1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

cái kỳ trong tiểu thuyết mạc ngôn

132 944 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cái kỳ trong tiểu thuyết Mạc Ngôn
Tác giả Võ Nguyễn Bích Duyên
Người hướng dẫn TS. Đinh Phan Cẩm Vân
Trường học Trường đại học sư phạm TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn học nước ngoài
Thể loại Luận văn thạc sĩ văn học
Năm xuất bản 2011
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 757,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả đưa ra 3 biểu hiện của thủ pháp này trong tiểu thuyết Mạc Ngôn: miêu tả cảm giác thể hiện qua khả năng giao lưu giữa người với vạn vật, mùi vị riêng của các nhân vật; thủ pháp k

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Võ Nguyễn Bích Duyên

CÁI KỲ TRONG TIỂU THUYẾT MẠC NGÔN

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2011

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Võ Nguyễn Bích Duyên

CÁI KỲ TRONG TIỂU THUYẾT MẠC NGÔN

Chuyên ngành: Văn học nước ngoài

Mã số: 60 22 30

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS Đinh Phan Cẩm Vân

Thành phố Hồ Chí Minh - 2011

Trang 5

M Ở ĐẦU

1 Lí do ch ọn đề tài

Có lần, Mạc Ngôn tự bạch với bạn đọc rằng: “Hai mươi năm trước, khi cầm bút viết tác phẩm đầu tay, tôi không nghĩ rằng công việc này lại làm thay đổi số phận của mình, cũng không hề nghĩ rằng một

bộ phận tác phẩm của mình lại làm thay đổi diện mạo của văn học đương đại Trung Quốc […] Động

cơ ban đầu khi tôi sáng tác văn học vô cùng đơn giản: đó là kiếm chút nhuận bút để mua đôi giày bóng loáng, thỏa mãn lòng hư vinh của một chàng thanh niên Tất nhiên sau khi mua được giày rồi thì tham muốn của tôi cũng theo đó lớn lên” [33, tr.55] Dường như, Mạc Ngôn đã bước vào làng văn mà không mang theo những tham vọng và hoài bão to lớn đối với công việc của mình Tuy vậy, những gì nghiệp cầm bút mang lại cho ông, cũng như những gì mà ông mang lại cho văn học Trung Hoa hoàn toàn vượt

xa những dự định và mong ước ban đầu của chính mình

Khởi nghiệp từ năm 1981, nhưng phải đến 1985, khi các tác phẩm Củ cà rốt trong suốt, Bùng nổ,

Trung Quốc Đến lúc Cao lương đỏ ra đời, cộng với sự thành công của nó trong lĩnh vực điện ảnh, cái

tên Mạc Ngôn dần dần thu hút nhiều hơn những quan tâm của giới nghiên cứu lẫn bạn đọc thông thường Cho tới thời điểm này, hành trình văn chương của Mạc Ngôn đã gần 3 thập kỉ Và trong 3 thập

kỷ đó, ông đã xác lập được cho mình một vị thế tương đối vững chắc trên văn đàn với hàng loạt tác phẩm thuộc nhiều thể loại, nhiều đề tài khác nhau Bằng một lối viết phá cách, sáng tạo, những sản phẩm văn học của Mạc Ngôn đã cùng với những sáng tác của Vương Mông, Giả Bình Ao, Phùng Ký Tài, Cao Hiểu Thanh, Lục Văn Phu,… đem đến những luồng gió mới cho văn học đương đại Trung Quốc, góp phần không nhỏ trong việc thay đổi diện mạo của văn học Trung Quốc tại thời điểm đó Chính những giá trị thiết thực mà tác phẩm của Mạc Ngôn đem đến cho văn học nước nhà, ông xứng đáng được tôn vinh như một trong những cây bút nổi bật của văn học Trung Quốc đương đại

Mạc Ngôn sáng tác ở nhiều thể loại, từ truyện ngắn đến truyện vừa, từ truyện dài đến tiểu thuyết,…

Ở mỗi thể loại, tác phẩm của nhà văn đều có những dấu ấn nhất định Tiểu thuyết của ông tất nhiên không ngoại lệ Bước vào thế giới nghệ thuật tiểu thuyết Mạc Ngôn, người đọc luôn được dẫn dắt theo một lộ trình khá thú vị và đầy hấp dẫn dẫu cho điều mà Mạc Ngôn phản ánh không hẳn hoàn toàn mới

mẻ hay cực kỳ đặc biệt Sức lôi cuốn mà tiểu thuyết Mạc Ngôn tạo ra nơi người tiếp nhận đến từ nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng có lẽ một trong những căn nguyên cơ bản nhất, trọng yếu nhất đó là vì hầu hết tiểu thuyết của ông đều ít nhiều mang màu sắc của cái “kỳ” Bên cạnh việc phát huy vai trò là

Trang 6

nhân tố quan trọng trong nhiệm vụ khơi dậy bản tính hiếu kỳ của bạn đọc và thôi thúc họ khám phá tác phẩm, sự thường xuất của cái “kỳ” đã khiến nó trở thành một trong những đặc trưng của phong cách nghệ thuật tiểu thuyết Mạc Ngôn Do đó, tìm hiểu cái “kỳ” trong tiểu thuyết của ông là một động thái hết sức cần thiết trong việc khắc họa chân dung, phong cách nghệ thuật Mạc Ngôn cũng như trong việc

lĩnh hội những sáng tác của nhà văn này

Mạc Ngôn đến với bạn đọc Việt Nam đến nay đã trọn 10 năm Trong khoảng thời gian đó, mỗi tác phẩm của Mạc Ngôn được xuất bản thường tạo được sự chú ý dù lúc ồn ào, lúc tĩnh lặng Cứ như thế, với chúng ta, Mạc Ngôn không còn là khách lạ nữa, nếu như không muốn nói là đã quá quen thuộc Không ai có thể phủ nhận mức độ phủ sóng của tác phẩm Mạc Ngôn (đặc biệt là tiểu thuyết) trên thị trường sách cũng như trong thị hiếu đọc ở Việt Nam Tuy vậy, lịch sử tiếp nhận Mạc Ngôn cũng không

ít thăng trầm khi ông và tác phẩm của ông kinh qua những tán tụng lẫn chê bai của mọi loại độc giả Vậy nên, tìm hiểu cái “kỳ” với tư cách là sắc thái chủ đạo trong tiểu thuyết Mạc Ngôn hi vọng sẽ góp một phần nhỏ vào việc định hướng tiếp nhận tiểu thuyết của ông trong độc giả Việt Nam khi mà những tiểu thuyết của ông tuy có vẻ quen nhưng lại không kém phần lạ lẫm với “tầm đón đợi” của bạn đọc nước mình

2 L ịch sử vấn đề

2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Theo thời gian, những bài viết, những công trình nghiên cứu về tiểu thuyết Mạc Ngôn ở Việt Nam ngày càng phong phú, đa dạng Lịch sử tìm hiểu tiểu thuyết Mạc Ngôn dần dần có bề dày và tất nhiên chưa có dấu hiệu dừng lại Những hướng nghiên cứu được mở rộng từ một hay một vài khía cạnh đến tổng thể thế giới nghệ thuật của tiểu thuyết Mạc Ngôn Nhưng dù được tiếp cận theo hướng nào, hầu hết những nghiên cứu đó đều chạm đến vấn đề cái “kỳ” vì gần như mọi phương diện nghệ thuật tiểu thuyết của nhà văn này đều thấm đẫm tính chất “kỳ” ấy Lịch sử nghiên cứu cái “kỳ” trong tiểu thuyết Mạc Ngôn vì vậy, có thể nói, gắn liền và song hành với lịch sử nghiên cứu Mạc Ngôn và tiểu thuyết của ông Nhìn một cách khái quát, cái “kỳ” trong tiểu thuyết Mạc Ngôn thường được tìm hiểu trực tiếp dưới hình thức nghiên cứu thủ pháp “lạ hóa” hoặc được đề cập gián tiếp thông qua việc khai thác một phương diện nghệ thuật trong tiểu thuyết Mạc Ngôn, sau đó đưa ra nhận xét về tính “kỳ” của phương diện đó từ góc độ cái mới, cái lạ

Tác giả Nguyễn Khắc Phi trong bài viết “Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết của Mạc Ngôn qua hai tiểu

thuyết Đàn hương hình và Báu vật của đời” (Tạp chí Sông Hương, số 166, năm 2002) đã lý giải

nguyên nhân hai cuốn tiểu thuyết này trở nên nổi tiếng, lôi cuốn hàng triệu độc giả nằm ở chỗ Mạc

Trang 7

Ngôn đã biết “bày đặt” ra những chuyện kì lạ ít người biết trên một cái khung, cái nền không xa lạ Chẳng hạn như kiểu xử tử “đàn hương hình”, cảnh đọ râu giữa Tiền Đinh và Tôn Bính (Đàn hương hình); chợ Tuyết, vị yên hùng Tư Mã Khố râu cứng như thép (Báu vật của đời) Người viết cũng khẳng định cội nguồn cái lạ trong tiểu thuyết Mạc Ngôn chủ yếu xuất phát từ một tâm hồn gắn bó tha thiết với quê hương Bài viết tuy có chú tâm nghiên cứu cái “kỳ” nhưng vì sự nghiên cứu chỉ giới hạn trong phạm vi tương đối nhỏ, do đó, vấn đề cái “kỳ” trong tiểu thuyết Mạc Ngôn chưa được khám phá trọn vẹn

Bài nghiên cứu có phần toàn diện đầu tiên về tiểu thuyết Mạc Ngôn là “Thế giới nghệ thuật trong

tiểu thuyết Mạc Ngôn” (Tạp chí Văn học nước ngoài, số 4, năm 2003) của nhà nghiên cứu văn học

Trung Quốc Lê Huy Tiêu Ở đây, giáo sư đã cho rằng thủ pháp lạ hóa là một trong những đặc trưng của tiểu thuyết Mạc Ngôn Theo ông, nhờ có trí tưởng tượng phong phú, có khả năng nắm bắt những cảm giác mới, Mạc Ngôn đã sáng tạo ra nhiều nhân vật, sự kiện, chi tiết kì lạ để hấp dẫn người đọc Tác giả cũng phân tích khá sâu về nghệ thuật miêu tả cảm giác đặc biệt của Mạc Ngôn, như cách tạo ra thế giới cảm giác mang đậm dấu ấn chủ quan nên cảm giác trong tiểu thuyết Mạc Ngôn luôn mới lạ, làm cho bộ mặt cuộc sống mà tác giả mô tả không còn như nguyên dạng nữa; hay cách miêu tả chậm lại những hành động, những cảm nhận của nhân vật,… Song trong khuôn khổ một bài nghiên cứu có tính khái quát cơ bản về những đặc điểm nghệ thuật trong tiểu thuyết Mạc Ngôn, những biểu hiện cụ thể của

“kỳ” hay “lạ hóa” vẫn còn nhiều vấn đề chưa được bàn đến

Trong luận văn thạc sĩ Nghệ thuật tự sự trong 41 chuyện tầm phào của Mạc Ngôn (Đại học Sư

phạm Hà Nội, năm 2006), Trần Thị Thanh Thủy cho rằng yếu tố quan trọng nhất tạo nên sự thành công

cho tiểu thuyết 41 chuyện tầm phào chính là ở chỗ tự bên trong tác phẩm chứa biết bao điều mới lạ

Tác giả đã lần lượt miêu tả và phân tích những sáng tạo và đổi mới của Mạc Ngôn trong tiểu thuyết này

ở các phương diện: kết cấu, nghệ thuật trần thuật, ngôn ngữ tự sự Trong đó, cốt truyện lồng ghép, tự sự hai điểm nhìn, ngôn ngữ miêu tả cảm giác vừa thực vừa hư là những khía cạnh thể hiện rõ nhất sự mới

lạ trong bút pháp của nhà văn Tuy vậy, có thể thấy, luận văn không trực tiếp đề cập đến cái kì trong

tiểu thuyết 41 chuyện tầm phào nói riêng cũng như trong tiểu thuyết Mạc Ngôn nói chung Vì thế, tất

yếu cái “kỳ” không được tập trung tìm hiểu cụ thể và cặn kẽ

Nguyễn Thị Minh Quân trong luận văn thạc sĩ Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Đàn hương hình

của Mạc Ngôn (Đại học sư phạm Hà Nội, năm 2006) có chỉ ra yếu tố kì ảo trong tác phẩm này ở

phương diện không gian Theo tác giả, không gian ảo chủ yếu hiện lên trong thê giới tâm lý của các nhân vật, cách đánh giá của các nhân vật về cuộc sống Không gian này được thể hiện ở không gian của cuộc đọ râu, giao mắt; không gian hành hình; không gian của các loài thú vật hiện lên trong cảm nhận

Trang 8

của Giáp Con,… Chính kiểu không gian này đã tạo tính mơ hồ cho đề tài của truyện và làm giảm bớt tính ghê rợn của các cuộc hành hình Rõ ràng, trong sự giới hạn của đề tài và phạm vi nghiên cứu, người viết không đi sâu vào những biểu hiện của “kỳ” trong tiểu thuyết này và các tiểu thuyết khác của Mạc Ngôn

Bài viết đầu tiên tập trung nghiên cứu đến những biểu hiện của cái “kỳ” trong tiểu thuyết Mạc Ngôn

là của Hoàng Thị Bích Hồng với tiêu đề “Nghệ thuật trần thuật gắn với thủ pháp lạ hóa trong tiểu

thuyết Mạc Ngôn” (Tạp chí Sông Hương, số 224, năm 2007) Tác giả đưa ra 3 biểu hiện của thủ pháp

này trong tiểu thuyết Mạc Ngôn: miêu tả cảm giác (thể hiện qua khả năng giao lưu giữa người với vạn vật, mùi vị riêng của các nhân vật); thủ pháp kì ảo (motif linh hồn và giấc mơ, huyền thoại về nhân vật); phóng đại cái chết và nâng khổ hình lên tầm mỹ học của bạo lực Đây là bài viết có tính khái quát

và gợi mở vấn đề, cũng chính vì thế mà nó chưa đào sâu vào cái “kỳ” trong tiểu thuyết Mạc Ngôn một cách cụ thể và đầy đủ

Khi tìm hiểu hai góc nhìn: góc nhìn hư ảo và góc nhìn súc vật, Nguyễn Thị Tịnh Thy trong bài viết

“Điểm nhìn nghệ thuật trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn” (Tự sự học – Một số vấn đề lý luận và lịch sử

(Phần 2), Nxb Giáo dục, 2008) cũng đã động chạm đến cái “kỳ” trong tiểu thuyết Mạc Ngôn ở khía

cạnh điểm nhìn Cái nhìn hư ảo trong tiểu thuyết Mạc Ngôn thể hiện qua cái nhìn hư ảo của người say

rượu (Tửu quốc), say thịt (41 chuyện tầm phào), và của người ngốc (Đàn hương hình) Các nhân vật

này luôn đứng ở trạng thái mơ hồ giữa hai bờ thực-ảo để trần thuật Cái nhìn súc vật thể hiện chủ yếu

trong tác phẩm Sống đọa thác đày với các điểm nhìn của lừa, lợn, chó Như vậy, có thể thấy, một khía

cạnh của “kỳ” đã được nghiên cứu và trình bày một cách gián tiếp trong bài viết này

Luận văn thạc sĩ Người kể chuyện trong tiểu thuyết Mạc Ngôn (Đại học Khoa học Xã hội và Nhân

văn Tp Hồ Chí Minh, năm 2010) của Bùi Thị Thanh Hương cho rằng điểm nhìn hư ảo là một trong những biểu hiện của thủ pháp hiện thực huyền ảo vốn có nguồn gốc từ văn học Mỹ Latin và từ truyền thống hiếu kỳ của văn học Trung Quốc bên cạnh những biểu hiện khác như người kể chuyện xa lạ, cốt truyện mê lộ, chi tiết giấc mơ, tưởng tượng, nhân vật thần kỳ với những nét huyền thoại,… Tác giả

luận văn cũng khai thác đặc điểm của điểm nhìn hư ảo với điểm nhìn của người say rượu (Tửu quốc), say thịt (41 chuyện tầm phào), của người ngốc (Đàn hương hình) và của người kể chuyện khó xác định

hư ảo Với việc phân tích những điểm nhìn hư ảo trong tiểu thuyết Mạc Ngôn, luận văn này đã cụ thể hóa đôi nét về một trong những biểu hiện của “kỳ” trong tiểu thuyết Mạc Ngôn

Trang 9

Trong Người tỉnh nói chuyện mộng du (2008) (Nxb Văn học, Hà Nội) và một vài lần trả lời phỏng

vấn (được Lâm Kiến Phát và Vương Nghiên tập hợp trong Mạc Ngôn và những lời tự bạch (2004)

(Nxb Văn học, Hà Nội)) Mạc Ngôn có đề cập đến những bài viết, công trình nghiên cứu cũng như những người đã tìm hiểu các sáng tác của ông Trong đó, có thể kể đến hàng loạt bài viết của Lý Hồng Chân thời kỳ đầu Ở những bài viết đó, Lý Hồng Chân đã tốn khá nhiều công và hình thành nên cả một

hệ thống và đã chỉ rõ một số nét riêng của Mạc Ngôn một cách toàn diện Chu Hương Tiễn của bộ phận nghệ thuật quân giải phóng thì đề cập đến một số điểm khác của Mạc Ngôn với các nhà văn nói chung,

bao gồm cả bài phê bình đối với truyện ngắn Bạch cẩu thiên thu giá Giữa thập niên 80, Trương Chí

Trung viết “Bàn về Mạc Ngôn” một cách khái quát về con người và các sáng tác của Mạc Ngôn Trương Thanh Hoa khi viết “Nhìn lại tư trào văn học chủ nghĩa lịch sử mới trong mười năm” đăng trên

số 4 năm 1988 của tạp chí “Trung Sơn” khá có tiếng ở Lục địa thì cho rằng Mạc Ngôn là người đã tiến tới làm cho lịch sử trở thành đối tượng của thẩm mỹ, dân gian hóa nội dung lịch sử và phong cách kể

cũng được dân gian hóa với hàng loạt tiểu thuyết về gia tộc Cao lương đỏ Bài viết “Thế giới bị ký ức

vây bọc – Góc nhìn trẻ thơ trong sáng tác của Mạc Ngôn” của Trình Đức Bồi người Thượng Hải đã phân tích mối quan hệ giữa sáng tác và thời niên thiếu của Mạc Ngôn Tương tự, Quý Hồng Trân cũng

có ý kiến về việc Mạc Ngôn lựa chọn góc nhìn hương thôn và góc nhìn niên thiếu đã tạo nên cá tính sáng tác trong tiểu thuyết của nhà văn này,… Bên cạnh những nghiên cứu có tính chất tổng hợp, khái quát còn có nhiều bài viết tìm hiểu một số tác phẩm tiêu biểu của Mạc Ngôn như bài viết của Kiều

Lương về Đàn hương hình… Có thể thấy sự xuất hiện ngày càng nhiều bài viết, công trình nghiên cứu

tác gia và tác phẩm Mạc Ngôn đã chứng minh sức thu hút cũng như vai trò, vị trí của Mạc Ngôn và sáng tác của ông trên văn đàn Trung Quốc hiện nay Tuy nhiên, do điều kiện và khả năng hạn chế, người viết chưa tiếp xúc được trực tiếp với các bài viết, công trình này

Ngoài ra, trên các trang web tiếng Anh cũng có nhiều bài viết đề cập đến Mạc Ngôn và tiểu thuyết của ông Tuy nhiên những bài viết này chỉ mang tính chất giới thiệu khái quát về con người, sự nghiệp cũng như một số tác phẩm của Mạc Ngôn đã được xuất bản ở các nước phương Tây

Nhìn chung, vấn đề cái “kỳ” trong tiểu thuyết Mạc Ngôn tuy có được tình cờ nhắc đến lẫn được tìm hiểu một cách chủ động, tập trung qua việc nghiên cứu thủ pháp lạ hóa trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn song vấn đề vẫn chưa thể có được những cái nhìn toàn diện, sâu sát Điều này có thể được giải thích bởi sự giới hạn của đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và dung lượng văn bản nghiên cứu mà các tác giả xác định Nghiên cứu cái “kỳ” trong tiểu thuyết Mạc Ngôn hi vọng sẽ tiếp nối và bổ sung phần nào vào lịch sử nghiên cứu vấn đề này vốn có những điều còn để ngỏ, đặc biệt là những biểu hiện

cụ thể của “kỳ” trong hàng loạt tiểu thuyết của tiểu thuyết gia Trung Quốc Mạc Ngôn

Trang 10

3 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu biểu hiện của “kỳ” trong tiểu thuyết Mạc Ngôn ở cả hai phương diện nội dung tư tưởng và hình thức thể hiện như “kỳ” trong hình tượng nhân vật, hình tượng không gian, nghệ thuật miêu tả, nghệ thuật kể chuyện, Để việc nghiên cứu này có thể được tiến hành trên một cơ sở lý thuyết ổn định và rõ ràng, chúng tôi cũng sẽ đi vào giới thuyết nội hàm khái niệm

“kỳ” Đồng thời, việc chứng minh “hiếu kỳ” là một trong những truyền thống của văn học Trung Quốc nói chung, tiểu thuyết Trung Quốc nói riêng sẽ giúp ích chúng ta trong việc đánh giá “kỳ” trong tiểu thuyết Mạc Ngôn như một yếu tố quan trọng thể hiện sự kế thừa, tiếp nối và sáng tạo của Mạc Ngôn đối với văn học dân tộc

4 Ph ạm vi nghiên cứu

Luận văn tiến hành nghiên cứu cái kỳ trong phạm vi một số tiểu thuyết của Mạc Ngôn đã được dịch

và xuất bản tại Việt Nam, bao gồm:

1 Báu v ật của đời (2001), Trần Đình Hiến dịch, NXB Văn nghệ

8 Th ập tam bộ (2009), Trần Trung Hỷ dịch, NXB Văn nghệ

Ngoài ra trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng khảo sát những sáng tác của Mạc Ngôn ở các thể loại khác như truyện dài, truyện ngắn, tản văn; những bài trả lời phỏng vấn hay bài nói chuyện của Mạc Ngôn với độc giả… đã được dịch và xuất bản ở Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Để tìm hiểu cái "kỳ" trong tiểu thuyết Mạc Ngôn, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu văn học sau:

5.1 Phương pháp tiểu sử

Trang 11

Phương pháp tiểu sử là phương pháp tìm hiểu và nghiên cứu tiểu sử nhà văn để lý giải tác phẩm văn học Các sáng tác của Mạc Ngôn thường chịu sự chi phối và ảnh hưởng của những trải nghiệm, đặc biệt

là những trải nghiệm thời niên thiếu đầy ám ảnh của chính mình Cái "kỳ" trong tiểu thuyết Mạc Ngôn

vì thế cũng là kết quả của những trải nghiệm đó Do vậy, việc sử dụng phương pháp này vào nghiên cứu cái "kỳ" sẽ làm sáng tỏ một số vấn đề về vết tích, cội nguồn của "kỳ" trong tiểu thuyết Mạc Ngôn, dưới góc độ nó là sản phẩm của một thời ấu thơ, một thời niên thiếu tăm tối một cách đáng sợ với sự đeo bám của cái đói, cái rét và sự vây bọc của nỗi cô đơn

5.2 Phương pháp so sánh

Tinh thần của phương pháp so sánh là hiểu một sự vật thông qua các sự vật khác Vì vậy, muốn hiểu rõ cái "kỳ" trong tiểu thuyết Mạc Ngôn hơn, chúng tôi đã sử dụng phương pháp này trong suốt quá trình nghiên cứu của mình để làm rõ những tương đồng và dị biệt của cái "kỳ" giữa hai hay nhiều đối tượng, chẳng hạn như so sánh biểu hiện của "kỳ" trong nội bộ các tác phẩm Mạc Ngôn, "kỳ" trong tiểu thuyết Mạc Ngôn với "kỳ" trong các tác phẩm văn học của các tác giả văn học Trung Quốc cùng thời hay khác thời, các tác phẩm của các tác gia văn học phương Tây,… Từ đó, thấy được sự kế thừa và tiếp nối truyền thống, sự tiếp thu và vận dụng phương Tây, cũng như sự sáng tạo của Mạc Ngôn trong việc sáng tác nhìn từ góc độ của cái "kỳ"

5.3 Phương pháp lịch sử-xã hội học

Ưu điểm của phương pháp này là nó đặt hiện tượng văn học vào bối cảnh xã hội để nghiên cứu, tránh cho chúng ta khỏi sa vào lối nghiên cứu siêu hình, xa rời thực tiễn Tiểu thuyết Mạc Ngôn chủ yếu xoay quanh hai đề tài: thế sự và lịch sử Tách rời bối cảnh xã hội của những tiểu thuyết đó chúng ta

sẽ không có được những lý giải xác đáng đối với tiểu thuyết của ông nói chung, cái "kỳ" trong tiểu thuyết Mạc Ngôn nói riêng Cái "kỳ" trong tiểu thuyết Mạc Ngôn mặc dù là sản phẩm của hư cấu và tưởng tượng, nhưng chúng một mặt, là sự biến dạng của những hiện tượng, sự kiện có thực; mặt khác,

"kỳ" như là một phương thức phản ánh hiện thực của Mạc Ngôn Do vậy, nắm bắt bối cảnh xã hội, lịch

sử sẽ góp phần nhận ra những biểu hiện cũng như giá trị nghệ thuật của "kỳ" trong tiểu thuyết của ông hơn

Bên cạnh những phương pháp nghiên cứu văn học trên, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụng những thao tác quen thuộc trong nghiên cứu văn học như thống kê, phân tích, tổng hợp,…

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, cấu trúc của luận văn gồm có 3 chương:

Trang 12

Chương 1 Trình bày nội hàm khái niệm “kỳ” và truyền thống “hiếu kỳ” trong văn học Trung

Quốc, tạo nền tảng cho việc tìm hiểu “kỳ” trong tiểu thuyết Mạc Ngôn được thực hiện ở hai chương sau đó Đồng thời, chúng tôi cũng tiến hành kiến giải một cách cơ bản nguyên nhân vì sao tiểu thuyết Mạc Ngôn lại đậm chất “kỳ” như vậy

Chương 2 Phân loại, miêu tả, phân tích và đánh giá biểu hiện của cái “kỳ” trong tiểu thuyết Mạc

Ngôn từ phương diện hình tượng nghệ thuật: hình tượng nhân vật và hình tượng không gian

Chương 3 Tìm hiểu một số thủ pháp nghệ thuật đậm chất “kỳ” trong tiểu thuyết Mạc Ngôn như

nghệ thuật miêu tả và nghệ thuật tự thuật

7 Đóng góp của luận văn

Với việc tìm hiểu những biểu hiện của “kỳ” trong tiểu thuyết Mạc Ngôn, chúng tôi hi vọng đã mang được cái nhìn tương đối cụ thể và bao quát về vấn đề, từ đó, góp thêm một nét bút vào hành trình khắc họa chân dung và phong cách nghệ thuật Mạc Ngôn Ngoài ra, chúng tôi cũng mong muốn rằng đề tài

sẽ tạo được tiền đề, trở thành một tài liệu tham khảo hữu ích cho những công trình nghiên cứu sau này

có liên quan đến Mạc Ngôn, tiểu thuyết Trung Quốc hay đến cái “kỳ” trong văn học,…

Trang 13

CHƯƠNG 1: “KỲ” VÀ TRUYỀN THỐNG “HIẾU KỲ” TRONG TIỂU

1.1 Gi ới thuyết nội hàm khái niệm “kỳ”

Nghiên cứu "kỳ" trong một phạm vi văn học nhất định nào đó không phải là sự lựa chọn mới mẻ của những người làm công tác phê bình văn học Sự tồn tại và tăng lên của những bài viết hay công trình có liên quan tới khái niệm "kỳ" đã dần dần cung cấp cho khái niệm "kỳ" một nội hàm ngày càng

cụ thể, đầy đủ hơn Tuy vậy, nếu cần phải đưa ra một giới thuyết tương đối hoàn chỉnh, xác định những nét nghĩa phức tạp của "kỳ" với tư cách là một phạm trù, một đặc trưng thẩm mỹ của văn học Trung Quốc, thì đó vẫn là một công việc không hề đơn giản

1 Trong luận án phó tiến sĩ khoa học Ngữ văn năm 1992 Đặc điểm kết cấu Tam quốc chí diễn

nghĩa của La Quán Trung, tác giả Trần Lê Bảo đã phân loại các nét nghĩa tương đối gần nhau của "kỳ"

để phù hợp với việc phân tích và cảm nhận nội tại nghệ thuật và nội dung tác phẩm Tam quốc trong số

19 nét nghĩa được đưa ra trong “Trung văn đại từ điển” như sau:

“Trước hết là nhóm "kỳ" có nét nghĩa là lạ, khác thường:

"Kỳ" là khác lạ (dị dã – Thuyết văn)… "kỳ" là vật lạ hiếm có là cái khác thường

"Kỳ" là cái khác xa với cái đã có (Sử ký – Ngoại thích thế gia)

"Kỳ" là quái (Hán Thư – Ngũ hành chi trung chỉ thượng) Vẻ lạ biến cố vô thường

"Kỳ" là xuất chúng (Bì Nhật Hưu – Cổ sam thi) Ba tầm (8 thước) đen hơi lạ

"Kỳ" là thậm (rất) (Thế thuyết tân ngữ bổ - Đức Hạnh) Nhờ có chăn đắp giữ ấm lạ lùng mà rơi lệ

"Kỳ" là sở trường (Hoài Nam Tử - Thuyên ngôn huấn) Bậc Thánh không theo cái sở trường người khác

Có thể nói, "kỳ" là cái lạ, cái khác biệt, phi thường, xuất chúng” [2, tr.42]

Và khi phân tích đặc điểm kết cấu của Tam quốc từ yếu tố cái "kỳ"-tư tưởng kết cấu tiểu thuyết

Tam quốc, người viết công trình cơ bản đã đưa ra hai nét nghĩa chủ yếu của khái niệm "kỳ": thứ nhất,

"kỳ" là cái khác lạ, cái khác biệt, phi thường, xuất chúng; thứ hai, "kỳ" là ly kỳ biến ảo và đã tiến hành

khảo sát biểu hiện của "kỳ" trong tư tưởng của Tam quốc theo hai nét nghĩa này

Phân tích kết cấu của Tam quốc, Trần Lê Bảo còn khai thác cái xảo – nghệ thuật tổ chức nghệ thuật

trong tác phẩm Ông cho rằng, “xảo là kỹ thuật đạt tới mức tinh xảo, điêu luyện Nó là sự tổ chức giỏi tới mức hết sức tự nhiên mà các yếu tố, sự kiện liên kết với nhau không vết đứt nối Nó là một yếu tố

Trang 14

thẩm mỹ quan trọng của văn chương nói chung và tiểu thuyết nói riêng” [2, tr.81] Tuy thế, tác giả cũng không tách rời cái "kỳ" với cái “xảo” và thừa nhận, ở một góc độ nào đó, “xảo” cũng là một phương diện của “kỳ” “Kỳ” nhờ có “xảo” mà “kỳ” hơn, “xảo” mà không có “kỳ nhân”, “kỳ sự” cũng thành xảo ngụy

Đặc điểm kết cấu Tam quốc chí diễn nghĩa của La Quán Trung là công trình trình bày tương đối cụ

thể về nội hàm khái niệm "kỳ" Ở những bài viết hay công trình khác, khái niệm "kỳ" được định nghĩa khá sơ lược, việc nhận ra quan điểm của tác giả như thế nào là "kỳ" chủ yếu thông qua những phân loại, phân tích của tác giả về biểu hiện của "kỳ" trong phạm vi mà họ tìm hiểu

Khi đi tìm những biến đổi của yếu tố kỳ và thực trong truyện ngắn truyền kỳ Việt Nam, Vũ Thanh khẳng định “những tác phẩm văn xuôi nổi tiếng nhất của văn học Viễn Đông đều chứa đựng trong nó những yếu tố “kỳ lạ” Cái kỳ lạ đầy rẫy trong huyền thoại tôn giáo, trong sử ký và là một đặc điểm của

tư duy dân gian được phản ánh trong thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích” [41, tr.546] Có thể thấy, một trong những đối tượng mà tác giả xác định là sự thể hiện của yếu tố kỳ chính là những cái siêu nhiên thường thấy trong thần thoại, sử thi hay cổ tích,…ngoài ra, tác giả cũng thừa nhận có những điều không cần sự có mặt của cái siêu nhiên, thần thánh nhưng vẫn tạo nên chất truyền kỳ cho tác phẩm, đó

là vì tác phẩm dung nạp những cái lạ kỳ của đời thường Vậy, khái niệm "kỳ" trong bài viết của tác giả

Vũ Thanh phần nào được xác định bởi hai nét nghĩa: siêu nhiên và khác lạ

Cái "kỳ" trong tiểu thuyết truyền kỳ thường nhận được mối quan tâm của những người nghiên cứu khi "kỳ" là hạt nhân cơ bản trong loại tiểu thuyết này Trong bài viết “Cái "kỳ" trong tiểu thuyết truyền

kỳ” (Tạp chí Văn học, số 10, năm 2000), tác giả Đinh Phan Cẩm Vân cho rằng truyền kỳ là truyền đi

một sự kỳ lạ Song cái "kỳ" - lạ - trong truyền kỳ không dừng lại ở việc ghi chép “kỳ sự”, “kỳ nhân”

mà còn là một phương thức tư duy nghệ thuật kiểu phương Đông Thông qua việc tác giả cung cấp những đặc điểm cơ bản của "kỳ" trong tiểu thuyết truyền kỳ và chứng minh nó bằng những biểu hiện

cụ thể về mặt tình tiết, không gian, thời gian, nhân vật; chúng ta có thể nhận thấy "kỳ" theo tác giả là lạ

“Kỳ” - lạ - vừa có thể là ảo; cũng có thể không ảo, nhưng không quen thuộc, khó gặp, hi hữu

Đến công trình Tiếp cận thể loại văn học cổ Trung Quốc (2011) (Nxb Đại học Sư phạm Tp.Hồ Chí

Minh), tác giả này khẳng định thêm “cái "kỳ" vừa là nội dung, thủ pháp nghệ thuật vừa là tư tưởng” [56, tr.55], nghĩa là cái "kỳ" không chỉ thuộc phạm trù nội dung mà nó còn là nét đặc trưng của nghệ thuật truyền kỳ khi truyền kỳ không ghi chép, tường thuật chuyện lạ một cách đơn giản mà đã đạt đến một trình độ nghệ thuật nhất định Như vậy, "kỳ" ở đây trở thành một tiêu chí đánh giá chất lượng nghệ thuật tác phẩm Nói cách khác, "kỳ" trong “kỳ văn” là hay, là xảo diệu vậy

Trang 15

“Cái “kỳ” trong Thánh Tông di thảo” (2006) (in trong Khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí

bao quát, cụ thể về những biểu hiện của "kỳ" trong tác phẩm truyền kỳ nổi bật của văn học trung đại Việt Nam này Với cách xác định những biểu hiện của yếu tố "kỳ" trong bài viết, có thể thấy rằng, tác giả bài viết đã quan niệm "kỳ" là một khái niệm chứa đựng trong nó những gì liên quan tới lực lượng siêu nhiên; tới cảnh, vật phi thực, thần ảo; tới con người bí ẩn, thần kỳ;…tức "kỳ" nhất định phải bao hàm cái ảo, cái siêu nhiên, cái kỳ lạ Bên cạnh đó, tác giả cũng xem "kỳ" như một cách thức tổ chức, kiến tạo nên những tác phẩm thuần hiện thực nhưng có sức hấp dẫn kỳ lạ

Trên đây chỉ là một thao tác điểm lại một số nghiên cứu của các học giả Việt Nam trong việc tiếp cận cái "kỳ" ở một đối tượng tác phẩm nào đó Tất nhiên nó chưa thể bao quát đầy đủ những bài viết, công trình có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến vấn đề, nhưng việc này phần nào giúp chúng ta có cái nhìn lịch sử sơ lược về nội hàm khái niệm "kỳ" đã được hình thành từ những suy nghĩ của các tác giả đối với cái "kỳ" Có thể nhận thấy, hầu hết các tác giả đều thống nhất với nhau về các nét nghĩa của

"kỳ" thông qua cách họ định nghĩa hay qua cách họ xác định ngoại diên của "kỳ" trong phạm vi mà mình tìm hiểu

Trước hết, "kỳ" luôn gắn liền với cái ảo Cái ảo bao giờ cũng "kỳ", cũng lạ, thế nên khía cạnh đầu

tiên và cũng là khía cạnh không thể bỏ qua của "kỳ" chính là cái kỳ ảo Cái được gọi là kỳ ảo thường có mặt trong các truyện truyền kỳ, theo các nhà nghiên cứu, là các thế lực siêu nhiên, phi phàm như thần phật, tiên ma, yêu quái; những hiện tượng vượt khỏi tầm kiểm soát và khả năng dự đoán cũng như lý giải của con người như biến dạng, giấc mơ linh nghiệm, báo mộng, tiền định,… Rõ ràng, những đối tượng ảo này bao giờ cũng là mục tiêu lựa chọn trước nhất khi người nghiên cứu muốn bàn đến cái

"kỳ" trong phạm vi mà họ xác định

Tiếp theo, các tác giả cũng đều chỉ ra biểu hiện của "kỳ" tại những nơi mà cái ảo rất mờ nhạt hay

hoàn toàn vắng bóng “Kỳ” có thể tồn tại trong những tác phẩm thuần hiện thực Chỉ có điều cái hiện

thực đó nhất định không phải là một hiện thực người nào cũng biết, người nào cũng hay mà phải là một hiện thực hi hữu, hiếm gặp và lạ lùng so với hiểu biết, kinh nghiệm và mong ước của đại đa số người

đọc Đây chính là cái "kỳ" của Phú cái truyện (Thánh Tông di thảo) – câu chuyện về người đàn bà

quanh năm ăn mày, nhưng người ta lại tìm thấy rất nhiều tiền trong nhà bà ta sau khi bà ta chết đi;…

“Kỳ” nhìn từ góc độ này còn là những cuộc gặp gỡ ngẫu nhiên (kỳ ngộ) để viết nên những câu chuyện

về “kỳ duyên”; những trí tuệ siêu việt, hơn người (kỳ trí) như Khổng Minh Gia Cát Lượng trong Tam quốc; những trận đánh ly kỳ, hấp dẫn và đầy biến hóa trong Tam quốc;… Loại bỏ những yếu tố thần

Trang 16

ảo, hư cấu, một hiện thực cuộc sống vốn ẩn chứa nhiều điều phi thường, kỳ diệu đã giúp nó dù có thực, nhưng vẫn rất "kỳ" trong nhận cảm của tất cả chúng ta

Nhưng "kỳ" không chỉ là nội dung của tác phẩm Dù không trùng khớp với nhau về cách gọi tên, nhưng các nhà nghiên cứu đều đồng ý về một địa hạt khác mà "kỳ" có thể tồn tại: "kỳ" trong hình thức hay nghệ thuật xây dựng và kiến tạo tác phẩm Theo Trần Lê Bảo, "kỳ" đó là xảo Nói một cách khái quát, "kỳ" là trình độ nghệ thuật điêu luyện, tài tình của tác phẩm; "kỳ" thể hiện cái “kỳ tài” của tác giả

khi thuật lại những “kỳ nhân”, “kỳ sự” được thể hiện ở các phương diện nghệ thuật của một tác phẩm văn học như xây dựng tổ chức hệ thống hình tượng nghệ thuật (nhân vật, thời gian, không gian,…); tổ chức, sắp xếp hệ thống tình tiết; cấu trúc bố cục tác phẩm;…

2 Qua những gì đã thu nhận được từ quá trình tìm hiểu những nghiên cứu liên quan tới "kỳ" của những người đi trước, chúng tôi tạm thời đưa ra một cách hiểu tương đối cụ thể về khái niệm này như sau:

“Kỳ” trước nhất là ảo Cái ảo trong văn học tự bản thân nó đã viết riêng cho mình một lịch sử đáng

lưu ý khi mà nó được nâng lên thành một thể loại gây nhiều tranh cãi từ trước đến nay: văn học kì ảo Hàng loạt cách hiểu, hàng loạt quan niệm về cái kỳ ảo và văn học kỳ ảo thi nhau xuất hiện sau khi người ta chứng kiến sự sản sinh ồ ạt và lý thú của những tác phẩm văn học hiện đại nhưng thấm đẫm

tính chất huyền ảo

Theo Gs.Phùng Văn Tửu định nghĩa: “cái kỳ ảo là cái lạ lùng, không có thật, không thể bắt gặp trong thế gian này, nói chung là cái siêu nhiên nếu ta hiểu cái siêu nhiên là những gì không tồn tại trên đời” [53, tr.270] Và thế giới của cái siêu nhiên cũng được tác giả phân tách thành hai loại Một bên là những ma quỷ, thần thánh trên thiên đường, dưới địa ngục, nói chung thuộc “thế giới bên kia” cùng với các đặc tính, năng lực siêu nhiên của chúng – đây cũng là chất liệu phổ biến của văn học kỳ ảo truyền thống – như quỷ sứ, bóng ma, oan hồn, bùa ngải, thần chú,…Một bên là những con người, những sự kiện trên thế gian này nhưng đã được kỳ ảo hóa bằng trí tưởng tượng của nhà văn – đây lại là hướng

khai thác của truyện kỳ ảo hiện đại – như sự biến hình không lý do của Gregor Samsa trong Biến dạng của F.Kafka, sự xuất hiện của cụ già có đôi cánh khổng lồ trong Cụ già có đôi cánh khổng lồ của

G.G.Marquez

Về dấu hiệu đặc trưng cái kỳ ảo, Tzevan Todorov cho rằng cái kỳ ảo là cái có khả năng gây ra sự phân vân (của độc giả hoặc nhân vật) Ông viết: “cái kỳ ảo, đó là sự lưỡng lự cảm nhận bởi một con người chỉ biết có các quy luật tự nhiên, đối diện với một hiện tượng bên ngoài mang tính siêu nhiên” [54, tr.34]

Trang 17

Thông qua một vài định nghĩa trên đây, chúng ta nhận thấy chúng đều gặp gỡ, giao thoa nhau ở luận điểm cho rằng cái kỳ ảo là cái lạ thường, cái siêu nhiên Cái lạ thường, siêu nhiên ấy đặt người đọc vào trạng thái nghi ngờ, phân vân lưỡng lự vì không thể giải thích được nó bằng tư duy logic thông thường, bằng nền tảng tri thức phổ quát của nhân loại đã có Và theo sự phát triển của văn học, cái kì

ảo được thể hiện trong các tác phẩm cũng khác nhau, có cái kỳ ảo hoang đường gây hoang mang, lo lắng, sợ hãi, kinh ngạc,… nhưng cũng có cái kỳ ảo hoang đường nhưng lại nhẹ nhàng, thậm chí được miêu tả một cách thản nhiên như đó là chuyện bình thường (trường hợp biến hình của Gregor Samsa trong Biến dạng của Kafka là tiêu biểu nhất cho dạng này) Góp mặt vào lĩnh vực của cái kỳ ảo chính là

các thế lực siêu nhiên trong thần thoại, cổ tích, sử thi, tôn giáo,… như thần phật, tiên ma, yêu quái, quỷ sứ,…; những hồn ma, tinh linh, bùa ngải, thần chú, bảo bối thần kỳ,…

Quan niệm của người Trung Quốc về cái ảo như là một biểu hiện đặc trưng của cái "kỳ" có thể được thấy rõ trong việc những tác phẩm được xem là truyền kỳ của quốc gia này luôn chứa đựng

những điều thần ảo như nhân vật thần, quỷ, cõi tiên, cảnh mộng,… Truyền kỳ đời Đường, Liêu trai chí

dị đa số đều là những câu chuyện được tạo thành từ những yếu tố kỳ ảo như vậy

Nhưng ảo không phải là tất cả “kỳ” “Kỳ” còn bao hàm cả cái lạ Tzevan Todorov khi khảo sát cái

kỳ ảo đã xem xét khả năng thâm nhập của hai vị “láng giềng”: cái lạ và cái thần diệu đối với cái kỳ ảo Ông hình dung những phân nhánh dựa vào biểu đồ:

Lạ thuần túy / Kì ảo – lạ / Kì ảo – thần diệu / Thần diệu thuần túy

“Kì ảo – lạ được hiểu là những hiện tượng tỏ ra siêu thường trong suốt câu chuyện, tới kết thúc được giải thích một cách duy lí” [54, tr.57] Các hiện tượng đó có khả năng làm cho độc giả và người đọc tin là có sự can thiệp của cái siêu thường là bởi vì chúng mang tính dị biệt Kì ảo – lạ có thể được gọi là cái siêu nhiên được giải thích bằng các kiểu sau: trước hết là sự ngẫu nhiên, những trùng hợp; tiếp theo là giấc mộng; tác động của thuốc gây nghiện; những gian lận, lừa bịp; ảo giác của các giác quan và cuối cùng là chứng điên

Cái lạ thuần túy thì lại là “những sự kiện hoàn toàn có thể giải thích được bằng những quy luật của

lý tính, nhưng theo cách này hoặc cách khác, chúng khó tin, kỳ quái, gây sốc, độc đáo, gay cấn, dị biệt” [54, tr.59] Cái lạ ở đây có thể xuất phát từ những ngẫu nhiên hay trùng hợp, ảo giác, giấc mộng,… và

từ những cái ngoại lệ: thực tế ngoại lệ, tình huống ngoại lệ, con người ngoại lệ,… trong cuộc sống tự

nhiên và con người Cuốn sách Tội ác và hình phạt của Dostoyevsky là một trường hợp chứa rất nhiều

cái lạ như thế: tình huống giết người và quá trình chịu sự trừng phạt của Raskonikov là một sự ngoại lệ, ngoại biệt; kiểu người tư tưởng như Raskonikov cũng không hề quen thuộc với chúng ta Những ngoại

lệ như thế gây ra những hiệu ứng tâm lý gần giống với cái kỳ ảo nhưng vẫn có thể được biện minh

Trang 18

bằng lý tính một cách cụ thể, rõ ràng; nó thuộc lĩnh vực của cái thực nhưng là một cái thực hi hữu Một đối tượng nhận thức nào đó dù không thần bí, kì ảo nhưng hiếm gặp, là “chuyện lạ có thực”, là độc nhất vô nhị hay vô tiền khoáng hậu, xưa nay hiếm thấy thì nó ngay lập tức có thể trở thành cái "kỳ" Mặc dù cái kì ảo – lạ, cái lạ có vẻ rời xa cái ảo bởi khả năng có thể giải thích được nhưng chúng vẫn khiến cho nhân vật, độc giả ngạc nhiên, tò mò và nghi hoặc khi tiếp xúc Nói cách khác, những sự vật hiện tượng mang đặc tính lạ vẫn có sức khêu gợi sự “hiếu kỳ” nơi người tiếp nhận

Khổng Thượng Nhậm đời Thanh có viết rằng:

Truyền kỳ là truyền đi những tình tiết khác lạ vậy Tình tiết không ly kỳ thì không truyền

Vở Đào hoa phiến có gì ly kỳ đâu? Cái không ly kỳ ấy lại là ly kỳ vậy Ấy bông hoa đào trên cây

quạt đó Hoa đào, đó là vết máu của người đẹp Vết máu, ấy là do sự giữ trinh tiết của nàng, đập đầu máu me lênh láng là do không chịu nhục đối với bọn quyền gian […] Duy chỉ vết máu của người đẹp,

ấy là bông hoa đào trên cây quạt vẫn được nhắc nhở ở trên môi, rờ rỡ ngay trước mắt, thế thì tình tiết không ly kỳ mà vẫn ly kỳ, cái không cần thiết truyền mà vẫn đáng truyền vậy [40, tr.129]

Điều đó có nghĩa là về mặt hình thức, một số sự việc nhỏ nhặt xem ra là tầm thường, nhưng nó lại thể hiện những những nhân vật và tư tưởng không tầm thường chút nào Cái điều “không ly kỳ mà vẫn

ly kỳ” (bất kỳ nhi kỳ) chính là từ trong những sự kiện bình thường, rồi thông qua cấu tứ nghệ thuật xảo diệu, khơi gợi được những chủ đề khác thường rung động lòng người, viết nên được những hình tượng nhân vật mà người đọc không bao giờ quên “Không ly lỳ mà vẫn ly kỳ” có thể nói rằng, “đó là sự bổ sung và phát triển lý luận truyền thống “không ly kỳ thì không truyền” của Khổng Thượng Nhậm viết

ra từ thực tiễn sáng tác của mình” [40, tr.133] Với quan niệm “bất kỳ nhi kỳ” như vậy, Khổng Thượng Nhậm đã dịch chuyển "kỳ" sang phạm trù của hình thức nghệ thuật của tác phẩm Sở dĩ những chuyện chẳng có gì là kỳ nhưng vẫn được truyền lưu là bởi nó có được một hình thức xảo diệu, tinh vi Có lẽ vì

vậy mà Trần Lê Bảo trong luận án Đặc điểm kết cấu của Tam quốc chí diễn nghĩa dù phân lập "kỳ"

trong tư tưởng kết cấu và “xảo” trong nghệ thuật tổ chức nhưng vẫn không quên lưu ý với chúng ta về việc “xảo” cũng là một phương diện của cái "kỳ"

Ngô Thánh Tích khi bàn về tính truyền kỳ của Tây du ký đã phân biệt tính truyền kỳ và tính thần kỳ

như sau:

Thần kỳ và truyền kỳ là hai phạm trù tuy có quan hệ mà cũng có sai biệt […] tính thần kỳ chủ yếu do nội dung đề tài quyết định Tính truyền kỳ không như vậy Nó là một loại đặc sắc của nghệ thuật tác phẩm văn học Sự hình thành của nó là biểu hiện sự sáng tạo nghệ thuật của tác giả, là tiêu chí thể hiện sự thành thục trong nghệ thuật của tác giả Sự xuất hiện của nó phản ánh thành tựu tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm, nói rõ tác phẩm đạt tới thành tựu nghệ thuật nội tại đặc thù, cho nên hai phạm

Trang 19

trù trên không nên cùng loại” (dẫn theo Đặc điểm kết cấu Tam quốc chí diễn nghĩa của La Quán

nâng một câu chuyện thần kỳ lên tầm một câu chuyện truyền kỳ Phẩm chất của một câu chuyện truyền

kỳ vì vậy không chỉ dừng lại ở chỗ nó chuyển tải một nội dung thần kỳ mà hơn hết là phương pháp, cách thức chuyển tải nội dung đó cần phải tinh tế, uyển chuyển, gọt giũa,… để cái nội dung thần kỳ đó

đi sâu vào lòng người đọc và để lại những dư vị đặc biệt

Có ý kiến cho rằng: “Trong trời đất có kỳ nhân sẽ sinh ra kỳ sự, có kỳ sự mới sinh ra kỳ văn” (Từ

Như Hàn) (dẫn theo Đặc điểm kết cấu Tam quốc chí diễn nghĩa của La Quán Trung) [2, tr.36] “Kỳ

nhân”, “kỳ sự” có thể là điều kiện cần để một tác phẩm được vinh danh thành “kỳ văn” Nhưng không phải tác phẩm nào có những yếu tố đó đều được mặc nhiên thừa nhận là “kỳ văn” Nhiều bộ tiểu thuyết

của Trung Quốc như Liêu trai chí dị, Tam quốc chí diễn nghĩa, Thủy hử,… vốn được biên tập và viết

lại những câu chuyện về “kỳ nhân”, “kỳ sự” đã tồn tại trước đó, nhưng phải đến ngòi bút của Bồ Tùng Linh, La Quán Trung, Thi Nại Am,… chúng mới trở thành “kỳ thư” lưu danh hậu thế Đó là vì chúng được thể hiện với một kỹ thuật điêu luyện, nhuần nhuyễn, thuần thục hơn hẳn trước kia Kỹ thuật viết lại ấy tạo cho tác phẩm một vẻ đẹp khiến người đọc không thể quên, đồng thời gợi nhiều suy nghĩ, liên tưởng kỳ diệu từ trong tâm tư của người đọc

Qua rất nhiều quan điểm liên quan đến cái “kỳ” trong văn học cổ điển, có thể thấy người Trung Quốc đã có ý thức rất rõ về tầm quan trọng của hình thức nghệ thuật của tác phẩm Cái truyền thống

“hiếu kỳ” của họ có lẽ không chỉ dừng lại ở việc họ luôn có nhu cầu và luôn thích thú với những câu chuyện kỳ, chuyện lạ mà cao hơn, họ mong muốn được nghe, được đọc những trước tác nghệ thuật xứng tầm “kỳ văn”, “kỳ thư”, ngay cả khi “sự bất kỳ” nhưng văn phong, nghệ thuật xảo diệu, thì họ cũng lấy cái xảo diệu đó mà làm "kỳ" và thưởng thức Như vậy, xét từ góc độ này, “kỳ” trở thành một

tiêu chí để đánh giá chất lượng nghệ thuật của một tác phẩm “Kỳ” ở đây là cái xảo, là kỹ thuật đã đạt

đến mức độ diệu kỳ, đẹp đẽ và ấn tượng

“Kỳ” trong nét nghĩa là “lạ”, về mặt nội dung, nó hàm chỉ những sự việc, hiện tượng, con người,…

vô cùng mới lạ, từ trước đến nay chưa từng được chứng kiến, được nghe qua, được kể lại Cũng cùng

một nét nghĩa ấy, về mặt nghệ thuật, “kỳ” dùng để chỉ những thủ pháp nghệ thuật, những hình thức

biểu hiện tân kỳ, mới lạ và khác biệt Khái niệm "kỳ", xét từ nét nghĩa là cái mới lạ, tân kỳ trong nghệ

thuật thể hiện là một yêu cầu mà các nhà lý luận văn học, giới phê bình, độc giả đặt ra cho người cầm bút Victor Sklovski, một nhà phê bình lý luận văn học người Nga thuộc trường phái Chủ nghĩa hình thức Nga, trong bài viết “Nghệ thuật như là thủ pháp” đã gọi yêu cầu đó là “lạ hóa” Ông coi “lạ hóa”

“như là một nguyên tắc nghệ thuật phổ quát thể hiện trong mọi cấp độ của nghệ thuật, có tác dụng phá

Trang 20

vỡ tính tự động máy móc của sự cảm thụ bằng cách tạo ra một “cái nhìn mới” – “khác lạ” – đối với sự vật và hiện tượng quen thuộc chứ không phải là “nhận ra” cái đã biết, tức là phá vỡ những “khuôn hình” đã quen để người ta có thể nhận ra các ý nghĩa mới của sự vật và nhân sinh”[10, tr.172] Khái niệm “hiệu quả lạ hóa” cũng đã được Bertold Brecht đưa vào mĩ học, căn cứ vào lý thuyết và thực tiễn sân khấu của ông Theo ông, lạ hóa gây nên ở chủ thể tiếp nhận sự “ngạc nhiên và hiếu kỳ” trước một góc nhìn mới làm nảy sinh một thái độ tiếp nhận tích cực đối với cái thực tại được “lạ hóa” kia Song

dù gọi là “lạ hóa” hay tân kỳ, tất cả cùng đều phản ánh thái độ và ý thức muốn chối từ những hình thức

đã quá quen thuộc có thể khiến độc giả nhàm chán của nhà văn Từ một góc độ nhất định, thủ pháp “lạ hóa” hay sử dụng hình thức biểu hiện mới lạ cũng thuộc cái "kỳ" – “xảo” vừa đề cập ở trên Một khi sự

tân kỳ đóng góp phần lớn vào sự thành công của tác phẩm, mang lại cho tác phẩm một hình thức vừa mới lạ, lại vừa hoàn mỹ, thì không thể phủ nhận cái tân kỳ đó chính là cái “xảo” của tác phẩm

Với nội dung ngữ nghĩa cơ bản và thường dùng nhất của "kỳ" là khác lạ, siêu phàm, việc áp dụng những nét nghĩa đó vào việc tìm hiểu văn học có lẽ không thực sự thuận lợi và rõ ràng Chính vì vậy, chúng tôi cố gắng giới thuyết một cách cụ thể, chi tiết hơn nội hàm khái niệm này và định vị những trường hợp, đối tượng có thể được xem là "kỳ" trong lĩnh vực văn chương Ở đây, khi tiến hành giới thuyết, hai phạm trù nội dung và hình thức tạm thời được chúng tôi tách ra để chỉ rõ "kỳ" trong nội dung là gì, và "kỳ" trong hình thức là như thế nào Đây chỉ là sự phân định mang tính tương đối để phục vụ cho việc trình bày dễ dàng hơn Bản thân hai mặt nội dung và hình thức không thể biệt lập với nhau, hơn thế, cái "kỳ" trong nội dung và hình thức luôn luôn gắn kết, hòa quyện chặt chẽ với nhau Kết quả của “lạ hóa” trong cách miêu tả một nhân vật, một sự kiện vừa tạo ra một “kỳ nhân”, “kỳ sự”; một “kỳ nhân”, “kỳ sự” thường phải được thể hiện theo một bút pháp khác lạ, xảo diệu Nhìn chung, có thể tổng kết những dạng thức khác nhau của "kỳ" trong mỗi phạm trù một cách khái quát và ngắn gọn như sau: về mặt nội dung, "kỳ" sẽ được xác định ở hai nét nghĩa: "kỳ" - ảo và "kỳ" – lạ; về mặt hình thức, "kỳ" là khái niệm dùng để chỉ sự "kỳ" – xảo và "kỳ" – mới Những thành tố hay phương diện nghệ thuật nào trong tiểu thuyết Mạc Ngôn có những biểu hiện thuộc những nét nghĩa này sẽ được chúng tôi chọn lựa và phân loại, sau đó miêu tả, phân tích rồi có những nhận xét, đánh giá để việc triển khai vấn đề cái "kỳ" trong tiểu thuyết Mạc Ngôn vừa có cơ sở lý thuyết, vừa được rõ ràng, tường minh

1.2 Truy ền thống “hiếu kỳ” trong tiểu thuyết Trung Quốc

Tiểu thuyết Trung Quốc vô cùng phong phú, đa dạng về thể loại và nội dung phản ánh Đi tìm những đặc điểm mang tính khái quát đối với một lịch sử tiểu thuyết như vậy chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn, hơn nữa lại phải đối mặt với những khiếm khuyết vì thực tiễn sáng tác hàng nghìn năm làm

Trang 21

sao có thể gói gọn trong vài dòng ngắn gọn? Mặc dù vậy, đây vẫn là một việc cần phải thực hiện Trên tinh thần chấp nhận những thiếu sót như thế, Nguyễn Thị Bích Hải đã đề xuất cảm nhận của mình về một khía cạnh của tiểu thuyết Trung Quốc: khái quát về đặc trưng thị hiếu thẩm mỹ của tiểu thuyết Trung Quốc Theo tác giả, “thị hiếu thẩm mỹ của tiểu thuyết Trung Quốc nổi bật lên ba chữ “hiếu” (thích, chuộng) (tam hiếu, hay có thể gọi là “thị hiếu bộ ba”), đó là: Hiếu sự - Hiếu sử - Hiếu kỳ” [8, tr.77] Trong đó, “hiếu sự” gần như là đương nhiên và gắn với “sự” là đặc điểm chung của tiểu thuyết chứ không riêng của tiểu thuyết Trung Quốc “Hiếu sử” chính là thái độ trọng sử của người Trung Quốc Đặc điểm này thể hiện ra ở tâm trạng “hoài cổ” trong thơ, ở tỉ lệ cao các tác phẩm viết về lịch sử hoặc lấy đề tài lịch sử trong tiểu thuyết và kịch Lúc viết tiểu thuyết, người ta cũng đặt tên cho tác

phẩm của mình những cái tên của thể tài lịch sử như: truyện, ký, chí, lục ( Huyền quái lục, Tây du ký,

Chẩm trung ký, Tam quốc chí diễn nghĩa, Xạ điêu anh hùng truyện, Kiều xưởng trưởng thượng nhiệm

,…) Nhưng có một điều dễ nhận thấy là “sự” hay “sử” đều “kỳ” Cho nên, chung quy thị hiếu thẩm

mỹ của tiểu thuyết Trung Quốc có thể được thu gọn vào hai chữ “hiếu kỳ”

“Hiếu kỳ” (chuộng lạ) là một đặc điểm xuyên suốt của tiểu thuyết Trung Quốc từ khi mới manh nha cho đến tận hôm nay Lý Ngư cho rằng trong hí kịch, “phi kỳ bất truyền” Điều này dường như cũng không có nhiều sai biệt khi dành cái “phi kỳ bất truyền” cho tiểu thuyết Trung Quốc Tất nhiên, qua mỗi thời kỳ phát triển, chữ "kỳ" trong tiểu thuyết Trung Quốc cũng có nhiều dạng thức, nhiều diện mạo

và độ đậm nhạt tùy thời mà cũng khác nhau

1 Ngay từ những tác phẩm được coi là tiểu thuyết đầu tiên của Trung Quốc như Yên Đan tử ở thiên

Kinh tịch chí trong sách Tùy thư, một số thiên trong Hoài Nam tử… đời Hán đã chứa đựng nhiều yếu tố

kỳ dị Hoài Nam tử là công trình biên soạn của Hoài Nam vương Lưu An cùng môn khách, trong đó, bảo tồn được rất nhiều thần thoại thời xưa như Nữ Oa vá trời, Hậu Nghệ bắn mặt trời, Tinh Vệ lấp

biển, Hằng Nga lên cung trăng,… nên chi tiết thần kỳ còn rất thô sơ và đậm đặc

2 Sang Lục triều, yếu tố kỳ, dị, quái, ảo rất đậm khi tiểu thuyết đời này có hẳn một dòng tiểu thuyết gọi là tiểu thuyết chí quái Từ cuối Hán đến Tùy, thuyết thần tiên phương thuật thịnh hành, hai tôn giáo Đạo và Phật được truyền bá rộng rãi, tạo nên thói kể chuyện quỷ thần ma quái, do đó xuất hiện nhiều tiểu thuyết chí quái Đề tài tiểu thuyết chí quái lấy từ thần thoại, truyện cổ tích tôn giáo, truyền thuyết dân gian, những người những việc kỳ lạ trong hiện thực lịch sử, trong truyền thuyết về vạn vật, về địa phương Tinh hoa của tiểu thuyết chí quái là một số truyền thuyết dân gian ưu tú, tuy có mang màu sắc thần bí, có những tình tiết khác thường, phi hiện thực, nhưng phần lớn là nhân gian, là hiện thực, thường chan chứa tinh thần phản kháng và báo thù mãnh liệt, nhiệt liệt ca ngợi những hành vi anh hùng

Trang 22

dũng cảm mưu trí, trừ hại cho dân Trong Sưu thần ký, những chuyện Can Tương Mạc Da, Vợ chồng

Hàn Bằng, Lý Ký chém rắn,… là được nhiều người biết hơn cả

3 Tiểu thuyết Trung Quốc đến đời Đường thì có một cuộc biến đổi, tuy còn chưa rời hẳn việc sưu tầm chuyện kỳ lạ, ghi chép lại việc bỏ rơi song tự thuật uyển chuyển, lời văn hoa mĩ diễm lệ Chính vì mang “cấu tứ chuộng sự ly kỳ” nên tiểu thuyết đời Đường được gọi là “truyền kỳ”, và có thể nói, "kỳ" trở thành nòng cốt của thể loại truyền kỳ, là hạt nhân tự sự chi phối toàn bộ cấu trúc thuật kể của tiểu

thuyết truyền kỳ Những tác phẩm tiêu biểu có thể kể đến là Nam Kha thái thú truyện của Lí Công Tá,

Lí Oa truyện của Bạch Hành Giản, Oanh Oanh truyện của Nguyên Chẩn,…

Cái "kỳ" của truyền kỳ đã có những khác biệt căn bản đối với cái "kỳ" trong tiểu thuyết chí quái Hầu hết các tác phẩm đều hướng tới miêu tả những chuyện đời thường như quan hệ vợ chồng, giai nhân tài tử, kẻ sống người chết, đáp ân báo oán,… Tiểu thuyết truyền kỳ không từ chối miêu tả những chuyện lạ, thậm chí hoang đường như người chết sống lại, cây cỏ biến thành người,… nhưng màu sắc quái đản đã được giảm thiểu, hơi thở cuộc sống đã lấn át mùi vị quỷ thần, đề xuất được những chủ đề

tư tưởng có ý nghĩa xã hội, thậm chí có truyện không sử dụng tình tiết kỳ lạ như Oanh Oanh truyện, Lý

4 Đến thời Tống – Nguyên, tiếp thu truyền thống “hiếu kỳ” từ hai nguồn văn chương bác học và bình dân trong quá khứ mà gần gũi là từ đời Đường, tiểu thuyết thoại bản Tống – Nguyên tràn ngập chữ "kỳ" Bên cạnh dòng tiểu thuyết thoại bản, ở thời này, chuyện chí quái và chuyện truyền kỳ vẫn tiếp tục được thu thập, biên soạn hay sáng tác Đời Tống tuy rằng tôn sùng đạo Nho song dung nạp cả Thích lẫn Đạo và tín ngưỡng căn bản, vốn tin ở ma quỷ đồng cốt cho nên vẫn còn nhiều chuyện biến

quái sấm ứng Thặng dị ký của Trương Quan Phòng, Quái dị chí của Trương Dư Chính, Tế dị chí của

Nhiếp Biên,… đều thuộc loại chuyện đó Tuy văn nhân cả một đời Tống viết chuyện chí quái song thành tựu thu được không đáng kể, cái "kỳ" trong những chuyện chí quái như vậy có phần kém xa thời trước Điểm nổi bật của tiểu thuyết thời Tống chính là tiểu thuyết bạch thoại – thoại bản khi mà sự ra đời của nó là một sự kiện lớn trong lịch sử văn học Trung Quốc Loại tiểu thuyết bạch thoại này phản ánh cuộc sống xã hội rộng rãi hơn so với các tác phẩm văn học trước kia, đặc biệt là cuộc sống của phụ

Trang 23

nữ lớp dưới, những người làm nghề thủ công và buôn bán nhỏ nơi thành thị,… nhưng nó vẫn không hề lược giản đi yếu tố "kỳ" còn nhận được nhiều ưa thích của công chúng Cái "kỳ" của thoại bản chủ yếu nằm ở sự ly kỳ, hấp dẫn của cốt truyện và cốt truyện hấp dẫn, ly kỳ chính là mạng sống của tiểu thuyết thoại bản vì nếu không thế thì “thuyết thoại nhân” (người kể chuyện) sẽ thất nghiệp Cái "kỳ" trong văn học được gieo trồng và sinh trưởng trong tiểu thuyết thời trước tiếp tục được nuôi dưỡng như thế trong thoại bản

Cái “gen” hiếu kỳ này cũng truyền sang cho tạp kịch đời Nguyên – cả tác giả và công chúng của tạp kịch cũng phần lớn là bình dân hoặc gần gũi với bình dân nên sự “hiếu kỳ” lại càng thịnh trị, đòi hỏi trong tạp kịch phải có "kỳ" để thỏa mãn cái “hiếu kỳ” ấy của người dân

5 Tiểu thuyết Minh – Thanh cũng tiếp tục kế thừa trọn vẹn truyền thống ấy từ thoại bản và tạp kịch Tống – Nguyên Mặc dù tiểu thuyết đời Minh thiên về “hiếu sử”, tiểu thuyết đời Thanh thiên về “hiếu sự” nhưng nhìn chung “hiếu kỳ” vẫn là thừa số chung suốt thời Minh – Thanh Tiểu thuyết thời đại này mang đến cho chúng ta biết bao chữ "kỳ" như kỳ nữ, kỳ nhân, kỳ sĩ, kỳ đồng, kỳ tài, kỳ mưu, kỳ trí, kỳ công, kỳ binh, kỳ duyên, kỳ tình, kỳ oan, kỳ án, kỳ phương,… Minh – Thanh cũng là thời kỳ mà các bộ

tiểu thuyết được người đời vinh danh là “kỳ thư” như Tam Quốc chí diễn nghĩa, Thủy Hử, Tây du ký,

Hồng lâu mộng,… Chữ "kỳ" trong tiểu thuyết Minh – Thanh không chỉ dùng để chỉ kỳ nhân, kỳ sự, kỳ

tài, kỳ trí,… mà còn dùng để tôn vinh những thành tựu nghệ thuật được nâng lên tầm “cổ điển” của các

bộ tiểu thuyết đó

Bên cạnh những tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết thế sự, đời Minh – Thanh cũng tồn tại loại tiểu thuyết thần quái do khoảng giữa đời Minh, Đạo giáo, Phật giáo thịnh hành, thuyết tam giáo đồng

nguyên phát triển mạnh Trong đó khá nổi là bộ Phong thần diễn nghĩa (chưa rõ tác giả), ngoài ra còn

Lang Chức Nữ truyện của Chu Danh Thế,…

Tiểu thuyết truyền kỳ đầu đời Minh kế thừa đời Đường – Tống tuy tác giả và tác phẩm có ít hơn

song cũng có tác phẩm gây được ảnh hưởng đối với đương thời và đời sau như Tiễn đăng tân thoại của

Cù Hựu và Tiễn đăng dư thoại của Lý Trinh Tiễn đăng tân thoại có đến ba phần tư là những chuyện

thần tiên quỷ quái, đầy màu sắc hoang đường, nhân quả báo ứng,… Có thể nói cái không khí truyền kỳ

vào cuối đời Minh là đầy rẫy cả thiên hạ, cho đến khi sang triều đại khác mà vẫn chưa thay đổi gì Liêu

trai chí dị của Bồ Tùng Linh là tiểu thuyết truyền kỳ rất thành công trong thời Thanh Tác phẩm không

ngoài những chuyện đời xưa nói về thần tiên, ma cáo, yêu tinh nhưng mô tả thứ lớp rõ ràng, dùng phương pháp truyền kỳ mà viết theo lối chí quái, tình tiết biến ảo, như bày ra trước mắt thật, “lại có khi

Trang 24

đổi diệu thay dây, thuật hành vi lạ, tả người đặc kỳ hiếm thấy, ra cõi mộng ảo, vào thế gian tình cờ có thuật chuyện vặt thì cũng giản dị trong sáng” [39, tr.273]

Như thế, đến đời Minh – Thanh, truyền thống “hiếu kỳ” đã đạt đến đỉnh cao của nó Đến cuối đời Minh có người chỉ trích “Thất chân chi bệnh, khởi vu hiếu kỳ” (cái bệnh mất sự chân thật bắt đầu từ sự hiếu kỳ) và cho rằng cần phải tiến thêm một bước, tìm cái “kỳ của vô kỳ” (vô kỳ chi kỳ) Nhưng “vô kỳ chi kỳ” thì cũng là “kỳ”, chỉ có điều phải tìm thấy cái "kỳ" trong cái hằng ngày, thường thấy Nhiều

tiểu thuyết đời Thanh đã tìm thấy và chỉ ra cái kỳ trong sự vô kỳ như thế, mà Nho lâm ngoại sử là một

thành tựu tiêu biểu Đến cuối đời Thanh, loại tiểu thuyết khiển trách cũng triển khai những cái cực quen thành những cái cực lạ làm cho cái "kỳ" lúc này có ít nhiều biến thiên, đáp ứng nhu cầu nhận thức của thời đại, khi chế độ và ý thức hệ phong kiến đã tổng khủng hoảng, phơi bày bản chất xấu xa hủ bại

của nó Tiêu biểu cho loại này có Nhị thập niên mục đổ chi quái hiện trạng của Ngô Ốc Nghiêu, Quan

trường hiện hình ký của Lý Gia Bảo

6 Đến thế kỷ XX, đặc biệt văn học Ngũ tứ, văn học kháng chiến, văn học thời kỳ đầu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội (1949 – 1965), tinh thần khoa học được đề cao, tiếp thu tinh thần của chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, chữ "kỳ" khó được tìm thấy trong tiểu thuyết của Mao Thuẫn, Ba Kim, Lão Xá, Chu Lập Ba,… ngoại trừ kiểu “vô kỳ chi kỳ” phản ánh những đổi mới “phiên thiên phúc địa” của đất nước Trung Hoa trong thời đại mới Có vẻ như "kỳ" trong tiểu thuyết giai đoạn này đã không còn ồn ào, náo nhiệt như trước đó Song trong những tiểu thuyết võ hiệp của Cố Minh Đạo, Hoàn Châu Lâu Phủ,… cái "kỳ" vẫn hiện diện (dù bị lạm dụng nhiều nên không có giá trị cao) Tiểu thuyết của Lỗ Tấn cũng có thể được xem là sự tiếp nối truyền thống “hiếu kỳ” khi bằng phép “lạ hóa”, bằng ngòi bút hiện thực tỉnh táo, ông đã đem đến những nhận thức mới lạ từ những hình tượng điển hình như “người điên”, Khổng Ất Kỷ, AQ,… từ những hình tượng trong thần thoại, chí quái như Nữ Oa, My Gian Xích, hiệp sĩ mặt đen,… Như vậy, ở đầu thế kỷ XX, chữ "kỳ" tuy có phần im hơi lặng tiếng nhưng không hề bị đứt đoạn

Giữa thế kỷ XX, trong văn học Hán ngữ, tiếng nói của truyền thống “hiếu kỳ” vẫn cất lên và đầy sức hấp dẫn trong tiểu thuyết khoa ảo (khoa học viễn tưởng), trong tiểu thuyết kiếm hiệp vốn được đông đảo công chúng ưa thích “Đặc chất cơ địa của tiểu thuyết võ hiệp là “truyền kỳ” Nó đầy biến hóa, đầy những yếu tố bất ngờ, cuốn hút tính “hiếu kỳ’ của độc giả” [9, tr.274] Thế nên có người đã gọi loại tiểu thuyết này là “đồng thoại cho người lớn” Tác gia thành công nhất ở thể loại này chính là Kim Dung Quả thực “kỳ sử”, “kỳ sự” về các “kỳ nhân” trong 15 bộ tiểu thuyết của ông đã đem lại “kỳ thú” cho người đọc Chữ "kỳ" trong tiểu thuyết Kim Dung rất vi diệu: đầy bất ngờ và hợp logic Đây

Trang 25

cũng là nguyên nhân khiến nhiều người nghiên cứu khoa học tự nhiên, kĩ thuật mê tiểu thuyết Kim Dung

7 Từ sau cải cách khai phóng, cuối thế kỷ XX, tiểu thuyết Trung Quốc phát triển chưa từng thấy Cùng với sự tiếp nhận ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại, chủ nghĩa hiện thực huyền ảo… đang khá phổ biến trên thế giới, cái “gen” “hiếu kỳ” tưởng như đã lặn đi bây giờ lại trỗi dậy mạnh mẽ, đặc biệt là trong trào lưu tiểu thuyết tiên phong với những cây bút sung sức của đội ngũ nhà văn sau “Cách mạng văn hóa” như Tô Đồng, Cách Phi, Tàn Tuyết, Trát Tây Đạt Oa, Trần Trung Thực, Mạc Ngôn, Quách Kính Minh,… Lớp nhà văn năng động này đã tạo ra một không khí sôi động trên văn đàn Trung Quốc với việc những sáng tác của họ tạo nên những trường phái mới lạ, trong đó có trường phái gọi là tiểu thuyết chí quái

“Tiểu thuyết chí quái” (ghi chép những chuyện quái dị) xuất hiện thời kỳ này được gọi là “Liêu trai hiện đại” Đội ngũ nhà văn này khá đông đảo: Hàn Thiếu Công, Thái Tắc Hải, Tây Trát Đạt Oa, Từ Hoa, Mạc Ngôn, Trần Xương Bản, … Những tác phẩm của các nhà văn nói trên “có truyện thì viết về

ma quái dị dạng để hồi tưởng về lịch sử, biểu hiện nhân sinh thần bí, có truyện thì dùng bút pháp tả thực để nói về những ảo giác, dự cảm, vạch ra sự thần bí của giả tượng và sự đảo điên của số phận, có truyện cũng dùng bút pháp tả thực nhưng để tả về những hồn ma như thực như hư…Tất cả đều viết giống với tiểu thuyết hiện thực huyền ảo của châu Mỹ Latin” [48, tr.411] Trong số các cây bút viết nhiều tác phẩm thuộc loại này phải kể đến nhà văn tên tuổi Giả Bình Ao Từ năm 1987 trở lại đây, ông

cho ra đời một số tác phẩm khá giống với Liêu trai chí dị như tập Ký sự núi Thái Bạch (1987), Bạch

Theo thống kê năm 1985, sách báo về văn học truyền kỳ có tới 36 loại, bình quân mỗi loại phát hành tới hai mươi vạn cuốn, đủ thấy sự hiếu kỳ của người đọc dường như không bao giờ dừng lại, người viết truyện có chất "kỳ" vì vậy cũng tích cực đáp ứng nhu cầu của độc giả Không còn những hình tượng “vá trời”, “dời núi”, “lấp biển”, những nhân vật “mắt lửa ngươi vàng”, “ba đầu sáu tay”,… nhưng cái “quái”, “kỳ”, “ảo”, “dị” trong tiểu thuyết Trung Quốc đương đại cũng đầy sức hấp dẫn vì nó

là sự dung hợp ngoạn mục giữa truyền thống “hiếu kỳ” có tự ngàn xưa của dân tộc và tiếng nói “kinh dị”, “huyền ảo” trong văn học thế giới “Ngay đến sự u huyền của vô thức, tiềm thức, những xung động bản năng, những khát vọng quyền lực và dục tình… tưởng như mới được tiếp nhận từ quan niệm “siêu nhân” hay “thuyết phân tâm” ngoại lai, nhưng thực ra nó cũng có căn cốt trong văn chương Trung Quốc, từ “Trang Chu mộng diệp”, Lý Bạch “mộng tiên”, từ giấc mộng “hoàng lương”, giấc mộng “thái

hư ảo cảnh”, “phong nguyệt bảo giám”…” [8, tr.82]

Trang 26

Đây cũng là lí do vì sao dù nhận định các tác phẩm thuộc loại “Liêu trai hiện đại” có cách viết

giống với chủ nghĩa hiện thực huyền ảo của châu Mỹ Latin, nhưng nhà nghiên cứu Lê Huy Tiêu cũng không quên nhấn mạnh loại tiểu thuyết này có nguồn gốc sâu xa trong văn học Trung Quốc từ tiểu thuyết chí quái thời Lục triều, truyền kỳ đời Đường, tiểu thuyết chí quái Minh – Thanh Như vậy, tiểu thuyết chí quái đương đại không phải là sản phẩm mới của văn học Trung Quốc trong quá trình tiếp cận với văn học phương Tây mà trước nhất, nó là sự hồi sinh của một khuynh hướng sáng tác trọng tính chất "kỳ" đã được khơi dòng từ thuở hồng hoang của tiểu thuyết Trung Quốc, và đến nay đã trở thành một trong những truyền thống đặc biệt của văn học đất nước này Tất nhiên, sự tái sinh của tiểu thuyết chí quái cũng là sự kết tụ của nhiều nguyên nhân khác nhau có liên quan đến văn hóa, xã hội, tâm linh con người hiện đại,… nhưng hơn hết, đây là một minh chứng chứng tỏ dù có bị lắng xuống trong một thời gian dài, nhượng chỗ cho những phương pháp sáng tác hiện thực chủ nghĩa, truyền thống ưa chuộng cái "kỳ" của văn học Trung Quốc vẫn tràn ngập sức sống và rõ ràng, nó đã có một sự tái xuất đầy sôi động

Bản tính nhân loại vốn “hiếu kỳ” chứ không riêng gì người Trung Quốc, nên “hiếu kỳ” không phải

là “độc quyền” của họ Nhưng điều đặc biệt với người Trung Quốc và văn học Trung Quốc (ở đây chúng tối muốn nói đến tiểu thuyết) “hiếu kỳ” là một tính cách đặc trưng, một truyền thống xuyến suốt

và bền bỉ Lí giải hiện tượng này có lẽ là một việc làm không dễ để nói cho rành rẽ và tuyệt đối Đó có thể là sự bù đắp cho sự thưa thớt của thần thoại và sự thiếu vắng một tôn giáo có ảnh hưởng cực kỳ sâu sắc, đậm nét? Hay nó là sự bổ sung cho một nhịp sống bình thường trầm lặng ít đổi thay của một nền văn hóa gốc nông nghiệp? Chữ "kỳ" trong văn học là một hệ quả tất yếu của một dân tộc có đời sống văn hóa và đời sống tinh thần từ xưa đến tận nay vẫn luôn được tắm mình trong văn hóa thần bí như âm dương, ngũ hành, bát quái? …

Mải miết chảy qua bao thăng trầm của lịch sử mà chưa một lần bị đứt mạch, “hiếu kỳ” hoàn toàn có thể được xem như là một truyền thống đặc biệt của văn học Trung Quốc dẫu rằng cái "kỳ" tại mỗi thời điểm, trong mỗi giai đoạn văn học có những khác biệt nhất định Cái "kỳ" có khi làm thăng hoa tiểu thuyết Trung Quốc khi nó được đưa vào sáng tác với một bàn tay tài hoa, một ngòi bút điêu luyện; cũng có khi làm cho tiểu thuyết chìm đắm trong màn sương kỳ quái, hoang đường mà thiếu sức sống, thiếu tính hiện thực Cái "kỳ" có khi rộn ràng, náo nhiệt, chi phối đại đa số sáng tác của các văn nhân; lại cũng có khi phải lắng xuống trước những phương pháp sáng tác mới phù hợp với yêu cầu của thời đại Song vượt qua tất cả, như con sông dù có lúc vơi lúc đầy, mạch ngầm “hiếu kỳ” vẫn cứ trường tồn cùng với tiến trình hình thành, phát triển và trưởng thành của văn học Trung Quốc nói chung và tiểu thuyết Trung Quốc nói riêng

Trang 27

1.3 Đôi nét về cái “kỳ” trong tiểu thuyết Mạc Ngôn

Bước vào thế giới tiểu thuyết Mạc Ngôn, người đọc không mấy khó khăn nhận ra chất "kỳ" hiện diện có phần đậm đặc trong tác phẩm của Mạc Ngôn từ phương diện hình thức cho tới nội dung tư tưởng Cái “kỳ” đó, một mặt, là sự tiếp nối nhiệt tình truyền thống “hiếu kỳ” trong văn học truyền thống, mặt khác, là sản phẩm của những trải nghiệm cá nhân, cá tính tác giả, ý thức nghề nghiệp,… và quá trình tiếp xúc với văn học phương Tây của bản thân nhà văn

1 Tìm hiểu tiểu thuyết Mạc Ngôn, người ta thấy rằng tuổi thơ, thời niên thiếu đã in dấu sâu đậm lên từng trang viết của ông Có nhà nghiên cứu đã khẳng định: “Đây là một tinh linh du đãng có mối liên

hệ bền chặt với quá khứ xa xăm, là một sự quay mặt về tinh thần do vô số những cảm giác, hỗ tương xung đột mà hình thành nên, là một người bị những ký ức vây bọc” [29, tr.360] Tiểu thuyết của Mạc Ngôn nói riêng, tác phẩm của Mạc Ngôn nói chung, hầu hết đều là kết quả của những cuộc đi về với tuổi thơ Và "kỳ" cũng không nằm ngoài hiện tượng ấy

Rất nhiều những biểu hiện của "kỳ" trong tiểu thuyết Mạc Ngôn mang vết tích của những gì Mạc Ngôn từng chứng kiến, cảm nhận, trải nghiệm và thu nhận được trong những năm tháng niên thiếu ở làng Đông Bắc Cao Mật Sinh ra trong một gia đình đông nhân khẩu với nhiều thế hệ cùng chung sống, trên một mảnh đất có thời tiết vô cùng khắc nghiệt, tại một vùng quê nghèo nàn, lạc hậu, lại sống trong một giai đoạn lịch sử thay đổi khôn lường, tuổi thơ và thời niên thiếu của nhà văn phải chứng kiến nhiều hiện tượng, sự việc vượt quá sự hình dung của một người thông thường về cái đói, cái rét,… Đói

nên cậu sinh ra cái tật thèm ăn Và nhân vật Tiểu Thông (Tứ thập nhất pháo) với “kỳ tài” ăn thịt và khả

năng giao lưu với thịt chỉ là sự đẩy đến tận cùng cái trải nghiệm nhịn đói, nhịn khát vốn dĩ đã thành nỗi

ám ảnh của Mạc Ngôn mà thôi La Tiểu Thông với căn bệnh kỳ lạ của cậu ta chỉ là một trong rất nhiều nhân vật, câu chuyện liên quan đến cái ăn trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn Xung quanh đề tài này còn

có nhiều “kỳ nhân”, “kỳ sự” được xây dựng tập trung hay lẻ tẻ trong các tác phẩm của ông, chẳng hạn

chuyện ăn than đá trong thời kỳ đói kém của đám trẻ trong Ếch, chuyện các nữ công nhân chấp nhận bị

cưỡng hiếp để có một miếng bánh đậu, chuyện một người mẹ nuốt trộm đậu xanh của xưởng, về nhà cố

gắng nôn ra, lấy đậu nấu cháo cho con ăn (Báu vật của đời),… Tất cả những câu chuyện đó, có chuyện

là do chính Mạc Ngôn từng kinh qua, có chuyện ông được nghe kể, có chuyện được hư cấu,… nhưng hầu hết đều có mối liên hệ bền chặt với ký ức tuổi thơ của ông – một tuổi thơ đầy ám ảnh Và “kỳ” chính là sự trở về với tuổi thơ rất tự nhiên và không thể né tránh của Mạc Ngôn thông qua những sáng tác của mình

Trang 28

3 Mạc Ngôn có lần đã phát biểu: “Đói rét và cô đơn là những chủ đề được nói tới nhiều lần trong tiểu thuyết của tôi và cũng chính là hai món tài sản của tôi Thực ra tôi còn có một tài sản khác lớn hơn,

đó là những câu chuyện và truyền thuyết tôi được nghe kể trong những năm tháng sống và lớn lên ở nông thôn” [33, tr.114] Cũng như đói rét và cô đơn, những câu chuyện mà Mạc Ngôn gọi là “truyền thuyết cố hương” ấy đã có ảnh hưởng lớn lao đến sáng tác của ông Những câu chuyện ông được truyền

kể đại đa số là chuyện yêu ma quỷ quái, một bộ phận là chuyện về người lạ việc kỳ, ngay cả chuyện lịch sử cũng bị truyền kỳ hóa khi người ta kể lại cho người sau nghe Và những câu chuyện ấy đã in sâu trong ký ức của nhà văn, phần nào chi phối việc tạo “kỳ” trong sáng tác của chính ông Vậy nên khi bước vào thế giới tiểu thuyết Mạc Ngôn, bạn đọc được giao lưu với biết bao nhân vật kỳ lạ, từ Diêm vương, tiểu quỷ, tinh linh cho tới bóng ma, từ người phàm mà phi thường, người thường mà có khả năng siêu việt tới những con người vô cùng dị biệt,…Nhiều khi, những truyền thuyết đậm chất Liêu trai ấy đàng hoàng xuất hiện trong tiểu thuyết của ông một cách trọn vẹn với tư cách là một trong nhiều

thành tố cấu thành cốt truyện (Thập tam bộ, Báu vật của đời, Đàn hương hình,…) khiến cho chất "kỳ"

trong tiểu thuyết thêm đậm đặc Có lẽ vì những câu chuyện kể ấy đã cung cấp cho Mạc Ngôn một nguồn nguyên liệu quý giá để sáng tạo, một hình thức thể hiện đáng để học hỏi, và nhất là tạo cảm hứng để ông viết nên những câu chuyện truyền kỳ hiện đại, nên bản thân nhà văn vô cùng trân trọng những truyền thuyết cố hương và sâu thẳm trong tâm khảm, Mạc Ngôn xem chúng là “sự ban tặng đầy

ân tình của quê nhà cho chính nhà văn” [29, tr.379]

3 Thuở thiếu thời, tâm hồn và trí tuệ Mạc Ngôn được nuôi dưỡng bằng rất nhiều câu chuyện kể của các thế hệ đi trước như ông bà, cha mẹ “Những câu chuyện mà thế hệ các ông bà tôi kể cơ bản là ma quỷ với yêu tinh, còn chuyện của những người thuộc thế hệ cha mẹ tôi kể phần lớn đều là lịch sử, tất nhiên lịch sử mà họ kể đều đã là lịch sử đã được truyền kỳ hóa, nó khác với lịch sử trong sách giáo khoa” [33, tr.211] Điều này đã chi phối rất nhiều đến sự hình thành quan niệm về lịch sử của Mạc Ngôn Ông cho rằng: “Trên một ý nghĩa nào đó, lịch sử luôn có tính truyền kỳ” [29, tr.301] Đây là cảm tưởng khi đọc lịch sử, cũng là kết luận đúc kết những kinh nghiệm của cá nhân ông Theo ông, cả hai loại lịch sử: lịch sử trong sách giáo khoa và lịch sử tương truyền qua miệng lưỡi dân gian đều không đáng tin vì một loại lịch sử đã bị nhu cầu chính trị của chính quyền bóp méo, còn loại kia thì do nhu cầu của tâm hồn mà được truyền kỳ hóa và thần kỳ hóa Từ góc độ một nhà văn, Mạc Ngôn muốn dựa vào truyền kỳ lịch sử của dân gian và tiếp thu những tinh hoa của nó Vì một tác phẩm văn học muốn làm xúc động lòng người thì phải kể những câu chuyện gây chấn động hồn người, phải tạo ra những nhân vật có tính cách mới mẻ khác với những người bình thường, những nhân vật như vậy dường như không tồn tại trong cuộc sống hiện thực, còn trong câu chuyện cha ông kể thì lại có rất nhiều Theo

Trang 29

quan niệm đó, lịch sử trong tiểu thuyết Mạc Ngôn là một lịch sử đã được khúc xạ qua ánh sáng của sự

hư cấu, sáng tạo của cá nhân ông Ông đã tô vẽ lên cốt lõi lịch sử những yếu tố nằm ngoài sự thật, gia

tăng vào lịch sử những yếu tố "kỳ" như cái cách mà dân gian đã làm Cao lương đỏ, Báu vật của đời,

Ếch, Sống đọa thác đầy,…đều là những tác phẩm tái hiện lại một phần hay cả một giai đoạn lịch sử

sống động, nhiều thăng trầm của Trung Quốc và tất nhiên, những tác phẩm đó không hề vắng bóng cái

"kỳ" Cái "kỳ" là gia vị được thêm thắt vào nhằm tạo ra một lịch sử đầy chất thần bí, truyền kỳ Có thể thấy, chính quan niệm cho rằng lịch sử luôn có tính chất truyền kỳ là một trong những nguyên nhân giải thích vì sao tiểu thuyết của Mạc Ngôn, đặc biệt là tiểu thuyết thuộc đề tài lịch sử, thường đậm chất

“kỳ” như vậy

4 Đọc tiểu thuyết Mạc Ngôn, điều khó phủ nhận nhất chính là sức tưởng tượng phong phú đến độ

kỳ lạ của nhà văn Chính trí tưởng tượng không giới hạn là một trong những nhân tố quan trọng thôi thúc Mạc Ngôn sáng tạo nên cái “kỳ” trong tiểu thuyết của mình Thế giới mà Mạc Ngôn kiến trúc nên trong tiểu thuyết rất khác thường với con người kỳ lạ, không gian kỳ lạ, âm thanh, mùi vị, sắc màu kỳ

lạ và với biết bao câu chuyện chỉ có thể sinh ra từ sự hư cấu, phóng đại của nhà văn Trí tưởng tượng, với Mạc Ngôn, vừa là tố chất, vừa là sản phẩm của cuộc sống khốn khó và môi trường bó hẹp Hoàn cảnh sống của thời niên thiếu đã tạo điều kiện cho trí tưởng tượng của Mạc Ngôn thêm bay bổng, rộng

mở, phóng khoáng, để đến khi viết tiểu thuyết, trí tưởng tượng đó đã giúp ông viết ra những điều nằm ngoài kinh nghiệm thực tế của nhiều người, đưa họ phiêu lưu vào thế giới của sự tưởng tượng không giới hạn đầy diệu kỳ

5 Những năm 80 của thế kỷ XX, nhiều nhà văn phương Tây đã được giới thiệu vào Trung Quốc, từ

đó, nhiều tác phẩm và tác giả phương Tây bắt đầu có sức ảnh hưởng lớn lao đến các nhà văn của Trung Quốc Mạc Ngôn cũng không ngoại lệ Tác phẩm của ông vì thế, bên cạnh tiếp nối mạch truyền thống của văn học dân tộc còn là sự hấp thụ và sáng tạo những thành tựu nghệ thuật của văn học phương Tây

“Kỳ” trong tiểu thuyết Mạc Ngôn là một trong những biểu hiện của quá trình tiếp cận ấy

Cũng như nhiều nhà văn cùng thời, Mạc Ngôn có dịp tiếp xúc với văn học phương Tây trong một không khí đầy hứng khởi Ông, mặc dù không bao giờ muốn biến những thứ của các nhà văn phương Tây thành cái của mình, nhưng ông cũng không hề phủ nhận ảnh hưởng của các nhà văn nước ngoài đối với mình, ngược lại còn thẳng thắn thừa nhận mình là người chịu ảnh hưởng sâu sắc của các nhà văn nước ngoài chẳng hạn như Gabriel García Marquez, William Faulkner, Gunter Grass,… Cuộc gặp

gỡ giữa Mạc Ngôn và G.G.Marquez qua Trăm năm cô đơn đã khải thị cho Mạc Ngôn rất nhiều, đặc

biệt là cách viết tiểu thuyết và cách nhìn nhận đối với con người và thế giới Cách viết truyền kỳ hiện đại của Mạc Ngôn, một mặt, chịu ảnh hưởng của cách kể chuyện của những người dân quê ông, nhưng

Trang 30

mặt khác, có lẽ phần nào chịu ảnh hưởng từ Marquez (và có thể là của một số nhà văn khác nữa) Marquez từng trả lời phỏng vấn rằng, ban đầu ông viết Trăm năm cô đơn với nỗ lực “cố kể câu chuyện

mà không hề tin tưởng nó”, nhưng ngay lập tức ông “phát hiện ra điều tôi phải làm là chính bản thân tôi phải tin câu chuyện và phải viết chúng với sắc mặt bà ngoại dùng để kể: một vẻ mặt tỉnh bơ” [5, tr.131] Không cố tình tạo sự giật gân, kinh hãi với sự xuất hiện của các yếu tố kỳ ảo, bất thường, câu chuyện đầy chất "kỳ" được thuật kể với giọng điệu thản nhiên trong tiểu thuyết Mạc Ngôn là cơ sở để

ta nhận ra sự tương đồng trong cách kể của ông và Marquez

Mạc Ngôn thường xuyên sử dụng thao tác chi tiết hóa các yếu tố "kỳ" để nó trở nên đáng tin của Marquez, một trong số đó là việc ông sử dụng các con số chính xác hơn là ước lượng Marquez cho đó

là một thủ thuật của báo chí Ông nói: “Nếu bạn nói rằng có những con voi bay trên bầu trời, thì người

ta sẽ không tin bạn Nhưng nếu bạn nói rằng có bốn trăm hai mươi lăm con voi trên bầu trời, thì có thể mọi người sẽ tin bạn” [5, tr.132] Tương tự, Vạn Tiểu Bão khi kể về cuộc đời cô của mình là Vạn Tâm cũng đưa ra những con số chính xác như thế: “Từ ngày 4 tháng 4 năm 1953 đến ngày 3 tháng 12 năm

1957, cô tôi đã tiến hành 1621 ca đỡ đẻ, đưa ra với đời 1645 đứa trẻ” [31, tr.41] Bên cạnh việc sử dụng những con số lớn, có tính chính xác cao độ, chi tiết hóa còn thể hiện ở cách miêu tả tỉ mỉ, miêu tả như thể cái "kỳ" ấy là hoàn toàn có thật, khiến độc giả có thể nương theo miêu tả của tác giả mà cảm nhận đối tượng một cách sống động, đầy sinh khí

Điểm gặp gỡ thú vị giữa Mạc Ngôn và Marquez không chỉ nằm ở thủ pháp viết tiểu thuyết – nhất là tiểu thuyết có màu sắc huyền ảo mà còn ở một số hình tượng nghệ thuật được xây dựng trong tiểu

thuyết của hai ông Nếu Trăm năm cô đơn có huyền thoại về cái đuôi lợn với hình ảnh đứa trẻ cuối

cùng của dòng họ Buendía được sinh ra với cái đuôi lợn – kết quả của một mối tình loạn luân vụng

trộm, báo hiệu sự suy tàn của cả một dòng tộc thì Tổ tiên có màng chân của Mạc Ngôn có hình ảnh

người có màng ở chân và tay Họ vốn là sản phẩm của một tình yêu cùng huyết thống, sự xuất hiện của

họ trở thành nỗi ám ảnh, kinh hãi của mọi cá nhân trong gia tộc vì đó gần như là tín hiệu điềm báo tai họa diệt vong sắp sửa xảy ra Nếu Marquez có một Macondo huyền thoại, một không gian nghệ thuật đặc biệt của ông thì Mạc Ngôn cũng có một Đông Bắc Cao Mật như thế Chính cách thành lập một lãnh địa riêng, không có thực về mặt địa lý song lại là nơi tái hiện toàn bộ lịch sử của các dân tộc ở Mỹ Latin của Marquez đã khai mở cho Mạc Ngôn trong việc kiến tạo một không gian địa lý riêng biệt, thấm đẫm chất huyền thoại trong tiểu thuyết của mình Đông Bắc Cao Mật tuy không phải là cái tên do Mạc Ngôn sáng tạo như kiểu bậc thầy văn chương Marquez đã làm, song cái tên đó chỉ có tính định danh, còn cơ bản là thành quả hư cấu của Mạc Ngôn Ông tự hào đó là vương quốc do chính ông xây dựng và ông là đế vương trong vương quốc ấy… Có thể thấy, văn nghiệp của tác gia Marquez đã có tác

Trang 31

động lớn lao thế nào đến công việc viết văn của Mạc Ngôn mà đề tìm hiểu cụ thể, cần có nhiều thời gian, nhiều khảo sát kỹ lưỡng, sâu sát hơn rất nhiều

Ngoài ra, cách thức miêu tả cảm giác, hương vị, màu sắc đặc biệt trong tiểu thuyết Mạc Ngôn có lẽ phần nào được gợi ý từ Marquez khi nhà văn này đã gán cho nhân vật của mình một mùi vị riêng biệt

có thể làm hoa cỏ khô héo trong Trăm năm cô đơn, cho nhân vật có khả năng ngửi thấy mùi vị của cái

chết, Faulkner thì cho nhân vật ngửi thấy mùi vị của cái lạnh,… Bản thân Mạc Ngôn rất thích đọc những quyển tiểu thuyết đầy mùi vị như vậy, và ông cũng rút ra cách tạo hương vị riêng cho tiểu thuyết của mình theo hai hướng: dùng mùi vị có trong ký ức để thể hiện vật thể, hoặc tạo cho vật thể những mùi vị do trí tưởng tượng sáng tạo nên Do đó, tiểu thuyết Mạc Ngôn cũng đầy mùi vị, màu sắc, đầy những hương vị Mạc Ngôn mà chỉ tiểu thuyết Mạc Ngôn mới có như màu của âm thanh, hình dáng và đường đi của âm thanh, mùi vị của màu sắc, mùi vị của tuổi thanh xuân,…

Việc nghiên cứu một nhà văn đã hấp thụ, tiếp thu và biến đổi như thế nào đối với hai nguồn mạch văn học lớn là văn học dân tộc và văn học nước ngoài là một công việc không đơn giản nên những trình bày trên đây hẳn còn đầy khiếm khuyết Song những khảo sát cho thấy sự tương đồng giữa Mạc Ngôn và một số nhà văn phương Tây đã cho thấy sự ảnh hưởng, có khi là khải thị rất lớn của các nhà văn ấy cho Mạc Ngôn trên con đường sáng tạo văn chương Nhìn một cách đại thể, nếu như cái “kỳ” trong truyền thống văn học Trung Quốc tác động đến việc tạo dựng những hình tượng nghệ thuật đậm chất “kỳ” như “kỳ nhân”, “kỳ cảnh”,… thì các nhà văn phương Tây đã kích thích sự sáng tạo của Mạc Ngôn trong việc sử dụng những thủ pháp nghệ thuật mới mẻ, lạ hóa, tạo nên vẻ “kỳ” cho hình thức thể hiện của tác phẩm Có thể nói, việc lựa chọn một phong cách viết đậm chất “kỳ” của Mạc Ngôn ít nhiều là kết quả của quá trình nhà văn này tiếp xúc với văn học phương Tây, đặc biệt là những nhà văn thuộc chủ nghĩa hiện thực huyền ảo như F.Kafka, G.Grasss, G.G.Marquez,…

Từ đây, chúng ta có thể thấy việc Mạc Ngôn tạo nhiều dấu ấn “kỳ” trong tiểu thuyết của mình không phải là điều ngẫu nhiên, bộc phát Bản thân nhà văn cho rằng, thưởng thức cái kỳ tài, thích nghe

kỳ nhân kỳ sự chính là sự biểu hiện cái bản tính “hiếu kỳ” rất tự nhiên của nhân loại Hơn nữa, theo ông, chỉ có “hiếu kỳ”, con người mới có những tư tưởng diệu kỳ, mới có thể có những cái mới Có những cái mới về tư tưởng mới có thể có những sáng tạo mới trong nghệ thuật Vì vậy, đối với một tiểu thuyết gia, “hiếu kỳ” thậm chí còn quan trọng hơn chuyện học tập Song đây không hẳn là lý do duy nhất lí giải vì sao tiểu thuyết Mạc Ngôn lại đậm chất “kỳ” Hơn hết, “kỳ” trong tiểu thuyết của ông chính là sự biểu hiện thống nhất với cuộc đời, cá tính, thế giới quan của ông, đồng thời cũng là kết quả của quá trình nhà văn học tập, tiếp thu và sáng tạo từ văn học dân tộc và văn học thế giới (nhìn từ phương diện cái “kỳ”)

Trang 32

Mặc dù “kỳ” không phải là tất cả của tiểu thuyết Mạc Ngôn, song thông qua lăng kính "kỳ", người đọc có thể nhận ra được nhiều vấn đề có liên quan đến thế giới quan, quan niệm nghệ thuật cũng như phong cách nghệ thuật của ông Được xem như là đặc điểm nổi bật trong thế giới nghệ thuật của tiểu thuyết Mạc Ngôn, "kỳ" đã thể hiện được cái nhìn của Mạc Ngôn đối với lịch sử, và cách nhìn đối với lịch sử ấy đã chi phối thế nào đến phong cách viết tiểu thuyết lịch sử của Mạc Ngôn Trong khi quay về với những câu chuyện lịch sử, Mạc Ngôn đã có cơ hội sống lại những năm tháng niên thiếu và xem tất

cả những gì có được trong những tháng năm ấy – dù cực khổ, đói rét, nhiều biến động – như là một bảo vật hỗ trợ tích cực cho việc sáng tác của mình Cái "kỳ" chính là một minh chứng xác thực cho việc xác định những ảnh hưởng của thời niên thiếu lên tác phẩm của Mạc Ngôn Bên cạnh đó, cái "kỳ" cũng là phương diện chứng tỏ tiểu thuyết Mạc Ngôn là sự hợp lưu của hai nguồn mạch văn học truyền thống và hiện đại, trong "kỳ" có ghi dấu sự tiếp biến của Mạc Ngôn đối với văn học dân tộc và văn học thế giới nên chúng ta có thể thấy được dấu ấn Đông – Tây trong tiểu thuyết của nhà văn này

“kỳ” này còn là thành quả của sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa "kỳ" của văn học dân tộc và "kỳ" của văn học phương Tây nên nó đầy mới lạ, có một sức hấp dẫn riêng biệt mà những biểu hiện cụ thể của nó sẽ được trình bày rõ hơn trong các chương còn lại của luận văn

Trang 33

CHƯƠNG 2 : HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT ĐẬM CHẤT “KỲ” TRONG

Nghệ sĩ sáng tạo ra tác phẩm là để nhận thức và cắt nghĩa đời sống, thể hiện tư tưởng và tình cảm của mình, giúp con người thể nghiệm ý vị của cuộc đời và lĩnh hội mọi quan hệ có ý nghĩa muôn màu muôn vẻ của bản thân và thế giới xung quanh Nhưng khác với các nhà khoa học, người nghệ sĩ không diễn đạt trực tiếp tất cả những điều đó bằng các khái niệm trừu tượng, bằng định lý, công thức mà bằng hình tượng Với hình tượng, người nghệ sĩ đã làm sống lại một cách cụ thể và gợi cảm những sự việc, những hiện tượng đáng làm ta suy nghĩ về tính cách và sô phận, về tình đời, tình người qua một chất liệu cụ thể Như vậy, hình tượng nghệ thuật là sản phẩm của phương thức chiếm lĩnh, thể hiện và tái tạo hiện thực theo quy luật của tưởng tượng, hư cấu nghê thuật

Bằng chất liệu cụ thể, hình tượng làm cho người ta có thể ngắm nghía, thưởng ngoạn, tưởng tượng

Vì thế, giá trị trực quan độc lập là một đặc điểm quan trọng của hình tượng nghệ thuật Hình tượng nghệ thuật có thể là một đồ vật, một phong cảnh thiên nhiên hay một sự kiện xã hội được cảm nhận Nhưng nói tới hình tượng nghệ thuật người ta thường nghĩ tới hình tượng con người, bao gồm cả hình tượng một tập thể người (như hình tượng nhân dân hoặc hình tượng Tổ quốc) với những biểu hiện cảm tính phong phú

Hình tượng nghệ thuật tái hiện đời sống, nhưng không phải sao chép y nguyên những hiện tượng có thật, mà là tái hiện có chọn lọc, sáng tạo thông qua trí tưởng tượng và tài năng của nghệ sĩ, sao cho các hình tượng truyền lại được sâu sắc, từng làm cho nghệ sĩ day dứt, trăn trở cho người khác Nói cách khác, việc xây dựng hình tượng nghệ thuật không nhất thiết bên ngoài phải giống như thật, mà tốt nhất

là ở chỗ “dĩ hình truyền thần” (dùng hình ảnh để truyền đạt tinh thần)

Xuất hiện trong tác phẩm văn học nghệ thuật và có thể nói lên những cảm giác và tình cảm của mọi người, có thể phản ánh thế giới bên ngoài và mọi hình thức cảm tính của cuộc sống nội tâm con người, hình tượng nghệ thuật vừa có giá trị thể hiện những nét cụ thể, cá biệt không lặp lại, lại vừa có khả năng khái quát, làm bộc lộ bản chất của một loại người hay một quá trình đời sống theo quan niệm của nghệ sĩ Ngoài ra, hình tượng văn học nghệ thuật không chỉ phản ánh đặc điểm của đối tượng mà còn thể hiện đặc trưng cá tính của bản thân nhà văn, nhà nghệ thuật và sự cảm thụ độc đáo đối với đối tượng Do đó, thông qua hình tượng nghệ thuật, người đọc không chỉ thưởng thức bức tranh hiện thực,

mà còn thưởng thức cả nét vẽ, sắc màu, cả nụ cười, sự suy tư của tác giả ẩn trong bức tranh ấy

Trang 34

Hình tượng nghệ thuật trong tiểu thuyết Mạc Ngôn được hình thành không ngoài quy luật sáng tạo như thế Những hình tượng như nhân vật, không gian, thời gian, sự kiện,… mà Mạc Ngôn xây dựng nên trong tiểu thuyết của mình vừa là sự tái hiện những gì mà đời sống thực tình cờ cung cấp cho ông, đồng thời, nó vừa là thành quả của một quá trình nhào nặn, chế biến, tái tạo lại những nguyên liệu ấy

và mang trình ra trước mắt độc giả những hình tượng nghệ thuật vô cùng sống động Dưới sự chi phối của phương thức viết tiểu thuyết có tính truyền kỳ, thế giới hình tượng nghệ thuật trong tiểu thuyết của ông vì vậy cũng mang đậm chất "kỳ" mà ở đây, chúng ta có thể kể đến những “kỳ nhân” về mặt hình tượng nhân vật, những “kỳ cảnh” về mặt hình tượng không gian, những “kỳ sự” về mặt sự kiện xã hội,… Qua những hình tượng "kỳ" như thế, hiện thực cuộc sống mà Mạc Ngôn muốn phản ánh đã được “lạ hóa”, đòi hỏi một sự lĩnh hội khó khăn nhưng thú vị hơn rất nhiều từ phía độc giả Bên cạnh

đó, thông qua cái "kỳ" biểu hiện trong hình tượng nghệ thuật, một phần thế giới quan của Mạc Ngôn cũng được hé lộ, giúp chúng ta có những nhận biết nhất định về quan niệm nghệ thuật, cũng như quan niệm về con người và thế giới của chính nhà văn

2.1 “K ỳ nhân” trong tiểu thuyết Mạc Ngôn

Tiểu thuyết Mạc Ngôn là một sân khấu rộng lớn có khả năng quy tụ về đó một dàn diễn viên đông đảo, phong phú và sinh động Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Mạc Ngôn, vì vậy, là một thế giới khá

ồn ào và phức tạp Thế giới đó có cả lưu manh lẫn anh hùng, có kẻ khốn cùng lẫn bậc đại phú quý, có con người lẫn súc vật, có thần tiên lẫn ma quỷ,… Thế nhưng, dù rất đông đúc, song mỗi nhân vật trong tiểu thuyết của ông đều được xây dựng bằng những nét vẽ cụ thể và riêng biệt Dù có khi Mạc Ngôn chỉ cho nhân vật xuất hiện trong một hay một vài khoảnh khắc, nhưng Mạc Ngôn vẫn khiến người đọc

có những hình dung mang tính đặc trưng về nhân vật bằng cách gọi tên nhân vật, cấp cho họ một diện mạo, tạo tình huống để nhân vật hành động, lựa chọn cách ứng xử, từ đó, nhân vật sẽ bộc lộ được cá tính của riêng mình Mỗi nhân vật trong tiểu thuyết Mạc Ngôn là một cá thể sinh động, nó khước từ vai trò của một nhân vật loại hình hay có chức năng thúc đẩy cốt truyện Và nó thực sự là một nhân tố tích cực trong việc kiến tạo bức tranh xã hội rộng lớn, đa diện, nhiều chiều mà Mạc Ngôn muốn tái hiện trong tiểu thuyết của mình

Trong thế giới nhân vật ấy, bên cạnh những con người bình thường mà ta có thể gặp ở bất cứ đâu (cả đời sống lẫn tác phẩm văn học), người ta thấy nổi bật lên một tập hợp những nhân vật dị thường, khác lạ Sự dị thường, khác lạ ấy có thể xuất phát từ ngoại hình hay tính cách, từ hành tung bí ẩn hay những khả năng siêu phàm, từ không gian tồn tại hay quá trình sống bất thường,… Những nhân vật có những biểu hiện lạ thường như vậy được chúng tôi gọi là “kỳ nhân” trong tiểu thuyết Mạc Ngôn Và

Trang 35

dựa vào những biểu hiện "kỳ" khác nhau của các nhân vật, ta có thể phân loại những “kỳ nhân” ấy vào

ba nhóm cơ bản Đó là nhân vật siêu nhiên, nhân vật kỳ tài-dị tật và nhân vật trẻ thơ-người trưởng thành

2.1.1 Nhân v ật siêu nhiên

Nhân vật siêu nhiên là những nhân vật không có thực, không thể bắt gặp trong thế gian này Nó là sản phẩm của trí tưởng tượng phóng túng của loài người Các vị thần trong kho thần thoại, bà Tiên, ông Bụt, mụ phù thủy trong truyện dân gian của các dân tộc trên thế giới, quỷ sứ, hồn ma, bùa ngải, ma thuật,… đều là các nhân vật siêu nhiên hay các hiện tượng siêu nhiên Như thế, nhân vật siêu nhiên có mặt rất sớm, ngay từ buổi khởi nguyên của văn học nhân loại Tại thời điểm đó, các nhân vật siêu nhiên được tạo ra như một công cụ, một phương thức lý giải những hiện tượng tự nhiên và xã hội còn nhiều

bí ẩn; đồng thời, con người khi đó cũng gửi gắm vào lực lượng siêu nhiên những ước mơ về công lý, về hạnh phúc, về sự thắng thế của cái Thiện với cái Ác,… mà trong cuộc đời thực, họ không có được Do

đó, một trong những cơ sở để lực lượng siêu nhiên tồn tại trong văn học lúc bấy giờ chính là niềm tin của con người vào sự tồn tại và sức mạnh của các thế lực siêu nhiên

Theo thời gian, nhân loại đã có những bước tiến rất dài trong nhận thức khoa học so với thời khởi thủy Niềm tin ngày nào đối với lực lượng siêu nhiên mai một dần, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc nhân vật siêu nhiên hoàn toàn vắng bóng trong văn học Thậm chí, văn học hiện đại còn chứng kiến sự trỗi dậy mạnh mẽ của các hình tượng nguyên thủy như thế trong những tác phẩm văn học thuộc thể loại văn học kỳ ảo hay văn học chủ nghĩa hiện thưc huyền ảo phát triển mạnh mẽ ở châu Mỹ Latin Hẳn nhiên, người đọc không ai ngây thơ đi tìm tính thực – hư của các nhân vật siêu nhiên trong đời sống thực tại Bởi lẽ, những nhân vật này được sáng tạo chủ yếu phục vụ cho mục đích nghệ thuật của nhà văn Với các nhân vật siêu nhiên, nhà văn thường xây dựng nó thành những hình tượng nghệ thuật mang tính tượng trưng, ẩn dụ, tạo hiệu quả gián cách nghệ thuật, tạo sự hấp dẫn và tính "kỳ" cho tác phẩm của mình

Nhân vật siêu nhiên trong tiểu thuyết Mạc Ngôn không nhiều và chỉ xuất hiện rải rác trong một vài tác phẩm Điểm danh qua những nhân vật siêu nhiên đó, chúng ta có Diêm Vương, bọn tiểu quỷ tay sai,

bà già cho thuốc quên lãng ở địa ngục; nhân vật người-loài vật; tinh linh trẻ con trong Sống đọa thác

đày; các bóng ma ở Đàn hương hình, Tổ tiên có màng chân,…

Các nhân vật siêu nhiên trong Sống đọa thác đầy xuất hiện trong các trường đoạn Tây Môn Náo kết

thúc một kiếp này và chuẩn bị đầu thai thành một kiếp khác Tại những thời điểm chuyển giao đó, Tây Môn Náo được đặt trong một không gian tách biệt hẳn với trần gian, đối mặt với Diêm Vương, hệ

Trang 36

thống quan lại, tay sai dưới điện Diêm La Ngòi bút Mạc Ngôn miêu tả nhân vật siêu nhiên trong thế giới ấy khá hóm hỉnh và hài hước dưới cái nhìn của Tây Môn Náo Diêm Vương “mặt nung núc những mỡ”, cai trị cả tầng thế giới nhưng lại có những hành vi mập mờ, không quang minh chính đại, đánh lừa Tây Môn Náo từ lần này sang lần khác Lần đầu thai đầu tiên, thay vì cho Tây Môn Náo trở lại nhân thế làm người giải oan cho chính mình thì Diêm Vương cho Tây Môn Náo hóa vào kiếp lừa Lần đầu thai thứ ba, Diêm Vương mở ra trước mắt Tây Môn Náo một viễn cảnh tươi đẹp “cả đời sẽ được hưởng vinh hoa phú quý để bù đắp những thống khổ mà ngươi đã chịu đựng từ kiếp trước” [27, tr.319] nhưng lại để Tây Môn Náo làm lợn! Lần kế tiếp, để tránh phiền phức, Diêm Vương không cho Tây Môn Náo cơ hội đòi hỏi mà hóa kiếp luôn cho Tây Môn Náo thành kiếp chó trong ổ chó nhà Nginh Xuân Sự tráo trở của Diêm Vương đã khiến Tây Môn Náo phải thốt lên “lão Diêm Vương kia quả là

đồ lưu manh, muốn tránh mặt tôi trên công đường nên đã thi hành thủ đoạn đốn mạt, bỏ qua trình tự của quy luật luân hồi” [27, tr.592] Có lẽ vì cung cách làm việc tắc trách ấy nên đã có một Diêm Vương khác thay chỗ cho Diêm Vương cũ khi Tây Môn Náo chuẩn bị chuyển sang kiếp khỉ Lão Diêm Vương này dường như minh tuệ hơn, thấu tình đạt lý hơn khi cho Tây Môn Náo làm một kiếp động vật rất gần gũi với con người trong hai năm để Tây Môn Náo có thể gột sạch oán hận trần gian và có thể trở thành người

Bên cạnh Diêm Vương, hai tên tiểu quỷ đầu trâu mặt ngựa cũng là những người song hành với Tây Môn Náo trong suốt quá trình đầu thai chuyển kiếp Chúng là lực lượng thực thi mệnh lệnh của Diêm Vương, trực tiếp dẫn dắt Tây Môn Náo từ âm ty về dương gian Về dung mạo, chúng không có gì đặc biệt “hình dáng của chúng trông không khác với người bình thường, chỉ có màu da là khác Nó như được nhúng bởi một dung dịch thần kì nào đó, xanh rực, lấp lánh đến lóa mắt” [27, tr.16] Về tính cách, chúng khá quỷ quyệt, đểu cáng Chúng hiện thực hóa những phán quyết mập mờ, treo đầu dê bán thịt chó của kẻ trị vì tối cao của chúng một cách thông minh tinh quái Chỉ có Tây Môn Náo tội nghiệp là tin lời Diêm Vương và đi theo hai tên tay sai này để được hóa kiếp, nhưng lần nào cũng bị chúng thô

bạo đẩy mạnh vào tử cung của một con vật đang đau đẻ, sau đó chui ra khỏi nơi đó, bắt đầu một kiếp trầm luân của mình trong lốt lừa, trâu, lợn, chó và khỉ

Trong quy trình đầu thai của Tây Môn Náo có một bước khá quan trọng: đến đài Vọng Hương và uống thuốc quên đi ký ức của mình Tại địa điểm đó, Tây Môn Náo gặp người phụ trách công việc này

Đó là “một bà già tóc bạc phơ nhưng đôi bàn tay lại mịn màng trắng muốt, chẳng xứng hợp tí nào với tuổi tác” [27, tr.16] Nhân vật này xuất hiện hai lần trong suốt chiều dài tác phẩm và cũng chỉ thoại một lần duy nhất Lần thoại duy nhất lại là lần chửi xối xả Tây Môn Náo vì Tây Môn Náo dám nói với Diêm Vương về sự dối trá của bà ta (bà già này cho Tây Môn Náo uống thuốc giả nên ông ta không

Trang 37

quên quá khứ và không quên mối cừu hận trong lòng mình) Tình huống này khá hài hước và đầy ý vị mỉa mai Việc mua gian bán lận, làm giả để dối trên lừa dưới như bà già gác đài Vọng Hương đầy rẫy trên dương thế Nhưng khi Mạc Ngôn đặt nó trong một không gian khác, cách ly với thề giới con người thì hành động đó trở nên nổi bật và bất ngờ Thì ra cái xấu, sự tha hóa nhân tính có thề tồn tại ở bất cứ đâu và sức lây lan của nó thì không giới hạn

Diêm Vương, tiểu quỷ, bà lão kì lạ xuất hiện không thường xuyên trong Sống đọa thác đày Mạc

Ngôn cũng không dành nhiều đất diễn cho các vai diễn này Tuy nhiên, cũng như bất kỳ nhân vật nào trong tiểu thuyết Mạc Ngôn, dù không phải vai chính nhưng sự có mặt của chúng không hề mờ nhạt Các nhân vật này mở ra một không gian khác, một thế giới khác biệt với thế giới con người trong tác phẩm: thế giới địa ngục Ở thế giới này, Tây Môn Náo là người kiên trì kêu oan, được trở về dương gian nhưng lại không được làm người Đây là thế giới mà Mạc Ngôn xây dựng nhằm cụ thể hóa quá trình luân hồi của nhân vật Tây Môn Náo, giúp câu chuyện trở nên sinh động và hấp dẫn hơn, có tác dụng kiến trúc tác phẩm thêm siêu thực, phù hợp với ý tưởng “lục đạo luân hồi” của Phật giáo

Miêu tả các nhân vật siêu nhiên, ngòi bút của Mạc Ngôn khá hài hước Sự hài hước xóa mờ ranh giới giữa hai thế giới trong nhận thức của người đọc Đồng thời, sự hài hước đó cũng lột trần bộ mặt của thế giới con người với những xấu xa, lừa lọc, gian trá Âm ty địa phủ, Diêm Vương, đầu trâu mặt ngựa,… dưới sự khắc họa của Mạc Ngôn đã mất hoàn toàn vẻ rùng rợn, kính sợ, tôn nghiêm Cái siêu nhiên vì vậy trở nên thường phàm, trần tục trong sự cảm nhận của nhân vật lẫn độc giả

Nhân vật siêu nhiên trong tiểu thuyết Mạc Ngôn còn có các bóng ma và các tinh linh xuất hiện trong Sống đọa thác đày, Đàn hương hình, Tổ tiên có màng chân Ở Sống đọa thác đày, khi Tây Môn

Náo sống trong hình hài con trâu, được Lam Mặt Xanh dắt đi diễn tập trong đêm trăng, thì Lam Giải Phóng – con trai Lam Mặt Xanh tò mò theo dõi Tại nơi diễn tập, Lam Giải Phóng trông thấy rất nhiều tinh linh: “Bọn chúng hễ cứ đến những đêm trăng tròn là hiện ra để vui đùa với nhau, tập hợp thành đội ngũ chỉnh tề nhảy nhót… trông thật vui mắt, đáng yêu!” [27, tr.204] Những tinh linh này chính là linh hồn của những đứa trẻ chết yểu được chôn cất trên mảnh đất mà Lam Giải Phóng đang đứng Trong con mắt Lam Giải Phóng, chúng dường như không phải đến từ thế giới bên kia vì chúng đáng yêu, vui mắt, chúng hát hò, nhảy múa, cổ vũ cho trâu-Tây Môn Náo tập phi nước đại, chúng ăn đậu rang Lam Giải Phóng cho tựa như người thật Sự tự nhiên trong cảm nhận của nhân vật cũng như trong cách miêu

tả của nhà văn làm cho câu chuyện kỳ ảo một cách tự nhiên – cái kỳ ảo đó như là một phần hiện thực bí

ẩn của vùng Đông Bắc Cao Mật mà các nhân vật đón nhận nó với một thái độ bình thản đến độ ngạc nhiên

Trang 38

Bóng ma trong Đàn hương hình hiện diện thông qua những lời thì thầm huyền hoặc của người bà đã

chết mà Triệu Giáp nghe được Dưới sự chỉ dẫn và thúc đẩy của bà, Triệu Giáp đã tìm được cậu của mình, rồi được bạn của cậu, tức Già Dư – một đao phủ có tiếng của triều đình – đem về bao bọc, nuôi dưỡng và truyền dạy nghề hành hình cho Cuộc gặp gỡ giữa Triệu Giáp và Già Dư, vì vậy, là cuộc gặp

gỡ định mệnh với sự sắp đặt và tham dự của một lực lượng thần bí: hồn ma của người bà Triệu Giáp Bóng ma này hiện hữu thông qua cảm giác của Triệu Giáp về một giọng nói mơ hồ, văng vẳng bên tai, thôi thúc Triệu Giáp chạy theo đoàn người ra pháp trường, hối thúc Triệu Giáp kêu cậu ơi, đẩy Triệu Giáp ngã vào xe tù, giục giã Triệu Giáp không ngừng kêu la Câu chuyện đậm chất hoang tưởng, huyền

ảo này được chính Triệu Giáp kể lại cho Mi Nương và Giáp Con nghe Không thể xác định tính thực

hư của câu chuyện, nhưng có lẽ trong mục đích kể của Triệu Giáp, nhân vật này muốn qua nó mà tăng chất thần bí cho cuộc đời mình, góp phần tạo dựng một huyền thoại về đao phủ mang tên Triệu Giáp Bóng ma trở thành một thứ trang sức tô điểm cho cuộc đời của đao phủ hạng nhất triều đình phong kiến trở nên kì bí trong mắt con dâu Mi Nương và con trai Tiểu Giáp

Nếu như bóng ma bà của Triệu Giáp chỉ xuất hiện thoáng chốc, làm đổi thay số phận của nhân vật

thì bóng ma người mẹ trong Tổ tiên có màng chân (Giấc mộng thứ tư: Báo thù) lại theo suốt lộ trình

báo thù của hai anh em Nhị Mao, Đại Mao Bóng ma này được miêu tả cụ thể hơn, ma quái hơn: “Tóc tai bà ta rũ rượi, gò má căng tròn, như chỉ cần vạch nhẹ một cái là có thể nứt toác ra vậy”, “có lúc bà ta

để hở cả bộ ngực và cào nát những vết thương cũ còn chưa lành trên ngực, trông rất đáng sợ, máu lại loang ra ướt đẫm cả ngực khiến chúng vô cùng sợ hãi” [25, tr.390-391] Bóng ma ám ảnh của người đàn bà kia cứ quấy rầy chúng mãi không thôi, áp bức, khủng bố tâm hồn chúng từ khi chúng mới bắt đầu chập chững đi cho đến khi chúng lên chín tuổi Phải đến khi trưởng thành hai anh em mới biết bóng ma đó chính là người mẹ ruột đã chết của mình Người mẹ liên tục hiện về để khơi dậy, nuôi dưỡng ý chí báo thù trong tâm hồn hai đứa trẻ Chính sự ma quái ấy đã giết chết những cảm xúc mẫu tử cao đẹp trong Đại Mao, Nhị Mao đối với người mẹ đã khuất Hai anh em “rất lạnh nhạt, chúng lại còn khiếp sợ bà ta, đối với chúng bà ta như không tồn tại vậy, chỉ giống như một cơn gió tối tăm lạnh lẽo thoảng qua mà thôi” [25, tr.393] Trong câu chuyện báo thù, người mẹ là nhân vật không trực tiếp xuất hiện nhưng lại là căn nguyên của những hận thù ai oán giữa người cha đối với hai anh em; giữa hai anh

em và thư ký Nguyễn – người có mối quan hệ bất thường với mẹ; giữa thư ký Nguyễn với cha của hai đứa trẻ; giữa người mẹ với cha chúng Bóng ma hiện về muốn Đại Mao, Nhị Mao báo thù, nhưng kẻ thù thực sự là cha chúng hay thư ký Nguyễn lại rất mơ hồ Cả câu chuyện chìm đắm trong một không khí hồ nghi, huyễn hoặc khi có nhiều chi tiết kỳ ảo, siêu thực mà bóng ma người mẹ là một trong số chi tiết đó

Trang 39

Kiểu nhân vật siêu nhiên như bóng ma hay tinh linh trong tiểu thuyết Mạc Ngôn xuất hiện với tần

số thấp Khi xây dựng loại nhân vật này, Mạc Ngôn không đặt nó trong một không gian biệt lập với thế giới loài người như Diêm Vương, bọn đầu trâu mặt ngựa,… Các bóng ma, linh hồn người đã chết bao giờ cũng xuất hiện bên cạnh người sống, tồn tại và chi phối phần nào cuộc sống của con người Chúng

có thể gây ra nỗi khiếp sợ như kiểu bóng ma người mẹ trong Tổ tiên có màng chân, nhưng cũng có thể mang đến cảm giác vui vẻ, thản nhiên như tinh linh trẻ em trong Sống đọa thác đày.Vai trò của các

nhân vật trong các tác phẩm cũng khác nhau Các tinh linh mà Lam Giải Phóng nhìn thấy tăng tính

huyền ảo cho không gian truyện, các bóng ma trong Tổ tiên có màng chân hay Đàn hương hình lại có

thêm tính chất dẫn dắt câu chuyện đi theo hướng cần thiết

Sử dụng các bóng ma như một nỗi ám ảnh, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc đời và số phận của các nhân vật, Mạc Ngôn muốn thể hiện cái nhìn của người dân quê ông đối với ranh giới giữa người sống

và người chết Mạc Ngôn từng nói tuổi thơ của ông gắn liền với những câu chuyện kể thần bí, kinh dị

và hấp dẫn của ông bà và những người lớn tuổi trong thôn Trong những câu chuyện của họ, người chết

và người sống không có ranh giới rõ rệt, “người chết không đi đâu xa mà vẫn sống cùng chúng ta, họ luôn bí mật theo sát và che chở cho chúng ta, tất nhiên họ cũng giám sát chúng ta” [33, tr.208] Kế thừa tinh thần của những câu chuyện dân gian đó, trong sáng tác tiểu thuyết, Mạc Ngôn cũng miêu tả hình ảnh người chết – bóng ma như một bộ phận cấu thành nên đời sống Các bóng ma tồn tại song song, vừa là chứng nhân vừa là tác nhân trong mối quan hệ với con người, chúng có thể can dự vào quá trình sống của con người, làm biến đổi cuộc đời và số phận của họ Tuy vậy, khi xây dựng lớp nhân vật này, Mạc Ngôn không nhằm thể hiện niềm tin của mình đối với chúng mà có lẽ, thông qua đó, ông muốn chuyển tải một thông điệp: bóng ma là hiện thân của quá khứ Quá khứ có thể đeo đuổi, bám riết và buộc chúng ta phải có trách nhiệm với những gì đã làm trong quá khứ

Nhân vật siêu nhiên trong tiểu thuyết Mạc Ngôn không nhiều Cảm giác mà nhân vật siêu nhiên gây

ra đối với độc giả và bạn đọc tuy có sự khác biệt nhưng nhìn chung tương đối ôn hòa Khoảng cách giữa con người và lực lượng siêu nhiên thu hẹp dần, con người nhìn nhận và đánh giá thế giới ấy bằng con mắt bình thản hơn, giảm trừ dần niềm tôn kính và sợ hãi, đặt nó ngang bằng với loài người Thậm chí, những cái siêu nhiên còn có khuynh hướng trở thành đối tượng của sự giễu nhại và cười cợt của con người thời hiện đại Do vậy, nhân vật siêu nhiên tuy về bản chất là hoàn toàn kỳ ảo, nhưng khi vào tiểu thuyết Mạc Ngôn nói riêng, văn học hiện đại nói chung, chúng mất dần tính kỳ ảo vì người đọc sẽ

đi tìm một thông điệp, một tư tưởng nào đó được nhà văn gửi gắm vào chúng Các nhân vật siêu nhiên trở thành những hình tượng nghệ thuật có sức ám gợi mạnh mẽ và mang tính ẩn dụ, tượng trưng rõ nét

Trang 40

2.1.2 Nhân v ật kỳ tài – dị tật

Tiểu thuyết Mạc Ngôn là nơi hội ngộ của nhiều kỳ nhân, quái kiệt Từ tác phẩm Củ cà rốt trong

suốt, Mạc Ngôn đã xây dựng một nhân vật đặc biệt: cậu bé Đen Cậu bé này tuy có khả năng nói song

cậu rất ít khi nói, cậu cảm thấy việc phải nói là một gánh nặng Cậu có thể chịu đựng được nỗi khổ sở

mà người thường khó chịu được như cởi trần, đi chân đất giữa mùa đông nước đóng thành băng; cầm một thanh sắt nung đỏ trong tay; coi như không đối với những vết thương trên người Cậu có khả năng hoang tưởng, có thể nhìn thấy những sự vật đẹp đẽ và kỳ lạ mà người khác không nhìn thấy Ví dụ như cậu có thể nghe thấy tiếng sợi tóc rơi trên đất; cậu có thể ngửi thấy mùi mà người khác không ngửi thấy,… Mạc Ngôn tự bạch rằng cậu bé Đen chính là một bóng ma – bóng ma trong cuộc đời và trong văn nghiệp của Mạc Ngôn Từ bóng ma này, nhiều nhân vật mang dáng dấp như thế đã ra đời Mảnh đất tiểu thuyết Mạc Ngôn trở thành mảnh đất sản sinh những bậc kỳ tài, những quái nhân dị thường

Những kỳ nhân này chính là những hóa thân, hay những phiên bản khá nhau của cậu bé Đen trong Củ

cà r ốt trong suốt ngày nào

Những nhân vật được xem là dị thường trong tiểu thuyết Mạc Ngôn không phải là những nhân vật siêu nhiên kì ảo Ở góc độ khảo sát này, kỳ nhân thuộc dạng thức thứ hai của khái niệm “kỳ”: kỳ lạ, ngoại lệ và khác biệt Những “kỳ nhân” trước hết, họ là những con người bình hường, trần tục Cái làm

họ trở nên "kỳ" là vì họ có một khả năng siêu phàm, vượt trội hơn người Khả năng đó, có thể được mọi người xung quanh ghi nhận, tán thưởng; cũng có thể chỉ riêng nhân vật cảm nhận và kể lại cho độc giả nghe Dù mức độ và hình thức bộc lộ khác nhau, song với khả năng kì lạ, các nhân vật trong tiểu thuyết Mạc Ngôn thực sự trở thành quái nhân với cái kỳ tài của chính bản thân mình

So với số lượng nhân vật đông đảo trong tiểu thuyết Mạc Ngôn, nhân vật kỳ tài chiếm tỉ lệ rất thấp nhưng lại rải đều trong nhiều tác phẩm khác nhau và gần như tác phẩm nào cũng có ít nhất một nhân

vật kỳ tài – dị tật tồn tại: Báu vật của đời có Kim Đồng, Tứ thập nhất pháo có La Tiểu Thông, Thập

tam bộ có người ăn phấn, Ếch có Hách Đại Thủ, Vạn Tâm,… Đặc biệt, mỗi nhân vật đều mang một dị

tật, có một kỳ tài khác nhau, do đó, khả năng tạo ấn tượng cũng mạnh mẽ chẳng kém gì nhau

La Tiểu Thông trong Tứ thập nhất pháo là cậu bé mắc cái chứng thèm thịt điên cuồng Sinh ra trong

một làng giết mổ chuyên nghiệp nhưng trong suốt năm năm liền – sau khi người cha bỏ hai mẹ con cậu

đi với người đàn bà khác – La Tiểu Thông không được ăn một miếng thịt nào vì mẹ của cậu thực hiện lối sống tiết kiệm tối đa để gây dựng cơ ngơi, sự nghiệp Cậu thèm thịt đến mức có thể gọi bất kỳ ai là

“bố” nếu cho cậu ăn thịt; nếu có thịt ăn, việc bố mẹ cậu đánh nhau, chửi nhau cũng mặc Tên tuổi của

La Tiểu Thông vì thế, gắn liền với khát vọng được ăn thịt một cách cuồng nhiệt và mãnh liệt

Ngày đăng: 10/06/2014, 12:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Cẩm Anh (2008), “Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Đàn hương hình của Mạc Ngôn”, Tạp chí Nghiên cứu văn học , (10), tr.114-122 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Đàn hương hình của Mạc Ngôn”, "Tạp chí Nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Thị Cẩm Anh
Năm: 2008
2. Trần Lê Bảo (1992), Đặc điểm kết cấu Tam quốc chí diễn nghĩa của La Quán Trung, Luận án phó tiến sĩ khoa học Ngữ văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm kết cấu Tam quốc chí diễn nghĩa của La Quán Trung
Tác giả: Trần Lê Bảo
Năm: 1992
3. Trần Lê Bảo (2006), “Thể nghiệm mộng ảo của các tác gia cổ đại Trung Quốc”, Tạp chí Ngiên cứu văn học , (8), tr.3-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể nghiệm mộng ảo của các tác gia cổ đại Trung Quốc”, "Tạp chí Ngiên cứu văn học
Tác giả: Trần Lê Bảo
Năm: 2006
4. Trần Lê Bảo (2009), “Giải mã văn hóa trong tác phẩm văn học (Dẫn chứng từ nền văn học Trung Qu ốc)”, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc , (2), tr.68-78 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải mã văn hóa trong tác phẩm văn học (Dẫn chứng từ nền văn học Trung Quốc)”, "Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc
Tác giả: Trần Lê Bảo
Năm: 2009
5. Lê Huy Bắc (2009), Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo và Gabriel Márquez, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo và Gabriel Márquez
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
6. Phạm Thị Xuân Châu (2009), “Cái “kỳ” trong thơ Lý Hạ và Lý Bạch”, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc , (11), tr.71-81 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cái “kỳ” trong thơ Lý Hạ và Lý Bạch”, "Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc
Tác giả: Phạm Thị Xuân Châu
Năm: 2009
7. Đặng Anh Đào (2007), Việt Nam và phương Tây-Tiếp nhận và giao thoa trong văn học , Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam và phương Tây-Tiếp nhận và giao thoa trong văn học
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
8. Nguyễn Thị Bích Hải (2007), “Truyền thống “hiếu kỳ” trong tiểu thuyết Trung Quốc”, Tạp chí Nghiên cứu văn học , (6), tr.77-83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thống “hiếu kỳ” trong tiểu thuyết Trung Quốc”, "Tạp chí Nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hải
Năm: 2007
9. Nguyễn Thị Bích Hải (2008), “Sự thỏa hiệp giữa truyền thống và hiện đại trong phép tự sự của tiểu thuyết Kim Dung”, Tự sự học – Một số vấn đề lý luận và lịch sử (Phần 2) , tr.267-279 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự thỏa hiệp giữa truyền thống và hiện đại trong phép tự sự của tiểu thuyết Kim Dung”, "Tự sự học – Một số vấn đề lý luận và lịch sử (Phần 2)
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hải
Năm: 2008
10. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2007), T ừ điển thuật ngữ văn học , Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
11. Phạm Thị Hảo (2008), Khái niệm và thuật ngữ lý luận văn học Trung Quốc, Nxb Văn học, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm và thuật ngữ lý luận văn học Trung Quốc
Tác giả: Phạm Thị Hảo
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2008
12. Hồ Sĩ Hiệp (2002), Một số vấn đề văn học Trung Quốc thời kỳ mới, Nxb Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí M inh, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề văn học Trung Quốc thời kỳ mới
Tác giả: Hồ Sĩ Hiệp
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2002
13. Hồ Sĩ Hiệp (2003), “Tiểu thuyết của Mạc Ngôn với độc giả Việt Nam”, Tạp chí Văn nghệ , (51), tr.12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết của Mạc Ngôn với độc giả Việt Nam”, "Tạp chí Văn nghệ
Tác giả: Hồ Sĩ Hiệp
Năm: 2003
14. Nguyễn Thị Vũ Hoài (2010), “Giấc mơ trong tiểu thuyết Mạc Ngôn”, http://evan.vnespress.net/News/phe-binh/nghien-cuu/2010/08/3B9AEC37/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giấc mơ trong tiểu thuyết Mạc Ngôn”
Tác giả: Nguyễn Thị Vũ Hoài
Năm: 2010
15. Hoàng Thị Bích Hồng (2007), “Nghệ thuật trần thuật gắn với thủ pháp lạ hóa trong tiểu thuyết Mạc Ngôn”, Tạp chí Sông Hương , (224) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật trần thuật gắn với thủ pháp lạ hóa trong tiểu thuyết Mạc Ngôn”, "Tạp chí Sông Hương
Tác giả: Hoàng Thị Bích Hồng
Năm: 2007
16. Bùi Thị Thanh Hương (2010), Người kể chuyện trong tiểu thuyết Mạc Ngôn, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người kể chuyện trong tiểu thuyết Mạc Ngôn
Tác giả: Bùi Thị Thanh Hương
Năm: 2010
17. Jean Chevalier, Alain Gheerbrant (1997), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới
Tác giả: Jean Chevalier, Alain Gheerbrant
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 1997
18. Đào Lưu (2008), “Đặc điểm nghệ thuật trong tiểu thuyết Báu vật của đời của Mạc Ngôn”, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc , (7), tr.70-76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm nghệ thuật trong tiểu thuyết Báu vật của đời của Mạc Ngôn”, "Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc
Tác giả: Đào Lưu
Năm: 2008
19. Phương Lựu (2008), “Vấn đề phân loại góc nhìn trần thuật”, Tự sự học – Một số vấn đề lý luận và lịch sử (Phần 2) , tr.190-165 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề phân loại góc nhìn trần thuật”, "Tự sự học – Một số vấn đề lý luận và lịch sử (Phần 2)
Tác giả: Phương Lựu
Năm: 2008
20. M.Bakthtin (1993), Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki
Tác giả: M.Bakthtin
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w