1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thành ngữ tiếng anh và thành ngữ tiếng việt có yếu tố chỉ bộ phận cơ thể người dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận

265 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thành ngữ tiếng Anh và thành ngữ tiếng Việt có yếu tố chỉ bộ phận cơ thể người dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận
Tác giả Nguyễn Ngọc Vũ
Người hướng dẫn PGS.TS. Vũ Đức Nghiệu
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu
Thể loại Luận án tiến sĩ ngữ văn
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 265
Dung lượng 1,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN (23)
    • 1.1 Thành ngữ, nhận diện và phân loại (23)
    • 1.2 Quan điểm ngôn ngữ học tri nhận về thành ngữ (26)
    • 1.3 Các quá trình tri nhận cơ bản trong bộ não người (30)
    • 1.4 Hoạt động tổ chức và phân loại tri thức trong bộ não người (34)
      • 1.4.1 Hoạt động ý niệm hóa (34)
      • 1.4.2 Dữ liệu cảm nhận vận động và các cấu trúc tiền ý niệm (34)
      • 1.4.3 Mô hình tri nhận lí tưởng hóa (37)
    • 1.5 Miền ý niệm (39)
    • 1.6 Vai trò của miền ý niệm trong ẩn dụ và hoán dụ ý niệm (44)
  • CHƯƠNG 2: ẨN DỤ Ý NIỆM VÀ HOÁN DỤ Ý NIỆM (52)
    • 2.1 Cấu trúc ẩn dụ ý niệm (52)
      • 2.1.3 Ẩn dụ ý niệm bản thể (61)
      • 2.1.4 Ẩn dụ ý niệm ống dẫn (63)
    • 2.2 Cấu trúc hoán dụ ý niệm (65)
      • 2.2.1 Hoán dụ ý niệm tuyến tính (65)
      • 2.2.2 Hoán dụ ý niệm tiếp hợp (66)
      • 2.2.3 Hoán dụ ý niệm bao gộp (69)
    • 2.3 Ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm: hai chiến lược tri nhận khác nhau (0)
      • 2.3.1 Ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm trên cấu trúc hai trục của ngôn ngữ 65 (73)
      • 2.3.2 Quan hệ tương đồng và quan hệ tương cận (74)
      • 2.3.3 Hiện tượng chiếu xạ miền ý niệm và làm nổi miền ý niệm (0)
    • 2.4 Thành ngữ chứa yếu tố chỉ bộ phận cơ thể người từ góc nhìn ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm (81)
      • 2.4.1 Tính tổ hợp qua lăng kính tri nhận (82)
      • 2.4.2 Vai trò của ẩn dụ ý niệm (84)
      • 2.4.3 Vai trò của hoán dụ ý niệm (87)
  • CHƯƠNG 3: ẨN DỤ Ý NIỆM TRONG THÀNH NGỮ TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT CÓ YẾU TỐ CHỈ BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI (90)
    • 3.1 Bộ phận cơ thể người được xem là vật chứa đựng (90)
      • 3.1.1 Yếu tố ĐẦU (90)
      • 3.1.2 Yếu tố MẮT (93)
      • 3.1.3 Yếu tố TRÁI TIM (95)
    • 3.2 Bộ phận cơ thể người với quyền lực và sự kính trọng (97)
      • 3.2.1 Nắm cái gì đó trong tay là có quyền kiểm soát (97)
    • 3.3 Bộ phận cơ thể người và tính cách con người (104)
      • 3.3.1 Đôi tay sạch hay bẩn là biểu hiện của tính cách (104)
      • 3.3.2 Tính cách là chất liệu (106)
      • 3.3.3 Tính cách là hình dạng đôi mắt (109)
    • 3.4 Các loại ẩn dụ ý niệm khác (111)
      • 3.4.1 Các loại ẩn dụ ý niệm về yếu tố đầu (111)
      • 3.4.2 Thị giác cũng là xúc giác (112)
      • 3.4.3 Thị giác là nguồn gốc của nhận thức (114)
      • 3.4.4 Các loại ẩn dụ ý niệm về yếu tố mặt (116)
      • 3.4.5 Bắt tay nhau biểu hiện cho sự hợp tác (118)
  • CHƯƠNG 4: HOÁN DỤ Ý NIỆM TRONG THÀNH NGỮ TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT CÓ YẾU TỐ CHỈ BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI (120)
    • 4.1 Bộ phận cơ thể biểu trưng cho con người và đặc điểm tính cách (120)
      • 4.1.1 Hoán dụ ý niệm về cái đầu (120)
      • 4.1.2 Hoán dụ ý niệm về đôi mắt (122)
      • 4.1.3 Hoán dụ ý niệm về khuôn mặt (125)
      • 4.1.4 Hoán dụ ý niệm về cái mũi (128)
      • 4.1.5 Hoán dụ ý niệm về đôi tay (129)
    • 4.2 Bộ phận cơ thể người biểu trưng cho kĩ năng (133)
      • 4.2.1 Mắt biểu trưng cho kĩ năng (0)
      • 4.2.2 Cái mũi biểu trưng cho kĩ năng (0)
      • 4.2.3 Bàn tay biểu trưng cho kĩ năng (0)
      • 4.3.1 Mắt biểu trưng cho sự nhận thức (0)
      • 4.3.2 Cái mũi biểu trưng cho sự tò mọc, tọc mạch (0)
      • 4.3.3 Đôi tai biểu trưng cho sự nhận thức (0)
    • 4.4 Bộ phận cơ thể người biểu trưng cho tâm trạng, tình cảm (147)
      • 4.4.1 Cái đầu biểu trưng cho tình cảm, thái độ (0)
      • 4.4.2 Khuôn mặt biểu trưng cho tâm trạng con người (149)
      • 4.4.3 Mắt biểu trưng cho tình cảm (0)
    • 4.5 Các loại hoán dụ ý niệm khác (157)
      • 4.5.1 Cái đầu biểu trưng cho sự thông minh (0)
      • 4.5.2 Cái đầu biểu trưng cho sự sống (0)
      • 4.5.3 Cái đầu biểu trưng cho trật tự trên dưới (162)
      • 4.5.4 Tay biểu trưng cho hoạt động của con người (164)
  • CHƯƠNG 5: ỨNG DỤNG CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THÀNH NGỮ DƯỚI GÓC ĐỘ TRI NHẬN VÀO VIỆC DẠY VÀ HỌC TIẾNG (167)
    • 5.1 Tiềm năng ứng dụng của ngôn ngữ học tri nhận trong dạy tiếng (167)
    • 5.2 Một số ứng dụng trong giảng dạy thành ngữ (170)
      • 5.2.1 Hiện trạng (170)
      • 5.2.2 Giải pháp (172)
    • 5.3 Ẩn dụ ý niệm và việc giảng dạy đọc hiểu (179)
    • 5.4 Một vài giải pháp giảng dạy ngữ pháp theo hướng tri nhận (183)
  • KẾT LUẬN (194)

Nội dung

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN

Thành ngữ, nhận diện và phân loại

Mặc dù thành ngữ là một khái niệm quen thuộc trong từ vựng học và được nghiên cứu từ nhiều góc độ, vẫn còn nhiều vấn đề chưa thống nhất giữa các nhà nghiên cứu Đối với thành ngữ tiếng Việt, đã có hàng chục quan điểm khác nhau được trình bày, nhưng nhìn chung đều tập trung vào hai đặc điểm chính của thành ngữ, đây cũng là tiêu chí quan trọng để nhận diện chúng.

- Đặc điểm về cấu trúc hình thức

- Đặc điểm về nội dung ý nghĩa

Các dị biệt nhỏ trong ý kiến chủ yếu tập trung vào các đặc điểm phụ hoặc những đặc điểm chức năng mà các tác giả muốn nhấn mạnh, giúp làm rõ các điểm khác biệt trong quan điểm một cách chính xác và đầy đủ Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phân tích các yếu tố phụ để hiểu rõ hơn về nội dung và ý nghĩa của các ý kiến khác nhau Việc nhận diện các khác biệt nhỏ này mang lại cái nhìn toàn diện hơn về các quan điểm và giúp xây dựng các luận điểm chặt chẽ, phù hợp với các yêu cầu SEO về nội dung phân tích và tổng hợp.

Các nhà nghiên cứu như Nguyễn Văn Tu, Đái Xuân Ninh, Đỗ Việt Hùng, Lê Hữu Tỉnh đã làm rõ vai trò ngữ nghĩa của các yếu tố cấu thành thành ngữ, cho rằng các thành tố này gần như mất hẳn khả năng tạo nghĩa độc lập và chủ yếu giúp nhận diện nghĩa của toàn tổ hợp Trong khi đó, một số nhà nghiên cứu khác không đề cập đến đặc điểm này, cho thấy còn có những quan điểm đa dạng về cấu trúc và chức năng của thành ngữ trong ngôn ngữ học.

Chức năng của thành ngữ tương đương với từ về phương diện định danh và biểu thị khái niệm, như đã được các nhà nghiên cứu Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Hữu Quỳnh, Nguyễn Công Đức và Vũ Đức Nghiệu khẳng định trong các phát biểu của mình.

Nếu nhìn một cách khái quát, những đặc điểm căn bản của thành ngữ được hầu hết các nhà nghiên cứu nhất trí bao gồm:

1 Thành ngữ là một cụm từ (ngữ) cố định, là đơn vị ngôn ngữ được làm sẵn và có khả năng tham gia cấu tạo câu như từ

2 Có kết cấu hình thức vững chắc, ổn định

3 Có chức năng định danh

4 Có ý nghĩa hòan chỉnh, mang tính hình tượng cao

Trong thực tiễn ngôn ngữ học, việc phân biệt thành ngữ với các đơn vị lân cận như quán ngữ, tục ngữ hay từ ghép gặp nhiều khó khăn và thường không đạt được sự nhất trí hoàn toàn Tuy nhiên, có thể thấy rõ hơn về sự khác biệt giữa thành ngữ và quán ngữ; thành ngữ có chức năng định danh, gọi tên một sự vật một cách bóng bẩy, tượng trưng, trong khi quán ngữ là các cụm từ cố định dùng để thực hiện các chức năng liên kết, tạo lập văn bản, diễn đạt các ý nghĩa ngữ pháp như nhấn mạnh, lịch sự, phủ định hoặc mỉa mai trong các loại văn bản khác nhau.

Ví dụ: chẳng có lí do gì, của đáng tội, tóm lại, thiết nghĩ, đáng chú ý là v.v

Việc phân biệt thành ngữ với từ ghép và tục ngữ là một vấn đề phức tạp và vẫn còn tranh luận trong giới nghiên cứu, như các công trình của Nguyễn Văn Tu, Hồ Lê, Đái Xuân Ninh, Trương Đông San, Cù Đình Tú, Nguyễn Thiện Giáp, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Văn Mệnh, Vũ Đức Nghiệu thể hiện Các đơn vị như "đen thui", "trẻ măng", "dẻo kẹo" được coi là từ ghép hoặc thành ngữ rút gọn, trong khi các thành ngữ như "được đằng chân, lân đằng đầu", "có chí làm quan, có gan làm giàu" lại gây tranh cãi về việc chúng là thành ngữ hay tục ngữ, do đặc điểm cố định và biểu thị các phán đoán hoặc triết lý nhân sinh Trong tiếng Anh, việc nhận diện và phân loại thành ngữ cũng gặp khó khăn tương tự, với nhiều ý kiến đa dạng (Langlotz, 2006) Như nhà nghiên cứu Fellbaum (1993) đã nhận định, phân tích thành ngữ về mặt hình vị, từ vựng hay cấu trúc đòi hỏi nỗ lực lớn Vì vậy, dựa trên mục tiêu nghiên cứu và đối tượng khảo sát, chúng tôi không đi sâu vào phương diện lý luận, mà dựa trên các quan điểm phổ biến và các từ điển hiện có, định nghĩa thành ngữ là một nhóm tổ hợp từ cố định, hình thái – cấu trúc vững chắc, ý nghĩa bóng bẩy, thường dùng trong giao tiếp hàng ngày và đặc biệt trong khẩu ngữ.

Chúng tôi khảo sát các từ điển thành ngữ, tục ngữ tiếng Anh và tiếng Việt được nhiều người chấp nhận để xây dựng kho dữ liệu nghiên cứu Trong đó, có một số đơn vị có thể còn tranh cãi về tư cách thành ngữ, tùy theo quan điểm của từng nhà nghiên cứu Tuy nhiên, để đảm bảo phạm vi dữ liệu phong phú và toàn diện, chúng tôi vẫn bao gồm tất cả các đơn vị này trong phân tích, kể cả những thuật ngữ phù hợp với khái niệm thành ngữ và idiom.

Quan điểm ngôn ngữ học tri nhận về thành ngữ

Trong khi các nhà nghiên cứu thành ngữ theo quan điểm truyền thống tập trung vào khảo sát cấu trúc và hình thức của thành ngữ, thì nhiều nhà ngôn ngữ học tri nhận như George Lakoff, Mark Johnson và Raymond Gibbs lại xem xét thành ngữ từ góc độ ngữ nghĩa và quá trình tri nhận Họ cho rằng ngôn ngữ không phải là một khả năng tự trị, mà dựa trên cấu trúc ý niệm và biểu hiện ý niệm hóa thế giới xung quanh, trong đó thành ngữ là sản phẩm của quá trình ý niệm hóa liên quan đến nhận thức và khái niệm hóa Gibbs nhấn mạnh rằng thành ngữ không tồn tại như những đơn vị nghĩa độc lập mà là bộ phận của hệ thống khái niệm ẩn dụ hóa, qua đó nghĩa ẩn dụ và nghĩa hiển ngôn liên kết chặt chẽ thông qua các cơ chế tri nhận như ẩn dụ, hoán dụ và tri thức nền Chính vì vậy, thành ngữ hình thành cùng với quá trình hình thành các khái niệm trong tư duy của con người, phản ánh mối liên hệ giữa ngữ nghĩa và quá trình tri nhận trong ngôn ngữ học tri nhận.

Một tiền đề quan trọng của ngôn ngữ học tri nhận là hoạt động ngôn ngữ kích hoạt vô thức nhiều khả năng tri nhận và tri thức văn hóa, giúp thiết lập những mối liên hệ phức tạp để xử lý lượng lớn thông tin (Fauconnier, 2004) Ngôn ngữ không thể tự thể hiện nghĩa mà chủ yếu kích hoạt quá trình tạo nghĩa trong ngữ cảnh nhất định, dựa trên khả năng tri nhận và mô hình văn hóa Điều này đặt ra câu hỏi về bản chất của thành ngữ, đặc biệt là thành ngữ mang ý nghĩa ẩn dụ, có thể được phân tích dựa trên sơ đồ tri nhận liên kết giữa ý niệm nguồn và ý niệm đích Việc xây dựng bản đồ tri nhận này giúp mô tả rõ hơn ý nghĩa ẩn dụ của thành ngữ trong nhiều ngôn ngữ và hỗ trợ quá trình học ngoại ngữ, vì thành ngữ thường gây khó khăn lớn cho người học Ngoài ra, khi đã có sơ đồ liên hệ này, ta có thể tìm ra các nét tương đồng trong cách tri nhận thế giới của các dân tộc khác nhau, từ đó dự đoán ý nghĩa ẩn dụ trong ngôn ngữ của các nền văn hóa khác một cách chính xác hơn.

Steen (1997) cho rằng trong bộ nhớ mỗi người tồn tại một tập hợp lớn các hình ảnh về thế giới xung quanh, được hình thành qua quá trình nhận thức và tạo thành các “lược đồ hình ảnh” (image schema) theo Lakoff (1987) Những lược đồ này không bị chi phối bởi ngữ cảnh và nằm trong tiềm thức của mỗi người, ví dụ như hình ảnh ông Bụt hay chùa Bà Đanh vẫn luôn có trong trí nhớ dù ít được dùng hàng ngày Tập hợp hình ảnh này khác nhau tùy theo môi trường sống, giúp mỗi người hình dung về các sự vật, hiện tượng dựa trên nền tảng ký ức cá nhân và văn hóa cụ thể.

Hình ảnh tri nhận đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các thành ngữ mới và giúp chúng ta hiểu nghĩa của các thành ngữ cũ Lakoff (1987) gọi những thành ngữ này là thành ngữ có mang hình ảnh (imageable idioms) và cho rằng trong nhiều trường hợp, nghĩa của thành ngữ khá dễ suy đoán dựa trên hình ảnh đó Khác với quan điểm truyền thống xem thành ngữ là những tổ hợp cố định mà ý nghĩa không thể suy ra từ các thành phần, Lakoff nhấn mạnh rằng hình ảnh tri nhận có thể giúp giải thích nghĩa thành ngữ, đặc biệt When hình ảnh phản ánh cùng một sự vật hoặc hiện tượng qua các dân tộc khác nhau, khả năng suy đoán nghĩa trở nên chính xác hơn.

Để hiểu nghĩa của thành ngữ tiếng Anh “to do something with one’s eyes shut,” chúng ta cần xác định từ khóa hình ảnh tri nhận, đó chính là từ “eye” Trong tâm lý học thực nghiệm và sinh lý học thần kinh, 90% thông tin con người thu nhận được là qua thị giác, giúp ta suy ra rằng thành ngữ này biểu thị làm việc dễ dàng, không tốn nhiều công sức Từ “eye” được chọn vì hình ảnh mắt tượng trưng cho sự quan sát, chú ý và cẩn thận trong tư duy của con người; việc nhắm mắt thể hiện sự thiếu quan sát, cẩn trọng Chính nhờ ý nghĩa biểu trưng của mắt, chúng ta có thể giải mã chính xác nghĩa của thành ngữ này như một hành động đơn giản, dễ dàng.

Thành ngữ trong ngôn ngữ được tạo lập từ các hình ảnh ngôn ngữ qui ước dựa trên mối liên hệ giữa các yếu tố trong hệ thống tư duy Theo Lakoff (1987), quá trình tạo thành thành ngữ phụ thuộc vào một mối liên hệ độc lập L giúp kết nối các thành phần A và B, qua đó hiểu được mối quan hệ giữa chúng Ví dụ nổi bật là thành ngữ “to keep someone at arm’s length”, trong đó nghĩa của nó được hình thành nhờ hình ảnh qui ước và hai ý niệm ẩn dụ: “gần nhau có nghĩa là thân nhau” và “mối đe dọa về thể chất cũng là mối đe dọa về tinh thần” Hình ảnh đen đủi này thể hiện rằng, đứng cách xa ai đó một cánh tay để bảo vệ chính mình tượng trưng cho ý nghĩa tránh quá thân mật để ngăn người khác làm hại Điều này chứng minh rằng nhiều thành ngữ kết hợp nghĩa trừu tượng và cụ thể thông qua các ý niệm ẩn dụ và hoán dụ, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về ý nghĩa ẩn dụ của chúng.

Trong bài báo "Thành ngữ và hình ảnh tâm lý: Cơ sở ẩn dụ cho nghĩa của thành ngữ" đăng trên tạp chí Cognition, Gibbs (1997) thảo luận về vai trò của hình ảnh tâm lý trong việc hình thành nghĩa của thành ngữ Các thử nghiệm của ông cho thấy rằng thành ngữ thường dựa trên các hình ảnh bản chất tâm lý, giúp người đọc hoặc nghe dễ dàng hình dung và hiểu ý nghĩa sâu xa của chúng Nghiên cứu này nhấn mạnh mối liên hệ chặt chẽ giữa các thành ngữ và các hình ảnh tâm lý ẩn chứa đằng sau, góp phần làm rõ cơ sở ẩn dụ trong ngôn ngữ Các kết quả của Gibbs cung cấp bằng chứng cho thấy rằng xử lý thành ngữ liên quan mật thiết đến khả năng hình dung hình ảnh tâm lý, làm sáng tỏ cách thức nghĩa của thành ngữ được xây dựng dựa trên các hình ảnh ẩn dụ trong tâm trí người nghe và người đọc.

Nghiên cứu [115] chứng minh rằng trong một tổ hợp thành ngữ, các đơn vị từ cấu thành hệ thống đóng góp vào nghĩa ẩn dụ của toàn bộ thành ngữ Cụ thể, thành ngữ tiếng Anh “to spill the beans” cho thấy rằng nghĩa ẩn dụ của thành ngữ này được suy ra từ ý nghĩa của từ “beans” (chỉ những điều bí mật) và hành động “spill” (nghĩa là làm lộ bí mật) Các đơn vị từ cấu tạo trong thành ngữ đều mang ý nghĩa góp phần vào việc hiểu rõ nghĩa ẩn dụ của nó.

Trong tiếng Việt, chúng ta có thể hiểu nghĩa ẩn dụ của thành ngữ "giết gà dùng dao mổ trâu" thông qua phân tích các thành phần của nó "Dao mổ trâu" là loại dao lớn chuyên dùng để giết các gia súc lớn, trong khi "gà" lại là gia cầm nhỏ, khiến việc sử dụng "dao mổ trâu" để giết "gà" trở nên mâu thuẫn với logic thông thường Thành ngữ này mang ý nghĩa ẩn dụ về việc sử dụng công cụ hoặc phương pháp quá lớn hoặc phù hợp với vấn đề lớn để giải quyết một vấn đề nhỏ, thể hiện sự không hợp lý hoặc quá mức cần thiết trong tình huống.

Nhiều công sức, tài chính bị tiêu tốn vào việc giải quyết những vấn đề nhỏ nhặt, không xứng đáng với mức độ quan trọng Điều này cho thấy cần xem xét lại quan niệm truyền thống cho rằng nghĩa của thành ngữ phản ánh toàn bộ ý nghĩa tổng thể và không thể suy rút từ các thành phần cấu thành Theo Gibbs, việc hiểu đúng thành ngữ đòi hỏi phải xem xét toàn diện và không chỉ dựa vào các phần đơn lẻ.

Theo nghiên cứu của 1997 [115], chúng ta có sẵn những tri thức tiềm ẩn để giải mã các cơ chế ẩn dụ, giúp nhận diện nghĩa của thành ngữ dù hình thức có khác nhau Ví dụ, người Anh đều hiểu nghĩa ẩn dụ của “to spill the beans” và “to let the cat out of the bag” đều nhằm mục đích tiết lộ bí mật, mặc dù hình ảnh ẩn dụ của chúng khác biệt Các nhà ngôn ngữ học Bulgaria, Janyan và Andonova (2000) [121], đã thực hiện thí nghiệm với sinh viên Bulgaria và xác nhận rằng mối liên hệ chặt chẽ giữa nghĩa ẩn dụ của thành ngữ và hình ảnh tâm lí mà nó gợi lên giúp quá trình giải mã dễ dàng hơn Tạo hình ảnh tâm lí rõ ràng là yếu tố quan trọng trong việc hiểu nghĩa ẩn dụ của thành ngữ.

Theo quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận, thành ngữ là sản phẩm của quá trình ý niệm hóa thế giới của con người, phản ánh mối liên hệ chặt chẽ giữa các đơn vị cấu thành và hoạt động tư duy Nghĩa của thành ngữ được hình thành dựa trên nghĩa của các thành phần cấu tạo, thông qua các cơ chế tri nhận điều chỉnh hoạt động ý niệm hóa Do đó, thành ngữ không chỉ là câu nói cố định mà còn là kết quả của quá trình phản ánh thế giới tâm thức và khả năng tư duy của con người.

Các quá trình tri nhận cơ bản trong bộ não người

Con người dựa vào các quá trình tri nhận cơ bản để tiếp cận, tổ chức, lưu trữ và xử lý thông tin Thay vì giống như một hộp chứa ý tưởng, bộ não hoạt động như một mạng lưới phức tạp được tạo lập, chỉnh sửa và thay đổi liên tục Các nhà tâm lý học và sinh lý học thần kinh gần đây đã thừa nhận mô hình hoạt động tri nhận như một hệ thống mạng lưới tương tác Thông tin trong bộ não được truyền tải, lưu giữ và xử lý qua các tập hợp tế bào thần kinh, tạo thành các nốt mạng nhỏ trong một hệ thống lớn hơn gồm hàng tỷ nốt và các liên hệ lẫn nhau qua các dây thần kinh Hoạt động tư duy của con người chính là kết quả của các mối liên hệ và tác động liên tục của các nốt mạng thần kinh này Tri thức sinh ra từ quá trình tương tác đa chiều trong hệ thống các nốt và dây thần kinh, được các nhà ngôn ngữ học tri nhận áp dụng để giải thích các quá trình tri nhận, bao gồm cả hoạt động ngôn ngữ.

Dựa trên quan điểm trên về hoạt động tư duy của con người, Langacker (1987:100)

Trong quan điểm của Langacker, trải nghiệm tinh thần của mỗi người được xem như một tập hợp các dữ kiện tri nhận tạm thời hoặc cố định, phản ánh kết quả của hoạt động hệ thần kinh Các dữ kiện này có thể là phản ứng của nơron thần kinh hoặc tín hiệu truyền rộng lớn trên hệ thần kinh, đòi hỏi quá trình sắp xếp trật tự để hệ thống hóa Quá trình này, gọi là củng cố (entrenchment), giúp các dữ kiện được điều chỉnh hoặc củng cố thêm, đồng thời kết nối chúng thành các tiểu hệ thống (substructure) để đạt hiệu quả trong hoạt động tri nhận.

Quá trình so sánh giúp con người đo lường các dữ kiện phức tạp, phát hiện điểm tương đồng và khác biệt giữa các tiểu hệ thống cũng như bên trong chính chúng Đây là hoạt động quan trọng trong nhận thức, nhờ đó chúng ta xác định ranh giới giữa các sự kiện và phân chia thực tại khách quan một cách rõ ràng Quá trình so sánh là then chốt trong việc thiết lập các khái niệm và hiểu biết về thế giới xung quanh (Langacker, 1987).

Quá trình củng cố, kết nối và so sánh dữ kiện giúp con người tạo ra các biểu trưng tinh thần rõ ràng và phức tạp Quá trình trừu tượng hóa cho phép chúng ta cảm nhận các biểu tượng tinh thần này ở nhiều cấp độ khác nhau Ví dụ của Langacker (1998:5), dẫn theo Langlotz (2006), minh họa rằng cùng một dữ kiện có thể được xử lý ở các mức độ khác nhau, phản ánh khả năng trừu tượng hóa trong nhận thức con người.

1 This black silk Armani shirt costs 2000$ (Chiếc áo sơ mi đen Armani này giá

2 This shirt is very expensive (Chiếc áo sơ mi này đắt tiền)

3 The thing is expensive (Vật này đắt tiền)

Lược đồ (schemas) là những mạng tinh thần cao cấp, rất phức tạp, được xây dựng dựa trên các dữ liệu tri nhận cụ thể, tùy thuộc vào khả năng lược đồ hóa của dữ kiện đó Theo định nghĩa của Langacker, lược đồ có vai trò quan trọng trong việc tổ chức và diễn giải các dữ liệu mà con người thu thập được Các lược đồ có thể được phóng chiếu (projected) lên các cấu trúc tinh thần ít phức tạp hơn, giúp tổ chức lại chúng thành các cấu trúc tinh thần mới, từ đó nâng cao khả năng hiểu và giải thích thông tin Ví dụ, khi nhìn nhận một cách khách quan, ta có thể thấy rằng ba đường gấp khúc trong hình không có mối liên hệ nào với nhau, điều này cho thấy tầm quan trọng của việc sử dụng lược đồ để tổ chức các dữ kiện phức tạp thành cấu trúc rõ ràng hơn.

Bộ não của chúng ta có xu hướng tổ chức lại dữ kiện thu nhận thành các cấu trúc có nghĩa, như hình tam giác, dựa trên quá trình tri nhận và các tiêu chí đánh giá Khi nhìn tổng thể ba đường gấp khúc của hình tam giác, não bộ sẽ kích hoạt lược đồ hình ảnh giúp liên kết các đường gấp khúc này thành một hình thể có nghĩa Quá trình phóng chiếu (projection), theo Langacker, là quá trình tổng hợp trong đó một tiêu chí đã củng cố chiếu lên đích tri nhận, giúp phân nhóm các dữ kiện thành các phạm trù rõ ràng hơn Phạm trù hóa (categorisation) đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức dữ kiện thành các nhóm dựa trên điểm giống nhau, loại bỏ các dị biệt riêng lẻ, hỗ trợ quá trình phân loại hiệu quả Phương pháp của Langacker kết hợp cả quan điểm của lý thuyết điển dạng (prototype theory) và các mô hình phân loại truyền thống, thông qua hai quá trình chính là phạm trù hóa bằng lược đồ (schema) và bằng điển dạng (prototype).

Theo quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận, trong bộ não của con người, nhiều hoạt động tri nhận phức tạp diễn ra đồng thời, hình thành tri thức qua quá trình tổng hợp các giai đoạn như củng cố, kết nối, so sánh, trừu tượng hóa và phóng chiếu Các giai đoạn này giúp chuyển đổi dữ liệu từ môi trường xung quanh thành kiến thức của con người Khi dữ kiện này được đưa vào ngôn ngữ, chúng sẽ được cô lập hóa thông qua hoạt động tư duy, góp phần hình thành và cấu trúc tri thức một cách rõ ràng và có hệ thống.

Hoạt động tổ chức và phân loại tri thức trong bộ não người

Theo quan điểm của khoa học tri nhận, tri thức là những cấu trúc ý niệm được lưu trữ trong bộ não và phản ánh các sự kiện, hiện tượng đã trải qua để hiểu rõ hơn về thế giới (Langlotz, 2006) Để hệ thống tư duy hoạt động hiệu quả, bộ não cần phân loại một lượng lớn kích thích từ môi trường bên ngoài và thiết lập các phạm trù nhằm tổ chức và xử lý thông tin một cách hợp lý Trong bộ não, ý niệm đóng vai trò quan trọng trong việc tái hiện, lưu trữ và tổ chức dữ liệu về thế giới, giúp con người truy xuất thông tin dễ dàng; ví dụ, chúng ta có thể hình dung một quyển sách mà không cần nhìn trực tiếp nhờ ý niệm về kích thước, hình dáng, chất liệu, v.v Theo Langacker (1998), ý niệm còn giúp nhận thức môi trường xung quanh bằng cách chuyển đổi các kích thích bên ngoài thành các thực thể tinh thần riêng lẻ Quá trình tạo ra tri thức bắt đầu từ việc các kích thích môi trường được hệ thống nhận thức chuyển thành dữ liệu cảm nhận vận động, sau đó tổ chức và phân loại thành các đơn vị có nghĩa để phản ánh "hiện thực" thông qua quá trình phóng chiếu các lược đồ ý niệm lên dữ liệu này.

1.4.2 Dữ liệu cảm nhận vận động và các cấu trúc tiền ý niệm Để giải thích việc tạo thành các cấu trúc ý niệm, Lakoff và Johnson (1980:226-228)

Kinh nghiệm luận, được Lakoff và Johnson gọi là experientialism, là sự thay thế kế thừa cho khách quan luận và chủ quan luận trong triết học phương Tây Mặc dù kế thừa quan điểm khách quan luận rằng có những thứ tồn tại độc lập với con người và quy định cách chúng ta tương tác và tìm hiểu thế giới, kinh nghiệm luận cho rằng không thể xác định chân lý tuyệt đối Tính khách quan luôn liên hệ chặt chẽ với hệ thống ý niệm và giá trị văn hóa, do đó, từ bỏ ảo tưởng về chân lý tuyệt đối giúp hoạt động nhận thức trở nên trách nhiệm và chính xác hơn Kinh nghiệm luận cũng đồng tình với chủ quan luận khi nhấn mạnh rằng nghĩa là kết quả của hoạt động tưởng tượng và mang tính cá nhân Tuy nhiên, khác với chủ quan luận, kinh nghiệm luận phủ nhận quan điểm cho rằng hoạt động tưởng tượng của con người là không giới hạn, hướng đến một cái nhìn thực tế hơn về quá trình nhận thức.

Theo quan điểm của kinh nghiệm luận, ngữ nghĩa chỉ được hình thành qua sự tương tác giữa các yếu tố của hoạt động nhận thức và thế giới trải nghiệm Ngữ nghĩa mang tính nhập thân, phản ánh mối quan hệ giữa con người và môi trường xung quanh Quá trình tương tác này bị tác động mạnh bởi điều kiện sống, môi trường xã hội và văn hóa mà chúng ta đang tồn tại Vì vậy, ngữ nghĩa không chỉ đơn thuần là dữ liệu lý thuyết mà còn là kết quả của sự hòa quyện giữa nhận thức cá nhân và bối cảnh xã hội, văn hóa.

Nghĩa nhập thân bắt nguồn từ các cấu trúc tiền ý niệm (preconceptual structures), là những nền tảng hình thành nên ý nghĩa ngôn ngữ Những cấu trúc này giúp chúng ta cảm nhận sự vật, xác định ranh giới, nhận diện mối liên hệ giữa các sự vật và phân biệt chúng với các quá trình, đóng vai trò cốt yếu trong quá trình hình thành nghĩa Langacker sử dụng các thuật ngữ “thing” (đồ vật) và “process” (quá trình) để mô tả các khái niệm cơ bản này trong quá trình xây dựng ý nghĩa.

Trong quá trình nhận diện cấu trúc tiền ý niệm, “liên kết” đóng vai trò quan trọng để xây dựng ý niệm chính xác như “tam giác.” Ví dụ, để hiểu rõ về “tam giác,” chúng ta cần kết hợp các cấu trúc tiền ý niệm như góc tam giác và cạnh tam giác, đảm bảo hình thành ý niệm hoàn chỉnh Các cấu trúc tiền ý niệm này phải được xử lý qua lại dựa trên mối liên hệ nội tại để hình thành nhận thức rõ ràng Theo Lakoff (1987), có hai loại cấu trúc tiền ý niệm quan trọng trong xử lý dữ liệu cảm nhận vận động là “cấu trúc lược đồ hình ảnh” và “cấu trúc cơ bản,” góp phần xây dựng hiểu biết sâu sắc về các khái niệm trừu tượng.

Các cấu trúc lược đồ hình ảnh như “vật chứa” (container), “sự cân bằng” (balance),

Các cấu trúc ý niệm cơ bản như “tuyến” (đường dẫn), “trên – dưới” (vị trí không gian), “trước – sau” (thứ tự thời gian hoặc không gian), và “bộ phận – tổng thể” (phân tích phần – nhìn toàn diện) xuất phát từ hình dạng, kích thước và quy luật của sự vật, hiện tượng trong đời sống hàng ngày Những lược đồ hình ảnh này hình thành nên phần lớn trải nghiệm căn bản về thế giới xung quanh con người Ví dụ, các thành ngữ như “trong tâm hồn”, “bụng để ngoài da”, “đi guốc vào bụng” hay “lấy thước mà đo lòng người” đều liên quan đến cấu trúc lược đồ vật chứa, thể hiện cách chúng ta liên tưởng và xử lý thông tin về không gian và cảm xúc Các thành ngữ như “lên voi xuống chó”, “ba chìm bảy nổi”, “lên tận mây xanh” mang ý nghĩa ẩn dụ dựa trên cấu trúc “trên – dưới”, phản ánh các trạng thái tâm lý và tình huống trong đời sống Vì vậy, các cấu trúc này đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành ngôn ngữ và nhận thức của người Việt Nam.

(1987) [135] khẳng định rằng lược đồ hình ảnh là một cấu trúc tiền ý niệm rất quan trọng trong quá trình ý niệm hóa thế giới của con người

Các ý niệm hình thành dựa trên lược đồ hình ảnh như hình ảnh vật chứa, cho chúng ta khái niệm về “trong” và “ngoài” Từ lược đồ “trên – dưới”, chúng ta hiểu về các khái niệm “cao”, “thấp”, “nông”, “sâu” Lược đồ “tuyến” giúp hình thành các khái niệm về “khoảng cách”, “xa”, “gần”, “hướng đi” Các cấu trúc ý niệm cơ bản đóng vai trò là cầu nối trung gian, tạo nền tảng để phát triển các cấu trúc ý niệm phức tạp hơn và xây dựng mạng lưới các phạm trù ý niệm Theo Langlotz (2006), các cấu trúc ý niệm được phân loại thành ý niệm bậc cao như “Động vật” và “Thực vật”, ý niệm cơ bản như “Mèo” và “Cây”, cùng với ý niệm bậc thấp như “Mèo tam thể” hay “Cây chuối”.

Trong hệ thống phạm trù hóa ý niệm, ý niệm cơ bản thường được coi là nổi bật hơn so với các cấp độ khác nhờ vào khả năng lưu giữ những thông tin liên quan mật thiết nhất đến một phạm trù Ví dụ, khi nhìn thấy một con mèo tam thể, chúng ta thường nhận dạng nó là con mèo chung chung chứ không phân biệt ngay đó là mèo tam thể trừ khi có nhu cầu đặc biệt, như phân biệt với các loại mèo khác như mèo đen Nguyên nhân của điều này là do các phạm trù cơ bản liên quan mật thiết đến cảm nhận về “các thực thể toàn vẹn” (gestalts), trong khi các cấp độ ý niệm cao hoặc thấp hơn lại thực hiện việc phân loại các thực thể này theo trình tự logic hoặc thuộc tính cụ thể.

1.4.3 Mô hình tri nhận lí tưởng hóa

Các nhà ngôn ngữ học tri nhận đã phát triển các khái niệm phức tạp hơn dựa trên các lược đồ hình ảnh và ý niệm cơ bản, trong đó Lakoff (1987) gọi các hệ thống này là “các mô hình tri nhận lí tưởng hóa” (idealised cognitive models - ICMs) Fillmore (1982) mô tả cách sắp xếp các tri thức ý niệm này như là “khung” (frames), còn Schank và Abelson (1977) gọi chúng là “khung hình” (schemas).

Theo Lakoff (1987:68), mỗi mô hình tri nhận lý tưởng hóa, còn gọi là gestalt, là một thực thể hoàn chỉnh và phức tạp, bao gồm bốn yếu tố cấu thành chính.

- Cấu trúc mệnh đề (propositional structure) như trong lí thuyết về khung ngữ nghĩa của Fillmore (1982) [110]

- Cấu trúc lược đồ hình ảnh (image-schematic structure) như trong lí thuyết về ngữ pháp tri nhận của Langacker (1987) [135]

- Chiếu xạ ẩn dụ ý niệm theo mô tả của Lakoff và Johnson (1980) [134]

- Chiếu xạ hoán dụ ý niệm theo mô tả của Lakoff và Johnson (1980) [134]

Các ICM không chỉ giúp định nghĩa các khái niệm mà còn tạo nên một không gian tinh thần theo mô tả của Fauconnier, phản ánh cách chúng ta tổ chức và hiểu trải nghiệm thời gian Ví dụ, Lakoff (1987) minh họa rằng ngày thứ ba chỉ có ý nghĩa trong mối quan hệ với mô hình nhận thức về chu kỳ mặt trời, bắt đầu và kết thúc trong ngày, và chu kỳ bảy ngày của tuần lễ, trong đó thứ ba là thành tố thứ ba của một chuỗi tổ chức theo trình tự Ngoài ra, các nền văn hóa khác nhau có thể sử dụng các ICM khác nhau để phạm trù hóa thời gian; chẳng hạn, trong phương Đông, không có khái niệm tuần lễ, cho thấy mỗi ICM phản ánh cách nhìn nhận thế giới mang tính cá nhân Do đó, các ICM giúp tổ chức lại các trải nghiệm phức tạp và tạo ra cảm giác về hiện thực khách quan.

Các cấu trúc ý niệm phức tạp được Lakoff gọi là “lí tưởng hóa” (idealized) do chúng xuất phát từ kinh nghiệm về thế giới xung quanh nhưng không luôn phản ánh chính xác thực tại Ví dụ như khái niệm người đàn ông độc thân được định nghĩa là người lớn, giới tính nam và chưa lập gia đình, tuy nhiên trong thực tế có nhiều trường hợp đủ tiêu chuẩn này nhưng vẫn không thể gọi là “người đàn ông độc thân”.

- Một thanh niên sống thử với bạn gái

- Người đàn ông đồng tính

- Người đàn ông đồng tính sống chung với bạn trai

- Người đàn ông góa vợ

- Người đàn ông li dị

Các mô hình tri nhận của Lakoff (1987) cho rằng ý niệm bậc cơ sở và ý niệm lược đồ hình ảnh là nền tảng cho các mô hình tri nhận phức tạp Trong các mô hình này, ý niệm tầng bậc cơ bản và ý niệm lược đồ hình ảnh đóng vai trò vật liệu, còn các lược đồ tri nhận đóng vai trò bộ khung Ví dụ, mô hình ICM về hành trình gồm các ý niệm về điểm xuất phát, điểm đích, đường đi, người thực hiện hành trình và phương tiện đi lại, được kết nối qua lược đồ tri nhận “tuyến” (path) Các ý niệm này không tồn tại riêng rẽ mà có mối liên hệ chặt chẽ, tương tác lẫn nhau để tạo ra ý nghĩa Để hiểu rõ ý nghĩa của các ý niệm, chúng cần liên kết với miền ý niệm (domain) như trong quan hệ giữa “ngón tay” và “bàn tay,” trong đó “bàn tay” đóng vai trò là miền ý niệm, và “ngón tay” chỉ có ý nghĩa khi được xem xét trong mối liên hệ với “bàn tay,” vốn là miền ý niệm con của ICM “cánh tay.”

Miền ý niệm

Miền ý niệm đóng vai trò quan trọng trong việc liên kết các ý niệm lại với nhau, cung cấp bối cảnh nền giúp chúng ta hiểu ý nghĩa của từ ngữ trong các tình huống khác nhau Theo Taylor (1989), miền ý niệm là cấu trúc tri nhận hỗ trợ hiểu biết về nghĩa của từ thông qua các nền tảng trải nghiệm như không gian, màu sắc, tình cảm, nhiệt độ, trong đó miền ý niệm không gian được xem là cơ bản nhất Các nhà ngôn ngữ học tri nhận giải thích rằng cấu trúc của miền ý niệm không gian được phóng chiếu vào các miền ý niệm trừu tượng khác như miền thời gian qua quá trình chiếu xạ (metaphorical mapping), tạo ra các “không gian tinh thần” mà Fauconnier gọi là “phương tiện ý niệm hóa và tư duy” Ngoài ra, miền ý niệm còn là kiến thức nền về các lĩnh vực như giáo dục, phản ánh qua vai trò của giáo viên, học viên, chương trình đào tạo và điểm số, được xem như các khung cảnh hay mã văn hóa động thái Dù hiểu theo cách phổ quát hay theo chiều văn hóa, khái niệm này đều đóng vai trò then chốt trong việc giải thích các từ đa nghĩa và ngữ cố định, vì một từ có thể mang nhiều nghĩa khác nhau tùy theo miền ý niệm mà nó phóng chiếu, như trong ví dụ từ “thấp” mang nghĩa không gian, nhiệt độ và cảm xúc.

Miền ý niệm là thuật ngữ quan trọng trong ngôn ngữ học tri nhận, đóng vai trò nền tảng trong việc phân tích hiện tượng ẩn dụ và hoán dụ Việc tìm hiểu ý nghĩa và vai trò của miền ý niệm giúp làm rõ các khái niệm ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm Đây là bước cần thiết để hiểu sâu hơn về cách thức biểu đạt và truyền đạt ý nghĩa trong ngôn ngữ.

Trước hết, chúng ta hãy bắt đầu với ví dụ của Langacker (1987) [141] về khái niệm

Trong bài viết này, khái niệm “cung” của đường tròn được hiểu rõ khi đặt trong mối quan hệ với đường tròn, bởi vì “cung” chỉ có ý nghĩa xác định khi nó liên kết với nền của đường tròn chứ không đơn thuần là một đoạn cong Cụ thể, “cung” trong ngữ cảnh này đề cập đến hình dạng (profile) của cung trên đường tròn, còn ý niệm về đường tròn ở đây được xem như là nền (base), giúp làm rõ khái niệm về “cung” một cách chính xác và có tính liên hệ logic cao.

Trong hành trình hiểu về các khái niệm hình học, chúng ta không thể chỉ tập trung vào hình mà bỏ qua nền tảng của nó Ví dụ, khái niệm “đường tròn” chỉ có thể được định nghĩa rõ ràng trong mối quan hệ với mặt phẳng, nơi mặt phẳng là nền tảng và đường tròn là hình dạng trên đó Điều này cho thấy một ý niệm có thể đóng vai trò làm nền cho những ý niệm khác, đồng thời chính nó cũng có thể là hình dạng của một ý niệm khác.

Hình và nền có mối liên hệ chặt chẽ, không thể hiểu ý nghĩa của các ý niệm nếu không dựa vào kiến thức nền cung cấp Nền chính là nền tảng giúp chúng ta hiểu và định nghĩa các ý niệm, tạo thành một mối quan hệ hữu cơ giữa hình và nền trong quá trình nhận thức.

Trong một "nền" nhất định, thường có nhiều "hình" cùng tồn tại và chia sẻ làm nền, như ví dụ đường tròn không chỉ là nền cho ý niệm "cung" mà còn cho các ý niệm khác như "bán kính", "đường kính", "dây cung", "tâm" v.v Điều này khiến nền trở thành một miền ý niệm, nơi chứa đựng các ý niệm hình khác nhau một cách đồng thời Chúng ta có thể xem miền ý niệm là một cấu trúc ngữ nghĩa đóng vai trò làm nền cho ít nhất một ý niệm hình, thường là nhiều ý niệm cùng lúc Theo nhận xét của Taylor (1989:84), nền là một vùng ý nghĩa phức tạp, thể hiện mối liên hệ chặt chẽ giữa các hình và ý niệm liên quan.

Mọi cấu trúc ý niệm hóa hoặc tri thức, dù đơn giản hay phức tạp, đều có thể đóng vai trò là miền ý niệm để hình thành ngữ nghĩa Ví dụ, miền ý niệm của đường tròn bao gồm các ý niệm về cung, đường kính, bán kính, v.v., trong khi chính đường tròn là hình trong miền ý niệm của không gian hai chiều Điều này cho thấy một cấu trúc ngữ nghĩa có thể là ý niệm trong một miền ý niệm hoặc đóng vai trò là nền tảng cho các hình ý niệm khác Đối với khái niệm không gian, chúng ta gần như không tìm thấy miền ý niệm nào làm nền cho nó, vì theo Johnson và Lakoff (1980), ý niệm không gian xuất phát từ trải nghiệm thực tế của con người Chính vì vậy, ý niệm không gian có nguồn gốc chủ yếu từ trải nghiệm hàng ngày của con người.

Trong bài viết của mình, tác giả nhấn mạnh rằng không gian là một miền ý niệm cơ bản, không thể định nghĩa bằng cách dựa trên các ý niệm khác Theo định nghĩa của Langacker, miền ý niệm cơ bản gồm những ý niệm nền tảng mà chúng ta không thể xác định dựa trên các ý niệm cơ bản khác, làm nền tảng cho sự hiểu biết về không gian Điều này cho thấy vai trò quan trọng của các ý niệm cơ bản trong cấu trúc nhận thức và sự xây dựng kiến thức trong lĩnh vực ngôn ngữ và tư duy.

Ngoài các miền ý niệm cơ bản, các miền ý niệm còn lại được Langacker gọi là miền ý niệm trừu tượng, trong đó ví dụ điển hình là ý niệm đường tròn như là nền của ý niệm cung Miền ý niệm trừu tượng thường chứa đựng một miền ý niệm khác, tạo thành một mạng lưới các tầng lớp phức tạp Chẳng hạn, ý niệm đường tròn là nền cho ý niệm cung, trong khi ý niệm đường tròn lại nằm trong miền ý niệm hình dạng, và miền ý niệm hình dạng lại nằm trong miền ý niệm không gian hai chiều Điều này cho thấy chúng ta có thể hình thành mạng lưới nhiều miền ý niệm trừu tượng đan xen và phân tầng nhau, với miền ý niệm cơ bản nằm ở tầng trên cùng.

Ý niệm con người được xác định thông qua mối quan hệ với các miền ý niệm khác như thực thể tự nhiên, thực thể xã hội, thực thể có ý chí, cơ thể sống và cảm xúc Khi bàn về ý niệm con người, ta có thể dễ dàng hình thành một tập hợp các miền ý niệm đa dạng, phản ánh tính phức tạp và đa chiều của khái niệm này Theo quan điểm của Langacker, việc tập hợp các miền ý niệm khác nhau giúp hiểu rõ hơn về bản chất và đặc trưng của ý niệm con người trong các ngữ cảnh khác nhau.

Miền ý niệm của một ý niệm có thể rất phức tạp, ví dụ như miền ý niệm vật thể bao hàm vật chất, hình dạng, và vị trí, phản ánh sự liên kết của các miền ý niệm trừu tượng trong nền không gian William Croft (1993) đã minh họa sự phức tạp này qua ví dụ ký tự T trong bảng chữ cái, mô tả nó là một phần của hệ thống chữ viết, hoạt động viết liên quan đến thông tin liên lạc và cảm nhận thị giác, và còn liên quan đến miền ý niệm về thời gian, lực tác động, cũng như miền ý niệm về con người, có khả năng trí tuệ và tình cảm Phân tích này cho thấy việc mô tả ký tự T chỉ trong mối quan hệ với hệ thống chữ viết là không đầy đủ, bởi đa số ý niệm trong đó đều nằm trong các miền ý niệm trừu tượng phức tạp, và các miền ý niệm này được chiếu trong các miền ý niệm tổ hợp phức tạp hơn.

Việc mô tả cấu trúc miền ý niệm ở tầng sâu của một khái niệm không hề đơn giản, vì ngữ nghĩa liên quan đến tri thức bách khoa về thế giới của con người Langacker gọi miền ý niệm của ký tự T trong bảng ký tự Latin là miền ý niệm chủ yếu, do đây là nơi chứa đựng các dữ kiện quan trọng nhất về khái niệm đó Ký tự T là chữ cái thứ 20 trong bảng chữ cái Latin, đòi hỏi phải xem xét đến miền ý niệm thứ tự, đồng thời T cũng liên quan đến đơn vị âm thanh, là phụ âm, mở rộng phạm vi sang miền ý niệm cảm nhận âm thanh Ngoài ra, còn nhiều miền ý niệm khác liên quan đến ký tự T cần được xác định để hiểu đầy đủ về vai trò và ý nghĩa của nó trong hệ thống ngôn ngữ.

Miền ý niệm là một cấu trúc ngữ nghĩa đóng vai trò là nền tảng cho ít nhất một ý niệm, giúp chúng ta hiểu rõ các tầng của cấu trúc ngữ nghĩa qua tri thức tổng quát, hình ảnh và nền tảng Theo định nghĩa của Langacker (1987), miền ý niệm trừu tượng chứa đựng một miền ý niệm khác và thường gặp trong ngôn ngữ, trong khi miền ý niệm cơ bản là những ý niệm không thể định nghĩa bằng cách xác định các ý niệm cơ bản khác làm nền Miền ý niệm chủ yếu là miền ý niệm trực tiếp nhất giúp chúng ta xác định ý nghĩa của các cấu trúc ngữ nghĩa, đồng thời là nền tảng xác định cấu trúc của ẩn dụ và hoán dụ ý niệm.

Vai trò của miền ý niệm trong ẩn dụ và hoán dụ ý niệm

Ẩn dụ đã được công nhận như một phương pháp tu từ hiệu quả trong ngôn ngữ văn chương và đời thường, dựa trên quy luật liên tưởng tương đồng để chuyển nghĩa giữa các sự vật có điểm giống nhau Theo Lakoff và Johnson trong cuốn sách “Metaphor We Live By” (1980), ẩn dụ không chỉ đơn thuần là cách gọi tên sự vật này để ám chỉ sự vật khác, mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành ý nghĩa hàm ẩn trong ngôn ngữ Thuyết về ẩn dụ ý niệm của họ đã thu hút sự quan tâm đặc biệt trong lĩnh vực ngôn ngữ học tri nhận, chứng minh rằng ẩn dụ xuất hiện rộng rãi trong lời nói hàng ngày, không chỉ trong văn chương Trong luận án, phần phân tích các loại ẩn dụ sẽ dựa trên lý thuyết của Lakoff và Johnson, nhằm làm rõ vai trò của ẩn dụ trong hoạt động tri nhận và truyền đạt ý nghĩa trong ngôn ngữ.

[134] Lí thuyết này có thể minh họa một cách đơn giản bằng sự khác biệt dưới đây giữa hai câu sau:

- Tôi đang ở trong phòng làm việc

- Tôi đang ở trong trạng thái lo lắng

Theo quan điểm của Lakoff và Johnson, ẩn dụ ý niệm là hiện tượng ý niệm hóa một miền ý niệm từ cấu trúc của miền ý niệm khác Ẩn dụ ý niệm chính là những chiếu xạ giữa các miền ý niệm, trong đó cả miền nguồn và miền đích đều không tạo thành miền ý niệm tổ hợp cho các khái niệm liên quan Ví dụ, việc sử dụng giới từ “trong” để thể hiện mối quan hệ giữa người nói và trạng thái tình cảm không phản ánh việc tạo ra chiếu xạ giữa không gian và tình cảm, mà chỉ có miền ý niệm tình cảm được ý niệm hóa theo kiểu tương tự hoặc tương đương với không gian thông qua cách dùng giới từ “trong”.

Để hiểu rõ lý thuyết của Johnson và Lakoff về ẩn dụ ý niệm, cần xác định các miền ý niệm tham gia vào quá trình hình thành ẩn dụ Mô tả chính xác ẩn dụ đòi hỏi các miền ý niệm chính liên quan phải được coi là tương đương nhau Ví dụ như Johnson và Lakoff (1980:73) đề xuất ẩn dụ “vật thể có nguồn gốc từ vật chất” để miêu tả các tình huống, trong đó hai miền ý niệm cơ bản phải có mối liên hệ tương đương.

- You can make ice out of water by freezing it (Bạn có thể làm nước đá bằng cách cho nước đóng băng)

- I made a paper airplane out of a sheet of newspaper (Tôi gấp một chiếc máy bay bằng tờ báo)

Theo phân tích của Johnson và Lakoff, ẩn dụ ý niệm “vật thể có nguồn gốc từ vật chất” giúp chúng ta hình dung sự thay đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác có hình dạng và chức năng mới Phương tiện biểu đạt chính trong ẩn dụ này là giới từ “out of”, thể hiện quá trình sáng tạo như một hành động di chuyển hoặc xuất phát Miền ý niệm nền của ẩn dụ này là sự sáng tạo, lấy chuyển động làm trung tâm để diễn đạt ý nghĩa, ví dụ như “Sáng tạo là hoạt động” (Creation is motion) Cả hai miền ý niệm trừu tượng này còn liên quan đến các miền ý niệm khác như thời gian, sự thay đổi và nơi chốn, góp phần làm phong phú cách diễn đạt về sáng tạo.

Croft (1993) nhấn mạnh việc cần xem xét miền ý niệm nền của từ ngữ khi định nghĩa ẩn dụ, điều này không phải lúc nào cũng dễ dàng thực hiện Ví dụ nổi bật do Johnson và Lakoff (1980:49) trình bày là “Tình yêu là bệnh nhân” (Love is patient), nhằm minh họa cách ẩn dụ phản ánh các khái niệm sâu sắc trong ngôn ngữ và cách chúng ta hình thành nghĩa mới dựa trên các liên tưởng từ miền ý niệm nền.

- This is a sick relationship (Đây là một quan hệ bệnh hoạn)

- They have a strong, healthy marriage (Họ có một cuộc hôn nhân lành mạnh)

- The marriage is dead – it can‟t be revived (Hôn nhân của họ đã chết Không thể hồi sinh được)

- Their marriage is on the mend (Hôn nhân của họ đang phục hồi)

- We are getting back on our feet (Chúng tôi đang trở lại như xưa)

- Their relationship is in really good shape (Mối quan hệ của họ thật là tốt đẹp)

- They „ve got a listless marriage (Họ có một cuộc hôn nhân mệt mỏi)

- Their marriage is on its last legs (Cuộc hôn nhân của họ đang suy sụp)

- It‟s a tired affair (Đó là một câu chuyện mệt mỏi)

Những từ “sick”, “strong”, “healthy”, “listless” v.v đều nằm trong miền ý niệm

Trạng thái cơ thể đóng vai trò quan trọng trong cảm xúc và sức khỏe của chúng ta Chính vì vậy, có thể ví tình yêu như là một trạng thái của cơ thể, phản ánh sự cân bằng và năng lượng bên trong Các thành ngữ như “back on our feet” (đã trở lại trạng thái bình thường), “in really good shape” (ở trong trạng thái thể chất tốt) thể hiện rõ mức độ khỏe mạnh và cân đối của cơ thể, góp phần diễn đạt trạng thái tinh thần tích cực khi yêu thương hoặc phục hồi sau khó khăn.

Cụm từ “on its last legs” là một ẩn dụ mang ý niệm về các trạng thái của cơ thể Trong khi đó, các từ “dead” và “revived” lại phản ánh các trạng thái trong miền ý niệm về cuộc đời Miền ý niệm về cuộc đời liên quan chặt chẽ đến hình ảnh cơ thể sống, với trạng thái sống hoặc sống lại là nền tảng cho cách diễn đạt về cơ thể Hai từ này là một phần của ẩn dụ lớn hơn mang tên “Tình yêu là cuộc sống”, điều này được minh chứng qua các ví dụ trong thực tế.

- Tính ích kỉ có thể giết chết tình yêu

- Sau hôn nhân, tình yêu của họ lại được tiếp thêm sinh khí mới

Các ẩn dụ “Tình yêu là một trạng thái cơ thể” và “Tình yêu là cuộc sống” đều liên quan đến nhau nhưng không thể hợp nhất thành một ẩn dụ tổng thể như “Tình yêu là một thực thể sống” do các đặc điểm khác nhau của thế giới sống không thể hoàn toàn áp dụng cho tình yêu, đặc biệt là các yếu tố về hoạt động và bộ phận cơ thể Miền ý niệm đóng vai trò quan trọng trong việc xác định cấu trúc của ẩn dụ, giúp chúng ta hiểu mối liên hệ giữa các ẩn dụ khác nhau và khám phá các cấu trúc ý niệm liên quan Ví dụ được Lakoff và Johnson trình bày trong quyển “Metaphor We Live By” minh họa cách miền ý niệm giúp xác định và phân tích các hình thức ẩn dụ trong cuộc sống hàng ngày.

- Our relationship has hit the buffers (Quan hệ của chúng tôi không tiến triển được nữa)

- We are at the crossroads (Chúng tôi đang ở ngã tư đường)

- Look how far we have come (Hãy xem này, chúng ta đã đi được khá xa rồi)

- It has been a long winding road (Chặng đường vừa qua quả là dài dằng dặc)

- We may have to go our separate ways (Chúng ta có thể phải đường ai nấy đi)

Lakoff và Johnson bắt đầu bằng việc xác định miền ý niệm nguồn và miền ý niệm đích, cùng với các chiếu xạ giữa hai miền này, từ đó họ rút ra ẩn dụ ý niệm quan trọng trong lý thuyết của mình.

Xây dựng mối quan hệ tốt với người khác là một hành trình đầy thử thách, thể hiện qua các cụm từ như “hit the buffers”, “at the crossroads” hay “a long winding road”, tượng trưng cho quá trình bắt đầu, những quyết định quan trọng và chặng đường dài phía trước Trong hành trình này, các yếu tố như điểm khởi đầu, mục tiêu chung và những trở ngại dọc đường ảnh hưởng đến sự tiến triển của mối quan hệ Khi có những xung đột hoặc mâu thuẫn, giống như gặp chướng ngại vật trên đường đi, cảm xúc trong tình cảm cũng có thể bị tổn thương và khó khăn Nếu hai người không còn cùng chung mục tiêu hay lợi ích, họ sẽ chia tay, tượng trưng cho việc kết thúc hành trình Thông qua việc phân tích các liên hệ hệ thống giữa miền ý niệm nguồn và miền ý niệm đích, chúng ta có thể hiểu rõ hơn về nghĩa hàm ẩn trong cấu trúc ngữ nghĩa, từ đó nhận diện các yếu tố cốt lõi góp phần xây dựng và duy trì mối quan hệ lâu dài.

Trong hoán dụ, miền ý niệm thường không có vai trò trực tiếp, nhưng khi khảo sát cấu trúc hoán dụ ý niệm, ta thấy nó rất phổ biến Theo Lakoff và Turner (1989), hoán dụ chỉ xảy ra trong một miền ý niệm duy nhất, khác với ẩn dụ, vốn có thể chiếu xạ giữa nhiều miền ý niệm khác nhau Thuật ngữ “lược đồ hình ảnh” được dùng để mô tả các cấu trúc miền ý niệm phức tạp hoặc tổ hợp, giúp làm rõ hơn về đặc điểm của hoán dụ Croft (1993) định nghĩa hoán dụ là quá trình chiếu xạ chỉ diễn ra trong một miền ý niệm tổ hợp duy nhất, giúp phân biệt rõ hoán dụ với ẩn dụ ý niệm, vốn diễn ra giữa các miền ý niệm không cùng tổ hợp Trong khi đó, ẩn dụ ý niệm thường liên quan đến các chiếu xạ giữa các miền ý niệm không thuộc cùng một tổ hợp, như các ví dụ về cảm xúc và không thể xác định miền ý niệm định hướng không gian Tuy nhiên, vẫn có các trường hợp hoán dụ trong các cấu trúc mờ nghĩa, nơi các miền ý niệm trong cùng một tổ hợp đều đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu nghĩa của hoán dụ.

- Langacker nghiên cứu lĩnh vực ngữ pháp tri nhận

- Google là một công cụ tìm kiếm mạnh

- Google muốn mua đứt luôn Yahoo

Trong đoạn này, tác giả phân tích hai ví dụ về hiện tượng hoán dụ trong ngôn ngữ, bắt đầu bằng trường hợp nghĩa tường minh và sau đó là các hiện tượng hoán dụ Theo quan điểm tri nhận, công trình của Langacker và Google đều thuộc về các miền ý niệm tương ứng là “nhà nghiên cứu Langacker” và “công cụ tìm kiếm Google”, nhưng không giữ vai trò trung tâm như chính tác giả hay công cụ đó Tổ hợp miền ý niệm của nhà nghiên cứu Langacker bao gồm cả hoạt động sáng tạo, thể hiện qua nghiên cứu ngữ pháp tri nhận như một yếu tố của miền ý niệm này Hiện tượng chuyển nghĩa xảy ra tự nhiên và kéo theo việc chuyển miền ý niệm trong tổ hợp miền ý niệm; ví dụ, trong trường hợp của Google, quá trình phát triển công ty biến Google từ miền ý niệm về công cụ tìm kiếm sang miền ý niệm về hoạt động kinh doanh, qua đó chuyển hướng chú ý từ công cụ sang doanh nghiệp, phù hợp với khái niệm “làm nổi miền ý niệm” của Cruse (1986).

Theo Croft (1993), làm nổi miền ý niệm là một điều kiện cần nhưng chưa đủ để xác định hoán dụ Mối quan hệ giữa hiện tượng làm nổi miền ý niệm và hoán dụ khác biệt so với quan hệ giữa chiếu xạ miền ý niệm và ẩn dụ, khi mà chiếu xạ đóng vai trò quan trọng trong định nghĩa ẩn dụ Trong khi đó, làm nổi miền ý niệm không chỉ xuất hiện trong hoán dụ mà còn có thể thấy trong các hiện tượng mờ nghĩa không thể gọi là hoán dụ, cho thấy sự đa dạng của các hiện tượng ngôn ngữ liên quan đến miền ý niệm.

- Quyển sách đó rất dày

Quyển sách đó nói về tương lai thế kỷ 21, thể hiện qua hai miền ý niệm khác nhau: miền ý niệm vật thể và miền ý niệm ngữ nghĩa từ vựng Trong đó, “sách” được làm nổi bật trong miền vật thể nhờ vị ngữ “rất dày,” còn trong miền ý nghĩa từ vựng, “sách” được nhấn mạnh qua vị ngữ “nói về tương lai thế kỷ 21.” Tuy nhiên, không thể coi hai ý niệm này là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau, bởi vì chúng đều liên quan nội tại đến cùng một đối tượng “quyển sách,” và không có mối liên hệ nào với yếu tố bên ngoài, do đó, đây không phải là ví dụ của hoán dụ.

Tóm lại, ở chương 1, chúng tôi đã trình bày quan điểm tri nhận về thành ngữ, quá trình ý niệm hóa và cấu trúc miền ý niệm

Theo quan điểm tri nhận, các đơn vị cấu thành của thành ngữ liên quan chặt chẽ đến hoạt động tư duy, vì vậy nghĩa của thành ngữ có thể được suy ra thông qua cơ chế tri nhận hoạt động ý niệm hóa.

ẨN DỤ Ý NIỆM VÀ HOÁN DỤ Ý NIỆM

ẨN DỤ Ý NIỆM TRONG THÀNH NGỮ TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT CÓ YẾU TỐ CHỈ BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI

HOÁN DỤ Ý NIỆM TRONG THÀNH NGỮ TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT CÓ YẾU TỐ CHỈ BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI

ỨNG DỤNG CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THÀNH NGỮ DƯỚI GÓC ĐỘ TRI NHẬN VÀO VIỆC DẠY VÀ HỌC TIẾNG

Ngày đăng: 21/08/2023, 00:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
16. Lương Văn Đang, Nguyễn Lực, Nguyễn Đăng Châu (và nh.ng.khác) (1993), Thành ngữ tiếng Việt, Hà Nội, NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành ngữ tiếng Việt
Tác giả: Lương Văn Đang, Nguyễn Lực, Nguyễn Đăng Châu
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1993
17. Trần Văn Điền (1997), Học tiếng Anh bằng thành ngữ, TP. HCM, NXB TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học tiếng Anh bằng thành ngữ
Tác giả: Trần Văn Điền
Nhà XB: NXB TP.HCM
Năm: 1997
18. Nguyễn Công Đức (1996), Bình diện cấu trúc hình thái - ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Việt, luận án Phó tiến sĩ Khoa học Ngữ văn, Hà Nội, Viện ngôn ngữ học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình diện cấu trúc hình thái - ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Công Đức
Nhà XB: Viện ngôn ngữ học
Năm: 1996
19. Nguyễn Công Đức, Nguyễn Hữu Chương (2004), Từ vựng tiếng Việt, TP HCM, NXB Đại học Quốc gia TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Công Đức, Nguyễn Hữu Chương
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia TP.HCM
Năm: 2004
20. Đào Thị Dung (2004), Thành ngữ so sánh tiếng Việt và đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa, Luận văn thạc sĩ, TP. HCM, ĐH KHXH & NV TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành ngữ so sánh tiếng Việt và đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa
Tác giả: Đào Thị Dung
Nhà XB: ĐH KHXH & NV TP.HCM
Năm: 2004
21. Võ Thị Dung (2003), Tìm hiểu ẩn dụ tiếng Việt từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận, Luận văn Thạc sỹ, ĐH Sư phạm TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu ẩn dụ tiếng Việt từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận
Tác giả: Võ Thị Dung
Nhà XB: ĐH Sư phạm TP.HCM
Năm: 2003
22. Vũ Dung, Vũ Thúy Anh, Vũ Quang Hào (2000), Từ điển thành ngữ tục ngữ Việt Nam, Hà Nội, NXB Văn hóa - Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thành ngữ tục ngữ Việt Nam
Tác giả: Vũ Dung, Vũ Thúy Anh, Vũ Quang Hào
Nhà XB: NXB Văn hóa - Thông tin
Năm: 2000
23. Nguyễn Thiện Giáp (1975), Về khái niệm thành ngữ tiếng Việt, Ngôn ngữ, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về khái niệm thành ngữ tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Năm: 1975
24. Hoàng Văn Hành (1976), Về bản chất của thành ngữ so sánh trong tiếng Việt, Ngôn ngữ, (1), tr.11-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về bản chất của thành ngữ so sánh trong tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Năm: 1976
25. Hoàng Văn Hành (1987), Thành ngữ trong tiếng Việt, Văn hóa dân gian, (1), tr.25-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành ngữ trong tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Nhà XB: Văn hóa dân gian
Năm: 1987
27. Hoàng Văn Hành (2002), Kể chuyện thành ngữ tục ngữ, Hà Nội, NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kể chuyện thành ngữ tục ngữ
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2002
28. Hoàng Văn Hành (2003), Thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng trong tiếng Việt, Ngôn ngữ, (6), tr.6-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng trong tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Nhà XB: Ngôn ngữ
Năm: 2003
29. Cao Xuân Hạo (1991), Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng, Hà Nội, NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1991
30. Cao Xuân Hạo, Hoàng Dũng (2005), Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học đối chiếu Anh - Việt, Việt - Anh, Hà Nội, NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học đối chiếu Anh - Việt, Việt - Anh
Tác giả: Cao Xuân Hạo, Hoàng Dũng
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2005
26. Hoàng Văn Hành (2001), Các kiểu thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng, Ngôn ngữ, (8), tr.1-6 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Lƣợc đồ tri nhận nghĩa điển dạng của “over” (The plane flew over) - Thành ngữ tiếng anh và thành ngữ tiếng việt có yếu tố chỉ bộ phận cơ thể người dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận
Hình 1 Lƣợc đồ tri nhận nghĩa điển dạng của “over” (The plane flew over) (Trang 189)
Hình 2: The bird flew over the yard. (X.NC) - Thành ngữ tiếng anh và thành ngữ tiếng việt có yếu tố chỉ bộ phận cơ thể người dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận
Hình 2 The bird flew over the yard. (X.NC) (Trang 190)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w