phục lực lượng của Nguyễn Ánh tại căn cứ Long Hưng (1787 - 1789)
- Phương pháp logic là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng trong hình thức tổng quát nhằm vạch ra bản chất, quy luật, khuynh hướng chung trong sự vận động của cái khách quan được nhận thức Trong đề tài, phương pháp này dùng để xâu chuỗi các sự kiện
lịch sử của quá trình khôi phục lực lượng của Nguyễn Ánh tại Long Hưng; phân tích và lý giải vai trò, tầm quan trọng của căn cứ Long Hưng-Sa đéc đối với thắng lợi của Nguyễn Ánh
5 Đóng góp của đề tài
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cần thiết phục vụ cho việc giảng dạy lịch sử địa phương nói riêng và lịch sử dân tộc nói chung
6 C ấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo, đề tài gồm có 3 chương:
Chương 1: Khái quát về vùng đất Long Hưng thế kỷ XVII - XVIII
Chương 2: Nguyễn Ánh đặt căn cứ tại Long Hưng-Sa Đéc
Trang 9Chương 3: Qúa trình khôi phục lực lượng của Nguyễn Ánh tại căn cứ Long Hưng-Sa Đéc (1787 – 1789)
Trang 10C HƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ VÙNG ĐẤT LONG HƯNG THẾ KỶ XVII - XVIII
1.1 Đặc điểm tự nhiên và xã hội của vùng đất Long Hưng
1.1.1 Đặc điểm tự nhiên
Trước năm 1975 Long Hưng thuộc quận Lấp Vò, tỉnh Sa Đéc, nằm giữa các xã: Tân
Mỹ, Tân Khánh Trung ở phía Bắc; thị trấn Hòa Long, Hòa Thành (huyện Lai Vung) ở phía Nam; Tân Dương (huyện Lai Vung) ở phía Đông; Vĩnh Thạnh và Long Hậu (huyện Lai Vung) ở phía Tây
Khi nhắc đến Long Hưng, người ta thường nói Long Hưng – Nước Xoáy hoặc Nước Xoáy – Bờ Rào, chứng tỏ từ rất lâu địa danh Long Hưng hay vùng Long Hưng đã gắn liền
với rạch Nước Xoáy Rạch Nước Xoáy là con rạch dài thứ hai trong vùng với chiều dài 8500m, chỉ sau sông Sa Đéc
Rạch Nước Xoáy có 3 nhánh cùng đổ về chỗ giáp nước:
- Nhánh thứ nhất chảy từ sông Hậu vào rạch Lai Vung, đến Vĩnh Thạnh nối vào rạch Thủ Ô, qua rạch Rau Cần đến chỗ giáp nước
- Nhánh thứ hai chảy từ sông Cái Tàu Thượng vào sông Cường Thành đến Vĩnh
Thạnh rồi nối vào rạch Thủ Ô như nhánh thứ nhất
- Nhánh thứ ba từ sông Sa Đéc chảy đến chỗ giáp nước
Rạch Nước Xoáy và sông Sa Đéc mang lại cho Long Hưng một vị trí quan trọng trong vùng Long Hưng nằm trên ngã tư đường từ Tây sang Đông trên sông Sa Đéc và từ Bắc xuống Nam trên rạch Nước Xoáy Là một thủy đạo trọng yếu từ sông Tiền sang sông Hậu nên Long Hưng thường đi liền với Nước Xoáy Ngoài ra trong dân gian còn phổ biến cụm địa danh nữa liên quan đến Long Hưng, Nước Xoáy, đó là “Nước Xoáy – Bờ Rào” [45, 4]
Bờ Rào là con rạch nhỏ nằm ở phía Nam xã Tân Mỹ, lấy nước sông Tiền đổ vào rạch Nước Xoáy Dân địa phương thường gọi là rạch Nước Xoáy – Bờ Rào, cũng có người gọi là Bàu Rào
Như vậy “vùng Long Hưng – Nước Xoáy” được hiểu theo 2 nghĩa:
Nghĩa hẹp: là khu vực nhỏ, chung quanh có hiện tượng nước xoáy, nay thuộc khu vực quanh chợ Nước Xoáy, nơi đóng trụ sở Ủy ban nhân dân xã Long Hưng A
Trang 11Nghĩa rộng: là một vùng rộng lớn hơn, nơi rạch Nước Xoáy và các phụ lưu của nó chảy qua, tức bao gồm nhiều địa bàn
Vùng, tuy là một khái niệm địa lý để chỉ một khu vực, song nó lại mang đặc trưng văn hóa nên vùng thường không có địa giới cụ thể rõ ràng Do đó, không gian của nó chỉ có tính tương đối, rộng hay hẹp tùy theo trường hợp sử dụng, thời điểm lịch sử Do nằm ở vị trí khá đặc biệt với hệ thống kênh rạch chằng chịt, là trung tâm khu vực giữa sông Tiền và sông Hậu, là nơi nối liền miền Đông và miền Tây Nam Bộ và còn là đầu cầu giữa Campuchia, Đồng Tháp Mười nên trong một số giai đoạn lịch sử, vùng Long Hưng là nơi diễn ra một số
sự kiện quan trọng
Trong cuộc chiến Tây Sơn – Nguyễn Ánh trên đất Nam Bộ (1777 – 1789), vùng này là nơi tiến sang Ba Giồng lên Sài Gòn hoặc thoái xuống Cà Mau ra vịnh Thái Lan của Nguyễn Ánh Đến năm 1787 Nguyễn Ánh xây dựng căn cứ ở đây mà trung tâm tại Nước Xoáy – Long Hưng Từ đây làm bàn đạp Nguyễn Ánh tung quân đánh Tây Sơn, thu phục được toàn
bộ đất Gia Định
Về mặt tự nhiên, Long Hưng là vùng đất nằm giữa sông Tiền và sông Hậu Ven sông cái, vào sâu trong nội đồng trũng thấp dần Đó là do hiện tượng phù sa bồi lắng hàng năm sau mỗi mùa nước nổi, hình thành dãy đất giồng ven sông, không bị ngập sâu nên đất đai rất màu mỡ
Có những con rạch tự nhiên đã cắt vùng này ra nhiều mảng nhỏ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại, chuyên chở bằng đường thủy Con sông quan trọng nhất của vùng là sông
Sa Đéc
Sông Sa Đéc dài 35km, chảy từ Bình Thành Tây (Lấp Vò) ở sông Hậu đổ ra sông Tiền
tại vàm An Nhơn (Châu Thành) cắt Long Hưng và cả vùng đất giữa sông Tiền và sông Hậu
ở khu vực Sa Đéc ra hai mảng theo hướng Tây – Bắc – Đông – Nam Là một thủy lộ quan trọng nối liền hai miền Tiền Giang và Hậu Giang
Nằm trên vùng châu thổ, lại ở giữa hai sông lớn nên khí hậu vùng Long Hưng rất ôn hoà, thuận lợi cho sự phát triển của các loài thực vật và cây trồng chịu nước Do đó, thảm thực vật tự nhiên ở đây rất phong phú đa dạng và là nơi thuận lợi cho việc canh tác lúa và cây ăn trái Vì vậy ngay từ thời khai hoang lập ấp, vùng này đã hấp dẫn nhiều lưu dân đến đây khai hoang sinh sống, dẫn đến việc hình thành nhiều làng mạc dân cư đông đúc
Trang 121.1.2 Nh ững biến đổi hành chính
Long Hưng là tên gọi sau này, trước đây vùng này có tên là Tân Long Vào thế kỷ XVII – XVIII khi quá trình khai hoang thành công, nhiều thôn được thành lập như: Tân Long, Long Hậu, Nhơn Qưới, Tân Lộc, Hưng Qưới thuộc huyện Vĩnh An, trấn Vĩnh Thanh
Đến năm 1836 vùng này phát triển thêm nhiều thôn như Tân Đông, Vĩnh Thạnh, Nhơn Qưới (thuộc tổng An Thới, Huyện Vĩnh An, tỉnh An Giang), Long Hậu, Bình Thành Tây, Tân Lộc, Định An (thuộc tổng An Phú, huyện Đông Xuyên, tỉnh An Giang), Long Hậu, Bình Thành Tây, Tân Lộc, Định An (thuộc tổng An Phú, huyện Đông Xuyên, tỉnh An Giang)
Trong địa bạ Nam Kỳ năm 1836, tên thôn Tân Long được ghi:
“Tân Long thôn, ở xứ Thủy Nhiều (Nước Xoáy), thuộc tổng An Thới, huyện Vĩnh An,
ph ủ Tân Thành, tỉnh An Giang: phía đông giáp địa phận hai thôn Tân Dương và Tân Thạnh; phía Tây giáp địa phận hai thôn Vĩnh Thạnh và Nhơn Qúy; phía Nam giáp thôn Long Hậu
M ỹ, lại giáp thôn Nhơn Qưới” [7,188]
Khi tiến hành thành lập bộ máy cai trị ở hạt Sa Đéc, thực dân Pháp nhận thấy rằng thôn Tân Long có nhiều ruộng đất và đông dân nên đã tách phần đất của thôn này giáp với Long Hậu thành làng Long Hậu Thượng [18,132] Sau đó theo nghị định ngày 6 tháng 5 năm
1891, chúng lại sáp nhập lại như cũ với tên là Long Hưng, thuộc tổng An Phong, Sa Đéc
Với nghị định ngày 09 tháng 02 năm 1913 Sa Đéc trở thành một đại lý hành chính đặt dưới quyền của tỉnh Vĩnh Long, còn Long Hưng vẫn thuộc tổng An Phong [18,135]
Nghị định ngày 01 tháng 04 năm 1916, Sa Đéc trở thành một quận của tỉnh Vĩnh Long với ba đại lý hành chính là Sa Đéc, Cao Lãnh và Lai Vung Long Hưng nằm trong tổng An Phong thuộc Lai Vung Đến nghị định ngày 09 tháng 02 năm 1924 Sa Đéc chính thức trở thành một tỉnh riêng và tách khỏi Vĩnh Long với ba quận là Châu Thành (Sa Đéc), Cao lãnh
và Lai Vung Long Hưng thuộc quận Lai Vung [51,15]
Đến năm 1957 với nghị định ngày 08 tháng 10 Sa Đéc lại trở thành một quận của tỉnh Vĩnh Long Đến nghị định ngày 11 tháng 07 năm 1962 Sa Đéc vẫn thuộc tỉnh Vĩnh Long và được chia thành bốn quận là Sa Đéc, Lấp Vò, Đức Tôn và Đức Thành, từ đây Long Hưng thuộc quận Lấp Vò
Mãi đến ngày 24 tháng 09 năm 1966 Sa Đéc tái chính thức thành lập tỉnh với bốn quận Trong đó Sa Đéc thuộc quận Châu Thành, sau đổi thành quận Đức Thịnh
Sau năm 1975 Long Hưng thuộc huyện Lấp Vò
Trang 13Năm 1977, huyện Lấp Vò đổi thành huyện Thạnh Hưng
Tháng 08 năm 1989, huyện Thạnh Hưng chia thành hai huyện là Thạnh Hưng và Lai Vung
Đến tháng 12 năm 1996, huyện Thạnh Hưng lại đổi thành huyện Lấp Vò gồm 13 xã,
trong đó Long Hưng được chia thành hai xã là Long Hưng A và Long Hưng B
1.1.3 Đặc điểm xã hội và dân cư
Do điều kiện tự nhiên và đất đai thuận lợi nên ngay trong thời kỳ khai hoang lập ấp, vùng này là một trong những nơi thu hút nhiều lưu dân, dẫn đến việc hình thành nhiều thôn làng với diện tích lớn, dân cư đông đúc và kinh tế trù phú
Đến năm 1757 xứ Sa Đéc mới trở thành đạo Đông Khẩu của dinh Long Hồ nhưng trên thực tế, lưu dân người Việt đã đến vùng này khai phá lập nghiệp từ lâu trong quá trình khai phá mở cõi phương Nam
Vùng Sa Đéc vốn đã trù phú, lại trở nên phồn thịnh hơn sau khi có đám di thần nhà Minh được chúa Nguyễn cho vào định cư ở Biên Hòa và Mỹ Tho vào năm 1679 Rồi từ Mỹ Tho họ sang vùng đất cũng rất trù phú nằm giữa sông Tiền và sông Hậu
Quá trình tập trung dân cư ở vùng Long Hưng được hình thành bởi các nguồn chính sau:
Thứ nhất là, lưu dân đến từ Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Tín, Quảng Nam và Quảng Ngãi, chủ yếu bằng đường thủy Họ dùng ghe bầu vượt biển vào sông Tiền rồi đi sang khai phá các vùng đất cao ráo ven sông, ven rạch
Thứ hai là, sự chuyển cư từ hai huyện Phước Long, Tân Bình và từ Mỹ Tho sang Thứ ba là, trong thời gian cuộc nội chiến diễn ra, vùng Long Hưng – Sa Đéc là đường tiến thoái của quân Nguyễn Ánh Đồng thời cũng là nơi nổ ra nhiều trận chiến, là nơi tàn ẩn những bệnh binh, lính đào ngũ của cả hai bên Đây chính là nguồn nhập cư đáng kể
Ngoài ra còn cò nhiều đợt nhập cư khác, có cả giáo dân Thiên chúa từ miền Trung vào
tị nạn khi chúa Nguyễn Phúc Khoát ra chỉ dụ cấm đạo Thiên chúa năm 1750 [46,175]
Chính điều kiện thuận lợi đã thu hút lưu dân từ nhiều vùng đến đây và biến vùng này thành một trung tâm dân cư đông đúc vào đầu thế kỷ XX, được phân bố như sau:
Làng Long Hưng có 6987 người
Làng Tân Dương có 4157 người
Làng Long Hậu có 5712 người
Trang 14Làng Long Thắng có 1098 người [51,11-12]
Người Hoa vốn thạo nghề buôn bán, họ đứng ra thu mua các thổ sản, lâm sản, thủy sản do lưu dân người Việt đến trước khai thác và sản xuất, góp phần hình thành Nông nại đại phố trên Cù Lao Phố (Biên Hòa) và Mỹ Tho đại phố Nhóm người Hoa ở Mỹ Tho còn sang Vĩnh Long và Sa Đéc làm ăn, từ đó hình thành một số tụ điểm dân cư quan trọng ở khu vực Sa Đéc, dọc theo tuyến sông Tiền như Nha Mân (Cái Tàu Hạ), đất Sét (nay thuộc xã Mỹ
An Hưng B), Cái Tàu thượng (nay thuộc xã Mỹ An Hưng A) và một số trung tâm khác ở phía sông Hậu như Lấp Vò, Lai Vung
Nghề nông vẫn là ngành kinh tế chủ yếu Trong 2 thế kỷ XVII, XVIII thị trường tiêu thụ cau tươi và cau khô rất lớn và còn xuất khẩu sang Hồng Kông, Singapore, Phôm Pênh do thương lái người Hoa thu gom
Đến đầu thế kỷ XIX toàn tỉnh Sa Đéc có 2848 ha trồng cau [51,19], tập trung chủ yếu
ở vùng Long Hưng, nhất là Tân Lộc Ngoài ra còn xuất hiện nhiều ngành nghề khác như đóng ghe xuồng (Long Hậu), dệt chiếu (Định Yên, Định An), đươn lờ lọp
Riêng hai xã Long Hưng A và Long Hưng B kinh tế nông nghiệp vẫn là chủ yếu
1.2 Vùng đất Long Hưng cuối thế kỷ XVIII
Đồng bằng Sông Cửu Long cũng như cả Nam Bộ, dù là vùng đất mới của người Việt Song về mặt lịch sử, đây là địa bàn có người cư ngụ rất sớm, mặc dù chưa biết thời gian chính xác
Theo các giáo sĩ và thương nhân từng đi ngang qua đây ghi nhận đã có người cư ngụ như Fernand Mindez vào năm 1540, Caspard de la Croix vào năm 1552 [6,26]
Đến năm 1562 văn hào Camoens-người Bồ Đào Nha bị đắm thuyền gần Hà Tiên, nhờ người cứu vớt đưa về Mỹ Tho, nơi có người Bồ Đào Nha lập thương cảng Trong một ghi chép, Ông mô tả: “Bờ sông Mê Kông (tức sông Cửu Long) bao phủ vô số rừng rậm và chứa
đầy thú dữ, thỉnh thoảng có vài người đánh cá ven sông” [6,27]
Năm 1620 sau cuộc hôn nhân giữa công nương Ngọc Vạn-con gái chúa Sải Nguyễn Phước Nguyên với quốc vương Chân Lạp Chêy Chetta II, người Việt có nhiều điều kiện thuận lợi hơn để vào sinh sống ở vùng Đồng Nai – Cửu Long
Trang 15Năm 1623 Chêy Chetta nhượng cho chúa Nguyễn đất Prey Nokor (Xứ Sài Gòn) lập trạm thuế nên lưu dân người Việt vào càng nhiều hơn Mối quan hệ giữa Chêy Chetta và chúa Nguyễn Phước Nguyên ngày càng chặt chẽ
Trong hồi ký “Xứ Đàng Trong năm 1621” của Cristophoro Borri, có chép:
Ngoài ra Chúa còn chu ẩn bị vũ khí liên tục và mộ binh giúp Vua Campuchia, cung cấp cho Vua này thuyền chiến và quân binh để cầm cự với vua Xiêm [50,84]
Con đường thủy duy nhất mà chúa Nguyễn vận chuyển vũ khí, chiến thuyền và quân binh giúp cho chàng rễ Chêy Chette II là từ cảng nước Mặn (Qui Nhơn) vào sông Tiền qua
Sa Đéc, Phnom Pênh rồi Oudong Đến giữa thế kỷ XVII, Sa Đéc đã là một trung tâm dân cư lớn ở châu thổ sông Cửu Long với cảnh chợ búa trên bến dưới thuyền tấp nập
Vốn là vùng sông nước nên cư dân địa phương dùng tre kết thành bè, trên cất nhà có gác chứa hàng hóa Buôn bán theo con nước nổi lên xuống rất tiện lợi nên có tên gọi là Phsar ădek tức là “chợ nổi” Lâu ngày người Việt nói trại là Sa Đéc [18,27] và trở thành tên cho cả vùng
Mùa Xuân năm 1698 vâng lệnh chúa Nguyễn, thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào nam kinh lược, xác định chủ quyền của người Việt trên vùng đất mới, lập ra hai dinh Trấn Biên
và Phiên Trấn, gọi chung là Gia Định phủ-trên phần đất từ sông Đồng Nai đến sông Tiền Sử
cũ ghi rõ: “lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn” [10,12]
Như vậy dinh phiên trấn chỉ có một huyện là Tân Bình nhưng huyện này rất rộng, gồm thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Tây Ninh, Long An, Tiền Giang và cả phần đất phía Bắc sông Tiền của tỉnh Đồng Tháp
Trong khi đó Mạc Cửu-người Lôi Châu (Quảng Đông, Trung Quốc) có quan hệ mật thiết với Trịnh Thành Công ở Đài Loan khoảng năm 1680 Khi thấy công cuộc “Phản Thanh
ph ục Minh” đi vào chỗ bế tắc, bỏ sang Chân Lạp sinh sống Ông được triều đình Chân Lạp
phong chức Ốc nha, song thấy nội tình xứ này luôn rối ren do nạn người Xiêm thường hay cướp phá Ông xin đến khai thác cửa biển Peam (là Hà Tiên sau này) Nơi đây vốn đã có nhiều thương nhân nước ngoài đến buôn bán Ông cho xây thành và lập thêm phố xá, mở
hiệu buôn, sòng bạc thu hút thương nhân ngày một đông hơn Ông còn chiêu tập lưu dân người Việt, người Hoa mở ruộng lập vườn và hình thành được bảy thôn, trong đó Hà Tiên ngày một phồn thịnh
Khoảng từ năm 1678 đến năm 1688 bọn cướp biển và quân Xiêm thường cướp bóc Hà Tiên Dưới áp lực quân Xiêm, Mạc Cửu phải sang cảng Muang Galapuri (Xiêm)
Trang 16Một thời gian sau, ông lại trốn về Hà Tiên tiếp tục công việc khai mở Để có chỗ dựa vững chắc, năm 1708 Mạc Cửu dâng đất Hà Tiên cho chúa Nguyễn và xin nội thuộc, được Chúa Nguyễn Phước Chu (1691-1725) chấp thuận và phong cho Mạc Cửu làm Tổng binh trấn Hà Tiên
Như vậy cho đến đầu thế kỷ XVIII, chỉ còn vùng đất giữa sông Tiền và sông Hậu là chưa chính thức thuộc chủ quyền người Việt Nhưng đến năm 1757 Nguyễn Cư Trinh cho dời dinh Long Hồ về Tầm Bao (tức Long Hồ thuộc Vĩnh Long ngày nay) và lập 3 đạo Tân Châu, Châu Đốc và Đông Khẩu Sự kiện này đánh dấu vùng đất Tầm Phong Long đã thuộc chủ quyền người Việt
Thành tựu khai hoang:
Trong gần nửa thế kỷ (1757-1800) vùng Long Hưng có tốc độ khai hoang tương đối nhanh Long Hưng trong thời này thuộc châu Định Viễn, dinh Long Hồ, đến năm 1802 mới đổi thành Vĩnh Trấn và năm 1808 trở thành trấn Vĩnh Thanh
Đến nay chưa có tư liệu về số thôn ấp thành lập được trước năm 1800 nên tạm thời sử dụng bảng danh mục hành chính của trấn Vĩnh Thanh được Trịnh Hoài Đức lập trong Gia Định thành thông chí, thuộc huyện Lai Vung và Lấp Vò ngày nay
Huyện Lai Vung có 12 thôn: Long Hậu, Định Hòa, Đông Thành, Tân Hòa, Nhơn Hòa, Tân Lộc, Tân Lộc Trung, Phú Lộc, Tân Sơn, Tân Thạnh, Tân Bình
Huyện Lấp Vò có 13 thôn: Mỹ An, Tòng Sơn, Mỹ Hưng, Tân Mỹ, Bình Thành Tây, Bình Thành Đông, Tân Đông, Nhơn Qưới, Tân Long, Tân Khánh, Tân Khánh Tây, Tân An Trung, Định An Phú
Vào thời điểm này, công tác quản lý hành chính ở Nam Bộ nói chung còn rất lỏng lẻo Diện tích khai phá được đưa vào canh tác đều do người dân tùy tiện tự khai báo, không thông qua đo đạt, kiểm tra nên chúng ta ngày nay không có con số cụ thể để mô tả thành tựu
của công cuộc khai hoang Hơn nữa, trong khai báo người dân không dùng đơn vị địa chính (mẫu ta) mà tính bằng dây, bằng khoảnh hoặc thửa nên không thể quy chiếu thành đơn vị đạt điền để tính diện tích được [32,50] Dĩ nhiên để trốn thuế, người dân không kê khai đúng sự thật
Mặc dù không nắm được diện tích khai phá cụ thể nhưng với con số 25 thôn được thành lập cho thấy đây là một thành tựu lớn trong cuộc khai hoang Hơn nữa trong số đó có
Trang 17một số thôn mà trong cuộc đo đạt địa chính vào năm 1836 đã đạt diện tích vào hàng cao nhất trong số 1637 thôn ở Nam Bộ lúc bấy giờ, cụ thể như:
Tân Lộc là 4336 mẫu ta, đứng hàng thứ 3
Tân Long (sau này là Long Hưng) là 4110 mẫu ta, đứng hàng thứ 4
Long Hậu là 3116 mẫu ta, đứng hàng thứ 14
Bình Thành Tây là 2261 mẫu ta, đứng hàng thứ 26 [8,255-256]
Đến cuối thế kỷ XVIII lưu dân người Việt đến vùng này cư trú không chỉ dưới hình thức di dân tự nhiên mà còn diễn ra bằng hình thức chuyển cư tại chỗ và các cuộc di dân cơ chế có tổ chức với số lượng lớn
Những lưu dân đầu tiên mạo hiểm vượt biển vào Nam tìm đất sống ở nơi hoang vu vắng vẻ, chưa có sự kiểm tra của chính quyền thì đất đai khai phá được đương nhiên thuộc quyền sở hữu của họ Với số lượng cư dân ít ỏi, họ chỉ có khả năng liên kết lại để khai phá từng lõm, từng khoảnh ven sông rạch và cùng nhau chống chọi với thú dữ, bệnh tật dần dần trở thành xóm ấp đầu tiên
Trong suốt diễn trình khai hoang lưu dân còn khai thác các nguồn lợi tự nhiên tại chỗ như cá tôm, chim thú, mật ong, các loại gỗ Mặc dù với kỹ thuật, trình độ canh tác còn kém, năng suất thấp nhưng với nguồn lợi thiên nhiên phong phú đã mang lại cho lưu dân cuộc sống khá hơn nơi quê cũ Chính điều này là thông tin hấp dẫn đối với thân thuộc của họ còn
ở quê nhà và là một động lực dẫn đến những đợt di dân tiếp theo
Trước năm 1757 việc hình thành quyền sở hữu ruộng đất tư nhân chủ yếu dựa trên khả năng khai khẩn đất hoang của từng hộ gia đình Những áp lực xã hội như: bao chiếm, sang đoạt, cầm cố dường như chưa hình thành khi mà quyền lực nhà nước phong kiến chưa với
tới vùng đất này hoặc đã hiện diện nhưng còn quá lỏng lẻo
Sau năm 1757, một mặt do điều kiện thiên nhiên thuận lợi, đất lành chim đậu Nay lại được chúa Nguyễn thiết lập cơ sở hành chính, có pháp luật bảo vệ, vùng này hấp dẫn nhiều lưu dân hơn Công cuộc khẩn hoang diễn ra nhanh chóng hơn Dân biết thâm canh làm thủy lợi, góp phần làm cho khu vực Lấp Vò, Cái Dầu, Long Hậu, Tân Lộc sau là Tân Thành (Lai Vung) trở thành trung tâm dân cư quan trọng trải từ sông Tiền đến sông Hậu
Đồng thời với những cuộc khai phá lẻ tẻ của dân nghèo xiêu tán, Chúa Nguyễn còn chiêu mộ những nhà giàu có ở các phủ Điện Bàn, Quảng Ngãi, Quy Nhơn đưa gia nhân vào khai phá
Trang 18Bên cạnh đó các Chúa Nguyễn còn sử dụng binh lính, tù phạm và mộ dân khai hoang lập đồn điền
Như vậy Long Hưng có một vị trí khá đặc biệt, với hệ thống kênh rạch chằng chịt,
là trung tâm khu vực giữa sông Tiền và sông Hậu, là nơi nối liền miền Tây và miền Đông Nam Bộ Đồng thời điều kiện tự nhiên Long Hưng rất thuận lợi nên từ thời khai hoang lập
ấp, vùng này đã hấp dẫn nhiều lưu dân đến đây sinh sống, dẫn đến việc hình thành nhiều thôn ấp dân cư đông đúc Đặc biệt đến cuối thế kỷ XVIII, vùng Long Hưng có tốc độ khai hoang tương đối nhanh so với các vùng khác ở đồng bằng sông Cửu Long
Long Hưng có vị trí và điều kiện tự nhiên thuận lợi nên sau nhiều lần bị Tây Sơn đánh
bại, cuối cùng Nguyễn Ánh đã chọn vùng đất Long Hưng làm căn cứ để đánh lại quân Tây Sơn Vậy Nguyễn Ánh đã chọn và xây dựng căn cứ ở Long Hưng như thế nào? Chúng ta sẽ tiếp tục tìm hiểu ở chương 2 – Nguyễn Ánh đặt căn cứ tại Long Hưng-Sa Đéc
Trang 19CHƯƠNG 2: NGUYỄN ÁNH ĐẶT CĂN CỨ TẠI LONG HƯNG – SA ĐÉC
Mùa thu năm 1773, lực lượng nghĩa quân Tây Sơn đã lên đến vài vạn người và đánh chiếm được phần lớn phủ Quy Nhơn Nguyễn Nhạc với trách nhiệm Đệ nhất trại chủ chỉ huy hai huyện Bồng Sơn và Phù Ly, cử Nguyễn Tông làm Đệ nhị trại chủ chỉ huy huyện Tuy Viễn và Huyền Khê làm Đệ tam trại chủ phụ trách quân lương
Tiếp đó, Nguyễn Nhạc chia quân bao vây thành Quy Nhơn Tuần phủ Nguyễn Khắc Tuyên và toàn bộ binh lính chạy trốn Nguyễn Nhạc lại đem quân tiến lên phía Bắc đánh chiếm các kho thóc ở Kiển Dương và Đạm Thuỷ
Đốc Trưng Đằng chạy trốn nhưng bị Nhạc đuổi theo giết được, tiếp đó nghĩa quân tiến
ra Quảng Ngãi, Quảng Nam Đi đến đâu, nghĩa quân đều được nhân dân nhiệt liệt hưởng ứng Tập Đình và Lý Tài đem lực lượng của họ đi theo Tây Sơn cũng vào thời gian này
Nghe tin quân Tây Sơn đánh chiếm Quy Nhơn và đang tràn ra phía Bắc, triều đình Phú Xuân rất hoảng hốt Tướng sĩ bấy lâu chỉ lo ăn chơi, nay sắp phải ra trận, ai nấy đều hoang mang cực độ, tìm cách đút lót quan trên để xin ở lại Quân lính thì chán nản, không còn tinh thần chiến đấu, hễ gặp nghĩa quân thì bỏ chạy hoặc đầu hàng
Trương Phúc Loan vội sai bốn viên tướng là Nguyễn Cửu Thống, Nguyễn Cửu Sách, Tống Sùng và Đỗ Văn Hoàng đem đại quân vào Quy Nhơn trong khi nghĩa quân đã nhanh chóng chiếm được Quảng Ngãi và đang tiến ra Quảng Nam
Khi quận chúa Nguyễn kéo vào đến Bến Ván (Bản Tân – ranh giới Quảng Ngãi và Quảng Nam), nghĩa quân liền rút về Bến Đá (Thạch Tân, thuộc phủ Thăng Bình, Quảng Nam) bố trí mai phục Quân Nguyễn đuổi theo đến Bến Đá thì bị phục binh Tây Sơn đánh bại Các tướng Nguyễn đều bị giết, chỉ còn Nguyễn Cửu Sách thu tàn quân chạy trốn Trận thắng lớn ở Bến Đá nâng cao thanh thế nghĩa quân và cổ vũ mạnh mẽ tinh thần quật khởi của các tầng lớp bị trị
Cuối năm 1773, chúa Nguyễn cử Tôn Thất Hương làm tiết chế nội quân đi đánh Tây Sơn nhưng quân của Hương đã bị Lý Tài và Tập Đình đặt phục binh ở núi Bích Kê (huyện Phù Mỹ) đánh cho tan tác, Tôn Thất Hương tử trận Ở phía Nam, nghĩa quân cũng thừa thắng đánh chiếm các phủ Diên Khánh, Bình Khang
Trang 20Như vậy, chỉ trong vòng một năm, quân Tây Sơn chiến thắng liên tiếp, kiểm soát cả khu vực rộng lớn từ Quảng Ngãi vào đến Bình Thuận; duy chỉ một lần bị quân Nguyễn do Nguyễn Cửu Dật chỉ huy đánh bất ngờ, quân Tây Sơn bị thua phải rút về phía Nam Chợ Củi (Sài Thị) [31,172]
Đầu năm 1774, Tôn Thất Thắng được Chúa Nguyễn cử làm đại tướng đi đánh Tây Sơn Nhưng Tôn Thất Thắng thấy quân Tây Sơn mạnh quá, rất hoảng sợ, đang đêm bỏ quân lính chạy trốn một mình Mùa hạ năm đó, lưu thủ Long Hồ là Tổng Phúc Hiệp huy động quân lính ở Gia Định tiến đánh nghĩa quân, chiếm lại được ba phủ Bình Thuận, Diên Khánh
và Bình Khang, sau đó đã chiếm lại cả Phú Yên
Những biến động ở Đàng Trong được viên trấn thủ Nghệ An là Bùi Thế Đạt báo về Thăng Long Vốn nuôi mộng chiếm nốt vùng đất của Chúa Nguyễn, Chúa Trịnh Sâm mừng
rỡ nói:
H ọ Nguyễn vốn có thế thù với họ Trịnh Sở dĩ bấy nay Trịnh phải làm thinh, chẳng qua ch ỉ cốt đợi thời Bây giờ cơ hội đã đến, Trịnh sao lại chịu bó tay ngồi nhìn để họ Nguyễn ngang nhiên tranh hùng mãi [31,180]
Trịnh Sâm bèn cử Hoàng Ngũ Phúc làm thượng tướng quân đem 3 vạn binh đi trước, còn tự mình cầm đại quân đi sau, đến đóng ở Hà Trung để ứng viện
Hoàng Ngũ Phúc tuy xuất thân hoạn quan nhưng là một viên tướng có tài Ngũ Phúc
đã tham gia đắc lực vào việc đánh bại cuộc khởi nghĩa Nguyễn Hữu Cầu Lần này xuất quân, Ngũ Phúc lại có những bộ tướng giỏi như Hoàng Đình Bảo, Nguyễn Hữu Chỉnh
Hoàng Ngũ Phúc kéo quân vào đất chúa Nguyễn nêu danh nghĩa giúp chúa Nguyễn đánh đổ quyền thần Trương Phúc Loan và dẹp loạn Tây Sơn, ngoài ra không có ý gì khác Quân Chúa Nguyễn phải dồn sức đối phó với Tây Sơn ở mặt Nam, nên lực lượng ở phía Bắc
rất yếu
Tháng 11 năm 1774, quân Trịnh vượt sông Gianh Dinh Trạm và Dinh Cát Chúa Nguyễn vội triệu Tôn Thất Nghiễm (bấy giờ đang đánh nhau với quân Tây Sơn) về đối phó với Hoàng Ngũ Phúc và cử Nguyễn Cửu Dật thay Tôn Thất Nghiễm ở phía Nam
Hoàng Ngũ Phúc tiến quân đến Bồ Đề (huyện Minh Linh) đưa thư khuyên Chúa Phúc Thuần đầu hàng Bị tấn công cả hai mặt, Chúa Nguyễn lâm vào tình thế nguy ngập, sai bắt trói Trương Phúc Loan đem nộp cho Hoàng Ngũ Phúc và dâng vàng bạc xin bãi binh nhưng vẫn bố trí lực lượng chống cự
Trang 21Bắt được Trương Phúc Loan, quân Trịnh vẫn tiếp tục tiến vào Phú Xuân Đầu năm
1775 Chúa Nguyễn Phúc Thuần phải bỏ Phú Xuân, đem gia quyến cùng hơn 100 thân binh xuống thuyền ra cửa Tư Dung, rồi đổ bộ vượt đèo Hải Vân chạy vào Quảng Nam Sau đó Phúc Thuần lại cùng cháu là Nguyễn Ánh vượt biển vào Gia Định Trước khi đi, Phúc Thuần phong cho hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương làm Đông cung
Quân Tây Sơn lại khởi thế công, chia hai cánh đánh bại quân của Nguyễn Cửu Dật, buộc Dật phải chạy về Trà Sơn Tiếp đó, Nguyễn Nhạc chia ba cánh quân vây bắt Nguyễn Phúc Dương
Lại nói về quân Trịnh, bấy giờ đã vượt đèo Hải Vân (3/1775) Quân Tây Sơn do Nguyễn Nhạc, Tập Đình và Lý Tài chỉ huy đón đánh quân Trịnh ở Cẩm Sa Trận chiến đấu diễn ra quyết liệt nhưng cuối cùng quân Tây Sơn bị tổn thất nhiều, phải rút về Bến Ván để bảo vệ căn cứ Quy Nhơn và vùng Quảng Ngãi
Ở phía Nam, tướng của Chúa Nguyễn là Tống Phúc Hiệp sau khi chiếm lại được Phú Yên cũng tấn công ra Tình hình quân Tây Sơn bấy giờ rất bất lợi, bị kẹp giữa hai thế lực thù địch: quân Trịnh ở Bắc và quân Nguyễn ở Nam Nhằm vượt qua trận thế nguy hiểm, Nguyễn Nhạc kịp thời thay đổi sách lược, một mặt lo củng cố căn cứ ở miền núi Qui Nhơn, một mặt tạm thời hoà hoãn với quân Trịnh để tập trung lực lượng tấn công quân Nguyễn
Tháng 7 năm 1775, Nguyễn Nhạc sai người đem vàng bạc và một bức thư đến doanh
trại Hoàng Ngũ Phúc “xin hàng”, xin nộp ba phủ Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Phú Yên và xin
làm tướng tiên phong đi đánh quân Nguyễn Hoàng Ngũ Phúc vốn biết lực lượng Tây Sơn đang bột phát, thường nói với bộ hạ:
Tây Sơn bây giờ đang như ngọn lửa bốc mạnh Ta già mất rồi; còn các tướng, ta e không ph ải là tay đối địch với họ được [31,193]
Nhận được thư của Nguyễn Nhạc, Ngũ Phúc biết đây chỉ là kẻ hoãn binh nhưng vì đang mùa hè, quân Trịnh mệt mỏi lại bị chết dịch nhiều và tinh thần binh sĩ rất hoang mang nên Ngũ Phúc phải chấp nhận đề nghị của Tây Sơn Ngũ Phúc bèn sai Nguyễn Hữu Chỉnh
đem ấn, cờ và kiếm phong cho Nguyễn Nhạc làm “Tây Sơn hiệu trưởng tráng tiết tướng
quân”
Tạm yên mặt Bắc, Nguyễn Nhạc dồn lực lượng tấn công quân Nguyễn ở phía Nam Bề ngoài, Nguyễn Nhạc giả vờ liên kết với Tống Phúc Hiệp và lập hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương lên làm vua
Trang 22Nguyễn Nhạc sai người mang thư vào Phú Yên ngỏ ý xin hàng Tống Phúc Hiệp Khi
sứ giả của Phúc Hiệp đến Quy Nhơn để xét hư thực, Nguyễn Nhạc đặt hoàng tôn Dương ngồi giữa, còn tự mình thì ngồi ở bên tả Trước mặt sứ giả, Nguyễn Nhạc tuyên bố:
Năm doanh tướng sĩ từ ngàn dặm làm việc cần vương, thật là đã hết lòng trung nghĩa
N ạn Quốc phó (Trương Phúc Loan) đã trừ xong, chúng ta nên rước Hoàng tôn lên ngôi để yên nghiệp lớn, đó là cái công muôn đời, phải cùng với các tướng sĩ mưu toan [31,199]
Sứ giả Phúc Hiệp hỏi: “Minh công có lòng tôn phù như vậy, danh nghĩa lừng lẫy, ai
một lúc rồi nói: “Việc ấy xin nhờ Điện hạ (Hoàng tôn Dương) xử trí, thế nào chúng tôi cũng
xin tuân theo ” Hoàng tôn Dương nói: “Các ông tuỳ tiện mà làm” Khi sứ giả về, Nguyễn
Nhạc lại viết thư giảng hoà với Tống Phúc Hiệp; Phúc Hiệp tin là thật nên không chú ý phòng bị nữa [31,203]
Nguyễn Nhạc nắm ngay sơ hở này, sai Nguyễn Huệ đem đại binh đánh úp Phú Yên Đây cũng là chiến thắng lớn đầu tiên của Nguyễn Huệ, bấy giờ mới 23 tuổi Chiếm được Phú Yên, Nguyễn Nhạc cử Lý Tài làm trấn thủ Phú Yên và báo tin cho Hoàng Ngũ Phúc biết và xin phong chức cho Nguyễn Huệ Ngũ Phúc bèn phong cho Nguyễn Huệ làm Tây Sơn hiệu tiền phong tướng quân
Bấy giờ quân Trịnh đang mắc bệnh dịch, binh sĩ chết đến quá nữa, Hoàng Ngũ Phúc
phải rút quân về Phú Xuân, dọc đường Ngũ Phúc bị bệnh chết Quân Trịnh vừa rút thì ở Quảng Nam, bọn Tôn Thất Quyền và Tôn Thất Xuân mộ lính đánh lại Tây Sơn Được sự giúp đỡ của một phú thương người Hoa tên là Tất, Quyền và Xuân chiếm lại được hai phủ Thăng Hoa và Điện Bàn (Quảng Nam) Bấy giờ Quảng Nam đang bị nạn đói lớn, quân của Quyền và Xuân bị thiếu lương lại không được dân ủng hộ, cuối cùng bị quân Tây Sơn đánh tan Nguyễn Nhạc giao Quảng Nam cho Nguyễn Văn Duệ đóng giữ rồi rút về Quy Nhơn, tiếp tục tiến đánh quân chúa Nguyễn ở phía Nam
Đầu năm 1776 Nguyễn Nhạc sai em là Nguyễn Lữ đem thuỷ binh vào đánh Gia Định, chiếm được thành Gia Định và các dinh Trấn Biên, Phiên Trấn; chúa Nguyễn Phúc Thuần phải chạy về Bà Rịa
Một địa chủ ở Mỹ Tho là Đỗ Thành Nhơn tụ tập dân chúng chừng 3000 người, lập ra quân Đông Sơn, nêu danh nghĩa phù Nguyễn, chọi lại Tây Sơn Thấy quân cứu viện của chúa Nguyễn từ các ngả kéo về Gia Định, Nguyễn Lữ ra lệnh tịch thu của cải, lương thực của họ
Trang 23Nguyễn rồi rút về Tây Sơn Quân chúa Nguyễn chiếm lại được Gia Định, nhưng phải bỏ mất các phủ Diên Khánh, Bình Khang, Bình Thuận
Tháng 3 năm 1776 Nguyễn Nhạc tự xưng Tây Sơn vương, xây lại thành Đồ Bàn (kinh
đô cũ của Champa) và phong cho Nguyễn Huệ làm phụ chính và Nguyễn Lữ làm thiếu phó
Ngay sau đó Nguyễn Nhạc lại sai Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ đem quân vào đánh Gia Định lần thứ hai Quân Lý Tài bị đánh tan, chúa Phúc Dương chạy về Trà Tân (thuộc Định Tường) rồi về Ba Vát (thuộc Vĩnh Long), còn chúa Nguyễn Phúc Thuần thì chạy về Long Xuyên Nguyễn Huệ đuổi theo bắt giết được cả Phúc Thuần lẫn Phúc Dương, chỉ còn Nguyễn Ánh (cháu Phúc Thuần) chạy thoát
Sau khi chiếm Gia Định, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ cử các tướng ở lại trấn giữ, rồi lại rút quân về Quy Nhơn Nhưng cuối năm ấy Nguyễn Ánh được tầng lớp đại địa chủ ở Gia Định ủng hộ, khởi binh ở Long Xuyên rồi kéo về đánh Sa Đéc, chiếm lại thành Gia Định
Tháng 11 năm 1777 khi nghe tin đại quân Tây Sơn rút về Qui Nhơn, Nguyễn Ánh từ Thổ Châu về Cà Mau khởi binh Tháng 01 năm 1778 Nguyễn Ánh được các tướng suy tôn làm Đại Nguyên súy Nhiếp quốc chính
Khoảng một tháng sau thì quân Tây Sơn lại kéo vào, Nguyễn Ánh giao Sài Gòn cho
Đỗ Thanh Nhân trấn giữ, còn mình trực tiếp làm tướng trông coi mặt trận Bến Lức Đỗ Thanh Nhân giết được tư khấu Uy ở sông Bến Nghé Thủy quân Tây Sơn thì bị Lê Văn Duyệt phá, Lê Văn Quân đánh chiếm được Bình Thuận [32,30]
Lợi dụng những tháng còn lại của năm 1778 và hai năm 1779 và 1780 Tây Sơn ngừng tấn công Gia Định, Nguyễn Ánh lo củng cố lực lượng: tích trữ lương thực, mua sắm chiến thuyền, binh khí, ổn định tổ chức hành chính
Đầu năm 1780 thấy không còn gì trở ngại nữa, Nguyễn Ánh xưng vương, nhưng vẫn theo niên hiệu nhà Lê, ấn “Đại Việt quốc Nguyễn Chúa chi bảo” đúc từ thời Quốc chúa
Nguyễn Phước Chu, nay chỉ dùng làm ấn truyền ngôi Đất đai thuộc quyền quản lí của Nguyễn Ánh lúc bấy giờ ngoài Gia Định còn cả khu vực Phú Yên, Bình Khang và Bình Thuận Trong thời gian này, một mặt lo ổn định tình hình kinh tế - xã hội chuẩn bị đương đầu với Tây Sơn, mặt khác Nguyễn Ánh còn phải đối phó với một số vấn đề nội bộ và Chân Lạp
Nguyễn Ánh dự tính mùa hè năm 1781 đưa quân đánh úp Tây Sơn Nhưng phát hiện
Đỗ Thanh Nhân âm mưu làm phản Nguyễn Ánh cho người giết chết và chia quân Đông Sơn của Nhân ra làm bốn đạo để trừ hậu họa
Trang 24Cũng từ đó quân Đông Sơn tan rã và binh lực của Nguyễn Ánh cũng suy yếu hẳn
Nhân cơ hội đó Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ tiến đánh Gia Định lần thứ ba năm
1782 Mấy trăm chiến thuyền Tây Sơn vào cửa Cần Giờ đánh tan quân Nguyễn Ánh ở ngã bảy Nguyễn Ánh phải chạy về Ba Giồng, thành Gia Định lại trở về với Tây Sơn
Tháng 5 năm 1782 đại quân của Nguyễn Huệ truy đuổi Nguyễn Ánh, Nguyễn Ánh phải thoát chạy ra đảo Phú Quốc Yên tâm là lực lượng Nguyễn Ánh không còn gì, nên đại quân Tây Sơn rút về Qui Nhơn giao Gia Định cho hàng tướng Đông Sơn là Đỗ Nhàn Trập và
Hộ Bộ Bá cai quản với 3000 quân [32,41-42]
Tháng 06 năm 1782 tàn quân Nguyễn Ánh quy tụ quân, đánh chiếm được Long Hồ (thuộc tỉnh Vĩnh Long), rồi tiến về Bến Lức làm cho Nhàn Trập dao động, cùng Hộ Bộ Bá phải chạy về Qui Nhơn
Thế là Nguyễn Ánh lại làm chủ Gia Định một lần nữa nhưng lần này không lâu vì lực lượng bị tiêu hao gần hết, tướng tá còn lại không mấy người, làm sao đương đầu nổi với Tây Sơn – một thế lực đang đảm đương sứ mạng lịch sử
Tình trạng của Nguyễn Ánh ngày một bi thảm, dù lấy được Gia Định nhưng không đủ binh lực bảo vệ, tính kế lâu dài
Trước mắt Nguyễn Ánh không tính đến việc chạy qua Chân Lạp, vì chiến tranh và đói kém đã tàn phá xứ này Phải tính tới chuyện chạy ra các hải đảo ở vịnh Xiêm La (Thái Lan)
và Bá Đa Lộc được ủy thác sửa soạn tàu bè, lương thực đề phòng lúc phải ra đi 114]
[44,113-Năm 1783 Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ lại đem quân vào đánh Gia Định lần thứ tư Quân Chu Văn Tiếp tan vỡ, Nguyễn Ánh lại chạy về Ba Giồng rồi ra đảo Côn Lôn Phò mã Tây Sơn là Trương Văn Đa đem thuỷ binh đuổi theo, Nguyễn Ánh lại chạy ra Phú Quốc Nguyễn Huệ cử Trương Văn Đa giữ Gia Định rồi lại mang quân về Quy Nhơn
C ầu viện lần thứ nhất (1783-1784):
Nguyễn Ánh cùng gia quyến và một ít tàn quân vượt sông Lật Giang (Bến Lức) chạy
về Mỹ Tho rồi ra Phú Quốc [31,48]
Thất bại liên tiếp làm cho một số tướng sĩ nản lòng, sanh tâm làm phản, nơi trú ẩn của Nguyễn Ánh bại lộ Thống suất Tây Sơn Phan Tấn Thuận mang quân tới vây đánh Cầm
Trang 25chắc cái chết trong tay, may nhờ Cai cơ Lê Phước Điền “đóng vai Lê Lai cứu Chúa”- Nguyễn Ánh mới thoát và trốn về đảo Cổ Long [31,49]
Quyết tâm tiêu diệt quân Chúa Nguyễn, tháng 7 năm 1783 Nguyễn Huệ sai Trương Văn Đa mang quân bao vây đảo Cổ Long không cho Nguyễn Ánh thoát Trước tình thế đó, bỗng có một trận giông bão nổi lên làm chiến thuyền của Tây Sơn tan vỡ Nhờ đó Nguyễn Ánh trốn thoát về đảo Cô Cốt, rồi trở về Phú Quốc trong tình trạng vô cùng thảm hại Lương thực không còn, đến nổi binh sĩ phải hái lá rừng, đào củ dại mà ăn [32,50]
Không tiêu diệt được Nguyễn Ánh, song Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ vẫn kéo quân về Qui Nhơn và giao Gia Định cho Trương Văn Đa Trương Văn Đa chia quân đóng khắp nơi canh giữ, nhất là thủy quân luôn tuần tra ở các cửa sông, vùng ven biển
Nguyễn Huệ rút đi, Nguyễn Ánh và quân tướng tiếp tục hoạt động trở lại, cho người
về Cà Mau chiêu mộ binh sĩ, kích động quân tướng cũ, lập đồn lũy chờ cơ hội hoạt động
Cuối năm 1783 quân Nguyễn Ánh ở Gia Định bắt đầu hoạt động mạnh Hồ Văn Lân đánh Tân Châu, Cần Thơ nhưng Trương Văn Đa không để cho họ tồn tại lâu Đến tháng 01 năm 1784 Nguyễn Ánh không còn chỗ dựa ở Gia Định, đành chạy sang Xiêm ẩn náo và nhờ viện binh
Từ lâu người Xiêm có tham vọng bành trướng sang Đông, nhân cơ hội này, họ mượn
cớ giúp Nguyễn Ánh đánh Tây Sơn và cướp phá Gia Định
Tuy nhiên, giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh, Xiêm phải chọn bên nào có lợi cho mình và chọn lựa này còn tùy thuộc vào tình hình Chân Lạp Dĩ nhiên là họ chọn Nguyễn Ánh [31,53], Vua Xiêm liền sai hai cháu là Chiêu Tăng và Chiêu Sương sang giúp nhưng bị Tây Sơn đánh bại bằng trận Rạch Gầm-Xoài Mút
Còn Nguyễn Ánh sau khi quân Xiêm thất bại, ông chạy sang Trấn Giang (Cần Thơ), chuẩn bị trốn ra các đảo trong vịnh Xiêm La, rồi chạy ra Thổ Châu nhưng bị Tây Sơn truy đuổi nên cuối cùng phải chạy sang đảo Cổ Cốt [45,27]
Đến tháng 03 năm 1785, Nguyễn Ánh sang Xiêm riếp tục cuộc đời lưu vong lần hai
C ầu viện lần thứ hai (1785-1787):
Trong khi giao hoàng tử Cảnh cho Bá Đa Lộc làm con tin sang Pháp cầu viện, tháng 4 năm 1785 Nguyễn Ánh đến Vọng Các và được vua Xiêm cho đóng ở Long Khâu thuộc khu vực ngoại thành Vọng Các (về sau mang tên là làng Gia Long)
Ở đây Nguyễn Ánh một mặt thu thập, gom góp tàn quân từ trong nước kéo sang; mặt khác Nguyễn Ánh chia quân đi làm ruộng để nuôi quân và trích trữ lương thực, chờ cơ hội
Trang 26trở về, đồng thời thường xuyên cho người về nước chiêu mộ người xây dựng cơ sở bí mật, ra các hải đảo đóng chiến thuyền [32,60]
Tháng 2 năm 1786 Miến Điện xâm chiếm Xiêm, Nguyễn Ánh sai Lê Văn Quân và Nguyễn Văn Thành tiếp giúp Xiêm, quân Miến Điện bị thua to Để cảm tạ công lao đó, vua Xiêm có ý giúp Nguyễn Ánh khôi phục Gia Định lần nữa
Sau đó quân Chà Và (Java) lại đánh Xiêm, Nguyễn Ánh sai Lê Văn Quân đi giúp cũng thắng trận Nhờ vậy thế lực của Nguyễn Ánh ở Xiêm không bị xem thường Nhân cơ hội đó, Nguyễn Ánh chia quân đến Giang Khảm (một địa điểm gần Vọng Các) lo việc đóng chiến thuyền
Trong khi đó vào năm 1786 Bá Đa Lộc cùng Hoàng tử Cảnh và 43 người trong đoàn cầu viện đến Versailles (Vecxay, Pháp) và hơn một năm sau thỏa ước Versailles mới được kí kết vào ngày 28 tháng 11 năm 1787 giữa một bên là hầu tước Montmorin đại diện Vua Louis (Lui 16) và một bên là Bá Đa Lộc, đại diện Nguyễn Ánh
Thỏa ước gồm 14 điều khoản với nội dung phần lớn giống như tờ ủy quyền của Nguyễn Ánh giao cho Bá Đa Lộc ngày 18 năm 8 năm 1782
Đến cuối 1782 Bá Đa Lộc và cả đoàn rời Pháp, lúc bấy giờ nội bộ nước Pháp có nhiều mâu thuẫn nên Pháp không thi hành hiệp ước Không còn cách nào khác, Bá Đa Lộc phải dùng uy tín cá nhân vận động các nhà tư bản ở Pondichery và Ile de France giúp Nguyễn Ánh
Ngày 28 tháng 7 năm 1789 đoàn cầu viện của Bá Đa Lộc cập bến Vũng Tàu với khoảng 10 tàu Bồ Đào Nha và một tàu Pháp, tất cả là tàu buôn nhưng võ trang đầy đủ khí giới quân dụng, có 140 sĩ quan, 80 binh lính người Pháp, Anh
Như vậy Nguyễn Ánh sau nhiều lần bị Tây Sơn đánh bật khỏi Gia Định nhưng với quyết tâm khôi phục Gia Định, Nguyễn Ánh đã sang Xiêm cầu viện nhưng cũng không giành được thắng lợi Trước tình hình đó, đến năm 1787 Nguyễn Ánh quyết định về nước và chọn Long Hưng làm căn cứ
Vì sao Nguyễn Ánh quyết định về nước trong thời gian này và chọn Long Hưng làm căn cứ? Chúng ta sẽ tìm hiểu ở phần 2.3 Nguyễn Ánh chọn vùng đất Long Hưng làm căn cứ
Trang 272.3 Nguy ễn Ánh chọn vùng đất Long Hưng làm căn cứ
Sau khi quét sạch quân Xiêm ra khỏi đất Gia Định, quân Tây Sơn rút về Qui Nhơn, Nguyễn Huệ giao Gia Định cho đô úy Đặng Văn Trấn cùng Thái bảo Phạm Văn Tham dưới quyền chỉ huy của Đông Định Vương Nguyễn Lữ
Để đề phòng quân Nguyễn Ánh bất ngờ tấn công Gia Định, năm 1786 Đặng Văn Trấn cho dời doanh trại lên vùng đất cao ở Cầu Sơn, cách phía Bắc trấn 7 dặm
Trước đây quân Đông Sơn của Đỗ Thanh Nhân và quân Nguyễn Ánh thường tập trung
ở Ba Giồng, bất ngờ tấn công các đồn trại Tây Sơn trong khu vực, có khi tận Gia Định và nhiều lần Nguyễn Ánh trốn thoát cũng nhờ đất Ba Giồng
Đến năm 1785 Đô úy trấn cho đào một con kinh nối liền Rạch Chanh ở phía Đông với đầu nguồn sông Ba Rài ở phía Tây Con kinh này chẳng những nối liền Rạch Chanh với sông
Ba Rài, cắt đôi đất Ba Giồng mà nó còn là con đường giao lưu bằng đường thủy vô cùng quan trọng giữa sông Vàm Cỏ Tây và Tiền Giang Trong Gia Định thành thông chí gọi là
“Rạch Mới sông Tranh” [10,60]
Đó là điều kiện thuận lợi cho lực lượng của Nguyễn Ánh hoạt động như Dương Công Trừng, Nguyễn Văn Nhân, Tống Văn Khương nhân ban đêm cướp đồn Tây Sơn ở Cà Mau;
Lê Công Tấn, Phạm Điền ở Gia Định mưu đánh úp Bến Nghé
Ở Biên Hòa, Nguyễn Văn Nghĩa và Nguyễn Văn Tuyết mộ quân nổi lên đến ngày Nguyễn Ánh trở về nước
Trong khi lực lượng Tây Sơn ở Gia Định lúc này rất mỏng, thậm chí có nơi không giữ nỗi các trấn, thì ở các xóm làng xa xôi hẻo lánh, nơi rừng sâu làm sao kiểm soát được [45,31]
Vào đầu năm 1786, vua Xiêm muốn viện quân cho Nguyễn Ánh khôi phục Gia Định một lần nữa nhưng Nguyễn Ánh đã từ chối
Tháng 3 năm 1786, Nguyễn Ánh sai Tổng nhân cai cơ Hoàng Tiến Cảnh, Nguyễn Văn Nhân, Võ Di Nguy đem quân về núi Giang Khảm đóng thuyền
Đến cuối năm 1786, Nguyễn Ánh sai Cai Cơ Phạm Văn Châu và Nguyễn Văn Đình về
Hà Tiên chiêu mộ lực lượng với ý đồ nếu có cơ hội là quay về chiếm lại Gia Định [45,31]
Hơn nữa, Nguyễn Ánh nhận thấy tình hình sẽ bất lợi nếu ông tiếp tục sống lưu vong lâu ở Xiêm vì mối quan hệ giữa Xiêm và Tây Sơn ngày càng được cải thiện tốt hơn Người
Trang 28Xiêm vốn sợ Tây Sơn, nếu Tây Sơn nhường cho họ một ít quyền lợi, chắc họ sẵn sàng bắt Nguyễn Ánh nộp cho Tây Sơn [30,212]
Tháng 02 năm 1786 giám quân Tống Phước Đạm sang báo tin với Nguyễn Ánh rằng anh em Tây Sơn đang đánh nhau quyết liệt ở Qui Nhơn Nguyễn Huệ mang đại quân từ Bắc vào bao vây Hoàng đế thành; Đô úy Đặng Văn Trấn phải mang quân từ Gia Định ra cứu Qui Nhơn
Nguyễn Ánh thấy thời cơ đã đến và quyết định về nước, từ đó mọi việc được tiến hành khẩn trương ở Vọng Các, Hòn Tre, Cổ Cốt, Cà Mau, Hà Tiên, Sa Đéc chuẩn bị cho công cuộc quay về
Ngoài những nguyên nhân trên còn một nguyên nhân nữa khiến Nguyễn Ánh cho rằng thời cơ đã đến, đó là việc phản bội Tây Sơn của Nguyễn Đằng Vân
Nguyễn Đằng Vân giỏi võ nghệ, theo Nguyễn Huệ từ nhỏ và được nhận làm con nuôi Năm 1785, lúc quân Tây Sơn truy nã Nguyễn Ánh ẩn trốn ở các hải đảo, Nguyễn Đằng Vân thường giả bệnh để từ chối hành quân Đến khi Nguyễn Ánh sang Vọng Các, Nguyễn Đằng Vân không theo quân Tây Sơn rút về mà ẩn mình trên đảo, đến năm 1787 Nguyễn Đằng Vân sang Vọng Các đầu hàng
Từ những nguyên nhân trên đã khiến Nguyễn Ánh quyết định về nước, sau khi bố trí một lực lượng lớn ở lại Vọng Các Tối ngày 13 tháng 8 năm 1787 Nguyễn Ánh cùng gia quyến và quân tướng lẻn xuống bến Bắc Môn ra đi Sáng ra, vua Xiêm hay tin cho quân đuổi theo nhưng không kịp [45,33]
Nguyễn Ánh về đóng quân ở Hòn Tre, rồi qua Cổ Cốt Tại đây Hà Hỷ Văn và Châu Viễn Quyền xin quy thuận
Sau đó để gia quyến ở Phú Quốc, Nguyễn Ánh vào Cà Mau Chưởng cơ Tây Sơn Nguyễn Văn Trương phụ trách vùng này sai thuộc hạ là Hoàng Văn Điểm mang 300 binh và
15 chiến thuyền ra hàng [44,117]
Thổ hào Nguyễn Văn Tuyết và Nguyễn Văn Nghĩa nổi lên chống Tây Sơn ở Biên Hòa cũng kéo quân đến quy thuận Nguyễn Ánh làm chủ toàn miền Hậu Giang sau trận Trà Ôn
do Chưởng cơ mới quy thuận Nguyễn Văn Trương chỉ huy
Lực lượng Nguyễn Ánh lớn lên thấy rõ, phấn khởi trước thực tế đó Nguyễn Ánh mang quân đi Cần Giờ để kích động lòng người chống Tây Sơn
Được tin quân Nguyễn Ánh nhập Gia Định, Đông Định Vương Nguyễn Lữ phải tự mình xoay trở Ông rút về Lạng Phụ (tức Gò Lượng, thuộc Biên Hòa) đắp thành đất để ở và
Trang 29giao Gia Định cho Thái bảo Phạm Văn Tham chống đỡ Quân Tây Sơn chống cự nên Nguyễn Ánh không hạ được thành
Trên đường rút về Hổ Châu (còn gọi là Bãi Hổ hay Hổ cứ thuộc Sa Đéc) [44,146] Quân Nguyễn Ánh đánh chiếm các đồn lũy dọc đường, quân Tây Sơn là Nguyễn Kế Nhuận mang quân ra hàng với 70 chiếc thuyền
Khi đến Ba Lai, Ngự Úy Tây Sơn Nguyễn Văn Đồn dàn quân trên sông ngăn lại [44,147] Quân Nguyễn Ánh do Lê Văn Quân và Hồ Văn Lân dùng thế hai mặt giáp công, công phá và đánh tan được quân Tây Sơn
Trên đà thắng lợi, Nguyễn Ánh tiếp tục mang quân tấn công Mỹ Tho nhưng bị Phạm Văn Tham đánh tan, bắt được hàng tướng Nguyễn Đằng Vân Nguyễn Ánh chạy về đến Bãi
Hổ thu gom được khoảng 300 quân và hơn 20 chiến thuyền, còn Hà Hỷ Văn chạy ra Côn Đảo không dám vào nữa
Dù thắng trận nhưng Phạm Văn Tham rơi vào tình thế nguy khốn:
+ Một mặt không có viện binh;
+ Mặt khác, mặt trận lại càng mở rộng do thế lực của Nguyễn Ánh tuy không mạnh, song có mặt ở khắp nơi
Vào tháng 10 năm 1787, Hồ Văn Lân đánh Lương Phú, đuổi Đô Đốc Nguyễn Văn Mâm chạy về cố thủ ở Định Tường, bỏ Chưởng Cơ Chân và Hữu Hiệu Huấn ở lại Hai người
ra hàng quân Nguyễn Ánh và trở thành tiên phong cho Nguyễn Ánh Tiếp theo Nguyễn Văn Trương làm tập hậu đánh Chưởng Cơ Trì ở sông Mỹ Lung (Mỹ Lương, Cái Bè) [45,33], Chưởng Cơ Trì bỏ chạy và quân lính đầu hàng
Phạm Văn Tham định đánh lấy lại Mỹ Lương nhưng Nguyễn Ánh đã mang quân đến
hỗ trợ, Phạm Văn Tham đành rút ra Ba Lai
Tại đây, Phạm Văn Tham được Nguyễn Huệ sai Thái úy Phạm Văn Hưng mang 30 thuyền vào cứu viện, làm cho quân tướng Nguyễn Ánh lo lắng và dao động Nguyễn Ánh phải trấn an các tướng sĩ bằng cách đưa ra lập luận – quân của Phạm Văn Hưng tuy đông nhưng chỉ vào lấy lương thực rồi về
Quả thật, không bao lâu sau Phạm Văn Hưng rút về thật [31,69-70] Vì thế Phạm Văn Tham lại rơi vào thế cô lập, phải rút về Mỹ Tho, sau đó lại rời Mỹ Tho về cố thủ ở Gia Định
Đến tháng 10 năm 1787 lực lượng Nguyễn Ánh đã làm chủ phía Nam sông Tiền (khoảng gần phân nữa đất Gia Định) Thêm vào đó là, lúc này nội bộ Tây Sơn đang xảy ra
Trang 30mâu thuẫn trầm trọng, Nguyễn Huệ đang bận đối phó với vấn đề ở Bắc Hà, ít có khả năng vào chiếm lại đất Gia Định trong một thời gian gần có thể
Những điều trên cho thấy, mọi diễn biến đều rất thuận lợi cho Nguyễn Ánh Song ông chỉ ngại một điều, đó là sự bất ngờ hành quân thần tốc của Nguyễn Huệ
Vào cả 4 lần trước đó như năm 1777, 1782, 1783 và 1785, hễ Nguyễn Huệ vào là ông đều bị đánh bật ra khỏi Gia Định Vì vậy, để tránh tình trạng cũ có thể xảy ra, Nguyễn Ánh cho quân về lập căn cứ ở vùng Nước Xoáy (Hồi Oa) thuộc thôn Tân Long (về sau gọi là Long Hưng), thuộc huyện Vĩnh An, trấn Vĩnh Thanh [45,34]
c ứ
Vùng Nước Xoáy – Tân Long nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, gần Sa Đéc Là điểm tựa tiến sang Ba Giồng, qua Bến Lức áp sát Sài Gòn, đồng thời là đầu cầu rút xuống Cà Mau, Kiên Giang ra Phú Quốc, Côn Đảo vốn con đường tiến thoái quen thuộc của Nguyễn Ánh
suốt hơn mười năm qua Với mạng lưới sông rạch chằng chịt, nếu tận dụng các lợi thế đó thì
có thể biến vùng này thành một căn cứ vững chắc
Sa Đéc vào lúc này là một trung tâm thương mại sầm uất ở đồng bằng sông Cửu Long mới vừa khai phá, nơi đây có thể cung cấp cho Nguyễn Ánh nhiều thứ cần thiết cho chiến tranh do thương nhân nước ngoài mang đến, chủ yếu là người Hoa
Đây còn là vùng được khai phá sớm, dân cư đông đúc, có nhiều lúa gạo, tôm cá Con người cũng có cuộc sống thuận lợi hơn so với nhiều nơi khác
Ngoài ra, còn một yếu tố khác được Nguyễn Ánh đặc biệt chú ý đó chính là con người Đối với họ, Tây Sơn là kẻ xoán đoạt; còn Nguyễn Ánh là con cháu của các Chúa Nguyễn –
là những người có công rất lớn trong việc khai phá đất phương Nam, giúp họ tạo dựng được cuộc sống sung túc như thế; mặc dù họ cũng thấy rõ chiến công hiển hách của Nguyễn Huệ - Quang Trung trong việc đánh tan mấy vạn quân Xiêm Đồng thời cũng thấy được lỗi lầm của Nguyễn Ánh là cầu cứu quân Xiêm
Mặc dù như vậy, nhưng Tây Sơn đã làm được gì cho Nam Bộ, ngoài những thuyền lúa gạo tấp nập chở về Qui Nhơn sau mỗi lần đẩy lùi Nguyễn Ánh ra khỏi vùng đất trù phú này?
Đó chính là câu hỏi lớn, làm người dân phải boăn khoăn suy nghĩ
Điều đó cho chúng ta thấy, không gì khó hiểu khi có nhiều nhà điền chủ, kể cả nông dân đứng ra ủng hộ Nguyễn Ánh Còn ý kiến cho rằng, động thái đó chính là biểu hiện của
Trang 31sự cấu kết giữa Nguyễn Ánh và giới điền chủ để hình thành thế lực phong kiến, thì ý kiến này cần được nghiên cứu và lý giải sâu hơn
Trước và sau khi về đóng quân ở nước Xoáy, vùng này còn là nguồn bổ sung nhân lực dồi dào cho Nguyễn Ánh Có hàng loạt tướng tài một dạ trung kiên với Nguyễn Ánh như:
- Tống Phước Thiêm: gốc người Tống Sơn (Thanh Hóa) vào cư ngụ ở Vĩnh An (vùng Sa Đéc), làm quan đến chức Chưởng Cơ dưới triều chúa Định Vương Nguyễn Phước Thuần (1765 – 1777), bị Tây Sơn đánh bại và suýt chết nhiều lần nhưng vẫn một lòng theo Nguyễn Ánh
- Nguyễn Văn Nhơn (1753 – 1822): người thôn Tân Đông, huyện Vĩnh An (vùng Sa Đéc), theo chúa Nguyễn Phước Thuần từ năm 1774, sau tiếp tục theo Nguyễn Ánh, làm quan đến chức Tổng trấn Gia Định thành
- Nguyễn Văn Tuyên (1762 – 1830): người huyện Vĩnh An (vùng Sa Đéc), theo Nguyễn Ánh từ năm 1788, chức vụ cao nhất Tống trấn Gia Định thành
- Nguyễn Văn Trọng: người Nha mân, theo Nguyễn Ánh từ năm 1787, năm 1798 được thăng chức Chánh Vệ Lương Vũ doanh tiên phong, năm 1880 tử trận ở Qui Nhơn
- Nguyễn Văn Nhàn: người Sa Đéc, đầu quân dưới thời chúa Nguyễn Phước Thuần, tiếp tục theo Nguyễn Ánh, có lúc lưu vong sang Xiêm, lập được nhiều công, khi qua đời được truy phong Chưởng Cơ
- Hoàng Phước Bửu: người Sa Đéc, gốc Thừa Thiên, theo Nguyễn Ánh rất sớm, được phong chức Vệ Úy, cùng lưu vong sang Xiêm Sau bị tử trận ở Qui Nhơn, được truy phong Chưởng Cơ
- Nguyễn Văn Bế: quê ở Sa Đéc, theo Nguyễn Ánh lưu vong sang Xiêm, phụ trách ngoại giao, được phong Tổng nhung cai cơ
- Nguyễn Văn Yến: quê ở Nha Mân, theo Nguyễn Ánh từ ngay buổi đầu, được phong chức Lượng võ vệ Vệ úy, tử trận ở Qui Nhơn
- Nguyễn Văn Định: người ở Nha Mân, theo Nguyễn Ánh rất sớm, cùng lưu vong sang Xiêm, được phong Cai cơ, tử trận ở Đà Nẵng, được truy phong Chưởng cơ
- Đặc biệt là Nguyễn Văn Mậu (Bỏ Hậu), quê ở Tân Long (Long Hưng – Sa Đéc) tuy không phải là văn thần, võ tướng nhưng đùm bọc và giúp đỡ lương thực cho Nguyễn Ánh từ trong những ngày đầu mới về Nước Xoáy và được Nguyễn Ánh coi như người đỡ đầu (cha nuôi)
Trang 322.3.3 Nguy ễn Ánh lập căn cứ ở vùng Long Hưng – Sa Đéc
Trong Đại Nam Thực Lục có ghi Nguyễn Ánh về đồn trú ở Hồi Oa (Nước Xoáy) vào tháng 10 năm 1787 Nhưng với qui mô bề thế của một hệ thống đồn bảo, tháp canh, cản đá, hầm hào, kể cả xưởng đúc rèn binh khí, xưởng đút tiền trên một khu vực rộng lớn trải dài từ sông Tiền đến sông Hậu, từ sông Hội An đến vùng hậu bối (sau lưng) Sa Đéc thì không thể xây dựng trong một sớm một chiều mà thành được
Cụ thể như việc đắp những cản đá trên các cửa sông rạch (dân gian gọi di tích này là
Đá Hàn) thì phải cho người đến núi Sam (Châu Đốc) lấy đá chở về và phải mất khá nhiều thời gian
Mặc dù không còn tư liệu liên quan, song chúng ta có thể suy đoán rằng, Nguyễn Ánh
đã lợi dụng sự quản lý lỏng lẻo của Đông Định Vương Nguyễn Lữ vì không đủ lực lượng và khả năng
Lúc còn lưu vong ở Vọng Các, Nguyễn Ánh đã cho người lẻn về qui tụ dân địa phương lén lút xây dựng Ngay khi Nguyễn Ánh về trú đóng, hệ thống đồn bảo ở đây đã phát huy tác dụng Bằng chứng là khi Nguyễn Ánh về, quân Tây Sơn kéo đến bao vây đánh phá nhưng không phá nỗi đồn Nước Xoáy
Căn cứ vào một số dấu vết còn sót lại hiện nay, chúng ta có thể chia khu căn cứ này thành hai bộ phận:
- Khu trung tâm: gồm đồn Nước Xoáy bên bờ rạch Nước Xoáy, nền đồn được đắp cao, nước không ngập, rộng khoảng 10.000 mét vuông, chung quanh có thành đất và hào sâu
- Để bảo vệ đồn chính, hai bên có đồn tả do Hoàng Văn Khánh và Tổng Phước Ngoạn; đồn hữu do Nguyễn Văn Trương và Tô Văn Đoài trấn giữ Hai đồn này, chung quanh có thành đất, hướng ra sông Tiền Trên một chi lưu của rạch Nước Xoáy có xây dựng một hệ thống bờ cản bằng đất và một số tiền đồn cùng
trạm canh
Về sau, con rạch đó có tên là con rạch Bờ Rào Ngoài ra còn có một xưởng rèn, đúc binh khí ở thôn Tân Mỹ (dấu tích là con rạch mang tên là Rạch Xưởng) và một số đồn, trạm canh (ở Tân An Trung, nay còn có địa danh là Thủ củ)
Khu ngoại vi:
Trang 33+ Ở phía tây:
Thuộc lưu vực của các sông rạch: Lấp Vò, Hội An Giang (sông Cường Thành), Mỹ
An, Mỹ Hưng, Thủ Ô, một phần sông Sa Đéc ăn thông với rạch Nước Xoáy Ở mỗi vàm rạch, vàm sông đều có đồn hoặc tháp canh, lớn nhất là đồn Hội An và đồn Cường Thành (Lấp Vò)
Để gây trở ngại cho thuyền Tây Sơn tấn công, di chuyển trong vùng căn cứ, Nguyễn Ánh cho binh lính lấy đá từ núi Sam (Châu Đốc) hàn bít một số cửa sông, vàm rạch Trên một con rạch ăn thông với rạch Lấp Vò có thiết lập một sở đúc tiền nên về sau rạch này mang tên là Trường Tiền
+ Ở phía Nam:
Thuộc lưu vực của rạch Lai Vung, Long Hậu và các chi lưu của chúng Để bảo vệ đồn trung tâm ở Nước Xoáy và bảo đảm cho đường rút lui khi cần Nguyễn Ánh cho binh lính xây đắp hai cái bảo lớn:
Một là Bảo Tiền, nay còn di tích nằm cách bờ rạch Cái Bàng khoảng 250 mét, ở ấp Long Định, xã Long Thắng
Bảo Tiền rộng khoảng gần một hecta, được đắp cao hơn mặt đất tự nhiên gần một mét, chung quanh có hào sâu; phía ngoài có tường thành bằng đất cao gần 4 mét, vuông vức mỗi cạnh 150 mét Bốn gốc thành có bố trí bốn ụ súng đại bác Từ rạch Cái Bàng dẫn vào Bảo
Tiền bằng một con kinh tại vàm kinh có một đồn canh, gọi là đồn Thổ Sơn
Cách đồn Thổ Sơn khoảng 100 mét có thành lập một trường bắn (nay thuộc đất của ông Văn Đăng Điệu) Hàng ngày binh lính ở Bảo Tiền ra đây luyện tập (đến nay, khi cày ruộng hoặc đào mương, thỉnh thoảng nông dân phát hiện những viên đạn chì tròn cở viên đạn
bắn “cu ly” của trẻ con)
Hai là Bảo Hậu, hiện nay thuộc ấp Định Phong, xã Định Hòa (trên đất của ông Lâm Văn Đẹt)
Rạch Cái Bàng chảy đến Ngã Năm ăn thông với Rạch Gỗ, rạch này đổ nước vào sông Hậu tại vàm Cả Sâu
Bảo Hậu nằm cách bờ rạch này chừng 80 mét, cách vàm Cả Sâu 7 km
Quy mô Bảo Hậu nhỏ hơn Bảo Tiền, rộng gần 1000 mét vuông, cũng được đắp cao hơn mặt đất tự nhiên gần một mét Chung quanh có hào sâu, mỗi cạnh dài 60 mét, cách hào khoảng 20 mét là tường thành cao khoảng hai mét, trên có trồng sao, tre Từ rạch Gỗ có con kinh dẫn vào bảo (hiện nay đã lấp cạn)
Trang 34Giữa Bảo Tiền và Bảo Hậu liên lạc nhau ở mặt trước, Bảo Hậu bảo vệ mặt sau Nhưng căn cứ trên thực địa, điều này e rằng chưa chính xác, vì cả hai Bảo Tiền và Bảo Hậu đều nằm
ở mặt sau của đồn trung tâm ở Nước Xoáy Nhìn toàn diện hệ thống đồn Bảo trong khu vực,
ta thấy cách bố trí bảo vệ đồn trung tâm ở Nước Xoáy ở phía Đông (phía sông Tiền) hơi mỏng hơn so với phía Tây (phía sông Hậu) [45,37]
Ở phía Tây, ngoài Bảo Tiền và Bảo Hậu còn có hàng loạt đồn, tháp canh, cảng đá trên các sông rạch Lai Vung, Cái Tắc Lai Vung, sông Long Hậu
Hiện nay còn các vết tích như đồn Cường Uy, cản đá ở Cái Tắc Lai Vung, sông Long Hậu, ở vàm rạch Bà Vinh Điều này cho thấy có thể là các đồn, bảo ở phía sông Hậu được thành lập từ trước khi Nguyễn Ánh về đóng căn cứ ở Nước Xoáy-tháng 10 năm 1788, nhằm bảo vệ con đường rút quân xuống Cà Mau của Nguyễn Ánh khi lâm vào tình thế bắt buộc
Trang 35Từ năm 1773 đến năm 1783 quân Tây Sơn liên tiếp giành thắng lợi, còn Nguyễn Ánh phải chịu từ thất bại này đến thất bại khác, phải chạy xuống Ba Giồng, ra Phú Quốc Đến năm 1784, Nguyễn Ánh không còn chỗ dựa ở Gia Định, đành chạy sang Xiêm ẩn náu và cầu viện Nhưng với sự giúp sức của quân Xiêm, Nguyễn Ánh cũng không giành được thắng lợi
mà phải chịu thất bại nặng nề ở trận Rạch Gầm – Xoài Mút
Với quyết tâm khôi phục Gia Định, Nguyễn Ánh đã ra sức thu phục và chuẩn bị lực lượng, vì thế lực lượng không ngừng phát triển sau khi chọn Long Hưng làm căn cứ
Sở dĩ, Nguyễn Ánh chọn Long Hưng làm căn cứ vì vùng này là điểm tựa tiến sang Ba Giồng, qua Bến Lức áp sát Sài Gòn, đồng thời là đầu cầu rút xuống Cà Mau, Kiên Giang ra Phú Quốc, Côn Đảo vốn con đường tiến thoái quen thuộc của Nguyễn Ánh suốt hơn mười năm qua Với mạng lưới sông rạch chằng chịt, nếu tận dụng các lợi thế đó, có thể biến nơi đây thành một căn cứ vững chắc
Ngoài ra, Long Hưng còn là nguồn bổ sung nhân lực dồi dào cho Nguyễn Ánh Từ căn
cứ Long Hưng, Nguyễn Ánh đã liên tiếp giành được thắng lợi, đó là những thắng lợi nào? Căn cứ Long Hưng có vai trò như thế nào đối với thắng lợi của Nguyễn Ánh? Chúng ta sẽ chuyển sang chương 3 – Qúa trình khôi phục lực lượng của Nguyễn Ánh tại căn cứ Long
Hưng – Sa Đéc (1787 – 1789)
Trang 36CHƯƠNG 3: QUÁ TRÌNH KHÔI PHỤC LỰC LƯỢNG CỦA NGUYỄN ÁNH TẠI
CĂN CỨ LONG HƯNG – SA ĐÉC (1787-1789)
Việc đưa quân về đồn trú ở khu vực Nước Xoáy – Tân Long là một quyết định quan trọng và có ảnh hưởng đến thắng lợi của Nguyễn Ánh Đánh giá tầm quan trọng của sự kiện này, Trinh Hoài Đức viết trong Gia Định Thành Thông Chí như sau:
Khi ngự giá đến chỗ Hồi Oa (tức đồn Hưng Long tỉnh An Giang), nghĩa quân bốn phương hưởng ứng qui tụ: ở Trấn Định có Tiên Phong Tánh thiện hầu Võ Công Tánh, ở
Tr ấn Biên có Chưởng Cơ Nghĩa lý hầu Nguyễn Văn Nghĩa, là những người có đại thủ đoạn,
k ỳ dư những bọn hào kiệt thường hay đánh giết quan lại Tây Sơn, lúc này cũng theo quan binh không sót người nào Cũng có những nhóm mưu sự bất thành, bị Tây Sơn giết, sau cũng
có nhóm vì lòng trung phẫn, xuất phát ứng nghĩa để làm nội công, trông thấy khói lửa nổi lên ngùn ng ụt, quân địch không sao kiềm chế nổi, nên nhà Vua trung hưng, có thể định trước được ngày tháng vậy” [10,102-103]
Rõ ràng là từ khi về đặt căn cứ ở Tân Long, nhiều điền chủ và nông dân đã ủng hộ, trợ giúp Nguyễn Ánh Điều này được Đại Nam Thực Lục ghi chép, điển hình như một số nơi:
Vua v ề tới Hổ Châu thu gom được hơn 300 tướng sĩ và 20 chiến thuyền, sai Nguyễn Văn Tồn chiêu tập dân Phiên (Miên) ở hai xứ Trà Vinh và Mân Thít được vài ngàn người, biên b ổ làm lính [32,69]
Đặt ra hai vệ Vũ cự nhất và Vũ cự nhị, lấy dân ở hai thôn An Hòa Đông và Tân Hòa tổng Tân An thuộc dinh Vĩnh Trấn (nay thuộc Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp) sung vào
Vua từ nước Xiêm trở về, dân hai thôn đều đóng thuyền chứa sẵn lương thực, xin theo quan quân đánh giặc Nhưng một đối tượng mà Nguyễn Ánh quan tâm nhất trong việc thu
phục, đó là Võ Tánh
Võ Tánh, người quê ở huyện Phước An (nay thuộc tỉnh Đồng Nai), em của Võ Nhàn,
Võ Nhàn vốn là thuộc hạ của Đỗ Thanh Nhân
Sau khi Đỗ Thanh Nhân bị Nguyễn Ánh trừ khử, Võ Nhàn cũng bị hại vì trả thù cho chủ tướng Võ Tánh sợ bị liên lụy nên bỏ trốn
Trang 37Đến năm 1785 khi quân Tây Sơn vào Gia Định, Nguyễn Ánh bỏ chạy sang Xiêm, Võ Tánh dấy binh ở Phù Viên (tức Vườn Trầu, thuộc Hóc Môn, Bà Điểm ngày nay), có sách viết ông là người trí dũng, mưu lược, nên có nhiều người theo
Lực lượng ngày một lớn mạnh, quân số lên hơn một vạn, Võ Tánh rời đất Phù Viên kéo quân về Gò Công đặt tên là đạo quân “Kiến Hòa” (Vì Gò Công thuộc huyện Kiến Hòa, dinh Trấn Định, sau là Định Tường), chia làm năm chi, tự xưng là Tổng Nhung, tiếng tăm lừng lẫy khắp Gia Định Nguyễn Nhạc sai Ngụy Nguyên tiểu phạt nhưng Ngụy Nguyên bị
Võ Tánh giết chết Người đương thời xếp ông cùng với Đỗ Thanh Nhân và Châu Văn Tiếp vào “Gia Định tam hùng” Chống Tây Sơn nhưng ông không theo Nguyễn Ánh, không hẳn
vì mối thù giết anh mà thật sự ông đang chờ đợi thời cơ: thế cờ ngã về ai, Tây Sơn hay Nguyễn Ánh? [45,38]
Mùa thu năm 1787 khi mới về đến Nga Châu, Nguyễn Ánh liền phái Nguyễn Đức Xuyên mang lễ vật đích thân đến Gò Công triệu thỉnh ông nhưng không có kết quả
Đầu năm 1788 khi Nguyễn Ánh đã đóng tổng hành dinh ở Nước Xoáy, sai các tướng mang quân đi đánh Thái Bảo Tây Sơn Phạm Văn Tham ở Ba Giồng, Thái Bảo Tham Lui về
Ba Lai
Cùng lúc ấy Thái úy Tây Sơn Phạm Văn Hưng từ Qui Nhơn mang quân vào tiếp ứng nhưng sau đó lại rút về Thái Bảo Tham kéo quân về sông Mỹ Tho bị Võ Tánh đánh ba trận không lên bờ được phải quay về Sài Gòn [35,100] Nhưng Võ Tánh vẫn chưa theo phò họ Nguyễn
Đến tháng 4 năm 1788, Nguyễn Ánh lại phái Trương Phúc Giáo đi thuyết phục một lần nữa Lúc bấy giờ Võ Tánh mới cùng thuộc hạ là Vũ Văn Lượng, Nguyễn Văn Hiếu, Mạc Văn Tô, Trần Văn Tín đến đồn Nước Xoáy ra mắt thần phục Nguyễn Ánh liền phong cho
Võ Tánh làm khâm sai Tổng Nhung Chưởng có dinh Tiên phong và gả cho công chúa trưởng
là Ngọc Du Bọn thuộc hạ của Võ Tánh đều được phong chức Cai Cơ [32,72-73]
Thu phục được Võ Tánh là một thắng lợi lớn của Nguyễn Ánh Thế trận ở Gia Định nghiêng hẳn về Nguyễn Ánh Lúc này ở Bắc Hà nhiều cựu thần nhà Lê không chịu theo Tây Sơn cũng rủ nhau vượt biển vào Gia Định theo Phúc Ánh
Tháng 8 năm 1788 Phúc Ánh cùng với Tôn Thất Hội, Võ Tánh phá quân Tây Sơn ở Ngũ Kiều
Đến tháng 9 năm 1788, Phúc Ánh đánh bại quân của Phạm Văn Sâm và chiếm thành Sài Gòn Phạm Văn Sâm lui quân về giữ Ba Xắc Phúc Ánh biết Sâm muốn chờ gió mùa thả
Trang 38thuyền chạy về Quy Nhơn, liền cho quân đi đóng giữ các cửa bể, Phạm Văn Sâm bị vây chặt quá, chờ mãi không thấy viện binh, đành phải mang quân đến hàng Nguyễn Ánh
Thế là Nguyễn Ánh chiếm được cả miền Gia Định, từ đây miền Gia Định là căn cứ của Nguyễn Ánh để chuẩn bị đánh ra miền Bắc
Chiếm được Gia Định, Nguyễn Ánh một mặt đặt quan lại tổ chức việc cai trị, một mặt hết sức phát triển nông nghiệp, công nghiệp và thương nghiệp
Về nông nghiệp, Nguyễn Ánh sai mười hai văn thần là Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Tùng Chu, Hoàng Minh Khánh làm điền tuấn quan với nhiệm vụ đi khuyến khích quân và dân chăm lo sản xuất nông nghiệp Các quan văn võ đều phải đi mộ người lập thành đội gọi là đồn điền đội để đi khai khẩn đất hoang Tất cả binh lính và thường dân đều phải làm ruộng, ai không chịu làm ruộng thì phải đi lính thay cho phủ binh Đến ngày mùa, những người làm ruộng ở đồng bằng phải nộp 4200 bát thóc/người, ở miền núi phải nộp
2940 bát thóc một người Những người nộp đủ số thóc như thế, nếu là phủ binh thì được miễn 1 năm không phải đi ra trận; nếu là thường dân thì được miễn 1 năm không phải đi sưu dịch
Nguyễn Ánh cho chiêu mộ dân nghèo các nơi làm ruộng Những người này gọi là điền tốt Điền tuấn quan phải cấp ruộng hoang cho điền tốt Điền tốt nào không đủ trâu bò hay cày bừa, thì điền tuấn quan phải giúp đỡ trâu bỏ và cày bừa, đến ngày mùa điền tốt phải trả bằng thóc Người nào mộ được 10 người dân trở lên, thì được làm cai trại và được miễn trừ sưu dịch
Về công nghiệp, Nguyễn Ánh cho mở nhiều xưởng chế nông cụ, đóng thuyền bè, xe
cộ Đáng chú ý là Nguyễn Ánh lại cho mở cả xưởng đúc súng và đóng tàu biển Các giáo sĩ phương Tây ở Gia Định hồi ấy kể rằng: Nguyễn Ánh là đốc công số 1 của các công xưởng ở Sài Gòn, đến xưởng sớm hơn hết mọi người, ra về sau hết cả mọi người, có ngày Nguyễn Ánh ăn cơm trưa ở xưởng để tiện kiểm soát công việc ở xưởng [31, 211]
Các giáo sĩ lại cho biết “Các kho của Nguyễn Ánh đều đầy các loại sản phẩm công nghiệp, đặc biệt là súng có đủ các loại, đại bác có đủ các cỡ Các vua chúa giàu nhất châu
Âu cũng chẳng có ai nhiều đại bác bằng Nguyễn Ánh” [31,212]
Về thương nghiệp, Nguyễn Ánh tìm cách khuyến khích việc buôn bán để có dịp đem sản phẩm trong nước đổi lấy những đồ gang, đồ sắt, kẽm, lưu hoàng hay súng ống của thương nhân ngoại quốc Nguyễn Ánh ra lệnh cho các quan cứ theo giá thị trường mà mua đường cát, hồ tiêu, tơ lụa để đem đổi cho thương nhân ngoại quốc lấy súng đạn Các tàu
Trang 39buôn các nước cứ theo trọng lượng số sắt, gang, lưu hoàng súng đạn đã chở đến mà mua một
số hàng hoá (đường, hồ tiêu, tơ lụa ) với một trọng lượng tương đương
Tóm lại, những chính sách của Nguyễn Ánh đã lôi kéo được nhân dân theo mình trong cuộc chiến tranh đánh đổ triều đại Tây Sơn Kết quả của chính sách nông nghiệp, công nghiệp và thương nghiệp, đặc biệt là chính sách nông nghiệp đã làm biến đổi bộ mặt miền Gia Định, làm cho miền Gia Định từ một nơi đất hoang rộng thưa dân cư thành một miền dân cư trù phú
Trên cơ sở kinh tế tương đối vững chắc ấy, Nguyễn Ánh tích cực tiến hành mọi công tác chuẩn bị một cuộc tổng phản công vào quân đội Tây Sơn
Nguyễn Ánh về trú đóng tại Nước Xoáy ít lâu, Thái Bảo Tây Sơn Phạm Văn Tham cho quân đến bao vây, đắp lũy đối diện với đồn Nước Xoáy Hai bên đánh nhau suốt mấy ngày không phân thắng bại Nguyễn Ánh có sáng kiến làm đại bác bằng gỗ và bắn bằng hạt cau khô [45,39]; cuối cùng đẩy lùi được quân Tây Sơn Đây là trận duy nhất Tây Sơn chủ động tiến công vào khu vực này, sau khi Nguyễn Ánh xây dựng căn cứ
Vào thời điểm Nguyễn Ánh về trú quân ở Nước Xoáy, sông Tiền được xem như ranh giới của hai thế lực Đó là chưa nói đến lực lượng của Võ Tánh ở Gò Công, Nguyễn Văn Nghĩa nổi dậy ở Đồng Nai
Để phát triển thế lực qua bên kia sông Tiền, đầu năm 1788 từ Nước Xoáy Nguyễn Ánh đích thân và sai các tướng đánh chiếm giồng Gầm, giồng Triệu, giồng Sao, Trà Lọt (thuộc vùng Cái Bè) làm bàn đạp để chiếm đóng đất Ba Giồng (thuộc Trấn Định) Mặt khác, cũng để ổn định phần đất vừa chiếm được
Vào tháng 2 năm 1788, Nguyễn Ánh cho tái lập công đường dinh Vĩnh
Trấn (vùng Vĩnh Long, An Giang), đặt quan cai trị Sau đó cử Ngô Ma (người Xiêm) thay
Mạc Tử Sanh quản lý trấn Hà Tiên để giữ yên mặt Tây Nam
Đến tháng 4 năm 1788 Nguyễn Ánh sai Tôn Thất Huy và Lê Văn Quân mang quân đánh chiếm đồn Trấn Định (ở Tân Hiệp ngày nay) Sau đó, phái Nguyễn Văn Trương mang thủy quân đến đóng ở Mỹ Tho, tăng cường quân số cho Trấn Định (tức vùng Định Tường –
Mỹ Tho)
Ba Giồng (khu vực từ Cai Lậy chạy ngược lên đến sông Vàm Cỏ Tây) là bàn đạp tiến
về thành Gia Định (Sài Gòn) đặc biệt được Nguyễn Ánh quan tâm Sau khi cho quân bố trí ở Tân Hiệp và Mỹ Tho, Nguyễn Ánh sai Tôn Thất Hội và Võ Tánh mang quân bao vây đồn
Trang 40Cầu Ngũ (Ngũ Kiều), đích thân Nguyễn Ánh đốc thủy quân giáp trận, Tây Sơn tan vở, đa số đều bị bắt
Chiếm được Ba Giồng coi như Nguyễn Ánh làm chủ toàn bộ dinh Trấn Định, sau đó ông cho thiết lập công đường của dinh này và giao cho Tôn Thất Huy, Phạm Văn Sĩ và Tống Phước Đạm phụ trách
Việc thiết lập ngay cơ sở hành chính nơi vừa chiếm được giúp cho Nguyễn Ánh chẳng những quản lý, kiểm soát được tình hình trật tự, sinh hoạt xã hội mà còn trưng thu được sức người sức của ở địa phương phục vụ cho chiến tranh Để tranh thủ, mua chuộc lòng người kể
cả binh sĩ Tây Sơn rã ngũ lẫn trốn trong dân, Nguyễn Ánh ra lệnh cấm binh sĩ sách nhiễu dân chúng; từ đó dùng lợi lộc khuyên dụ họ đối đãi tốt với binh lính Tây Sơn, lôi kéo đám tàn binh này về phía mình
Nguyễn Ánh ra lệnh, hễ nuôi chứa một binh sĩ Tây Sơn bỏ trốn về làng thì được miễn binh dịch một nữa, hai người thì được miễn hết, ba người trở lên thì được thưởng Riêng đối với binh sĩ Tây Sơn gốc người Thuận Hóa, Nguyễn Ánh chiêu dụ họ bằng cách nhắc nhở mối liên hệ quê hương gốc tích, tinh thần địa phương của họ cùng với dòng họ Nguyễn xa xưa, để lôi kéo họ quay lại phò tá đánh Tây Sơn, để có ngày trở lại quê cũ làng xưa [32,73-74]
Đến tháng 7 năm 1788, địa bàn Tây Sơn chỉ còn là hai dinh: Trấn Biên và Phiên Trấn (tức Biên Hòa và Gia Định) Tại Biên Hòa (Đồng Nai) Nguyễn Văn Nghĩa nổi dậy hơn một năm, khi Nguyễn Ánh còn ở Vọng Các, Tây Sơn đánh dẹp không được Nay thế lực đã lớn mạnh, quân Tây Sơn lâm vào tình thế bị bao vây giữa hai gọng kìm: Ba Giồng và Đồng Nai
Tháng 8 năm 1788, một mặt đích thân Nguyễn Ánh từ Ba Giồng kéo đại quân về đóng
ở Thị Nghè (Nghi Giang); mặt khác sai Võ Tánh mang quân đi vòng qua phía Nam đồng tập
trận rồi tiến thẳng về Bến Nghé để chặng mặt sau Đồng thời phái Lê Văn Quân chặng cửa Cần Giờ không cho Thái Bảo Phạm Văn Tham thoát ra biển
Phạm Văn Tham lập chiến lũy từ chợ Điếu Khiển đến chợ Khung Dung chống cự Hai bên giáp mặt, Phạm Văn Tham chống không lại, rút chạy bằng đường thủy
Nguyễn Ánh chiếm được Sài Gòn ngày 7 tháng 9 năm 1788 (hai tháng trước khi quân Thanh tràn vào Bắc Hà) Nhưng còn phải đương đầu với Phạm Văn Tham Thái Bảo Tham thoát ra biển không được vì Lê Văn Quân chặng ở Cần Giờ, phải lui về Hàm Luông rồi về
Ba Thắc Tại đây ông cho đắp lũy hai bên bờ sông cự chiến và kích động người Khmer ở Trà