1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghĩa biểu trưng của các thành tố chỉ động vật nuôi trong thành ngữ tiếng việt

110 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghĩa biểu trưng của các thành tố chỉ động vật nuôi trong thành ngữ tiếng Việt
Tác giả Nguyễn Hữu Hiếu
Người hướng dẫn PGS. TS. Hoàng Trọng Cảnh
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Ngôn ngữ Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2016
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu (7)
  • 4. Phương pháp nghiên cứu (8)
  • 5. Đóng góp của luận văn (8)
  • 6. Cấu trúc luận văn (9)
  • Chương 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI (10)
    • 1.1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu (10)
    • 1.2. Một số giới thuyết liên quan đến đề tài (16)
      • 1.2.1. Những vấn đề chung về thành ngữ (16)
      • 1.2.2. Một số nét cơ bản về nghĩa của từ và thành ngữ (24)
      • 1.2.3. Nghĩa biểu trưng của thành ngữ (29)
      • 1.2.4. Đặc trưng văn hóa dân tộc thể hiện qua nghĩa của từ và thành ngữ (32)
    • 1.3. Tiểu kết chương 1 (37)
  • Chương 2. BIỂU HIỆN NGHĨA BIỂU TRƯNG CỦA CÁC THÀNH TỐ CHỈ ĐỘNG VẬT NUÔI TRONG THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT (38)
    • 2.1. Dẫn nhập (38)
    • 2.2. Nghĩa biểu trưng của các thành tố “trâu”, “bò”, “ngựa”, “lợn”, “chó”, “mèo”, “gà”, “vịt” trong quan hệ tương tác tạo nghĩa với các yếu tố khác trong thành ngữ (39)
      • 2.2.1. Biểu hiện nghĩa của thành tố “trâu” trong thành ngữ (39)
      • 2.2.2. Biểu hiện nghĩa của thành tố “bò” trong thành ngữ (44)
      • 2.2.3. Biểu hiện nghĩa của thành tố “ngựa” trong thành ngữ (47)
    • 2.4. Tiểu kết chương 2 (75)
  • Chương 3. CƠ CHẾ HÌNH THÀNH NGHĨA BIỂU TRƯNG CỦA CÁC THÀNH NGỮ CHỨA THÀNH TỐ TRÂU, BÒ, NGỰA, LỢN, CHÓ, MÈO, GÀ, VỊT (77)
    • 3.1. Các nhân tố tạo nghĩa biểu trưng của các thành ngữ chứa các thành tố “trâu”, “bò”, “ngựa”, “lợn”, “chó”, “mèo”, “gà”,“vịt” (77)
      • 3.1.1. Hình ảnh về sự vật được gọi tên với những đặc điểm được (77)
      • 3.1.2. Mối liên tưởng chuyển nghĩa biểu trưng dựa trên quan hệ giữa hình ảnh “trâu”, “bò”, “ngựa”, “lợn”, “chó”, “mèo”, “gà”, “vịt” với các đặc điểm tâm lí, tính cách con người (82)
      • 3.1.3. Sự khái quát hóa, biểu trưng hóa nghĩa biểu trưng của các yếu tố “trâu”, “bò”, “ngựa”, “lợn”, “chó”, “mèo”, “gà”, “vịt” tạo nghĩa chung của các thành ngữ (88)
    • 3.2. Tổ chức các thành tố chỉ động vật nuôi theo các quan hệ ngữ pháp, ngữ nghĩa khác nhau tạo nên sự khái quát hóa, biểu trưng hóa về nghĩa của thành ngữ (94)
      • 3.2.1. Quan hệ kết hợp tương đồng giữa các yếu tố trong thành ngữ (94)
      • 3.2.2. Quan hệ kết hợp tương phản giữa các yếu tố trong thành ngữ (96)
    • 3.4. Tiểu kết chương 3 (104)
  • KẾT LUẬN (106)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (108)

Nội dung

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp, thủ pháp chính sau:

4.1 Phương pháp thống kê, phân loại

- Thống kê các thành ngữ có chứa các yếu tố trâu, bò, ngựa, lợn, chó, mèo, gà, vịt

- Phân loại các thành ngữ đã thống kê theo từng tiểu loại

4.2 Phương pháp phân tích, miêu tả nghĩa

Phương pháp này được sử dụng để phân tích dữ liệu, giúp miêu tả các thành ngữ một cách rõ ràng Nó cho phép nhận diện ý nghĩa của các yếu tố trong thành ngữ và hiểu rõ cơ chế hình thành nghĩa biểu trưng Nhờ đó, ta có thể khám phá sâu hơn về cấu trúc và chức năng của các thành ngữ trong ngôn ngữ Phân tích này không chỉ nâng cao khả năng hiểu biết về ngôn ngữ mà còn hỗ trợ việc nghiên cứu và giảng dạy thành ngữ một cách hiệu quả hơn.

Đóng góp của luận văn

Thành ngữ là đối tượng nghiên cứu đã thu hút nhiều công trình khoa học, và các kết quả nghiên cứu này giúp làm rõ cơ chế tạo nghĩa biểu trưng của thành ngữ nói chung cũng như ý nghĩa biểu trưng của hình ảnh loài vật nuôi trong gia đình người Việt Nghiên cứu này góp phần làm sáng tỏ cách người Việt quan sát, nhận thức hiện thực khách quan, liên tưởng và lĩnh hội ý nghĩa biểu trưng, từ đó nâng cao hiệu quả giảng dạy thành ngữ trong nhà trường.

Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm có ba chương:

Chương 1 cung cấp tổng quan về vấn đề nghiên cứu và trình bày các giới thuyết liên quan đến đề tài, nhằm làm rõ cơ sở lý luận và phương pháp tiếp cận Chương 2 tập trung phân tích các biểu hiện nghĩa biểu trưng của các thành tố chỉ động vật nuôi trong thành ngữ tiếng Việt, thể hiện qua các đặc điểm tượng trưng và ý nghĩa ngữ dụng Chương 3 khám phá cơ chế hình thành nghĩa biểu trưng của các thành ngữ chứa các thành tố như trâu, bò, ngựa, lợn, chó, mèo, gà, vịt, qua đó giúp hiểu rõ quá trình chuyển dịch nghĩa từ biểu hiện cụ thể sang ý nghĩa trừu tượng trong ngôn ngữ Việt Nam.

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI

Tổng quan về tình hình nghiên cứu

Thành ngữ là sản phẩm dân gian quen thuộc nhưng có giá trị đặc biệt trong giao tiếp hàng ngày, góp phần làm phong phú ngôn ngữ và thể hiện rõ nét văn hóa truyền thống Chính vì vậy, thành ngữ đã được nghiên cứu sâu rộng từ nhiều lĩnh vực ngôn ngữ học, văn hóa và giao tiếp, nhằm phân tích ý nghĩa, cấu trúc và chức năng của chúng trong cuộc sống hàng ngày.

Nghiên cứu đầu tiên về thành ngữ được thực hiện qua cuốn “Về tục ngữ và ca dao” của học giả Phạm Quỳnh, được xuất bản năm 1921, mở đầu cho lĩnh vực nghiên cứu này Tiếp theo, các công trình tiếp tục phân tích sâu hơn về thành ngữ, vai trò và ý nghĩa trong văn hóa Việt Nam Những nghiên cứu này góp phần làm rõ nguồn gốc, cấu trúc và chức năng của thành ngữ trong đời sống hàng ngày và văn học dân gian Việc nghiên cứu thành ngữ không chỉ giúp hiểu rõ về ngôn ngữ mà còn phản ánh đặc trưng văn hóa và tư duy của người Việt qua các thời kỳ.

"Tục ngữ và phong dao" của Ngô Văn Ngọc (1928) là tác phẩm được xem là tuyển tập thành ngữ tiếng Việt đầu tiên, ghi nhận một lượng lớn thành ngữ phổ biến trong dân gian Nội dung của công trình tập trung nghiên cứu thành ngữ như một phần của văn học dân gian, nhằm khám phá ý nghĩa và giá trị văn hóa của những câu thành ngữ này Tuy nhiên, tác phẩm nhấn mạnh rằng các thành ngữ được phân tích như đối tượng của văn học, chứ không phải là lĩnh vực ngôn ngữ học chuyên sâu Đây là bước nền tảng quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy các thành ngữ Việt Nam, góp phần nâng cao nhận thức về giá trị văn hóa dân tộc.

Thành ngữ đã trở thành đối tượng nghiên cứu khoa học từ những thập kỷ 70 của thế kỷ XX, với sự đóng góp của các nhà nghiên cứu lớn như Nguyễn Thiện Giáp, Hoàng Văn Hành, Hồ Lê, Nguyễn Lực và Lương Văn Đang Các công trình của các tác giả này chủ yếu tập trung vào nghiên cứu đặc điểm, thuộc tính của thành ngữ và phân biệt thành ngữ với các đơn vị ngôn ngữ khác như tục ngữ, cụm từ tự do hoặc từ ghép Ngoài ra, họ còn nghiên cứu, phân tích, phân xuất các thành ngữ để hiểu rõ hơn về cấu trúc và chức năng của chúng trong ngôn ngữ Việt Nam.

Dự án "Thành ngữ tiếng Việt" của Nguyễn Lực và Lương Văn Đang (1979) đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong ngành nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt khi khảo sát hơn 3.000 thành ngữ và phân tích các tiêu chí lựa chọn thành ngữ Mặc dù chưa thể bao quát toàn bộ thành ngữ trong tiếng Việt, tác phẩm đã cung cấp nguồn tài liệu quý giá cho các nhà ngôn ngữ học và những người quan tâm đến lĩnh vực này Đây không chỉ là tập hợp thành ngữ phong phú mà còn trình bày các luận điểm tổng quát về quá trình sưu tầm, nghiên cứu thành ngữ, đặc biệt là tiêu chí xác định và lựa chọn thành ngữ phù hợp Các tác giả đã nêu bật các đặc điểm quan trọng về kết cấu và ý nghĩa ngữ nghĩa của thành ngữ, góp phần nâng cao nhận thức về đặc điểm ngôn ngữ đặc trưng này.

Năm 1981, Giáo sư Đỗ Hữu Châu công bố công trình “Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt” (Nxb Giáo dục), trong đó ông nhấn mạnh đặc điểm cố định hóa mang tính thành ngữ, xác định tính tương đương với từ về chức năng và cách sử dụng Bằng cách phân loại các ngữ cố định dựa trên thành phần trung tâm, tác giả đã phân chia các cấu trúc cụm từ trong ngữ cố định thành các dạng khác nhau và tổng kết những giá trị ngữ nghĩa quan trọng của chúng, góp phần làm rõ đặc điểm và chức năng của ngữ cố định trong tiếng Việt. -Nâng tầm nội dung chuẩn SEO với công cụ tạo câu cô đọng chuyên sâu dựa trên bài viết ngữ nghĩa tiếng Việt của Giáo sư Đỗ Hữu Châu ngay! [Tìm hiểu thêm](https://pollinations.ai/redirect/2699274)

Năm 1989, cuốn Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam của tác giả

Nguyễn Lân ra đời là dấu mốc quan trọng trong lĩnh vực văn học và truyền thống Việt Nam Sau đó, cuốn sách "Kể chuyện về thành ngữ và tục ngữ" do Hoàng Văn Hành chủ biên (Nxb KHXH, 1988-1990) chính thức được phát hành tới độc giả, góp phần gìn giữ và truyền tải giá trị văn hóa dân tộc.

Giáo sư Vũ Ngọc Phan trong công trình “Tục ngữ ca dao dân ca Việt

Nam” (Nxb Văn học, 2003), tác giả Việt Dương trong “Từ điển thành ngữ, tục ngữ, ca dao Việt Nam” (Nxb Đồng Nai, 2005), đã thống kê được hơn

Việt Nam sở hữu hơn 15.000 thành ngữ, tục ngữ và ca dao đa dạng về lĩnh vực, phản ánh sâu sắc về văn hóa dân gian và truyền thống của người Việt Các tác giả đã phân tích và đưa ra những nhận định về ý nghĩa cũng như giá trị văn hóa của những câu thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong đời sống hàng ngày Đồng thời, họ đi sâu vào nghiên cứu kho tàng văn hóa nghệ thuật cổ truyền, đặc biệt là các yếu tố văn hóa dân gian được thể hiện rõ nét qua các câu ca dao, tục ngữ và thành ngữ Việt Nam Những câu nói này không chỉ là những phương tiện truyền đạt kinh nghiệm sống mà còn giữ vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc Việt Nam.

Trong “Thành ngữ học tiếng Việt” (Nxb Khoa học xã hội, 2004), giáo sư Hoàng Văn Hành đã phân tích nguồn gốc và đặc điểm của thành ngữ Việt Nam, nhấn mạnh vai trò của thành ngữ trong văn hóa dân tộc Ông chia thành ngữ tiếng Việt thành các loại như thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng, thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng, và thành ngữ so sánh, giúp làm rõ sự đa dạng và phong phú của hệ thống thành ngữ Tác giả cũng nhấn mạnh giá trị nghệ thuật và khả năng sử dụng linh hoạt của thành ngữ, qua đó phản ánh rõ nét đặc trưng văn hóa của người Việt Nam.

Hầu hết các nhà nghiên cứu Việt ngữ học đều xác nhận rằng thành ngữ mang nghĩa biểu trưng, thể hiện ý nghĩa qua toàn thể chứ không phải dựa trên nghĩa đen của các yếu tố Tuy nhiên, cơ chế hình thành nghĩa biểu trưng của thành ngữ và cách các yếu tố tạo thành nghĩa chung vẫn chưa được làm rõ rõ ràng trong các nghiên cứu Nghiên cứu về nghĩa thành ngữ vẫn còn hạn chế ở việc phân tích các quy tắc và quá trình hình thành ý nghĩa biểu trưng này Các công trình nghiên cứu đi sâu vào các vấn đề cụ thể của nghĩa thành ngữ nhằm lý giải cơ chế và nguyên nhân của hiện tượng này còn khá ít ỏi, đặc biệt là trong các công trình của Nhà nghiên cứu Bùi Khắc Việt.

Các nhà nghiên cứu như Hoàng Văn Hành, Nguyễn Văn Mệnh, và Bùi Khắc Việt đã nhiều lần bàn luận về cấu trúc nghĩa của thành ngữ tiếng Việt, nhấn mạnh rằng nghĩa của thành ngữ được hình thành dựa trên quá trình tổng hợp ý nghĩa biểu trưng của các yếu tố, chứ không chỉ là tổng hợp đơn giản các ý nghĩa của thành phần như các ngữ tự do Nguyễn Văn Mệnh cho rằng: “Ý nghĩa của thành ngữ không phải là số cộng giản đơn các ý nghĩa các thành tố, mà dựa trên khái quát và tổng hợp ý nghĩa biểu trưng của các yếu tố,” giúp xác định rõ đặc điểm nghĩa của thành ngữ Trong khi đó, Bùi Khắc Việt cho biết rằng “nghĩa của thành ngữ được cấu tạo bằng phương thức chuyển nghĩa như ẩn dụ, hoán dụ, so sánh,” và tính biểu trưng của thành ngữ phản ánh những hiện tượng đời sống xã hội, lịch sử, phong tục, tín ngưỡng của nhân dân Tùy theo mức độ biểu trưng hóa, thành ngữ được chia thành hai loại: thành ngữ biểu trưng hóa toàn bộ như “giẫm chân tại chỗ,” “bật đèn xanh,” và các dạng khác phù hợp với đặc điểm nghĩa và chức năng của chúng trong ngôn ngữ.

Thành ngữ biểu trưng hóa bộ phận, trong đó một số yếu tố mang ý nghĩa biểu trưng rõ rệt, còn số khác thì không Ví dụ như quyền rơm vạ đá, nợ như chúa chổm đều có nghĩa biểu trưng Theo quan điểm của Hoàng Văn Hành, các thành ngữ tiếng Việt không chỉ phản ánh nghĩa biểu trưng mà còn thể hiện quá trình tạo nghĩa này thông qua sự thay đổi trong quan hệ giữa các yếu tố, từ liên kết cú pháp sang mối liên hệ hình thái cố định Ông chỉ rõ rằng trong thành ngữ, ý nghĩa từ vựng của các yếu tố bị nhược hóa, mất đi ý nghĩa riêng, thay vào đó là các mối liên hệ nội tại thể hiện quan hệ biểu trưng, quan hệ cú pháp bị đứt gãy, tạo ra một hệ thống nghĩa mới mang tính biểu tượng Quá trình từ tổ hợp từ tự do chuyển sang thành ngữ thể hiện sự cố định hóa cấu trúc, đồng thời sinh ra nghĩa biểu trưng mới, không có trong các yếu tố ban đầu, phản ánh mối liên hệ ý nghĩa giữa các thành phần theo hướng biểu tượng hóa mạnh mẽ hơn Hoàng Văn Hành còn minh họa rõ ràng quá trình này qua các ví dụ cụ thể để phân tích cách tạo nghĩa biểu trưng chung trong thành ngữ tiếng Việt.

Một hướng nghiên cứu khác phân tích quá trình hình thành nghĩa biểu trưng của thành ngữ qua góc độ tri nhận và phép liên tưởng chuyển nghĩa, tiêu biểu là công trình của Nguyễn Đức Tồn trong Sự đặc trưng văn hóa - dân tộc của ngôn ngữ và tư duy (2015) Ông cho rằng hình ảnh trong thành ngữ là miền Nguồn, còn nghĩa biểu trưng của chúng là miền Đích, trong đó các thành tố cấu tạo nên thành ngữ thường là ẩn dụ hóa tên gọi các sự vật, hiện tượng thuộc miền Nguồn, như các hình ảnh động vật (rắn, chim, chó) hoặc thực vật (tre, liễu, chanh, khế), mang ý nghĩa biểu trưng Miền Đích chính là các phạm trù trừu tượng, thể hiện các ý nghĩa biểu trưng của thành ngữ, qua đó giúp hiểu rõ quá trình hình thành nghĩa biểu trưng dựa trên liên tưởng và hình ảnh hóa các yếu tố trong ngôn ngữ Việt.

Thành ngữ là một đơn vị ngôn ngữ đã thu hút sự quan tâm và nghiên cứu của các nhà nghiên cứu từ rất sớm, đạt được nhiều thành công trong lĩnh vực này Các công trình nghiên cứu trước đây đã đề cập đến nhiều khía cạnh của thành ngữ, trong đó có nghĩa biểu trưng chung và vai trò của các thành tố trong quá trình tạo nghĩa chung Tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa mở rộng phân tích nghĩa biểu trưng của các thành tố theo hệ thống nhóm hoặc trường nghĩa cụ thể, cũng như chưa đi sâu vào cơ chế tạo nghĩa biểu trưng của các thành tố trong thành ngữ Luận văn thạc sĩ "Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa và những giá trị biểu trưng của thành ngữ tiếng Việt" của Trịnh Cẩm Lan (Đại học quốc gia Hà Nội, 1995) đã phần nào chỉ ra vai trò của các thành tố trong việc hình thành nghĩa biểu trưng chung, nhưng việc nghiên cứu nghĩa biểu trưng của các thành tố trong thành ngữ vẫn còn là lĩnh vực mới, cần tiếp tục khai thác.

Nghiên cứu nghĩa chung của thành ngữ cần chú ý đến nghĩa biểu trưng của các thành tố hoặc hình ảnh trong thành ngữ nhằm làm rõ ý nghĩa sâu sắc của chúng Dưới sự hướng dẫn của Giáo sư Hoàng Trọng Canh, nhiều luận văn thạc sĩ và khóa luận tốt nghiệp tại Trường Đại học Vinh đã được thực hiện để phân tích cách các thành tố hình ảnh đóng vai trò quan trọng trong việc xác định nghĩa của thành ngữ Các nghiên cứu này góp phần làm sáng rõ mối liên hệ giữa hình ảnh tượng trưng và ý nghĩa chung của thành ngữ trong tiếng Việt, thúc đẩy sự hiểu biết toàn diện hơn về ngôn ngữ và văn hóa dân tộc.

- Ý nghĩa biểu trưng của hệ thống con số trong ca dao người Việt,

(Trần Thị Lam Thủy, Luận văn thạc sĩ, Đại học Vinh), 2006

- Hình ảnh biểu trưng trong thành ngữ so sánh tiếng Việt, (Bùi Thị Thi Thơ, Luận văn thạc sĩ, Đại học Vinh), 2006

Một số giới thuyết liên quan đến đề tài

Thành ngữ là phần quan trọng trong vốn từ của tiếng Việt, phản ánh nét văn hóa và ngôn ngữ hàng ngày của nhân dân Nó không chỉ là đối tượng nghiên cứu của văn hóa và văn học mà còn đóng vai trò thiết yếu trong ngôn ngữ học Các công trình nghiên cứu cho thấy tiếng Việt sở hữu một kho tàng thành ngữ phong phú, đa dạng, góp phần làm giàu và làm đẹp cho ngôn ngữ, đặc biệt là trong lĩnh vực tu từ.

Các nhà ngôn ngữ khi nghiên cứu về thành ngữ đã phân tích và khám phá nó từ nhiều góc độ khác nhau, mỗi tác giả đều đề xuất định nghĩa cụ thể phù hợp với góc nhìn của mình Nội dung khái niệm thành ngữ đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập, mỗi người tìm ra một khái niệm riêng biệt để phản ánh đặc điểm và vai trò của thành ngữ trong ngôn ngữ.

Năm 1976, với công trình Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại, tác giả

Nguyễn Văn Tu định nghĩa thành ngữ là một cụm từ cố định, trong đó các từ đã mất đi tính độc lập, kết hợp thành một khối vững chắc và hoàn chỉnh với ý nghĩa riêng biệt không phải do nghĩa của các thành tố tạo thành Thành ngữ có thể mang tính hình tượng hoặc không, và nghĩa của chúng thường khác xa so với nghĩa của các từ trong thành ngữ đó, đôi khi có thể được giải thích bằng từ nguyên học.

GS Đỗ Hữu Châu nhấn mạnh rằng thành ngữ có đặc tính tương đương với từ về mặt chức năng tạo câu, không chỉ vì chúng có sẵn và bắt buộc, mà còn vì trong câu, thành ngữ có thể thay thế cho một từ hoặc kết hợp với từ để tạo thành câu Ông viết: “Cái quyết định để xác định các ngữ cố định là tính tương đương với từ của chúng về chức năng tạo câu.”

Trong tác phẩm "Thi pháp ca dao," Nguyễn Xuân Kính phân biệt thành ngữ và tục ngữ, cho rằng "thành ngữ là hoa còn tục ngữ là quả," nghĩa là thành ngữ là những phán đoán chưa hoàn chỉnh, còn tục ngữ đã là câu hoàn chỉnh và mang ý nghĩa trọn vẹn Ông định nghĩa: “Thành ngữ là những đơn vị có sẵn mang chức năng định danh, dùng để gọi tên sự vật hoặc để chỉ tính chất, hành động,” nhưng xét trong mối quan hệ với từ, khái niệm thành ngữ vẫn chưa rõ ràng so với tục ngữ.

Thành ngữ trong tiếng Việt được định nghĩa như một cụm từ cố định với nghĩa nguyên khối, tạo thành một chỉnh thể có ý nghĩa riêng biệt khác với tổng ý nghĩa của các thành tố cấu thành Thành ngữ không mang nghĩa đen, hoạt động như một từ riêng biệt trong câu, góp phần làm phong phú và sinh động cho ngôn ngữ Theo Từ điển tiếng Việt, thành ngữ giúp truyền đạt ý nghĩa một cách cô đọng và sâu sắc hơn trong giao tiếp hàng ngày Việc hiểu rõ khái niệm thành ngữ là cơ sở quan trọng để phân tích và sử dụng thành ngữ đúng cách trong ngôn ngữ Việt Nam.

Từ góc độ ngôn ngữ học, thành ngữ được định nghĩa là một tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thái và cấu trúc, mang ý nghĩa hoàn chỉnh và bóng bẩy Cố GS Hoàng Văn Hành mô tả thành ngữ như một loại từ có tính ổn định cao và được sử dụng như một từ đơn để thể hiện ý nghĩa rõ ràng, giàu biểu cảm trong giao tiếp.

Nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về thành ngữ đã được thực hiện, như "Thành ngữ so sánh trong tiếng Việt" (1974) của Trương Đông San, "Thành ngữ tiếng Việt" (1987) của Nguyễn Lực và Lương Văn Đang, cùng "Từ điển thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt" (1989) của Nguyễn Lân Mặc dù các tác giả tiếp cận đối tượng thành ngữ từ những góc độ và mục đích khác nhau, nhưng tất cả đều thống nhất hoặc ủng hộ một quan niệm và định nghĩa chung về thành ngữ, góp phần làm rõ đặc điểm và vai trò của thành ngữ trong ngôn ngữ tiếng Việt.

Trong nghiên cứu này, luận văn không đi sâu vào khái niệm thành ngữ mà dựa trên các kết quả nghiên cứu đã được các nhà khoa học đề xuất, từ đó tóm lược một định nghĩa ngắn gọn để phục vụ quá trình phân tích và nghiên cứu đề tài một cách hiệu quả.

“Thành ngữ là một cụm từ cố định có kết cấu vững chắc, mang ý nghĩa biểu trưng, được sử dụng tương đương như từ”

Thành ngữ là đơn vị ngôn ngữ có chức năng dùng để biểu đạt ý nghĩa, mang lại tác động mạnh mẽ trong giao tiếp Nó được coi là nghệ thuật ăn nói của nhân dân, được cô đúc thành những câu ngắn gọn, súc tích, có ý nghĩa cao và đa dạng về nghĩa Chính nhờ đặc trưng này mà thành ngữ được sử dụng phổ biến trong đời sống hàng ngày, góp phần làm phong phú vốn từ và khả năng diễn đạt của người nói Nhiều nghiên cứu đã phân tích đặc điểm của thành ngữ nhằm làm rõ các yếu tố tạo nên sự đặc biệt của nó trong ngôn ngữ tiếng Việt.

Theo GS Hoàng Văn Hành thì thành ngữ có hai đặc trưng cơ bản: [8; 25]

- Tính ổn định, cố định về thành phần từ vựng và cấu trúc do thói quen sử dụng của người bản ngữ

- Tính hoàn chỉnh và bóng bẩy về nghĩa

Một số nhà nghiên cứu khác, như Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân,… lại cho rằng thành ngữ có ba đặc trưng cơ bản sau:

- Thành ngữ có tính hài hòa - điệp đối

- Thành ngữ giàu hình ảnh

Thành ngữ mang ý nghĩa khái quát và biểu trưng, phản ánh đặc trưng đặc trưng của ngôn ngữ và văn hóa dân tộc Hiện nay, các nhà ngôn ngữ học và nhà nghiên cứu thường nhấn mạnh đến các đặc điểm cơ bản của thành ngữ, giúp hiểu rõ hơn về chức năng và vai trò của loại hình ngôn ngữ này trong communication hàng ngày.

Thành ngữ thể hiện tính hài hòa và điệp đối rõ nét qua các lớp thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng, đặc biệt là thành ngữ đan xen bốn âm tiết Các ví dụ như "Ăn bớt/ ăn xén," "Sức dài/ vai rộng," "Lên thác/ xuống ghềnh," "Bữa đực/ bữa cái," và "Cháy gan/ cháy ruột" minh họa cho mô hình cấu trúc Ax - Ay, góp phần tạo nên sự đối xứng và hài hòa trong ngữ liệu thành ngữ.

Hoặc những thành ngữ đối xứng theo kiểu như: bán nước/ buôn dân, hương tàn/ khói lạnh, cuối đất/ cùng trời, năm nắng/ mười mưa

Loại thành ngữ này được tạo thành bởi hai vế đối xứng nhau về ý và lời thông qua một trục hài hòa về âm thanh, vần điệu

Thành ngữ thể hiện rõ đặc trưng hình ảnh, phản ánh thói quen và lối nói ưa sử dụng hình ảnh trong ngôn ngữ Việt Nam Các hình ảnh trong thành ngữ, từ cụ thể như "Ăn chắc mặc bền", "Da bọc xương" đến trừu tượng như "Chuột sa lọ mỡ", "Bán nước buôn dân", thể hiện tính hình tượng nổi bật Nhiều thành ngữ sử dụng lối nói khoa trương như "Bầm gan tím ruột", "Rán sành ra mỡ", "Ngáy như sấm", khiến hình ảnh trở thành phần không thể thiếu khi nói về thành ngữ Tuy nhiên, nhiều người nhầm tưởng rằng nghĩa của thành ngữ là dựa trên hình ảnh, nhưng thực tế, có những thành ngữ như "Lòng tham không đáy" hay "Khoa chân múa tay" không gợi nên hình ảnh cụ thể nào, vẫn được xem là thành ngữ uyển chuyển trong ngôn ngữ Việt.

Hình ảnh trong thành ngữ mang tính khách quan lẫn cá biệt, phản ánh cuộc sống thực nhưng đồng thời mang ý nghĩa riêng biệt Ví dụ, hình ảnh con trâu trong thành ngữ “Trâu buộc ghét trâu ăn” đại diện cho lòng ganh đua, đố kỵ và tức tối vì người khác hơn mình Ngược lại, trong thành ngữ “Trâu chậm uống nước,” hình ảnh con trâu tượng trưng cho sự chậm chạp, thua thiệt so với người khác Như vậy, hình ảnh trong thành ngữ không chỉ phản ánh thực tế mà còn mang ý nghĩa cảm xúc và ẩn dụ đặc trưng của văn hóa dân gian Việt Nam.

Hình ảnh chỉ có một nhưng mang nhiều ý nghĩa khác nhau, thậm chí có những ý nghĩa trái ngược nhau Ý nghĩa của hình ảnh phụ thuộc vào cách người nói vận dụng và kết hợp nó trong các hoàn cảnh sử dụng khác nhau Do đó, hình ảnh có thể truyền tải nhiều thông điệp đa dạng dựa trên ngữ cảnh và cách diễn đạt của từng người.

Tiểu kết chương 1

Trong chương này, chúng tôi trình bày về lịch sử nghiên cứu và các khái niệm liên quan đến thành ngữ, bao gồm định nghĩa, đặc điểm nổi bật, sự khác biệt giữa thành ngữ và ca dao, tục ngữ Bên cạnh đó, nội dung nhấn mạnh mối quan hệ giữa văn hóa và ngôn ngữ, cũng như tầm quan trọng của việc nghiên cứu thành ngữ từ góc độ văn hóa-ngôn ngữ để hiểu rõ hơn về nghĩa biểu trưng của các thành tố động vật nuôi như trâu, bò, ngựa, lợn, chó, mèo, gà, vịt trong thành ngữ Việt Nam Các vấn đề lý thuyết này là nền tảng để các chương sau thực hiện khảo sát và phân tích nghĩa biểu trưng của các thành tố này trong ngữ cảnh ngôn ngữ và văn hóa người Việt.

BIỂU HIỆN NGHĨA BIỂU TRƯNG CỦA CÁC THÀNH TỐ CHỈ ĐỘNG VẬT NUÔI TRONG THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT

CƠ CHẾ HÌNH THÀNH NGHĨA BIỂU TRƯNG CỦA CÁC THÀNH NGỮ CHỨA THÀNH TỐ TRÂU, BÒ, NGỰA, LỢN, CHÓ, MÈO, GÀ, VỊT

Ngày đăng: 21/08/2023, 00:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w