Những căn cứ pháp lý và cơ sở để lập dự án
Văn bản pháp quy
- Căn cứ Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 16/11/2014
- Căn cứ Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/06/2014
- Căn cứ Luật Nhà ở số 65/2014/QH13 ngày 25/11/2014
- Căn cứ Luật Đất đai số 45/2013/QH13 ngày 29/11/2013
- Căn cứ Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26/11/2014
- Căn cứ Luật Bảo vệ Môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23/06/2014
- Căn cứ Nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai
- Căn cứ Nghị định 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Nhà ở 2014
Dựa trên Thông tư 96/2015/TT-BTC, hướng dẫn Nghị định 12/2015/NĐ-CP về việc quy định chi tiết thi hành các luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế và các nghị định liên quan đến thuế, giúp doanh nghiệp và tổ chức hiểu rõ các quy định mới về thuế một cách chính xác và đầy đủ.
- Nghị định 59/2015/NĐ-CP ngày 18/06/2015 của Chính phủ về Quản lí dự án đầu tư xây dựng công trình
- Nghị định 32/2015/NĐ-CP ngày 25/03/2015 của Chính phủ về Quản lí chi phí đầu tư xây dựng công trình
- Căn cứ Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về giá đất
Dựa trên Thông tư 25/2009/TT-BXD ngày 29/07/2009 của Bộ Xây dựng, hướng dẫn về bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý đầu tư xây dựng công trình và giám sát thi công xây dựng công trình đã được ban hành nhằm nâng cao năng lực và kiến thức cho chuyên viên trong ngành xây dựng Thông tư này quy định rõ các nội dung đào tạo, tiêu chuẩn và phương pháp tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ, giúp đảm bảo quá trình quản lý dự án xây dựng hiệu quả, đúng quy trình, tuân thủ các quy định pháp luật Việc áp dụng các hướng dẫn trong Thông tư góp phần nâng cao chất lượng công trình, giảm thiểu rủi ro, đồng thời thúc đẩy hoạt động đầu tư xây dựng bền vững, đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành xây dựng Việt Nam.
- Nghị định 46/2015/NĐ-CP của Chính phủ về Quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng
- Nghị định 44/2015/NĐ-CP ngày 06/05/2015 của Chính phủ về Quy định chi tiết một số nội dung về Quy hoạch xây dựng
- Nghị định số 37/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng
Dựa trên Quyết định số 2127/QĐ-TTg ngày 30/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ, chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 đã được phê duyệt nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành nhà ở Việt Nam Chính sách này hướng tới cải thiện điều kiện sống, mở rộng quỹ nhà ở xã hội, và nâng cao năng lực xây dựng nhà ở phù hợp với nhu cầu của người dân trong giai đoạn mới Việc triển khai chiến lược này đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an sinh xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và xây dựng môi trường đô thị văn minh, hiện đại.
- Căn cứ Thông tư số 04/2010/TT-BXD ngày 26/05/2010 của Bộ Xây dựng về việc
- Thông tư 45/2013/TT-BTC Hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định
Căn cứ Công văn số 957/QĐ-BXD ngày 29 tháng 09 năm 2009 của Bộ Xây dựng về việc công bố định mức chi phí quản lý dự án và tư vấn đầu tư xây dựng công trình, đây là văn bản quan trọng nhằm hướng dẫn các tổ chức xây dựng, quản lý dự án thực hiện đúng quy định Công văn này quy định rõ các khoản chi phí quản lý dự án và tư vấn đầu tư xây dựng công trình phù hợp với tiêu chuẩn quốc gia, đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả trong quá trình thực hiện dự án Việc công bố định mức này giúp các chủ đầu tư và nhà thầu xác định chính xác ngân sách, nâng cao chất lượng quản lý dự án và tuân thủ các quy định của Bộ Xây dựng.
Văn bản định hướng
- Quy hoạch tổng thể phát triển Kinh tế – Xã hội Thành phố Đà Nẵng đến năm
2030 đã được UBND Thành phố Đà Nẵng phê duyệt năm 2013
- Điều chỉnh Quy hoạch chung thành phố Đà Nẵng đến năm 2030 được Thủ tướng chính phủ phê duyệt Quyết định số 2357/QĐ-TTg ngày 04/12/2013
Quyết định số 06/2015/QĐ-UBND ngày 14 tháng 3 năm 2015 của UBND thành phố Đà Nẵng ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ, và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn TP Đà Nẵng Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhằm quy định rõ quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan trong quá trình thu hồi đất, đảm bảo quyền lợi chính đáng của người dân Quyết định này hướng đến việc thực hiện đầy đủ, công khai và minh bạch các chính sách bồi thường, hỗ trợ phù hợp với quy định pháp luật và điều kiện thực tế tại địa phương.
Quyết định số 28/2013/QĐ UBND ngày 26 tháng 8 năm 2013 ban hành quy định về trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, thu hồi đất, giao đất và cho thuê đất để triển khai các dự án đầu tư tại thành phố Đà Nẵng Chính sách này nhằm đảm bảo quyền lợi của người dân và nhà đầu tư, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững của địa phương Quy trình rõ ràng giúp các bên tham gia dự án thực hiện thủ tục nhanh chóng, minh bạch, đúng quy định pháp luật về đất đai.
- Quyết định số 50/2014/QĐ, ngày 20 tháng 12 năm 2014 của UBND thành phố Đà Nẵng về việc Quy định giá các loại đất trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng
1.2 Sự cần thiết phải đầu tư
1.2.1 Tổng quan tình hình thành phố Đà Nẵng
Đà Nẵng nằm ở trung tâm của Việt Nam, cách Hà Nội 759km và TP Hồ Chí Minh 960km, trên trục giao thông Bắc - Nam với hệ thống đường bộ, đường sắt, đường biển và hàng không phát triển Thành phố giáp Thừa Thiên-Huế về phía bắc, Quảng Nam về phía nam và tây, trong khi phía đông là biển Đông Đà Nẵng có khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25,7°C, cùng diện tích tự nhiên 1.256 km², thuận lợi cho phát triển kinh tế và du lịch.
- Đà Nẵng là trung tâm của miền Trung + Trung tâm công nghiệp, thương mại, du lịch và dịch vụ
+ Đầu mối giao thông quốc tế, con đường trung tâm của miền Trung, khu vực phía Tây và sông Mêkông
+ Trung tâm tài chính, ngân hàng và công nghệ phần mềm của miền Trung
+ Một trong những trung tâm văn hóa, giáo dục và khoa học kỹ thuật tiên tiến của miền Trung
Hình 1: Bản đồ thành phố Đà Nẵng
Đà Nẵng là một trong những địa phương có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất cả nước, với mức tăng trưởng GDP bình quân hàng năm đạt 11,30% từ 1997 đến 2014, cao hơn mức trung bình toàn quốc là 7,27% Trong giai đoạn này, giá trị sản xuất công nghiệp, nông – lâm – thủy sản và tổng mức bán hàng hóa, dịch vụ xã hội đều có xu hướng tăng trưởng rõ rệt Điều đặc biệt, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Đà Nẵng phù hợp với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố, với xu hướng giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp và tăng dần các ngành công nghiệp – xây dựng và dịch vụ, thúc đẩy phát triển bền vững và thu hút đầu tư.
Bảng 1: Tăng trưởng GDP theo các ngành của thành phố Đà Nẵng giai đoạn 1997-2014 ĐVT: tỷ đồng
Nông lâm nghiệp và thủy sản
Công nghiệp và xây dựng 19,75 6,57 9,30 14,98 7,96 6,96 10,96
Trong những năm qua, thu nhập bình quân đầu người của Đà Nẵng đã tăng rõ rệt qua từng năm, thể hiện sự phát triển bền vững của thành phố Cụ thể, GDP bình quân đầu người tính theo giá hiện hành năm 1997 là 4,8 triệu đồng, đến năm 2000 tăng lên 6,9 triệu đồng, năm 2005 đạt 14,8 triệu đồng, năm 2010 tăng lên 35,8 triệu đồng, và đến năm 2015 đã đạt mức 62,65 triệu đồng, gấp 13,05 lần so với năm 1997 Điều này phản ánh sự tăng trưởng đáng kể về thu nhập và đời sống của người dân Đà Nẵng trong giai đoạn này.
Đà Nẵng là trung tâm giao thông quan trọng của miền Trung và Tây Nguyên, với sân bay quốc tế lớn thứ ba tại Việt Nam, phục vụ nhu cầu vận chuyển quốc tế và nội địa Thành phố còn có cảng nước sâu kết hợp phát triển du lịch và logistics, thúc đẩy kinh tế địa phương Hệ thống giao thông đa dạng của Đà Nẵng còn bao gồm tuyến đường sắt Bắc - Nam thuận tiện cho việc di chuyển liên tỉnh, góp phần nâng cao vị thế trung tâm vận chuyển và thương mại của khu vực.
Năm 2011, tổng sản phẩm trong nước (GDP) của Đà Nẵng ước đạt 13.178,8 tỷ đồng, tăng 10,85% so với năm 2010, với tốc độ tăng trưởng GDP năm 2010 so với 2009 là 12,26% Các lĩnh vực kinh tế đóng góp vào tăng trưởng gồm: ngành nông, lâm, thủy sản tăng 3,51%, công nghiệp và xây dựng tăng 9,93%, dịch vụ tăng 11,9% Trong đó, GDP năm 2011 tăng chủ yếu nhờ phần đóng góp của công nghiệp, xây dựng tăng 4,32% và dịch vụ cùng thuế nhập khẩu tăng 6,45%, trong khi nông lâm thủy sản giảm nhẹ 0,08% Năm 2012, GDP ước tăng 9,1% so với năm 2011 (theo nghị quyết Hội đồng Nhân dân dự kiến 13-13,5%), nhưng tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn chỉ đạt 10.910,99 tỷ đồng, mới bằng 81,1% dự toán Công tác giải quyết việc làm cũng chỉ đạt 86% kế hoạch, với số lao động giải quyết việc làm là 2,84/3,3 vạn người.
- Giai đoạn 2011-2015, tổng sản phẩm xã hội trên địa bàn (GRDP, giá so sánh
2010) ước tăng 9,7%/năm và năm 2015 ước đạt 45.886 tỷ đồng, bằng 1,42 lần năm
Năm 2011, GRDP bình quân đầu người theo giá hiện hành tăng rõ rệt, với các năm sau liên tục cao hơn Đến năm 2015, mức GRDP bình quân đầu người ước đạt 56,1 triệu đồng, tương đương 2.671 USD, gấp 1,5 lần so với năm 2011.
Năm 2011, trong bối cảnh kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của khủng hoảng và suy thoái kinh tế toàn cầu, các doanh nghiệp hoạt động cầm chừng, sức mua thị trường giảm và nguồn vốn đầu tư hạn hẹp, đặc biệt trong những năm đầu nhiệm kỳ; thêm vào đó, thiên tai, bão lũ và tình hình căng thẳng trên biển Đông đã tác động tiêu cực đến nền kinh tế địa phương Tuy nhiên, thành phố đã năng động và kịp thời thực hiện các giải pháp thúc đẩy sản xuất kinh doanh, hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, giảm tồn kho, tập trung khai thác nguồn thu và đầu tư có trọng điểm, đồng thời tăng cường khai thác các nguồn lực trong và ngoài nước Nhờ đó, mức tăng trưởng kinh tế của thành phố đã được cải thiện rõ rệt, vượt xa mức bình quân của cả nước.
1 http://danang.vietccr.vn/xem-tin-tuc/tong-quan-ve-thanh-pho-da-nang-p3-default.html http://ctk.danang.gov.vn/TabID/59/CID/2/ItemID/164/default.aspx
Năm 2015, tỷ trọng lĩnh vực dịch vụ đạt 61,6%, chiếm ưu thế trong cấu trúc kinh tế, góp phần phát triển bền vững bằng cách nâng cao chất lượng ngành dịch vụ và tỷ trọng công nghệ cao trong sản xuất Công nghiệp - xây dựng chiếm 35,9%, trong khi nông nghiệp chỉ còn 2,4%, thể hiện sự chuyển dịch tích cực phù hợp với mục tiêu phát triển lâu dài Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng, thúc đẩy tăng trưởng bền vững dựa trên nâng cao tỷ lệ hàm lượng kỹ thuật, công nghệ trong các ngành sản xuất.
Theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 (khóa XI) về tái cơ cấu doanh nghiệp, cơ cấu các thành phần kinh tế đã chuyển dịch rõ rệt với tỷ trọng kinh tế nhà nước giảm từ 28,3% năm 2011 xuống còn 23,5% vào năm 2015, trong khi kinh tế dân doanh tăng từ 60,1% lên 63,2% và vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ lệ từ 11% lên 12,7% Hiện nay, thành phố còn 05 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, trong đó có 03 doanh nghiệp giữ nguyên bản vị vốn nhà nước và 02 doanh nghiệp đang tiến hành cổ phần hóa, phần lớn các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa hoạt động hiệu quả và đóng góp tích cực vào tăng trưởng và phát triển của thành phố.
Cơ cấu đầu tư thể hiện sự quan tâm đầu tư đồng bộ vào kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững Việc thu hút, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư trong và ngoài nước là yếu tố quyết định thành công của quá trình này Cơ cấu đầu tư ngày càng chuyển dịch theo hướng tập trung vào lĩnh vực dịch vụ, công nghiệp rồi nông nghiệp, phù hợp với xu hướng chuyển đổi cơ cấu kinh tế để phát triển toàn diện.
Dù mức tăng trưởng giai đoạn 2011-2015 không đạt mục tiêu đề ra, nhưng thành phố đã thể hiện sự quan tâm và nỗ lực lớn để duy trì sự phát triển trong bối cảnh nền kinh tế gặp nhiều khó khăn.
1.2.2 Sự cần thiết và mục tiêu đầu tư Những năm qua, Thành phố Đà Nẵng đã chủ động nắm bắt thời cơ triển khai thực hiện nhiều chính sách đột phá để trở thành một trong những đô thị lớn của cả nước, là trung tâm kinh tế - xã hội, trung tâm thương mại – dịch vụ, bưu chính viễn thông và tài chính ngân hàng của Khu vực Miền trung – Tây nguyên nói riêng và của cả nước nói chung
Với sự phát triển của Thành phố Đà Nẵng, các trung tâm công nghiệp và nhà máy chế xuất ngày càng mở rộng, đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế của thành phố Tuy nhiên, quá trình quy hoạch và chỉnh trang đô thị đã dẫn đến tình trạng quỹ đất Đà Nẵng ngày càng khan hiếm Chính vì vậy, việc quản lý và sử dụng đất hiệu quả trở thành ưu tiên hàng đầu để đảm bảo sự phát triển bền vững của thành phố.