Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn vấn đề Một số đặc điểm của con người trong tục ngữ Việt Nam dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận để nghiên cứu trong khuôn khổ một luận văn
Trang 1PHẠM THỊ THANH HẰNG
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA CON NGƯỜI
TRONG TỤC NGỮ VIỆT NAM DƯỚI ÁNH SÁNG NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Trang 2PHẠM THỊ THANH HẰNG
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA CON NGƯỜI
TRONG TỤC NGỮ VIỆT NAM DƯỚI ÁNH SÁNG NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 62.22.02.40
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
TS ĐẶNG LƯU
NGHỆ AN - 2015
Trang 33 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Cấu trúc của luận văn 4
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
1.2 Cơ sở khoa học của đề tài 7
1.2.1 Khái lược về ngôn ngữ học tri nhận 7
1.2.2 Những nguyên lí cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận 12
1.3 Ý niệm trong ngôn ngữ học tri nhận 14
1.3.1 Ý niệm - đơn vị cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận 14
1.3.2 Ý niệm - đơn vị nội dung của bức tranh thế giới được phản ánh bằng ngôn ngữ 19
1.4 Vài nét về tục ngữ Việt Nam 21
1.4.1 Khái niệm tục ngữ và cách nhận diện tục ngữ 21
1.4.2 Các hướng nghiên cứu tục ngữ Việt Nam 22
1.5 Nhìn chung bộ phận tục ngữ về con người trong kho tàng tục ngữ người Việt 23
Tiểu kết chương 1 23
Chương 2 CÁCH THỨC TRI NHẬN CON NGƯỜI TRONG TỤC NGỮ VIỆT NAM 25
2.1 Con người - một trong những đối tượng tri nhận của tục ngữ 25
2.1.1 Mô tả con người - một thực thể tự thân 25
2.1.2 Mô tả con người trong quan hệ xã hội 30
Trang 4VIỆT NAM DƯỚI GÓC NHÌN NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN 61
3.1 Nguyên tắc lấy các chuẩn mực lý tưởng làm hệ quy chiếu để tri nhận con người 61
3.2 Một số ý niệm về con người trong tục ngữ 63
3.2.1 Ý niệm về sự đẹp đẽ, mạnh mẽ 63
3.2 2 Ý niệm về sự xấu xí, yếu ớt 66
3.2.3 Ý niệm về sự cao thượng 68
3.2.4 Ý niệm về sự thấp hèn, đê tiện 69
3.2.5 Ý niệm về sự vị tha, yêu thương, tình nghĩa 70
3.2.6 Ý niệm về sự vị kỷ, độc ác, bội bạc 72
Tiểu kết chương 3 74
KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 51.1 Ngôn ngữ học tri nhận, một khuynh hướng trong khoa học về ngôn ngữ ra đời vào nửa sau thế kỉ XX có đối tượng đặc thù là mối quan hệ giữa ngôn ngữ và quá trình tư duy của con người trên cơ sở kinh nghiệm và suy luận logic
1.2 Nghiên cứu văn học dưới góc nhìn ngôn ngữ đang là hướng đi thu hút
sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Bởi nếu ở lĩnh vực thi pháp học, ngữ nghĩa học, cấu trúc đã có rất nhiều thành tựu to lớn thì nghiên cứu văn học ở góc độ ngôn ngữ học tri nhận vẫn còn rất nhiều điều mới mẻ, là mảnh đất màu
mỡ để chúng ta tiếp tục nghiên cứu, tìm tòi, khảo sát, khám phá và phát hiện
1.3 Văn học dân gian nói chung, tục ngữ nói riêng là một bộ phận văn học quan trọng làm nên diện mạo văn học Việt Nam Nó có giá trị to lớn cả về mặt nội dung, tư tưởng, tình cảm cả về nghệ thuật Càng tìm hiểu, khai thác, nghiên cứu nó chúng ta càng thấy rõ các giá trị và những đóng góp to lớn của
nó trên cả bình diện nội dung lẫn bình diện nghệ thuật Vì thế, từ xưa cho đến giờ nó luôn là đối tượng nghiên cứu, giảng dạy ở nhiều ngành học, bậc học từ tiểu học đến trung học, đại học, sau đại học Có nhiều hướng tiếp cận tục ngữ như thi pháp học, ngữ nghĩa học, văn học dân gian, cấu trúc Ở những lĩnh vực ấy các nhà nghiên cứu đã tạo ra những thành tựu to lớn có tác dụng như những tia sáng soi rõ các lớp nghĩa, giúp người đọc hiểu tường tận về tục ngữ
1.4 Nghiên cứu văn học dân gian nói chung và tục ngữ nói riêng dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận vẫn còn là một vấn đề khá mới mẻ Nghiên cứu tục ngữ Việt Nam dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận tức là ta “nhìn thế giới thông qua lăng kính ngôn ngữ" của người bình dân, của “các nhà ngôn ngữ dân gian” Đây là một cách tiếp cận mới song có lẽ không quá khó chấp nhận Cách nghiên cứu này sẽ gắn cái đẹp ngữ nghĩa của văn học, của tục ngữ
Trang 6với cảm thức, văn hóa, với cách tri nhận rất riêng của người Việt Đây cũng là một điều lý thú Vì nó giúp ta lý giải rõ ràng cơ sở văn hóa của ngữ nghĩa Có nghĩa là ngôn ngữ học tri nhận được xem như một hệ quy chiếu để ta hiểu sâu hơn về ngữ nghĩa, ta sẽ lý giải được vì sao tác giả dân gian xưa lại nói như vậy, từ đó thấy được cái hay, cái đẹp trong tâm hồn, nhận thức, tình cảm và tài năng của người nghệ sĩ dân gian Ta sẽ thêm quý trọng và có ý thức bảo tồn những giá trị tinh thần vô giá này
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn vấn đề Một số đặc điểm
của con người trong tục ngữ Việt Nam dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận để nghiên cứu trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ chuyên ngành
Ngôn ngữ
2 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những đặc điểm của con người
trong tục ngữ Việt Nam Có nghĩa là bao gồm cả con người được nói tới trực
tiếp trong tục ngữ và những hình ảnh ẩn dụ (gián tiếp), qua đó nói về con người Những đặc điểm đó của con người được soi chiếu dưới ánh sáng của ngôn ngữ học tri nhận
2.2 Phạm vi khảo sát
Với đề tài này, chúng tôi khảo sát những câu tục ngữ nói về con người
trong cuốn Kho tàng tục ngữ người Việt (hai tập, Nguyễn Xuân Kính -
Nguyễn Thúy Loan - Phan Lan Hương - Nguyễn Luân biên soạn, Nxb Văn hóa thông tin, 2002)
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu một số đặc điểm của con người trong tục ngữ Việt Nam dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận, chúng tôi muốn tìm hiểu cái hay, cái
Trang 7đẹp, nét riêng biệt trong tư duy và cách biểu đạt bằng ngôn ngữ của người Việt qua một thể tài ăn học dân gian: tục ngữ
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ việc xác định đối tượng, phạm vi, mục đích nghiên cứu như trên, chúng tôi đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
- Tìm hiểu những vấn đề lý thuyết cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận
- Xác định, khu biệt đối tượng nghiên cứu: một số đặc điểm con người trong tục ngữ Việt Nam dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận
- Khảo sát, phân loại, thống kê các câu tục ngữ nói về một số đặc điểm
con người trong Kho tàng tục ngữ người Việt
- Phân tích, miêu tả ý nghĩa các câu tục ngữ trực tiếp và gián tiếp nói về một số đặc điểm con người, thông quan ngôn ngữ học trin nhận, từ đó rút ra được đặc trưng tư duy và cách biểu đạt bằng ngôn ngữ của người bình dân xưa
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình triển khai thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng kết hợp các phương pháp sau:
4.1 Phương pháp thống kê, phân loại
- Thống kê các câu tục ngữ trực tiếp và gián tiếp chỉ đặc điểm con người trong tục ngữ
- Phân loại các câu tục ngữ đã thống kê theo từng tiểu loại
4.2 Phương pháp miêu tả, phân tích
Phương pháp này được dùng để phân tích ngữ liệu, miêu tả nghĩa của các từ, ngữ, câu chỉ đặc điểm con người trong tục ngữ
4.3 Phương pháp hệ thống
Sử dụng phương pháp này, chúng tôi muốn hệ thống hóa các nội dung
để khái quát thành luận điểm, đồng thời để nêu và luận giải một số vấn đề về ngôn ngữ học tri nhận làm cơ sở cho việc xử lý tư liệu
Trang 84.4 Phương pháp nghiên cứu liên ngành
Để tránh được cái nhìn phiến diện, chủ quan, đơn giản, một chiều đối với những kết quả nghiên cứu được, chúng tôi có vận dụng tổng hợp phương pháp nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như:, văn hóa, logic, tâm lý học… nhằm làm cho việc nghiên cứu, đánh giá có cơ sở hơn, đáng tin cậy hơn
5 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn được
triển khai trong ba chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở khoa học của
đề tài
Chương 2: Cách thức tri nhận con người trong tục ngữ Việt Nam Chương 3: Một số ý niệm về con người trong tục ngữ Việt Nam dưới
góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận
Trang 9Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trong cuốn Đi tìm bản sắc của Tiếng Việt, Trịnh Sâm có viết: “Ngôn
ngữ và văn hóa có mối quan hệ gắn bó với nhau Ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp, không chỉ là công cụ để tư duy của con người mà còn
là quan niệm của chính con người với tư cách là chủ thể tri nhận và phân cắt hiện thực bằng cái mã của mỗi ngôn ngữ Do vậy, mối quan hệ giữa ngôn ngữ
và nhận thức, giữa ngôn ngữ và tư duy, đặc biệt là ngôn ngữ với văn hóa từ lâu đã được các nhà triết học lưu tâm Người ta biết đến W.V Humbold với lý
thuyết Ngôn ngữ và linh hồn dân tộc E Sapir, B Whorf với quan niệm về
tính tương đối ngôn ngữ (linguistic relativity) và ba thập niên cuối thế kỷ này
(thế kỷ XX) là cả một trào lưu ngôn ngữ học tri nhận (cognitive linguistics)
tập trung nghiên cứu các vấn đề hữu quan vừa đề cập ở trên
Vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc, dưới góc nhìn liên ngành, gần đây cũng được rất nhiều nhà nghiên cứu đầu ngành Việt Nam bàn đến Đó là các giáo sư Lý Toàn Thắng, Trần Văn Cơ, Trần Ngọc Thêm, Đỗ Thị Kim Liên, Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Lai, Nguyễn Đức Tồn, Hồ Lê, Đỗ Hữu Châu, Trịnh Sâm, Hoàng Trọng Canh, Nguyễn Thiện Giáp Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đều bàn luận trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề đặc trưng văn hóa - ngôn ngữ, tức vấn đề bản sắc của tiếng Việt, vấn đề ngôn ngữ học tri nhận Rõ ràng, từ sau các công trình nghiên cứu của các giáo sư đầu ngành, cả một trào lưu rộng lớn trong sinh viên đại học, học viên cao học, nghiên cứu sinh đã đặt chân đến mảnh đất “ngôn ngữ học tri nhận” mới mẻ này
Trang 10Trước hết, phải kể đến các công trình nghiên cứu lý thuyết về ngôn ngữ
học tri nhận Đó là Lý Toàn Thắng với cuốn Ngôn ngữ học tri nhận từ lí
thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt (2009); Trần Văn Cơ với các công
trình: Ngôn ngữ học tri nhận từ điển tường giải và đối chiếu (2001), Ngôn
ngữ học tri nhận (Ghi chép và suy nghĩ - 2007)), Khảo luận ẩn dụ tri nhận,
(2009) Đây là những công trình giới thiệu một cách hệ thống những vấn đề
cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận, nhờ đó, các nghiên cứu sinh, học viên cao học mới có thể tiếp xúc và vận dụng lý thuyết này vào khảo sát, tìm hiểu thực tiễn tiếng Việt
Bên cạnh đó, một số công trình nghiên cứu tiếng Việt và văn hóa Việt,
ít nhiều có liên quan đến cách tri nhận thế giới của người Việt Nam Đó là
Tiếng Việt phong phú: Ăn xôi nghe kèn” (Bằng Giang, 1997); Tìm hiểu đặc trưng văn hóa - dân tộc của ngôn ngữ và tư duy người Việt (Nguyễn Đức
Tồn, 2002); Đi tìm bản sắc Tiếng Việt (Trịnh Sâm - 2001); Tìm về bản sắc
văn hóa Việt Nam (Trần Ngọc Thêm, 2004)
Ngoài ra, không thể không kể đến những luận án, luận văn, bài viết vận dụng lý thuyết tri nhận để nghiên cứu một số vấn đề trong tiếng Việt Đó là
Võ Thị Dung với Tìm hiểu tiếng Việt từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận (Luận văn thạc sĩ, 2003); Nguyễn Thị Tâm với Sự tri nhận không gian biểu hiện qua
nhóm từ chỉ quan hệ vị trí trong tiếng Việt so sánh với tiếng Anh (Luận văn
thạc sĩ, 2004); Hà Thanh Hải với Hiện tượng ẩn dụ: nhìn từ các quan điểm
truyền thống và quan điểm tri nhận luận (bài báo, 2007), Lê Thị Thắm với Ý niệm của người Việt về hôn nhân và quan hệ vợ chồng trong ca dao từ bình diện tri nhận"(Luận văn thạc sĩ, 2008), Phan Thế Hưng với Ẩn dụ dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận (Luận án tiến sĩ, 2008), Nguyễn Ngọc Vũ với Thành ngữ tiếng Anh và thành ngữ tiếng Việt có yếu tố chỉ bộ phận cơ thể người dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận (Luận án tiến sĩ, 2008); Lê Đình
Trang 11Tường với “Thử phân tích một bài ca dao hài hước từ bình diện ngôn ngữ học
tri nhận” (Ngôn ngữ học, 2008, số 9), Nguyễn Thị Thanh Huyền với Ẩn dụ tri nhận, mô hình ẩn dụ cấu trúc trên cứ liệu ca từ Trịnh Công Sơn (Luận văn
thạc sĩ, 2009), Ngô Thị Hồng Nhung với Ẩn dụ về hôn nhân của người Việt
qua tục ngữ, ca dao dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận (Luận văn thạc sĩ,
2012) Gần đây nhất có thể kể đến Nguyễn Bá Tiến với Nghiên cứu thành
ngữ biểu thị tâm lý tình cảm trong tiếng Anh và tiếng Việt từ bình diện ngôn ngữ học tri nhận (Luận án tiến sĩ, 2012), Nguyễn Hoàng Linh với Đặc trưng tri nhận - văn hóa của người Việt (qua nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người”
(Luận văn thạc sĩ, 2013)…
Có thể nói, bước vào thế giới ngôn ngữ học tri nhận hiện nay tại Việt Nam, chúng ta thấy cả một vườn hoa muôn màu muôn sắc Những người muốn tìm hiểu về nó sẽ tìm thấy nhiều điều thú vị, lý thú, sẽ tìm được cho mình những điều tâm đắc, những ý tưởng mới Chúng tôi cũng từ những đề
tài ấy tìm thấy một hướng đi mới, chưa ai khảo sát, đó là tìm hiểu về “Một
số đặc điểm của con người trong tục ngữ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học tri nhận” Các công trình nghiên cứu trên là những tiền đề, những
nguồn tư liệu đáng quý mở ra cho luận văn của chúng tôi những cơ sở để tìm hiểu, học hỏi, rút kinh nghiệm trên cả hai phương diện: lý thuyết và ứng dụng thực hành
1.2 Cơ sở khoa học của đề tài
1.2.1 Khái lược về ngôn ngữ học tri nhận
1.2.1.1 Tri nhận, khái niệm trung tâm của khoa học tri nhận
Khái niệm tri nhận có hai nghĩa của những từ La Tinh kết hợp lại:
cognitio có nghĩa là nhận thức và cogitatio có nghĩa là tư duy, suy nghĩ Như
vậy, nó biểu hiện một quá trình nhận thức hoặc là tổng thể những quá trình tâm lí (tinh thần, tư duy) - tri giác, phạm trù hoá, tư duy, lời nói v.v phục vụ
Trang 12cho việc xử lí và chế biến thông tin Nó bao gồm cả việc con người nhận thức
và đánh giá bản thân mình trong thế giới xung quanh và xây dựng bức tranh thế giới đặc biệt - tất cả những cái tạo thành cơ sở cho hành vi của con người
Tri nhận là tất cả những quá trình trong đó những dữ liệu cảm tính
được сải biến khi truyền vào trong não dưới dạng những biểu tượng tinh thần (hình ảnh, mệnh đề, khung, cảnh v.v ) để có thể lưu lại trong trí nhớ con người
Tri nhận bao quát cả tri thức và tư duy được thể hiện bằng ngôn ngữ
Vì vậy, tri nhận, tri nhận luận liên quan chặt chẽ với ngôn ngữ học [Мaslova (Маслова 2005)] Như vậy, ngôn ngữ và các dạng hoạt động của con người
có mối quan hệ khăng khít, không thể tách rời nhau; ngôn ngữ, văn hoá và xã hội luôn là chìa khoá để hiểu hành vi của con người
Schwars 1992 cho rằng, quá trình tri nhận cần được khảo sát không chỉ trên cấp độ cao - tư duy, lời nói - mà còn cả trên cấp độ cảm tính - tri giác, cảm giác - vận động thường xảy ra trong những hành động tiếp xúc đơn giản với thế giới Với nghĩa đó, tri nhận là quá trình liên quan đến cả sự nhận thức khoa học về thế giới, cả sự nhận biết đơn giản (đôi khi vô thức, tiềm thức) hiện thực bao quanh con người
Đôi khi tri nhận còn được định nghĩa như là sự tính toán (computation), nghĩa là xử lí thông tin dưới dạng những kí hiệu, cải biến nó từ dạng này sang dạng khác - thành mã khác, thành cấu trúc khác (Rickheit, Strohner 1993)
Nhận thức, tri nhận - cùng được dịch từ một từ tiếng Anh là cognition
Từ này lại có nguồn gốc từ tiếng La tinh bao gồm hai phần hợp lại cognitio có nghĩa là nhận thức và cognitatio có nghĩa là tư duy, suy nghĩ Cả hai thuật
ngữ này đều liên quan đến quá trình nhận thức, quá trình tư duy của con người, nghĩa là quá trình con người phản ánh thế giới khách quan vào ý thức của mình Bản chất của vấn đề được thể hiện ở mấy khía cạnh sau:
Trang 13Thứ nhất: thuật ngữ nhận thức chỉ quá trình chung của việc con người
tìm hiểu thế giới, bao gồm thế giới tự nhiên, xã hội và con người, đó là cái đích chung mà tất cả các khoa học hướng tới, nó không riêng gì cho một khoa học nào Vì tính chất chung đó, tính chất khái quát mang tính mục đích đó của thuật ngữ nhận thức, nên không thể dùng nó như một định ngữ cho các khoa học
Thứ hai: nhận thức và tri nhận có nội hàm, đối tượng, phương pháp và
phương tiện nghiên cứu riêng
Nếu khoa học nhận thức hướng tới chân lí trong khi nghiên cứu thế giới hiện thực bằng phương pháp và phương tiện khoa học, đó là nhận thức khoa học, thì ngôn ngữ học tri nhận định hướng nghiên cứu tới quá trình tinh thần của con người nhờ vào ngôn ngữ tự nhiên của con người Quá trình tinh thần của con người được nhắc đến ở đây là quá trình hình thành và phát triển tri thức (sự hiểu biết) và ở cấp độ cao hơn - trí tuệ - trong não của con người bằng những phương tiện ngôn ngữ: âm, từ vựng, ngữ pháp Do đó, ngôn ngữ được xem là công cụ của tư duy Quá trình tinh thần liên quan mật thiết với quá trình thu nhận, xử lí, chế biến và lưu trữ thông tin trong não
Tri nhận là đối tượng nghiên cứu không chỉ của ngôn ngữ học, mà của các khoa học tri nhận Ngôn ngữ học nghiên cứu mối liên hệ giữa các hệ thống ngôn ngữ với sự hiểu biết
Thuộc các bình diện nghiên cứu vấn đề tri nhận còn có khả năng tri nhận của con người - khả năng nói, nét điển hình khu biệt con người không chỉ với các loài động vật, mà với cả máy móc Cùng với khả năng nói, con người còn có những khả năng tri nhận khác như là khả năng học tập, khả năng giải quyết vấn đề, suy đoán, kết luận, lập luận, nhìn thấy, nghe thấy, ngửi, nếm, hành động theo ý chí của mình
Ngày nay các nhà tri nhận luận cho rằng cần thiết phải lôi cuốn vào phạm vi nghiên cứu vấn đề tri nhận những nhân tố tiến hóa của con người, những nhân tố văn hóa học và cả các quan hệ xã hội
Trang 14Tóm lại, trong phạm vi nghiên cứu tri nhận có những vấn đề sau đây: (1) Những quá trình tâm lí nào có liên quan đến tri nhận và xác tín tất
cả những bình diện của nó bắt đầu từ việc xử lí tín hiệu cảm giác đến những quá trình cực kì phức tạp như giải quyết vấn đề, phân tích vai trò của cảm xúc trong tri nhận
(2) Trả lời câu hỏi: tri thức được tổ chức như thế nào, và có thể hình dung nó dưới dạng những hệ thống gì? Tri nhận có thể đưa đến những kết quả
và những đối lập nào? Cần làm rõ sự khác nhau giữa hai loại tri thức: biết cái
gì và biết như thế nào?
(3) Những mô hình nào và những phương pháp nào mới có thể đề xuất
để giải thích tri nhận?
Nghiên cứu tri nhận như là một sức mạnh đang được hình thành và đang hình thành ra một cách hiểu thế giới; nghiên cứu thuộc tính đa chức năng của tri nhận, mối liên hệ của nó với ý chí và hoạt động sáng tạo của con người
1.2.1.2 Ngôn ngữ học tri nhận
Đây là một hướng nghiên cứu mới hình thành trong nửa sau thế kỷ XX,
là một bộ phận của Khoa học tri nhận (Cognitive science) nói chung, có liên
hệ mật thiết với văn hoá học và “Nhân chủng học tri nhận” (cognitive anthropology)
Thời điểm ra đời của ngôn ngữ học tri nhận thường được tính là năm
1989, năm mà tại Duisburg (Đức), các nhà khoa học tham dự Hội thảo thông qua quyết định thành lập Hội ngôn ngữ học tri nhận Như vậy, ngôn ngữ học tri nhận là một lĩnh vực khoa học non trẻ, song nó đã khẳng định được tầm quan trọng, vị trí của nó trong nền ngôn ngữ học thế giới Ở Việt Nam, ngôn ngữ học tri nhận xuất hiện muộn hơn nhiều, gắn với tên tuổi của Lý Toàn Thắng, Trần Văn Cơ
Trang 15Cuốn Ngôn ngữ học tri nhận, từ lí thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng
Việt là một công trình nghiên cứu khá đầy đủ và sâu sắc về ngôn ngữ học tri
nhận của GS TSKH Lý Toàn Thắng hoàn thành năm 2005 Theo ông, “Ngôn ngữ học tri nhận là một trường phái mới của ngôn ngữ học hiện đại, tiến hành nghiên cứu ngôn ngữ trên cơ sở vốn kinh nghiệm và sự tri giác của con người
về thế giới khách quan cũng như cái cách thức mà con người ý niệm hóa và phạm trù hóa các sự vật và sự tình của thế giới khách quan đó” [34, tr 15]
Nghiên cứu ngôn ngữ học dưới góc độ tri nhận có nghĩa là đặt ngôn ngữ trong chức năng làm công cụ tư duy của con người
Ngôn ngữ học tri nhận, cũng như các khuynh hướng khoa học tri nhận khác có mục tiêu chung là nghiên cứu việc thực hiện các quá trình lĩnh hội, xử
lí và cải biến các tri thức vốn quyết định bản chất của trí não con người Điều này đồng nghĩa với việc nghiên cứu ngôn ngữ theo hướng tri nhận không còn
là nghiên cứu ngôn ngữ trong hệ thống ngôn ngữ, nghiên cứu mối quan hệ giữa các đơn vị ngôn ngữ như ngôn ngữ học phi tri nhận nói đến mà ngôn ngữ
ở đây được đặt trong mối quan hệ với khả năng tri nhận của con người, tức là liên quan đến thông tin, tri thức, ý niệm - những vấn đề phải xuất phát từ sự tri giác, từ kinh nghiệm của con người Hơn thế nữa, nghiên cứu ngôn ngữ từ góc độ tri nhận, chúng ta phải chú ý đến sự khác nhau về “cái nhìn thế giới” hay cách tri nhận về thế giới được thể hiện bằng những biểu thức ngôn ngữ của các dân tộc nói tiếng khác nhau Ý nghĩa của ngôn ngữ không hạn chế trong nội bộ hệ thống ngôn ngữ mà nó có nguồn gốc sâu xa từ kinh nghiệm được hình thành trong quá trình con người và thế giới tương tác với nhau và
từ tri thức và hệ thống niềm tin của con người Như vậy, sự tri giác, vốn kinh nghiệm và cái cách mỗi con người, mỗi dân tộc nhìn nhận về thế giới khách quan - tài liệu của sự nhận thức - là cơ sở để ngôn ngữ học tri nhận nghiên cứu các hiện tượng ngôn ngữ Vì thế, với ngôn ngữ học tri nhận, mọi biểu
Trang 16hiện của tri thức ngôn ngữ được nghiên cứu không còn đóng kín trong hệ thống ngôn ngữ mà là vấn đề tìm hiểu cơ chế phổ quát của ngôn ngữ tiềm ẩn trong trí não của con người
1.2.2 Những nguyên lí cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận
1.2.2.1 Ngôn ngữ không phải là một khả năng tri nhận tự trị
Nguyên lý này đối lập với giả thuyết nổi tiếng của ngữ pháp tạo sinh
Có nghĩa là không nên coi khả năng ngôn ngữ là bộ phận thiên bẩm hoàn toàn độc lập với khả năng tri nhận, cơ chế ngôn ngữ chỉ là môt phần của cơ chế tri nhận phổ quát
Nguyên lí này có hai hệ luận quan trọng là:
a) Tri thức ngôn ngữ (tức là tri thức về ý nghĩa và hình thức) về cơ bản
là cấu trúc ý niệm, và biểu hiện ngữ nghĩa về cơ bản là biêu hiện ý niệm Hơn nữa, theo các nhà ngôn ngữ học tri nhận, các biểu hiện về cú pháp, từ pháp và
âm vị học về cơ bản cũng mang tính ý niệm
b) Các quá trình tri nhận, vốn chi phối sự sử dụng ngôn ngữ (đặc biệt là
sự thành tao và chuyển tải ý nghĩa bằng ngôn ngữ) về nguyên lí là giống như các khả năng tri nhận khác Điều này có nghĩa là sự tổ chức và trừu xuất tri thức ngôn ngữ không khác gì nhiều sự tổ chức và trừu xuất các tri thức khác trong trí não, và những khả năng tri nhận mà chúng ta ứng dụng khi nói và hiểu cũng không khác gì nhiều những khả năng tri nhận mà chúng ta ứng dụng cho những nhiệm vụ tri nhận khác như tri giác bằng mắt, hoạt động suy luận hay vận động (motor) Do đó, ngôn ngữ là một khả năng tri nhận của con người, và theo quan điểm tri nhận thì ngôn ngữ là sự tri giác thời gian thực (real - time perception)
1.2.2.2 Ngữ nghĩa và ngữ pháp là sự ý niệm hoá
Nguyên lí này nói lên cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận, một phương diện chủ yếu của khả năng tri nhận của con người là sự ý niệm hoá
Trang 17kinh nghiệm để giao tiếp và sự ý niệm hoá các tri thức ngôn ngữ mà chúng ta
có được Cho nên cần phải nghiên cứu tất cả các phương diện của cấu trúc ý niệm như cấu trúc của các phạm trù, tổ chức của các tri thức, và đặc biệt là vai trò chủ đạo của các biến tố và các kết cấu ngữ pháp trong việc cấu trúc kinh nghiệm theo những cách riêng biệt; cũng như quá trình ý niệm hoá ở các hiện tượng ngữ nghĩa từ vựng như đa nghĩa, ẩn dụ và một số quan hệ từ vựng ngữ nghĩa khác
1.2.2.3 Tri thức ngôn ngữ nảy sinh ra từ sử dụng ngôn ngữ
Ngôn ngữ học tri nhận là một mô hình đầy đủ định hướng vào sự sử dụng và người sử dụng (ngôn ngữ), bao quát các bình diện chức năng, dụng
học, tương tác và xã hội - văn hoá của ngôn ngữ trong sử dụng Các nhà ngôn
ngữ học tri nhận cũng cho rằng các phạm trù và các cấu trúc trong ngữ nghĩa, ngữ pháp, từ pháp và âm vị học đều được xây dựng trên cơ sở sự tri nhận của chúng ta về các phát ngôn riêng biệt trong khi sử dụng chúng
Nếu đi vào những luận điểm chi tiết hơn, chúng ta còn có thể nêu thêm một số quan điểm sau của ngôn ngữ học tri nhận:
- Ngôn ngữ học tri nhận có một mục đích là nghiên cứu một cách bao quát và toàn diện chức năng tri nhận (nhận thức) của ngôn ngữ Theo cách tiếp cận này, ngôn ngữ vừa là sản phẩm của hoạt động tri nhận, vừa là công cụ của hoạt động tri nhận của con người Cấu trúc và chức năng của ngôn ngữ có thể được coi là kết quả và sư phản ánh của hoat động tri nhận của con người
- Ngôn ngữ học tri nhận cho rằng ngôn ngữ - đó là cửa sổ để đi vào thế giới tinh thần của con người, đi vào trí tuệ của nó, là phương tiện để đạt đến những bí mật của các quá trình tư duy
- Ngữ nghĩa không phải được xây dựng trên cơ sở các điều kiện khách quan có giá trị chân ngụy, mà có quan hệ chặt chẽ với kinh nghiệm và các chiến lược tri nhận của con người
Trang 18- Ý nghĩa của ngôn ngữ không hạn chế trong nội bộ hệ thống ngôn ngữ,
mà nó có nguồn gốc sâu xa từ kinh nghiệm được hình thành trong quá trình con người và thế giới tương tác với nhau, và từ tri thức và hệ thống niềm tin (belives) của con người; ngữ nghĩa là một bộ phận của hệ thống ý niệm tổng thể, chứ không phải là một "module" tư trị, độc lập
1.3 Ý niệm trong ngôn ngữ học tri nhận
1.3.1 Ý niệm - đơn vị cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận
1.3.1.1 Khái niệm "ý niệm" thời Trung cổ
Theo tư tưởng của các tác giả thời Trung cổ, “ý niệm” là một tập hợp những khái niệm nằm sâu kín trong tâm hồn và sẵn sàng được biểu hiện thành lời, nó liên kết các phát ngôn thành một cách nhìn sự vật, khác với vai trò quyết định của trí tuệ, nó biến phát ngôn thành tư tưởng gắn liền với Thượng Đế
Các nhà nghiên cứu di sản của Abélard khẳng định rằng, ý niệm là kết quả của tinh thần, của trí tuệ cao cả có khả năng tái tạo một cách sáng tạo, hoặc tập hợp những ý nghĩa với tư cách là những phổ quát được hiểu như mối liên hệ giữa vật và lời nói Ý niệm chứa đựng suy nghĩ vốn là một bộ phận của nó Ý niệm là lời nói được phát ngôn ra, do đó nó không đồng nhất với khái niệm
Trí nhớ và óc tưởng tượng là những thuộc tính không thể tách rời nhau của ý niệm Một mặt, ý niệm hướng tới sự thấu hiểu ở đây và bây giờ, mặt khác, nó là sự tổng hợp của ba khả năng của tâm hồn: với tư cách là trí nhớ, ý niệm định hướng về quá khứ, với tư cách là hành động của óc tưởng tượng,
nó hướng về tương lai, còn với tư cách là hành động phán đoán - nó hướng về hiện tại
1.3.1.2 Khái niệm "ý niệm" thời hiện đại
Ngày nay người ta không chấp nhận hành động được coi là chân lí tuyệt đối tạo ra ý niệm là Thượng Đế Tư tưởng chỉ đạo của ngôn ngữ học tri
Trang 19nhận là khẳng định nguyên tắc "dĩ nhân vi trung" (con người là trung tâm của tất cả những hiện tượng văn hoá và ngôn ngữ) Chính ý thức của con người đóng vai trò kẻ trung gian giữa văn hoá và ngôn ngữ, còn ý niệm hoạt động với tư cách là đơn vị của những tiềm năng tinh thần hoặc tâm lí của ý thức con người S Kh Liapin nhận xét rằn, khi con người sống, giao tiếp, hành động trong thế giới những khái niệm, những hình ảnh, những khuôn mẫu hành vi, giá trị, tư tưởng v.v., thì đồng thời cũng là sống, suy nghĩ, giao tiếp trong thế giới của những ý niệm
1.3.1.3 Ý niệm - đơn vị cơ bản của tinh thần
Trong ngôn ngữ học tri nhận (kể cả trong một số khoa học khác như nhân chủng học, ngôn ngữ - văn hoá học, dân tộc - ngôn ngữ học v.v.), các nhà nghiên cứu định nghĩa ý niệm theo những quan điểm khác nhau
“Ý niệm” và “khái niệm” không đồng nhất với nhau
Về mặt nguồn gốc của thuật ngữ, khái niệm và ý niệm đều xuất phát từ
một từ tiếng Anh: concept Trong quá trình phát triển của khoa học tri nhận nói chung, ngôn ngữ học tri nhận nói riêng, nội hàm của từ concept được tách
làm đôi: một phần được hiểu là khái niệm, một phần là ý niệm
Khái niệm là một hình thức của tư duy phản ánh những thuộc tính cơ
bản, những mối liên hệ và quan hệ giữa các sự vật và hiện tượng trong sự mâu thuẫn và phát triển của chúng Khái niệm không chỉ trừu suất cái chung, mà còn phân xuất sự vật, những thuộc tính và quan hệ của chúng làm cơ sở cho việc phân loại phù hợp với những nét khu biệt của chúng Chẳng hạn, khái niệm “con người” phản ánh cả nét chung cơ bản (cái vốn có ở tất cả mọi người) và cả những nét khu biệt người này với tất cả những người khác Khái niệm phản ánh cái chung, cái đặc thù và cái đơn nhất của sự vật
Khái niệm được hình thành qua một quá trình biện chứng phức tạp nhờ những phương pháp như so sánh, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, lí
Trang 20tưởng hóa, khái quát hóa, thí nghiệm v.v Khái niệm là sự phản ánh hiện thực không mang tính hình ảnh và được biểu hiện trong từ Sự tồn tại hiện thực của
nó được bộc lộ thông qua các định nghĩa, trong các phán đoán, trong thành phần của lí thuyết
So với khái niệm, ý niệm có những đặc điểm riêng
Trước hết ý niệm là kết quả của quá trình tri nhận là quá trình tạo ra
các biểu tượng tinh thần (mental representation) Cấu trúc của biểu tượng tinh thần gồm ba thành tố: trí tuệ, cảm xúc và ý chí Cả ba thành tố này đều được biểu hiện trong ngôn ngữ: trong ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp (trong ba thành tố này, thì từ vựng đã và đang được nghiên cứu nhiều hơn cả)
Khái niệm (thuật ngữ) khoa học không mang tính ẩn dụ Còn những cách nói bóng bẩy, có tính ẩn dụ không thể hiện khái niệm, mà là phản ánh đặc trưng của ý niệm
Nói rộng ra, ý niệm là đơn vị tinh thần hoặc tâm lí của ý thức chúng ta,
là đơn vị nội dung của bộ nhớ động, của từ vựng tinh thần và của ngôn ngữ bộ não, của toàn bộ bức tranh thế giới được phản ánh trong tâm lí con người Trong các quá trình tư duy, con người dựa vào các ý niệm phản ánh nội dung các kết quả của hoạt động nhận thức thế giới của con người dưới dạng “những lượng tử” của tri thức Các ý niệm nảy sinh trong quá trình cấu trúc hoá thông tin về một sự tình khách quan trong thế giới, cũng như về những thế giới tưởng tượng và về sự tình khả dĩ trong những thế giới đó Các
ý niệm quy cái đa dạng của những hiện tượng quan sát được và tưởng tượng
về một cái gì đó thống nhất, đưa chúng vào một hệ thống và cho phép lưu giữ những kiến thức về thế giới
Theo một số nhà nghiên cứu, chính ngôn ngữ bảo đảm cách tiếp cận với sự miêu tả và xác định bản chất của ý niệm Những ý niệm đơn giản nhất được biểu hiện bằng một từ, những ý niệm phức tạp hơn được biểu hiện trong các cụm từ và câu
Trang 21Một số người thì cho rằng, một phần của thông tin ý niệm có cái “đuôi” ngôn ngữ, nghĩa là những phương thức biểu hiện chúng, nhưng cái phần thông tin này được biểu hiện trong tâm lí hoàn toàn khác, nghĩa là bằng những biểu tượng tinh thần loại khác - những hình tượng, những bức tranh, những sơ
đồ v.v
Quá trình nhận thức trải qua hai giai đoạn: cảm tính (bao gồm cảm giác
và tri giác) và lí tính (bao gồm biểu tượng và khái niệm) Đơn vị nhỏ nhất của quá trình nhận thức là khái niệm Trong khi đó, quá trình tri nhận không chia giai đoạn rạch ròi như thế Nó là quá trình tổng hợp những kết quả thu nhận được bắt đầu từ tri giác cảm tính thông qua năm giác quan của con người để rồi cuối cùng tạo ra những ý niệm - đơn vị nhỏ nhất của quá trình tri nhận
Stepanov cho rằng "ý niệm" là thuộc về logic toán học và văn hóa học Ông định nghĩa ý niệm như sau: “Ý niệm tựa như một khối kết đông của nền văn hoá trong ý thức con người; dưới dạng của nó nền văn hoá đi vào thế giới
ý thức (tư duy) của con người, và, mặt khác, ý niệm là cái mà nhờ đó con người - người bình thường, không phải là “người sáng tạo ra những giá trị văn hoá” - chính con người đó đi vào văn hoá, và trong một số trường hợp nhất định có tác động đến văn hoá” [Dẫn theo 34, tr 185]
Slyshkin nghiên cứu những quan điểm khác nhau đối với ý niệm và nhận định rằng đặc điểm nổi bật có tính nguyên tắc của ý niệm là ở chỗ nó được xem như cơ sở để nghiên cứu tổng hợp ngôn ngữ và văn hoá, song bản thân nó không trực tiếp nằm trong phạm vi ngôn ngữ, cũng không nằm trong phạm vi văn hoá, và cũng không đồng thời nằm trong cả hai lĩnh vực này Ý niệm là đơn vị của tư duy, là yếu tố của ý thức Việc nghiên cứu mối quan
hệ qua lại giữa ngôn ngữ và văn hoá sẽ không đầy đủ nếu thiếu cái khâu trung gian này Thông tin văn hoá đi vào ý thức, ở đây nó được sàng lọc, được chế biến
Trang 22Trần Trương Mĩ Dung nghiên cứu tổng hợp ý kiến của nhiều tác giả về
sự khác nhau giữa "ý niệm" và "khái niệm" như sau:
a) Ý niệm là sự kiện của lời nói, đó là lời nói được phát ngôn ra Do đó
nó khác với khái niệm
b) Ý niệm gắn chặt với người nói và luôn định hướng đến người nghe Người nói và người nghe là hai bộ phận cấu thành của ý niệm
c) Ý niệm mang tính chủ quan với nghĩa nó là một mảng của “bức tranh thế giới”, nó phản ánh thế giới khách quan qua lăng kính của ý thức ngôn ngữ dân tộc Do đó, ý niệm mang tính dân tộc một cách sâu sắc
d) Ý niệm là đơn vị của tư duy (ý thức) của con người Hai thuộc tính không thể tách rời nhau của ý niệm là trí nhớ và tưởng tượng Ý niệm là một hành động đa chiều: nếu là hành động của trí nhớ thì nó hướng về quá khứ, nếu là hành động của trí tưởng tượng, thì nó hướng tới tương lai, còn nếu là hành động phán đoán, thì nó hướng về hiện tại
e) Ý niệm, khác với “khái niệm”, không chỉ mang đặc trưng miêu tả,
mà còn có cả đặc trưng tình cảm - ý chí và hình ảnh Ý niệm không chỉ suy nghĩ, mà còn cảm xúc Nó là kết quả của sự tác động qua lại của một loạt những nhân tố như truyền thống dân tộc, sáng tác dân gian, tôn giáo, hệ tư tưởng, kinh nghiệm sống, hình tượng nghệ thuật, cảm xúc và hệ thống giá trị
Ý niệm tạo ra một lớp văn hoá trung gian giữa con người và thế giới Nó được cấu thành từ tri thức tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo lí, luật pháp, phong tục tập quán và một số thói quen mà con người tiếp thu được với tư cách là thành viên của xã hội
Tóm lại, ý niệm chứa đựng ba thành tố: thành tố khái niệm, thành tố cảm xúc - hình tượng và thành tố văn hoá Hai thành tố sau mang tính dân tộc sâu sắc
1.3.1.4 Ý niệm cơ sở và hệ thống ý niệm
Để cấu tạo hệ thống ý niệm cần phải giả định sự tồn tại một số ý niệm xuất phát, hoặc những ý niệm cơ sở từ đó sẽ phát triển tất cả những ý
Trang 23niệm còn lại Những ý niệm cơ sở này tổ chức một không gian ý niệm và hoạt động như những chuẩn để phân chia không gian Đó là những ý niệm đối tượng và các bộ phận của nó, sự vận động, những hành động, vị trí hoặc không gian, thời gian, thuộc tính v.v Tổng hoà tất cả những ý
niệm có trong trí tuệ của con người, sự tổ hợp chúng lại được gọi là hệ
tộc Đối tượng của bức tranh ngôn ngữ về thế giới là ý niệm với cấu trường trung tâm - ngoại vi Nằm ở trung tâm của cấu trúc ý niệm là khái
niệm, nằm ở ngoại vi là những đặc trưng văn hóa - dân tộc bao quanh khái niệm [3, tr 126]
Phương thức ý niệm hoá hiện thực (cách nhìn thế giới) một phần có tính phổ quát, một phần có tính đặc thù dân tộc, bởi thế những người nói những thứ tiếng khác nhau có thể nhìn thấy thế giới hơi khác nhau, thông qua lăng kính ngôn ngữ của mình
Bức tranh ngôn ngữ về thế giới phản ánh bức tranh thế giới tồn tại cho tất cả mọi người và cho mỗi người Theo Iakovleva, "bức tranh ngôn ngữ về thế giới là một sơ đồ tri giác hiện thực được ghi lại trong ngôn ngữ và là đặc trưng cho một cộng đồng ngôn ngữ nào đó Do đó bức tranh ngôn ngữ về thế giới là một cách nhìn thế giới thông qua lăng kính ngôn ngữ" [Dẫn theo 34, tr 219] Hình ảnh thế giới được ghi lại trong ngôn ngữ trong nhiều trường hợp
Trang 24rất khác với bức tranh khoa học về thế giới Bức tranh ngôn ngữ về thế giới được phản ánh trong vốn từ vựng của ngôn ngữ có in đậm dấu vết của lối tư duy "dĩ nhân vi trung" Trong nhiều trường hợp, nó không kém phức tạp, không kém thú vị so với cách nhìn khoa học, bởi lẽ, cách nó thuyết giải những hiện tượng của hiện thực khác với cách thuyết giải của khoa học về cùng hiện tượng đó Tuy vậy, những quan niệm ngây thơ tuyệt không phải là sơ đẳng, thô thiển, vô lí
Bức tranh ngôn ngữ về thế giới còn được một số nhà nghiên cứu gọi là
"mô hình (hoặc bức tranh) ngây thơ về thế giới" Bức tranh ngây thơ không phải là một tập hợp những mảng lộn xộn, ô hợp, vô trật tự, vô tổ chức, mà là một sự sắp xếp các biểu tượng ngôn ngữ một cách có hệ thống Cách sắp xếp
(tổ chức) như vậy gọi là ý niệm hoá thế giới Miêu tả và thuyết giải các ý
niệm trong tính hệ thống của nó là nhiệm vụ của ngôn ngữ học tri nhận
Iu D Aprexjan đã tiến hành miêu tả và thuyết giải bức tranh ngây thơ
về con người (ý niệm hoá thế giới con người) theo 8 hệ thống chính sau đây:
(1) Tri giác vật lí bao gồm thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác Hệ thống tri giác này định vị trong các giác quan: (mắt, tai, mũi, lưỡi, da) Nét nghĩa tối giản: "tri giác"
(2) Trạng thái sinh lí: đói, khát, đau, mong muốn, những nhu cầu sinh lí v.v… chúng định vị ở những bộ phận khác nhau của thân thể Nét nghĩa tối giản: "cảm nhận"
(3) Phản ứng sinh lí đối với những tác động bên trong và bên ngoài (tái
mặt, lạnh, kiến bò, đỏ mặt, nóng, đổ mồ hôi, tim đập v.v.) là phản ứng của
những bộ phận khác nhau của thân thể (mặt, trái tim, họng) hoặc của thân thể nói chung Nét nghĩa tối giản - không có
(4) Hành động và hoạt động vật lí: làm việc, nghỉ ngơi, đi, đứng, nằm,
ném, vẽ, dệt, chặt, cắt, đâm, bẻ v.v… chúng được thực hiện nhờ tứ chi và thân
thể Nét nghĩa tối giản: "làm"
Trang 25(5) Mong muốn: muốn, vươn tới, thèm, không chịu nổi, nén lòng, buộc
phải, cám dỗ, quyến rũ v.v… chúng định vị hoặc là trong thân thể, hoặc là
trong lòng Nét nghĩa tối giản: "muốn"
(6) Tư duy, hoạt động trí tuệ: tưởng tượng, hình dung, cho (rằng), hiểu,
ý thức, biết, tin, nghi, nhớ, quên… là hoạt động trí tuệ định vị trong ý thức
(trong đầu, trong bộ não) và được thực hiện cũng chính nhờ những cơ quan này Nét nghĩa tối giản: “biết”, “cho (rằng)”
(7) Cảm xúc: sợ, sung sướng, giận, yêu, căm thù, hi vọng, thất vọng
v.v ở con người, tất cả những cảm xúc đều định vị trong lòng, tim hoặc ngực Nét nghĩa tối giản: "cảm thấy"
(8) Lời nói: thông báo, hứa, yêu cầu, đòi hỏi, ra lệnh, cấm, cảnh báo,
khuyên, tuyên bố, chửi, khen, kêu ca, khoe khoang …: lời nói được thực hiện
nhờ cái lưỡi Nét nghĩa tối giản: "nói"
1.4 Vài nét về tục ngữ Việt Nam
1.4.1 Khái niệm tục ngữ và cách nhận diện tục ngữ
Tục ngữ là một câu tự nó diễn tả trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý, một công lý, có khi là một sự phê phán
Hầu hết tục ngữ đều do nhân dân sáng tác, nhưng cũng có một số ít câu rút ở những thi phẩm đã được phổ biến sâu rộng trong dân gian và cũng có những câu rút ở ca dao dân ca Như vậy, tục ngữ được cấu tạo trên cơ sở những kinh nghiệm về sinh hoạt, về sản xuất, nó là những câu đúc kết, những nhận xét đã được nhiều người thừa nhận, để hướng dẫn con người ta trong sự nhìn nhận mọi khía cạnh của cuộc đời Tóm lại, tục ngữ là những câu thông tục, thiên về diễn ý, đúc kết một số ý kiến dựa theo kinh nghiệm, dựa theo luân lý và công lý để nhận xét về con người và vũ trụ Văn học nghệ thuật nói chung đều là những hiện tượng ý thức xã hội, và tục ngữ (một trong nhiều thể
loại của văn học dân gian) cũng là một hiện tượng ý thức xã hội
Trang 26Người đầu tiên có phân biệt tục ngữ với thành ngữ là học giả Dương
Quảng Hàm Trong Việt Nam văn học sử yếu, ông cho rằng: “Một câu tục ngữ
tự nó phải có một ý nghĩa đầy đủ, hoặc khuyên răn, hoặc chỉ bảo điều gì; còn thành ngữ chỉ là những lời nói có sẵn để ta tiện dùng mà diễn đạt một ý gì hoặc tả một trạng thái gì cho có màu mè” [24, tr 217] Ra đời vào những năm ngành ngữ học nước nhà chưa mấy phát triển, cách nhận diện này có chỗ chưa thật rõ ràng
Vũ Ngọc Phan trong bộ Tục ngữ - Ca dao - Dân ca nêu quan niệm:
“tục ngữ là một câu tự nó diễn trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý, một công lý, có khi là một sự phê phán Còn thành ngữ chỉ là một phần câu sẵn có, một bộ phận của câu mà nhiều người đã quen dùng, nhưng tự riêng nó không diễn được một ý trọn vẹn” [44, tr 172]
Tuy nhiên, những định nghĩa này vẫn chưa thỏa đáng Từ 1969, khi tạp chí Ngôn ngữ ra đời, nhiều chuyên gia về tiếng Việt đã lần lượt đưa ra những giải pháp có lẽ là hữu hiệu hơn
Theo nhà giáo Nguyễn Văn Mệnh “về hình thức ngữ pháp, mỗi thành ngữ chỉ là một cụm từ, chưa phải là một câu Tục ngữ thì khác hẳn Mỗi tục ngữ tối thiểu phải là một câu” (Nguyễn Văn Mệnh) Cù Đình Tú vẫn cho là
“chưa thật xác đáng”, vì chỉ “dựa vào nội dung lô gích” để chỉ ra và giải thích
sự khác nhau giữa hai thứ đơn vị đó; trong khi “sự khác nhau cơ bản giữa thành ngữ và tục ngữ là sự khác nhau về chức năng” Theo ông, “thành ngữ là những đơn vị có sẵn, mang chức năng định danh”; còn “tục ngữ có chức năng khác hẳn”, đảm nhiệm phận sự “thông báo: thông báo một nhận định, một kết luận
về một phương diện nào đó của thế giới khách quan Do vậy, mỗi tục ngữ đọc lên là một câu hoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn một ý tưởng” (Cù Đình Tú)
1.4.2 Các hướng nghiên cứu tục ngữ Việt Nam
Nhìn chung, nghiên cứu tục ngữ Việt Nam hiện nay chia thành ba hướng
- Nghiên cứu tục ngữ dưới góc độ Văn học
Trang 27- Nghiên cứu tục ngữ, ca dao dưới góc độ Thi pháp học;
- Nghiên cứu tục ngữ, ca dao dưới góc độ Ngôn ngữ học
Việc nghiên cứu tục ngữ dưới góc độ ngôn ngữ học không còn là một vấn đề mới Đã có rất nhiều công trình có giá trị liên quan đến hướng tiếp cận này Đó là các công trình nghiên cứu của các tác giả Đỗ Hữu Châu, Hoàng Văn Hoành, Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Nhã Bản, Đỗ Thị Kim Liên, Nguyễn Thiện Giáp Những năm gần đây, có một số tác giả đã tiếp cận tục ngữ Việt Nam từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận
1.5 Nhìn chung bộ phận tục ngữ về con người trong kho tàng tục ngữ người Việt
Tục ngữ người Việt là một trong những phương tiện biểu hiện cách giao tiếp bằng ngôn ngữ của người bình dân, thể hiện tư duy và nhân thức của người bình dân ta xưa Nó vừa là sản phẩm, vừa là công cụ trong hoạt động tri nhận của người bình dân, vừa là thứ ngôn ngữ phản ánh quan niệm của cộng đồng về nhiều lĩnh vực trong đời sống
Bộ phận tục ngữ về con người chiếm một khối lượng khá lớn trong Kho
tàng tục ngữ người Việt Nó đa dạng, phong phú về nội dung, hình thức Là
một bộ phận của văn học dân gian, nó mang đặc trưng của văn học dân gian
đó là có tính dị bản Nó càng phong phú hơn khi nó lưu truyền trong những vùng miền khác nhau, ra đời trong những điều kiện văn hóa xã hội khác nhau, phản ánh những luồng tư tưởng khác nhau, mang những quan niệm và cách nhìn nhận thế giới khác nhau, thể hiện cách phản ánh cuộc sống, xã hội, thiên nhiên theo cái nhìn của người bình dân qua từng giai đoạn của lịch sử xã hội
Tiểu kết chương 1
Ở chương 1, luận văn tập trung nêu một số vấn đề khái quát liên quan đến đề tài nghiên cứu Để có cơ sở đi vào những nội dung cơ bản của hai chương tiếp theo, luận văn đã tổng thuật tình hình nghiên cứu, trong đó đề cập
Trang 28đến những công trình của các tác giả tiên phong trong việc giới thiệu ngôn ngữ học tri nhận ở Việt Nam Luận văn cũng chú ý các công trình nghiên cứu Việt ngữ học dưới góc độ văn hóa và tư duy - những vấn đề có quan hệ gần gũi với tri nhận nói chung, ngôn ngữ học tri nhận nói riêng
Cũng ở chương này, chúng tôi đã giới thiệu một cách đại lược những vấn đề cốt lõi của ngôn ngữ học tri nhận, trong đó tâm điểm là những nguyên
lý cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận, vấn đề ý niệm - đơn vị cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận
Luận văn cũng làm sáng tỏ một số vấn đề của tục ngữ người Việt (giới thuyết khái niệm, phân biệt tục ngữ với một số thể loại văn học dân gian gần gũi) Bộ phận tục ngữ nói về con người trong kho tàng tục ngữ người Việt cũng đã được nêu một cách khái quát
Trang 29Chương 2 CÁCH THỨC TRI NHẬN CON NGƯỜI TRONG TỤC NGỮ VIỆT NAM
2.1 Con người - một trong những đối tượng tri nhận của tục ngữ
Theo thuyết "Dĩ nhân vi trung" (anthropocentrism) thì con người là trung tâm của vũ trụ và là mục đích của tất cả những sự kiện diễn ra trong thế giới Đó cũng là nguyên lí, là phương pháp luận chủ đạo của ngôn ngữ học tri nhận Nó nghiên cứu ngôn ngữ trong mối quan hệ với con người - con người suy nghĩ, con người hành động Nghiên cứu tục ngữ người Việt, mà cụ thể là nghiên cứu một số đặc điểm của con người trong tục ngữ Việt Nam dưới ánh
sáng ngôn ngữ học tri nhận cũng không nằm ngoài thuyết này Nói cách khác,
con người là đối tượng quan trọng nhất trong những đối tượng tri nhận của tục ngữ nói chung, tục ngữ Việt Nam nói riêng Mặt khác, nhiều câu tục ngữ không trực tiếp nói về con người, song những hình ảnh được sáng tạo trong
đó cũng là những ẩn dụ về con người
Con người nói chung và con người hiện lên trong tục ngữ nói riêng bao giờ cũng tồn tại ở ba phương diện: con người - một thực thể tự thân, con người trong quan hệ xã hội và con người trong quan hệ với thiên nhiên
2.1.1 Mô tả con người - một thực thể tự thân
Theo quan niệm của Karl Marx, con người là một thực thể thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội Về mặt sinh học, con người bao hàm trong nó tất cả bản tính sinh học Con người là kết quả của quá trình phát triển
và tiến hoá lâu dài trong môi trường tự nhiên
Con người có ngôn ngữ, có hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, có tâm
lý, tình cảm, nhận thức, tư duy, hành động Tuy nhiên, tất cả những đặc điểm
ấy được quy định bởi yếu tố văn hóa, dân tộc, thể hiện cách thức tri nhận
Trang 30riêng của dân tộc đó Tục ngữ của người Việt đã mô tả toàn bộ quá trình tự tri nhận của người Việt về người Việt ở tất cả những đặc điểm nêu trên Ở luận văn này, chúng tôi xin giới hạn ở việc tục ngữ đã mô tả con người - một thực thể tự nhân - từ cách tư duy, nhận thức và hoạt động của con người
2.1.1.1 Xét về tư duy
Với tư cách là một loại hình văn học dân gian, tục ngữ Việt là tấm gương phản ánh kết quả cách tư duy, nhận thức và lao động in đậm dấu ấn văn hoá của người Việt Nam Việt Nam lại là một đất nước nhỏ bé, mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, phù hợp với sự phát triển nông nghiệp, sản sinh ra một nền văn hóa lúa nước, nên với đặc trưng là công cụ, là phương tiện của tư duy, để tư duy, ngôn ngữ trong tục ngữ Việt Nam với sự mô tả (thể hiện sự tự tri nhận) của người bình dân xưa đã giúp ta thấy nét riêng trong cách nói, nếp nghĩ, cách tư duy, nhận thức và cách thức lao động của con người dân tộc mình gắn với đặc điểm văn hóa, tự nhiên ấy (có nghĩa là nó mang dấu ấn riêng, ảnh hưởng bởi văn hóa, đặc điểm tự nhiên của dân tộc)
Do điều kiện địa lí tự nhiên mà mỗi quốc gia có phương thức lao động sản xuất riêng Việt Nam, vừa có cao nguyên, miền núi, vừa có đồng bằng; có khí hậu nhiệt đới gió mùa, có sông suối mà cũng có biển cả, có núi rừng mà cũng có ruộng đồng Vì thế, bao giờ tư duy, nhận thức về cuộc sống, về lao động của người Việt Nam cũng gắn với những gì gần gũi với điều kiện tự nhiên, môi trường sinh sống ấy, có nghĩa là núi, rừng, chim, thú, vật nuôi, gia súc, gia cầm… sẽ gắn với đặc điểm con người, cách cảm, cách nghĩ, cách đánh giá của con người
Trong lao động nông nghiệp, con trâu vừa là phương tiện giúp người nông dân canh tác mà là sản nghiệp của họ Vì thế mà trong sự tự nhận thức
của mình (phản ánh qua tục ngữ), “Con trâu là đầu cơ nghiệp” và hình ảnh con người lao động gắn với “Con trâu đi trước cái cày theo sau” Con trâu
Trang 31vất vả trở thành biểu trưng cho sự vất vả, khó nhọc của người nông dân, vì thế mà người nông dân ví cái của mình như trâu, như ngựa, song con có sức
trâu khỏe đặc điểm ấy cũng biểu trưng cho sức khỏe con người “khỏe như
trâu” Con trâu cũng là con vật chậm chạp nên đặc điểm ấy cũng biểu trưng
cho những người chậm chạp, không biết lo xa, đủng đỉnh, lề mề, đần độn, kém hiểu biết, thiếu nhanh nhẹn, thiếu sự khôn ngoan, tháo vát do đó,
thường bị thiệt thòi trong cuộc sống: “Trâu chậm uống nước đục” Vì gắn
bó với ruộng đồng, với phương thức canh tác lạc hậu xưa của nền nông nghiệp và con trâu là người bạn thân thiết của nhà nông, nên người Việt đã
có tư duy liên tưởng trên
Trong cách tri nhận của người bình dân xưa, những kẻ xấu thường hay được liên tưởng đến con quạ, con vật chuyên môn ăn xác thối, sống ở chốn nhơ bẩn, trong bóng tối Nó được biểu trưng cho những kẻ xấu, người ác, những kẻ chuyên môn làm những điều không quang minh
- Quạ thấy gà thì đớp (kẻ xấu thấy mối lợi thì vơ lấy)
- Quạ theo gà con (kẻ xấu theo dõi mối lợi để giành lấy)
Với triết lí không nên coi thường những lỗi lầm nhỏ nhặt, vì có thể dần
dần phát triển và gây hậu quả lớn hơn, tục ngữ có câu “Bé ăn trộm gà, già ăn
trộm trâu”…
2.1.1.2 Xét về nhận thức
Có thể nói, cách nói của người Việt phản ánh tư duy trực quan, thường thể hiện bằng những hình ảnh sinh động gần gũi, nhờ sự quan sát và liên tưởng tương đồng trong cuộc sống
Trong Việt Nam văn học sử yếu, Dương Quảng Hàm nhận xét: “Các
câu tục ngữ là do những điều kinh nghiệm của cổ nhân đã chung đúc lại, nhờ đấy mà người dân vô học cũng có một trí thức thông thường để làm ăn và cư
xử ở đời ” [24, tr 92] Phạm Thế Ngũ, trong Việt Nam văn học sử giản ước
tân biên cũng nhận định: “Tục ngữ là kho tàng kinh nghiệm và hiểu biết của
Trang 32người xưa về vũ trụ cũng như về nhân sinh Có thể nói đó là một quyển sách khôn mở ngỏ và lưu truyền trong giới bình dân từ xưa đến nay” [43, tr 118] Quả thật, tục ngữ là kho tri thức với những triết lý sâu sắc không của một cá nhân cụ thể mà của cả một dân tộc Triết lý dân tộc ấy được xây dựng trên cái “biết” và cái “khôn”, để cư xử cho đúng “đạo làm người” của người
bình dân xưa Họ không phải chỉ như người đời đánh giá “Chém to, kho mặn,
ăn sóng nói gió” mà là những con người trí tuệ, đại diện cho trí tuệ thời đại,
không chỉ đúc rút kinh nghiệm từ lao động mà còn là những người nghệ sĩ dân gian, sử dụng một cách điêu luyện ngôn ngữ dân tộc để phản ánh nhận thức về thế giới, về cuộc sống
Bằng cách nói rất gần gũi mà cũng rất hình ảnh, họ đã giúp nhau hiểu
biết để mà sống, sống có ý nghĩa “Khôn cho người ta hãi, dại cho người
thương, dở dở ương ương cho người ta ghét”, “Khôn thì sống, vống (dại) thì chết” Song khôn là gì? Khôn là nói ít, nghe nhiều, mọi cái dại đều từ cái
miệng mà ra, biết giữ miệng là khôn, khôn là thận trọng biết giữ gìn lời ăn
tiếng nói Chỉ vì thiếu tinh thần cảnh giác, không thận trọng, nên người ta
thường thốt ra những câu hớ hênh, vô ý thức, gây ra bao nhiêu tai họa cho bản
thân và cả những điều lớn lao hơn: “Vạ ở miệng ra, bệnh qua miệng vào”,
“Vạ tay không bằng vạ mồm”, “Khôn thì ngậm miệng, khoẻ thì cắp tay”,
“Chim khôn thử tiếng người ngoan thử lời”, “Giàu tặng của, khôn tặng lời”
Khôn không phải là quỉ quyệt để làm thiệt hại người khác, khôn là thật thà
ngay thẳng, vì cuối cùng cái khôn ngay thật bao giờ cũng hơn cái khôn gian
trá: “Khôn ngoan chẳng đọ thật thà, lường thưng, tráo đấu chẳng qua đong
đầy”, “Khôn ngoan giữa đám ba bề, chớ cho ai lận, chớ hề lận ai” Tức là,
thật thà ngay thẳng là sự khôn ngoan cao nhất; có gian lận, tráo trở cũng không bằng làm ăn đứng đắn, lương thiện Khôn thì không làm điều thất đức,
bất nhân, gian ngoan, xảo trá Khôn là không hại người, không đối lập quyền
Trang 33lợi của mình với người khác với quyền lợi chung, khôn là yêu thương, sẻ chia,
coi trọng tình nghĩa, nhất là phải biết bảo vệ tình thân: “Khôn ngoan đối đáp
người ngoài, gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau” Khôn là có lập trường vững
vàng, không để bị ai lung lạc, mua chuộc, dụ dỗ “Người đời phải xét thiệt
hơn, đừng nghe tiếng sáo, tiếng đờn mà sai”, “Dù ai nói ngược nói xuôi, ta
đây vẫn giữ đạo trời khăng khăng”, “Ai ơi giữ chí cho bền, dù ai xoay hướng
đổi nền mặc ai” Khôn là phải ý thức được giới hạn của cái khôn: “Khôn cũng chết, dại cũng chết, biết thì sống” Biết tương quan lực lượng giữa mình và
người, biết tâm lý khát vọng của mình và của người, biết dằn lòng chờ cơ hội thuận tiện để thực hiện ý định, biết giữ bí mật hành động cho khỏi bại, biết cương quyết tiến lui, biết cứng mềm tùy lúc, biết thích ứng hoàn cảnh để sống còn, biết lẩn tránh mũi dùi của đối phương, biết là suy xét cho đúng phép: suy
chín, xét xa, biết rõ gốc ngọn, vắn dài, đắn đo nặng nhẹ, nông sâu: “Làm
người suy chín, xét xa, cho tường gốc ngọn, cho ra vắn dài”, “Làm người phải đắn, phải đo, phải cân nặng nhẹ, phải dò nông sâu” Biết suy nghĩ là rất
quan trọng, cho nên dân gian thường nhắc đi nhắc lại cho chúng ta ghi nhớ
rằng “Làm người mà chẳng biết suy, đến khi nghĩ lại, còn gì là thân” Biết
còn là suy đoán phân biệt để nhận diện đúng sự vật toàn là những cái biết rất thực tế Và, nếu “biết” như thế chính là “khôn” Nhiều người “khôn” bằng cách “giả dại”, “giả ngây giả ngô”, nhất là những người có chí lớn
Tuy nhiên, sự “khôn - dại” ở đời đôi khi còn do hoàn cảnh quyết định
“Khôn quá hóa dại” Có khí “Cái khó bó cái khôn” nhưng cũng có lúc “Cái
khó ló cái khôn”…
Tóm lại, tục ngữ đã mô tả đặc điểm con người, một thực thể tự thân trên phương diện tư duy, nhận thức của con người gắn với hoàn cảnh sống, lao động mang những nét riêng biệt của văn hóa dân tộc, thể hiện những quan niệm, quan điểm của con người trong những hoàn cảnh sống, lao động cụ thể
Trang 34Khi mô tả con người - một thực thể tự thân - người xưa, trong tục ngữ,
còn mô tả con người với đầy đủ đặc điểm ngoại hình, cấu tạo sinh học, có đầy
đủ các bộ phận: đầu, tóc, mắt, mũi, chân tay, thân hình, kích thước, vóc
dáng, tướng mạo, dung nhan, trọng lượng, (nói chung là hình dong) tâm - sinh lí, lứa tuổi, giới tính, lời nói, dáng đi, ăn uống (gắn với giới tính, lứa tuổi, đặc điểm ngoại hình)
Khi mô tả con người - một thực thể tự thân - tục ngữ luôn cho ta thấy mối quan hệ khắng khít giữa ngoại hình với thế giới nội tâm, giữa tâm hồn bên trong của con người với đặc điểm tính cách, tình trạng sức khỏe, tướng mạo, hoàn cảnh sống, nghề nghiệp, những hoàn cảnh riêng, những ảnh hưởng của văn hóa: tôn giáo, phong tục, tập quán, lối sống, phong tục, nề nếp gia phong (sẽ trình bày cụ thể ở phần 2.2 của luận văn này)
2.1.2 Mô tả con người trong quan hệ xã hội
Theo Karl Marx, con người là một thực thể thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội, là “một động vật có tính xã hội” Đặc trưng quy định sự khác biệt giữa con người với thế giới loài vật là phương diện xã hội của nó Tính xã hội của con người biểu hiện trong hoạt động sản xuất vật chất Thông qua hoạt động lao động sản xuất, con người xác lập quan
hệ xã hội
Đại bộ phận tục ngữ Việt Nam là những câu phản ánh con người - đời sống - xã hội Có thể nói, đời sống xã hội của con người được thể hiện qua tục ngữ vô cùng phong phú Tục ngữ là bức tranh phản chiếu tất cả các mối quan
hệ của con người trong xã hội Đó là các kinh nghiệm về xã hội liên quan đến cách đánh giá các giá trị theo quan niệm của người Việt về vai trò của các tầng lớp xã hội, quan hệ gia đình, dòng họ, làng xóm, cách ứng xử theo đạo lý Kinh nghiệm xã hội tạo ra những lẽ thường, những chân lý được chấp nhận chung của cộng đồng Ví dụ:
Trang 35- Quan nhất thời, dân vạn đạ
- Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh
- Cây có trái, gái phải có con
- Có nuôi con mới biết lòng cha mẹ
- Khôn đâu đến trẻ, khỏe đâu đến già
- Lạy lục khúm núm không bằng ghi tạc lời thầy
- Gươm vàng rớt xuống hồ Tây, công cha cũng trọng, nghĩa thầy cũng sâu
2.1.2.1 Một số quan hệ xã hội trong cách mô tả, tri nhận của người bình dân
Xã hội Việt Nam thời tục ngữ ra đời là thời kỳ phong kiến Ở đó chằng chịt các mối quan hệ: quan hệ giữa giai cấp phong kiến với nhau; quan hệ giữa giai cấp phong kiến với nhân dân lao động, quan hệ làng xóm, láng giềng, đặc biệt là quan hệ trong gia đình: ông bà, cha mẹ, nội ngoại, dâu rể, vợ chồng, vợ cả - vợ lẽ, mẹ chồng - nàng dâu, họ hàng - làng xóm - láng giềng, anh - chị - em, tôn ti - trật tự xã hội Rất nhiều câu phản ánh tập tục sinh hoạt hàng ngày như ăn, ở, mặc, giao tế, cưới xin, ma chay, hội
hè, sinh hoạt tôn giáo Có thể nói, đó là sự đa chiều, chằng chịt các mối quan hệ
Ở Việt Nam, trong thời kỳ phong kiến, quan hệ giữa giai cấp phong kiến với nhân dân lao động là quan hệ thống trị và bị trị, kẻ bóc lộc và người
bị bóc lột Mâu thuẫn giai cấp là rất lớn, không gì có thể xóa bỏ Bởi vì quyền bính trong tay quan, lợi dụng quyền bính quan ức hiếp dân:
- Miệng nhà quan có gang có thép
- Muốn nói oan làm quan mà nói
- Quan thấy kiện như kiến thấy mỡ
- Lễ vào quan như than vào lò
- Quan thời xa, bản nha thời gần
Trang 36- Tuần hà là cha kẻ cướp
- Cậy quyền ăn hiếp
- Không có đồng đừng mong được kiện…
Tuy nhiên, những người bình dân cũng có một tinh thần phản pháng rất mãnh liệt
- Quan có cần nhưng dân không vội, quan có vội quan lội quan sang
- Phép vua thua lệ làng
- Miệng quan, trôn trẻ
Mối quan hệ người mua, kẻ bán cũng là mối qua hệ xã hội được mô tả nhiều trong tục ngữ Người mua bao giờ cũng muốn mua đồ tốt, đồ rẻ, đồ đẹp,
đồ có giá trị còn người bán bao giờ cũng muốn kiếm lợi, làm giàu bằng nghề
của mình Người xưa nói “Phi thương bất phú” Muốn giàu phải buôn bán,
mà buôn bán phải mánh mung mới nhanh giàu“Giàu thú quê không bằng
ngồi lê kẻ chợ” Vì quyền lợi của người này mà ảnh hưởng đến quyền lợi của
người khác Không phải lúc nào người bán cũng xấu và người mua cũng tốt, song trong quan niệm của nhân dân ta xưa, người buôn bán, người làm việc ở chốn xô bồ bao giờ cũng là người được mô tả mang sắc thái nghĩa tiêu cực: buôn gian, bán lận, làm ăn gian dối:
- Thật thà cũng thể lái trâu
- Lái trâu, lái lợn, lái bò/ Trong ba anh ấy chớ nghe anh nào
- Dò sông, dò bể, dò nguồn/ Biết sao được bụng lái buôn mà dò
- Đi buôn nói ngay bằng đi cày nói dối
- Càng quen càng lèn cho đau
- Bán hàng nói thách, làm khách trả rẻ
- Bán đong buông, buôn đong be
- Bán mướp đắng giả làm bầu, bán mạt cưa giả làm cám
- Bán mướp đắng làm dưa, bán mạt cưa làm cám.…
Trang 37Tuy nhiên, bên cạnh những kẻ gian dối, lừa lọc, quan hệ giữa người mua với người bán cũng là điều kiện để người mua mua được của tốt, người
bán bán được nhiều hàng, đó là khi “Buôn có bạn, bán có phường”, “Quen
mặt đắt hàng” Quen mà bán hàng thì đôi khi cũng phải bán chịu Lúc ấy lại
sinh ra những mối quan hệ mới cũng không kém phần phức tạp “Bán chịu mất
mối hàng” Đó là khi bán chịu, khách chưa có tiền trả sẽ không đến mua nữa,
hoặc chịu dễ quên, sinh ra cãi cọ thành ra mất mối hàng Như vậy, quan hệ
giữa người bán và người mua không chỉ là “Tiền trao cháo múc”
Người Việt Nam luôn tôn trọng tình cảm bạn bè (tình bằng hữu) Một đất nước nông nghiệp nhỏ bé, không gian gắn với lũy tre, cánh đồng, dòng sông là không gian cuộc sống nhỏ bé của những người nông dân hiền lành,
thật thà, chất phác Cuộc sống ấy cũng làm cho “người với người sống để yêu
nhau” Từ trong cuộc sống làm ăn khó khăn mà giàu lòng tương thân, tương
hỗ, tình người, mà một trong những tình cảm đẹp đẽ nhất đã ra đời, dần được
vun đắp tạo nên cả một truyền thống đẹp Người Việt quan niệm “Tứ hải giai
huynh đệ” Mối quan hệ bạn bè cũng là một mối quan hệ được mô tả nhiều
trong tục ngữ Có nhiều kiểu bạn: bạn trong buôn, bạn trong xóm làng, bạn đồng liêu… Tình bạn là tình cảm cao quý Bạn giúp ta khi hoạn nạn, chia sẻ buồn vui, là động lực để ta phấn đấu, giúp ta có nghị lực, niềm tin Vì thế mà
“Giàu vì bạn, sang vị vợ”, “Giàu vì vợ, sang vì bạn”, “Bạn bè là nghĩa tương
tri, sao cho sau trước một bề mới nên”, “Bạn ăn thì còn, con ăn thì lớn”(Giúp bạn, nuôi con đều là những việc nên làm), “Bạn thương hơn mương rào”,
“Anh em khi túng, chúng bạn khi cùng”, “Anh em kết bạn,sống không rời,
chết không rời”, “Bạn bè đến chơi tháng ba ngày tám” (tháng ba ngày tám là
tháng giáp hạt, thóc gạo hết → Bạn bè hiểu nhau khi hoạn nạn), “Anh em cốt
nhục đồng bào” (Anh em gắn bó nhau như ruột thịt) Tuy nhiên, cũng có
những kẻ lợi dụng tình bạn để làm những điều trái với đạo lý, đó là kiểu bạn
Trang 38giả dối “Bạn bè vuốt ve cây nứa” (Bạn bè ghẻ lạnh có khi còn hại nhau), “Bạn
rượu là bạn đắng, bạn chung đau khổ mới là bạn thân” Vì thế, người bình
dân đã tri nhận rõ đâu là bạn, đâu là thù, tìm cách chọn bạn mà tương giao
“Bạn vàng chơi với bạn vàng, đừng chơi bạn vện ra đàng cắn nhau” (Chọn bạn mà chơi) Trong cuộc sống, có được những người bạn tốt nhân dân ta gọi
đó là “Bạn vàng lại gập bạn vàng, long, lân, quy, phượng một đoàn tứ linh”
2.1.2.2 Quan hệ gia đình trong cách mô tả, tri nhận của người bình dân a) Một số mối quan hệ mang tính tiêu cực
a1 Mẹ chồng - nàng dâu
Mẹ chồng, nàng dâu luôn là vấn đề nan giải trong xã hội phong kiến xưa Những mâu thuẫn, xung đột dẫn đến những xích mích, bất hòa trong gia đình khiến cho cơm không lành, canh chẳng ngọt của hai đối tượng này
dường như không thể giải quyết “Thật thà cũng thể lái trâu/ Thương nhau
cũng thể nàng dâu, mẹ chồng”
Có lẽ từ chỗ khác máu tanh lòng, “Không đẻ không thương” mà dẫn
đến “bới bèo ra bọ” Từ chỗ ý thức được mình có cái quyền vô cùng to lớn đối với một con người mình đã bỏ tiền mua mà mẹ chồng sinh ra xét nét, soi mói, cay nghiệt, tự cho mình quyền sinh, quyền sát trong tay Bà đã bỏ tiền
mua người ta về thì tròn hay méo do tay bà “Mất tiền mua mâm thì đâm cho
thủng/ Mất tiền mua thúng thì đựng cho mòn” Biết bao người con gái đến
tuổi lấy chồng chỉ mong muốn “Kiếm nơi cha mẹ thảo hiền/ Gửi thân khuya
sớm, bạc tiền không tham” thế mà rồi phải chịu cảnh “Đồn rằng cha mẹ anh hiền/ Cắn cơm không vỡ, cắn tiền vỡ tan”
Có thể nói, trong xã hội phong kiến, người phụ nữ là người phải chịu nhiều khổ cực hơn cả Chế độ hôn nhân gả bán trong xã hội cũ đã “đặt người phụ nữ vào cương vị kẻ vị thành niên suốt cuộc đời, nhiều khi như một món hàng đem bán vào tay ai cũng được” (Vũ Ngọc Phan) Vì thế, người con gái
Trang 39Việt Nam xưa về nhà chồng với một địa vị thấp kém, bất bình đẳng, còn gia đình chồng - mà người đại diện đối diện với dâu con trước những mâu thuẫn
là bà mẹ chồng thì mang tư tưởng của kẻ bề trên, của bà chủ với món hàng mình mua được vì thế mà chẳng thể nhìn mặt nhau:
- Dâu vô nhà, mụ gia ra ngõ
- Bố chồng là lông con phượng, mẹ chồng là tượng mới tô, nàng dâu
mới về là bồ đựng chửi
Trong hệ thống những câu tục ngữ về đề tài này, ta nghe thấy tiếng nói cay nghiệt, đầy quyền lực của bà mẹ chồng và tiếng nói ấm ức, oán trách, thậm chí đầy căm hờn của người con dâu:
- Mẹ chồng nói một nàng dâu đối mười
- Thương chồng phải khóc mụ gia/ Ta đây với mụ có bà con chi
Đã gọi là “mụ”, đã xưng là “ta” thì rõ ràng nàng dâu cũng đã trở thành dửng dưng đến tàn nhẫn, và đó cũng là đỉnh điểm của sự căm hờn chất chứa
bấy lâu trong lòng người con dâu Quả thật, “Mẹ chồng, nàng dâu, chủ nhà
người ở yêu nhau bao giờ” Thực tế không phải lúc nào cũng chỉ có mối quan
hệ không tốt đẹp trong quan hệ mẹ chồng - nàng dâu nhưng hình như đó là mối quan hệ mang tính mặc định, phổ quát, thường trực lúc bấy giờ
a2 Mối quan hệ chị dâu - em chồng, chị chồng - em dâu
Cũng như mối quan hệ mẹ chồng - con dâu, mối quan hệ chị dâu - em chồng, chị chồng - em dâu chẳng mấy khi tốt đẹp Có khi là chị dâu vất vả,
em chồng nhàn hạ, có khi là ganh ghét, đố kị:
- Chị dâu làm đâu ra đấy, em chồng ăn bậy nói sau lưng
- Chị dâu lội sông, em chồng đi mảng
- Chị em dâu nấu đầu trâu lủng nồi, chị em chồng nấu nồi đồng đứt quai
- Chị em dâu nói trâu thành bò
- Em chồng ở với chị dâu coi chừng kẻo nó giết nhau có ngày
- Chị em dâu như bầu nước lã, chị em gái như cái nhân sâm
Trang 40a3 Quan hệ nam - nữ, vợ - chồng, con cái
Trong xã hội phong kiến, nơi nảy sinh tục ngữ, nhiều tư tưởng phản nhân văn tồn tại một cách hiển nhiên Người phụ nữ vốn giữ vai trò to lớn,
quan trọng nhất trong gia đình “Không có đàn bà nhà hoá mổ côi” Thế
nhưng, người làm cho cơm lành, canh ngọt, người nuôi con, nuôi chồng,
người làm sang, làm đẹp, làm quan cho chồng, thậm chí “gánh vác cả giang
sơn nhà chồng”, người giữ và truyền lửa cho hạnh phúc… vẫn bị xem thường
Mất mẹ, mất vợ là mất tất cả “Mồ côi cha ăn cơm với cá/ Mồ côi mẹ liếm lá
đầu chợ”, nhưng khi có vợ, vợ chỉ như cơm nguội khi đói lòng, vợ cũng là
của nợ
Xã hội ấy đã có những định kiến với người phụ nữ Điều ấy được mô tả trong nhiều câu tục ngữ Việt Nam Có nhiều câu khắc họa người phụ nữ với cái nhìn ác cảm không giấu giếm:
- Nói dai như đàn bà
- Ai trông thấy ma, biết đàn bà ăn bớt
- Đàn bà rúc không khỏi ba ông táo
- Đàn bà yếu chân mềm tay/ Làm ăn chẳng đặng, lại hay nỏ mồm
- Mấy đời bánh đúc có xương/ Mấy đời dì ghẻ mà thương con chồng
- Lấy chồng ăn những của chồng/ Ăn hết con mắt khoét lòng con ngươi
Phụ nữ được coi là luôn thua kém đàn ống về trí tuệ, thiển cận, nông cạn, dại dột, nhẹ dạ, cả tin:
- Khôn ngoan cũng thể đàn bà/ Dẫu rằng vụng dại cũng là đàn ông
- Đàn ông nông nối giểng khơi/ Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu
- Đàn bà cạn lòng như đĩa
- Trẻ con hay ăn quà, đàn bà hay nhẹ dạ
Về mặt tình cảm, tâm lý thì người đàn bà được coi là có lòng dạ hẹp hòi, đố kỵ: