Sự phức tạp trên đã dẫn đến tình trạng là người Việt dạy tiếng Việt, lại không thể trả lời cho học sinh, sinh viên một cách nhất quán những vấn đề các em thắc mắc: tại sao câu này em viế
Trang 1VIẾT VĂN MẠCH LẠC
Trang 2Tuy nhiên, mạch lạc không phải là một vấn đề dễ nắm bắt Do tính mơ hồ và phức tạp của đối tượng nên chưa có nhiều công trình nghiên cứu về nội dung này Nhưng vì sự bức xúc trong thực tế giảng dạy ở nhà trường phổ thông nên chúng tôi mạo muôïi chọn đề tài này làm luận văn nghiên cứu, nhằm tìm ra những giải pháp tương đối có thể áp dụng được trong việc góp phần nâng cao chất lượng sử dụng tiếng Việt cho học sinh phổ thông
Khi chọn đề tài này, chúng tôi biết rằng đây là một tham vọng Nhưng điều vô cùng may mắn là chúng tôi có được nguồn động viên lớn lao của Thầy Cô trong suốt khóa học, được tiếp thu những vấn đề mà Thầy Cô tâm huyết, được nghiên cứu trao đổi về những công trình khoa học, được tham dự những hội nghị nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt, v.v
Chúng tôi chân thành cảm ơn Trường Đại học Sư phạm TP HCM, Phòng Khoa học và Công nghệ Sau đại học, cùng toàn thể Thầy Cô đã quan tâm, tạo điều kiện, giảng dạy và hướng dẫn cho chúng tôi hoàn thành chương trình khóa học Lý luận ngôn ngữ
Chúng tôi vô cùng biết ơn PGS TS Trịnh Sâm, người Thầy chủ nhiệm luôn luôn quan tâm, khuyến khích, động viên chúng tôi khắc phục khó khăn, phấn đấu vươn lên Chúng tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với TS Dư Ngọc
Trang 3trong gia đình, bạn bè và đồng nghiệp, trong thời gian qua, đã hết lòng động viên và giúp đỡ chúng tôi
Cuối cùng, cũng vì tính chất phức tạp của vấn đề mà khả năng của người nghiên cứu thì có hạn nên sẽ không thể tránh khỏi những nhận định thiếu sức thuyết phục và sai sót Chúng tôi rất mong được sự chân thành đóng góp, đồng tình ủng hộ và rộng lượng tha thứ của người đọc Xin cảm ơn
TP Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2004 Tác giả luận văn
PHAN THỊ AI
Trang 44 Phương pháp nghiên cứu 13
CHƯƠNG MỘT : Tổng quan về văn bản và mạch lạc trong văn bản 16
1 Khái niệm về ngữ pháp văn bản và văn bản 16
1.1.2 Ý nghĩa của lý thuyết văn bản ở trường phổ thông 19
1.2.2 Khái niệm về văn bản trong sách giáo khoa phổ thông 22
2.1.1 Tính hoàn chỉnh về nghĩa của văn bản 23 2.1.2 Tính hoàn chỉnh về cấu trúc của văn bản 25 2.1.3 Tính liên kết và mạch lạc của văn bản 28 2.2 Đặc điểm của văn bản nói và văn bản viết 31
Trang 53.2.2 Đoạn văn đặc biệt 38
3.3.2 Các phép liên kết được sử dụng trong đoạn văn 39
4.2 Phân biệt giữa mạch lạc và liên kết
49
4.2.1 Sự liên quan giữa mạch lạc và liên kết 49 4.2.2 Sự khác nhau giữa liên kết và mạch lạc 52
CHƯƠNG HAI: Các yếu tố tạo nên mạch lạc trong văn bản 56
1 Mạch lạc được tạo nên bởi các phép liên kết 56
Trang 685
CHƯƠNG BA: Những lỗi viết văn thiếu mạch lạc của học sinh phổ thông 91
4 Lỗi trong xây dựng văn bản và cách khắc phục 118
Trang 81.1 Từ trước đến nay, kiến thức về ngữ pháp Việt Nam mà chúng ta cung cấp cho các em học sinh vẫn còn nhiều vấn đề chưa thống nhất: cấp một khác cấp hai, cấp hai khác cấp ba, bậc phổ thông khác bậc đại học, cụ thể về từ như từ đơn, từ ghép; về câu như việc xác định các thành phần câu và việc xác định câu đúng, câu sai thì lý thuyết đôi khi lại khác thực tiễn, v.v Tất cả tạo nên một mớ bòng bong không sao gỡ được Đến mức người ta phải thốt lên rằng “Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam”
Sự phức tạp trên đã dẫn đến tình trạng là người Việt dạy tiếng Việt, lại không thể trả lời cho học sinh, sinh viên một cách nhất quán những vấn đề các em thắc mắc: tại sao câu này em viết thì bị nhận xét là sai ngữ pháp, trong khi thực tế sử dụng ngôn ngữ cho thấy rằng những câu “sai” như thế tồn tại với một số lượng rất lớn trong đủ loại phong cách văn bản và được xem là đúng, hay và sáng tạo Tất cả các vấn đề trên đã và đang được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
Song song với những tồn tại vừa nêu, vẫn còn nhiều vấn đề quan trọng và khá bức xúc nhưng chưa được nhiều người quan tâm Chúng ta đều biết rằng đơn vị trong giao tiếp không phải là câu mà là văn bản Và chuỗi câu chỉ trở thành văn bản khi nó mạch lạc Khi đó sự giao tiếp mới có hiệu quả và không xảy ra hiện tượng “Ông nói gà, bà nói vịt” Nhưng mạch lạc là gì, một bài văn mạch lạc là một bài văn như thế nào thì chưa được xác định rõ
Trang 9Vấn đề ở đây là việc viết đúng hay sai ngữ pháp không quan trọng bằng việcï diễn đạt rõ ràng, khúc chiết và mạch lạc Chúng ta biết rằng: “Văn chương hay, dù chỉ một đoạn, một câu cũng phải có mạch lạc chặt chẽ Chúng ta có thể quan sát
đoạn văn saụ: (a)Điều đáng chú ý là thiên nhiên chuyển biến thật mau lẹ, vũ trụ vận
động thật nhanh chóng (b) Cả vũ trụ bao la từ mặt đất đến bầu trời bỗng rực rỡ tươi sáng (c) Trong chốc lát màu hồng thay thế cho bóng tối đêm tàn (d) Để nhấn mạnh sự biến đổi mau chóng và triệt để ấy, Bác đã dùng cụm từ “dĩ thành hồng”, “tảo nhất không”
Chúng ta thấy rằng sự sắp xếp các câu trong đoạn văn trên chưa mạch lạc Tuy từng câu rất đúng ngữ pháp, nhưng người đọc/ người nghe vẫn cảm nhận rằng chuỗi sự kiện được nêu lên một cách rời rạc và lủng củng Nếu chúng ta chuyển đổi
vị trí của các câu, ví dụ sắp xếp lại như: a, d, c, b thì đoạn văn trên sẽ trở nên rõ ràng, chặt chẽ và mạch lạc
Hiện nay, lỗi diễn đạt rời rạc, dài dòng, lộn xộn, lủng củng và khó hiểu chiếm đa số trong bài viết của học sinh phổ thông và đang gióng lên hồi chuông báo động Cho nên, việc hướng dẫn các em rèn luyện kỹ năng diễn đạt rõ ràng, mạch lạc để tạo sự tường minh cho những chuỗi phát ngôn, cho văn bản là vô cùng cấp thiết Vì chỉ trong những điều kiện rèn luyện như vậy, kỹ năng viết văn của các
em mới được trau giồi thường xuyên và liên tục Hiệu quả của việc sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp mới được nâng cao Do bởi tầm quan trọng như đã trình bày trên nên chúng tôi mạo muội chọn vấn đề mạch lạc văn bản và việc hướng dẫn học sinh viết văn mạch lạc làm đề tài nghiên cứu cho luận văn này
1.2 Đây là một vấn đề vô cùng phức tạp, nhiều nhà nghiên cứu đánh giá mạch lạc là hiện tượng khá mơ hồ, là không tường minh, là khó nắm bắt Người ta
Trang 10dễ dàng nhận diện một bài văn không mạch lạc chứ không dễ gì đưa ra các tiêu chuẩn thế nào là mạch lạc Đã rất nhiều thập kỷ qua, trong nhà trường, giáo viên cố gắng dạy các em viết tập làm văn Từ lớp hai là đã bắt đầu tập viết văn Thế nhưng kết quả đạt được hãy còn rất khiêm tốn, chỉ có một số ít, không quá 20% học sinh viết tốt Viết tốt ở đây nghĩa là diễn đạt rõ ràng, trôi chảy, lưu loát; thật ra cũng chưa có sự sáng tạo và sâu sắc Số còn lại, không kể sai về chính tả, dùng từ, đặt câu thì chủ yếu là sai về diễn đạt như: rời rạc, lộn xộn, luộm thuộm, lủng củng, v.v làm cho lời văn nặng nề, dài dòng, tối nghĩa và thiếu mạch lạc
Sự yếu kém trên không thể quy hết trách nhiệm cho giáo viên Bởi vì người dạy chưa từng được trang bị một cách đầy đủ vốn tri thức này Thực ra, những kiến thứïc về ngữ pháp văn bản chỉ mới hình thành và phát triển ở Việt Nam từ những năm 80 và chính thức đưa vào dạy ở cấp Trung học cơ sở vào những năm 90, nhưng chỉ dừng lại ở cách xây dựng đoạn văn, liên kết trong văn bản Do vậy, việc nghiên cứu những lĩnh vực trên là vô cùng cần thiết Nó sẽ giúp cho giáo viên có cơ sở để hướng dẫn học sinh rèn luyện kỹ năng viết văn ngày càng tốt hơn Diễn đạt được sự suy nghĩ của mình một cách rõ ràng, mạch lạc và sâu sắc hơn
1.3 Bơiû tính phức tạp của vấn đề như vậy, mà nguồn tài liệu tham khảo thì lại vô cùng hiếm hoi, nên việc nghiên cứu sẽ gặp rất nhiều khó khăn Tuy nhiên, nhu cầu thực tế giảng dạy và tình hình viết văn của học sinh phổ thông hiện nay không cho phép chúng tôi chùng bước Với khả năng hiểu biết, dù còn nhiều hạn chế của mình, nhưng để hoàn thành nhiệm vụ dạy học, chúng tôi vẫn mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu này với hy vọng rằng sẽ tìm ra những giải thuyết tường minh hơn về mạch lạc văn bản để giúp giáo viên và học sinh phổ thông có điều kiện nghiên cứu một cách có hệ thống hơn Kế thừa những tri thức quý báu từ các tài liệu tham
Trang 11khảo, phân tích cứ liệu từ bài làm của học sinh phổ thông, chúng tôi sẽ cố gắng phác họa nên những vấn đề cơ bản, cần thiết giúp cho học sinh hiểu biết thêm về mạch lạc văn bản.
2 PHẠM VI CỦA ĐỀ TÀI
Mảnh đất nghiên cứu về ngữ pháp nói chung và ngữ pháp văn bản cũng như ngữ dụng học nói riêng là mảnh đất vô cùng mầu mỡ Rất nhiều vấn đề phức tạp và không kém phần thú vị Nội dung nào cũng cần thiết và quan trọng Tuy nhiên, khả năng người nghiên cứu thì có hạn Để việc nghiên cứu được tập trung, nội dung giải quyết phù hợp với đề tài đặt ra, chúng tôi sẽ lần lượt trình bày những vấn đề cơ bản của văn bản như khái niệm, đặc điểm chung và đặc điểm riêng của văn bản nói, văn bản viết; đoạn văn, các cấu trúc của đoạn văn và phép liên kết
Thứ đến là vấn đề mạch lạc văn bản với các nội dung như: khái niệm về mạch lạc; phân biệt giữa mạch lạc và liên kết; mạch lạc có liên kết và mạch lạc không sử dụng phép liên kết trong các yếu tố tạo nên sự mạch lạc văn bản Đây là nội dung trọng tâm Do tính phức tạp của vấn đề chúng tôi chủ yếu tập trung nghiên cứu tính mạch lạc trong văn bản tập làm văn của học sinh phổ thông Và từ cơ sở này giúp học sinh hiểu được thế nào là diễn đạt mạch lạc
Luận văn sẽ trình bày theo quan điểm là kế thừa những thành tựu nghiên cứu về nội dung mạch lạc văn bản của các nhà ngôn ngữ trong và ngoài nước; dựa vào những bài viết cụ thể của học sinh phổ thông để phân tích các lỗi diễn đạt và tìm ra cách khắc phục
3 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ Thuật ngữ mạch lạc chỉ mới xuất hiện trong những thập kỷ gần đây, trong giai đoạn thứ hai của việc nghiên cứu văn bản Rõ ràng khái niệm mạch lạc văn
Trang 12bản là một vấn đề khá mới mẻ và cũng khá phức tạp, được đề cập đến trong những công trình nghiên cứu Greimas (1966), Todorov (1968), Van Dijk (1973), Gutwimsk (1976), Halliday và Hasan (1976), Widdowson (1978), De Beaugrande (1980), Green (1989), David Nunan (1993), D Togeby (1994), Gillian Brown và George Yule (qua bản dịch của Trần Thuần (2002)
Cụ thể qua tác giả Van Dijk (1973), trong công trình nghiên cứu “Những mô
hình của ngữ pháp văn bản”, với ví dụ “Chúng ta sẽ có một số khách ăn trưa Calderon (đã) là một nhà văn lớn Tây Ban Nha.”, để lập luận phản bác lại quan
điểm cho rằng hai câu đứng gần nhau là mạch lạc với nhau, ông nhận xét rằng hai câu đứng gần nhau có thể không mạch lạc với nhau Theo ông, bởi vì giữa hai câu này không có hiện tượng nhắc lại từ, cũng không có yếu tố câu này chưa rõ nghĩa đòi hỏi phải giải thích bằng yếu tố khác của câu kia và giữa chúng cũng không dễ dàng gì thiết lập quan hệ nghĩa với nhau (chúng tôi gạch dưới) Như vậy, rõ ràng qua nhận xét này ta có thể hiểu được quan niệm của Van Dijk về mạch lạc ít nhất phải hội tụ đủ ba yếu tố trên
Ngữ pháp truyện của T.Todorov (1968) và được phát triển lên bởi Rumelhart (1975) cùng với các đồng nghiệp của ông là S.Garrod và A.Sanford cho rằng tính hợp lý lắng sâu bên trong ngữ pháp truyện là ở chỗ các truyện tuân theo một khuôn
hình mềm dẻo nhưng có thể khuôn định trong những quy tắc loại như quy tắc viết
lại (xem DQB, 2002, tr 200) Và theo các ông, cấu trúc nào của ngữ pháp truyện
làm thành được cái khung cho mạch lạc của truyện thì cấu trúc đó đúng (tính đúng
ở đây, theo Foucault định nghĩa, là một hệ thống các thủ tục được sắp đối với việc sản xuất, việc điều chỉnh, việc phân phối, việc lưu thông và việc thao tác trong trình bày) Ở đây, mạch lạc được các tác giả đề cập trong ngữ pháp truyện
Trang 13Năm 1976, Halliday và Hasan với “Liên kết trong tiếng Anh” tuy không
nghiên cứu trực tiếp về mạch lạc nhưng qua tác phẩm có thể hiểu quan niệm về mạch lạc của các tác giả này như sau: “… chất văn bản bao gồm nhiều hơn, không chỉ là sự có mặt của những quan hệ nghĩa thuộc loại mà chúng tôi qui về liên kết – sự phụ thuộc của yếu tố này vào yếu tố khác để giải thích được nó Nó bao gồm một chừng mực nào đó của mạch lạc trong các ý nghĩa được diễn đạt: không chỉ hoặc không phải chủ yếu là ở NỘI DUNG, mà ở sự lựa chọn TOÀN BỘ từ các nguồn ý nghĩa của ngôn ngữ đó, bao gồm cả các thành tố liên nhân khác nhau, các thức, các tình thái, các độ mạnh và những hình thái khác nữa mà người nói nhồi nhét vào trong tình huống nói” (Halliday & Hasan, 1976, tr 22)
Đến năm 1978, H.G.Widdowson với “Dạy tiếng theo giao tiếp” đã phân biệt
sự liên kết văn bản với mạch lạc diễn ngôn Theo tác giả, mạch lạc diễn ngôn biểu hiện trong khả năng dung hợp nhau của các hành động nói Khả năng dung hợp thể hiện qua cấu trúc theo qui ước của tương tác lời nói Chính cấu trúc này cung cấp lời giải thích cho cách thức một số phát ngôn rõ ràng là không móc nối với nhau về mặt hình thức (không có liên kết) lại có thể được giải thuyết trong phạm vi một thể loại tương tác lời nói nào đó, là tạo ra chuỗi lời nói mạch lạc Ông đưa ra ví dụ như:
A: That’s the telephone (Có điện thoại) B: I’m in the bath (Anh đang tắm) A: OK (Thôi được)
Chuỗi lời nói này là diễn ngôn mạch lạc Còn liên kết văn bản thì được nhận biết trên từ ngữ, ngữ pháp bề mặt và trong sự triển khai mệnh đề một cách logic Edmonson (1981) cũng khảo sát vấn đề về cái gì phân biệt văn bản với phi văn bản (tức là, các văn bản mạch lạc với các văn bản không mạch lạc) Ông quả quyết rằng khó mà tạo ra những phi văn bản từ những câu đứng cạnh nhau bởi vì
Trang 14nói chung có thể tạo ra một vài kiểu ngữ cảnh đem lại tính mạch lạc cho bất kỳ tập hợp câu nào Ông phản đối điều khẳng định của Van Dijk, Widdowson, Edmonson và đưa ra những ví dụ rất ngắn để cung cấp những văn bản hiểu được khi không có các đánh dấu liên kết
Năm 1983, trong tác phẩm “Phân tích diễn ngôn”, G Brown và G.Yule đã dành hẳn một chương cuối cùng cho “Tính mạch lạc trong việc giải thuyết diễn ngôn” Trong chương này, tác giả đã trích dẫn quan điểm của Labov (1970) “nhận
ra tính mạch lạc và không mạch lạc ở các chuỗi hội thoại không dựa trên cơ sở mối quan hệ giữa các phát ngôn, mà là giữa các hành động được thực hiện bằng các phát ngôn này” [Brown & Yule, 2002, tr.351]
Năm 1989, Georgia M.Green là người xem xét mạch lạc trên cơ sở của nguyên tắc cộng tác do Grice đề xướng Ông cho rằng: “Mạch lạc của văn bản không phải là vấn đề của những đặc trưng dành riêng cho văn bản, mà là vấn đề của cái sự thật có thể coi là: việc những người tiếp nhận văn bản có năng lực suy luận bằng mọi cách là việc cần thiết để chắp nối nội dung của các câu cá thể lại với nhau”, và học chắp nối “bằng cách làm rõ việc suy ra một trình tự thực hiện cái dàn ý được suy ra để đạt đến cái mục tiêu được suy ra” Đồng thời, Green thừa nhận có nhiều cách tiếp cận khác nhau đối với mạch lạc Do vậy, cách tiếp cận của ông đối với mạch lạc có thể gọi là mạch lạc theo nguyên tắc cộng tác
David Nunan, 1993, trong “Phân tích dẫn nhập diễn ngôn”, tác giả nhất trí với ý niệm cho rằng liên kết không “tạo ra” mạch lạc và việc thiết lập tính mạch lạc là việc người đọc/ người nghe có sử dụng kiến thức ngôn ngữ của họ để liên hệ thế giới diễn ngôn với những con người, vật thể, sự kiện và sự thể bên ngoài bản thân văn bản v.v
Trang 15Trong khi đó, ở Việt Nam, những công trình nghiên cứu về mạch lạc hãy còn
khiêm tốn Công trình nghiên cứu đầu tiên, tỉ mỉ và chặt chẽ nhất là Hệ thống liên
kết văn bản tiếng Việt (1985) của Trần Ngọc Thêm Trong công trình này, tác giả
chủ yếu đề cập đến liên kết và hệ thống liên kết trong văn bản tiếng Việt Tuy nhiên, công trình có phân tích khá chi tiết về liên kết nội dung thể hiện qua liên kết
chủ đề và liên kết logic Khái niệm liên kết nội dung là của tác giả trong thời điểm
lúc bấy giờ; song cho đến nay, có lẽ cũng phù hợp với khái niệm mạch lạc của nhiều nhà ngôn ngữ học hiện nay Do vậy, công trình này có thể được xem là đầu tiên ở Việt Nam, có đề cập đến mạch lạc cũng không có gì là không chính xác
Công trình thứ hai là Văn bản và liên kết trong tiếng Việt (1998) của Diệp
Quang Ban, tác giả đầu tiên trình bày về vấn đề mạch lạc văn bản một cách khá chi
tiết Và đến năm 2002, quyển GIAO TIẾP-VĂN BẢN-MẠCH LẠC-LIÊN
KẾT-ĐOẠN VĂN ra đời, chính tác giả đã bổ sung, mở rộng và hiệu chỉnh mục nói về
mạch lạc (trong sách cũ 1998) thành Phần thứ ba: Mạch lạc, với việc giới thiệu
những nội dung rõ ràng và chi tiết hơn, xứng đáng hơn với vị trí thực hữu của mạch lạc trong quá trình tạo lập và giải thích văn bản
Trong công trình nghiên cứu ngữ pháp chức năng của tác giả Cao Xuân Hạo
“Câu trong tiếng Việt” quyển 1, tác giả đã đề cập đến vấn đề mạch lạc trong ngôn bản và liên kết câu với quan niệm “Khi ngôn bản gồm từ hai câu trở lên, giữa các
câu có một quan hệ nhất định khiến chúng không phải là bất kỳ đối với nhau: giữa chúng có một mạch lạc” và sự mạch lạc giữa các câu này được thực hiện bằng các phương tiện từ ngữ, ngữ pháp trong các câu và bằng bố cục Tác giả minh chứng
cho quan điểm của mình qua các dạng ví dụ cụ thể như: Lên tí nữa Tí nữa Sang trái
Trang 16một chút Được rồi đấy Đinh đây này Giữa năm câu trong ví dụ trên cho chúng ta
hình dung được ai đó đang định vị một vật
Đọc ví dụ này, mọi người đều có thể công nhận với nhau rằng giữa chúng có mạch lạc Bằng các ví dụ được lựa chọn điển hình, cụ thể, tác giả đã minh họa và phân tích trong một số trang ngắn ngủi, nhưng thực sự thể hiện được sự tường minh cho một hiện tượng không tường minh chút nào
Bên cạnh đó, còn có một số tác giả khác như Đỗ Hữu Châu, trong “Những luận điểm về cách tiếp cận ngôn ngữ học các sự kiện văn học” in trong tạp chí Ngôn ngữ số 2/ 1990, “Ngữ pháp văn bản” 1994, “Đại cương ngôn ngữ học” tập 2, 2001; Nguyễn Đức Dân “Logic và Tiếng Việt” 1998 cũng đã có một số quan điểm phác họa về mạch lạc đáng chú ý
Và gần đây cũng có một số bài viết về mạch lạc như: Trần Thị Vân Anh
“Mạch lạc theo quan hệ nguyên nhân trong Truyện Kiều” (2002), Nguyễn Thị Thìn
“Về mạch lạc của văn bản viết” (ứng dụng vào phân tích truyện ngắn Đám ma kỳ
lạ nhất mà tôi chứng kiến của Ezra M Cox) (2003),v.v
Tóm lại, lịch sử nghiên cứu về hiện tượng mạch lạc, chủ yếu được rút ra từ các tài liệu tiếng Anh và tiếng Việt, đã nêu bật một số quan điểm về mạch lạc
- Mạch lạc là một vấn đề khá trừu tượng và khó nắm bắt Vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm chưa đồng nhất về mạch lạc Và đa số tài liệu đều có đề cập nhiều đến mạch lạc trong phân tích diễn ngôn
- Mạch lạc là yếu tố quan trọng và chủ yếu tạo nên văn bản Khi gọi là một văn bản thì cũng có nghĩa là chính chuỗi phát ngôn đó đã mạch lạc và chắc chắn là mạch lạc Và ngược lại, không có mạch lạc, chuỗi phát ngôn này sẽ không trở thành văn bản
Trang 17- Mạch lạc và liên kết không phải là một Mạch lạc thể hiện ở bề sâu của quan hệ nghĩa, còn liên kết thể hiện ở bề mặt bằng các phương thức hình thức liên kết khứ chỉ, hồi chỉ, v.v Thực sự liên kết là một phương thức góp phần tạo nên mạch lạc văn bản
- Mạch lạc ở hội thoại khác mạch lạc trong văn bản viết Mạch lạc hội thoại thường gắn chặt với hoàn cảnh và tình huống phát ngôn; còn mạch lạc trong văn bản viết gắn chặt với chủ đề và toàn cảnh của văn bản
- Mức độ nhận định về mạch lạc của một văn bản tuỳ thuộc vào khả năng tư duy, thái độ tình cảm, trình độ hiểu biết và kiến thức nền của người đọc là chủ yếu Tuy nhiên, bên cạnh đó, cũng có một số yếu tố cơ bản giúp người đọc/ người nghe xác định được chuỗi câu mạch lạc và chuỗi câu không mạch lạc
Nhìn chung, vấn đề mạch lạc ở phương Tây cũng như ở Việt Nam chưa được đề cập đến nhiều nên đó chính là mảnh đất mầu mỡ cho các nhà nghiên cứu; tuy nhiên đấy cũng là sự khó khăn cho những người đang tập nghiên cứu như chúng tôi
Do vậy, chúng tôi sẽ phải cố gắng nỗ lực gấp nhiều lần hơn để kế thừa và phát huy một cách hiệu quả nhất từ những thành tựu của các tác giả nêu trên
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Sau khi đã xác định chọn “Mạch lạc trong văn bản và việc dạy học sinh phổ thông viết văn mạch lạc” làm đề tài luận văn, chúng tôi đã sưu tập toàn bộ các tài liệu tham khảo có thể có được của các tác giả trong và ngoài nước; thu mượn khoảng năm trăm bài viết của học sinh phổ thông, chủ yếu ở lớp chín và lớp mười hai, vì hai khối lớp này thể hiện được kết quả rèn luyện kỹ năng viết tiếng Việt ở cuối cấp THCS và THPT Căn cứ vào đó để đánh giá kỹ năng viết lách của học
Trang 18sinh phổ thông thì khả năng chính xác cao hơn các khối lớp khác Sau khi có các tài liệu và tư liệu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu với các phương pháp sau:
4.1 Phương pháp phân loại, thống kê
Tài liệu tham khảo dùng cho đề tài của luận văn, tuy không nhiều nhưng cũng không thể gọi là dễ nếu không biết cách chọn lựa và sắp xếp theo từng vấn đề cần nghiên cứu Đối với luận văn này, chúng tôi phân loại tài liệu thành ba cụm vấn đề: tài liệu đại cương về ngôn ngữ, về văn bản; tài liệu về một số vấn đề có liên quan đến mạch lạc, một số văn bản văn chương; và bài viết của học sinh 4.2 Phương pháp so sánh
Phương pháp này vô cùng quan trọng Nó đòi hỏi người nghiên cứu phải có khả năng nhạy bén và bao quát, sau khi tham khảo nhiều tài liệu, người đọc ghi chép những nhận định, quan điểm theo từng loại giống nhau và khác nhau So sánh các quan điểm của các tác giả Ví dụ giữa Emoudson và Widouson khác với Van Dijk; giữa Diệp Quang Ban và Cao Xuân Hạo, v.v So sánh giữa lý luận về mạch lạc và các văn bản cụ thể trong đời sống hằng ngày Để từ đó có thể nêu lên được những nét chung cơ bản nhất hình thành quan điểm của luận văn
4.3 Phương pháp phân tích – tổng hợp, miêu tả
Phương pháp này được vận dụng trong suốt quá trình trình bày luận văn, nhất là chương hai và chương ba Phân tích từ các tài liệu tham khảo, tư liệu văn bản mẫu và bài viết của học sinh; sắp xếp theo loại; rút ra nhận xét tổng hợp từng phần, từng chương qua tiểu kết Trong quá trình trình bày có thể sắp xếp theo tổng - phân
- hợp, phân – hợp, v.v
5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Trang 19Mạch lạc là một vấn đề hoàn toàn không mới đối với văn bản viết Nhưng chỉ có một điều là làm thế nào để học sinh viết văn mạch lạc thì chưa được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Hình như mọi người đều nghĩ rằng việc rèn luyện viết văn mạch lạc cho học sinh là việc thường ngày Trước hết, giáo viên cho học sinh tiếp cận với các văn bản mẫu, sau đó, đưa ra các đoạn văn, bài văn chưa mạch lạc và giúp các em chỉnh sửa lại Thế là đạt yêu cầu, không cần giải thích cho học sinh hiểu mạch lạc là gì, vì sao phải sửa mà không để như vậy, v.v
Luận văn này cố gắng đi vào giải quyết, dù chưa phải là triệt để, tường minh vấn đề lờ mờ trên, nhưng sẽ trình bày lại một cách có hệ thống những vấn đề cần lưu ý đối với việc nhận diện ra hiện tượng mạch lạc trong các chuỗi ngôn ngữ Từ đó, luận văn xác định được đâu là văn bản, đâu là phi văn bản, đồng thời phân biệt được liên kết và mạch lạc Điều quan trọng mà luận văn quan tâm là trình bày các yếu tố góp phần tạo nên sự mạch lạc văn bản một cách rõ ràng để giúp học sinh chú ý vận dụng trong quá trình xây dựng bài tập làm văn chặt chẽ và mạch lạc Chúng tôi mong rằng những nhận xét rút ra được trong luận văn sẽ góp phần giúp giáo viên có thêm tài liệu tham khảo về việc dạy tập làm văn ở nhà trường phổ thông đạt hiệu quả, đồng thời giúp học sinh rèn luyện kỹ năng viết văn ngày càng mạch lạc và chặt chẽ, góp phần giữ gìn và phát huy sự trong sáng và giàu đẹp của tiếng Việt
6 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN Ngoài phần dẫn nhập và kết luận, luận văn gồm ba chương: chương một trình bày tổng quan về văn bản và mạch lạc trong văn bản, trong chương này có bốn nội dung: khái niệm về văn bản và ngữ pháp văn bản, đặc điểm của văn bản, kết cấu đoạn văn và mạch lạc trong văn bản; chương hai trình bày về các yếu tố tạo nên
Trang 20mạch lạc trong văn bản ví dụ như yếu tố liên kết và yếu tố quan hệ; chương ba trình bày những lỗi viết văn thiếu mạch lạc của học sinh phổ thông như lỗi trong dùng từ, đặt câu, dựng đoạn và xây dựng văn bản
Trang 21CHƯƠNG MỘT TỔNG QUAN VỀ VĂN BẢN VÀ MẠCH LẠC TRONG
VĂN BẢN
Các sách ngữ pháp từ xưa đến nay đều đi đến nhận định thống nhất: câu là đơn vị có khả năng diễn đạt một ý tương đối trọn vẹn, đem lại cho người nghe một thông báo tương đối hoàn chỉnh Cách nhận định này, theo ngữ pháp truyền thống, thì câu là đơn vị ngữ pháp cao nhất, trên câu không còn một đơn vị ngữ pháp nào hơn nữa
như Bloomfield đã kết luận: “Câu là đơn vị lớn nhất của miêu tả ngữ pháp” [ John
Lyons, 1997, tr 278]
Chúng ta có thể hiểu từ “tương đối” được dùng ở trên chính là sự thận trọng của các nhà ngôn ngữ Vì rõ ràng ở đây, câu không phải là đơn vị cao nhất trong giao tiếp mà với câu ta chỉ mới bắt đầu bước chân vào địa hạt của thông báo (cũng như với âm vị thì ta mới bước chân vào địa hạt ngôn ngữ, với hình vị thì ta mới bước chân vào địa hạt của ngữ pháp,…) Và ở địa hạt này (văn bản), câu chỉ là đơn vị tế bào Thật vậy, Halliday đã nhận xét rằng: “Đơn vị cơ bản khi chúng ta sử dụng ngôn
ngữ, không phải là từ hay câu, mà là văn bản” (M.A.K.Halliday, 1960)
Vậy văn bản là gì, ra đời từ khi nào và có những đặc điểm ra sao?
1 KHÁI NIỆM VỀ NGỮ PHÁP VĂN BẢN VÀ VĂN BẢN Bắt đầu từ những năm 1930, trường phái ngôn ngữ học Praha đã đề cập đến đoạn văn và sự liên hệ giữa các câu trong đoạn văn; rồi đến những năm sau là ở Đức (K.Boost viết về “Khối liên hệ các câu”), ở Nga (N.S.Pospelov “Chỉnh thể cú pháp phức hợp”; I.A.Figurovskij “Chỉnh thể cú pháp của văn bản hoàn chỉnh”), ở
Trang 22Mỹ (Z.S.Harris đề xuất phương pháp phân tích diễn ngôn “discourse”), v.v đều nói đến mối liên hệ giữa các câu (mối quan hệ trên câu)
Vào 1953, L.Hjelmslev, nhà ngôn ngữ học nổi tiếng Đan Mạch, đã viết: “
Cái duy nhất đến với người nghiên cứu ngôn ngữ với tư cách khởi điểm […] đó là văn bản trong tính hoàn chỉnh tuyệt đối và không tách rời của nó” Lời nói này càng về
sau càng được khẳng định và cứ thế cái đơn vị cao nhất được gọi là văn bản đó
nghiễm nhiên trở thành đối tượng của ngôn ngữ học
Và tiếp theo sau đó, từ những năm 1968 đến những năm 1970, tên gọi ngữ pháp văn bản ngày càng được nhiều nhà ngôn ngữ đề cập Nhất là vào những năm
80, lĩnh vực văn bản - theo cách nói hình tượng của V.A.Zvegintsev [1980, tr.14]-
gần như đã trở thành một “vũ trụ ngôn ngữ học”
Như Trần Ngọc Thêm đã nhận định: “Nếu coi việc nâng ngôn ngữ học lên
tầm một khoa học khái quát gắn liền với tên tuổi của F.de Saussure là cuộc cách mạng lần thứ nhất trong ngôn ngữ học như lâu nay vẫn nói, thì cuộc cách mạng lần thứ hai phải là việc đưa ngôn ngữ học lên tầm một khoa học bao quát hết đối tượng của mình gắn liền với sự ra đời của ngôn ngữ học văn bản”
1.1 VÀI NÉT VỀ NGỮ PHÁP VĂN BẢN Ngôn ngữ học văn bản ra đời nhằm góp phần giải thuyết những vấn đề lâu nay ngôn ngữ học truyền thống bị bế tắc như là: không đủ khả năng giải thích nhiều hiện tượng biểu hiện trong phạm vi câu nhưng lại có liên quan tới những cơ chế ngoài câu; không đủ đáp ứng những nhu cầu thực tiễn của việc xây dựng văn bản, trong đó có môn tập làm văn dạy trong nhà trường; không đáp ứng được nhu cầu phân tích tác phẩm văn học; không đáp ứng được nhu cầu xử lý thông tin ngôn ngữ
Trang 23Và chỉ ngôn ngữ học văn bản (textlinguistics) mới có thể giải quyết thỏa đáng các nhu cầu trên
1.1.1 Lý luận chung về ngữ pháp văn bản
Sự ra đời của ngữ pháp văn bản đã khẳng định tầm quan trọng của nó trong cuộc sống của con người Sự ra đời này được kế thừa và phát triển từ những thành tựu lớn lao của ngôn ngữ học nói chung và của ngữ pháp nói riêng
Ngữ pháp, định nghĩa theo Diệp Quang Ban (Ngữ pháp tiếng Việt 2001), có thể hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ các quy luật, quy tắc hoạt động của tất cả các yếu tố ngôn ngữ, kể cả các yếu tố có hai mặt: âm và nghĩa, lẫn yếu tố chỉ có một mặt âm Hiểu theo nghĩa hẹp thì ngữ pháp là toàn bộ các quy luật, quy tắc hoạt động chỉ các yếu tố của ngôn ngữ có hai mặt Các yếu tố ngôn ngữ có hai mặt trên bao gồm những yếu tố từ bậc từ tố (hay hình vị), tức là bộ phận âm thanh nhỏ nhất mà có nghĩa, cho đến câu được làm thành từ nhiều từ hoặc từ nhiều cụm chủ vị Những thập kỷ gần đây, người ta đã mở rộng số đơn vị ngôn ngữ có hai mặt trên là những văn bản (viết hay nói) hoàn chỉnh dùng cho những tình huống nhất định và được gọi là ngữ pháp văn bản
Ngữ pháp văn bản: Năm 1974, H Isenberg khi bàn về đối tượng lý luận
ngôn ngữ học về văn bản ông cũng đã nêu lại một số nét chung của văn bản: “Với
câu hỏi về các nét chung của tất cả các văn bản – văn bản “có kết cấu” cũng như văn bản “không có kết cấu” – chúng tôi đã trả lời bằng cách kể ra những đặc trưng như chuỗi nối tiếp tuyến tính của câu, biên giới phía trái và phía phải, tính kết thúc tương đối và tính liên kết”
Năm 1976, M.A.K.Halliday và R Hasan đã bàn về những đặc trưng của văn
bản khá kỹ như sau: “Từ văn bản được dùng trong ngôn ngữ học để chỉ một đoạn
Trang 24nào đó, được nói ra hay được viết ra, có độ dài bất kỳ, tạo lập được một tổng thể hợp nhất Chúng ta biết như một nguyên tắc chung rằng một mẫu ngôn ngữ của chính chúng ta hoặc tạo thành được một văn bản hoặc không Điều đó không có nghĩa là chẳng bao giờ có thể là không chắc chắn Sự phân biệt giữa một văn bản và một tập hợp những câu không có quan hệ với nhau suy cho cùng là vấn đề mức độ, và ở đây luôn luôn có những trường hợp mà đối với chúng thì chúng ta không định chắc được – một điều có thể thường gặp đối với nhiều giáo viên khi đọc các bài làm văn của học sinh của mình Tuy nhiên, điều đó không làm mất hiệu lực của nhận xét chung cho rằng chúng ta cảm nhận được sự phân biệt giữa cái là văn bản với cái không là văn bản” […] [Theo Diệp Quang Ban, 2002, tr 62]
1.1.2 Ý nghĩa của lý thuyết văn bản ở nhà trường phổ thông
Nhà trường phổ thông của chúng ta từ nhiều năm qua đã chú ý dạy cho học sinh cách sử dụng đúng các từ và viết đúng các câu Việc làm này đã thu được những kết quả nhất định Học sinh đã viết được nhiều câu đúng và không ít câu hay Tuy nhiên, các em lại không biết cách trình bày các câu đúng và hay đó vào một đoạn, một bài viết để tạo thành một chỉnh thể thống nhất, chặt chẽ và logic hay nói một cách hình tượng thì các câu này chưa được xếp vừa khít vào nhau mà cách
trình bày của các em còn lộn xộn, luộm thuộm, lủng củng Xin xem dẫn chứng:
Các nhà thơ thời kỳ này đều ca ngợi tinh thần yêu nước, tinh thần quật khởi chống xâm lăng Ca ngợi tinh thần độc lập, ý thức tự cường chứa chan lòng yêu nước Ca ngợi cảnh thanh bình thịnh trị Các bài thơ của Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, bài thơ “Thần” của Lý Thường Kiệt, “Bạch Đằng Giang Phú’ của Trương Hán Siêu… đã khẳng định nội dung văn học thời kỳ này Trong số đó bài “Hịch tướng sĩ”của Trần Hưng Đạo là một trong những bài tiêu biểu Bài hịch ra đời năm 1285 bài hịch kêu gọi tướng sĩ nêu cao tinh thần yêu nước, chí căm thù giặc mà ra sức chiến đấu Tác giả đã kêu gọi tướng sĩ hãy từ bỏ lối sống hưởng lạc, ra sức học tập
Trang 25binh thư, quyết tâm chiến đấu và chiến thắng kẻ thù xâm lược…”
[Dẫn theo TNT, 1985, tr.8]
Quan sát ví dụ sau: (1)Dù biết Nguyễn Du đã nói “chữ tâm kia mới bằng ba
chữ tài”, tôi vẫn cứ nghĩ rằng, tâm và tài bao giờ cũng phải cân xứng mới tạo nên
được văn chương thật sự (2)Một đám cưới là một truyện ngắn xuất sắc nhất của
Nam Cao (3)Đọc văn hay ta vừa xúc động trước những cảnh đời được đưa vào tác phẩm cùng với tấm lòng của tác giả, vừa cảm thấy khoái thú đặc biệt trước cái tài của người cầm bút ( Bài làm của học sinh)
Đọc đoạn văn trên ta bắt gặp có cái gì chưa ổn: nó lộn xộn, lủng củng Nội dung đoạn văn giới thiệu “Một đám cưới” là truyện ngắn đặc sắc của Nam Cao Do vậy, chúng ta có thể sắp xếp lại thứ tự của các câu văn sao cho chúng không chỏi nhau mà vừa khít với nhau thì lập tức sẽ có một đoạn văn hay
Một đám cưới là một truyện ngắn xuất sắc nhất của Nam Cao Dù biết
Nguyễn Du đã nói “chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”, tôi vẫn cứ nghĩ rằng, tâm và
tài bao giờ cũng phải cân xứng mới tạo nên được văn chương thật sự.Đọc văn hay ta vừa xúc động trước những cảnh đời được đưa vào tác phẩm cùng với tấm lòng của tác giả, vừa cảm thấy khoái thú đặc biệt trước cái tài của người cầm bút
Các từ ngữ gạch dưới đều có quan hệ nghĩa với nhau: truyện ngắn đặc sắc – văn chương thật sự – văn hay; tâm và tài … cân xứng – vừa …tấm lòng của tác giả, vừa … cái tài của người cầm bút Các câu sau chính là triển khai nội dung của câu đầu tiên Do vậy, trật tự của nó phải được sắp xếp đúng chủ định thì ý triển khai
mới có thể đạt hiệu quả cao.
Dẫn chứng trên cho chúng ta thấy rằng học sinh có thể viết câu không sai ngữ pháp nhưng do không biết sắp xếp các câu cho hợp lý nên ý chồng chéo lên nhau làm cho đoạn văn diễn đạt lộn xộn và lủng củng Thực ra thì cả thầy và trò, trước đây - khi ngữ pháp văn bản chưa ra đời, chỉ được trang bị lý thuyết ngữ pháp đến câu là cùng Giáo viên chỉ ra sức dạy cho học sinh viết câu đúng, cách sửa lỗi
Trang 26chính tả, lỗi dùng từ, lỗi đặt câu ; còn cách sửa lỗi đoạn văn thì chưa Mãi đến lớp
12, trong sách tập làm văn mới có một số kiểu lỗi lập luận như: “luận chứng thiếu
logic: lập luận có mâu thuẫn, lập luận không nhất quán, lập luận không đủ lý do; sắp xếp dẫn chứng không hợp lý,v.v.” Do vậy, để khắc phục những hạïn chế trên
cần phải cung cấp cho giáo viên và học sinh những lý luận cơ bản trong việc sử dụng câu để cấu tạo nên một bài văn Những lý luận đó thuộc về ngữ pháp văn bản
1.2 KHÁI NIỆM VỀ VĂN BẢN
1.2.1 Khái niệm chung về văn bản (text)
Hiện nay, khái niệm về văn bản vẫn chưa được sự thống nhất giữa các nhà ngôn ngữ Có quan niệm cho rằng văn bản là biểu hiện sự kiện nói bằng các dạng viết “written text” hoặc là đơn thoại không tương tác (non-interactive monolongue) Hoặc văn bản lại là cái kiến trúc lý luận trừu tượng mà diễn ngôn sẽ hiện thực hóa nó (Van Dijk); vì thế mới có liên kết văn bản (textual cohesion) và mạch lạc diễn ngôn (discourse coherence) có nghĩa là liên kết văn bản nhận diện được qua bề mặt từ ngữ, qua ngữ pháp và qua sự triển khai mệnh đề, còn mạch lạc diễn ngôn lại hoạt động giữa các hành động nói (H.G.Widdowson); Một cách nhìn tương tự của
Guy Cook: “Văn bản là một chuỗi ngôn ngữ lý giải được ở mặt hình thức, bên ngoài
ngữ cảnh”, v.v. Từ các quan niệm trên, theo chúng tôi văn bản có thể được hiểu một cách khái quát như sau:
Văn bản là đơn vị của ngôn ngữ trong sử dụng Nó không được xác định kích cỡ Nó khác với câu về mặt chủng loại
Trang 27Văn bản là một loại đơn vị được làm thành từ một khúc đoạn lời nói hay lời viết, hoặc lớn hoặc nhỏ, có cấu trúc, có đề tài … loại như một truyện kể, một bài thơ, một đơn thuốc, một biển chỉ đường…
[Dẫn theo DQB, 2002, tr 50]
Như vậy, ta cũng có thể hiểu: “Văn bản là một đơn vị nghĩa, một đơn vị không
phải của hình thức mà là của ý nghĩa Nó không phải được gồm từ những câu mà là được hiện thực hoá hoặc được ký mã vào những câu”
[M.A.K.Halliday, 1994, tr.1-2]
Nói một cách đơn giản, văn bản có thể ở dạng nói hay dạng viết; có thể dài hay ngắn; có cấu trúc; có đề tài và ngoài các loại tiêu biểu như đã nêu còn nhiều loại khác nữa Đây có thể nói là một định nghĩa tương đối hoàn chỉnh và dễ hiểu
1.2.2 Khái niệm về văn bản trong sách giáo khoa phổ thông
Văn bản là chuỗi lời nói miệng hay bài viết có chủ đề thống nhất, có liên kết, mạch lạc, vận dụng phương thức biểu đạt phù hợp để thực hiện mục đích giao tiếp
Định nghĩa này được vận dụng từ cách hiểu văn bản như ở khái niệm chung, phù hợp khả năng nhận biết của các em học sinh phổ thông Điều quan trọng cần chú ý là văn bản có chủ đề thống nhất, liên kết, mạch lạc và vận dụng phương thức biểu đạt phù hợp từng loại như: tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh, hành chính - công vụ, v.v
2 ĐẶC ĐIỂM CỦA VĂN BẢN Để có một văn bản, không phải chỉ cần ghép những câu đúng ngữ pháp lại với nhau là được mà nội dung của những câu này phải liên quan chặt chẽ với nhau, cùng kết nối tạo thành một chỉnh thể thống nhất biểu đạt một chủ đề chung và được
Trang 28sắp xếp trong một kết cấu hoàn chỉnh, mạch lạc nhằm đạt được mục đích giao tiếp cụ thể Đó chính là những nét cơ bản, đặc điểm của văn bản giúp ta phân biệt được giữa văn bản và phi văn bản
2.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA VĂN BẢN Các mối quan hệ tạo nên tính thống nhất chủ đề để chuỗi câu trở thành văn bản được thể hiện ở những đặc trưng cơ bản của văn bản như tính hoàn chỉnh nghĩa, tính hoàn chỉnh cấu trúc và tính liên kết, mạch lạc
2.1.1 Tính hoàn chỉnh về nghĩa của văn bản
Tính hoàn chỉnh nghĩa của văn bản thể hiện ở sự thống nhất chủ đề của nó Chủ đề được hiểu là hạt nhân nghĩa của văn bản, nội dung cô đúc và khái quát của
văn bản: “Chủ đề của văn bản hoàn chỉnh hay của văn bản con chúng tôi coi là hạt
nhân nghĩa được hiểu như nơi tập trung khái quát toàn bộ nội dung của văn bản” [O.I.MOSKALSKAJA, 1996, tr.27]
Một văn bản hoàn chỉnh có dung lượng cỡ lớn như một tác phẩm thì có thể được cấu tạo nên bởi chương, phần, mục, v.v hay nhỏ như một bài thơ Đường thì cũng được tạo nên từ những đoạn thơ và tất cả các chương, phần, mục, đoạn, luôn luôn biểu đạt một chủ đề bộ phận, chủ đề con Chủ đề chung của văn bản được đề cập đến ở trên phải được hiểu nó không là một phép cộng đơn thuần của các chủ đề
bộ phận/ chủ đề con mà chúng đồng thời phục vụ cho việc thể hiện một chủ đề chung và bổ sung cho nhau trong việc thể hiện chủ đề ấy
VD (1): PHẦN THƯỞNG Một người nông dân tìm được một viên ngọc quý liền muốn đem dâng tiến nhà vua
Trang 29Ông ta tìm đến cung điện và nhờ các quan trong triều bảo làm cách nào gặp được nhà vua Một trong các quan hỏi ông ta cần gặp vua để làm gì Người nông dân bèn kể lại chuyện muốn dâng vua viên ngọc quý
Vị quan nọ bảo:
- Được, tôi sẽ đưa anh vào gặp nhà vua với điều kiện anh phải chia cho tôi một nửa phần thưởng của nhà vua Nếu không thì thôi !
Người nông dân đồng ý, và viên quan nọ liền dẫn ông ta vào cung vua Vua cầm lấy viên ngọc và bảo:
- Thế anh muốn ta thưởng cho anh cái gì bây giờ?
Người nông dân bèn thưa:
- Xin bệ hạ hãy thưởng cho hạ thần năm mươi roi, hạ thần không muốn gì hơn cả Chỉ có điều là hạ thần đã đồng ý chia cho viên quan đã đưa hạ thần vào đây một nửa số phần thưởng của bệ hạ Vậy xin bệ hạ hãy thưởng cho mỗi người hai mươi nhăm roi
Nhà vua bật cười, đuổi tên cận thần ra và thưởng cho người nông dân một nghìn rúp
[ Sách Ngữ văn 6/1, 2002, tr 45-46] Câu chuyện trên gồm ba phần: phần mở bài “Một… vua” thể hiện lòng trung thành và sự tôn kính của anh nông dân; phần thân bài “Ông …roi” thể hiện tinh thần dũng cảm đấu tranh chống bọn quan tham của anh nông dân; phần kết luận: sự thành công của anh nông dân Chủ đề chung của câu chuyện là ca ngợi lòng dũng cảm, trung thành và thông minh của người nông dân trong đấu tranh chống bọn tham quan Như vậy, chủ đề chung ở đây không thể là sự lắp ghép đơn thuần các
chủ đề con lại với nhau mà là một sự tổng hợp và phát triển
VD (2): Quặng sắt không có ích đối với chúng ta trong cuộc sống hằng ngày nếu như nó ở dạng tồn tại trong tự nhiên Trước hết nó phải được vỡ ra từ lòng đất và được khai thác lên Đó là công việc của những người thợ mỏ Những lò cao luyện quặng thành sắt tự nhiên Những xí nghiệp gang thép biến sắt tự nhiên thành gang thép; Cuối cùng những xí nghiệp gang thép sản xuất từ thép thành sắt tây và thép tấm [O.I.MOSKALSKAJA, 1996, tr.33]
Trang 30Chủ đề hay nội dung chính trong ví dụ này có thể khái quát là quá trình lao động nhằm khai thác và xử lý quặng sắt tự nhiên thành sắt thép được dùng trong xây dựng Tất cả các câu trong đoạn văn trên đều tập trung nêu bật quá trình này Các ví dụ trên đã giúp chúng ta xác định tính hoàn chỉnh về nghĩa của văn bản
VD (3): Xem bài thơ (Thơ văn yêu nước Nam bộ, nửa sau TK XIX)
Trên đời có mấy mặt đi ngang?
Ỷ lớn chân tay có một chàng Lõ mắt không phân người phải quấy Quơ càng chẳng lựa kẻ ngay gian Đưa mình theo nước hiềm không ruột Lột vỏ già đời chẳng thấy gan Gặp lúc tối trời thì kể chắc Nghe hơi động đất rút vào hang
[ Trịnh Sâm, 2001, tr 122] Nội dung tường minh của từng câu, từng câu trong văn bản trên đều tập trung miêu tả con cua nhưng ý nghĩa hàm ẩn chung của toàn bài thơ là nhằm ám chỉ bọn hèn nhát bán nước cầu vinh, cúi đầu làm tay sai cho giặc, chạy theo thời thế để kiếm chác cho bản thân
Tuy nhiên, nếu chỉ đáp ứng cho sự hoàn chỉnh nghĩa văn bản sẽ không được trọn vẹn nếu văn bản không có được một cấu trúc hoàn chỉnh
2.1.2 Tính hoàn chỉnh về cấu trúc của văn bản
Các câu, các đoạn, các chương, v.v trong văn bản quan hệ chặt chẽ với nhau không phải chỉ bằng sự thống nhất chủ đề mà còn bằng những tín hiệu đa dạng bên ngoài chỉ ra rằng chúng là những bộ phận của một chỉnh thể và hợp lại tạo nên một cấu trúc hoàn chỉnh
Trang 31Một số tín hiệu được sử dụng trong quá trình xây dựng văn bản nhằm tạo sự gắn bó chặt chẽ giữa các bộ phận trong một chỉnh thể thường được nhận biết cụ thể như sau:
- Tín hiệu hình thức: Văn bản phải được trình bày một cách khoa học, dễ
nhận biết các chương, các phần , các mục
VD (4): Chương I
1 I.1 I.1.1 I.1.1.1 I.1.1.2
I.1.2 I.2
2
Cách trình bày này được áp dụng một cách triệt để trong các văn bản khoa học, luận văn, văn bản hành chính, v.v Cần chú ý rằng hễ có chương một thì phải có chương hai, hễ có mục 1.1 thì phải có mục 1.2, v.v Cấu trúc các phần phải tương đương và cân xứng với nhau kể cả về hình thức trình bày lẫn nghệ thuật sử dụng ngôn từ
Riêng văn bản theo phong cách gọt dũa thường không dùng các con số như trên mà có nghệ thuật trình bày tuỳ theo từng thể loại Trong luận văn này, chúng tôi quan tâm và đề cập đến văn bản tập làm văn viết của học sinh là chủ yếu Bài tập làm văn viết luôn luôn được cấu tạo ba phần: phần đặt vấn đề, phần giải quyết vấn đề và phần kết thúc vấn đề Theo yêu cầu một bài tập làm văn viết thì học sinh
Trang 32không được ghi số như trên mà các em trình bày bằng cách lùi đầu dòng Cách trình bày này phải cho người đọc thấy có ba phần và trong từng phần như vậy gồm có các đoạn văn Các phần được trình bày một cách cân đối Phần đầu và phần cuối với dung lượng tương đương nhau và bằng một phần tư hay một phần năm nội dung phần giải quyết vấn đề
Nói chung, mỗi kiểu văn bản có cấu trúc riêng Văn bản hành chính khác văn bản báo chí Và ngay trong văn bản hành chính cũng có nhiều biểu mẫu được quy định riêng chẳng hạn công văn, báo cáo, tờ trình, thông báo, nghị quyết, quyết định, v.v Đối với văn bản tập làm văn, ngoài quy định ba phần chung còn có những yêu cầu cụ thể nhất là trong phần giải quyết vấn đề Ví dụ như văn chứng minh khác văn bình luận; văn giải thích khác văn phân tích; trong đó, phân tích nhân vật khác phân tích tác phẩm, v.v Do vậy, việc xây dựng cấu trúc một cách hoàn chỉnh và phân bố cân đối theo chủ đề của văn bản cũng là góp phần thể hiện tính mạch
lạc văn bản
- Tín hiệu nội dung: Mối quan hệ nội dung giữa các câu, các đoạn, các phần
quyết định tính chất của văn bản Sự quan hệ giữa phía phải phía trái của một câu, phía trên phía dưới của một đoạn, giữa các phần trong văn bản nhất thiết phải được chú trọng xây dựng theo một nội dung hoàn chỉnh, một chủ đề thống nhất Nếu giữa chúng không có mối liên hệ nào thì ta sẽ có chuỗi câu hỗn độn, rời rạc Trong một bài tập làm văn viết nếu có một đoạn, một phần nào đó không có cùng nội dung chung sẽ bị xem là lạc đề
Trong ví dụ (1) khi nghe hoặc đọc câu: “Chỉ có điều là hạ thần đã đồng ý
chia cho viên quan đã đưa hạ thần vào đây một nửa số phần thưởng của bệ hạ”, ta sẽ
không hiểu ý nghĩa của câu này một cách cụ thể rằng tại sao lại nói là “chỉ có
Trang 33điều” nếu ta không biết nội dung của câu trước Vì cụm từ này thường được bắt đầu cho câu giải thích hoặc bổ sung nội dung câu trước, như ở ví dụ trên, để giải thích
nội dung câu người nông dân lại xin được thưởng năm mươi roi mà không xin điều gì khác Và cũng để giải thích nội dung câu sau là thưởng cho mỗi người hai mươi
nhăm roi
“Xin bệ hạ hãy thưởng cho hạ thần năm mươi roi, hạ thần không muốn gì hơn cả Chỉ có điều là hạ thần đã đồng ý chia cho viên quan đã đưa hạ thần vào đây một nửa số phần thưởng của bệ hạ Vậy xin bệ hạ hãy thưởng cho mỗi người hai mươi nhăm roi”
VD (5):
Chiếc tàu thuỷ nhỏ, thấp, màu trắng, uốn mình (1) “Sibin” chạm mũi vào bờ và dừng lại (2) Máy điện báo trên tàu réo lên, và chân vịt quay làm nước sủi bọt (3) Các hành khách dồn lại ở lối ra (4) Người kiểm soát nhảy lên bờ ném sợi dây cáp vào cọc neo bằng sắt ở trên bến và kêu to: “Xuống tàu! Bến cuối cùng!”(5)
[O.I.MOSKALSKAJA, 1996, tr.32]
Các từ: mũi, chân vịt, cọc neo ở các câu (1,2,3,5) đều có liên quan mật thiết
với nhau cùng quy chiếu về chiếc tàu Câu (4) liên quan một cách gián tiếp những
câu trên và tất cả tập trung thể hiện một chủ đề chung đó là “chiếc tàu cập bến”
Tóm lại, câu hoặc đơn vị trên câu không trực tiếp kết hợp với nhau thành văn bản Chúng phải nằm trong một bộ phận nào đó của văn bản, và các bộ phận này lại kết hợp với nhau thành những đơn vị lớn hơn, cứ như vậy cho đến khi văn bản kết thúc
Tính hoàn chỉnh nghĩa và hoàn chỉnh cấu trúc là những yếu tố cần nhưng chưa đủ để tạo nên văn bản nếu thiếu yếu tố liên kết và mạch lạc
Trang 342.1.3 Tính liên kết và mạch lạc văn bản
Chúng ta biết rằng văn bản là một chỉnh thể thống nhất mà câu là những phần tử của hệ thống này Và chính cấu trúc văn bản đã chỉ ra vị trí của mỗi câu với mối quan hệ, liên hệ của nó trong văn bản Những mối quan hệ và liên hệ ấy tạo ra tính liên kết và mạch lạc văn bản
Vì vậy, tính liên kết (cohesion) và mạch lạc (coherence) chính là những yếu tố quan trọng của văn bản Liên kết là cái thuộc hình thức, bản thân của văn bản Còn những hiện tượng thuộc về quan hệ của tầng nghĩa ngầm bên dưới và những yếu tố có liên quan đến ngữ cảnh tình huống thì gọi là mạch lạc Trong đó, những sợi dây liên kết chỉ góp phần tạo nên sự nối kết về hình thức còn yếu tố mạch lạc mới thực sự quyết định nên văn bản Mạch lạc giúp ta nhận biết tập hợp câu nào là văn bản và tập hợp câu nào không phải văn bản Phần này chúng tôi sẽ trình bày cụ thể ở chương sau
Nhìn chung, liên kết được thể hiện qua việc lựa chọn các phương tiện liên kết như: đại từ, phó từ, quán từ, liên từ, v.v thực hiện bởi các phép liên kết quy
chiếu, thế, nối, tỉnh lược và lặp v.v để tạo nên quan hệ nghĩa giữa các câu trong xây
dựng đoạn văn, văn bản Còn mạch lạc là sự sắp xếp các câu trong đoạn văn và các đoạn trong văn bản vừa khít vào nhau theo một trình tự có chủ định nhằm nêu bật được chủ đề chung tạo nên sự hòa hợp ý nghĩa
VD (6): Trường Sơn đông nắng, tây mưa
Ai chưa đến đo,ù như chưa rõ mình … (1) Đã có một thời Trường sơn là như thế đấy trong lòng những người dân Việt (2) Dải Trường Sơn dằng dặc và hùng vĩ, nơi có con đường Hồ Chí Minh lịch sử, vào những năm chống Mĩ gian khổ, ác liệt nhưng cũng tràn đầy hào khí, đã trở thành một sức hút vĩ đại đối với những người ra trận, và đối với những người làm nghệ thuật, văn chương (3) Biết bao văn nghệ sĩ đã hành hương đến Trường Sơn để
Trang 35chiêm ngưỡng cuộc chiến đấu của dân tộc mình, để hiểu nhân dân mình, Tổ quốc mình, và để rõ về chính bản thân mình
(Bài làm văn mẫu) Chủ đề đoạn văn trên là nói về Trường Sơn, một báu vật cho những người làm nghệ thuật Cấu trúc xây dựng đoạn văn gồm ba nội dung: giới thiệu đặc điểm Trường Sơn, Trường Sơn là di tích lịch sử và Trường Sơn là người bạn của giới nghệ thuật Phép liên kết lặp tạo nên mối quan hệ nghĩa giữa các câu với nhau Và ba câu trong đoạn văn trên đã trình bày theo một trình tự hợp lý: Trường Sơn trước chiến tranh, trong chiến tranh và sau chiến tranh; đoạn văn tập trung triển khai nội dung của hai câu thơ dạo đầu một cách rất mạch lạc
Từ điển Bách khoa về ngôn ngữ và ngôn ngữ học [tr 603] cho rằng: thuật
ngữ liên kết và mạch lạc đã trở nên quen thuộc trong phân tích diễn ngôn và ngôn ngữ học văn bản, cũng như trong ngữ pháp và phong cách, tương tự như câu và phát ngôn trong ngôn ngữ học nói chung
Nhận định như trên minh chứng một điều rằng liên kết và mạch lạc quan hệ với nhau như hai mặt của ký hiệu (biểu vật và biểu niệm) hay cụ thể hơn thì nó giống như âm vị và âm tố; hình vị và âm tiết; câu và phát ngôn theo quan điểm của Saussure Nói mạch lạc viết chặt chẽ Nếu coi liên kết là thuộc về viết lách còn mạch lạc thuộc về nói năng thì e rằng chưa thuyết phục Phần này cần phải được nghiên cứu một cách tỉ mỉ mới có thể nêu lên được những nét bản chất, tinh tế, cốt lõi của vấn đề
Trên đây là những đặc điểm chung, chủ yếu của văn bản Trong đó, đặc điểm mạch lạc có tính chất quyết định: “Chúng ta sẽ khẳng định rằng người đọc và người nghe không dựa vào các dấu hiệu liên kết hình thức để xác định một bản văn
Trang 36như là một văn bản” (Brown – Yule, tr 308) mà dựa vào “mối quan hệ ngữ nghĩa ngầm bên dưới” với tên gọi là mạch lạc
Bên cạnh những đặc điểm của văn bản nói chung này còn có những đặc điểm cụ thể của từng loại văn bản Với đề tài nghiên cứu, luận văn quan tâm đến đặc điểm của văn bản nói và chủ yếu là văn bản viết
2.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA VĂN BẢN NÓI VÀ VĂN BẢN VIẾT Về văn bản nói và văn bản viết, nhiều nhà ngôn ngữ học đã dùng hai từ
“text” (văn bản) và “discourse” (diễn ngôn) để phân biệt Nhưng thực ra, cho đến nay vẫn chưa phân biệt một cách rạch ròi được Có thể tổng kết thành ba hướng
- Hướng thứ nhất cho văn bản viết (written text) đối lại văn bản nói (spoken
discourse) Văn bản viết ngầm hiểu là đơn thoại – không tương tác còn văn bản nói ngầm hiểu là tương tác Hiểu như vậy e rằng chưa chính xác vì người ta có thể dùng bài viết để phát biểu trước công chúng Thế thì bài này gọi là văn bản nói hay văn bản viết
- Hướng thứ hai có hai cách nhìn: cách thứ nhất thì xem văn bản là cái kiến
trúc lý luận trừu tượng còn diễn ngôn là cái hiện thực hóa của văn bản (Van Dijk) hay nói cách khác, văn bản đối diễn ngôn tương tự như câu đối với phát ngôn
(Stubbs); cách thứ hai, theo Guy Cook, “Văn bản là một chuỗi ngôn ngữ lý giải được
ở mặt hình thức, bên ngoài ngữ cảnh còn diễn ngôn là chuỗi ngôn ngữ được nhận biết là trọn nghĩa, được hợp nhất lại và có mục đích” Cách nhìn này khá tinh tế
nhưng cũng khá phức tạp
- Hướng thứ ba thì coi mọi sự kiện nói đều là diễn ngôn Trong đó cái nào ở
dạng viết thì gọi là văn bản Thực ra, quan niệm này chỉ là qui ước để thuận tiện cho việc phân biệt chứ không dựa trên một quy luật nào
Trang 37Ở đây, chúng tôi không đi vào phân biệt giữa diễn ngôn và văn bản mà chỉ giới thiệu ba hướng nhìn đang tồn tại trong thực tế nghiên cứu ngôn ngữ Trong phạm vi nghiên cứu, luận văn chọn thuật ngữ văn bản để chỉ chung văn bản nói và văn bản viết cho phù hợp với tri thức truyền đạt đối với học sinh phổ thông
2.2.1 Phân biệt văn bản nói và văn bản viết
2.2.1.1 Trong xã hội + Văn bản nói là văn bản được thông qua giao tiếp trực tiếp, qua hình thức
đối thoại mà truyền đạt toàn bộ nội dung đến cho người nghe Trong đó có cả đơn thoại và hội thoại Thông thường, loại ngôn ngữ dùng trong văn bản nói thì tương đối tự do thoải mái Dung lượng của văn bản nói (trừ những bài thuyết trình, hùng biện, báo cáo, v.v.) thường ngắn gọn, nội dung đơn giản, sống động… Tuỳ thuộc vào tâm sinh lý của người nghe ta có thể điều chỉnh cho phù hợp để đạt mục đích giao tiếp Văn bản nói thường được dùng kèm với các yếu tố khác như: cử chỉ, điệu bộ, ngữ điệu, v.v với các hình ảnh minh hoạ Đối với văn bản hội thoại thường là đa chủ đề
+ Văn bản viết là văn bản dùng để trao đổi gián tiếp giữa người viết và
người đọc thông qua chữ viết Dung lượng loại văn bản này thường dài, có thể từ một bài thơ tứ tuyệt đến một tiểu thuyết nhiều tập; nội dung phong phú, phức tạp Ngôn ngữ được dùng một cách trau chuốt cẩn thận, theo một chủ đề thống nhất và lượng thông tin được lưu giữ lâu dài
2.2.1.2 Trong nhà trường + Văn bản nói được xem xét ở đây chủ yếu là những lời phát biểu của học
sinh trong tiết học Khác văn bản nói thông thường, vì trước khi nói, các em đã chuẩn bị sẵn theo một nội dung bài học, một đề cương cụ thể
Trang 38+ Văn bản viết chủ yếu là bài viết của các em trong tất cả các môn nói
chung và bài tập làm văn nói riêng Văn bản viết ở đây hầu hết là bài từ mười lăm phút trở lên Nội dung các văn bản, thuộc về các môn chung, thì thường theo nội dung sách giáo khoa Chỉ các bài tập làm văn viết mới chính do khả năng của học sinh xây dựng nên Chất lượng bài viết này thể hiện đầy đủ khả năng hiểu biết qua quá trình học tập và khả năng vận dụng ngôn ngữ trong diễn đạt của từng em
2.2.2 Đặc điểm của văn bản nói và văn bản viết
- Văn bản nói thường có những đặc điểm như: lưu giữ thông tin không lâu; từ
ngữ tự do, câu văn ngắn gọn, có cử chỉ đi kèm; có ngữ điệu, có thể điều chỉnh chủ đề theo chiến lược giao tiếp và đối tượng giao tiếp, thể hiện nguyên tắc lịch sự trong giao tiếp, v.v
Qua giờ tập nói trong nhà trường, chúng ta sẽ rèn luyện cho học sinh lối tư duy logic, khả năng điều chỉnh nội dung chủ đề theo sự cảm nhận của người nghe sao cho đạt được mục đích giao tiếp, khả năng diễn đạt được suy nghĩ một cách dễ hiểu, chính xác, mạch lạc và luyện cách nói, giọng nói thu hút Do vậy, để văn bản viết được mạch lạc thì văn bản nói phải được rèn luyện kỹ trong nhà trường
- Văn bản viết có những đặc điểm là lưu giữ thông tin lâu dài; từ ngữ chọn
lọc, câu văn trau chuốt cẩn thận, có thể sử dụng các biện pháp tu từ; xây dựng theo cấu trúc hoàn chỉnh; diễn đạt một chủ đề thống nhất mạch lạc và chặt chẽ Nội dung văn bản thường phức tạp, đa dạng và phong phú Văn bản viết có thể được chuẩn bị trong thời gian rất lâu
Để bài viết của các em ngày càng đúng và hay thì việc rèn luyện viết văn phải được đặc biệt chú trọng, nhất là trong những giờ giảng dạy về văn bản, giờ sửa bài tập làm văn viết Từ trước đến nay, việc viết đúng chính tả, dùng từ, đặt câu
Trang 39luôn luôn được quan tâm ở mọi cấp lớp Duy chỉ có việc rèn luyện viết đoạn văn, văn bản đúng và hay là một vấn đề khá khó khăn, phức tạp Có nhiều lĩnh vực liên quan còn đang được nghiên cứu và chưa đi đến thống nhất
Sự phân biệt văn bản nói và văn bản viết chỉ có tính chất tương đối Điều quan trọng ở đây là qua các giờ tập nói, tập viết đó, rèn cho học sinh kỹ năng nói cho lưu loát và viết cho mạch lạc
Những vấn đề được bàn đến ở trên thuộc về tính nhất thể của văn bản Đây là đặc điểm chủ yếu quyết định tính văn bản hay phi văn bản Bên cạnh tính nhất thể, văn bản còn có tính khả phân Trong tính khả phân đề cập về nhiều khía cạnh của văn bản; riêng ở đây, chúng tôi chỉ giới thiệu các kết cấu đoạn văn trong văn bản, vì muốn xây dựng một văn bản đạt chất lượng thì không thể không chú ý việc xây dựng đoạn văn
3 VỀ ĐOẠN VĂN TRONG VĂN BẢN Đoạn văn hoàn chỉnh có thể được xem như là một văn bản con Nếu đoạn văn không được chú trọng xây dựng tốt thì văn bản sẽ không đạt chất lượng Do vậy, việc tìm hiểu những vấn đề cơ bản về đoạn văn là vô cùng cần thiết.
3.1 KHÁI NIỆM ĐOẠN VĂN
“Đoạn văn thông thường được hiểu là một phần của văn bản tính từ chỗ viết
hoa, thường lùi vào ở đầu dòng, cho đến chỗ chấm xuống dòng.”
[DQB, 2002, tr 289] Theo định nghĩa thì đoạn văn thuộc văn bản viết Về kích thước, đoạn văn có thể gồm một từ, một câu hoặc nhiều câu Ngoài ra, liên quan đến đoạn văn còn có câu chủ đề Câu chủ đề có thể được hiểu là câu mang nội dung chính của đoạn văn Đoạn văn có thể có câu chủ đề hoặc không
Trang 403.2 PHÂN LOẠI ĐOẠN VĂN Có thể phân biệt hai loại đoạn văn Đoạn văn có nội dung tương đối trọn vẹn và có hình thức tương đối hoàn chỉnh thì gọi là đoạn văn thông thường hay gọi tắt là đoạn văn Còn đoạn văn được cấu tạo bằng một câu đặc biệt thì gọi là đoạn văn đặc biệt
3.2.1 Đoạn văn thông thường là kiểu đoạn văn thường được sử dụng trong các văn bản Nhất là văn bản tập làm văn Đoạn văn này gồm sáu kiểu:
(i) Đoạn văn mở thường được cấu tạo bằng câu mở đoạn (câu chủ đề) và phần luận giải Đoạn văn này được xây dựng theo kết cấu diễn dịch
VD (7): Ngay nhịp trống đầu, Quắm Đen đã lăn xả vào ông Càn Ngũ đánh
ráo riết Rõ ràng là anh muốn dùng sức lực đương trai của mình lấn lướt ông ta và
muốn hạ ông ta rất nhanh bằng những thế đánh thật lắt léo, hóc hiểm Anh vờn tả, đánh hữu, dứ trên đánh dưới, thoắt biến, thoắt hóa khôn lường
(Kim Lân, Một keo vật)
VD (8): Truyện “Một đám cưới”của Nam Cao là một truyện cảm động
Chao ôi, người nông dân ngày xưa thật cực khổ đủ đường Đọc xong truyện cứ thấy đau xót đến ngẩn ngơ trước một cái làng Việt Nam tiêu điều xơ xác, có một đám cưới mà mặt người đưa dâu buồn như là đưa ma, nhà trai nhà gái vẻn vẹn chỉ có sáu người, kể cả đứa bé còn phải cõng, quần áo thì rách rưới lôi thôi, lầm lũi dắt díu nhau đi vào cái ngõ tre hun hút dưới bóng chiều ảm đạm (Bài làm của học sinh)
Những câu in đậm trong hai đoạn văn trên đều là câu chủ đề (câu mở) và các câu còn lại là phần luận giải cho nội dung ở câu mở Kiểu xây dựng đoạn văn này rất thường gặp và dễ hướng dẫn học sinh vận dụng
(ii) Đoạn văn đóng là đoạn văn gồm có ba phần: câu mở đoạn, phần luận giải và câu kết đoạn, Đoạn văn này xây dựng theo kiểu hỗn hợp diễn dịch – quy nạp Loại đoạn văn này khá phức tạp, thường thích hợp cho phần kết bài