còn chưa được tiếp cận với các dịch vụ xã hội, chương trình, chính sách mà Đảng và Nhà nước đã đưa ra.Nhiều thanh niên còn gặp rất nhiều khó khăn, chưa thực sự được quan tâm để có thể vư
Trang 1khãa luËn tèt nghiÖp
NghÖ An, 2014
Trang 2thành khóa luận tốt nghiệp của mình với đề tài: “Côn tác xã ộ cá n ân
vớ t n n ên n èo tạ xã N ĩ M , uyện N ĩ Đ n, tỉn N ệ An”
Tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc của mình đến ban chủ nhiệm Khoa và các thầy cô giáo trong khoa Lịch Sử Đồng thời tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới: Uỷ Ban Nhân Dân xã Nghĩa Mai, văn phòng Đoàn thanh niên xã Nghĩa Mai cùng các ban ngành đoàn thể và nhân dân trong
xã đã tạo điều kiện cho tôi có một kỳ thực tập bổ ích, hiệu quả và thành công
Đặc biệt tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn sự giúp đỡ của cô giáo Ông
T ị M T n , người đã chia sẻ kinh nghiệm, hướng dẫn tận tình cho
tôi trong quá trình thực tập và hoàn thiện khóa luận này
Ngoài ra, tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới gia đình, người thân, bạn bè, đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài Đó là nguồn động lực to lớn để tôi hoàn thành khoá luận tốt nghiệp một cách tốt nhất
Do hạn chế về thời gian và trình độ nghiên cứu, khóa luận này chắc chắn vẫn còn thiếu sót Rất mong sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo cũng như các bạn sinh viên.Đó sẽ là những ý kiến quý báu giúp tôi có thể có những kinh nghiệm và hoàn thiện hơn nữa trong những nghiên cứu sau
Tôi xin chân th nh cảm ơn!
Sinh viên
Nguyễn Thị Ho i Ân
Trang 31 Lý do lựa chọn đề tài 5
2 Mục tiêu nghiên cứu 7
4 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Một số khái niệm liên quan 10
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU.…… 13
1.1 Cơ sở lý luận 13
1.1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về việc trợ giúp thanh niên nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn 13
1.1.2 Các chương trình, chính sách hỗ trợ thanh niên nghèo tại xã nghĩa Mai, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An 14
1.1.3 Về các hoạt động An sinh xã hội tại cơ sở 15
1.1.4 Các lý thuyết vận dụng 17
1.2 Cơ sở thực tiễn 19
1.2.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 19
1.2.2 Tổng quan địa bàn nghiên cứu 23
1.2.3 Thực trạng thanh niên nghèo tại địa bàn xã Nghĩa Mai, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An 25
1.2.4 Nguyên nhân dẫn đến nghèo đói của thanh niên xã Nghĩa Mai, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An 27
CHƯƠNG 2: TIẾN TRÌNH C NG TÁC XÃ HỘI NH N VỚI THANH NIÊN NGHÈO TẠI XÃ NGHĨA MAI, HUYỆN NGHĨA ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN 33
1.1 Vài nét về thân chủ và hoàn cảnh gia đình 34
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 4CTXH Công tác xã hội
Trang 5Hình 2 : Sơ đồ phả hệ 35
Hình 3: Sơ đồ sinh thái 36
Hình 4: Cây vấn đề 38
Bảng 1: Nguyên nhân cơ bản dẫn đến đói nghèo ở Việt Nam 22
Bảng 2: Kế hoạch trợ giúp thân chủ 61
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do lự c ọn đề t
Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, là nguồn lực mạnh mẽ thúc đẩy
sự phát triển xã hội hiện tại và là người chủ tương lai của đất nước Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá VII về công tác thanh niên trong thời kỳ mới đã khẳng định:
“Thanh niên là lượng xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước bước vào thế
kỷ 21 có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không, cách mạng Việt Nam có vững bước theo con đường xã hội chủ nghĩa hay không, phần lớn tuỳ thuộc vào lực lượng thanh niên, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế
hệ thanh niên”.Từ khi nước ta tiến hành công cuộc đổi mới, bước vào thời
kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước thì Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã thu được nhiều thắng lợi to lớn trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế và xã hội Hiện nay, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân GDP của nước ta đạt 5,6%/năm, đây là một dấu hiệu đáng vui cho nền kinh tế nước
ta Đời sống người dân cũng ngày càng được nâng cao, các lĩnh vực văn hóa – xã hội cũng có nhiều bước tiến đáng kể Tuy nhiên, hiện nay do nhiều lý do khác nhau mà đời sống kinh tế cũng như xã hội của nhiều bộ phận thanh niên ở vùng núi, vùng dân tộc thiểu số đang gặp rất nhiều khó khăn Đặc biệt, nhiều thanh niên nghèo nhưng lại có trình độ văn hóa tốt,
có năng lực nhưng lại không có điều kiện để học tập nâng cao năng lực để phục vụ đất nước, họ phải chịu chiều thiệt thòi đáng kể Xuất phát từ việc
đó, trong nhiều năm qua Đảng và Nhà nước ta đã có rất nhiều chương trình, chính sáchđể giúp đỡ, hỗ trợ cho những thanh niên nghèo Những chương trình chính sách này chủ yếu nhằm tạo môi trường thuận lợi để nâng cao đời sống cho thanh niên nghèo, hỗ trợ giúp đỡ họ vươn lên trong đời sống kinh tế, có cơ hội học tập, nâng cao năng lực, cống hiến nhiều hơn nữa cho quê hương đất nước.Tuy nhiên, bên cạnh đó còn rất nhiều thanh niên nghèo
Trang 7còn chưa được tiếp cận với các dịch vụ xã hội, chương trình, chính sách mà Đảng và Nhà nước đã đưa ra.Nhiều thanh niên còn gặp rất nhiều khó khăn, chưa thực sự được quan tâm để có thể vươn lên trong cuộc sống.Nguồn ngân sách, kinh phí đầu tư cho thanh niên nghèo còn nhiều hạn chế, việc nghiên cứu, đầu tư cho thanh niên vẫn chưa thực sự được triển khai triệt để, vẫn còn mang tính chất lý thuyết quá nhiều.Hơn nữa, nhiều địa phương chưa thực sự coi trọng vai trò, vị trí của thanh niên trong xã hội hiện nay nên chưa có những kế hoạch, chương trình trợ giúp cụ thể để thanh niên có
cơ hội vượt qua khó khăn.Nhiều thanh niên không có điều kiện học tập, nâng cao trình độ, năng lực của bản thân vì điều kiện kinh tế quá khó khăn, trình độ nhận thức còn thấp kém, không ý thức được vai trò của bản thân trong xã hội Với những lý do này, nếu không có những chương trình, chính sách hỗ trợ hợp lý, kịp thời thì số lượng thanh niên nghèo sẽ ngày càng tăng cao hơn nữa
Nghĩa Mai là một xã nghèo thuộc huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An, là một địa phương thuần nông, điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, giao thông nông thôn gặp nhiều trắc trở trong việc đi lại và vận chuyển.Thời tiết khí hậu khắc nghiệt, nắng nóng vào mùa khô, ngập lụt vào
mùa mưa, người ta thường có câu “Đường Nghĩa Mai chưa nắng đã bụi,
chưa mưa đã lầy” Chính vì vậy nên bà con nhân dân xã Nghĩa Mai đời
sống còn rất thiếu thốn và vất vả, đặc biệt thanh niên ở đây gặp nhiều điều kiện khó khăn nên số lượng thanh niên nghèo ngày càng đông
Xuất phát từ thực tế đó, tôi đã lựa chọn đề tài “Công tác xã hội cá
nhân với thanh niên nghèo t i xã gh i hu n gh n t nh
gh n”làm nội dung cho khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành công tác xã
hộivới mong muốn đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào việc trợ giúp người thanh niên nghèo để giúp họ và gia đình họ có được chất lượng cuộc sống tốt đẹp hơn và ý nghĩa hơn nâng cao đời sống tạo điều kiện cho họ phát triển theo đúng như triết lý của ngành công tác xã hội
Trang 82 Mục t êu n ên cứu
2.1 Mục t êu tổn quát
Việc nghiên cứu và thực hiện đề tài về thanh niên nghèo với mục tiêu chung nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của thanh niên nghèo dân tộc thiểu số tại xã Nghĩa Mai, từng bước tạo điều kiện thuận lợi cho thanh niên nghèo được hỗ trợ, trợ giúp trong việc nâng cao trình độ văn hóa, học nghề, giải quyết việc làm, hỗ trợ kinh phí để làm kinh tế…Đồng thời, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức đoàn thể, cơ quan đơn vị, doanh nghiệp và của nhân dân về việc tạo điều kiện trợ giúp thanh niên nghèo
2.2 Mục t êu cụ t ể
Tìm hiểu và mô tả thực trạng thanh niên nghèo tại địa phương
Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến thanh niên nghèo tại xã Nghĩa
Mai, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An
Xác định những khó khăn mà thanh niên nghèo đang gặp phải và
những mong muốn nguyện vọng của họ
Thực hiện tiến trình CTXH cá nhân với một đối tượng thanh niên nghèo tại xã, nhằm giúp đỡ cá nhân đó có thể vượt qua và khắc phục được
những khó khăn hiện tại đang gặp phải
Trang 93.3 P ạm v n ên cứu
Không gian: Xã Nghĩa Mai, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An
Thời gian: Từ ngày 17/02/2014 đến ngày 11/04/2014
4 P n p áp n ên cứu
4.1 P n p áp p ân tíc t l ệu
Sử dụng phương pháp này nhằm tìm hiểu , bổ sung và tích luỹ vốn tri thức lí luận liên quan đến đề tài ở nhiều góc độ: Triết học, tâm lí học, CTXH đồng thời nghiên cứu những chủ trương, chính sách, văn bản pháp luật, các công trình nghiên cứu về thanh niên nghèo Mục đích của phương pháp này là thu thập những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài như: thực trạng nghèo ở thanh niên, các chương trình, chính sách hỗ trợ của Đảng và Nhà nước đối với thanh niên nghèo Vì đó là cơ sở cho việc xây dựng phương pháp hỗ trợ, giúp đỡ thanh niên nghèo ở nước ta nói chung và ở địa phương nói riêng
Ngoài ra khoá luận còn sử dụng phương pháp phân tích tài liệu từ phim ảnh, internet, sách, báo, băng hình…trên cơ sở đó phân tích, sàng lọc thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu Kết hợp tham khảo một số đề tài nghiên cứu khoa học, luận văn có liên quan đến đề tài trước đó để tham khảo thêm về phương pháp nghiên cứu làm cơ sở bổ sung cho đề tài của mình
Trang 10Tiến hành quan sát giúp tôi thấy rõ những biểu hiện bên ngoài của thân chủ như thái độ, hành vi cũng như trạng thái tâm lý sẽ đóng vai trò
quan trọng trong quá trình tôi làm việc với thân chủ
Trong thời gian tiến hành nghiên cứu tại địa phương, tôi đã tiến hành quan sát điều kiện sinh sống, làm ăn, tiếp cận các dịch vụ kinh tế - xã hội…
của các đồng chí đoàn viên, thanh niên nghèo
Việc quan sát này có ý nghĩa rất lớn làm cơ sở thực tiễn cho việc đánh giá những khó khăn, những tâm tư, nguyện vọng của thanh niên nghèo cũng như đưa ra biện pháp trợ giúp thích hợp nhất với hoàn cảnh của họ
4.3 P ng pháp vãng gia
Sử dụng phương pháp vãng gia sẽ có cái nhìn tổng quát về hoàn cảnh gia đình, môi trường sống gia đình của thân chủ và khi chúng tôi tiến hành phỏng vấn tại nhà thì thân chủ sẽ dễ dàng chia sẻ, giảm bớt căng thẳng, tạo môi trường thoải mái hơn cho thân chủ
Phương pháp vãng gia được tôi sử dụng thường xuyên vì thuận tiện cho thân chủ và nhằm tạo ra mối quan hệ gần gũi với thân chủ hơn
Ngoài các phương pháp trên chúng tôi còn sử dụng các phương pháp như thấu cảm, lắng nghe, vấn đàm… nhằm thúc đẩy tiến trình trợ giúp đạt được kết quả tốt nhất
4.4 P n p áp p ỏn vấn sâu
Tiến hành phỏng vấn một số đối tượng là thanh niên nghèo và các
thành viên trong gia đình có thanh niên để biết được những khó khăn và những suy nghĩ, mong muốn của họ
Tôi đã tiến hành phỏng vấn thân chủ, hàng xóm, mẹ thân chủ, cán
bộ chính quyền địa phương và một số bạn bè của thân chủ
Thời lượng của mỗi cuộc phỏng vấn thường từ 30 - 50 phút.Chúng tôi phỏng vấn thân chủ là chủ yếu Nội dung của các cuộc phỏng vấn phụ thuộc vào từng mục đích cụ thể nhưng chủ yếu xoay quanh: Hoàn cảnh
Trang 11thân chủ, ,mong muốn của thân chủ, các mối quan hệ xung quanh thân chủ, các biểu hiện, trạng thái, hành vi của thân chủ…
5 Một số k á n ệm l ên qu n
5.1 K á n ệm “t n n ên”
TN là một khái niệm có thể được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách Tùy theo nội dung tiếp nhận, góc độ nhìn nhận hoặc cấp độ đánh giá mà người ta đưa ra các khái niệm khác nhau
Về mặt sinh học, các nhà nghiên cứu coi TN là một giai đoạn xác định trong “tiến hóa” của cơ thể Dưới góc độ kinh tế học, TN được xem là lực lượng lao động xã hội, nguồn bổ sung cho đội ngũ lao động trên tất cả các lỉnh vực Dưới góc độ xã hội học, TN là một khái niệm xã hội dùng chỉ một nhóm nhân khẩu- xã hội với một độ tuổi xác định, với những đặc điểm tâm sinh lý đặc thù và có vai trò đặc biệt quan trọng trong các lỉnh vực của đời sống xã hội
Tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, đặc điểm truyền thống, tuổi thọ bình quân v.v mà mỗi quốc gia có quy định độ tuổi
TN khác nhau Hầu hết các nước trên thế giới đều bắt đầu từ 15 hoặc 16 Còn TN kết thúc ở độ tuổi nào thì có sự khác biệt Có nước quy định là 25,
có nước quy định 30 và thậm chí 40 Nhưng xu hướng chung là nâng dần giới hạn kết thúc của tuổi TN
Liên hợp quốc định nghĩa TN là nhóm người từ 15 đến 24 tuổi chủ yếu dựa trên cơ sơ phân biệt đặc điểm về tâm sinh lý và hoàn cảnh xã hội
so với các nhóm lứa tuổi khác
Ở Việt Nam có một thời gian khá dài tuổi TN đều được hiểu như tuổi đoàn viên (15 đến 28) Ngày nay, do điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội phát triển, thời gian học tập, đào tạo cơ bản của tuổi trẻ dài thêm, cùng với nhiều đặc điểm khác mà chúng ta cho TN là những người trong độ tuổi từ
16 đến 30
Trang 12Dưới góc độ tâm lý, để nhìn nhận đánh giá TN một cách tương đối toàn diện, có thể bao hàm được các nội dung, ý nghĩa nêu trên, trong phạm
vi đề tài này, TN được hiểu là giai đoạn phát triển nhất định được bắt đầu khi kết thúc tuổi dậy thì và được kết thúc khi bắt đầu bước vào tuổi trưởng thành
5.2 K á n ệm “n èo đó ”
Khái niệm “nghèo đói” mà hội nghị chống nghèo đói khu vực Châu Á
– Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc (Thái Lan), tháng 09 năm 1993 có đưa ra khái niệm nghèo đói như sau: “ Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng hoặc thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này được xã hội thừa nhận tùy theo trình
độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương”, nghèo đói được chia trên hai khía cạnh: nghèo đói tuyệt đối (Absolute poverty) và nghèo đói tương đối (Relative poverty) Khái niệm nghèo đói có hầu hết ở các quốc gia trên thế giới không phân biệt già trẻ, gái trai, tuổi tác mà gọi chung là nhóm người nghèo, tùy vào mức độ thu nhập bình quân đầu người
mà ở mỗi quốc gia đưa ra chỉ số và chỉ tiêu cấp độ người nghèo và nghèo đói khác nhau như: ở thành thị, nông thôn, đồng bằng, miền núi và vùng sâu vàng xa Riêng ở Việt Nam cũng vậy, ví dụ như: hộ nghèo ở nông thôn
có mức thu nhập bình quân từ 401 nghìn/ người/ tháng, ở thành thị là 501 nghìn/người/ tháng theo Quyết định 09/2011/QĐ – TTg Chính phủ ban hành ngày 30/01/2011 Như vậy, tuy mỗi văn bản luật hay chính sách, quyết định của mỗi quốc gia đều có sự khác biệt nhưng tất cả đều cho rằng người nghèo cần được quan tâm và hỗ trợ hơn nữa nhiều chính sách ưu đãi
và chính sách hổ trợ thoát nghèo
5.3 Khá n ệm Côn tác xã ộ vớ cá n ân
Công tác xã hội cá nhân là phương pháp được NVCTXH sử dụng trong việc trợ giúp thân chủ là một cá nhân có vấn đề về việc thực hiện các
Trang 13chức năng xã hội nhằm phục hồi và củng cố phát triển sự thực hiện những chức năng xã hội của cá nhân và gia đình trong mội trường họ đang sống Nghiên cứu về phương pháp này , Lê Văn Phú- khoa XHH trường đại
học KHXH&NV định nghĩa : Phương pháp công tác xã hội cá nhân là
phương pháp can thiệp để giúp một cá nhân thoát khỏi những khó khăn trong đời sống vật chất và tinh thần, chữa trị, phục hồi sự vận hành các chức năng xã hội của họ giúp họ nhận thức và giải quyết các vấn đề xã hội bằng khả năng của chính mình.Nghiên cứu dựa trên việc vận dụng các kỹ
năng, phương pháp của công tác xã hội cá nhân để can thiệp hiệu quả nhằm giải quyết vấn đề cho thân chủ
Còn theo bà Mary Richmond và cộng sự (Đầu những năm 1900):
“Công tác xã hội cá nhân là một tổng thể gồm 3 mặt: nghiên cứu xã hội -
chuẩn đoán - trị liệu Công tác xã hội cá nhân( trích từ Specht và Vickery, Integrating Social Work Methods 1977 Allen and Unwin London ) là hoạt
động dịch vụ xã hội trực tiếp hướng đến các thân chủ do các nhân viên cộng đồng thực hiện Các nhân viên này phải có các kỹ năng trong việc giải quyết các vấn đề về nguồn lực, các vấn đề về xã hội và xúc cảm.Đây là một hoạt động mang tính chuyên ngành để qua đó các nhu cầu của thân chủ được đánh giá trong các bối cảnh xã hội và quan hệ xã hội của cá nhân đó.Nhân viên xã hội cá nhân hướng đến nâng cao sức mạnh của các thân chủ nhằm giải quyết các vấn đề và đối mặt các vấn đề một cách hiệu quả trong môi trường sống của thân chủ.Các dịch vụ thông qua nhân viên xã hội bao trùm nhiều vấn đề từ việc trợ giúp về vật chất đến các vấn đề tham vấn phức hợp
Trang 14CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU
1.1 C sở lý luận
1.1.1 Quan đ ểm củ Đản v N n ớc về v ệc trợ úp t n
n ên n èo có o n cản đặc b ệt k ó k ăn
Đảng và Nhà nước ta đã xác định được vai trò, vị trí quan trọng của lực lượng thanh niên đới với quốc gia, dân tộc Chính vì vậy, trong nhiều năm qua Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương, chính sách, đưa ra những quan diểm rõ ràng, đúng đắn để giúp đỡ, hỗ trợ thanh niên nghèo có hoàn cảnh khó khăn
Cụ thể:
- Đảng và Nhà nước đã có những chương trình khảo sát nắm bắt số liệu thực tế, xác định rõ người thụ hưởng trực tiếp, nhu cầu, năng lực cũng như những khó khăn các hộ thanh niên nghèo với kết quả và số liệu, thông tin đáng tin cậy; kết nối với định hướng của các địa phương, chính sách của nhà nước, phù hợp với xu thế phát triển của các địa phương để đưa ra những giải pháp hiệu quả, thiết thực
- Kết nối một cách chủ động và linh hoạt với các chương trình, kế hoạch khác của các sở, ngành có liên quan để tận dụng nguồn lực; đồng thời phát huy tối đa vai trò của xã hội hóa, tận dụng nhiều nguồn lực từ xã hội để cùng tham gia thực hiện việc hỗ trợ giúp đỡ thanh niên nghèo vượt qua khó khăn
- Đưa ra các giải pháp hỗ trợ mang tính bền vững đến từng địa chỉ cụ thể để giúp các hộ thanh niên nghèo lập nghiệp, vươn lên thoát nghèo bằng chính khả năng lao động của mình
Với các Nghị định, quyết định mà Đảng và Nhà nước ban hành như:
- Quyết định số 30/2007/QĐ-TTg ngày 05/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ về Ban hành Danh mục các đơn vị hành chính thuộc vùng khó khăn và các huyện nghèo;
Trang 15- Quyết định Số: 20/2007/QĐ-TTg ngày ngày 05/02/2007 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006 – 2010;
- Quyết định Số: 167/2008/QĐ-TTg ngày 12/12/2008 của Thủ tướng chính phủ về chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở;
- Quyết định 491/QĐ- TTg ngày 16/04/2010, Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 4/6/2010 của Thủ tướng chính phủ về việc ban hành bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới; về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010- 2020;
- Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ nông nghiệp, nông thôn;
- Kết luận số: 127 KL/TWĐTN ngày 15 tháng 9 năm 2008 của Ban Thường Vụ Trung ương Đoàn TNCS HCM về một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của Đoàn trên địa bàn nông thôn giai đoạn 2008 – 2012;
- Đề án Dạy nghề cho thanh niên nông thôn và bộ đội xuất ngũ;
1.1.2 Các c n trìn , c ín sác ỗ trợ t n n ên n èo tạ xã
n ĩ M , uyện N ĩ Đ n, tỉn N ệ An
Các thanh niên nghèo do đặc thù xa về khoảng cách đến khu vực trung tâm, phải lo mưu sinh, không có điều kiện học theo sở thích ngành nghề, thiếu thông tin, do đó chưa có điều kiện tham gia các khóa học xoá mù chữ, dạy nghề miễn phí Một số biện pháp hỗ trợ học tập nâng cao trình độ trực tiếp đến thanh niên nghèo là:
- Tạo điều kiện để thanh niên nghèo được thụ hưởng các chính sách dạy nghề cho thanh niên Nông thôn Vận động, hướng dẫn, giới thiệu cho thanh niên nghèo theo học các lớp học theo nhu cầu tại địa phương
- Ban chấp hanh đoàn xã cùng đội ngũ thanh niên tình nguyện tại địa phương có hộ thanh niên nghèo, trình độ thấp hỗ trợ thanh niên học tập xoá
mù chữ, nâng cao học vấn
Trang 16- Phối hợp Trung tâm giới thiệu việc làm Thanh niên, Văn phòng Tư vấn, hỗ trợ phát triển Thanh niên, Hội Doanh nhân trẻ tỉnh để tư vấn, giới thiệu việc làm phù hợp cho thanh niên có nhu cầu
- Rà soát, tập hợp danh sách các hộ thanh niên nghèo chưa có sổ bảo hiểm y tế, phối hợp cơ quan Bảo hiểm y tế để cấp sổ BHYT miễn phí cho 100% hộ thanh niên nghèo theo quy định;
- Thông qua các chương trình khuyến nông của Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Sở Khoa học công nghệ; từ nguồn vận động tài trợ,
hỗ trợ của các chuyên gia tư vấn, tổ chức cho thanh niên nghèo đi tham quan thực tế, học tập mô hình làm kinh tế phù hợp để tư vấn, hướng dẫn chuyển giao cho hộ thanh niên có nhu cầu; cung cấp tài liệu khoa học kỹ thuật phù hợp với nhu cầu đến tận từng hộ thanh niên nghèo giúp nâng cao nhận thức, trình độ, năng lực sản xuất
- Cung cấp tư liệu sản xuất cho hộ thanh niên nghèo để vận động các
cá nhân, tổ chức kinh tế - xã hội hỗ trợ cung cấp nguồn tư liệu sản xuất
như: “Dự án bò giảm nghèo”; hỗ trợ gia súc, gia cầm giống cho các hộ có
điều kiện chăn nuôi phù hợp;…
1.1.3 Về các oạt độn An s n xã ộ tạ c sở
Về các hoạt động ASXH thì được xã đã quan tâm và chú trọng, thực hiện đầy đủ chủ trương mà cấp trên gửi xuống các hoạt động đều được thực hiện đảm bảo quyền lợi cho người dân
a Công tác chính sách
công và đối tượng chính sách
đối tượng thân nhân liệt sỹ, ốm đau, qua đời
b Côn tác bảo trợ xã ộ
Trang 17 Chi trả tiền miễn học phí cho sinh viên năm học 2010- 2012
học sinh
102/QĐ/TTg
số đặc biệt khó khăn
Hình 1: N ềm vu củ các ộ n èo k n ận đ ợc “Chăn ấm mù đông”
Trang 18Tuy nhiên, các hoạt động cụ thể đảm bảo ASXH ở xã ít được tạo ra: Mô hình tạo việc làm cho người dân, xã không tự tổ chức mà phải có hướng dẫn của cấp trên
tác xã hội :“Hệ thống là một tập hợp các thành tố được xắp xếp có trật tự
và liên hệ với nhau để hoạt động thống nhất Con người phụ thuộc vào hệ thống trong môi trường xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu trực tiếp của mình trong cuộc sống” Các quan điểm hệ thống trong công tác xã hội có nguồn
gốc từ lí thuyết hệ thống tổng quát của Bertalanffy Đây là một lí thuyết sinh học cho rằng " mọi tổ chức hữu cơ đều là những hệ thống được tạo nên từ các tiểu hệ thống và ngược lại cũng là một phần của hệ thống lớn hơn Do đó con người là một bộ phận của xã hội và được tạo nên từ cá phân tử , mà được tạo dựng từ các nguyên tử nhỏ hơn Sau này, lí thuyết hệ thống được các nhà khoa học khác nghiên cứu: Hanson(1995), Mancoske(1981), Siporin(1980)…và phát triển Người có công đưa lí thuyết hệ thống áp dụng vào thực tiễn công tác xã hội phải kể đến công lao của Meyer (1983) đã xây dựng và tiếp tục mở rộng ra để đáp ứng nhu cầu giảng dạy của Mỹ và đã bao gồm các vấn đề liên quan đến cộng đồng, nhóm và gia đình vào nội dung của lí thuyết này
Hệ thống là tập hợp những thành tố được sắp xếp theo một trình tự và quy luật theo một thể thống nhất Tiểu hệ thống là hệ thống thứ cấp hoặc hệ thống hỗ trợ.Các tiểu hệ thống tạo nên hệ thống lớn hơn (TS Mai Kim Thanh, Công tác xã hội cá nhân, ĐH KHXH & NV)
Trang 19Có 3 loại hệ thống thoã mãn cuộc sống của con người: Hệ thống chính thức (tổ chức công đoàn, cộng đồng…); Hệ thống phi chính thức (bạn bè, gia đình… ); Hệ thống xã hội (bệnh viện ,nhà trường…) Lí thuyết
hệ thống đã chỉ ra các mối liên kết tất yếu trong mạng xã hội giữa cá nhân với cá nhân, với nhóm và ngược lại.Trong CTXH không thể không chú ý tới sự ảnh hưởng qua lại đó.Tạo dựng và phát huy những tiềm năng, sức mạnh của hệ thống sẽ tạo nên những lợi thế trong thực hành CTXH
Lý thuyết hệ thống sinh thái giúp cho những người thực hành công tác
xã hội phân tích được thấu đáo sự tương tác giữa các hệ thống xã hội hoặc bên trong các hệ thống này và có thể hình dung ra được những tương tác này sẽ ảnh hưởng đến hành vi của thân chủ như thế nào
Thông qua sơ đồ hệ thống sinh thái thì chúng ta có thể thấy được cuộc sống và những vấn đề của môi trường trong xã hội đều ít nhiều chịu ảnh hưởng của các mối quan hệ xung quanh họ Do vậy, trong quá trình làm việc để giúp đỡ khách hàng, công việc đầu tiên là chúng ta phải xác định được các hệ thống nào quanh hệ thống khách hàng có những ảnh hưởng quan trọng đến việc phát sinh các vấn đề hoặc việc giải quyết các vấn đề của khách hàng để có thể có những biện pháp tiếp cận và can thiệp hợp lí
Ở Việt Nam, mỗi một cá nhân hoặc gia đình được xem như là một tế bào của xã hội Cách nhìn nhận này thể hiện một phần các quan điểm về hệ thống, bởi vì nếu một tế bào có vấn đề thì xã hội sẽ bị ảnh hưởng và ngược lại, những vấn đề mà xã hội đang gặp phải cũng sẽ ảnh hưởng đến các tế bào của nó tức là các gia đình, các cá nhân thuộc về xã hội đó Do vậy, các quan điểm về các hệ thống và môi trường này rất thích hợp với xã hội và truyền thống của Việt Nam và được áp dụng khá rộng rãi trong quá trình phân tích các vấn đề của khách hàng và phân tích các nguồn lực có thể đem lại những ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đối với hệ thống khách hàng
Trang 20 Lý thu ết h nh vi:
Khoa học phân tích hành vi ra đời năm 1849, bắt đầu với thí nghiệm của Ivan Paplov, sau đó có một số nhà khoa học đã nghiên cứu và phát triển lý thuyết này như Watson và Skinner
CTXH có mục tiêu hỗ trợ con người thực hiện các chức năng của mình một cách bình thường Do vậy để tiến hành giải quyết ca tham vấn trong công tác xã hội cá nhân, NVCTXH phải đánh giá được quá trình hình thành hành vi cá nhân, nắm được các tác động của các yếu tố môi trường làm phát sinh hành vi đó
Lý thuyết nhận thức- hành vi đánh giá rằng: hành vi bị ảnh hưởng thông qua nhận thức hoặc các lý giải về môi trường trong quá trình học hỏi Như vậy, rõ ràng là hành vi không phù hợp phải xuất hiện từ việc hiểu sai
và lý giải sai Quá trình trị liệu phải cố gắng sửa chữa việc hiểu sai đó, do
đó, hành vi chúng ta cũng tác động một cách phù hợp trở lại môi trường Như vậy ta có thể thấy rằng nhận thức có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các chức năng tâm lý và thay đổi hành vi có thể từ hành vi tiêu cực sang tích cực Vận dụng lý thuyết để thân chủ có cách nhìn nhận đúng vấn đề, thay đổi nhận thức và thiết lập những hành vi mới mang tính tích cực
1.2 C sở t ực t ễn
1.2.1 Tổn qu n vấn đề n ên cứu
Việt Nam chúng ta là một nước nông nghiệp.Gần 70% dân số sống ở nông thôn chủ yếu là làm nông nghiệp.Trình độ sản xuất trên quy mô còn nhỏ và lạc hậu Bên cạnh đó nước ta còn chịu nhiều tác động cuuar thiên tai, khí hậu khắc nghiệt và hậu quả nặng nề của chiến tranh
Trong công cuộc đổi mới của đất nước, cùng với sự chuyển đổi nền kinh tế từ tự cung tự cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần làm cho neenfkinh tế của nước ta từng bước được cải thiện, đời sống của nhân dân từng bước được nâng lên.Tuy nhiên vấn đề nghèo đói ở cả nước đang
Trang 21là một vấn đề lớn, số người nghèo cũng như số thanh niên nghèo ngày càng tăng lên
Từ những năm 1992 trở lại đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề nghèo đói.Các cuộc nghiên cứu này nhằm chỉ ra nguyên nhân và
tiêu chí đánh giá nghèo đói ở Việt Nam “Khảo sát mức sống ở Việt Nam”
đã được phối hợp tiến hành giữa Ủy ban khoa học Nhà nước và Tổng cục thống kê, với sự tài trợ của UNDP và SIDA trong thời gian từ tháng 10 năm 1992 đến tháng 10 năm 1993
Việc làm mức sống là khảo sát đầu tiên về mức sống của các hộ gia đình tiêu biểu cho toàn quốc, được làm tại Việt Nam bao trùm trên diện rộng các chỉ số kinh tế và xã hội Các số liệu đã được thu thập khoảng từ 23.000 người sống tại 4.800 hộ gia đình tiêu biểu cho các vùng nông thôn,
thành thị ở các vùng địa lý khác nhau của Việt Nam.(Theo Việt Nam đánh
giá sự nghèo đói và chiến lược Ngân hàng Thế Giới khu vực Đông Á – Thái Bình Dương, vụ khu vực 1, Trang 1-95)
Theo nghiên cứu của Vũ Anh Tuấn, Đổi mới kinh tế và phát triển,
NXB Khoa học xã hội Hà Nội 1994, trang 65) cũng đã nêu ra:
Khi bước sang nền kinh tế thị trường thì những hộ gia đình trở thành những đơn vị kinh tế độc lập Họ được chủ động trong việc hạch toán kinh
tế hộ.Vì vậy không ít hộ gia đình đã trở thành những hộ khá và giàu có.Tuy nhiên, cùng với sự hạch toán độc lập nhiều hộ gia đình không thích nghi được với hoàn cảnh mới vì nhiều nguyên nhân nên đã lâm vào cảnh đói nghèo.Đây là một trong những vấn đề nóng bỏng của nước ta trong giai đoạn chuyển đổi nền kinh tế, đây là tình trạng đang diễn ra ở cả khu vực nông thôn lẫn thành thị “Theo số liệu chính thức nông thôn hiện nay có tới 2.847 hộ nghèo bao gồm 13,8 triệu người chiếm 30% tổng số ở nông thôn Còn ở thành thị tuy là nơi được đánh giá là tỷ lệ nghèo thấp nhưng chiếm tới 8% ở Đồng bằng Sông Hồng, ở khu vực miền núi phía bắc là 59%, một
số nơi xa hẻo lánh của Bắc Trung Bộ là 71%”
Trang 22Trong vòng 20 năm trở lại đây cả nước trung bình có khoảng 2 triệu người đói/năm Năm 1988 số người đói lên tới 12 triệu người, năm 1991 có 8,5 triệu người, năm 1992 là 5,4 triệu người Đến hết năm 2000 cả nước còn khoảng 2,8 triệu hộ nghèo chiếm khoảng 17% Trước tình trạng đó, Đảng và Nhà nước đã có nhiều cơ chế, chính sách để khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân phát triển kinh tế hộ gia đình vươn lên XĐGN và làm giàu chính đáng
Năm 1992 đến nay, các chính sách về xóa đói giảm nghèo ở nước ta
đã đạt được những thành tựu đáng kể, tỷ lệ đói nghèo trong cả nước đã giảm từ gần 30% năm 1992 xuống còn 17,7% năm 1997 Như vậy mỗi năm giảm gần 2%.Nhiều mô hình XĐGN rất thành công và được nhân rộng Sự phối hợp, lồng ghép giữa các chương trình kinh tế và xã hội với các chương trình XĐGN đã đem lại kết quả nhất định, nhiều hộ dân nghèo đã được hưởng lợi từ các chương trình 120, 135, 327…
Tuy vậy, vẫn còn một bộ phận không nhỏ dân cư đặc biệt là những vùng dân tộc ít người, vùng sâu, vùng xa… đang chịu cảnh nghèo đói, chưa đảm bảo những điều kiện tối thiểu của cuộc sống
Ở bản Báo cáo quốc gia về phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam tại Hội nghị thượng đỉnh xã hội ở Copenhgen vào tháng 3 năm 1995 Chính phủ Việt Nam đã đề ra một số nguyên tắc chỉ đạo chung về chiến lược phát triển kinh tế xã hội và XĐGN “Quan niệm cơ bản của chiến lược là đặt con người vào trung tâm của sự phát triển và khuyến khích năng lực cá nhân và cộng đồng…Mục tiêu cuối cùng là sự phát triển lành mạnh, cân đối, bền vững Đó là chiến lược phát triển vì dân, do dân, một chiến lược tập trung vào nhiệm vụ chăm lo và phát triển tiềm năng của con người, coi con người là chìa khóa của sự phát triển, là nguồn lực sáng tạo, là nguồn của cải vật chất và tinh thần của xã hội, đồng thời coi hạnh phúc con người
là mục tiêu cao nhất”
Trang 23Ở nông thôn, tình trạng nghèo đói chiếm tỷ lệ cao, chủ yếu tập trung ở vùng núi cao, vùng sâu, vùng xa và các nhóm xã hội khác nhau như đồng bào dân tộc thiểu số, những hộ gia đình thuần nông, thiếu tư liệu sản xuất hoặc đông con, thiếu lao động, thiếu việc làm, không có tư liệu sản xuất đơn giản Đặc biệt vấn đề thiếu việc làm hiện nay đang là vấn đề nóng bỏng.“ Hàng năm có tới 9 triệu người không có việc làm và người ta gọi là
thất nghiệp đang diễn ra”.(Nguồn: Báo cáo của Bộ trưởng Bộ kế hoạch đầu
tư Trần Xuân Giá tại học viện Quốc gia Hồ Chí Minh tháng 8, năm 2000)
Theo kết quả điều tra của Bộ LĐTB & XH năm 1994 cả nước có 2.595.518 hộ nghèo, chiếm 18% số hộ cả nước Trong khi đó Viện XH đã tiến hành cuộc điều tra cho kết quả là: Với tiêu chí nghèo đói là nhóm người thu nhập hàng tháng dưới 75.000đ thì năm 1994 cả nước có 23% dân
số nghèo đói Nhìn chung với tiêu chí trên thì tỷ lệ người nghèo trong cả nước còn tương đối cao
Để hiểu thực trạng nghèo đói và nhóm người nghèo ở Việt Nam nói chung, ta có thể căn cứ vào cuộc khảo sát phân tầng XH theo chương trình
hộ nghèo của Bộ LĐTB&XH năm 2000 cho thấy đói nghèo ở nước ta do
một số nguyên nhân cơ bản sau:(Nguồn: Theo Bộ LĐTB&XH năm 2000)
Trang 24Vấn đề vốn là nguồn đầu tư rất quan trọng đối với người nghèo Vì theo bảng số liệu trên cho ta thấy rằng người nghèo rất cần vốn bản thân người nghèo không có tiền cho nên khả năng kiếm sống bằng kinh doanh, sản xuất, chăn nuôi rất cần đầu tư về vốn nên rất khó thực hiện Hơn nữa
“nghèo thường đi đôi với hèn” nên họ mặc cảm với số phận, không giám vay vốn vì sợ gặp rủi ro Đồng thời người cho hộ nghèo vay họ cũng rất cầm chừng vì họ lo người nghèo không thể trả được vốn
Ngoài ra còn rất nhiều bài viết đăng trên các trang mạng, trên các tạp chí với những cách tiếp cận khác nhau Có thể thấy rằng, cho đến nay chưa
có chương trình khoa học nào đã công bố, tập tring nghiên cứu về vấn đề
“Thanh niên nghèo” tại xã Nghĩa Mai, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An
Tuy vậy, nghiên cứu các chương trình, đề tài đã công bố tôi cũng đã tham khảo được nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn có giá trị đối với đề tài của mình Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những vấn đề được nghiên cứu những vấn đề được nghiên cứu trong các chương trình khoa học đó, kết
hợp khảo sát thực tế ở địa bàn nghiên cứu tôi đã lựa chọn đề tài: “Công tác
xã hội cá nhân với thanh niên nghèo t i xã gh i hu n gh
n t nh gh n” nhằm phản ánh thực trạng và nâng cao hiệu quả giải
quyết vấn đề nhằm giúp đỡ các đồng chí đoàn viên thanh niên nghèo có thể được có cơ hội vươn lên trong cuộc sống tại địa bàn xã Nghĩa Mai
1.2.2 Tổn qu n đị b n n ên cứu
Về đ ều k ện tự n ên:
- Nghĩa Mai là một xã vùng sâu đặc biệt khó khăn của huyện miền núi Nghĩa Đàn (Nghệ An), phía Đông tiếp giáp xã Nghĩa Yên, phía Nam tiếp giáp xã Nghĩa Thịnh, phía Tây tiếp giáp huyện Quỳ Hợp Là xã có địa hình đồi núi cao dày đặc ở phía Tây Mạng lưới giao thông đường bộ kết hợp với hệ thống thủy lợi, suối, đồi núi phân cách đồng ruộng thành nhiều vùng nhỏ lẻ
Trang 25- Xã nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa và có chung đặc điểm của miền núi Bắc Trung Bộ Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều biểu hiện bốn mùa rõ rệt (Xuân, Hạ, Thu, Đông), độ ẩm trung bình 84% tương đối cao trong mùa mưa, số giờ nắng trung bình 1500 giờ/năm
- Nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp lấy từ 3 đập thủy lợi nhỏ trên địa bàn nhưng chủ yếu đã bị xuống cấp
- Đất chủ yếu là đất đỏ trên nền đá bazan và đất pha cát
Về đ ều k ện k n tế xã ộ :
Xã Nghĩa Mai có tổng diện tích đất tự nhiên 11.823ha trong đó: đất nông nghiệp là 1.800ha; diện tích đất trồng lúa là 292ha, diện tích đất trồng rừng là 682ha , tổng sản lượng cả màu quy thóc của toàn xã là 1804 tấn/năm, tổng sản lượng thóc là 1250 tấn/năm, tổng thu nhập của toàn xã là
53 tỷ/năm Toàn xã được chia thành 23 xóm, có tổng tất cả là 1.582 hộ dân với 6.800 nhân khẩu, số người trong độ tuổi lao động là 3.650 người Toàn
xã được chia làm 23 xóm, hiện nay tổng số hộ kinh doanh buôn bán trên
toàn xã là 146 hộ.(Báo cáo tình hình kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm
2012 và kế hoạch nhiệm vụ năm 2013 của xã Nghĩa Mai)
Trang 26Về khó khăn
Tăng trưởng kinh tế của địa phương chậm, thiếu bất ổn do những bất
ổn mang tính cơ cấu của nền kinh tế chưa được giải quyết triệt để Năm
2014 cũng sẽ tiềm ẩn nguy cơ lạm phát cao sẽ tác động đến nền kinh tế của địa phương, giá cả một số mặt hàng tăng cao, trong khi thu nhập của nhân dân đạt thấp cùng với ảnh hưởng của thiên tai, bão lũ, dịch bệnh có thể xảy
ra cũng là yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế xã hội và đời sống của nhân dân
Hệ thống cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển, giao thông đi lại khó khăn, hệ thống điện chưa được đầu tư đúng mức.Trình độ sản xuất thấp, không đồng đều, thiết bị lạc hậu, nhận thức của nhân dân còn hạn chế, chưa áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất Nguồn thu ngân sách tại chỗ còn thấp và tăng chậm, chính phủ tiếp tục tiết kiệm chi 10% nâng lên 20% trong khi nhu cầu chi ngân sách ngày càng lớn, khả năng cân đối thu chi ngân sách trên địa bàn chưa cân đối
Chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi chậm, giá cả hàng hóa nông sản tiêu thụ còn phụ thuộc và bấp bênh, trên địa bàn xã đồng bào dân tộc thiểu
số chiếm tỉ lệ khá cao vì vậy trình độ nhận thức của nhân dân không đồng đều, đời sống của đa số hộ nông dân trên địa bàn vẫn là thuần nông
1.2.3 T ực trạn t n n ên n èo tạ đị b n xã N ĩa Mai, uyện N ĩ Đ n, tỉn N ệ An
Nghĩa Mai là một xã thuần nông thuộc miền núi phía tây của tỉnh Nghệ An Ở nơi đây khí hậu khắc nghiệt, nắng nóng và mùa khô, xói lở đất đai, lũ quét vào mùa mưa Đời sống của bà con nhân dân ở đây còn gặp rất nhiều khó khăn thiếu thốn Mức sống của người dân và trình độ văn hóa còn thấp, cách xa trung tâm huyện lỵ, mức độ tiếp cận với các dịch vụ xã hội, các chính sách còn hạn chế.Phương tiện sản xuất còn lạc hậu nên mức sống không được nâng cao, ý thức vươn lên trong cuộc sống của bà con nơi đây cũng đang còn thấp nên tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn rất cao
Trang 27Tính đến tháng 12 năm 2013, theo Báo cáo của Đoàn xã Nghĩa Mai tổng số lượng người trong độ tuổi thanh niên là 1447 người Nhưng trong
đó, số lượng thanh niên đi làm xa là 1034 người chiếm 71%, còn số lượng thanh niên ở nhà là 413 người, số lượng thanh niên tham gia vào sinh hoạt đoàn là 285 chỉ chiếm khảng 19% tổng số lượng người trong độ tuổi thanh niên của xã Trong đó tỷ lệ thanh niên thuộc diện hộ nghèo là 37%, thuộc diện hộ cận nghèo là 64%.Đây là một con số đáng báo động cho ý thức tham gia sinh hoạt đoàn của các đồng chí Đoàn viên thanh niên tại xã Nghĩa Mai
Phần lớn các đồng chí Đoàn viên thanh niên sống chung với gia đình, hoàn cảnh gia đình họ đặc biệt khó khăn nên khó tiếp cận được với các nguồn vốn khác nhau từ ngân hàng.Họ được hưởng một số chính sách của Đảng và Nhà nước dành cho hộ nghèo và hộ cận nghèo
Tính đến thời điểm tháng 12 năm 2013, toàn xã đang còn 25 hộ thanh niên nghèo thuộc 7 xóm: 9, 2A, 2B, 14, 15, 5A, 7A đang phải ở trong các căn nhà tre dột nát, thiếu lương thực, thiếu mọi phương tiện phục vụ đời sống hàng ngày, phục vụ sản xuất và thiếu đồ dùng sinh hoạt nghiêm trọng
Về điều kiện sinh hoạt văn hóa tinh thần nhìn chung của các hộ thanh niên nghèo còn thấp, 68% chưa có tivi, 40% không có radio, nhà ở nhỏ bé, thấp, hầu hết là tranh tre dột nát, nếu có mái ngói thì tường cũng chưa được xây bao kiên cố, phương tiện phục vụ đời sống sinh hoạt còn đơn sơ
Như đã nói ở trên Nghĩa Mai là một xã thuần nông, thu nhập của toàn
xã dựa vào nông nghiệp là chính trong khi đó công nghiệp và dịch vụ chưa thật sự phát triển Điều này làm cho nhân dân trên toàn xã nói chung gặp rất nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế Hầu hết thanh niên đều sống ở vùng nông thôn, nghề nghiệp của họ chủ yếu là sản xuất nông nghiệp: trồng lúa, khoai, sắn, chăn nuôi…song do thiếu vốn, thiếu kiến thức, thiếu kỹ thuật sản xuất nên năng suất thấp, rủi ro lớn làm cho đói nghèo kéo dài
Trang 281.2.4 Nguyên n ân dẫn đến n èo đó củ t n n ên xã N ĩ
mà một số dung cho việc khác như cho con em đi học các bậc học Một số
sử dụng vốn không hiệu quả với số vốn được vay.Một thực trạng cho thấy hầu hết các hộ nghèo đều đang nợ ngân hàng mà số nợ này cũng không phải là ít và có nguy cơ không hoàn lại được.Tuy nhiên cũng có một số hộ nhờ được vay vốn mà vươn lên thoát nghèo
Thực trạng chung của toàn xã hiện nay là nguồn thu nhập thấp, tình trạng thất nghiệp, không có việc làm còn rất cao Vì không có nguồn thu nhập nên việc thiêu vốn để làm kinh tế là điều không thể tránh khỏi Một số
hộ gia đình có kế hoạch, biết cách làm ăn thì không có đủ vốn, nếu được vay vốn thì cũng vay được ít vì tài sản thế chấp không đáng giá Chính vì việc không có vốn sản xuất dẫn đến tình trạng người dân nơi đây trở nên chán nản, thiếu hy vọng….Thậm chí, một số gia đình không có điều kiện cho con cái ăn học nhưng thương con cũng phải bán luôn cả những thứ có
giá trị trong nhà: “Năm ngoái gia đình tôi mới được xã cấp cho 1 cặp dê để
nuôi, tính đến đầu năm nay dê mẹ cũng đẻ được tất cả là 3 con rồi, nhưng vừa rồi không có tiền cho hai đứa em nạp tiền học, gia đình tôi không biết làm thế cả cuối cùng cũng phải bán đi 2 con để lấy tiền cho hai đứa nạp
mà vẫn chưa đủ” ( PV số 1, nam, 24 tuổi, làm nông, xóm 5A xã Nghĩa
Mai)
Trang 29*) Thiếu l o động, ốm đ u - b nh tật
Thiếu lao động hoặc không có việc làm là một trong những yếu tố quan trong dẫn đến tình trạng nghèo đói nơi đây Việc gia đình không có thu nhập là một thử thách rất lớn, nếu có lao động chắc chắn sẽ có thu nhập Hiện một số gia đình thiếu lao động trầm trọng, một phần là do sức khỏe kém, một phần chưa đến tuổi lao động hoặc do đi làm ăn xa Trong gia đình chỉ còn lại trẻ em và người già mà trong khi đó mọi chi phí cho hoạt động trong gia đình lại rất cao.Thu nhập thấp mà lại nuôi nhiều người thì không thể nào thoát nghèo được
Xã lại nằm trong diện có mật độ dân cư thưa thớt nhất huyện, vì vậy hiện tượng thiếu lao động là hiện tượng phổ biến nơi đây Mỗi hộ gia đình được Chính quyền Ủy Ban Nhân Dân xã cấp đất theo nhân khẩu, mỗi khẩu tương ứng với một diện tích đất nhất định Vì đất rộng mà người lại ít nên việc đất đai bị bỏ hoang còn rất nhiều, nguyên nhân chủ yếu là do không có lao động làm việc Nếu có lao động thì với việc không có vốn làm ăn họ sẽ tìm cách đi lên các thành phố lón để làm công nhân, còn những người ở nhà hầu hết không thể đảm đang nổi với diện tích đất như vậy Bên cạnh
đó, với việc các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe cho người dân còn hạn chế, tình trạng nghèo đói khiến người dân không được tiếp cận với khoa học hiện đại nên chất lượng lao động cũng bị giảm sút Không những vậy, những ốm đau – bệnh tật tại nạn bất ngờ cũng không những làm cho suy giảm nguồn lao động mà còn làm cho thu nhập của người dân càng giảm sút, thậm chí ốm đau bệnh tật kéo dài còn làm cho đời sống người dân khổ càng thêm khổ, kéo theo việc nợ nần ngày càng nhiều hơn
Nếu một lần bạn về với vùng quê nơi đây sẽ thấy được sự xuống dốc nghiêm trọng của các cơ sở y tế cũng như các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người dân Hầu hết các cơ sở còn thiếu thốn về cơ sở vật chất, cán bộ làm việc còn mang nặng “bệnh” thành tích nên sức khỏe người dân không được chú trọng Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến cho lực
Trang 30lượng lao động không được duy trì, đảm bảo: “Em thấy điều kiện chăm sóc
sức khỏe tại địa phương em chưa được tốt, là xã nghèo nên người dân địa phương em được cấp bảo hiểm miễn phí nhưng việc được nhận thuốc bảo hiểm là rất ít, lần nào em đưa mẹ đi khám lấy thuốc bảo hiểm thì đều được trả lời là hết thuốc bảo hiểm, và việc khám và điều trị ở đây rất khó khăn phải lên tuyến trên thì may ra mới nhanh khỏi chị ạ” (PV số 2, nữ, 19 tuổi,
sinh viên, xóm 7A)
*) Thiếu trang thiết bị phương ti n sản xuất
Vì là một xã vùng sâu vùng xa, lại nghèo đói nên việc tiếp cận với khoa học công nghệ cũng như các trang thiết bị hiện đại còn rất là hạn chế.Đặc biệt trình độ văn hóa của người dân còn kém nên việc tiếp thu và học hỏi kinh nghiệm làm ăn cũng không được chú trọng
Với tình hình kinh tế phát triển như hiện nay, với biết bao thành tựu khoa học đã sáng tạo ra nhiều phương tiện sản xuất hiện đại phục vụ cho đời sống sản xuất của người dân Nhưng đối với người dân nơi đây, việc được tiếp cận với khoa học kỹ thuật, các phương tiện sản xuất hiện đại còn rất hạn chế Chủ yếu họ sản xuất bằng phương pháp thủ công, cày bừa bằng trâu, cả xã số máy cày và máy bừa chỉ đếm trên đầu ngón tay Thậm chí việc bón phân bằng các loại phân bón hóa học cũng hạn chế, chủ yếu bón bằng phân chuồng nhưng số lượng cũng hạn hẹp
Bên cạnh đó, trình độ văn hóa của người dân còn thấp, việc áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật cũng như học hỏi kinh nghiệm sản xuất còn kém, các phương pháp sản xuất còn lạc hậu Tuy xã đã mở một số lớp tập huấn về các phương pháp cũng như kỹ thuật canh tác nhưng người dân vẫn không tiếp thu và áp dụng được Bởi lẽ, các phương pháp canh tác đó yêu cầu có kỹ thuật, kinh nghiệm cũng như phương tiện, thiết bị sản xuất.Nếu thiếu thốn phương tiện sản xuất cũng như kinh nghiệm… thì tỷ lệ thất bại cũng sẽ cao Nếu chỉ cần một hộ gia đình áp dụng phương thức canh tác, sản xuất không thành công thì các gia đình sau cũng sẽ lo ngại và
Trang 31không muốn áp dụng: “Giờ tôi chỉ mong nhận được sự giúp đỡ từ quỹ
thanh niên lập nghiệp hỗ trợ cho gia đình một ít vốn để đầu tư vào việc mua phương tiện sản xuất, cũng như phân bón, chứ gia đình tôi làm nông
cả bây giờ phân bón không có, cái cày cái cuốc cũng nên nói chi đến việc đầu tư lớn mà sản xuất” (Pv số 3, nam, 27 tuổi, thanh niên có hoàn cảnh
để sản xuất, chăm sóc cây trồng, tuy nhiên năng suất đạt được lại rất thấp, trong khi đó thị trường giá cả lại quá cao, chi phí để mua giống cây trồng, phân bón cao mà năng suất lại kém, sản lượng thu được và bán ra không đủ
để chi tiêu trong gia đình
Như vậy, với việc canh tác nhiều vụ mà không đảm bảo việc “cày sâu bừa kỹ” cũng như bón phân hiệu quả thì việc đất đai bạc màu và kém phì nhiêu là điều không thể tránh khỏi được Vì hoàn cảnh khó khăn nên tư tưởng “xót của” của người dân còn cao, chỉ cần thấy giá phân bón cao là họ lại không mua phân bón nữa, hoặc nếu mua thì cũng mua với số lượng ít không đảm bảo cho việc tái tạo lại đất được Đất đai thì ngày càng cằn cỗi lại kéo theo việc giống cây trồng không được tốt lại thiếu kinh nghiệm cũng như kỹ thuật canh tác thì hiệu quả thu lại sẽ rất thấp Sản lượng hoa màu thu được và bán ra không cao, thậm chí có hộ gia đình còn không đủ cho việc tiêu dùng trong nhà, thiếu bữa là hiện tượng vẫn còn phổ biến nơi
đây.” Gia đình tôi bây giờ chỉ mong nhà máy đường (nhà máy đường Nghệ
An T&L) hỗ trợ cho gia đình tôi ít mía giống và cho gia đình vay thêm ít phân bón để trồng mía chứ mía khi mô cũng còi cọc, giống thì lấy lại mía
Trang 32cũ năm trước mà phân bón thì không có nên năm mô năng suất cũng thấp lắm” (Pv số 4, nữ, 25 tuổi, xóm 8)
*) Ảnh hưởng của thiên tai:
Là một xã có địa hình chủ yếu là đồi núi nên thường bị hạn hán kéo dài vào mùa khô, bên cạnh đó vào mùa mưa lại thường xuyên bị sạt lở, lốc xoáy, lũ lụt Những nguyên nhân trên có ảnh hưởng rất lớn đến việc trồng trọt nông nghiệp của nhân dân.Vì nơi đây là một vùng miền núi nên vào mùa mưa bão việc bị lốc xoáy là thường xuyên diễn ra Đặc biệt ở các vùng trồng lúa ở gần cửa đập vào mùa mưa lũ lúa sẽ bị cuốn trôi
Ví dụ: Đập Làng Bui ở xóm 7A, đập Đồng Búng ở xóm 7B, đập
Làng Đồn ở xóm 3B…”Gia đình tôi được xóm giao cho 4 sào ruộng, cả
nhà 5 miệng ăn chỉ trông chờ vào từng đó, nhưng chỉ làm được vụ mùa còn
vụ chiêm thì không có nước để làm, mà đồng nhà tôi thì gần của mương vào mùa mưa lúc nào cũng bị cuốn trôi đi gần nửa có năm gia đình phải chịu đói” (PV số 5, nữ, 30 tuổi, xóm 5A)
Vào mùa mưa bão, nước trên nguồn chảy về các đập chứa nước nhiều, việc thoát nước không được thực hiện tốt dẫn đến tình trạng ngập úng, cuốn trôi.Nhiều đập chứa nước hệ thống cống rãnh xuống cấp hoặc không đạt yêu cầu dẫn đến việc vỡ đập.Việc làm hoa màu ở nới đây cũng còn khá vất vả, người dân chủ yếu canh tác trên đồi cao, việc khô hạn vào mùa hạ và sạt lở vào mùa mưa là điều không thể tránh khỏi
Chính những thiên tai này cũng cản trở cho việc giao thông đi lại, vận chuyển hàng hóa của người dân trong xã Mùa khô thì bụi, mùa mưa thì lầy lội, đường xá không thể đi lại bằng các phương tiện giao thông được
Bên cạnh đó, thiên tai còn ảnh hưởng đến đời sống người dân, nhiều
hộ gia đình còn ở trong nhà tranh tre tạm bợ, hoặc nhiều ngôi nhà đã được xây dựng lâu năm xuống cấp trầm trọng Vì vậy, vào mùa mưa bão nhà luôn bị dột, thậm chí có gia đình phải đi trú nhờ nhà người khác vì nhà bị
bão quất sập Ví dụ điển hình đó là gia đình chị Lê thị Vân 37 tuổi, thuộc
Trang 33diện đặc biệt khó khăn của xóm 6A, nhà chỉ có 2 mẹ con (đứa con trai 12 tuổi) sống trong căn nhà tạm bợ do làng xóm quyên góp tranh tre lại xây dựng cho đã nhiều năm Vào tháng 7/2010 ngôi nhà đã bị bão quật sập trong đêm rất may là 2 mẹ con chị đã kịp thoát và không bị thương tích Và hiện nay thì gia đình chị đã được chính quyền xã hỗ trợ xây dựng ngôi nhà tình nghĩa 2 gian kiên cố, giúp 2 mẹ con chị tránh mưa,tránh nắng an toàn
*) Những chính sách củ nh nước:
Việc đưa ra những chính sách trong việc phát triển kinh tế của xã hội tạo cho những người giàu lại có nhiều cơ hội tiếp cân các chính sách kinh tế thị trường Trong khi đó người nghèo lại quá yếu thế việc tiếp cận các cơ chế chính sách đó đôi khi chính nó đã đây nghười nghèo đến ranh giới cuối cùng của sự sống.Sự thiếu công bằng xã hội khiến người giàu càng giàu hơn còn người nghèo đã nghèo lại càng nghèo hơn
Người dân ở xã Nghĩa Mai nói riêng và người dân nghèo cuả cả nước nước nói chung rất cần lắm sự quan tâm giúp đỡ của Đảng và Nhà nước Mỗi một chính sách được đưa ra là một niềm vui, sự hy vọng của người dân, vì vây các chính sách đưa ra phải thiết thực, đi sát với đời sống của người dân Các chính sách đưa ra phải làm sao đó để người dân tiếp cận được và có sự trợ giúp lâu dài, cũng như có sự hiệu quả nhất định
Tất cả những nguyên nhân trên làm cho người dân nói chung và thanh niên ở đây nói riêng nghèo lại càng nghèo hơn, những hộ cận nghèo lại dễ dàng bị nghèo hơn
Trang 34CHƯƠNG 2: TIẾN TRÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÂN VỚI THANH NIÊN NGHÈO TẠI XÃ NGHĨA MAI, HUYỆN
NGHĨA ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
Công tác xã hội với cá nhân là một phương pháp can thiệp, giúp đỡ từng cá nhân con người thông qua mối quan hệ 1–1 (nhân viên CTXH -Thân chủ) Công tác xã hội với cá nhân là cách thức mà nhân viên CTXH
sử dụng để tác động vào cá nhân trong tiến trình can thiệp giải quyết vấn
đề Công cụ chủ yếu được sử dụng trong phương pháp này là sự tương tác giữa nhân viên CTXH và cá nhân thân chủ để giúp họ hiểu rõ vấn đề của
họ và giúp đỡ họ giải quyết vấn đề của chính họ, giúp họ tăng khả năng vận dụng các nguồn lực (tài nguyên) và của bản thân để thay đổi tình trạng của
họ
Về tại địa bàn Xã Nghĩa Mai tôi đã được tiếp xúc nhiều hơn với người dân tại địa bàn và đặc biệt là các đồng chí thanh niên có hoàn cảnh khó khăn của xã và tôi đã có các buổi làm việc với các các đồng chí thanh niên
ở nơi đây để tìm hiểu về đời sống hiện tại cũng như các vấn đề khó khăn
mà các đồng chí đang gặp phải trong cuộc sống
Trước khi có các buổi làm việc và tiếp xúc với các đồng chí thanh niên
có hoàn cảnh khó khăn trong thời gian ngắn tôi đã định hướng cho tiến trình Công tác xã hội với thanh niên nghèo trên nguyên tắc là:
Một nhân viên xã hội luôn phải thừa nhận quan điểm cho rằng thân chủ là người luôn có khả năng, năng lực và có tiềm năng để phát triển khi một thân chủ được xem là thiếu thông tin, thiếu kiến thức, thiếu kỹ năng sống, trách nhiệm của nhân viên xã hội là phải hướng dẫn đạt được và tìm
ra cách thức đạt được những điều đó Nhân viên xã hội thường xuyên phải lượng giá năng lực và khả năng của thân chủ để qua đó luôn đa dạng hóa những tiềm năng của họ
Đó là những quan niệm cũng như nguyên tắc bản thân tôi đặt ra để làm việc với thân chủ của mình Trong buổi thực tế tại địa bàn xã Nghĩa Mai
Trang 35được sự giúp đỡ của Chính quyền địa phương cũng như Ban chấp hành Đoàn xã Nghĩa Mai tôi đã đến thăm và làm việc với đồng chí thanh niên có hoàn cảnh khó khăn của xóm 7A, ở đây bản thân tôi đã được gặp và tiếp xúc với em Đường một trong những thanh niên có hoàn cảnh khó khăn nhất của xóm, cũng như là của Xã
Lựa chọn phương pháp công tác xã hội cá nhân để làm việc với thân chủ Thân chủ là một cá nhân thanh niên gặp vấn đề khó khăn trong cuộc sống, thực hiện việc giúp đỡ thân chủ theo 6 bước của tiến trình công tác xã hội cá nhân:
Bước 1 : Tiếp nhận thân chủ
Bước 2 : Thu thập thông tin Bước 3 : Đánh giá và xác định vấn đề Bước 4 : Lập kế hoạch can thiệp Bước 5 : Triển khai thực hiện kế hoạch Bước 6 : Lượng giá, chuyển giao
1.1 V nét về t ân c ủ v o n cản đìn
Họ và tên thân chủ : Lê Văn Đường
Về cuộc sống hiện tại và vấn đề thân chủ đang gặp phải : Đường sinh ra trong một gia đình có 3 anh em, Đường là con trai cả năm nay 20 tuổi, em vừa tốt nghiệp Trung học phổ thông, là một học sinh
có học lực khá giỏi của lớp Gia đình em thuộc diện hộ nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nhất của xóm 7A Bố mẹ em đều là nông dân Bố em bị nghiện rượu suốt ngày say xỉn, không lúc nào tỉnh táo, không lo làm ăn, trong nhà có đồ đạc gì có giá trị là đưa đi bán lấy tiền uống rượu, lúc say rượu thường hay đánh đập vợ con, gây sự với hàng xóm láng giềng Mẹ Đường thì bị bệnh hiểm nghèo gần 10 năm nay khiến cho đôi chân bị bại liệt phải ngồi một chỗ, di chuyển rất khó khăn Mọi sinh hoạt trong nhà đều phụ thuộc và Đường và người em gái kế tiếp (đã bỏ học năm lớp 8) còn em út( đang học lớp 4) thì đang nhỏ Đường cũng trong một lần đi khám bác sỹ chuẩn đoán có khả năng sẽ bị bệnh như mẹ nếu không chữa trị kịp thời dù hiện tại em đang rất khỏe mạnh và chưa có biểu hiện gì Đường mong
Trang 36muốn được đi học đại học để được làm bác sỹ sau này giúp đỡ những người nghèo đặc biệt là mẹ nhưng hoàn cảnh gia đình không cho phép Hiện tại em đang uống thuốc nam do người bác lấy trên rừng cho uống Vì hoàn cảnh gia đình và bản thân như vậy nên Đường trở nên mặc cảm, tự ty,
ít nói, ngại giao tiếp với bạn bè, làng xóm, có xu hướng sống cô lập Hiện
em đang rất muốn được đi học nhưng gia đình quá khó khăn nên phải ở nhà làm ruộng
« Đường là một đứa học giỏi, ngoan ngoãn nhưng hoàn cảnh gia đình
nó tội lắm, bây giờ cả gia đình chỉ trông cậy vào nó, càng lớn nó càng trở nên ít nói, ít giao tiếp với mọi người vì nó ngại, suốt ngày cắm cúi ngoài đồng ruộng thôi » (Pv số 6, nữ, 38 tuổi)
Vấn đề củ t ân c ủ : Đường có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố
thì suốt ngày say rượu, mẹ bị bại liệt hai chân, Bản thân em học giỏi muốn
đi học nhưng không có điều kiện, tự ty, mặc cảm, bản thân phải làm việc để nuôi gia đình và em út đi học, thân chủ có khả năng sẽ bị bệnh như mẹ
Thân chủ
Trang 37Trong sơ đồ phả hệ trên chúng ta cũng có thể thấy được: Ông bà nội của Đường sinh được 3 người con, trong đó chỉ có một người con trai đó là
bố của Đường Hiện nay thì ông nội Đường đã không còn nay chỉ còn lại
Bà nội đang ở cùng người con gái đầu (Tức là Bác ruột của Đường)
Mẹ của Đường vì bị bệnh hiểm nghèo nên ít khi ra khỏi nhà, học vấn lại thấp nên trình độ giao tiếp cũng như hiểu biết rất kém Nhưng có một đặc điểm đó là mẹ Đường rất thương các con, luôn luôn dạy bảo các
em nên người, phải trở thành người tốt, bảo ban các em làm việc hàng ngày
Vì bố của Đường là con trai duy nhất trong nhà nên Bà nội và các bác cũng rất quan tâm tới gia đình em Đường và các em được đi học cũng
là nhờ sự giúp đỡ của bà nội và gia đình các bác
S đồ s n t á :
Hình 3: Sơ đồ sinh thái
Chú thích: Quan hệ hai chiều
Quan hệ một chiều Trong mỗi con người chúng ta, các thành phần, thành tố bên ngoài tác động đến bản thân cá nhân là một điều rất quan trọng Nó đánh giá được
Thân chủ Đường
Đoàn thanh niên