So sánh cách sử dụng từ ngữ trong các tiêu đề văn bản phóng sự tiếng Việt Tiểu kết 63 CHƯƠNG BA: CẤU TRÚC NGỮ PHÁP VÀ NGỮ NGHĨA CỦA TIÊU ĐỀ VĂN BẢN PHÓNG SỰ TIẾNG VIỆT SO SÁNH VỚI TIÊ
Trang 1PHAN THANH HUYỀN
TIÊU ĐỀ VĂN BẢN PHÓNG SỰ TIẾNG VIỆT
(SO SÁNH VỚI TIẾNG ANH)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2008
Trang 2PHAN THANH HUYỀN
TIÊU ĐỀ VĂN BẢN PHÓNG SỰ TIẾNG VIỆT
(SO SÁNH VỚI TIẾNG ANH)
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 5.04.27
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS HUỲNH THỊ HỒNG HẠNH
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2008
Trang 31 Lí do chọn đề tài 5
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
4 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 11
5 Phương pháp nghiên cứu 11
6 Nguồn tư liệu 12
7 Bố cục của luận văn 12
CHƯƠNG MỘT : TỔNG QUAN VỀ VĂN BẢN PHÓNG SỰ VÀ TIÊU ĐỀ VĂN
BẢN PHÓNG SỰ
1.1.Tổng quan về văn bản phóng sự 14
1.2 Tổng quan về tiêu đề văn bản phóng sự 21
Tiểu kết 29
CHƯƠNG HAI: CÁCH SỬ DỤNG TỪ NGỮ TRONG TIÊU ĐỀ VĂN BẢN PHÓNG
SỰ TIẾNG VIỆT (SO SÁNH VỚI TIÊU ĐỀ VĂN BẢN PHÓNG SỰ TIẾNG ANH)
2.1 Về các lớp từ vựng 31
2.2 Về cấu tạo từ ngữ trong tiêu đề văn bản phóng sự 47
2.3 So sánh cách sử dụng từ ngữ trong các tiêu đề văn bản phóng sự tiếng Việt
Tiểu kết 63
CHƯƠNG BA: CẤU TRÚC NGỮ PHÁP VÀ NGỮ NGHĨA CỦA TIÊU ĐỀ VĂN
BẢN PHÓNG SỰ TIẾNG VIỆT (SO SÁNH VỚI TIÊU ĐỀ VĂN BẢN PHÓNG SỰ
TIẾNG ANH)
3.1 Cấu trúc ngữ pháp của tiêu đề văn bản phóng sự tiếng Việt 65
3.2 Cấu trúc ngữ nghĩa của tiêu đề văn bản phóng sự tiếng Việt 79
Trang 4THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
Trang 5TN : Thanh niên
PN : Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh
NY Times : The New York Times
Washpost : The Washington Post
2 Trình bày
Ngữ liệu được viết tắt theo trình tự : tên tiêu đề, tên báo, ngày báo phát hành
Ví dụ :
Đi bán … "cậu ông trời" (TN 20.3.04)
Tiêu đề “Đi bán… “cậu ông trời”” trích từ báo Thanh niên số ra ngày 20 tháng
Ví dụ tiêu đề Chuyện nữ dịch giả tật nguyền (TT 11.03.06) có ba tiêu đề phụ là:
Nỗi đau ập đến
Cô giáo làng
Dịch giả có nghị lực phi thường
Trang 6Đi tìm giới tính cho con
Bài 1: Đóng cửa luyện công (PN 27.7.07) Bài 2: Đi … canh trứng (PN 30.7.07) Bài 3: Trả lại giới tính cho con (PN 3.8.07) Với những bài phóng sự theo dạng này chúng tôi chỉ xét tiêu đề của từng kỳ
mà không xét đến tiêu đề chung của cả loạt bài phóng sự
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong cuộc sống hàng ngày, con người có nhu cầu giao tiếp và trao đổi thông tin với nhau về mọi mặt của đời sống Cách tiếp nhận thông tin nhanh và nhiều nhất có lẽ là thông qua báo chí Qua báo chí, con người có thể tiếp cận với những vấn đề mà mình quan tâm Báo chí ra đời để phục vụ nhu cầu nắm bắt thông tin của con người và trở thành một phần rất quan trọng trong cuộc sống hàng ngày Hiện nay trên thế giới, báo chí đang phát triển mạnh mẽ Ở Việt Nam cũng vậy, hàng ngàn đầu báo với số lượng phát hành khổng lồ đã chứng minh được sự ảnh hưởng to lớn của nó đến đời sống toàn xã hội và cũng chính vì thế báo chí đã và đang hình thành cho mình một ngôn ngữ mang phong cách riêng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà ngôn ngữ học
Khi cầm một tờ báo trên tay, điều tác động đến độc giả đầu tiên chính là tiêu đề của bài báo Tiêu đề càng hấp dẫn, càng lạ thì càng khiến độc giả tò mò muốn đọc nội dung của bài báo Trong quá trình thu thập những tiêu đề văn bản báo chí
ở những thể loại khác nhau, chúng tôi nhận thấy ở văn bản phóng sự thường có nhiều tiêu đề có kiểu sử dụng ngôn ngữ rất riêng Ví dụ như các tiêu đề: Nghề cho thuê… mặt; Đi tìm … W.C ở Sài Gòn; Hành khách bị “bán” dồn dập; Xăng bốc hơi về đâu?; Chơi kiểu … “quí tử”; Từ 15.000 trở thành tỷ phú; Khi “chat” về làng; “Mèo” hoá … “hổ”… Chính sự phong phú và độc đáo trong cách sử dụng ngôn ngữ như vậy thôi thúc chúng tôi nghiên cứu để tìm hiểu cách sử dụng từ ngữ , cấu trúc ngữ pháp và ngữ nghĩa của các tiêu đề, để đánh giá hiệu quả tác động đến người đọc Đồng thời chúng tôi còn khảo sát các tiêu đề văn bản phóng
sự tiếng Anh để so sánh với tiêu đề văn bản phóng sự tiếng Việt nhằm tìm ra được những nét tương đồng và dị biệt trong cách đặt tiêu đề văn bản phóng sự trong các ngôn ngữ khác nhau
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cho đến nay ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về ngôn ngữ báo chí và tiêu đề văn bản báo chí, trong đó có đề cập đến thể loại phóng sự Tuy nhiên
Trang 8vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào đi sâu tìm hiểu về tiêu đề văn bản phóng sự một cách đầy đủ và chi tiết Các bài viết có liên quan đến tiêu đề văn bản báo chí và ngôn ngữ thể loại phóng sự gồm những công trình sau đây:
2.1 Về tiêu đề văn bản và tiêu đề văn bản báo chí
- Đầu tiên phải kể đến công trình nghiên cứu của Bùi KhắcViện Thông qua một
số tiêu đề văn bản tiểu phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong tác phẩm “Về tên các bài báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh” [87], ông đã chỉ ra một số đặc điểm ngôn ngữ của phong cách cá nhân
- Tiếp theo là tác giả Hồ Lê , trong tác phẩm “Nhờ đâu những tiêu đề bài viết có sức hấp dẫn” [51] ông cũng dựa trên tiêu đề văn bản các bài báo của Hồ Chí Minh để đưa ra những nguyên nhân dẫn đến tính hấp dẫn thông qua việc phân tích sáu kiểu cấu tạo nội dung và hai kiểu cấu tạo hình thức Bài viết chú trọng đến việc phân loại tiêu đề văn bản về mặt cấu tạo
- Cuốn “Tiêu đề văn bản tiếng Việt” [72] của Trịnh Sâm được xem là một công trình nghiên cứu về tiêu đề văn bản tiếng Việt toàn diện nhất từ trước đến nay Tác giả đi sâu vào phân tích các vấn đề tiêu đề của văn bản, cấu trúc ngữ pháp – ngữ nghĩa của tiêu đề Tuy nhiên tác giả chưa đi sâu vào tiêu đề các thể loại
cụ thể trong các phong cách chức năng Vấn đề tiêu đề văn bản phóng sự chỉ được tác giả đề cập một cách chung chung
- Bên cạnh đó Trịnh Sâm còn có bài viết “Mấy yêu cầu về mặt ngôn ngữ của tiêu
đề văn bản trong phong cách thông tấn”[73] Bài báo đưa ra những luận điểm về phương thức trình bày và chức năng của tiêu đề báo trên bình diện ngôn ngữ
- Nguyễn Đức Dân với bài viết “Vận dụng tục ngữ, thành ngữ và danh ngôn trên báo chí”[19] đã đưa ra những ví dụ thực tế của việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ
và danh ngôn trên báo chí, đặc biệt là ở tiêu đề báo Tác giả nhấn mạnh đến việc cần vận dụng thành ngữ, tục ngữ và danh ngôn một cách khéo léo để đạt hiệu quả cao
- Bài báo “Những dấu câu bộc lộ quan điểm” [21] của hai tác giả Nguyễn Đức Dân và Trần Thị Ngọc Lang lại nghiên cứu về ngôn ngữ của dấu câu Các tác
Trang 9giả đưa ra những dẫn chứng về tiêu đề, về những phát ngôn trong các bài báo
để phân tích quan điểm của người viết trong việc sử dụng dấu câu
- Bài viết “Ý tại ngôn ngoại những thông tin chìm trong ngôn ngữ báo chí”[20] của Nguyễn Đức Dân trình bày các phương thức mà các nhà báo vẫn thường dùng
để đặt tiêu đề và viết báo Theo tác giả, có bảy cách biểu hiện thông tin chìm qua ngôn ngữ là thông qua từ ngữ, dấu câu, câu mơ hồ, cấu trúc câu, trật tự từ, ngữ cảnh và giọng điệu
- Trong bài viết “Một số nhận xét về đặc điểm ngôn ngữ của các đầu đề trong báo chí tiếng Anh hiện đại” [46] Nguyễn Thị Thanh Hương đã khảo sát đặc điểm ngôn ngữ của các tiêu đề trong các báo tiếng Anh Tác giả đã tiến hành phân loại các tiêu đề bài báo bằng tiếng Anh theo cấu trúc ngữ pháp và mục đích thông báo Bên cạnh đó tác giả còn khái quát một số nét đặc thù của văn phong báo chí trong các tiêu đề như các hiện tượng giản lược, viết tắt, trích dẫn…
- Tác giả Vân Đông trong bài báo “Tiêu đề báo tiếng Anh và tiếng Việt dạng ngữ
cố định” [30] đã nêu lên việc sử dụng các ngữ cố định trong tiêu đề của báo tiếng Anh và tiếng Việt
- Tác giả này cũng có bài viết “Đôi điều nên biết về tiêu đề báo chí tiếng Anh và tiếng Việt” [29] trình bày một số lưu ý về tiêu đề báo chí tiếng Anh và tiếng Việt
2.2 Về ngôn ngữ thể loại phóng sự
- Trần Ngọc Dung với bài viết “Đặc điểm lời văn tả chân trong phóng sự Việt Nam 1932-1945” [22] đã đi vào tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ của thể loại phóng sự với phạm vi khảo sát là Ba tập phóng sự Việt Nam 1932-1945 (do Phan Trọng Thưởng, Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Hữu Sơn sưu tầm và biên soạn, gồm 115 tác phẩm) Trong bài viết này tác giả cũng đề cập đến tiêu đề văn bản báo chí Theo ông, có hai cách đặt tiêu đề phổ biến của một bài phóng sự là cách đặt tiêu đề tạo ấn tượng
và sử dụng thủ pháp lắp ghép của điện ảnh Tuy nhiên bài báo chỉ dừng lại ở các bài phóng sự tả chân chứ không phải là thể loại phóng sự của báo chí
Trang 10- Huỳnh Dũng Nhân qua tác phẩm “Phóng sự – Từ giảng đường đến trang viết” [60]
đã trình bày về kết cấu, đặc trưng và phong cách của thể loại phóng sự Tuy nhiên ông dành phần lớn nội dung để bàn về kỹ thuật viết phóng sự, vấn đề tiêu đề của văn bản phóng sự chưa được ông đề cập một cách chi tiết
- Trong tác phẩm “Phong cách học tiếng Việt hiện đại” [28] Hữu Đạt cũng dành hẳn một chương trình bày về phong cách ngôn ngữ báo chí và đặc điểm của từng thể loại báo chí cụ thể, trong đó có thể loại phóng sự nhưng chỉ ở mức nêu vấn đề một cách khái quát
- Tác phẩm “Một số vấn đề về sử dụng ngôn từ trên báo chí” [2] của tác giả Hoàng Anh là tập hợp những công trình nghiên cứu của tác giả về ngôn ngữ báo chí Trong đó có hai bài viết về tiêu đề văn bản báo chí và ngôn ngữ thể loại phóng sự Bài viết “Thử phân loại tiêu đề các văn bản báo chí” đã đưa ra một số kiểu tiêu đề
cơ bản xét theo phương diện ý nghĩa chức năng Đó là tiêu đề xác nhận, tiêu đề câu hỏi, tiêu đề kêu gọi, tiêu đề trích dẫn, tiêu đề bình luận, tiêu đề giật gân và tiêu
đề gợi cảm Bài viết “Một số kiểu kết thúc cơ bản trong phóng sự”, tác giả trình bày một số thủ pháp thường dùng để kết thúc các bài phóng sự
Các công trình nêu trên đều ít nhiều có đề cập đến tiêu đề văn bản báo chí và tiêu đề văn bản phóng sự một cách trực tiếp hay gián tiếp Tuy nhiên vẫn chưa có một bài viết nào đề cập đến vấn đề chúng tôi đang quan tâm một cách hệ thống và toàn diện Thể loại phóng sự cĩ vị trí đặc biệt quan trọng so với những thể loại báo chí khác do tính hấp hẫn của nó Chính vì vậy công trình nghiên cứu này sẽ góp phần mô tả cụ thể về đặc điểm của tiêu đề văn bản phóng sự
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Báo chí hiện nay có nhiều loại hình như báo hình, báo nói, báo in và báo điện
tử Tuy nhiên trong khuôn khổ luận văn này chúng tôi giới hạn đối tượng và phạm vi nghiên cứu ở đặc điểm sử dụng từ ngữ, đặc điểm cấu tạo ngữ pháp và ngữ nghĩa của các tiêu đề văn bản phóng sự trên các báo in và báo điện tử có lượng độc giả đông đảo như Sài Gòn giải phóng, Tuổi trẻ, Thanh niên, Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian từ năm 2004 đến nay Nguồn báo chí tiếng Anh chúng tôi lấy
Trang 11từ các tờ báo điện tử tiếng Anh có uy tín ở nước ngoài như The Washington Post
và The New York Times
4 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Luận văn mô tả chi tiết những đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa và cách sử dụng
từ ngữ của các tiêu đề văn bản phóng sự, từ đó góp phần bổ sung vào những nghiên cứu đã có về tiêu đề văn bản tiếng Việt;
- Tìm hiểu về những điểm giống nhau và khác nhau trong cách sử dụng ngôn ngữ của tiêu đề văn bản phóng sự giữa tiếng Anh và tiếng Việt;
- Góp phần khẳng định thêm về sự phong phú, đa dạng và độc đáo của ngôn ngữ báo chí tiếng Việt
5 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết được những vấn đề nêu ra trong đề tài, chúng tôi tiến hành khảo sát 1103 tiêu đề văn bản phóng sự tiếng Việt và 500 tiêu đề văn bản phóng sự bằng tiếng Anh Các phương pháp nghiên cứu được chúng tôi sử dụng trong luận văn là:
- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại: Chúng tôi tiến hành khảo sát 1603 tiêu đề trên tổng số 6 đầu báo, bao gồm 4 đầu báo tiếng Việt và 2 đầu báo tiếng Anh, các tiêu đề khảo sát sẽ được phân loại theo từng đặc điểm và tiêu chí đề ra;
- Phương pháp miêu tả: Mô tả những đặc điểm về ngữ pháp, ngữ nghĩa và cách
6 Nguồn tư liệu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi tiến hành khảo sát và thu thập các tiêu đề văn bản phóng sự trong các tờ báo tiếng Việt và tiếng Anh có số lượng phát hành cao
Trang 12Báo tiếng Việt, chúng tôi sử dụng tư liệu từ các tờ báo như Sài Gòn giải phóng, Tuổi trẻ, Thanh niên, Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh… Báo tiếng Anh, chúng tôi khảo sát một số báo điện tử uy tín ở nước ngoài như các tờ The Washington Post
và The New York Times Các tờ báo tiếng Anh nói trên không phân loại phóng sự thành mục riêng mà thường phân theo chuyên mục do từng nhà báo phụ trách (columnist), vì thế chúng tôi dựa theo đặc điểm của thể loại phóng sự để chọn ra tiêu đề thích hợp làm ngữ liệu Để đảm bảo tính cập nhật và tính thời sự của tiêu đề báo, chúng tôi chỉ khảo sát các tiêu đề phóng sự trên báo in và báo điện tử được xuất bản từ năm 2004 đến nay
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương:
Chương một: Tổng quan về văn bản phóng sự và tiêu đề văn bản phóng sự Trong phần này chúng tôi trình bày những vấn đề mang tính lý thuyết về văn bản phóng sự và tiêu đề văn bản phóng sự
Chương hai: Cách sử dụng từ ngữ trong tiêu đề văn bản phóng sự tiếng Việt (so sánh với tiêu đề văn bản phóng sự tiếng Anh) Chúng tôi khảo sát về các lớp từ vựng và đặc điểm cấu tạo của các từ ngữ được sử dụng trong tiêu đề văn bản phóng sự tiếng Việt, sau đó so sánh đối chiếu với tiêu đề văn bản phóng sự tiếng Anh
Chương ba: Cấu trúc ngữ pháp, ngữ nghĩa của tiêu đề văn bản phóng sự tiếng Việt (so sánh với tiêu đề văn bản phóng sự tiếng Anh) Trong phần này, chúng tôi khảo sát các kiểu cấu trúc ngữ pháp, ngữ nghĩa của tiêu đề văn bản phóng sự tiếng Việt, sau đó chúng tôi tiến hành so sánh đối chiếu với tiêu đề văn bản phóng sự tiếng Anh
Trang 13CHƯƠNG MỘT TỔNG QUAN VỀ VĂN BẢN PHÓNG SỰ VÀ TIÊU ĐỀ VĂN BẢN PHÓNG SỰ 1.1 Tổng quan về văn bản phóng sự
1.1.1 Văn bản báo chí - những đặc điểm ngôn ngữ và một số dạng tồn tại của nó
Văn bản báo chí là loại văn bản mà “trong đó thể hiện vai của người tham gia giao tiếp trong lĩnh vực báo chí- công luận Nói cụ thể hơn đó là vai của nhà báo, người đưa tin, người cổ động, người quảng cáo, bạn đọc (phát biểu)… tất cả những ai tham gia vào hoạt động thông tin của xã hội về tất cả các vấn đề thời sự.” [60;98]
Văn bản báo chí có những đặc điểm như sau:
a Chức năng thông báo: Đây là chức năng đầu tiên của ngôn ngữ báo chí vì
thông qua báo chí con người có thể tiếp cận nhanh chóng những thông tin cần thiết Để thực hiện chức năng này ngôn ngữ phải đảm bảo tính khách quan trung thực trong việc phản ánh thông tin và phải mang tính lí trí, gạt ra ngoài những cảm xúc cá nhân
b Chức năng hướng dẫn dư luận: Bất kì một sự kiện về chính trị hay xã hội nào
khi xuất hiện trên báo chí đều phải gắn với cách nhìn, thái độ của cơ quan báo chí đó Chính vì vậy mà ngôn ngữ báo chí phải có nhiệm vụ hướng dẫn dư luận và tác động đến dư luận làm cho người đọc hiểu rõ bản chất của sự việc Khi thực hiện chức năng này, báo chí thường sử dụng các câu hỏi tu từ như:
Vì sao…? Cần phải làm gì…? Tại sao…? Phải chăng…?
c Chức năng tập hợp và tổ chức quần chúng: Khi thực hiện chức năng hướng
dẫn dư luận thì đồng thời báo chí cũng thu hút độc giả về phía mình, đó chính
là khả năng tập hợp và tổ chức quần chúng Để thực hiện chức năng này ngôn ngữ báo chí thường sử dụng các loại câu mệnh lệnh với các từ như: hãy, không thể, phải, cần…
Trang 14d Tính chiến đấu mạnh mẽ: Mỗi tờ báo là đại diện cho tiếng nói của các nhóm
người hay các tập đoàn người Trên thực tế không phải lúc nào quyền lợi của các tập đoàn người này cũng thống nhất với nhau mà trái lại có những lúc quyền lợi trở nên mâu thuẫn Khi đó báo chí trở thành công cụ đấu tranh đắc lực cho giai cấp của mình vì thế báo chí có tính chiến đấu mạnh mẽ Tính chiến đấu ấy thể hiện ở việc sử dụng từ ngữ làm phương tiện công kích, châm biếm, tiến tới phủ định lập luận của đối phương, đồng thời xây dựng các hình ảnh tương phản, các mệnh đề khẳng định và phủ định
e Tính thẩm mỹ và giáo dục: Báo chí muốn trở thành món ăn tinh thần của đông
đảo bạn đọc thì ngôn ngữ của nó phải được chọn lọc, mang vẻ đẹp của ngôn
từ Dù phê phán hay tranh luận thì ngôn ngữ của báo vẫn phải được trau chuốt, đảm bảo các nguyên tắc về thẩm mỹ, không dung tục như khẩu ngữ Muốn như vậy thì người viết phải biết lựa chọn từ ngữ, tìm tòi những kiểu kết hợp từ sáng tạo để làm sao vừa đạt được mục đích của mình vừa giữ được tính thẩm mỹ
f Tính hấp dẫn và thuyết phục: Người làm báo muốn đảm bảo các vấn đề mình
nêu ra được bạn đọc quan tâm thì cách viết của mình phải lôi cuốn, hấp dẫn
và thuyết phục người đọc Tính thuyết phục của báo chí có thể coi là một trong các yếu tố quyết định sự sinh tồn của một tờ báo
g Tính ngắn gọn và biểu cảm: Ngôn ngữ báo chí thường ngắn gọn nhưng phải
gắn liền với xúc cảm chủ quan cá nhân, với quan điểm của mỗi tờ báo cụ thể Tính ngắn gọn của báo là yêu cầu mang tính tất yếu xuất phát từ chức năng
cơ bản của báo chí là thông tin nhanh Muốn thông tin được nhanh, được nhiều, những vấn đề được đề cập phong phú thì người viết phải biết loại bỏ tất
cả những cách diễn đạt dài dòng mang tính hoa mỹ để đạt đến sự chắt lọc, tiết kiệm
Dựa vào nội dung ý nghĩa sự vật- logic, văn bản báo chí – chính luận bao gồm các kiểu: văn bản cung cấp tin tức, văn bản phản ánh công luận và văn bản thông tin –quảng cáo Dựa vào những đặc điểm về kết cấu, tu từ người ta chia văn bản
Trang 15báo chí ra thành các thể loại như: mẩu tin, tin tổng hợp, điều tra, phỏng vấn, phóng sự (thuộc kiểu tin tức); ýù kiến bạn đọc, trả lời bạn đọc, tiểu phẩm (thuộc kiểu công luận); nhắn tin, thông báo, rao vặt, quảng cáo (thuộc kiểu thông tin- quảng cáo) Một số dạng tồn tại tiêu biểu của văn bản báo chí là :
- Bản tin: Văn bản có cấu trúc ngắn gọn, chủ yếu thông báo tin tức về mọi lĩnh vực hoạt động xã hội Ngôn ngữ có tính khách quan, ít màu sắc biểu cảm, lấy chức năng thông báo làm chính
- Bài bình luận: Cấu trúc văn bản đa dạng, không theo một khuôn mẫu nhất định Ngôn ngữ mang đậm phong cách của người viết Loại văn bản này đòi hỏi người viết phải có hướng nhìn và cách lý giải sắc sảo các hiện tượng thuộc đời sống xã hội
- Phóng sự: Cấu trúc văn bản phóng sự phức tạp hơn văn bản tin Ngoài việc thông tin nó còn diễn giải tỉ mỉ sự kiện thông qua trình tự diễn biến Ngôn ngữ trong loại văn bản này giàu hình ảnh và sinh động
- Điều tra: Có kết cấu văn bản chặt chẽ, thiên về lối phân tích, giàu chi tiết
- Ghi nhanh: Là một loại văn bản phác thảo về một sự kiện, hiện tượng Loại văn bản này có cấu trúc linh hoạt, thường có độ dài lớn hơn bản tin nhưng nhỏ hơn điều tra và phóng sự
- Ký: Là dạng văn bản viết về người thật việc thật trong đó sử dụng các yếu tố của văn học nhưng không có yếu tố hư cấu, tưởng tượng Ngôn ngữ văn bản bám sát hiện thực và thiên về đặc tả
- Phỏng vấn: Là dạng văn bản ghi lại cuộc trao đổi giữa phóng viên với một người hay một nhóm người để làm rõ vấn đề nào đó
Ngoài ra văn bản báo chí còn có một số loại khác như ý kiến bạn đọc, nhật ký phóng viên, sổ tay phóng viên, tâm sự bạn đọc…
1.1.2 Văn bản phóng sự và những đặc điểm của văn bản phóng sự
1.1.2.1 Định nghĩa về văn bản phóng sự
Phóng sự là một thể loại của văn bản báo chí – công luận thuộc thể tin tức Văn bản phóng sự có cấu trúc khá phức tạp vì “ngoài việc thông tin sự kiện nó
Trang 16còn diễn giải tỉ mỉ quá trình diễn biến các sự kiện, cuối cùng dự báo khuynh hướng phát triển hay kết thúc của quá trình đó.” [28; 211] Phóng sự thường viết
về người thật việc thật, mang tính thời sự cao và thường mang dấu ấn “cái tôi” của tác giả Ngôn ngữ của loại văn bản này thường không mang tính hư cấu, giàu hình ảnh, sinh động, hóm hỉnh và tế nhị để hấp dẫn người đọc, từ đó bộc lộ thái độ, lập trường của người viết Huỳnh Dũng Nhân đã đưa ra một định nghĩa rất cụ thể và rõ ràng về phóng sự như sau: “Phóng sự là một thể tài báo chí, phản ánh những vấn đề có tính thời sự có ý nghĩa chính trị xã hội được bạn đọc quan tâm Phóng sự có thể viết bằng các bút pháp mang tính văn học Trong phóng sự
có nhân vật và có cái tôi trần thuật Phóng sự giúp bạn đọc hiểu sâu hơn, rõ hơn
sự việc và chia sẻ được với tác giả những vấn đề được đặt ra trong tác phẩm.” [60; 18]
1.1.2.2.Công thức của một bài phóng sự
Công thức của một bài phóng sự là 5W+1H Đó là:
- What: Cái gì?
- Who: Ai?
- When: Khi nào?
- Why: Tại sao?
- Where: Ở đâu?
- How: Như thế nào?
Công thức 5W gần như bắt buộc phải có của thông tin báo chí xưa nay, song với báo chí hiện đại thì người viết có thể không rập khuôn một cách máy móc mà
có thể thay đổi cho rõ ràng, đầy đủ và hấp dẫn Với văn bản báo chí thể loại phóng sự, yếu tố H (How: như thế nào?) hết sức nổi bật “Yếu tố H (How) diễn giải và chứng minh cho bạn đọc biết 5W đã xảy ra như thế nào một cách chi tiết hơn, đầy đủ hơn, sinh động hơn, hấp dẫn hơn Nó không chỉ là thông tin, mà còn
là sự diễn đạt của tác giả, làm cho bạn đọc vừa có đủ thông tin, vừa hình dung cảm nhận được sự việc diễn ra trước mắt.” [60; 21]
1.1.2.3.Kết cấu văn bản phóng sự
Trang 17Văn bản phóng sự thường có kết cấu như sau:
- Tính cấp thiết của sự kiện hay vấn đề được nêu ra
- Miêu tả chi tiết các hiện thực có liên quan của quá trình điều tra (thời gian, địa điểm, diễn biến)
- Kết quả cụ thể dưới dạng các số liệu, bằng cứ
- Những người và những bên có liên quan
- Diễn biến tâm trạng của những người có liên quan
- Khái quát các sự kiện hiện thực
- Thái độ của người viết
1.1.2.4 Phân loại phóng sự
Đức Dũng trong Phóng sự báo chí hiện đại [23] đã chia phóng sự thành 5 tiểu loại dựa vào đối tượng phản ánh
a Phóng sự sự kiện: là loại phóng sự có sự giao thoa giữa các thể loại có năng lực
phản ánh sự kiện như tường thuật, ghi nhanh,… Đó là khi sự kiện trở thành nội dung chính của bài phóng sự
b Phóng sự vấn đề: là sự kết hợp giữa các yếu tố của thể loại bình luận, ký chính
luận và phóng sự Vấn đề được đề cập trong phóng sự loại này mang tính tiêu biểu, xác thực và đặc biệt là đáp ứng được yêu cầu thông tin thời sự
c Phóng sự chân dung: là sự kết hợp giữa phóng sự và thể ký chân dung Phóng
sự chân dung phản ánh những con người tiêu biểu qua những hoạt động sống
và sinh hoạt
d Phóng sự phản ánh toàn cảnh, hiện trạng: là dạng bài báo cung cấp cho độc giả
những thông tin mới lạ về đời sống thông qua việc phản ánh hiện trạng của cuộc sống nhằm khơi gợi cho họ những suy nghĩ, nhận thức và hành động
e Phóng sự điều tra: là loại bài mà cách thể hiện về hình thức là của phóng sự
nhưng đặc điểm của việc xây dựng luận cứ để làm sáng tỏ cái logic bên trong, bản chất của sự thật thông qua những chi tiết, số liệu, dữ kiện mà tác phẩm đề cập lại thuộc thể loại điều tra
Trang 18Cách phân loại trên khá chi tiết song chỉ mang tính tương đối vì hiện nay các phóng viên có thể sử dụng bút pháp của các loại khác đan xen trong bài phóng sự Phóng sự là loại văn bản vừa có thông tin sự kiện vừa có thông tin lí lẽ và thông tin thẩm mỹ Phóng sự báo chí đòi hỏi miêu tả chi tiết hiện thực và trạng thái tâm lí nhân vật, vì thế đã làm nên tính đặc biệt riêng thu hút nhiều nhà văn tên tuổi tham gia viết bài Ở Việt Nam, có những tác giả có những bài phóng sự gây tiếng vang
đã trở thành những tác phẩm văn học nổi tiếng như Ngô Tất Tố với Việc làng, Vũ
Trọng Phụng với Cạm bẫy người, Cơm thầy cơm cô…
1.2.Tổng quan về tiêu đề văn bản phóng sự 1.2.1.Về tiêu đề văn bản
1.2.1.1 Khái niệm
Vấn đề tiêu đề đã được một số người đưa ra những nhật xét mang tính tổng quát Kim Thánh Thán có nói “tiêu đề là cái đẻ ra văn”, hay Hồ Hữu Tường cho rằng “tiêu đề cũng là miếng mồi ngon để quyến rũ độc giả” Còn trong cuốn Tiêu
đề văn bản [72] Trịnh Sâm lại cho rằng tiêu đề là “những dòng chữ ở bìa các cuốn sách, trên các biển hiệu buôn bán, trên các pano quảng cáo, là tên các tổ chức xã hội, cơ quan, xí nghiệp, trường học, tên các nhãn hiệu hàng hoá, là tựa đề của các bức tranh, ảnh, vở múa, bức tượng, bản nhạc, vở kịch, cuốn phim, tít của các bài báo, bài thơ, truyện ngắn, tiểu phẩm, đầu đề của các tác phẩm…” [72;11] Tuy nhiên không phải bất cứ tiêu đề nào cũng được xem là tiêu đề văn bản Trịnh Sâm [72] đã đưa ra 5 tiêu chí để nhận diện tiêu đề văn bản như sau:
- Đối tượng mang tiêu đề là văn bản hay bộ phận của văn bản Với đối tượng là văn bản thì tiêu đề có thể là chủ đề của văn bản như Đất nước đứng lên (Nguyên Ngọc), có thể là nội dung tổng quát của văn bản như Tuyên ngôn độc lập (Hồ Chí Minh) Với đối tượng là bộ phận của văn bản thì tiêu đề có thể là một chi tiết đáng chú ý nhất trong văn bản như Đôi móng giò (Nam Cao), tiêu đề cũng có thể là một hình ảnh mang tính biểu trưng cho văn bản như Chiếc lược ngà (Nguyễn Quang Sáng) Tiêu đề còn là tên của nhân vật trong văn bản như
Trang 19Lão Hạc, Chí Phèo (Nam Cao) Không chỉ vậy, tiêu đề còn là tiếng cười đả kích, châm biếm hay hài hước như Trẻ con không được ăn thịt chó (Nam Cao)…
- Tiêu đề thể hiện bằng một chuỗi ngôn từ Tiêu đề có thể là một từ, một tổ hợp
từ, một câu, mà cũng có thể là một chuỗi liên kết gồm nhiều từ, nhiều tổ hợp từ, nhiều câu Trong tiêu đề văn bản có tất cả các từ loại như thực từ, hư từ
- Chất lượng thể hiện của tiêu đề là đường nét của văn tự Điều này cũng có nghĩa là chỉ có những tiêu đề được thể hiện bằng văn tự, chữ viết thì mới được xem là tiêu đề văn bản Hình thức của tiêu đề văn bản rất đa dạng trong cách trình bày về cách viết hoa, viết thường, nét đậm hay nhạt cùng với sự phối hợp của các dấu câu nhằm góp phần diễn đạt ý nghĩa và tình cảm
- Tiêu đề văn bản không những có tính biểu trưng cho toàn văn bản hoặc cho bộ phận văn bản mà còn là một yếu tố cấu thành văn bản Nó có thể được lặp đi lặp lại nhiều lần trong nội dung văn bản dưới nhiều phương thức khác nhau tùy dụng ý của tác giả
- Tiêu đề văn bản có tác động đến công chúng nhằm thu hút, giới thiệu họ tìm đến văn bản Các vấn đề mà tiêu đề văn bản đề cập đến rất phong phú thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để công chúng lựa chọn tìm hiểu thông tin mà họ quan tâm
Hiện nay, ngoài cách gọi tiêu đề còn có nhiều cách định danh khác như tựa đề, tựa bài, nhan đề, tên sách, tên bài, đầu đề, tít…
Tựa đề, tựa bài dùng để gọi tên những văn bản có dung lượng vừa phải như tựa đề bài hát, bài thơ Cách gọi này rất dễ lẫn lộn với lời tựa, lời đề từ thường đặt giữa tiêu đề và phần tiếp theo của văn bản
Tên sách, tên bài là tiêu đề chính của sách hoặc bài báo Tuy nhiên nó không phản ánh được tên một bộ phận nội dung trong văn bản và cũng không phải là một thuật ngữ chuyên dùng nên không thể thay thế cho tiêu đề văn bản được
Nhan đề có yếu tố “nhan” mang nghĩa gốc là “dung nhan” nên không đồng nghĩa với tiêu đề văn bản
Trang 20Đầu đề trong nhiều trường hợp có chung sở chỉ với tiêu đề văn bản Tuy nhiên tiêu đề là tên gọi của văn bản còn đầu đề có khi là toàn bộ nội dung của văn bản như đầu đề bài toán hay đầu đề bài tập làm văn, do đó không thể lẫn lộn nó với tiêu
đề văn bản
Tít là tiêu đề bài báo , được sử dụng rộng rãi trong ngành in và giới báo chí
Qua xem xét những cách định danh khác nhau như trên, có thể nhận thấy rằng thuật ngữ tiêu đề được sử dụng để chỉ tên gọi của văn bản sách, báo… là hợp lý hơn
- Về tác dụng hướng nội: tiêu đề văn bản có giá trị biểu trưng, là yếu tố đại diện
- Về tác dụng hướng ngoại : Hiệu quả thu hút người đọc, tác động đến công chúng ở các tiêu đề khác nhau là khác nhau Tiêu đề có vai trò quyết định đến việc người đọc có thể đọc hoặc không đọc, đọc toàn bộ hay đọc bộ phận văn bản đó
Tiêu đề văn bản là thành tố phức tạp vì bản thân nó trước hết gắn liền với văn bản mà trong hoạt động giao tiếp thì mỗi loại hình văn bản lại có những đặc điểm riêng và từ chiều hướng khác ta thấy tiêu đề văn bản có cuộc sống riêng, cụ thể hơn là nó có thể tách khỏi văn bản Như vậy, tùy theo cấu trúc và chức năng của
nó, có thể có nhiều cách tiếp cận khác nhau
1.2.1.2 Đặc điểm cấu trúc ngữ nghĩa của tiêu đề văn bản
Trang 21Về cấu trúc ngữ nghĩa, tiêu đề văn bản có các cấu trúc chính: đó là cấu trúc hướng nội và cấu trúc hướng ngoại, cấu trúc tuyến tính và cấu trúc phi tuyến tính
a Cấu trúc hướng nội và cấu trúc hướng ngoại
Với cấu trúc hướng nội, tiêu đề văn bản được xem xét như là một phát ngôn độc lập, hay là một văn bản con Với cấu trúc hướng ngoại, chúng ta lại xem xét tiêu đề văn bản như một bộ phận của văn bản
- Cấu trúc hướng nội: Bao gồm cấu trúc hình thức và cấu trúc nội dung Cấu trúc hình thức xét về cấu tạo có thể do một phát ngôn đảm nhiệm hay chùm phát ngôn đảm nhiệm, có thể do từ hoặc cụm từ đảm nhiệm, đặc biệt cụm từ, trong đó các cụm danh từ có vai trò quan trọng nhất Tiêu đề văn bản còn được xem xét ở vai trò là chủ ngôn hay khách ngôn Về hình thức trình bày phải làm sáng tỏ được những quan hệ bên trong của tiêu đề, đôi khi phải sử dụng cả những thủ pháp văn tự để nêu bật lên ý nghĩa của tiêu đề
Cấu trúc nội dung bao gồm hai lớp nghĩa : nghĩa ngôn liệu và nghĩa tình thái Nghĩa ngôn liệu hay còn gọi là nghĩa câu chữ chủ yếu nêu lên các sự kiện Nghĩa tình thái nêu lên tình cảm, thái độ của người nói gửi vào phát ngôn, nêu những khả năng đánh giá, những tình huống giả định Cấu trúc nội dung còn bao gồm nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn Cũng từ yếu tố độc lập chúng ta thấy xảy ra hàng loạt các biện pháp tu từ mà về mặt nguyên tắc chúng ta không thể tiến hành mô hình hóa được, đó là các yếu tố trích dẫn, hình thức âm thanh, biện pháp nói lái, tách từ ngữ, biện pháp lặp, nói tránh, nói vòng…
- Cấu trúc hướng ngoại: Cấu trúc hướng ngoại của tiêu đề văn bản về ngữ nghĩa phức tạp hơn rất nhiều so với cấu trúc hướng nội, ngoại trừ một số văn bản đơn trị về mặt ngữ nghĩa Cấu trúc hướng ngoại chủ yếu là mối quan hệ về nội dung
và hình thức giữa tiêu đề với phần còn lại của văn bản hoặc với phần còn lại của một đoạn văn Trong một văn bản chỉ có tiêu đề chung mà không có tiêu đề
bộ phận thì cấu trúc hướng ngoại của tiêu đề văn bản sẽ là :
Tiêu đề văn bản
Mở
Trang 22Thân Kết Trong một văn bản mà ngoài tiêu đề chung, còn có những tiêu đề bộ phận thì cấu trúc tiêu đề văn bản sẽ là :
Tiêu đề văn bản chung Tiêu đề bộ phận 1 Đoạn văn 1 Tiêu đề bộ phận 2 Đoạn văn 2
… Nhìn chung, về cấu trúc hướng ngoại, ở tiêu đề sẽ xuất hiện ý nghĩa hàm ẩn bậc hai khá phức tạp và vấn đề còn phức tạp hơn khi gắn với các văn bản nghệ thuật
b Cấu trúc tuyến tính và cấu trúc phi tuyến tính
- Cấu trúc tuyến tính: là những kết hợp giữa các từ, các cụm từ, các câu, các đoạn theo trật tự hình tuyến Cụ thể là sự kết hợp giữa những đoạn trong cùng một phát ngôn, giữa các tiêu đề với nhau hay giữa tiêu đề với phần còn lại của văn bản Cấu trúc tuyến tính có thể chia làm hai loại: tuyến tính liên tục và tuyến tính gián đoạn Các kết hợp hình tuyến nằm cạnh nhau đều là tuyến tính liên tục Còn các kết hợp trên hình tuyến nhưng có gián cách đều thuộc tuyến tính gián đoạn Quan hệ tuyến tính gián đoạn thường biểu hiện ở chỗ lặp lại, sử dụng cách nói đồng nghĩa, cách nói vòng… hay ở chỗ các kết hợp cú pháp bị gián cách bởi những đoạn xen hay yếu tố xen
- Cấu trúc phi tuyến tính: là những kết hợp ý nghĩa vượt ra khỏi sự định vị trên hình tuyến Cấu trúc phi tuyến tính có thể phân xuất thành hai tiểu loại: cấu trúc nội phi tuyến và cấu trúc ngoại phi tuyến Những kết hợp ý nghĩa phi tuyến tính hoặc liên tưởng ngữ nghĩa xảy ra trong lòng nội bộ một tiêu đề thì thuộc về cấu trúc nội phi tuyến Những liên tưởng ngữ nghĩa hoặc những kết hợp giữa ý
Trang 23nghĩa của tiêu đề với một yếu tố nào đó bên ngoài nó đều thuộc về ngoại phi tuyến
1.2.2 Đặc điểm của tiêu đề văn bản phóng sự
Thể loại phóng sự ra đời do nhu cầu phản ánh những vấn đề mang tính cấp thiết, quan trọng, ảnh hưởng đến nhiều người trong xã hội hoặc được nhiều người quan tâm Vì vậy tiêu đề văn bản phóng sự thường mang những đặc điểm sau:
- Tính chiến đấu mạnh mẽ: Tính chiến đấu không chỉ thể hiện trong nội dung của
bài báo mà còn thể hiện ở ngay tiêu đề của bài báo
- Tính hấp dẫn và thuyết phục: Vì tiêu đề là cái đập vào mắt, tác động đến người
ta trước tiên nên ngôn ngữ sử dụng ở tiêu đề phải có sức thu hút Điều này thể hiện ở những biện pháp sau:
• Sử dụng từ độc đáo
• Kiến tạo được những kết hợp từ độc đáo, bất ngờ
• Sử dụng thành ngữ, tục ngữ, ca dao một cách sáng tạo và có hiệu quả
• Sử dụng tốt các biện pháp chơi chữ dựa trên những đặc điểm ngôn ngữ của dân tộc
Tuy nhiên khi sử dụng các biện pháp ngôn ngữ nhằm làm tăng sức hấp dẫn
và thuyết phục của các tiêu đề cần chú ý những nguyên tắc sau:
• Tính phù hợp với nội dung
• Tính logic về ngữ nghĩa và cú pháp
• Tính tương ứng với thể loại
• Tính thẩm mỹ
- Tính ngắn gọn và biểu cảm: Tiêu đề văn bản phải ngắn gọn, súc tích để người
đọc dễ dàng nắm được thông tin Điều này thể hiện ở cách tránh sử dụng các loại câu trùng điệp, nhiều tầng nhiều lớp Thường sử dụng các loại câu ít thành phần, xuất hiện những kiểu rút gọn thành ngữ, tục ngữ, ca dao…
Trang 24Tiêu đề văn bản phóng sự khác với tiêu đề văn bản báo chí thuộc các thể loại khác Tiêu đề văn bản phóng sự mang tính văn học và biểu cảm cao, gây ấn tượng mạnh mẽ ở độc giả
Tiểu kết
Chương này trình bày những vấn đề lý luận tổng quan về văn bản phóng sự và tiêu đề văn bản phóng sự Chúng tôi đã đưa ra những khái niệm và những đặc điểm của văn bản phóng sự và tiêu đề văn bản phóng sự Phóng sự là một thể loại báo chí đặc biệt vì nó vừa mang tính cấp thiết để truyền tải những thông tin quan trọng mà nhiều người quan tâm, đồng thời nó còn thể hiện “cái tôi” của tác giả Vì thế tiêu đề văn bản phóng sự mang những đặc điểm riêng như tính chiến đấu, tính hấp dẫn, thuyết phục Bên cạnh đó nó cũng mang tính ngắn gọn và biểu cảm để thu hút độc giả
Trong chương hai và chương ba, chúng tôi sẽ đi sâu khảo sát về cách sử dụng từ ngữ trong các tiêu đề văn bản phóng sự cũng như những đặc điểm về cấu trúc ngữ pháp và ngữ nghĩa của tiêu đề văn bản phóng sự trên báo chí hiện đại
Trang 25CHƯƠNG HAI CÁCH SỬ DỤNG TỪ NGỮ TRONG TIÊU ĐỀ VĂN BẢN PHÓNG SỰ TIẾNG VIỆT
(SO SÁNH VỚI TIÊU ĐỀ VĂN BẢN PHÓNG SỰ TIẾNG ANH)
Để khảo sát về cách sử dụng từ ngữ trong các tiêu đề văn bản phóng sự tiếng Việt, chúng tôi sẽ đi tìm hiểu về các lớp từ vựng và đặc điểm cấu tạo ngữ pháp của các từ
Hiện nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về vấn đề từ tiếng Việt, chúng tôi chọn quan điểm của Đỗ Hữu Châu trong cuốn Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt [8] làm
cơ sở để xử lý ngữ liệu
2.1 Về các lớp từ vựng
Hệ thống từ ngữ tiếng Việt bao gồm nhiều tiểu hệ thống từ vựng, được xác lập trên cơ sở những liên hệ giữa chúng với xã hội, trên những liên hệ về lịch sử hay những liên hệ giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ khác tiếp xúc với nó Đó là các lớp
từ như: từ nghề nghiệp, thuật ngữ khoa học, biệt ngữ, từ vay mượn, từ vựng toàn dân và từ vựng địa phương
2.1.1 Thuật ngữ khoa học kĩ thuật và từ nghề nghiệp trong tiêu đề văn bản phóng sự
a Thuật ngữ khoa học, kĩ thuật “bao gồm các đơn vị từ vựng được dùng để biểu thị những sự vật, hiện tượng, hoạt động, đặc điểm… trong những ngành kĩ thuật công nghiệp và trong những ngành khoa học tự nhiên hay xã hội.” [8;241] Ví dụ như tế bào, mô, di truyền… (ngành sinh học), lò nung, buồng sinh khí, van gió… (ngành luyện kim) …
Đây cũng là lớp từ vựng dùng hạn chế trong những người có cùng chuyên môn nhất định Thuật ngữ khoa học có các đặc điểm như: tính chính xác, tính quốc
tế và tính hệ thống Thuật ngữ khoa học, kĩ thuật thường không mang sắc thái tu từ biểu cảm
b Từ nghề nghiệp “bao gồm những đơn vị từ vựng được sử dụng để phục vụ các hoạt động sản xuất và hành nghề của các ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp và các ngành lao động trí óc (nghề thuốc, nghề văn thư…” [8;253] Ví
Trang 26dụ như trong nghề mộc có các từ : đục, bào, cưa, mộng… , nghề nông có các từ ngữ như: cày, bừa, ải, lúa ngậm đòng, lúa đang thì con gái…
Từ nghề nghiệp cũng có đặc tính giống với các thuật ngữ khoa học kĩ thuật là
ý nghĩa biểu vật trùng với sự vật hiện tượng thực có trong ngành nghề và ý nghĩa biểu niệm đồng nhất với các khái niệm về sự vật, hiện tượng đó Nhưng vì gắn với những hoạt động sản xuất hoặc ngành nghề cụ thể nên từ vựng nghề nghiệp có tính cụ thể, gợi cảm cao
Dựa vào những đặc điểm nêu trên của thuật ngữ khoa học, kĩ thuật và từ nghề nghiệp, qua khảo sát trên ngữ liệu hiện có về tiêu đề văn bản phóng sự tiếng Việt chúng tôi nhận thấy số lượng các từ thuộc các lớp này xuất hiện rất ít, thể hiện trong bảng sau:
Bảng 1 Các lớp từ Kết quả
khảo sát
Từ nghề nghiệp
1 từ là dạ cầu trong tiêu đề :
- Những "điểm đen" từ các dạ cầu (SGGP 4.1.05)
Dạ cầu là thuật ngữ sử dụng trong ngành xây dựng cầu đường, không phải là từ ngữ được sử dụng phổ biến trong xã hội nên nhiều người không hiểu được từ này Với tiêu đề Những "điểm đen" từ các dạ cầu trên, tác giả muốn nhấn mạnh đến những những điều không tốt hay những sai phạm cần được quan tâm Thuật ngữ dạ cầu trong trường hợp này không phải là cái chính cần lưu ý đến như trong các văn
Trang 27bản khoa học kĩ thuật Như vậy chúng ta có thể nhận thấy, thuật ngữ khoa học, kĩ thuật chỉ được sử dụng trong các tiêu đề văn bản phóng sự trong những trường hợp cần thiết chứ không được sử dụng với mật độ dày đặc như trong các văn bản khoa học kĩ thuật
Từ nghề nghiệp cũng chỉ có một từ là giã cào xuất hiện trong hai tiêu đề sau:
- Thuyền giã cào gây nhiều thiệt hại cho ngư dân (SGGP 7.12.05)
- Tôi đi giã cào (TN 12.2.04)
Giã cào là từ nghề nghiệp dùng trong nghề đánh cá, giã theo từ điển tiếng Việt [62] định nghĩa là “loại lưới hình túi do tàu thuyền kéo để đánh bắt cá và các hải sản khác
ở tầng đáy hoặc gần đáy biển.” [62;385] Một người nếu không hiểu nhiều về nghề này sẽ không hiểu được nghĩa của từ giã cào Hai phóng sự này đề cập đến một vấn
đề bức xúc đối với nhiều ngư dân là các thuyền giã cào thường là những thuyền lớn
đã ngang nhiên tấn công vào những thuyền đánh cá bé hơn gây nên những tổn thất
về người và của Đây là một trong những vấn đề nóng bỏng của xã hội, chính vì thế cũng là đối tượng cần quan tâm của các nhà báo viết phóng sự
Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy thuật ngữ khoa học kĩ thuật và từ vựng nghề nghiệp chỉ được sử dụng trong những trường hợp cần thiết để nêu lên những sự vật, hiện tượng… mang tính chuyên môn Các từ ngữ thuộc lớp này không được sử dụng nhiều vì tiêu đề báo chí nói chung và tiêu đề phóng sự nói riêng phải cĩ tính quần chúng, tức là mọi người thuộc mọi tầng lớp trong xã hội đều có thể hiểu được
1.2.2 Biệt ngữ trong tiêu đề văn bản phóng sự Biệt ngữ “bao gồm các đơn vị từ vựng (từ, ngữ cố định, quán ngữ) được sử dụng trong phạm vi một tập thể xã hội nhất định Tập thể xã hội đó có thể là những giai cấp thống trị trong xã hội cũ, những giới xã hội như công chức, học sinh, những người buôn bán, những người lái xe, quân đội …” [8; 255] Biệt ngữ có thể phân thành hai loại: thứ nhất là những biệt ngữ là tên gọi chính thức của các sự vật hiện tượng … có thực trong tập thể xã hội đó Ví dụ như ngai vàng, cung điện, long thể… Những biệt ngữ này có tính toàn dân cao và
dễ dàng được toàn xã hội sử dụng khi cần thiết Loại thứ hai là tiếng lóng –
Trang 28“những biệt ngữ như là những tên gọi thêm, chồng lên tên gọi chính thức, các tập thể xã hội sản sinh ra chúng với mục đích phân biệt mình với những tập thể xã hội khác” [8;256] Ví dụ như tầng lớp trộm cắp thường có những từ lóng như: chuồn (chạy), cớm (mật thám), vòm (nhà), te (đẹp)…, học sinh, sinh viên thì có những từ ngữ như ngỗng ( điểm hai), gậy (điểm một), cua (tán tỉnh), bồ (người yêu)…
Số lượng biệt ngữ xuất hiện trong các tiêu đề khảo sát thể hiện trong bảng sau:
Bảng 2
Lớp từ Kết quả khảo sát
-"Luộc" sách, in lậu sách
Bao giờ chấm dứt? (SGGP 27.3.05)
- Mất biển số xe "xịn", mua ở đâu? (SGGP 30.12.05)
- Khi lão nông …"thèm phở" (SGGP 14.5.05)
- Làng tỉ phú "mổ xe" (TN 28.7.07)
- "Cò" … trứng (TN 31.10.05) Một điều có thể nhận thấy là trong các tiêu đề phóng sự trên, các biệt ngữ thường được đặt trong dấu ngoặc kép (“…”) Điều này khiến cho các biệt ngữ có tác động rất lớn đến độc giả Người đọc có thể nhận thấy rằng những từ ngữ được dùng không mang đúng ý nghĩa hiển ngôn của nó mà mang một ý nghĩa hàm ẩn nào đó
Ví dụ như tiêu đề Khi lão nông …"thèm phở", người đọc sẽ biết tiêu đề này không
Trang 29phải đề cập đến việc một ông già nông dân thèm ăn một loại thức ăn là phở, mà là việc ông ta vụng trộm với một người phụ nữ khác không phải là vợ của mình Chỉ với 5 biệt ngữ được sử dụng với tỉ lệ 0.09 % cũng có thể nhận thấy biệt ngữ không được sử dụng nhiều trong các tiêu đề văn bản phóng sự Biệt ngữ chỉ được dùng khi muốn làm tăng hiệu quả của tiêu đề, khiến cho độc giả chú ý Biệt ngữ thường được sử dụng trong phong cách khẩu ngữ vì mang tính thông tục Khi xuất hiện trong các tiêu đề văn bản phóng sự, biệt ngữ thường được xem là phương tiện nhằm tăng cường tính biểu cảm của ngơn ngữ báo chí
2.1.3 Từ vựng toàn dân và từ vựng địa phương trong các tiêu đề văn bản phóng sự
a Từ vựng toàn dân hay từ thông dụng tiếng Việt là những từ mà mọi người dân dù ở miền đất nào của Tổ quốc đều có thể hiểu và sử dụng rộng rãi Đây
là vốn từ chung của người Việt, là lớp từ cơ bản và quan trọng nhất của tiếng Việt và làm cơ sở cho sự thống nhất ngôn ngữ Về nội dung, từ thông dụng biểu hiện những sự vật hiện tượng, những khái niệm quan trọng trong đời sống như các hiện tượng tự nhiên ( nắng, mưa, gió, bão…), những từ chỉ sự vật (nhà, đường, xe, đèn, bàn, ghế…), những từ chỉ hoạt động (đi, đứng, nói, cười…),…
Về nguồn gốc, từ thông dụng có thể bắt nguồn từ tiếng Môn-Khmer (sống, lớp…), tiếng Mường (bố, vai…), tiếng Hán (đầu, gan…) hay những từ vay mượn về sau (ôtô, gara…)…
b Từ vựng địa phương là những từ được dùng hạn chế ở một hoặc một vài địa phương Từ vựng địa phương bao gồm hai loại:
- Từ địa phương biểu thị những sự vật hiện tượng, những hoạt động, những cách sống đặc biệt chỉ có ở địa phương nào đó chứ không có từ song song trong ngôn ngữ toàn dân Các nhà ngôn ngữ học gọi loại này là từ địa phương dân tộc học Như vậy các từ như tàu hủ ki, chao, măng cụt… được xếp vào loại từ này
- Từ địa phương tồn tại song song với từ toàn dân Ví dụ như:
Trang 30Phương ngữ Nam bộ Từ tồn dân
có thể hiểu được
Từ địa phương với 23 từ chiếm 0.41 %, bao gồm cả hai loại là từ địa phương không đối lập với từ toàn dân (hay còn gọi là từ địa phương dân tộc học) và từ địa phương đối lập với từ toàn dân Những từ địa phương dân tộc học trong các tiêu đề là: sầu riêng, lá dong, lục bình, đi sim… Những từ địa phương đối lập với từ toàn dân xuất hiện trong ngữ liệu là : bao “xác rắn” = bao bố, nhà chồ = nhà trên thuyền, ngụp
= lặn, dỏm = giả, bà đỡ = bà mụ = người đỡ đẻ, miệt = miền, đồng nát = ve chai, xe lai = xe thồ, kiểng = cảnh, nhà thương điên = bệnh viện tâm thần … Xem các ví dụ sau:
- Người tạo giống "sầu riêng Chín Hoá" (SGGP 11.5.05)
- Những người đạp xe chở bao "xác rắn" (SGGP 28.9.05)
- Tết này, vĩnh biệt nhà chồ (TT 27.1.05)
Trang 31- Nghề "ngụp" trên kênh Tàu Hủ (TT 20.6.07)
- Tỉ phú ve chai (TT 8.6.07)
- Tràn lan đường thốt nốt "dỏm" (TT 22.3.07)
- Chơi … tép kiểng (TT 18.3.07)
- Nghề hái lá dong vào mùa (TT 14.2.07)
- Anh Hai miệt vườn mê tốc độ (TT 22.9.06)
- Phố sắt "đồng nát" (TT 7.5.06)
- Những "bà mụ" của bản làng (PN 9.2.07)
- Đời "xe lai" (TN 5.3.04)
- Tôi vào nhà thương điên (TN 23.2.04) Những từ ngữ địa phương xuất hiện trong các tiêu đề văn bản phóng sự tạo nên
hiệu quả tác động đến độc giả Độc giả có thể cảm nhận được phóng sự đang đề cập đến vùng miền nào Ví dụ như tiêu đề Chơi … tép kiểng , chúng ta có thể biết được rằng đây là một thú chơi của miền Nam chứ không phải ở miền Bắc, hay như tiêu đề Đời "xe lai" nói về thân phận của những người hành nghề chở thuê ở miền Bắc Trung bộ Việt Nam Những từ ngữ này thường được sử dụng nhiều trong giao tiếp khẩu ngữ hàng ngày, chính vì vậy khi xuất hiện trong các tiêu đề phóng sự trên báo chí, chúng cũng tạo nên sự gần gũi với người đọc và cho người đọc cảm giác rằng tác giả đi sâu tìm hiểu về những gì được nói đến trong nội dung văn bản Tuy nhiên
số lượng từ địa phương xuất hiện không nhiều, điều đó là do báo chí là nơi cung cấp thông tin cho nhiều tầng lớp độc giả khác nhau nên từ ngữ sử dụng cũng phải đơn giản, dễ hiểu và được đa số chấp nhận
2.1.4 Từ vay mượn trong tiêu đề văn bản phóng sự
Lớp từ vay mượn trong tiếng Việt bao gồm các từ Hán Việt và các từ vay mượn trong các ngôn ngữ Ấn-Âu
a Từ Hán Việt
Do những đặc điểm về địa lý và hồn cảnh lịch sử, một khối lượng lớn các từ Hán đã du nhập và bổ sung vào vốn từ tiếng Việt Quá trình thâm nhập của tiếng
Trang 32Hán có thể chia ra làm hai thời kì: thời kì trước và sau cuộc đô hộ của triều đại nhà Đường
Các từ Hán ở thời kì thứ nhất đã hòa lẫn vào các từ thuần Việt Ví dụ như cải (rau cải), cả (giá cả), vua, đũa…Ở thời kì thứ hai, các từ Hán thâm nhập vào Việt Nam lại được chia thành hai loại:
- Các từ Hán đã được Việt hóa bằng cách biến đổi ngữ âm theo quy luật hay được giữ nguyên âm Hán như phòng, kiếm, bàn… Các từ thuộc loại này đã hòa với vốn từ thuần Việt và không còn mang dáng dấp ngoại lai nữa
- Các yếu tố Hán chưa được Việt hóa, vẫn giữ cách phát âm, ý nghĩa cũ và còn mang đậm màu sắc ngoại lai Những yếu tố này mới thực sự là những yếu tố Hán Việt Chúng chỉ là những hình vị để tạo từ trong tiếng Việt như ái (yêu), ấu (trẻ nhỏ), bản (vốn gốc), hỏa (lửa), sơn (núi), thủy (nước)…Với các yếu tố này tiếng Việt tạo ra các từ phức bằng cách ghép chúng với những hình vị thuần Việt (hay những hình vị đã Việt hóa) hoặc với những yếu tố Hán Việt khác Ví dụ như y sĩ, phi công, ám ảnh, đại tá, an trí…
b Từ vay mượn từ các ngôn ngữ Ấn-Âu
Do sự tiếp xúc giữa các quốc gia và do nhu cầu của ngôn ngữ, tiếng Việt có những từ vay mượn từ các quốc gia khác trên thế giới Những cách thức vay mượn của tiếng Việt là:
- Giữ về cơ bản dạng âm thanh của từ nước ngoài chỉ âm tiết hĩa hay rút gọn chúng Ví dụ như xà phòng, len, xì-căng-đan, mít ting…
- Dịch ý: dùng những hình vị thuần Việt hay Hán Việt để dịch nghĩa của các hình
vị trong các từ nước ngoài Ví dụ như ngôi sao (người đẹp, diễn viên xuất sắc)
là dịch ý từ star của tiếng Anh
- Sao phỏng: là cách vay mượn nghĩa của hình vị và quan hệ ngữ nghĩa giữa các hình vị của từ nước ngoài, nhưng hình vị không phải là hình vị nước ngoài mà là hình vị Việt hay Hán Việt Ví dụ như chắn bùn sao phỏng từ garde boue của tiếng Pháp (garde: giữ, chống lại, boue: bùn)
Trang 33Dựa vào cách xác định như vậy, qua khảo sát 1103 tiêu đề văn bản phóng sự tiếng Việt, chúng tôi nhận thấy số lượng các từ thuộc lớp từ vay mượn là 145 từ, trong đó từ Hán Việt có 77 từ và từ vay mượn từ các ngôn ngữ Ấn-Âu có 68 từ, thể hiện ở hai bảng sau:
Bảng 4
Lớp từ Kết quả khảo sát
Từ Hán Việt Từ vay mượn từ các ngôn ngữ
từ vay mượn từ các ngôn ngữ Ấn-Âu có 68 từ chiếm 46.9 % Sự chênh lệch giữa
từ Hán Việt và từ vay mượn từ các ngôn ngữ Ấn-Âu không nhiều, chứng tỏ các từ ngữ trên đã và đang được sử dụng rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng, mang lại những sắc thái đa dạng cho tiêu đề văn bản phóng sự
Các tiêu đề có sử dụng các từ Hán Việt là:
Trang 34- Những "kiều nữ" … vé số (TN 22.8.04)
- "Thập diện mai phục" (TN 21.7.07)
- Những "hảo hán" áo trắng (TT 12.3.07)
- Đường lên "Nữ Nhi Quốc" (TT 30.5.07)
- Kinh đơ mỹ nhân (TT 8.10.06)
- Ngơi làng "tuyệt mỹ giai nhân" (TT 26.8.06)
- Hoạ sĩ "độc thủ" (TT 19.6.06)
- Làng bách nghệ (SGGP 26.5.05) Các tiêu đề văn bản sử dụng các từ vay mượn từ các ngơn ngữ Ấn-Âu là:
- TaØu Made in Việt Nam Vươn ra biển lớn
- Sang Campuchia xem nhảy sexy (TN 3.1.06)
- Cuộc chiến cam go với web sex (TN 17.7.05)
- Những người lặng lẽ với festival (TN 11.6.04)
- Xì căng đan hối lộ xuyên quốc gia của Siemens
(TT 17.5.07)
Qua khảo sát những tiêu đề nĩi trên, chúng tơi nhận thấy đa số các từ này đều cĩ nguồn gốc từ tiếng Anh, một số ít cĩ nguồn gốc từ tiếng Pháp, gồm những từ được
Trang 35sử dụng rộng rãi trên thế giới Khi du nhập vào Việt Nam, các từ này thường được
sử dụng nguyên dạng và không phiên âm như internet, game online, web, resort … Chỉ một số ít từ được phiên âm sang tiếng Việt như xì căng đan (scandal- tiếng Pháp), cao bồi (cowboy- tiếng Anh)
Cũng nói thêm trong phần cách sử dụng từ ngữ này là bên cạnh các lớp từ vựng
đã trình bày ở trên, chúng tôi còn nhận thấy có những từ ngữ tuy không mới nhưng
do ảnh hưởng của xã hội làm nảy sinh hàng loạt các vấn đề về kinh tế, đời sống nên trên các tiêu đề phóng sự cũng xuất hiện rất nhiều cách kết hợp lạ Đó là:
- Khi Việt Nam gia nhập tổ chức WTO và xuất hiện thị trường chứng khoán thì rất nhiều từ ngữ về chứng khoán cũng xuất hiện như sàn (sàn giao dịch), đại gia,
cổ phiếu, thời hội nhập…
- Bỏ lớp, lên sàn (TT 2.4.07)
- Người "mù" chơi chứng khoán (TT 5.3.07)
- Những "đại gia " người Việt (TT 11.5.07)
- Heo đất… thời hội nhập (TT 19.11.06)
- Săn cổ phiếu OTC (TT 24.9.06)
- Tiểu thương thời hội nhập (PN 5.1.07)
- Hiện nay ngành công nghệ thông tin đang phát triển rất mạnh mẽ và chiếm lĩnh đời sống xã hội, vì thế xuất hiện hàng loạt các từ mới thuộc lĩnh vực này Các từ mới ngày càng được sử dụng phổ biến Ví dụ như website, web, chat, wifi, internet… Xem các ví dụ sau:
- Loạn Website! (SGGP 27.1.5)
- Khi "chat" về làng (SGGP 26.2.5)
- Cà phê Wi-fi Nhịp sống thời thượng (SGGP 8.4.5)
- Khai cuộc game online (SGGP 12.7.05)
- Ve chai … thời @ (TT 24.4.07)
Trang 36- "Nông dân a còng" (TT 15.9.06)
- Tiếng Việt "trẻ" thời … chat! (PN 23.1.07)
- Ngoài ra với một nền kinh tế ngày càng phát triển thì cũng kéo theo hàng loạt các tệ nạn xã hội xuất hiện Đáng kể nhất là tệ nạn ma túy, thuốc lắc, vũ trường
Các từ ngữ như lắc, dân chơi, quí tử… có mặt ngày càng nhiều trên các tiêu đề phóng sự:
- Chơi kiểu … "quý tử" (SGGP 22.1.05)
- Miền Tây … "lắc" (SGGP 11.6.05)
- Bùng phát "lắc" ở giới trẻ
- Tệ nạn ma túy, thuốc lắc Phải xử lý ngay từ trong trứng nước (SGGP 28.6.05)
- Xâm nhập thế giới "lắc"
- Chân dung con "lắc" (SGGP 31.5.05)
- Một trong những kiểu nói thường xuất hiện gần đây là kết hợp giữa từ siêu với một tính từ hay danh từ khác Ví dụ như siêu mỏng, siêu rẻ, siêu cá biệt, siêu xe…
- Nhà siêu mỏng (SGGP 3.1.05)
- Nhà giàu săn "siêu xe" (TT 22.1.07)
- Tôi đi mua nhà "siêu rẻ" (TN 8.5.06)
- Trường dạy học sinh "siêu cá biệt" (PN 21.11.06)
- Mỹ phẩm "cao cấp" … siêu rẻ! (PN 27.4.07)
- Hay một kiểu khác là từ vua đi cùng danh từ như : vua cá, vua lúa giống…
- Chuyện gia đình "vua cá" (TN 9.1.04)
Trang 37Những cách kết hợp và sử dụng từ ngữ này tuy mới nhưng dần dần sẽ trở nên quen thuộc, sáo mòn và sẽ được thay thế bằng những cách diễn đạt và sử dụng từ ngữ khác mới hơn
2.2 Về cấu tạo từ ngữ trong tiêu đề văn bản phóng sự
Việc phân chia cấu tạo từ ngữ cho đến nay vẫn chưa thống nhất hoàn toàn Theo
Lê Văn Lý thì từ tiếng Việt bao gồm hai loại là từ đơn và từ kép Nguyễn Tài Cẩn, Hồ
Lê cũng xếp từ vào hai loại là từ đơn và từ ghép Nhưng Nguyễn Kim Thản lại phân chia thành từ thuần, từ pha, từ phức và từ chắp Đái Xuân Ninh cho rằng từ bao gồm
từ đơn, từ láy, từ ghép, từ nhánh Còn Đỗ Hữu Châu xếp từ thành hai loại là từ đơn
và từ phức, nhưng trong từ phức ông lại chia nhỏ thành từ láy và từ ghép Cách phân loại của Diệp Quang Ban đơn giản hơn Ông cho rằng từ tiếng Việt gồm ba loại là từ đơn, từ ghép và từ láy Như vậy có thể nhận thấy xung quanh vấn đề từ có rất nhiều
ý kiến khác nhau và chưa thể thống nhất được Trong luận văn này, chúng tôi chấp nhận khái niệm của Đỗ Hữu Châu
Theo Đỗ Hữu Châu, từ được phân loại theo nguyên tắc ngữ nghĩa Sự phân loại các từ tiếng Việt, xét về mặt cấu tạo, phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát hiện
ra cơ chế ngữ nghĩa thống nhất trong những từ thuộc cùng một kiểu loại Các tiêu chí như quan hệ, tính chất cuả hình vị, có thể được vận dụng , nhưng chúng phải lệ thuộc vào nguyên tắc nói trên Các bước phân loại của ông là:
Bước thứ nhất, các từ sẽ được phân chia theo số lượng hình vị tạo nên chúng Kết quả ở bước này sẽ cho các từ đơn và các từ phức Từ đơn là những từ được cấu tạo theo phương thức từ hóa, là những từ chỉ có một hình vị Từ phức là những từ do hơn một hình vị tạo nên theo các phương thức phức hóa hiện hành trong tiếng Việt Bước thứ hai, các từ phức sẽ được phân chia theo phương thức đã tạo nên chúng
Ở bước này ta có từ láy và từ ghép
Bước thứ ba, lần lượt các từ láy và từ ghép được phân chia thành những kiểu nhỏ hơn tùy theo sự đồng nhất về kiểu loại hình thức và về cơ chế ngữ nghĩa chung cho những từ trong cùng kiểu nhỏ đó
2.2.1 Từ đơn
Trang 38Trong tiếng Việt, từ đơn là những từ do một hình vị tạo nên Đặc điểm về mặt ngữ pháp của chúng là có thể sử dụng độc lập Từ đơn có thể là một âm tiết, cũng có thể nhiều âm tiết Những từ đơn nhiều âm tiết có thể gốc Việt như “bồ hóng”, “mồ hôi”… gốc ngôn ngữ các dân tộc ít người Việt Nam như “thắng cố” (Hmông), “xì dầu” (Hoa)…, gốc Ấn- Âu như “axít”, “xà phòng”…
Về ngữ nghĩa, các từ đơn không lập thành những hệ thống ngữ nghĩa cuả những kiểu cấu tạo từ Phần lớn chúng đều có khả năng trở thành hình vị để tạo
ra hàng loạt những từ phức dưới tác động của các phương thức ghép và láy Khả năng hình vị hóa không chỉ xảy ra đối với các từ đơn một âm tiết mà cả đối với các từ đơn nhiều âm tiết gốc Việt hoặc vay mượn
2.2.2 Từ láy Trong tiếng Việt cũng như trong các ngôn ngữ khác, phương thức láy là phương thức tác động vào hình vị cơ sở làm xuất hiện hình vị láy có hình thức ngữ âm giống hoặc gần giống với nó Phương thức láy có thể tạo ra những từ có cấu trúc nghĩa mới, khác với cấu trúc của đơn vị cơ sở Từ láy bao gồm các từ láy đôi, láy ba và láy tư Láy đôi như “càu nhàu”, “khấp khểnh”…, láy ba như “sạch sành sanh”, “ sát sàn sạt”…, láy tư như “khấp kha khấp khểnh”, “loanh qua loanh quanh”…
Từ láy ba và láy tư có số lượng ít ỏi, không đáng kể Những từ láy xuất hiện nhiều là những từ láy đôi Đỗ Hữu Châu chia các từ láy này ra thành hai loại: từ láy toàn bộ và từ láy bộ phận
Từ láy đôi toàn bộ lại được ông chia thành hai kiểu nhỏ : kiểu hình vị cơ sở ở trước hoặc ở sau Phổ biến hơn là kiểu hình vị cơ sở ở sau như “xanh” ( “xanh xanh”, “đỏ” ( “đo đỏ” Những trường hợp láy toàn bộ hình vị cơ sở ở trước không nhiều và thường trở thành trường hợp láy ba Ví dụ như “khít” ( “khít khịt” ( “khít khìn khịt”, “sát” ( “sát sạt” ( “sát sàn sạt”, “tuốt” ( “tuốt tuột” ( “tuốt tuồn tuột” … Các từ láy đôi bộ phận chia thành láy âm và láy vần Những từ láy âm là những
từ mà cĩ sự lặp lại bộ phận phụ âm đầu cuả hình vị cơ sở và hình vị láy Ví dụ như “giục giã”, “cau có”, nhắc nhở” … Những từ láy vần là những từ cĩ sự lặp lại
Trang 39phần vần giữa hình vị cơ sở và hình vị láy Ví dụ như “lênh đênh”, “bâng khuâng”, tanh bành”… Thanh điệu cuả hình vị cơ sở và hình vị láy thường luân phiên theo hai nhóm thanh, nhóm cao và nhóm thấp
2.2.3.Từ ghép
Phương thức ghép tác động cùng lúc vào hai hình vị kết hợp chúng với nhau, sản sinh ra một từ mới Theo Đỗ Hữu Châu, từ ghép được phân loại thành từ ghép hợp nghĩa, từ ghép phân nghĩa và từ ghép biệt lập
Từ ghép hợp nghĩa là cịn được gọi là ghép đẳng lập, ghép song song, ghép liên hợp, ghép láy nghĩa…Ghép hợp nghĩa là cơ chế kết hợp hai hình vị mà nghĩa của chúng không có quan hệ bao gồm hoặc quan hệ sở thuộc, nhưng cả hai đều nằm trong một loại lớn hơn Ví dụ như từ “ếch nhái”, “ếch” không cùng loại với “nhái” hoặc ngược lại nhưng cả hai cùng thuộc về một loại lớn hơn, đó là loại sinh vật
“lưỡng thê”
Từ ghép phân nghĩa là những từ ghép được cấu tạo từ một hình vị chung chỉ loại lớn kết hợp với những hình vị khác cho những ý nghĩa khác nhau, nhưng ý nghĩa khác nhau này đều nằm trong ý nghĩa của loại chung Ví dụ như “máy nổ”,
“máy tiện” …
Từ ghép biệt lập là những từ ghép không theo những hệ thống hay những những kiểu ngữ nghĩa chung Ví dụ như “mắt cá”(chân), “chú rể”, “mặt trời”… Qua khảo sát 5634 từ trên 1103 tiêu đề văn bản phóng sự chúng tôi thu được kết quả sau:
Bảng 6
Từ Kết quả khảo sát
Trang 40Qua thống kê trên có thể nhận thấy số lượng từ đơn chiếm tỉ lệ khá cao, tiếp theo là
từ ghép và cuối cùng mới đến từ láy Như vậy có thể nhận ra rằng tiêu đề văn bản phóng sự thường sử dụng từ đơn, từ ghép cũng được sử dụng nhiều nhưng từ láy thì lại không được sử dụng thường xuyên Điều này cho thấy tiêu đề văn bản thường
sử dụng các từ ngữ đơn giản để người đọc dễ cảm nhận, dễ nắm bắt thông tin
Trong số 1267 từ ghép, số lượng từ ghép hợp nghĩa, từ ghép phân nghĩa và từ ghép biệt lập xuất hiện trong ngữ liệu thể hiện trong bảng sau:
Bảng 7
Từ Kết quả khảo sát
Từ ghép hợp nghĩa
Các tiêu đề văn bản phóng sự có xuất hiện từ ghép hợp nghĩa là:
- Quần áo, sách, tập… "quay" học sinh (SGGP 25.8.07)
- 40 năm đi tìm cha mẹ (TT 22.8.07)
- Khai thác nước ngầm quá mức Ngập lún gia tăng (SGGP 24.3.05)