1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường mầm non huyện triệu sơn, tỉnh thanh hóa

128 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường mầm non huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa
Tác giả Nguyễn Thị Hường
Người hướng dẫn TS. Phan Quốc Lâm
Trường học Trường đại học Vinh
Chuyên ngành Quản lý giáo dục
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2016
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục được chuẩn hóa, đảm bảo về chất lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương

Trang 1

NGUYỄN THỊ HƯỜNG

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG MẦM NON

HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HOÁ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Nghệ An, 2016

Trang 2

NGUYỄN THỊ HƯỜNG

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG MẦM NON

HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HOÁ

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 60.14.01.14

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS PHAN QUỐC LÂM

Nghệ An, 2016

Trang 3

Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa là một đề tài mà tôi rất tâm huyết Trên cơ sở lý luận, vốn kiến thức đã được tiếp thu trong quá trình học tập và nghiên cứu, được sự giảng dạy, hướng dẫn của các thầy cô giáo, sự cộng tác giúp đỡ của các đồng nghiệp Luận văn tốt nghiệp của tôi đã được hoàn thành

Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn các thầy giáo, cô giáo, các nhà khoa học trường Đại học Vinh đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập

Đặc biệt, tôi xin được trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với

TS Phan Quốc Lâm - Người Thầy trực tiếp hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Huyện uỷ, HĐND, UBND huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá, lãnh đạo, chuyên viên Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Triệu Sơn, các đồng chí Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng và giáo viên các trường Mầm non huyện Triệu Sơn đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ, động viên tôi học tập

và hoàn thành luận văn

Mặc dù đã hết sức cố gắng, nhưng luận văn không thể tránh khỏi những khiếm khuyết Tôi kính mong nhận được sự chỉ dẫn, góp ý và giúp đỡ của các thầy giáo, cô giáo, bạn bè và đồng nghiệp

Xin chân thành cảm ơn!

Triệu Sơn, tháng 6 năm 2016

Nguyễn Thị Hường

Trang 4

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN v

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ vi

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG MẦM NON 6

1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 6

1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 6

1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 6

1.2 Một số khái niệm cơ bản 8

1.2.1 Quản lý 8

1.2.2 Cán bộ quản lý 12

1.2.3 Cán bộ, đội ngũ cán bộ quản lý trường mầm non 15

1.2.4 Chất lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý 20

1.2.5 Giải pháp và giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ quản lý trường mầm non 21

1.3 Một số vấn đề lý luận về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường mầm non 22

1.3.1 Trường Mầm non 22

1.3.2 Vai trò của đội ngũ cán bộ quản lý trường mầm non 22

1.3.3 Yêu cầu về số lượng, cơ cấu đội ngũ cán bộ quản lý trường mầm non 23

1.3.4 Yêu cầu về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường mầm non 24

1.3.5 Sự cần thiết của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường mầm non 27

1.3.6 Công tác quản lý đội ngũ cán bộ quản lý trường mầm non 29

1.4 Một số vấn đề về quản lý chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường mầm non 31

1.4.1 Công tác quy hoạch phát triển đội ngũ cán bộ quản lý 31

1.4.2 Xây dựng và thực thi kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý 31

1.4.3 Đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý 32

1.4.4 Tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm, sử dụng và luân chuyển đội ngũ cán bộ quản lý 32

1.4.5 Chế độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ quản lý 33

Trang 5

HOÁ 36

2.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội huyện Triệu Sơn 36

2.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên - dân cư 36

2.1.2 Đặc điểm về điều kiện kinh tế xã hội 36

2.1.3 Đặc điểm về lịch sử, văn hóa, giáo dục 37

2.1.4 Những thuận lợi và khó khăn về kinh tế xã hội ảnh hưởng đến sự phát triển giáo dục 41

2.2 Thực trạng về Giáo dục và Đào tạo huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá 43

2.2.1 Tình hình chung về Giáo dục và Đào tạo huyện Triệu Sơn 43

2.2.2 Về quy mô trường lớp, học sinh, giáo viên mầm non, tiểu học, trung học cơ sở 44

2.2.3 Chất lượng giáo dục - đào tạo 46

2.2.4 Cơ sở vật chất, thiết bị trường học 47

2.2.5 Đội ngũ cán bộ giáo viên 49

2.2.6 Thành tích đạt được trong 5 năm qua 50

2.2.7 Mặt tồn tại 50

2.3 Thực trạng về giáo dục mầm non huyện Triệu Sơn 50

2.3.1 Quy mô phát triển 50

2.3.2 Đội ngũ cán bộ giáo viên các trường mầm non huyện Triệu Sơn 52

2.3.3 Chất lượng giáo dục mầm non huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa 54

2.3.4 Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học 55

2.3.5 Tài chính cho giáo dục 57

2.4 Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường mầm non huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa 58

2.4.1 Về số lượng và cơ cấu 58

2.4.2 Thực trạng về chất lượng cán bộ quản lý trường mầm non huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa 60

2.4.3 Thực trạng công tác quản lý chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường mầm non huyện Triệu Sơn 69

2.4.4 Đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa 74

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG MẦM NON HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HÓA 78

Trang 6

3.2.2 Giải pháp 2: Tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm, luân

chuyển cán bộ quản lý 81

3.2.3 Giải pháp 3: Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý 87

3.2.4 Giải pháp 4: Thực hiện tốt chế độ, chính sách đối với cán bộ quản lý 90

3.2.5 Giải pháp 5: Xây dựng hệ thống thông tin hỗ trợ công tác quản lý 94

3.2.6 Giải pháp 6: Đổi mới công tác đánh giá cán bộ quản lý 96

3.3 Điều kiện thực hiện các giải pháp 97

3.3.1 Thực hiện đồng bộ các giải pháp 97

3.3.2 Khai thác các điều kiện nội lực, ngoại lực 99

3.3.3 Cần chú ý đến đặc điểm và truyền thống văn hoá của địa phương 99

3.4 Thăm dò tính khả thi của các giải pháp 99

3.4.1 Khái quát vê thăm dò tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp 99

3.4.2 Kết quả thăm dò 100

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 103

TÀI LIỆU THAM KHẢO 106 PHỤ LỤC

Trang 7

BCH Ban chấp hành

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

Trang

Sơ đồ 1.1 Chu trình quản lý 12

Bảng 2.1: Thống kê trường, lớp, HS Mầm non, Tiểu học, THCS huyện Triệu Sơn 45

Bảng 2.2 Tỉ lệ huy động học sinh qua các năm 46

Bảng 2.3 Số lượng cán bộ, giáo viên, công nhân viên bậc học Mầm non, Tiểu học, Trung học cơ sở, Giáo dục Thường xuyên qua các năm 49

Bảng 2.4 Chất lượng CB, GV, CNV bậc học Mầm non, Tiểu học, THCS, GDTX năm học 2015 - 2016 49

Bảng 2.5: Quy mô phát triển giáo dục MN Triệu Sơn trong 5 năm lại đây 51

Bảng 2.6 Thống kê tình hình CBGV các trường MN huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa 52

Bảng 2.7 Trình độ đào tạo 52

Bảng 2.8 Xếp loại chuyên môn nghiệp vụ 53

Bảng 2.9 Kết quả chất lượng giáo dục trẻ 54

Bảng 2.10 Kết quả chăm sóc sức khỏe 54

Bảng 2.11 Thống kê cơ sở vật chất các trường mầm non huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa 55

Bảng 2.12 Thống kê đội ngũ CBQL các trường MN huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa năm học 2015 - 2016 58

Bảng 2.13 Xếp loại cán bộ quản lý năm học 2015 - 2016 59

Bảng 2.14: Tổng hợp kết quả điều tra về phẩm chất chính trị và đạo đức nghề nghiệp của CBQL trường MN huyện Triệu Sơn 61

Bảng 2.15: Tổng hợp kết quả điều tra về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm của CBQL các trường MN huyện Triệu Sơn 63

Bảng 2.16: Tổng hợp kết quả điều tra về năng lực quản lý nhà trường của CBQL các trường MN huyện Triệu Sơn 65

Sơ đồ 3.1: Các giải pháp nâng cao chất lượng CBQL trường MN huyện Triệu Sơn tỉnh Thanh Hóa 98

Bảng 3.1 Kết quả khảo sát tính khả thi của một số giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ quản lý trường MN ở huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa 100

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam chúng ta đã hội nhập tổ chức thương mại thế giới WTO và là thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, chúng ta đã

có những thay đổi mạnh mẽ về cơ chế, chính sách, về kinh tế chính trị, văn hóa -

xã hội Ngày nay các quốc gia đều nhận thức rằng: Con người vừa là mục tiêu

vừa là động lực của mọi sự phát triển, vì vậy muốn phát triển xã hội phải phát triển giáo dục và đào tạo để phát triển con người, đặc biệt trước bối cảnh trong nước và quốc tế hiện nay, thời kì hội nhập, nền kinh tế tri thức phát triển đến đỉnh cao thì giáo dục và đào tạo lại càng được Đảng và Nhà nước quan tâm Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X đã khẳng định: “Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy

công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [19]

Để phát triển giáo dục và đào tạo thì nhân tố đóng vai trò vô cùng quan trọng đó là nhân tố con người Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục là lực lượng cốt cán trực tiếp đề ra và thực hiện các mục tiêu giáo dục Là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục, cho nên chiến lược công tác cán bộ có tầm quan trọng đặc biệt và có ý nghĩa quyết định đến sự thành công của sự nghiệp cách mạng cũng như sự nghiệp giáo dục và đào tạo Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lí giáo dục là một vấn đề cấp thiết

Chỉ thị số 40-CT/TW đã định hướng: “Phải tăng cường xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục một cách toàn diện” với “mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục được chuẩn hóa, đảm bảo về chất lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo ”[2]

Nghị quyết hội nghị TW lần thứ II khóa VIII đã chỉ rõ một trong những giải pháp chủ yếu đó là: “Đổi mới cơ chế quản lí, bồi dưỡng cán bộ, sắp xếp

Trang 10

chấn chỉnh và nâng cao năng lực của bộ máy quản lí ”[15] cùng với việc “Quy định lại chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lí giáo dục và đào tạo theo hướng tập trung làm tốt chức năng quản lí nhà nước” [16] “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục được chuẩn hóa, đảm bảo về chất lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm nghề nghiệp và trình độ chuyên môn của nhà giáo, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [21]

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X cũng đã kết luận: “Phải thường xuyên quán triệt coi cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng” [21]

Chính vì vậy, đội ngũ cán bộ quản lí và công tác xây dựng đội ngũ cán bộ quản lí một cách toàn diện là một trong những nội dung quan trọng của đổi mới công tác quản lí, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo

Triệu Sơn là huyện bán sơn địa nằm phía Tây-Nam của tỉnh Thanh Hoá cách thành phố Thanh Hoá 20 km về phía tây, phía bắc giáp huyện Thọ Xuân, phía nam giáp huyện Như Thanh, Nông Cống; phía tây giáp huyện Thường Xuân, phía đông giáp huyện Đông Sơn Ở vào vị trí chuyển tiếp giữa các huyện đồng bằng với các huyện trung du miền núi, thuộc khu vực hành lang kỹ thuật quốc gia (đường điện 500KV, 220KV, 110KV, quốc lộ 47 và hệ thống tỉnh lộ)

và vùng kinh tế Tây Nam của tỉnh Thanh Hoá, Triệu Sơn rất thuận lợi trong giao lưu kinh tế - văn hoá với các huyện trong tỉnh và cả nước Trong những năm qua, thực hiện Nghị quyết TW2- Khoá VIII và Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, Giáo dục - Đào tạo huyện Triệu Sơn đã đạt được những kết quả to lớn Cơ

sở vật chất phục vụ cho dạy và học được tăng cường Mạng lưới và quy mô trường lớp được phát triển, chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao

Hiện nay (tính đến đầu năm học 2015-2016) Triệu Sơn có:

Trang 11

- Giáo dục mầm non: 36 trường mầm non với 386 nhóm, lớp; 9.650 học sinh; 838 cán bộ giáo viên, nhân viên; tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn trở lên là 99,3%, trong đó trên chuẩn là 48,9%; có 12/36= 33,3% trường đạt chuẩn Quốc gia

Tuy nhiên, theo yêu cầu phát triển của công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện nay, thì giáo dục và đào tạo của huyện Triệu Sơn còn nhiều bất cập, đặc biệt là công tác quản lý trường mầm non trên địa bàn huyện Triệu Sơn là một huyện thuần nông gặp nhiều khó khăn về các điều kiện kinh tế, xã hội, vì vậy phát triển giáo dục và đào tạo cũng gặp không ít những khó khăn Trong đó chất lượng đội ngũ CBQL giáo dục nói chung và CBQL giáo dục Mầm non nói riêng ở huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa còn nhiều hạn chế Vì vậy việc nghiên cứu nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý các trường Mầm non trên địa bàn huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa là hết sức cần thiết, có

ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương nâng cao chất lượng GD&ĐT, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước hiện nay

Trong những năm gần đây, đã có một số công trình khoa học đề cập đến những vấn đề khác nhau liên quan đến việc nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL trường học Song cho đến nay, ở huyện Triệu Sơn tỉnh Thanh Hóa chưa có một công trình nghiên cứu nào bàn về vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL

trường mầm non, đó là lý do để tôi chọn đề tài: “Một số giải pháp nâng cao

chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường Mầm non huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá”

Vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường MN

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Trang 12

Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường Mầm non huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa

4 Giả thuyết khoa học

Nếu chúng ta đề xuất và thực thi được các giải pháp có cơ sở khoa học và

có tính khả thi thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường Mầm non huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa

5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài

5.2 Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của đề tài: Khảo sát thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường Mầm non

5.3 Đề xuất và thăm dò tính cần thiết và tính khả thi một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý các trường Mầm non huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Gồm các phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại và hệ thống hoá các tài liệu và văn bản có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát, phương pháp điều tra

- Phương pháp lấy ý kiến của chuyên gia

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục

- Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động…

6.3 Phương pháp thống kê toán học để sử lý số liệu nghiên cứu

7 Dự kiến những đóng góp của luận văn

- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận về vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL Giáo dục Mầm non

- Làm sáng tỏ thực trạng công tác xây dựng đội ngũ CBQL trường Mầm non huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá

Trang 13

- Đề xuất được một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL Giáo dục Mầm non huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá

8 Dự kiến cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, các phụ lục, luận

văn gồm có ba chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ

quản lý trường mầm non

Chương 2 Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường Mầm

non huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa

Chương 3 Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý

trường Mầm non huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa

Trang 14

1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài

Trong thời gian qua, nhiều nhà nghiên cứu đã quan tâm đến việc tìm ra các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL trường học nói chung, các trường mầm non nói riêng

Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về QLGD của các tác giả, các tư tưởng quản lý sơ khai xuất phát từ các tư tưởng triết học cổ Hy Lạp và cổ Trung Hoa Sự đóng góp của các nhà triết học cổ Hy Lạp tuy còn ít ỏi nhưng đáng ghi nhận: Đó là các tư tưởng của Xôcrát (469-399 Tr CN), Platôn (427-

347 Tr.CN) và Arixtôt (384-322 Tr.CN) Thời Trung Hoa cổ đại đã công nhận các chức năng quản lý đó là: Kế hoạch hóa, tổ chức, tác động, kiểm tra Các nhà hiền triết của Trung Hoa trước công nguyên đã có những đóng góp lớn về tư tưởng quản lý quan trọng về tư tưởng quản lý vĩ mô, quản lý toàn xã hội Các nhà tư tưởng và chính trị lớn đó là Khổng Tử (551- 478 Tr.CN), Mạnh Tử (372-

289 Tr.CN), Thương Ưởng (390-338 Tr.CN) đã nêu lên tư tưởng quản lý “Đức trị, Lễ trị” lấy chữ tín làm đầu Những tư tưởng quản lý trên vẫn có ảnh hưởng khá sâu sắc đến các nước phương Đông ngày nay

“Những vấn đề quản lý trường học” (P.V Zimin, M.I Kônđakốp); “Cơ sở

lý luận của khoa học quản lý giáo dục” (M.I Kônđakốp); “Quản lý giáo dục quốc dân trên địa bàn huyện” (M.I Kôđakốp)

1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam

Ở Việt Nam từ những năm 90 trở về trước đã có một số công trình của nhiềc tác giả bàn về lý luận quản lý trường học và các hoạt động quản lý nhà

Trang 15

trường như: Nguyễn Ngọc Quang, Hà Sĩ Hồ và các bài giảng về QLGD (Trường CBQL giáo dục TW I) Những năm đầu của thập kỷ 90 đến nay đã

có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị như: “Giáo trình khoa học quản lý” của Phạm Trọng Mạnh (NXB ĐHQG Hà Nội năm 2001); “Khoa học tổ chức

và quản lý - một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của Trung tâm nghiên cứu khoa học tổ chức quản lý (NXB Thống kê Hà Nội, năm 1999); “Tâm lý xã hội trong quản lý” của Ngô Công Hoàn (NXB ĐHQG Hà Nội, năm 2002); “Quản

lý giáo dục và quản lý nhà trường” của PGS.TS Thái Văn Thành (NXB Đại học Huế, năm 2007); “Đại cương khoa học quản lý” của PGS.TS Trần Hữu Cát

và TS Đoàn Minh Duệ

Hiện nay, chúng ta đang đẩy nhanh tốc độ CNH-HĐH đất nước, mục

tiêu sớm đưa đất nước cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại thì việc tìm ra giải pháp nâng cao chất lượng CBQL các trường mầm non để nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ đặt nền móng vững chắc cho trẻ vào trường tiểu học và các cấp học tiếp theo Chính vì vây, nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL trở thành mối quan tâm chung của toàn xã hội, của các nhà nghiên cứu giáo dục và các cơ sở giáo dục Đã có không ít các nhà nghiên cứu, các nhà QLGD đã nghiên cứu vấn đề này như một số luận văn Thạc sĩ của các tác giả cụ thể:

Một số đề tài nghiên cứu chuyên sâu tuỳ theo đặc điểm từng vùng, miền

Ví dụ: Thạc sĩ Phạm Nguyễn Trâm Anh "Thực trạng phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non công lập tại quận 10 Thành Phố Hồ Chí Minh”; Thạc sĩ Nguyễn Thị Nhung và thạc sĩ Nguyễn Thị Nhị, đều nghiên cứu xây dựng đội ngũ CBQL của tỉnh Bình Phước của hai cấp học mầm non và Tiểu học Tỉnh Bình Phước có vị trí địa lý,đ iều kiện tự nhiên và điều kiện xã hội phức tạp ảnh hưởng không nhỏ đến sự nghiệp giáo dục nên các tác giả tập trung nghiên cứu số lượng, chất lượng, cơ cấu, phẩm chất, năng lực của đội ngũ CBQL từ đó đưa ra những biện pháp và xây dựng đội ngũ CBQL của tỉnh

Trang 16

Một số đề tài khác nghiên cứu chủ yếu về phẩm chất và năng lực của đội ngũ CBQL, sơ lược về thực trạng công tác xây dựng đội ngũ CBQL và đề xuất một số biện pháp xây dựng đội ngũ CBQL như đề tài của thạc sĩ; Văn Thị Tường Oanh hoặc chỉ nghiên cứu tổng quát về thực trạng công tác phát triển đội ngũ (quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, tuyển chọn, bổ nhiệm, luân chuyển, sử dụng, chế độ chính sách) và phát triển cá nhân đội ngũ CBQL (phẩm chất, năng lực), đưa ra những đề xuất giải pháp phát triển đội ngũ CBQL như nghiên cứu của Thạc sĩ Nguyễn Hữu Phi

Nhìn chung, từ những văn bản chỉ đạo của các cấp, các ngành mà mỗi tác giả khi nghiên cứu đều đưa ra những thực trạng và nhiều biện pháp khác nhau trong công tác nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL theo đặc thù của địa phương

Qua các công trình nghiên cứu chúng ta thấy có một điểm chung nổi bật

đó là: Khẳng định vai trò quan trọng của đội ngũ CBQL trường Mầm non trong việc nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ Đây cũng là một trong những tư tưởng mang tính chiến lược về phát triển giáo dục của Đảng ta Đồng thời các nghiên cứu cũng đã đề ra được một số giải pháp nâng cao chất lượng CBQL trường học, tuy nhiên vẫn còn nặng về lý thuyết và cũng chỉ phù hợp bó hẹp trong địa phương của mỗi tác giả Còn trên địa bàn huyện Triệu Sơn chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu việc nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL trường mầm non Chính vì vậy, việc nghiên cứu một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL trường mầm non huyện Triệu Sơn có một ý nghĩa lớn cả

về mặt lý luận và thực tiễn trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL trường mầm non huyện Triệu Sơn đáp ứng với yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp GD&ĐT

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Quản lý

Quản lý là một hoạt động lao động tất yếu trong quá trình phát triển của

xã hội loài người Khi đề cập đến vai trò quản lý, Mác đã viết: “Bất cứ lao động

Trang 17

xã hội trực tiếp hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm thì tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải

có nhạc trưởng” [26, tr.24]

Ngày nay, nhiều người khẳng định rằng quản lý trở thành một nhân tố của

sự phát triển xã hội Sự phát triển của xã hội loài người dựa vào ba yếu tố cơ bản, đó là: tri thức, sức lao động và trình độ quản lý Tri thức là sự hiểu biết của con người về thế giới, lao động là sự vận dụng tri thức để tác động vào thế giới đem lại của cải, vật chất, còn quản lý bao gồm cả tri thức và lao động Quản lý

là sự tổ chức, điều hành, kết hợp vận dụng tri thức với việc sử dụng sức lao động

để phát triển sản xuất xã hội Việc kết hợp đó tốt thì xã hội phát triển, ngược lại kết hợp không tốt thì xã hội sẽ trì trệ

Trong nghiên cứu khoa học, có rất nhiều quan điểm khác nhau về quản lý, theo những cách tiếp cận khác nhau

Có thể điểm qua một vài quan điểm của các nhà nghiên cứu như sau: Pall Hersey và Ken Blanc Hard trong cuốn “Quản lý nguồn nhân lực” thì xem xét “Quản lý như là một quá trình làm việc cùng và thông qua các cá nhân, các nhóm cũng như các nguồn lực khác để hình thành các mục đích của tổ chức” [26, tr.52]

Theo W.Taylor: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó như thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất”

Theo quan điểm hệ thống thì: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến đổi của môi trường

Trang 18

Từ điển Tiếng Việt (1992) đặt quản lý trong vai trò một động từ và được định nghĩa như sau: “Quản lý là quá trình trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định; là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [35, tr.798]

Theo GS Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (Nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”

Theo Trần Hữu Cát, Đoàn Minh Duệ thì: “Quản lý là hoạt động thiết yếu nảy sinh khi con người hoạt động tập thể, trong đó quan trọng nhất là khách thể con người nhằm thực hiện các mục tiêu chung của tổ chức” [9, tr.41]

Tóm lại: Khái niệm quản lý các tác giả đều thống nhất chung là: Quản lý

là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống

để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường

Như vậy, rõ ràng “Quản lý không chỉ là một khoa học mà còn là nghệ thuật” và “Hoạt động quản lý vừa có tính chất khách quan, vừa mang tính chủ quan, vừa có tính pháp luật Nhà nước, vừa có tính xã hội rộng rãi, chúng là những mặt đối lập trong một thể thống nhất”

Chức năng quản lý:

Chức năng quản lý là một dạng hoạt động quản lý chuyên biệt, thông qua

đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định

Các nhà nghiên cứu về quản lý đã đưa ra nhiều quan điểm về nội dung của các chức năng quản lý, nhưng có thể khái quát rằng quản lý có 4 chức năng

cơ bản sau:

+ Chức năng kế hoạch: là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu

tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó Chức năng kế hoạch hoá có các nội dung cơ bản sau:

Trang 19

Xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức

Xác định đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) và các nguồn lực của tổ chức để đạt được mục tiêu này

Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục tiêu, xác định các hoạt động ưu tiên

+ Chức năng tổ chức: là những nội dung và phương thức hoạt động cơ

bản trong việc thiết lập cấu trúc của tổ chức, mà nhờ đó chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý một cách có hiệu quả nhằm thực hiện được mục tiêu của

kế hoạch

+ Chức năng chỉ đạo (lãnh đạo): là phương thức tác động của chủ thể

quản lý đến đối tượng quản lý theo đúng kế hoạch và có hiệu quả nhằm thực hiện được mục tiêu của kế hoạch

Chỉ đạo tập chung vào các ưu tiên sau:

Nhận thức lĩnh hội quan điểm, xây dựng tầm nhìn, lý tưởng và sứ mệnh của hệ thống

Làm sáng tỏ được thực trạng vận động của hệ thống, phân tích các mâu thuẩn trong quá trình phát triển, phát hiện ra nhân tố mới

Tổng kết được quy luật, xu thế phát triển của hệ thống

Đề xuất các phương án chiến lược phát triển hệ thống

+ Chức năng kiểm tra: Là một chức năng quản lý, thông qua đó một cá

nhân, một nhóm hay một tổ chức theo dõi, giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động điều chỉnh, uốn nắn (nếu cần thiết)

Bốn chức năng quản lý nói trên có mối quan hệ mật thiết và gắn bó hữu

cơ biện chứng với nhau Cả bốn chức năng trên đều được triển khai khi tiến hành hoạt động quản lý Bất cứ người quản lý nào cũng phải làm công việc lập

kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra

Như vậy trong mọi quá trình quản lý, người cán bộ quản lý phải thực hiện một dãy chức năng quản lý kế tiếp nhau một cách lôgic, bắt đầu từ lập kế hoạch

Trang 20

rồi tổ chức thực hiện, chỉ đạo thực hiện và cuối cùng là kiểm tra đánh giá Quá trình này được tiếp diễn một cách tuần hoàn và được gọi là chu trình quản lý Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý và vai trò của thông tin trong chu trình quản lý thể hiện bằng sơ đồ:

Sơ đồ 1.1 Chu trình quản lý 1.2.2 Cán bộ quản lý

Theo nghĩa rộng: Cán bộ quản lý bao gồm tất cả những người tham gia vào hệ thống quản lý và hình thành chức năng nhất định Đó là tất cả những người không tham gia trực tiếp vào qua trình sản xuất Theo chức năng thì cán

bộ quản lý chia làm ba loại:

+ Cán bộ lãnh đạo: Chỉ huy trong bộ máy quản lý có một chức năng nhất định do Nhà nước cấp hoặc do cấp trên bổ nhiệm Phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước và cấp trên trong việc chỉ đạo hoạt động của tổ chức do mình phụ trách Hoạt động đặc trưng của họ là ra các quyết định và tổ chức thực hiện các quyết định quản lý

+ Các chuyên gia: là những người có trình độ chuyên môn trong một lĩnh vực nào đó như kinh tế, toán học, kỹ sư, Chức năng của họ là chuẩn bị các

Kế hoạch hoá

Thông tin

Chỉ đạo Kiểm tra

Trang 21

phương án cho người cán bộ lãnh đạo ra quyết định Ngoài ra còn được người cán bộ lãnh đạo giao cho nhiệm vụ theo dõi kiểm tra một số công tác nào đó theo nguyên tắc quản lý

+ Các nhân viên quản lý như: Nhân viên thống kê, kế toán, thư ký, chức năng của họ là thu thập, chỉnh lý và truyền đạt những thông tin ban đầu, chuẩn

bị và hình thành các loại tư liệu cần thiết đảm bảo cho cán bộ lãnh đạo và chuyên gia điều hành sản xuất kinh doanh của một tổ chức nào đó

Theo nghĩa hẹp: Cán bộ quản lý tương ứng với người lãnh đạo cao nhất trong tổ chức

Quản lý trường mầm non chính là tổ chức chỉ đạo và điều hành quá trình

tổ chức chăm sóc giáo dục trẻ của giáo viên và hoạt động của trẻ mà trò chơi đóng vai trò chủ đạo ở lứa tuổi mẫu giáo hoạt động với đồ vật chủ đạo ở lứa tuổi nhà trẻ, đồng thời quản lý những điều kiện cơ sở vật chất và công việc phục vụ cho chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ, hướng dẫn tổ chức của giáo viên và tham gia hoạt động tích cực của trẻ, nhằm đạt được mục tiêu của giáo dục mầm non

Mầm non là bậc học nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân Trường mầm non vừa là một thiết chế xã hội trong quản lý quá trình đào tạo trung tâm, vừa là một bộ phận của cộng đồng trong guồng máy giáo dục quốc dân Hoạt động quản lý của trường mầm non thể hiện đầy đủ bản chất của hoạt động quản lý, mang tính xã hội, tính khoa học, tính kỹ thuật và nghệ thuật của hoạt động quản lý

1.2.2.1 Vị trí, nhiệm vụ của trường mầm non

Điều 6 Điều lệ trường mầm non và khoản 2 điều 2, thông tư sửa đổi bổ sung một số điều của điều lệ trường mầm non Số: 44/2010/TT-BGDĐT ngày 30 tháng 12 năm 2010 Điều lệ trường mầm non xác định: "Nhà trường, nhà trẻ có

tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng"

"Nhà trường, nhà trẻ hỗ trợ các nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập trên cùng một địa bàn theo sự phân công của cấp có thẩm quyền và thực hiện các nhiệm

Trang 22

vụ Huy động trẻ em lứa tuổi mầm non đến trường; tổ chức giáo dục hoà nhập cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em khuyết tật; thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi Hằng năm, tự kiểm tra theo tiêu chuẩn quy định

về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi, báo cáo cấp có thẩm quyền bằng văn bản” [6, tr.8]

1.2.2.2 Mục tiêu của giáo dục mầm non

Mục tiêu của giáo dục mầm non theo Thông tư số: 17/2009/TT-BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo

"Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất,

tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một; hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lí, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời” [7]

1.2.2.3 Nhiệm vụ và quyền hạn của trường mầm non

Điều 2 Điều lệ trường Mầm non quy định trường Mầm non có những nhiệm vụ và quyền hạn sau:

- Tổ chức thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi theo chương trình giáo dục mầm non do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành

Huy động trẻ em lứa tuổi mầm non đến trường; tổ chức giáo dục hoà nhập cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em khuyết tật; thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi Hằng năm, tự kiểm tra theo tiêu chuẩn quy định

về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi, báo cáo cấp có thẩm quyền bằng văn bản”

- Quản lý cán bộ, giáo viên, nhân viên để thực hiện nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em

Trang 23

- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực theo quy định của pháp luật

- Xây dựng cơ sở vật chất theo yêu cầu chuẩn hoá, hiện đại hoá hoặc theo yêu cầu tối thiểu đối với vùng đặc biệt khó khăn

- Phối hợp với gia đình trẻ em, tổ chức và cá nhân để thực hiện hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em

- Tổ chức cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và trẻ em tham gia các hoạt động xã hội trong cộng đồng

- Thực hiện kiểm định chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ

em theo quy định

- Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật [6, tr.3]

1.2.3 Cán bộ, đội ngũ cán bộ quản lý trường mầm non

1.2.3.1 Khái niệm cán bộ, cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý

Theo Từ điển tiếng Việt thì: “Cán bộ là người làm công tác nghiệp vụ

chuyên môn trong các cơ quan Nhà nước” [35]

CBQL là chủ thể, gồm những người giữ vai trò tác động, ra lệnh, kiểm tra đối tượng quản lý CBQL là người chỉ huy, lãnh đạo, tổ chức thực hiện các mục tiêu nhiệm vụ của tổ chức Người quản lý vừa là người lãnh đạo, quản lý cơ

quan vừa chịu sự lãnh đạo, quản lý của cấp trên

Tuy có nhiều cách hiểu, cách dùng khác nhau trong các trường hợp, các lĩnh vực khác nhau, song các cách hiểu đều có các điểm chung và đều bao hàm ý nghĩa chính của nó là bộ khung, là nòng cốt, là chỉ huy Như vậy, có thể quan niệm một cách chung nhất: Cán bộ là chỉ những người có chức vụ, có vai trò và cương vị nòng cốt trong một tổ chức, có tác động ảnh hưởng đến hoạt động của một tổ chức và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lí, điều hành, góp phần định hướng cho sự phát triển của tổ chức

Theo các tác giả Nguyễn Phú Trọng - Trần Xuân Sâm: Khái niệm cán bộ lãnh đạo được chia làm hai phần:

Trang 24

- Thành phần thứ nhất được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm những ai giữ chức vụ và trách nhiệm cao trong một tổ chức, có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của tổ chức, của bộ máy, có vai trò tham gia định hướng, điều khiển hoạt động của bộ máy

- Thành phần thứ hai trong khái niệm cán bộ lãnh đạo là người cầm đầu trong các tổ chức quốc gia Họ là nhóm lãnh đạo tầm vĩ mô Thế giới gọi đây là nhóm lãnh đạo chính trị quốc gia Ở nước ta, nhóm lãnh đạo chính trị ở tầm quốc gia này còn gọi là lãnh đạo cấp cao, chủ chốt

Khái niệm cán bộ quản lý và cán bộ lãnh đạo là hai khái niệm gắn liền với nhau, đều được hiểu là những người có chức vụ, có trách nhiệm điều hành và cầm đầu trong một tổ chức Cả hai đều có vai trò định hướng, điều khiển hoạt động của bộ máy và là chủ thể ra quyết định điều khiển hoạt động của một tổ chức Người cán bộ lãnh đạo phải thực hiện chức năng lãnh đạo, đồng thời cũng phải thực hiện chức năng của người quản lí Tuy nhiên hai khái niệm trên không hoàn toàn đồng nhất với nhau

+ Quản lí bao gồm việc tổ chức các nguồn lực, việc kế hoạch hoá, việc tạo

ra các hoạt động để đạt mục tiêu phát triển

+ Lãnh đạo ngoài việc tổ chức hoạt động còn là việc làm thế nào để tập hợp được lực lượng tiến hành hoạt động có hiệu quả [33]

Như vậy, trong quá trình lãnh đạo, hoạt động chủ yếu là định hướng cho khách thể thông qua hệ thống cơ chế, đường lối, chủ trương, chính sách Còn hoạt động quản lí mang tính điều khiển, vận hành thông qua những thiết chế có tính pháp lệnh được quy định trước

Trong nhà trường, người Hiệu trưởng vừa với tư cách là người lãnh đạo, vừa với tư cách là người quản lí phải biết suy nghĩ về những nhu cầu cần thiết trong quá trình xây dựng chương trình phát triển nhà trường Bất cứ lúc nào cũng phải nghĩ đến HS, phải quan tâm đến nhu cầu phát triển của GV, đặc biệt

là nhu cầu phát triển nghề nghiệp

Trang 25

1.2.3.2 Cán bộ quản lý giáo dục

Căn cứ vào các khái niệm trên ta có thể hiểu: CBQL giáo dục là những người có chức vụ, có vai trò và cương vị nòng cốt trong một tổ chức thuộc hệ thống giáo dục Người CBQL giáo dục là người có trách nhiệm phân bố nhân lực và các nguồn lực khác, chỉ dẫn sự vận hành của một bộ phận hay toàn bộ tổ chức giáo dục, để tổ chức hoạt động có hiệu quả và đạt đến mục đích

1.2.3.3 Đội ngũ cán bộ quản lý trường mầm non

Đội ngũ CBQL trường mầm non là người đại diện cho nhà nước về mặt pháp lý, có trách nhiệm và thẩm quyền về mặt hành chính và chuyên môn, chịu trách nhiệm trước các cơ quan quản lý cấp trên về tổ chức và các hoạt động giáo dục của trường mầm non; có vai trò ra quyết định quản lý, tác động điều khiển các thành tố trong các hệ thống nhà trường mầm non nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ GD&ĐT được quy định bằng pháp luật hoặc bằng các văn bản, thông

tư, hướng dẫn do các cấp có thẩm quyền ban hành

Trong phạm vi luận văn này chúng tôi chỉ nghiên cứu đối tượng cán bộ

quản lý trường mầm non là đội ngũ Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng

2 Hiệu trưởng do Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo bổ nhiệm đối với nhà trường, nhà trẻ công lập, công nhận đối với nhà trường, nhà trẻ dân lập, tư thục theo quy trình bổ nhiệm hoặc công nhận Hiệu trưởng của cấp có thẩm quyền

Nhiệm kỳ của Hiệu trưởng nhà trường, nhà trẻ là 5 năm Sau 5 năm, Hiệu trưởng được đánh giá và có thể bổ nhiệm lại hoặc công nhận lại Đối với nhà

Trang 26

trường, nhà trẻ công lập, mỗi Hiệu trưởng chỉ được giao quản lí một nhà trường hoặc một nhà trẻ không quá hai nhiệm kì

Sau mỗi năm học, mỗi nhiệm kì công tác, Hiệu trưởng nhà trường, nhà trẻ được cán bộ, giáo viên trong trường và cấp có thẩm quyền đánh giá về công tác quản lí các hoạt động và chất lượng giáo dục của nhà trường theo quy định”

3 Người được bổ nhiệm hoặc công nhận làm Hiệu trưởng nhà trường, nhà trẻ phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau:

a) Có trình độ chuẩn được đào tạo là có bằng trung cấp sư phạm mầm non, có ít nhất 5 năm công tác liên tục trong giáo dục mầm non Trường hợp do yêu cầu đặc biệt của công việc, người được bổ nhiệm hoặc công nhận là Hiệu trưởng có thể có thời gian công tác trong giáo dục mầm non ít hơn theo quy định;

b) Đã hoàn thành chương trình bồi dưỡng cán bộ quản lý; có uy tín về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, chuyên môn, nghiệp vụ; có năng lực tổ chức, quản lý nhà trường, nhà trẻ và có sức khoẻ

4 Nhiệm vụ và quyền hạn của Hiệu trưởng a) Xây dựng quy hoạch phát triển nhà trường; lập kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục từng năm học; báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện trước Hội đồng trường và các cấp có thẩm quyền;

b) Thành lập các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và các hội đồng tư vấn trong nhà trường, nhà trẻ; bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó Đề xuất các thành viên của Hội đồng trường trình cấp có thẩm quyền quyết định;

c) Phân công, quản lý, đánh giá, xếp loại; tham gia quá trình tuyển dụng, thuyên chuyển; khen thưởng, thi hành kỷ luật đối với giáo viên, nhân viên theo quy định;

d) Quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính, tài sản của nhà trường, nhà trẻ;

Trang 27

đ) Tiếp nhận trẻ em, quản lý trẻ em và các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em của nhà trường, nhà trẻ; quyết định khen thưởng, phê duyệt kết quả đánh giá trẻ theo các nội dung nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em do

Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định;

e) Dự các lớp bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ quản lý; tham gia các hoạt động giáo dục hai giờ trong một tuần; được hưởng chế độ phụ cấp và các chính sách ưu đãi theo quy định;

f) Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở và tạo điều kiện cho các tổ chức chính trị - xã hội trong nhà trường, nhà trẻ hoạt động nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ;

g) Thực hiện xã hội hoá giáo dục, phát huy vai trò của nhà trường đối với cộng đồng [6, tr.19]

Thứ hai: Phó Hiệu trưởng:

Phó Hiệu trưởng là người giúp việc cho Hiệu trưởng và chịu trách nhiệm trước Hiệu trưởng và trước pháp luật, phó hiệu trưởng do Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo bổ nhiệm đối với nhà trường, nhà trẻ công lập; công nhận đối với nhà trường, nhà trẻ dân lập, tư thục theo đề nghị của Trưởng phòng giáo dục và đào tạo Trường hạng I có 2 phó hiệu trưởng; trường hạng II có 1 phó hiệu trưởng; được bố trí thêm 1 phó hiệu trưởng nếu có từ 5 điểm trường hoặc có từ

20 trẻ em khuyết tật trở lên Các hạng I, II của nhà trường, nhà trẻ được quy định tại Thông tư số 71/2007/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 28 tháng 11 năm 2007 liên tịch Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Nội vụ, hướng dẫn định mức biên chế sự nghiệp trong các cơ sở giáo dục mầm non công lập [6, tr.21]

Phó Hiệu trưởng có trách nhiệm và quyền hạn sau đây:

- Chịu trách nhiệm điều hành công việc do Hiệu trưởng phân công;

- Điều hành hoạt động của nhà trường khi được Hiệu trưởng uỷ quyền;

- Dự các lớp bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ quản lý; tham gia giảng dạy bình quân 4 giờ trong một tuần; được hưởng chế độ phụ cấp và

Trang 28

các chính sách ưu đãi theo quy định [6, tr.22]

1.2.4 Chất lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý

1.2.4.1 Chất lượng

Theo quan điểm triết học, chất lượng được định nghĩa: "Chất lượng, phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật phân biệt nó đối với sự vật khác Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật Chất lượng biểu hiện ra bên ngoài qua các thuộc tính Nó là các liên kết cái thuộc tính của sự vật lại làm một, gắn bó với sự vật

và không tách khỏi sự vật Sự vật trong khi vẫn còn là bản thân nó thì không thể mất chất lượng của nó Sự thay đổi chất lượng kéo theo sự thay đổi của sự vật về căn bản Chất lượng của sự vật bao giờ cũng gắn liền với tính quy định về số lượng của nó và không thể tồn tại ngoài tính quy định ấy Mỗi sự vật bao giờ cũng là sự thống nhất của chất lượng và số lượng” “Chất lượng là cái làm nên phẩm chất, giá trị của con người, sự vật”, "Cái làm nên bản chất sự vật, làm cho

sự vật này khác với sự vật kia" Hoặc “Chất lượng là tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc) làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với

sự vật (sự việc) khác” [30]

- Theo Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) ISO 8402: Chất lượng là tập hợp những đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng) đó có khả năng thoả mãn nhu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn

Như vậy, vận dụng quan điểm này việc đánh giá chất lượng cán bộ nói chung và đội ngũ CBQL giáo dục nói riêng thì cần phải so sánh kết quả các hoạt động của cán bộ đó với các chuẩn quy định hay những mục tiêu của các hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của họ

1.2.4.2 Chất lượng cán bộ quản lý

Chất lượng cán bộ quản lý trường MN chính là năng lực nghề nghiệp

và phẩm chất nhân cách của họ, chứ không chỉ đơn thuần là sự phù hợp với mục tiêu

Trang 29

Theo định nghĩa chất lượng là”cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, sự vật hiện tượng” và định nghĩa chất lượng là “tập hợp các dặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể đó có khả năng thoả mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn” Thì chất lượng CBQL trường MN thể hiện trên hai phương diện đức và tài, là sự kết hợp những đặc điểm của con người Việt Nam và những yêu cầu của người CBQL MN trong giai đọan hiện nay

Như vậy, chất lượng CBQL trường MN là tập hợp các yếu tố: bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, lương tâm nghề nghiệp và trình độ chuyên môn đảm bảo cho người CBQL đáp ứng ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục trong công cuộc đẩy mạnh CNH, HĐH quê hương đất nước và hội nhập quốc tế

Muốn xác định giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL, cần phải đánh giá được chất lượng CBQL

1.2.4.3 Chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý

Chất lượng đội ngũ được hiểu là những phẩm chất và năng lực cần có của từng cá thể và của cả đội ngũ để có một lực lượng lao động người đủ về số lượng, phù hợp về cơ cấu và tạo ra những phẩm chất và năng lực chung cho đội ngũ nhằm đáp ứng yêu cầu hoạt động theo chức năng và nhiệm vụ của tổ chức

1.2.5 Giải pháp và giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ quản lý trường mầm non

1.2.5.1 Giải pháp

Theo từ điển Tiếng Việt giải pháp là: “Phương pháp giải quyết một vấn đề

cụ thể nào đó” [35] Như vậy nói đến giải pháp là nói đến những cách thức tác động nhằm thay đổi chuyển biến một hệ thống, một quá trình, một trạng thái nhất định , tựu trung lại, nhằm đạt được mục đích hoạt động Giải pháp càng thích hợp, càng tối ưu, càng giúp con người nhanh chóng giải quyết những vấn

đề đặt ra Tuy nhiên, để có được những giải pháp như vậy, cần phải dựa trên

những cơ sở lý luận và thực tiễn đáng tin cậy

Trang 30

1.2.5.2 Giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ quản lý trường mầm non

Là những cách thức tác động hướng vào việc tạo ra những biến đổi về chất lượng trong đội ngũ CBQL trường MN

1.3 Một số vấn đề lý luận về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ

quản lý trường mầm non

1.3.1 Trường Mầm non

Trường MN là đơn vị giáo dục cơ sở của ngành học mầm non, trường mầm non được liên hợp giữa nhà trẻ và mẫu giáo Trường mầm non có chức năng thu nhận để chăm sóc và giáo dục trẻ em từ 3 tháng đến 6 tuổi, nhằm giúp trẻ hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách; chuẩn bị cho trẻ em vào lớp 1

1.3.2 Vai trò của đội ngũ cán bộ quản lý trường mầm non

Đội ngũ CBQL trường MN là lực lượng trực tiếp quản lý mọi hoạt động của trường MN Họ là thành phần cốt cán trong đội ngũ giáo viên MN, chịu trách nhiệm hoàn toàn trước Đảng và Nhà nước về chất lượng, hiệu quả công tác GDMN Nâng cao chất lượng đội ngũ GVMN mà nòng cốt là đội ngũ CBQL trường MN là tạo tiền đề quan trọng, cần thiết cho việc nâng cao hiệu quả GDMN trong giai đoạn hiện nay

Đội ngũ CBQL trường mầm non là những người làm công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành các hoạt động của trường MN Quyết định 55 xác định rõ nhiệm vụ của đội ngũ CBQL trường Mầm non như sau:

- Đảm bảo chất lượng chăm sóc và giáo dục theo yêu cầu mục tiêu đào tạo

- Đảm bảo chỉ tiêu về số lượng của nhà trẻ, trường mẫu giáo

- Có kế hoạch kiểm tra đôn đốc việc thực hiện những quy định về chuyên môn và có kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên nhà trẻ, mẫu giáo

Trang 31

- Từng bước xây dựng đội ngũ giáo viên, cán bộ công nhân viên trong nhà trẻ, trường mẫu giáo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu

- Từng bước hoàn thiện việc trang bị cơ sở vật chất theo tiêu chuẩn cho những trường, lớp có đủ điều kiện

- Thường xuyên rút kinh nghiệm và cải tiến công tác quản lý nhà trẻ, trường mẫu giáo để nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ theo mục tiêu,

kế hoạch đào tạo

Tóm lại: Sứ mệnh của CBQL các trường Mầm non thật to lớn và nặng nề Đặc biệt là từ giai đoạn 2002 - 2005 trở đi, đội ngũ CBQL các trường MN có thêm nhiệm vụ cực kỳ quan trọng là phải phấn đấu xây dựng trường MN đạt chuẩn Quốc gia theo Thông tư số 02/2014/TT-BGDĐT do Bộ GD&ĐT ban hành ngày 08/02/2014 Một trong những tiêu chuẩn để được công nhận trường

MN đạt chuẩn Quốc gia CBQL phải được xếp loại tốt trở lên về năng lực và hiệu quả quản lý Làm tốt được các nhiệm vụ trên sẽ giúp cho công tác giáo dục của nhà trường phát triển phù hợp, thống nhất với kế hoạch của địa phương, tận dụng được sức mạnh của các tổ chức và cá nhân trong công tác xây dựng và phát triển nhà trường

1.3.3 Yêu cầu về số lượng, cơ cấu đội ngũ cán bộ quản lý trường mầm non

a) Số lượng: Căn cứ vào việc phân hạng trường để bổ nhiệm đội ngũ

CBQL đủ về số lượng: Ở mỗi trường cần phải có 1 Hiệu trưởng và có ít nhất từ

1 đến 2 Phó hiệu trưởng đảm nhận các nhiệm vụ khác nhau trong trường Mầm non về công tác chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ từ 3 tháng tuổi đến 72 tháng tuổi tuổi do Hiệu trưởng phân công Đối với trường hạng 1 có 1 hiệu trưởng và 2 phó hiệu trưởng Được bố trí thêm 1 phó hiệu trưởng nếu có từ 5 điểm trường hoặc có từ 20 trẻ em khuyết tật hoà nhập trở lên, đối với trường hạng 2 được bố trí 1 hiệu trưởng và 1 phó hiệu trưởng [6, tr.11]

Trang 32

b) Cơ cấu: Cơ cấu đội ngũ được xem xét ở nhiều mặt Trong luận văn này, chúng tôi chỉ tập trung vào các mặt chủ yếu sau:

- Độ tuổi và thâm niên: Hài hoà về độ tuổi và thâm niên nhằm vừa phát huy được sức trẻ và vừa tận dụng được kinh nghiệm trong quá trình công tác Cụ thể: Bổ nhiệm lần đầu, do đặc thù của ngành học không có nam, nên nữ không quá 40 tuổi

- Chuyên môn được đào tạo: Đảm bảo vượt chuẩn về chuyên môn được đào tạo Cụ thể: Phải có trình độ Đại học sư phạm mầm non trở lên và có thâm niên giảng dạy ít nhất 5 năm Phải có phẩm chất chính trị và đạo đức nghề nghiệp, có năng lực chuyên môn nghiệp vụ sư phạm như kỹ năng tổ chức chương trình giáo dục mầm non, năng lực công nghệ thông tin Có năng lực quản lý nhà trường, hiểu biết nghiệp vụ quản lý, xây dựng và tổ chức thực hiện

kế hoạch phát triển nhà trường, tổ chức quản lý cán bộ giáo viên, nhân viên nhà trường, quản lý trẻ em và quản lý hoạt động nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục trẻ, quản lý tài sản, tài chính của nhà trường, thực hiện dân chủ trong hoạt động nhà trường Đặc biệt nhà trường và xã hội phải có năng lực tổ chức phối kết hợp giữa gia đình, nhà trường và địa phương

1.3.4 Yêu cầu về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường mầm non

Cùng với những thành tựu mới của của cách mạng khoa học và công nghệ, trình độ dân trí ngày càng được nâng lên, không khí dân chủ phát triển đã

và đang tạo ra những bước chuyển về chất trong tư duy, tầm nhìn, độ hiểu biết CBQL hiện nay ở nước ta vừa là người lãnh đạo, vừa là nhà tổ chức, nhà chuyên môn, đồng thời còn là nhà giáo dục Người CBQL giáo dục phải có năng lực và phẩm chất cần thiết để tiến hành có hiệu quả những nhiệm vụ và trách nhiệm

của mình trước Đảng, Nhà nước và Nhân dân

Người CBQL ở các trường MN cũng vậy, cần phải có những phẩm chất

và năng lực chung như:

Trang 33

+ Có phong cách lãnh đạo dân chủ, công bằng

+ Trung thực, khách quan trong việc báo cáo với cấp trên, đánh giá cấp dưới

+ Không quan liêu, tham nhũng, thực hành tiết kiệm chống lãng phí + Tận tụy, có trách nhiệm đối với công việc, gương mẫu, có lối sống lành mạnh trong sinh hoạt

Trang 34

1.3.4.2 Về năng lực

- Kiến thức, năng lực chuyên môn:

+ Có trình độ hiểu biết về chuyên môn, khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng

và giáo dục trẻ ở bậc mầm non

+ Nắm vững nội dung chương trình, phương pháp đặc thù khi tổ chức các họat động trong trường Mầm non

+ Có khả năng chỉ đạo chuyên môn

+ Am hiểu tình hình kinh tế - xã hội của địa phương (đặc biệt là phong tục tập quán ở vùng dân tộc thiểu số)

+ Có ý thức tự học tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ về mọi mặt

+ Tích cực đổi mới phương pháp giáo dục theo hướng hiện đại phù hợp với thực tiễn Việt Nam và của từng địa phương, quan tâm tới các điều kiện phục

vụ để nâng cao chất lượng GD&ĐT

+ Nắm vững các nguyên tắc, điều lệ về quản lý nhà trường, QLGD ở bậc học MN

+ Có khả năng tổng kết kinh nghiệm, nâng cao tay nghề cho đội ngũ giáo viên, nhân viên trong việc giảng dạy cũng như chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ

- Năng lực quản lý:

+ Có tầm hiểu biết sâu rộng về giáo dục Mầm non

+ Có trình độ chuyên môn cần thiết trong hoạt động quản lý

+ Có tri thức và kinh nghiệm về quản lý trường mầm non

+ Có khả năng xác định mục tiêu, định hướng, dự đoán, vạch kế hoạch + Có khả năng am hiểu tâm lý và tác động tâm lý tới người khác

+ Luôn rèn luyện mình qua thực tiễn công tác quản lý Thường xuyên đúc rút kinh nghiệm và cải tiến công tác quản lý

+ Có một số kinh nghiệm hiện đại ở mức độ cần thiết (giao tiếp, tin học, ngoại ngữ)

Trang 35

+ Mạnh dạn đổi mới khi cần thiết, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, không trông chờ ỷ lại cấp trên

+ Nắm chắc các văn bản pháp qui liên quan đến quản lý nói chung và quản lý trường mầm non nói riêng

+ Có năng lực vận động, phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường tham gia vào sự phát triển của GDMN

+ Không ngừng học tập và nâng cao trình độ nghiệp vụ

Với những yêu cầu trên, việc nâng cao năng lực quản lý cho đội ngũ CBQL trường mầm non là vô cùng cần thiết và phải được thực hiện thường xuyên liên tục dưới sự chỉ đạo, kiểm tra sát sao của các cấp quản lý

1.3.5 Sự cần thiết của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường mầm non

Nâng cao chất lượng đội ngũ là một trong các nội dung quan trọng của QLGD, quản lý nguồn nhân lực của GD&ĐT Quản lý nguồn nhân lực trong GD&ĐT là một dạng quản lý nguồn nhân lực nhưng có thể xem là một dạng quản lý cao cấp hơn, chủ yếu là đội ngũ giáo viên, CBQL giáo dục với quan điểm con người là nguồn nhân lực, là vốn quí giá nhất, có vai trò quyết định chất lượng GD&ĐT

Trong giai đoạn hiện nay GD&ĐT nước ta đang đứng trước bối cảnh:

- Đất nước đã và đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH, lực lượng sản xuất phát triển, quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất, tăng trưởng kinh tế cao, đời sống nhân dân được cải thiện về mọi mặt

- Quá trình giao lưu, hợp tác và cạnh tranh trong khu vực cũng như trên thế giới ngày càng mạnh mẽ

- Cuộc cách mạng Khoa học - Công nghệ phát triển với quy mô ngày càng rộng lớn và trình độ ngày càng cao Giáo dục là nền tảng của sự phát triển khoa học - Công nghệ vì nó đóng vai trò phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của xã hội

Trang 36

- Trước sự đổi mới giáo dục đang diễn ra trên quy mô toàn cầu, bản thân

hệ thống GD&ĐT đang thay đổi hướng tới xây xựng một nền giáo dục cho tất cả mọi người, nền giáo dục ngày càng có tính chất đại chúng

Trước bối cảnh đó, Đại hội IX của Đảng đã khẳng định: “Để đáp ứng

yêu cầu về con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ CNH-HĐH cần chuyển biến cơ bản, toàn diện về

GD&ĐT” [19]

Ngày nay CNH luôn gắn liền với HĐH, với việc ứng dụng rộng rãi những thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến của thời đại Khoa học và công nghệ trở thành nền tảng của CNH-HĐH, nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn nhân lực to lớn của Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của CNH-HĐH Để phát triển nguồn nhân lực đó, GD&ĐT là con đường cơ bản để hình thành và phát triển nhân cách, để phát triển con người Vì vậy, cần có những biện pháp mạnh mẽ bảo đảm GD&ĐT thực sự trở thành một tiền đề và là tiền đề hàng đầu của CNH-HĐH Đó là tiền đề về con người, trước hết về mặt nhân cách với những định hướng giá trị phù hợp với xã hội đang tiến hành CNH-HĐH, và tiền đề đó được thể hiện ở mục tiêu về dân trí, nhân lực, nhân tài của cuộc đổi mới GD&ĐT

Trước yêu cầu của thời kỳ CNH-HĐH đất nước, giáo dục mầm non được chỉ đạo bởi các quan điểm:

- GDMN là cấp học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng ban đầu cho sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ của trẻ

em Việt Nam Việc chăm lo phát triển GDMN là trách nhiệm chung của các cấp chính quyền, của mỗi ngành, mỗi gia đình và toàn xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước

- GDMN gắn với nhu cầu phát triển KT - XH và những tiến bộ khoa học công nghệ

- Thực hiện công bằng trong GDMN

Trang 37

Tóm lại: Trước những yêu cầu của thời kỳ CNH-HĐH đất nước, với xu thế hội nhập cùng với những thời cơ và thách thức hiện nay, đòi hỏi ngành GD&ĐT cần có những biện pháp cụ thể để phát triển giáo dục nói chung và GDMN nói riêng với mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp và các cơ chế chính sách thích hợp

1.3.6 Công tác quản lý đội ngũ cán bộ quản lý trường mầm non

Quản lý đội ngũ CBQL trường MN nhằm mục đích nắm chắc tình hình đội ngũ, hiểu đầy đủ từng CBQL để có cơ sở tiến hành tốt các khâu trong công tác cán bộ từ khâu đào tạo, bồi dưỡng đến việc sử dụng, đề bạt, thuyên chuyển, điều động và thực hiện các chế độ chính sách đối với đội ngũ CBQL giáo dục, Trong công tác quản lý cán bộ cần xác định rõ các vấn đề về đặc điểm của đối tượng quản lý, nội dung quản lý,

a) Đặc điểm của đối tượng quản lý

- Về mặt cấu tạo: Đội ngũ CBQL trường MN được đào tạo chuyên môn

sư phạm, bồi dưỡng lý luận và nghiệp vụ quản lý; nhưng lại được bồi dưỡng qua hình thức bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý ngắn hạn 1 hoặc 3 tháng, nên nghiệp vụ quản lý còn hạn chế

- Về tính chất lao động: lao động của đội ngũ CBQL trường MN là lao

động trí óc, vì hoạt động quản lý giáo dục thực chất là một dạng hoạt động khoa học giáo dục, những lao động trong ngành giáo dục là dạng lao động tổng hợp, kết hợp nhiều mặt, nhiều lĩnh vực, nhiều hoạt động,

- Về quan hệ xã hội: Đa số CBQL trường MN sống gắn liền với gia đình, làng xóm, phố phường và cộng đồng nên họ thực hiện mọi nghĩa vụ, quyền lợi

và các mối quan hệ xã hội của một công dân

- Về mặt tâm lý, sinh lý: do yêu cầu, tính chất của nghề nghiệp nên đội ngũ CBQL trường MN nói chung thường dễ mắc bệnh "nói nhiều", có lúc còn bảo thủ; mặt khác họ cũng dễ mắc bệnh tự do, tùy tiện, nhất là kỷ luật lao động

b) Nội dung quản lý

Trang 38

Có 2 nội dung cơ bản có quan hệ mật thiết với nhau trong quản lý cán bộ nói chung Đó là quản lý đội ngũ CBQL và quản lý cá nhân CBQL Sự liên hệ mật thiết được thể hiện ở sự hỗ trợ lẫn nhau: quản lý đội ngũ phải đi từ quản lý

cá nhân, quản lý cá nhân phải đi tới quản lý đội ngũ

- Quản lý đội ngũ: Là quản lý về số lượng, cơ cấu và chất lượng của đội

ngũ Cụ thể là:

Phân tích được lịch sử (quá trình) hình thành, cơ cấu (lứa tuổi, theo thành phần xã hội, giới, trình độ văn hoá, trình độ lý luận, trình độ chuyên môn và nghiệp vụ được đào tạo, thâm niên công tác, phẩm chất đạo đức, năng lực hoàn thành nhiệm vụ, chế độ hưởng thụ, tình hình sức khỏe, đời sống, )

Chỉ ra những đặc điểm chung cơ bản nhất của đội ngũ để từ đó tìm ra giải pháp phát huy mặt mạnh, hạn chế chỗ yếu chung của đội ngũ về tư tưởng, về đạo đức, trình độ, năng lực, sức khỏe so với yêu cầu, nhiệm vụ được giao

Nắm vững tình hình phát triển và biến đổi về các mặt số lượng, cơ cấu chất lượng của đội ngũ để thường xuyên điều chỉnh, bổ sung, nhằm đáp ứng được các yêu cầu thực hiện nhiệm vụ được giao trong từng giai đoạn

- Quản lý cá nhân: Là quản lý từng CBQL thể hiện trong các nội dung

chủ yếu: Nắm chắc từng CBQL nhằm mục đích sử dụng đúng người, đúng việc

“dụng nhân như dụng mộc”, có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng phù hợp với đặc điểm và hoàn cảnh từng CBQL, thực hiện đúng chế độ chính sách với từng người Quản lý cá nhân cán bộ, công chức, viên chức thực chất là quản lý con người Con người là sự tổng hoà các mối quan hệ xã hội, là một thực thể vô cùng sinh động, phong phú; cho nên yêu cầu quản lý cá nhân gồm:

+ Hiểu được quá trình phấn đấu người CBQL

+ Hiểu được tâm lý, sở trường và nguyện vọng của CBQL

+ Biết được trình độ, năng lực chuyên môn và nghiệp vụ

+ Biết được truyền thống gia đình, dòng tộc, biết đặc điểm cuộc sống và mối quan hệ với gia đình, cộng đồng và xã hội

Trang 39

+ Biết được điều kiện kinh tế bản thân và gia đình

+ Biết được tình hình sức khoẻ

Nhìn chung là hiểu biết CBQL về phẩm chất và năng lực của họ

1.4 Một số vấn đề về quản lý chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường mầm non

1.4.1 Công tác quy hoạch phát triển đội ngũ cán bộ quản lý

Công tác quy hoạch đội ngũ là một trong những hoạt động quản lý của người quản lý Nó có tác dụng làm cho cơ quan quản lý hoặc người quản lý biết được về số lượng, chất lượng, cơ cấu tuổi, trình độ và cơ cấu chuyên môn, cơ cấu giới, của từng CBQL và cả đội ngũ CBQL; đồng thời xây dựng được kế hoạch phát triển đội ngũ; nhằm tìm ra các biện pháp nâng cao chất lượng cho từng CBQL và cả đội ngũ để họ có được khả năng hoàn thành nhiệm vụ Hơn nữa, kết quả quy hoạch là cơ sở chủ yếu mang tính định hướng cho việc vận dụng và thực hiện các chức năng cơ bản của quản lý vào hoạt động quản lý bộ máy tổ chức và đội ngũ nhân sự giáo dục trong huyện nói chung và trong các trường MN nói riêng Như vậy, nói đến quản lý đội ngũ CBQL là nói đến công tác quy hoạch phát triển đội ngũ và nói đến quy hoạch là nói đến một công việc rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ Như vậy, quy hoạch phát triển đội ngũ được xem là một lĩnh vực trong hoạt động quản lý và cũng là một lĩnh vực cần đề xuất giải pháp quản lý

1.4.2 Xây dựng và thực thi kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý

Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBQL nhằm hoàn thiện và nâng cao các chuẩn về trình độ lý luận chính trị; lý luận và thực tiễn quản lý; trình độ nghiệp vụ chuyên môn cho từng CBQL và cả đội ngũ CBQL Bản chất của công tác đào tạo, bồi dưỡng CBQL là nâng cao phẩm chất và năng lực cho đội ngũ CBQL để họ có đủ các điều kiện hoàn thành nhiệm vụ, chức năng và quyền hạn của họ

Trang 40

Quản lý đội ngũ được xem là một trong những lĩnh vực quản lý của các tổ chức quản lý và của mọi CBQL đối với một tổ chức Như vậy, để nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL thì không thể thiếu được hoạt động đào tạo và bồi dưỡng CBQL; đồng thời cần phải có những giải pháp quản lý mang tính khả thi về lĩnh vực này

1.4.3 Đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý

Đánh giá là một trong những chức năng của công tác quản lý Đánh giá chất lượng đội ngũ CBQL là một trong những công việc không thể thiếu được trong công tác quản lý của các cơ quan quản lý và của các chủ thể quản lý nói chung và của công tác tổ chức cán bộ nói riêng

Đánh giá đội ngũ không những để biết thực trạng mọi mặt của đội ngũ,

mà qua đó dự báo về tình hình chất lượng đội ngũ cũng như việc vạch ra những

kế hoạch khả thi đối với hoạt động nâng cao chất lượng đội ngũ Mặt khác, kết quả đánh giá CBQL nếu chính xác lại là cơ sở cho việc mỗi cá nhân có sự tự điều chỉnh bản thân nhằm thích ứng với tiêu chuẩn đội ngũ Nói như vậy, đánh giá đội ngũ CBQL có liên quan mật thiết đối với việc nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL Như vậy, để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nói chung và CBQL nói riêng không thể không nhận biết chính xác về chất lượng đội ngũ thông qua hoạt động đánh giá đội ngũ; để từ đó thiết lập các giải pháp quản lý khả thi về lĩnh vực này

1.4.4 Tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm, sử dụng và luân chuyển đội ngũ cán bộ quản lý

Tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm, sử dụng và luân chuyển đội ngũ cán

bộ, công chức nói chung và CBQL nói riêng là công việc thuộc lĩnh vực công tác tổ chức và cán bộ

- Tuyển chọn, bổ nhiệm chính xác các CBQL có đủ phẩm chất và năng lực cho một tổ chức là yếu tố quan trọng để phát triển tổ chức nói chung và thực chất là tạo điều kiện tiên quyết cho tổ chức đó đạt đến mục tiêu của nó Mặt

Ngày đăng: 21/08/2023, 00:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Triệu Sơn (2003), Lịch sử Đảng bộ huyện Triệu Sơn 1930 - 2000, Nxb Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Triệu Sơn 1930 - 2000
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ huyện Triệu Sơn
Nhà XB: Nxb Thanh Hóa
Năm: 2003
[2]. Ban Bí thư Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam (2004), Chỉ thị số 40- CT/TW về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 40- CT/TW về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục
Tác giả: Ban Bí thư Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 2004
[3]. Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam, Kết luận hội nghị BCH TW Đảng làn thứ VI (khóa IX) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết luận hội nghị BCH TW Đảng làn thứ VI (khóa IX)
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam
[4]. Đặng Quốc Bảo, Bài giảng về quản lý giáo dục, Học viện Quản lý giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng về quản lý giáo dục
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Nhà XB: Học viện Quản lý giáo dục
[5]. Bộ Giáo dục & Đào tạo (2007), Hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật về Mầm non, Tiểu học THCS và trung cấp chuyên nghiệp, Nxb Đại học kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật về Mầm non, Tiểu học THCS và trung cấp chuyên nghiệp
Tác giả: Bộ Giáo dục & Đào tạo
Nhà XB: Nxb Đại học kinh tế Quốc dân
Năm: 2007
[6]. Bộ GD&ĐT (2008), Điều lệ trường Mầm non (Ban hành theo QĐ số 14/2008/QĐ-BGDĐT ngày 7 tháng 4 năm 2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ trường Mầm non
Tác giả: Bộ GD&ĐT
Năm: 2008
[8]. Bộ Giáo dục & Đào tạo, Tài liệu tập huấn cán bộ quản lý giáo dục triển khai thực hiện chương trình sách giáo khoa mới, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn cán bộ quản lý giáo dục triển khai thực hiện chương trình sách giáo khoa mới
Tác giả: Bộ Giáo dục & Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
[9]. Trần Hữu Cát, Hoàng Minh Duệ (1999), Đại cương về khoa học quản lý, Trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương về khoa học quản lý
Tác giả: Trần Hữu Cát, Hoàng Minh Duệ
Nhà XB: Trường Đại học Vinh
Năm: 1999
[10]. Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc (1996), Đại cương về quản lý, giáo trình dành cho các lớp Cao học quản lý giáo dục, Trường Đại học Sư phạm - Trường Cán bộ quản lý giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương về quản lý, giáo trình dành cho các lớp Cao học quản lý giáo dục
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Nhà XB: Trường Đại học Sư phạm - Trường Cán bộ quản lý giáo dục
Năm: 1996
[12]. Ngô Hữu Dũng (1993), THCS trong hệ thống giáo dục phổ thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: THCS trong hệ thống giáo dục phổ thông
Tác giả: Ngô Hữu Dũng
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1993
[13]. Vũ Cao Đàm (1998), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nxb Khoa học và kỹ thuật
Năm: 1998
[14]. Nguyễn Minh Đạo (1997), Cơ sở khoa học quản lý, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học quản lý
Tác giả: Nguyễn Minh Đạo
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
[15]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Văn kiện hội nghị lần thứ IV BCH TW Đảng khóa VII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ IV BCH TW Đảng khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1993
[16]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ II BCH TW khóa VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ II BCH TW khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
[17]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ III BCH TW Đảng khóa VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ III BCH TW Đảng khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
[18]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
[19]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
[20]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XVI Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XVI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
[21]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
[22]. Phạm Minh Hạc (1995), Tâm lý học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm