1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan niệm văn học của trần đăng khoa qua chân dung và đối thoại và hầu chuyện thượng đế

99 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan niệm văn học của Trần Đăng Khoa qua chân dung và đối thoại và hầu chuyện thượng đế
Tác giả Vũ Thị Hương
Người hướng dẫn PGS.TS. Biện Minh Điền
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận văn Thạc sĩ ngữ văn
Năm xuất bản 2016
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 795,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những năm 80 của thế kỷ XX, Trần Đăng Khoa còn sáng tác bằng tiểu thuyết Đảo chìm, viết tạp văn, báo chí Người thường gặp, viết tiểu luận phê bình dưới hình thức thể tài chân dung và

Trang 1

VŨ THỊ HƯƠNG

QUAN NIỆM VĂN HỌC CỦA TRẦN ĐĂNG KHOA QUA

CHÂN DUNG VÀ ĐỐI THOẠI VÀ HẦU CHUYỆN THƯỢNG ĐẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGHỆ AN - 2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

VŨ THỊ HƯƠNG

QUAN NIỆM VĂN HỌC CỦA TRẦN ĐĂNG KHOA QUA

CHÂN DUNG VÀ ĐỐI THOẠI VÀ HẦU CHUYỆN THƯỢNG ĐẾ

CHUYÊN NGÀNH VĂN HỌC VIỆT NAM

Mã số: 60.22.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS BIỆN MINH ĐIỀN

NGHỆ AN - 2016

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1

3 Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài 3

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Đóng góp và cấu trúc của luận văn 4

Chương 1 CHÂN DUNG VÀ ĐỐI THOẠI VÀ HẦU CHUYỆN THƯỢNG ĐẾ TRONG VĂN NGHIỆP CỦA TRẦN ĐĂNG KHOA 6

1.1 Văn nghiệp của Trần Đăng Khoa 6

1.1.1 Một số nét về con người và đường đời, đường thơ Trần Đăng Khoa 6

1.1.2 Trần Đăng Khoa với sáng tác văn xuôi 16

1.1.3 Trần Đăng Khoa với với thể tài chân dung, tiểu luận, phê bình, đàm thoại văn học 20

1.2 Chân dung và đối thoại và Hầu chuyện thượng đế - sự hiện diện của Trần Đăng Khoa trong lĩnh vực phê bình, tạp luận, đàm luận văn học 23

Chương 2 QUAN NIỆM CỦA TRẦN ĐĂNG KHOA VỀ CÁC VẤN ĐỀ, CÁC HIỆN TƯỢNG VĂN HỌC TRONG CHÂN DUNG VÀ ĐỐI THOẠI VÀ HẦU CHUYỆN THƯỢNG ĐẾ 27

2.1 Quan niệm của Trần Đăng Khoa qua Chân dung và đối thoại 27

2.1.1 Vấn đề thể loại/thể tài của Chân dung và đối thoại 27

2.1.2 Về chân dung các tác giả văn học 29

2.1.3 Về một số tác phẩm văn học 42

2.1.4 Về một số vấn đề khác của văn học 50

2.2 Hầu chuyện thượng đế với những phân tích, thẩm bình, hóa giải, của Trần Đăng Khoa 53

2.2.1 Về một số chân dung văn học (do Trần Đăng Khoa phác thảo trước đây) 53 2.2.2 Về nhiều vấn đề của văn học, nhất là những vấn đề liên quan đến chương trình Ngữ văn trong nhà trường 58

Trang 4

3.1 Vận dụng sáng tạo các thể loại/ thể tài tạo ưu thế cho việc bộc lộ quan điểm 65

3.1.1 Với thể tài chân dung (Gắn khắc họa chân dung với đối thoại) 65

3.1.2 Với thể tài đàm thoại ( gắn đàm thoại với phê bình) 71

3.2 Ngôn ngữ và giọng điệu bộc lộ quan điểm 79

3.2.1 Ngôn ngữ 79

3.2.2 Giọng điệu 83

KẾT LUẬN 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

Trang 5

1.1 Trần Đăng Khoa - một hiện tượng được đặc biệt chú ý của văn học Việt Nam đương đại, trước hết với tư cách một nhà thơ, một “thần đồng” thơ

từ lúc còn nhỏ tuổi Từ những năm 80 của thế kỷ XX, Trần Đăng Khoa còn

sáng tác bằng tiểu thuyết (Đảo chìm), viết tạp văn, báo chí (Người thường gặp), viết tiểu luận phê bình dưới hình thức thể tài chân dung và đối thoại/ đàm thoại văn học (Chân dung và đối thoại và Hầu chuyện thượng đế) Trần

Đăng Khoa rất xứng đáng có những công trình nghiên cứu về ông với tư cách tác giả- tác phẩm xuất sắc

1.2 Hai tập Chân dung và đối thoại và Hầu chuyện thượng đế đã đề

cập đến nhiều vấn đè, nhiều hiện tượng (tác giả, tác phẩm, công chúng độc giả, ) của đời sống văn học Việt Nam đương đại Có không ít những vấn đề ở đây cần được bàn luận thấu đáo

1.3 Chân dung và đối thoại và Hầu chuyện thượng đế cho thấy quan

niệm văn học có nhiều nét độc đáo, mới mẻ của Trần Đăng Khoa Tìm hiểu, nghiên cứu vẫn đề này là việc làm cần thiết, có nhiều ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

2.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu về sáng tác của Trần Đăng Khoa

2.2 Lịch sử nghiên cứu về hai tập Chân dung và đối thoại và Hầu chuyện thượng đế của Trần Đăng Khoa

Trong Tạp chí Văn số Xuân Kỷ Mão (tháng 1, 2 -1999) có đăng ý kiến của Lê Quý Kỳ Sau khi băn khoăn tự hỏi Chân dung và đối thoại thuộc thể

loại nào, tác giả đã đi tới khẳng định: Đó là “văn xuôi viết về người thật việc thật! Nó là truyện ký hay bút ký gì đó Bút ký có lẽ đúng… hơn” (tr.145) Kết luận chưa thể làm chúng ta hài lòng bởi hai lẽ:

Trần Đăng Khoa gọi sản phẩm mới của mình là “bình luận văn chương” Tôi chưa thấy chất “bình luận” trong tên gọi “bút ký”

Trang 6

chương (dẫu là “phê bình nói”) như quan niệm sau đó của tác giả được?

2.3 Các ý kiến đã có về quan niệm văn học của Trần Đăng Khoa qua

hai tập Chân dung và đối thoại và Hầu chuyện thượng đế

Đã có rất nhiều ý kiến khen chê xung quanh cuốn sách này, nhưng bản lĩnh, cá tính thể hiện ở nghệ thuật khắc họa chân dung nhân vật của Trần Đăng Khoa thì không ai phủ nhận được Nhà nghiên cứu Phan Trọng Thưởng cho rằng: “Chính ở việc vẽ chân dung người khác, Trần Đăng Khoa càng nỗ lực tỉa tót, tô vẽ bao nhiêu thì chân dung anh lại càng tự nổi lên bấy nhiêu…

Có thể nói bao nhiêu tư chất, bao nhiêu tài hoa có được ở Trần Đăng Khoa đều phát tiết ra ở những thao tác họa chân dung các nhà văn này”

Cuốn Chân dung và Đối thoại, ra đời đã có hàng nghìn trang viết, bình

luận về nó ở thái độ cả phản đối cả ủng hộ Trước những ý kiến trái chiều, Trần Đăng Khoa cho rằng “Việc cuốn sách hay hoặc dở thì tôi không bàn, hãy

để cho độc giả và để cho thời gian nữa Có những cuốn sách ra có thể ầm ĩ nhưng thời gian lắng đi thì trôi vào quên lãng Có những cuốn sách ra rất khiêm nhường, rồi cuối cùng càng lùi về quãng thời gian thì nó lại càng sáng”

và ông nói “Cái này Xuân Diệu nói rất giỏi, ông bảo là: Một tác phẩm ra đời giống như con thuyền mới xuống nước, nó cứ nhấp nha nhấp nhô theo những đợt sóng của những "làn sóng" của dư luận mang đầy mầu sắc cảm tính và đến khi giời yên bể lặng rồi thì nó sẽ nổi bằng đúng cái sức nổi của nó Tôi nghĩ, tác phẩm của tôi, cũng như nhiều những cuốn sách khác, sẽ do thời gian

và bạn đọc phán quyết”, các vấn đề văn chương được phát biểu qua các cuộc đối thoại thật và tưởng tượng, cũng mang lại không khí mới mẻ cho văn chương, thậm chí trở thành một hiện tượng vì những nhận định khác người gây bất ngờ của tác giả

Đúng như vậy, ngay sau khi Chân dung và đối thoại ra đời, đã có rất

nhiều bài viết đăng tải trên khắp các báo của nhiều tác giả, các tác giả đó có

Trang 7

thể là những bạn đọc thông thường, hay những nhà giáo, cũng như những nhà phê bình, nghiên cứu, nhà văn, nhà thơ khác…Có hai hướng khen và chê "đứa con" mới ra đời Trần Đăng Khoa Ngoài những bài viết đăng trên khắp các

báo như: Văn nghệ chủ nhật, Văn nghệ quân đội, Thế giới mới, An ninh thế giới, Tạp chí văn học, Tài hoa trẻ…

Còn có những cuốn sách đó là sự tập hợp của nhiều bài viết của nhiều tác giả hợp lại, chủ yếu là chỉ dừng lại ở các ý kiến và trong một phạm vi hẹp

là một bài viết, với thời gian nghiên cứu ít Chẳng hạn như: Đối thoại với

“Chân dung và đối thoại", Nhiều tác giả Xung quanh cuốn "Chân dung và đối thoại" của Trần Đăng Khoa, Nxb Thanh Niên, 4 - 1999, Về một cách tiếp cận một tác phẩm văn học' Văn Tuệ Quang (Tuyển chọn và giới thiệu), Nxb

Đại học Quốc gia H, 2000 Chỉ có một cuốn duy nhất do một tác giả viết ra đó

là cuốn Cảm nhận và phê bình văn học Lê Xuân Lít, Nxb Đại học Quốc gia

H, 2001

3 Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Quan niệm văn học của Trần

Đăng Khoa qua Chân dung và đối thoại và Hầu chuyện thượng đế

3.2 Giới hạn đề tài

Đề tài bao quát tất cả các bài, các ý kiến của Trần Đăng Khoa trong hai

cuốn Chân dung và đối thoại và Hầu chuyện thượng đế

Văn bản tác phẩm dùng để khảo sát, luận văn dựa vào cuốn:

- Chân dung và đối thoại, Nxb Thanh Niên,Hà Nội,1998

- Hầu chuyện thượng đế, Nxb Văn học, Hà Nội, 2015

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Qua khảo sát, phân tích Chân dung và đối thoại và Hầu chuyện thượng

đế, luận văn nhằm xác định quan niệm của Trần Đăng Khoa về nhiều vấn đề

Trang 8

của văn học đương đại, từ đây tìm những bài học kinh nghiệm cho việc tiếp nhận và tìm hiểu, nghiên cứu, phê bình văn học

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Đưa ra một các nhìn chung về Chân dung và đối thoại và Hầu chuyện thượng đế trong văn nghiệp của Trần Đăng Khoa và trong bối cảnh

của tiểu luận, tạp luận, đàm luận phê bình văn học Việt Nam đương đại

4.2 Khảo sát, phân tích, đánh giá các ý kiến của Trần Đăng Khoa về nhiều vấn đề, nhiều hiện tượng của văn học Việt Nam đương đại

4.3 Khảo sát, phân tích, đánh giá những thành công (và cả hạn chế) trong cách viết phê bình, tiểu luận, đối thoại, đàm thoại văn học của Trần Đăng Khoa

Cuối cùng rút ra một kết luận về quan niệm văn học của Trần Đăng

Khoa qua Chân dung và đối thoại và Hầu chuyện thượng đế

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn vận dụng nhiều phương pháp nghien cứu khác nhau, trong đó

có các phương pháp chủ yếu: phương pháp thống kê - phân loại, phương pháp phân tích- tổng hợp, phương pháp so sánh - đối chiếu, phương pháp cấu trúc-

hệ thống

6 Đóng góp và cấu trúc của luận văn

6.1 Đóng góp

Luận văn là công trình hiểu quan niệm văn học của Trần Đăng Khoa

qua Chân dung và đối thoại và Hầu chuyện thượng đế cái nhìn tập trung và hệ

thống

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc tìm hiểu, nghiên cứu quan niệm văn học của Trần Đăng Khoa nói riêng, quan niệm văn học thể hiện qua các thể tài chân dung và đối thoại, đàm thoại trong văn học Việt Nam đương đại nói chung

Trang 9

6.2 Cấu trúc của luận văn

Ngoài mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận văn được triển khai

trong ba chương

Chương 1 Chân dung và đối thoại và Hầu chuyện thượng đế trong văn

nghiệp văn của Trần Đăng Khoa

Chương 2 Quan điểm của Trần Đăng Khoa về các vấn đề, các hiện tượng của văn học Việt Nam đương đại trong Chân dung và đối thoại và Hầu chuyện thượng đế

Chương 3 Phương thức thể hiện quan niệm văn học của Trần Đăng Khoa qua Chân dung và đối thoại và Hầu chuyện thượng đế

Cuối cùng là Tài liệu tham khảo

Trang 10

Chương 1

CHÂN DUNG VÀ ĐỐI THOẠI VÀ HẦU CHUYỆN THƯỢNG ĐẾ

TRONG VĂN NGHIỆP CỦA TRẦN ĐĂNG KHOA

1.1 Văn nghiệp của Trần Đăng Khoa 1.1.1 Một số nét về con người và đường đời, đường thơ Trần Đăng Khoa

Trần Đăng Khoa (sinh ngày 24 tháng 4 năm 1958), quê làng Trực Trì,

xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, là một nhà thơ, nhà báo,

biên tập viên Tạp chí Văn nghệ Quân đội, hội viên của Hội Nhà văn Việt

Nam Ông nguyên là Trưởng ban Văn học Nghệ thuật, Giám đốc Hệ Phát thanh có hình VOVTV của Đài tiếng nói Việt Nam Hiện nay, ông giữ chức Phó Bí thư Đảng ủy Đài Tiếng nói Việt Nam

Từ nhỏ, ông đã được nhiều người cho là thần đồng thơ văn Lên 8 tuổi, ông đã có thơ được đăng báo Năm 1968, khi mới 10 tuổi, tập thơ đầu tiên của

ông: Từ góc sân nhà em (tập thơ tiếp theo là Góc sân và khoảng trời)

được nhà xuất bản Kim Đồng xuất bản Có lẽ tác phẩm nhiều người biết đến

nhất của ông là bài thơ Hạt gạo làng ta, sáng tác năm 1968, được thi sĩ Xuân

Diệu hiệu đính, sau được nhạc sĩ Trần Viết Bính phổ nhạc (1971)

Trần Đăng Khoa nhập ngũ ngày 26 tháng 2 năm 1975 khi đang học lớp 10/10 tại trường phổ thông cấp 3 Nam Sách, quân số tại Tiểu đoàn 691 Trung đoàn 2 Quân tăng cường Hải Hưng Sau khi thống nhất, việc bổ sung quân cho chiến trường không còn cần thiết nữa, ông được bổ sung về quân chủng hải quân Sau đó ông theo học Trường Viết văn Nguyễn Du và được cử sang học tại Viện Văn học Thế giới M Gorki thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Nga Khi trở về nước ông làm biên tập viên Văn nghệ quân đội Từ tháng

6 năm 2004, khi đã mang quân hàm thượng tá Quân đội nhân dân Việt Nam, ông chuyển sang công tác tại Đài tiếng nói Việt Nam, giữ chức Phó Trưởng ban Văn học Nghệ thuật, sau đó là Trưởng ban Văn học Nghệ thuật Đài Tiếng

Trang 11

nói Việt Nam Năm 2008, khi Đài tiếng nói Việt Nam thành lập Hệ phát thanh

có hình VOVTV, ông được phân công làm Giám đốc đầu tiên của hệ này Đến khoảng giữa năm 2011, chức vụ này được chuyển giao cho ông Vũ Hải - Phó Tổng Giám đốc của Đài kiêm nhiệm Hiện nay, ông là Phó Bí thư Đảng

ủy Đài Tiếng nói Việt Nam VOV

Trần Đăng Khoa không có nhiều tác phẩm, và danh hiệu "thần đồng thơ trẻ" của nhà thơ thời thơ ấu không hề liên quan hay được nối tiếp đến

quãng đời về sau khi nhà thơ tham gia nhập ngũ, theo học ở Nga, khi về nước làm biên tập viên, làm báo Thi hứng một thời không là động lực cho xúc cảm khi tác giả đã cao tuổi

Thời kỳ niên thiếu được tính từ khi bài thơ đầu tiên Con bướm vàng ra

đời Đó là năm 1966, khi Trần Đăng Khoa mới lên 8 tuổi Ban đầu, ông chỉ làm thơ một cách ngẫu hứng, cảm xúc đến với anh một cách tự nhiên Ông từng tâm sự: Không biết các nhà thơ khác làm thơ như thế nào? Còn tôi, bài thơ đến với tôi thường bất chợt Có khi đang ngồi nói chuyện với bạn tự dưng trong đầu nảy ra một ý gì đó mà mình tự thấy hay hay Cũng có khi đang đọc sách, gặp một chi tiết tiết thú vị, rồi chi tiết ấy cũng gợi cho mình một cái tứ nào đó Thế rồi bài thơ hình thành, bài thơ đầu tiên ra đời trong những phút ngẫu hứng ấy

Có thể nói, thời kỳ niên thiếu là quãng thời gian rực rỡ của Trần Đăng Khoa, thời kỳ của một tài năng nở rộ để ông được mệnh danh là một “thần

đồng” Bài thơ Con bướm vàng là tác phẩm đầu tay và cũng là tác phẩm đầu

tiên đến ngay với bạn đọc đã để lại ấn tượng mạnh mẽ về một giọng thơ trẻ con Tiếp sau đó là hàng loạt các bài thơ có giá trị khác cũng ra đời trong

khoảng thời gian đó như là Trông trăng, lẢnh Bác, Bên kia sông Kinh Thầy, Trăng sáng sân nhà em,Kể cho bé nghe, Hạt gạo làng ta, Chiếc ngõ nhỏ,…

Trên dưới trăm bài thơ của ông đã ra mắt độc giả cuốn hút sự say mê của hàng nghìn người, nhất là độc giả trẻ em Đọc thơ Trần Đăng Khoa thời niên thiếu, có thể thấy một thế giới kỳ diệu, lung linh màu sắc và ánh sáng, ngộ

Trang 12

nghĩnh và đáng yêu được mở ra Thế giới ấy được nhìn bằng ánh mắt trẻ thơ trong veo đến kỳ lạ, hồn nhiên đến ngộ nghĩnh và sống động đến bất ngờ Từ những hình ảnh quen thuộc của làng quê Việt Nam như dòng sông, ánh trăng, cánh đồng, mùa gặt… cho đến những con vật bình thường, thậm chí là tầm thường nhất trong cuộc sống hàng ngày như con kiến, con giun, con dế, con trâu… cũng đi vào thơ, trở thành những nhân vật trữ tình ngộ nghĩnh mà đáng yêu Trần Đăng Khoa đã thổi linh hồn cuộc sống vào những vật vô tri ấy bằng tất cả tình cảm, tài năng và trí tuệ của mình, biến tất cả thành một thế giới thần tiên, trong ngần của riêng ông Và bạn đọc được đắm mình, được hòa vào trong thế giới ấy khi đến với thơ ông

Bên cạnh những bài thơ hồn nhiên con trẻ, người ta còn bắt gặp một Trần Đăng Khoa đầy suy tư và chín chắn như người già trước tuổi Đó là khi ông viết về chiến tranh, về chú bộ đội, về những người anh hùng, về mẹ đặc biệt là khi viết về những nỗi đau nhân thế Đọc những câu thơ sau đây có ai nghĩ được đó là những lời tâm huyết gan ruột của một cậu bé 12 tuổi đối với người mẹ kính yêu:

Nắng mưa từ những ngày xưa Lặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan … Cả đời đi gió đi sương Bây giờ mẹ lại lần giường tập đi

(Đêm Côn Sơn)

Rồi những cảnh vật rất đỗi bình thường, quen thuộc cũng được Trần Đăng Khoa thổi hồn của tư tưởng vào làm bật ra những ý nghĩ sâu xa, lay động nhất:

Trang 13

Mái gianh ơi hỡi mái gianh Ngấm bao mưa nắng mà thành quê hương (Khúc hát người anh hùng)

Những câu thơ mà Trần Đăng Khoa viết về người anh hùng Mạc Thị Bưởi cũng thể hiện lòng biết ơn sâu sắc như khái quát cả truyền thống cha ông trong cuộc đấu tranh giữ nước:

Có qua những cuộc đấu tranh Máu người đổ xuống mới thành núi sông Đẹp sao dòng máu anh hùng

Lại từ sông núi chảy trong tim người (Khúc hát người anh hùng)

Chính cái phần suy tư của Trần Đăng Khoa đã làm cho nhà thơ Tố Hữu

phải thốt lên rằng: “Tinh hoa văn học của dân tộc đã dồn đúc vào một số ít

người, trong đó có Khoa Giời đã mượn cái miệng trẻ con để làm thơ cho người lớn đọc, không hiểu sao một chú bé tám tuổi lại có được những câu thơ như vậy Đó là câu thơ của Giời”

Quả thật, thời niên thiếu của mình, Trần Đăng Khoa đã gặt hái được những thành công quá sớm trên con đường sáng tạo nghệ thuật Trong 10 năm

là học sinh phổ thông, ngoài tập Góc sân và khoảng trời, Trần Đăng Khoa đã xuất bản 4 trường ca: Đánh Thần Hạn, Làng quê, Trừng phạt và Khúc hát người anh hùng Suốt trong những năm từ 1968 đến 1983, thơ thời niên thiếu

của ông được xuất bản, rồi tái bản nhiều lần ở cả trong và ngoài nước, riêng

trường ca Khúc hát người anh hùng được tái bản 5 lần Sáng tác của Trần

Đăng Khoa, dù ở đâu, lúc nào cũng được độc giả, đặc biệt là các em nhỏ đón nhận một cách say mê, nhiệt thành

Có thể khẳng định ở thời kỳ niên thiếu, Trần Đăng Khoa đã tạo cho mình một thế giới riêng, một góc trời riêng Thế giới ấy bắt nguồn từ cái góc sân và khoảng trời - nơi mà Trần Đăng Khoa thường để quan sát, ngắm nhìn bao quát

Trang 14

cảnh quê, hồn quê Một hồn thơ nhạy cảm, tinh tế với giọng điệu ngây thơ, ngộ nghĩnh nhưng lại chứa đựng tình cảm tha thiết, mang tầm vóc lớn của thời đại

Rõ ràng, với một số lượng lớn các tác phẩm ra đời trong quãng thời gian Trần Đăng Khoa học phổ thông cũng như giá trị mà các tác phẩm đó để lại trong lòng độc giả, có cơ sở để khẳng định ông là một nhân tài, một “thần đồng thi ca” mà không chỉ ở Việt Nam mà cả trên thế giới đều hiếm có Có

lẽ, trong lịch sử văn học dân tộc nói chung và với sự nghiệp sáng tác của Trần Đăng Khoa nói riêng, đó là thời kỳ một đi không trở lại Đấy là thời kỳ đẹp đẽ nhất, vàng son nhất, rực rỡ nhất trong cuộc đời của một tài năng

Thời kỳ trưởng thành trong cuộc đời của Trần Đăng Khoa có thể được tính từ khi ông đi bộ đội Đó là năm ông đang học lớp 10 tại trường phổ thông Nam Sách Ý thức về vận mệnh dân tộc, về trách nhiệm của cá nhân đối với dân tộc luôn thường trực hiện hữu trong tầm thức ông ngay từ khi còn là một cậu bé:

Em chẳng còn bé bỏng như xưa Chiếc khăn quàng em đeo đã bắt đầu thấy chật Những trang giấy cứ cồn lên mặt đất

Đường hành quân dẫn đến mọi chân trời Cao hơn trang thơ, hơn cả cuộc đời

Là Tổ quốc đang một còn, một mất

Từ ý thức đó ông từng tâm nguyện:

Và sau này, nếu các anh gặp em Không phải trên góc sân nhà ngồi ngắm trăng lên

Mà trong chớp đạn rực trời, cứ điểm thù tan rã Thì điều ấy, chắc các anh không lạ…

Tâm nguyện ấy đã thành hiện thực khi ông nhập ngũ, chính thức trở thành người lính Cụ Hồ năm 17 tuổi Đang học lớp 10 phổ thông, ông lên đường tham gia đợt Tổng động viên mùa xuân năm 1975, khi cả dân tộc gồng

Trang 15

mình lên trận cuối Kể từ đây, Trần Đăng Khoa từ giã tuổi thơ, từ giã thế giới

hồn nhiên của Góc sân và khoảng trời thơ bé để đến với một cuộc sống rộng

lớn hơn, gian khổ hơn, sôi động hơn và đầy gian nan thử thách

Nói là thời kỳ trưởng thành bắt đầu từ khi nhập ngũ nhưng trên thực tế, ông đã trưởng thành từ những ngày còn là một thiếu niên 14, 15 tuổi, bởi thơ ông thời gian đó đã chững chạc lắm rồi Hàng loạt các tác phẩm của ông ra

đời từ những năm 1972 trở đi đến 1975 như Lời một bạn gái mười hai tuổi, Tiếng đàn bầu và đêm trăng, Thư thơ, trường ca Đánh Thần Hạn, trường ca Khúc hát Người anh hùng… đã cho độc giả thấy một Trần Đăng Khoa chín

chắn, đầy suy tư như một người lớn, một chàng thanh niên thực sự Tuy nhiên, chỉ đến khi trở thành người lính, thơ Trần Đăng Khoa mới chính thức chuyển sang một giai đoạn khác: giai đoạn trưởng thành

Qua tuổi thiếu niên, cánh thơ Trần Đăng Khoa đã “từ góc sân nhà em” bay đến khắp mọi nơi như biên cương, hải đảo, nước Nga Trần Đăng Khoa viết không nhiều và chủ đề chính là về người lính Có lẽ, số lượng tác phẩm ít

đi và chủ đề hẹp hơn cũng bởi một phần do không khí sáng tạo không còn sục sôi như trước nữa Đất nước đã sạch bóng quân thù, kẻ thù lớn nhất đã không còn là kẻ thù nguy hiểm nữa Sau những tháng ngày sục sôi căng thẳng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, tất cả tạm lắng xuống như để nghỉ ngơi, để chuẩn bị cho công cuộc xây dựng đất nước Bên cạnh đó, môi trường của cuộc sống mới, những suy nghĩ mới khi thành người lính không còn cho phép Trần Đăng Khoa được giữ mãi cái tuổi hồn nhiên nữa Phải chăng đấy là những nguyên nhân khiến tác phẩm của anh ít đi và đi vào chiều sâu nhiều hơn?

Những tác phẩm thơ của Trần Đăng Khoa thời kỳ trưởng thành chủ yếu

được tập hợp trong tập Đi ngang qua bão và sau này là Bên cửa số máy bay

Ông đã đi nhiều nơi, ở đâu ông cũng có những bài thơ để kỷ niệm Dù ở đâu

và lúc nào, thơ ông cũng mang đậm chất đam mê, cũng thấy sự vượt lên của ý chí cách mạng và sự chiêm nghiệm về cuộc sống chiến đấu của chính bản

Trang 16

thân và của dân tộc Năm 1978, khi ở mặt trận biên giới Tây Nam, nghe tin bé

Giang vừa thi đỗ vào trường Đại học sư phạm, ông đã viết bài Gửi em gái:

Hôm nay em đến giảng đường Anh hằng khao khát

Thế hệ anh, mấy lớp người đi cứu nước

Có bao anh chưa được tới lớp Mười

Có bao anh nằm lại dọc đường rồi Bên con suối không tên, dưới ngọn đồi không tuổi

Có thể sau này em dẫn học trò tới Chỉ thấy im lìm rừng xanh với núi xanh…

Một trong những nơi mà nhà thơ hái lượm được nhiều thi tứ nhất là Trường Sa thân yêu Qua chùm thơ viết về Trường Sa của ông, người đọc bắt gặp sức sống Trường Sa vừa bền bỉ dẻo dai nhưng cũng đầy gian khổ khắc

nghiệt Lính đảo hát trường ca trên đảo, Cây bão táp đảo Nam Yết, Đợi mưa trên đảo Sinh Tồn, Ghi ở đảo chìm Trần Đăng Khoa viết nhiều về sóng gió

Trường Sa nhưng không làm người lính bị chìm lấp giữa thiên nhiên, trái lại sóng gió được dựng dậy làm nền để nhà thơ khắc hoạ chân dung lồng lộng của chiến sĩ Trường Sa:

Ôi, ước gì được thấy mưa rơi Chúng tôi sẽ trụi trần nhẩy choi choi trên cát Như con cá rô rạch nước đón mưa rào

Úp miệng vào tay, chúng tôi sẽ cùng gào ( Đợi mưa trên đảo Sinh Tồn)

Rồi người ta lại thấy một Trần Đăng Khoa trầm tư, rắn rỏi và đầy lãng mạn:

Đất nước gian lao chưa bao giờ bình yên Bão táp chưa ngưng trong những vành tang trắng Anh đứng gác Trời khuya Đảo vắng

Biển một bên và em một bên…

Trang 17

Đọc những tác phẩm của Trần Đăng Khoa, có ý kiến đã nhận xét: “Ông

đã viết như ông nghĩ và ông đã sống như anh đã viết Sự nhất quán giữa trang thơ và cuộc đời, giữa nghệ thuật và lý tưởng, là một vẻ đẹp của anh cũng là một vẻ đẹp của thế hệ thanh niên thời đại Hồ Chí Minh” [17]

Có thể nói, ở thời kỳ trưởng thành, Trần Đăng Khoa viết không nhiều, mật độ không dày như ở thời niên thiếu Một vài tác phẩm để lại những cảm

xúc đẹp trong lòng độc giả khi ông viết về người lính Đọc Ngày mai ra trận

người đọc nín thở cùng cảm nhận sự căng thẳng, hồi hộp của tâm trạng người lính khi đợi ngày mai phải trực tiếp đối mặt với kẻ thù Dù vậy vượt lên trên tất thảy là sự lạc quan của người lính:

Nếu ngày mai chúng mình đều còn cả

Ta sẽ ôm nhau hát vang rừng Cho mẹ chúng mình ở nhà đừng sốt ruột Cho sông núi biết chúng mình là những thằng hai mươi (Ngày mai ra trận)

Bài thơ Về làng được ông ghi lại những mất mát, hi sinh của người lính

trong chiến tranh, những nỗi buồn mà chiến tranh mang lại Dù vậy, họ vẫn ý thức được họ là người may mắn, hạnh phúc khi được trở về “Với Độc lập Tự

do cho tất thảy mọi người” và “xứng đáng để thế hệ sau kiêu hãnh”… Rồi

những bài thơ Về làng, Lính thời bình… đều đem lại những cảm xúc mới cho

người đọc về cuộc sống của những người lính thời hậu chiến

Bên cạnh đó còn có những bài thơ mà Trần Đăng Khoa viết về cuộc

sống là những cảm xúc giản dị trong cuộc sống hàng ngày như Cát Bà, Không đề, Gửi em ở Ninh Bình, Hoa xương rồng… hay một chút hoài cổ trong Hoa Lư, Đỉnh núi, Chiều Riazan, Qua Bôrôđinô

Khi ở tuổi tứ tuần Trần Đăng Khoa có vẻ hợp hơn với thể loại phê

bình bình luận văn học Năm 1998, tập bình luận văn chương Chân dung

và đối thoại, Hầu chuyện thượng đế đã gây được sự chú ý của đông đảo

bạn đọc, tạo ra một làn sóng dư luận sôi nổi với những khen chê khác nhau

Trang 18

Dù vậy, ở đây người ta vẫn thấy một Trần Đăng Khoa như đã biết “trung thực và đi đến tận cùng trong cảm nhận nghệ thuật”

Trong nghiệp văn thơ, buổi đầu đời Trần Đăng Khoa chịu ba sự ảnh hưởng lớn đó là nguồn văn học dân gian từ mẹ, những kiến thức về văn học hiện đại trong tủ sách của anh trai là Trần Nhuận Minh và một người thầy lớn hết sức nghiêm khắc là nhà thơ Xuân Diệu Xuân Diệu đã nhiều lần về nhà Trần Đăng Khoa ở Xã Quốc Tuấn, Huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương Ông chăm lo tài năng của Trần Đăng Khoa, uốn nắn cái mầm non tài năng ấy và giới thiệu thơ Trần Đăng Khoa cho bạn đọc cả nước

May mắn của Trần Đăng Khoa là được sinh ra ở một đất nước yêu văn chương và trong một thời đại hoàng kim của thi ca Cuối những năm sáu mươi, đầu những năm bảy mươi của thế kỷ trước với tư cách nhà thơ Trần Đăng Khoa giữ một vị trí dường như rất đặc biệt, rất riêng Mỗi một câu thơ, bài thơ hay của Trần Đăng Khoa ra đời liền được đón nhận với tấm lòng trân trọng của đông đảo bạn đọc Sống trong hào quang rực rỡ ấy, thơ Trần Đăng Khoa đã được kích thích sáng tạo rất nhiều Khi đã vượt qua tuổi lên mười, Trần Đăng Khoa không thể viết theo lối cũ được nữa Những biến đổi trong tâm lý và những yêu cầu mới đối với một tài năng đã làm ông phải trăn trở Trần Đăng Khoa bắt đầu viết trường ca, và làm những bài thơ bớt hồn nhiên, dần mang đậm yếu tố suy tư với những cung bậc sâu lắng dần Ông dần thoát khỏi cái hoàn thiện trẻ thơ và bắt đầu hình thành một giọng điệu mới Nếu không phải là một tài năng lớn, Trần Đăng Khoa sẽ không thể vượt qua bước ngoặt hiểm nghèo này Cuối cùng thì Trần Đăng Khoa cũng thành công khi ông lột xác thành cái giọng điệu tâm tình qua những bài thơ thuở bước chân vào lính và dấn thân trên những chiến trường ác liệt ở biên giới Tây Nam, hay sống cùng với lính đảo tận Trường Sa sóng gió Thơ Trần Đăng Khoa dần lấy lại sự hồn nhiên và độc đáo trong hình tượng, trong giọng điệu ở tuổi hai

mươi Tập thơ Bên cửa sổ máy bay là một đỉnh cao mới trong sáng tác của

ông

Trang 19

Trần Đăng Khoa là người đã tạo cho mình một phong cách thơ không lầm lẫn với bất kì nhà thơ nào, ông sáng tác còn rất sớm: khi mới lên tám tuổi! So với các trẻ con khác, nếu sáng tác trong độ tuổi này thì sẽ không tránh khỏi sự vụng về, non nớt trong suy nghĩ… nhưng đối với Trần Đăng Khoa, ông đã đạt được sự chín chắn trong tư duy, độc đáo trong việc thể hiện suy nghĩ, sử dụng các biện pháp tu từ điêu luyện và có sự trau chuốt trong cách chọn lọc từ ngữ

Đến với thơ Trần Đăng Khoa, người đọc có cảm giác như được trở về với tuổi thơ Hình ảnh thơ mộc mạc, ngôn ngữ giản dị, dễ hiểu nên đã để lại

ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc Hầu hết các bài thơ đều là những bức tranh tái hiện lại cuộc sống ở làng quê Từ những âm thanh trong cuộc sống

đến “những năm bom đạn” trong chiến tranh, được thể hiện trong thơ một

cách đầy đủ và rõ nét

Người xưa quan niệm, thơ không nhất thiết cầu kì, thơ cần nhất sự dung dị, Lưu Đại Khôi đã nói: “Văn chương quý ở chỗ giản dị Phàm viết văn và cả làm thơ nữa, những cây bút già dặn thì giản dị, vị thanh đạm thì giản dị, khí đầy đủ thì giản dị, thần cao xa mà hàm chứa khôn cùng thì giản

dị Vì vậy, giản dị là cảnh giới tận cùng của văn chương vậy” Bởi vì giản

dị thì không cầu kì, câu chữ lại có tính triết lí, ý tứ sâu xa lại hàm chứa tư tưởng khôn cùng Thơ của Trần Đăng Khoa hấp dẫn như loại rượu vang nho nhẹ không gây sốc, không nồng nhưng uống rồi sẽ ngấm, sẽ say lâu và khó bỏ

Thơ của Trần Đăng Khoa được đưa vào chương trình Tiếng Việt trong Sách giáo khoa do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành để giảng dạy cho học sinh Phổ thông trung học từ rất sớm Chúng được đánh giá rất cao và chiếm vị trí quan trọng trong mảng văn học thiếu nhi

Nhìn chung, nhóm chất liệu được sử dụng với tầng số cao nhất là: hiện

tượng tự nhiên, trạng thái, tâm lí, hoạt động Không chỉ riêng ở trong thơ Trần

Trang 20

Đăng Khoa mà hầu hết các nhà thơ khác cũng vậy, những hình ảnh quen

thuộc thường xuyên được dùng làm chất liệu so sánh

Thơ Trần Đăng Khoa có điểm chung là lấy hình ảnh để so sánh nhằm bộc lộ cảm xúc trước thiên nhiên, vũ trụ bao la Tuy nhiên nó cũng có những hình ảnh độc đáo riêng xuất phát từ cách nhìn, cách nghĩ, cách nói và cách

diễn đạt của riêng thần đồng thơ

Hầu hết những hình ảnh trong thơ là những hình ảnh quen thuộc, gần gũi với nông thôn Bởi đấy là nơi nhà thơ lớn lên, nơi ươm mầm cho cảm xúc xuất hiện Hình ảnh so sánh trong thơ Trần Đăng Khoa là kết quả của sự vận động, những rung động trước cảnh vật, thiên nhiên Nhờ so sánh tu từ mà nhà thơ đã thể hiện được sự quan sát, liên tưởng thật dễ thương, giản dị mà rất đỗi độc đáo, mở ra cho người đọc những nhận thức mới

Nhiều người cho rằng Trần Đăng Khoa là người nhất “hai trong một” Thứ nhất, so với những nhà thơ, nhà văn cùng và sau thế hệ, Trần Đăng Khoa

là người có thơ đăng báo sớm nhất (8 tuổi) với tư cách là sự khởi đầu cho một tài năng thơ thực thụ Hai là, Trần Đăng Khoa là nhà văn đương đại có tác phẩm văn chương được tái bản nhiều nhất (trên 30 lần) Chính vì lẽ đó mà ông đã nhận được Giải thưởng Nhà nước về Văn học- Nghệ thuật, năm 2000

1.1.2 Trần Đăng Khoa với sáng tác văn xuôi

Không chỉ thơ mà Trần Đăng Khoa còn có tài trong viết văn Chỉ khoảng trên dưới hai năm nhà thơ Trần Đăng Khoa gắn bó trực tiếp với quần đảo Trường Sa trong tư cách là một chiến sĩ Hải quân nhưng Trần Đăng Khoa cho ra đời hàng loạt những bài thơ, bút ký, tiểu thuyết, đánh dấu sự trưởng thành của một tài năng thực thụ

Trần Đăng Khoa đã cho ra đời khoảng trên 35 bài thơ, trong đó có hơn

chục bài được phổ nhạc như: Chim sơn ca trên đảo Sơn Ca, Đợi mưa trên đảo Sinh Tồn, Lính đảo hát tình ca trên đảo, Hát về một hòn đảo,… đặc biệt bài Thơ tình người lính biển với lời thơ chân thành, đằm thắm mà sâu lắng, thể

hiện sinh động khát vọng tình yêu của tuổi trẻ Việt Nam trong tư cách người

Trang 21

lính canh giữ biển trời biên cương cho Tổ quốc Bài thơ đã được bốn nhạc sĩ cùng phổ nhạc, nhưng bản phổ của người nhạc sĩ tài hoa Hoàng Hiệp thực sự

đã nâng bài thơ lên một tầm cao mới nhờ vào sự hỗ trợ đắc lực của âm nhạc,

vì thế nó được nhiều người biết đến hơn cả

Bài thơ cũng như ca khúc là bản tình ca bất diệt về tình yêu đôi lứa và tình yêu giữa đất liền với biển đảo quê hương Chính sự lồng ghép giữa tình yêu lứa đôi và tình yêu đất nước, bài thơ và ca khúc thực sự có sức lan tỏa rộng lớn và đã nhận được sự đồng cảm, sẻ chia của bao thế hệ thanh niên trên khắp mọi miền của Tổ quốc Đây là một trong những bài thơ - ca khúc đi cùng năm tháng

Cùng với nhiều bút ký, phóng sự khác mà Trần Đăng Khoa đã viết về

Trường Sa, Đảo chìm có thể được coi như một liên khúc các bút ký hay một

tiểu thuyết mini (theo cách gọi của tác giả), cũng được Chính ở sự không phân định một cách rạch ròi về hình thức thể loại, đã tạo nên sự hấp dẫn lạ thường cũng như sức sống bền lâu cho tác phẩm Đã có trên 50 bài viết của các nhà văn, nhà thơ, nhà lý luận phê bình về cuốn sách, trong đó có tác giả viết tới ba bài như các nhà văn Xuân Đức, Phan Văn Tòng,… Ấy là chưa đến hàng chục những lời góp ý chân thành của chính những người đồng đội đã từng có những năm tháng sồng cùng Trần Đăng Khoa ở Trường Sa cách đây hơn 30 năm về trước và cả những người hiện nay đang công tác tại quần đảo

này Có thể vì sức lan tỏa của Đảo chìm là quá lớn nên tính đến thời điểm này

tác phẩm đã được tái bản tới trên 30 lần, tính trung bình mỗi năm tái bản gần một lần Đây thực sự là một kỷ lục hiếm hoi đối với văn học Việt Nam đương đại, nhất là trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin kỹ thuật số, sự ra đời đến chóng mặt các trang báo điện tử, các trạng mạng và blog cá nhân, khiến cho ngày càng thưa vắng hơn những tác phẩm văn chương in trên giấy được tái bản nhiều lần

Các cụ ta xưa bảo rằng: chuyện kể không bằng lối kể Trước và sau Trần Đăng Khoa đã có hàng trăm bút ký, phóng sự, truyện ngắn và tiểu thuyết

Trang 22

viết về Trường Sa Nhưng với Đảo chìm, Trần Đăng Khoa đã tìm ra cho mình

một lối kể chuyện riêng, không trộn lẫn vào bất cứ ai Không biết có phải đấy

là nguyên nhân chính yếu dẫn đến sự thành công của Trần Đăng Khoa và Đảo chìm Đặc biệt về ngôn ngữ và giọng điệu của người kể chuyện trong Đảo chìm vừa như thật, lại vừa như đùa, đầy cảm hứng chủ quan của tác giả, rất

gần với sự hồn nhiên, vui đùa của những người lính trẻ ngoài đảo xa, khiến người đọc liên tưởng đến bút pháp của thể bút ký nhiều hơn là tiểu thuyết: Nhưng ở đây, dưới vòm trời âm u, không tiếng gà, không bóng trẻ, người ta dần quên đi những cái dáng ong óng đầy huyền bí của các cô gái Người ta cũng quên luôn cả vẻ trai tráng của chính mình Bộ râu của Tư cũng bị bỏ quên, nên tha hồ bành trướng Chúng tranh nhau mọc Sợi xỉa ra Sợi quặp vào, nom xùm xoè nghiêng ngửa như chùm rễ dại trắng phếu cặn muối vểnh

ra ngoài lợi nước Tư như trẻ, lại như già Một bộ mặt “hoang vu rất khó xác định niên đại”

So với nhiều nhà văn khác, Trần Đăng Khoa viết không nhiều, nhưng

đã viết thì tác phẩm nào ra tác phẩm nấy, chọn lọc kỹ càng, trau chuốt từng câu chữ, ý tứ sao cho vừa đủ lượng thông tin cần thiết đem đến cho độc giả sự

thỏa mãn thẩm mỹ trong thưởng thức, nhất trong tiểu thuyết mini Đảo chìm

Có những chương chỉ khoảng vài ba trang sách in như: “Hòn đảo kỳ lạ”, “Ở

xứ sở tự do”, “Cuộc biểu diễn không sân khấu”,… nhưng tuyệt nhiên không

có chương nào dài đến 10 trang in Mỗi chương là một bài bút ký hay một câu chuyện ngắn gọn, súc tích Nhưng nó được đặt trong một cấu trúc hết sức chặt chẽ, nếu bớt đi bất cứ chương nào, người đọc cũng thấy tiếc vì không được thưởng thức trọn vẹn những câu chuyện mà ông kể.Cuốn tiểu thuyết tuy không dày, chỉ vỏn vẹn khoảng chưa đầy 100 trang in, nhưng cũng đủ để người đọc cảm nhận khá đầy đủ về cuộc sống của những người lính biển đảo cách đây hơn 30 năm về trước Khó khăn, gian khổ là thế, nhưng cán bộ và chiến sĩ Trường Sa vẫn không hề nao núng, kiên quyết bám biển đảo ngày đêm bảo vệ từng tấc đất biên cương thiêng liêng của Tổ quốc

Trang 23

Đầu thập niên chín mươi của thế kỷ trước, sau những năm lăn lộn trong quân ngũ, trải qua những chiến trường nóng bỏng, những địa danh khắc nghiệt, và kết thúc những năm học tập ở Viện viết văn Gorki tại Liên Bang Nga, Trần Đăng Khoa đã trở thành một người từng trải và uyên bác Thơ Trần Đăng Khoa lúc này mang nhiều suy ngẫm về kiếp người, về vinh quang và đau đớn, về sự mất còn trên thế gian đầy đổi thay, tráo trở Không còn hồn nhiên như xưa, nhưng Trần Đăng Khoa vẫn luôn giữ được giọng chân tình, giản dị, những ý tứ sâu xa và sự xuất thần Làm sao có thể nói thơ Trần Đăng Khoa lúc này không hay? Chỉ có điều ông làm thơ ít hơn trước nhiều và càng ngày càng ít dần đi

Trong cuộc sống nhiều thay đổi, đổ vỡ cả từng mảng giá trị và lý tưởng, cả những hệ thống chính trị đã tồn tại trong hàng chục quốc gia đã khiến con người phải nhận thức lại nhiều điều Ở trong nước, công cuộc đổi mới kích thích nhiều xu hướng mới trong sáng tạo văn học nói chung, thơ ca nói riêng Người ta nói nhiều đến cách tân, đến việc tìm kiếm những lối viết mới phá vỡ khuôn mẫu truyền thống, du nhập cách cấu tứ và và cảm nhận của thơ phương tây Thơ Việt vì thế phong phú về giọng điệu và sắc màu Nhưng rồi, như một định mệnh không thể tránh, thơ dần xa công chúng và mất dần độc giả Trần Đăng Khoa đành thoát ra khỏi thơ Ông bảo thơ bây giờ chỉ còn

là một phần trong sáng tác của ông Trần Đăng Khoa viết tiểu thuyết, viết truyện ngắn, viết phê bình, chân dung văn học và nhiều thể loại khác Cuốn sách đề cập đến những vấn đề văn học đương đại, lao động của các nhà văn

và các chân dung văn học được vẽ lên theo một cách riêng của tác giả Đây là một tác phẩm rất mới mẻ, đang vận động và được nhiều bạn đọc, bạn viết

trong cả nước đón nhận nồng nhiệt Cho đến nay, Chân dung và đối thoại đã

tái bản đến lần thứ 14, với số lượng lên tới hàng ngàn cuốn Đây là một con

số rất lớn và là một "hiện tượng lạ" trong xuất bản sách Điều này cho ta thấy,

Chân dung và đối thoại phải là một "vấn đề", một ''điểm nóng" hấp dẫn nào

đấy thì nhu cầu về nó mới cao như vậy

Trang 24

1.1.3 Trần Đăng Khoa với thể tài chân dung, tiểu luận, phê bình, đàm thoại văn học

Năm 1998, Trần Đăng Khoa cho công bố cuốn Chân dung và đối thoại Cuốn Chân dung và đối thoại của Trần Đăng Khoa vừa ra mắt đã ngay

lập tức trở thành một “hiện tượng văn học” vốn đang rất buồn tẻ của đời sống văn học vào cuối những năm 1990 Đó là dấu hiệu mở đầu cho sự “trở dạ” của văn học khi chuẩn bị bước sang những năm 2000 Hay chỉ đơn thuần là vì

“Thần đồng thơ ca” bỗng nhiên nhảy vào khu vực Phê bình văn học vốn luôn được xem là vừa thiếu vừa yếu nên người ta tò mò muốn xem Thần đồng

Năm 2015 Hầu chuyện thượng đế được ra đời đánh dấu một mốc, một bước chuyển từ thơ ca đến văn chương của Trần Đăng Khoa Hầu chuyện

thượng đế là tác phẩm tập hợp từ nhiều bài viết Trần Đăng Khoa từng trả lời các độc giả thiếu nhi trên trang mục Tiếp chuyện các bạn đọc nhỏ tuổi (Tạp chí Văn học & tuổi trẻ) Đó là những câu trả lời về những kiến thức văn học

sử, tác giả tác phẩm văn học trong nước và văn học nước ngoài theo cách nói

dí dỏm, đời thường nhưng ý nhị và sâu sắc nên những câu chuyện Trần Đăng Khoa đưa ra đều thu hút bạn đọc không chỉ với lứa tuổi thiếu nhi

Tên cuốn sách dày trên 400 trang, tuyển 80 bài viết của Trần Đăng Khoa

trả lời thư bạn đọc Tạp chí Văn học & Tuổi trẻ những năm qua, có bài rất

ngắn, chỉ hơn trang sách - trừ phần câu hỏi của bạn đọc thì phần tác giả viết

Trang 25

chưa đầy trang Người hỏi phần lớn là học sinh, giáo viên xoay quanh những bài thơ và giai thoại trong cuộc đời của Trần Đăng Khoa

Trần Đăng Khoa đặt tên cuốn sách Hầu chuyện thượng đế vì đây là tuyển 80 bài viết của ông trả lời thư bạn đọc Tạp chí Văn học & Tuổi trẻ

những năm qua Trong những bài viết “ có bài ông sửa chữa, thêm bớt tí chút cho phù hợp với việc chuyển bài từ Tạp chí sang sách” (Tr 15) cũng rất chi là hóm, rất tếu, đúng điệu Trần Đăng Khoa mà qua đó bạn đọc được thưởng thức một bữa tiệc phong phú, và nhìn thấy được “chân dung tự họa” đầy đủ và sinh động nhất của “lão Khoa”

1.1.3.1 Sự nhạy cảm nắm bắt thần thái của đối tượng

Dù muốn hay không, khắc họa chân dung nhân vật cũng gần với nghệ thuật hội họa và điêu khắc Điều khác nhau chỉ là ở chỗ, họa sĩ vẽ chân dung bằng đường nét và màu sắc, còn nhà văn thì dùng ngôn từ để miêu tả Trong hội họa, dù vẽ chân dung theo kiểu truyền thống hay sáng tạo, họa sĩ cũng cần phải giỏi trong việc nắm bắt thần thái đối tượng, tìm ra nét riêng của từng khuôn mặt, để với chỉ vài nét phác thảo, ta đã có thể nhận ra đó là nhân vật nào Trong văn học cũng vậy, khắc họa chân dung thì đòi hỏi đầu tiên là phải giỏi nắm bắt thần thái của đối tượng Và khả năng này lại là thiên bẩm của Trần Đăng Khoa Ngay từ nhỏ, khi các nhà thơ nhà văn chưa tin vào khả năng thần đồng của Khoa đã đến tặng thơ và muốn Khoa làm thơ phát biểu cảm tưởng Cậu bé thần đồng ngày ấy dù chỉ mới nơi “góc sân” nhà mình đã không ngần ngại hướng đến đồng vọng với những “khoảng trời” Sau khi được đọc thơ Huy Cận, một hồn thơ ôm nhiều nỗi “nhớ không gian”, Trần Đăng Khoa đã có bài thơ Nửa đêm thức giấc đề tặng chú Huy Cận; cả bài thơ được làm nên bằng một thế giới hình ảnh chất chứa cảm thức không gian Với Xuân Diệu, người nặng cảm thức thời gian, ông lại viết tặng bài Ở nhà chú Xuân Diệu với sự cảm nhận về từng bước đi mong manh của thời gian Với

Tố Hữu - phong cách thơ đậm tính dân tộc, Trần Đăng Khoa viết bài Kính

Trang 26

tặng chú Tố Hữu bằng thể thơ lục bát, giọng thơ mượt mà, cùng những từ ngữ, hình ảnh lấy ngay từ thơ Tố Hữu…

Sau này, khả năng nắm bắt thần thái đối tượng được phát huy đến cao

độ trong Chân dung và đối thoại Chỉ cần vài nét phác, Trần Đăng Khoa đã

dựng được chân dung các nhà văn, nhà văn hóa và cả những con người bình

dị xung quanh ông một cách độc đáo, ấn tượng nhất Nét ấn tượng đầu tiên vẫn là chân dung Xuân Diệu, cũng với cảm thức thời gian: “Những năm cuối đời, Xuân Diệu hay nghĩ đến thời gian Ông chợt hỏi tôi: Này, năm nay, Khoa bao nhiêu rồi nhỉ?” Ngày sinh tháng đẻ của Khoa, ông còn lạ gì, nhưng đó là

sự thảng thốt của một người muốn níu kéo thời gian Sau đó ông lại nói với Khoa: “Cậu còn trẻ quá Còn mênh mông thời gian ở trên đầu Muốn làm gì

mà chẳng được Khoa còn đến nửa thế kỉ nữa để sáng tạo, để vượt lên Quỹ thời gian của mình còn ít quá…” Phải là người rất hiểu Xuân Diệu mới nắm bắt được những thần thái cảm xúc rất Xuân Diệu này

Với Lê Lựu, một người rất thân thiết, Trần Đăng Khoa cũng có những đoạn tả chân dung bằng thần thái đối tượng Không thích cách Lê Lựu tả nhân vật Tuyết trong Thời xa vắng, Trần Đăng Khoa đem điều này hỏi Lê Lựu, thì:

“Lê Lựu cười hấc hấc, rồi thì đột nhiên anh bỗng im lặng Gương mặt thoáng buồn rượi Trong khoé mắt đã hằn nếp nhăn của anh, ầng ậng một cái gì như

là nước mắt” Phải hiểu thật sâu con người và cuộc đời Lê Lựu, Trần Đăng

Khoa mới vẽ được nét mặt này của ông Thời xa vắng như một cuốn tự truyện

của chính cuộc đời Lê Lựu

Ở chân dung ông nhà văn nông dân Phù Thăng, thần thái của nhân vật hiện lên đầy ấn tượng với hình ảnh hạt thóc - con gà, mang cái tâm và sự cảm thông sâu sắc: “Ông mặc tấm áo may-ô vàng ố, cái quần kaki đã bạc, ống thấp, ống cao Phù Thăng như từ thửa ruộng cày bước thẳng vào phòng khách Ông ngồi lọt thỏm trong ghế sa-lông Một ông già nhỏ thó, đen đúa Hàm răng

đã rụng hết Trông ông teo tóp như một hạt thóc lép Chỉ có đôi mắt là long lanh sáng… Bất giác, tôi nắm chặt bàn tay gầy guộc của Phù Thăng, lòng mơ

Trang 27

hồ rờn rợn Chỉ sợ ở một xó xỉnh nào đó, sau lùm cây tối sẫm kia, lại bất ngờ cất lên một tiếng gà gáy ” Nguyễn Đăng Mạnh nhận xét: “Hễ viết cái gì đụng đến nông thôn và nông dân dù là nông dân Việt Nam, Nga hay Mĩ cũng lập tức sinh động hẳn lên, ngôn ngữ sắc sảo, nổi góc nổi cạnh hẳn lên, một thứ ngôn ngữ cũng lấm láp, lam lũ như những nhân vật ưa thích của Trần Đăng Khoa”

1.2 Chân dung và đối thoại và Hầu chuyện thượng đế - sự hiện diện

của Trần Đăng Khoa trong lĩnh vực phê bình, tạp luận, đàm luận văn học

Nói đến Trần Đăng Khoa là ta nói đến một "Thần đồng thơ" lúc 7 - 8

tuổi Với Trần Đăng Khoa, thơ là sự "giản dị, xúc động và ám ảnh" Vì thế,

nền văn học Việt Nam chúng ta đã có những vần thơ trong trẻo mà đầy lý thú

của Góc sân và khoảng trời (1968) với lần in thứ 32 Bây giờ, Trần Đăng

Khoa đã có tuổi ông đã đi nhiều nước và thơ ông cũng được dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau Nhưng ngoảnh lại hơn 30 năm qua, thơ Trần Đăng Khoa vẫn sống và có chỗ đứng rất xứng đáng trong làng thơ nước nhà Tuy nhiên, Trần Đăng Khoa không chỉ làm thơ mà gần đây ông còn viết văn nữa Ở lĩnh vực

này, Trần Đăng Khoa đã góp thêm tiếng nói của mình qua tác phẩm Chân dung và đối thoại, Người thường gặp, Hầu chuyện thượng đế và một số bài

viết khác nữa Dù làm thơ hay viết văn, viết báo, bình luận văn chương… thì chúng ta cũng bắt gặp một nhà thơ, nhà văn Trần Đăng Khoa có tâm lực, có lòng yêu nghề và năng khiếu văn chương vốn " bẩm sinh" từ thuở bé

Chân dung và đối thoại gồm có hai mảng chính: mảng viết về chân

dung và mảng đối thoại về các vấn đề văn chương "Nhưng không phải bao

giờ nó cũng rành mạnh như thế" (Trần Đăng Khoa) Trong mảng viết về chân dung cũng có xen lẫn đối thoại và ngược lại, khi đối thoại Trần Đăng Khoa cũng xen vào đó vẽ chân dung Do đó, ranh giới giữa chân dung và đối thoại không rạch ròi, rõ ràng Điều cốt yếu mà tác giả Trần Đăng Khoa muốn gửi gắm qua tác phẩm của mình là thông qua đối thoại để xác định lại các giá trị

Trang 28

văn chương theo cách nghĩ của mình Vì thế mà tác giả đã viết rất rõ ràng đây

là một tác phẩm bình luận văn chương

Chân dung và đối thoại là một cuốn sách "bình luận văn chương" Viết

chân dung chỉ là cái cớ để tác giả thể hiện quan niệm của mình, để tác giả phát biểu ý kiến của mình về các vấn đề văn học trong quá khứ và hiện tại Đây là nội dung chính mà Trần Đăng Khoa muốn truyền đạt tới người đọc Hầu hết những ý kiến mà tác giả đưa ra chủ yếu là dưới dạng bình luận, nhưng cũng có khi là phê bình, đánh giá và đính chính lại các giá trị văn chương Khi bàn về các tác phẩm văn học đã được định vị - nghĩa là những tác phẩm trong quá khứ , đã được công nhận về giá trị và có vị trí trong lịch

sử văn học - thì chủ yếu là Trần Đăng Khoa đánh giá lại giá trị của các tác phẩm ấy Đọc những trang viết về các tác phẩm này chúng ta thấy rằng, đây chủ yếu là những chủ quan của tác giả đưa ra, đó là những chính kiến của một mình Trần Đăng Khoa Điều này, cho ta thấy cần phải xét đến vấn đề người phê bình văn chương Nếu văn học nghệ thuật là phát ngôn vì nhân sinh dưới hình thức ngôn ngữ nghệ thuật, thì phê bình văn học là nghệ thuật khám phá ý nghĩa nhân sinh trong sáng tác, Mãi mãi, người sáng tác, người đọc và người phê bình tiếp sức nhau trong cuộc sống chạy đua vô tận để tìm bắt ý nghĩa cuộc đời và ý nghĩa nghệ thuật

Văn học tồn tại trong tiếp nhận, cũng tức là trong phê bình - bởi phê bình là hình thức tiếp nhận tích cực nhất, tự giác nhất Bởi thế không có giới hạn, điểm dừng cho mọi giá trị nghệ thuật, sự khám phá nghệ thuật là vô biên

Do đó, dù muốn hay không muốn thì tác phẩm văn học vẫn được cảm nhận qua những lăng kính phê bình dưới mọi hình thức như: Dư luận xã hội, giáo dục ở nhà trường, ở các nhà phê bình, nghiên cứu văn chương…

Đã có một thời gian dài, phê bình văn học hiện diện trong mô hình lấy nhà văn làm trung tâm Nhà phê bình xem mục đích của mình là tìm kiếm ý

đồ sáng tạo của nhà văn, xác định mức độ thành công của việc biểu hiện ý đồ

ấy Họ tự xem mình có nghĩa vụ thuật lại với mọi người ý kiến của nhà văn về

Trang 29

sáng tác của họ Muốn thực hiện nghĩa vụ ấy nhà phê bình phải thân quen với nhà văn, hoặc là tìm hồ sơ, gặp thân nhân nhà văn đó Kiểu phê bình lấy nhà văn làm trung tâm này tuy có nhiều xu thế nhưng tỏ ra hạn chế rất nhiều, nhất

là ở mặt tìm hiểu trực tiếp tác phẩm nghệ thuật Bởi kiểu phê bình này coi nhẹ sản phẩm nghệ thuật làm ra, mà chỉ coi nhà văn là trung tâm Do đó, biến nhà phê bình thành ra tiểu đồng của nhà văn, nhà thơ và tự đánh mất chủ thể của mình trước tác phẩm

Sang thế kỷ XX, trong phê bình văn học dần dần có xu hướng đi ngược lại phương hướng phê bình trên Nghĩa là đi theo lối phê bình lấy bản thể tác phẩm làm trung tâm Việc chú ý vào văn bản tác phẩm ra chân trời cho tính tích cực sáng tạo người đọc trong cảm nhận tác phẩm Ở lối phê bình hiện đại này, người phê bình đứng bình đẳng ngang với nhà văn trước tác phẩm của họ

Đó chính là phê bình đối thoại Do đó mà người phê bình có thể tự do phát biểu

ý kiến chủ quan của mình một cách thoải mái, không bị gò ép, phụ thuộc Vì vậy, mà mỗi tác phẩm văn chương có nhiều cách hiểu và cách đánh giá khác nhau Điều này tạo nên sự phong phú cho người đọc khi nhìn nhận một giá trị văn chương Bởi "theo Bakhtin, sự hiểu biết một phát ngôn bao giờ cũng mang tính cách đối thoại, tính cách phản ứng trả lời với mức độ khác nhau"

Kiểu phê bình đối thoại này yêu cầu người phê bình phải đọc tác phẩm như một chỉnh thể toàn vẹn, để diện mạo của ý thức khác mới hiện ra Điều này, yêu cầu phải có một dung lượng thời gian lớn, và vốn kiến thức văn chương phong phú thì mới đánh giá được các giá trị tác phẩm Tác phẩm văn học được viết ra để cho người ta tham gia đồng sáng tạo, mà đã có sự đồng sáng tạo của người đọc thì không tác phẩm văn học nào có thể tự đồng nhất với chính nó Do vậy mà càng bàn về một tác phẩm văn học mà có những ý kiến hầu như trái ngược nhau thì âu cũng là điều dễ hiểu có khi ý kiến đó cón trái ngược với ý đồ sáng tạo của tác phẩm Tuy nhiên, cần phải nhìn nhận tác phẩm trên một cơ sở nghiên cứu lý luận đúng đắn thì vấn đề đánh giá đưa ra

Trang 30

mới được công chúng ủng hộ và chấp nhận Điều này đặt ra vai trò quan trọng của người phê bình là rất cần thiết

Người phê bình văn học trước hết là người phải có kiến thức sâu rộng thì mới cảm nhận được mọi giá trị văn học Tức là người phê bình phải đứng

ở một nhìn cao hơn để nhìn xuống để đánh giá được tác phẩm đó Người phê bình không chỉ có vai trò đưa ra những định hướng nhìn nhận những giá trị văn chương cho người đọc mà còn là người động viên, cổ vũ, các tác giả qua các tác phẩm của họ

Ngày nay, phê bình văn học trở thành một nghề trong xã hội do vậy giữa sáng tác và phê bình có mối quan hệ mật thiết với nhau và cần thiết cho nhau Trong nền văn học Việt Nam, đặc biệt là từ những năm 30 của thế kỷ XX đã

xuất hiện những tác phẩm phê bình có giá trị như: Thi nhân Việt Nam ( 1942) của Hoài Thanh- Hoài Chân; Nhà văn hiện đại ( 1942) của Vũ Ngọc Phan

Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hạnh viết: "Sáng tác mà không có phê bình thì chẳng khác nào nén hòn sỏi xuống mặt hồ phẳng lặng không một tý gợn sóng"

Như vậy, nhà phê bình là một loại bạn đọc chuyên nghiệp và đặc biệt Tuy nhiên, cũng có nhiều loại nhà phê bình chuyên nghiệp thì ý kiến của họ đưa ra thường khách quan và mang tính lý luận hơn Ý kiến của họ thường được công chúng coi là chuẩn, là điểm tựa để họ nhìn nhận các tác phẩm văn học Còn những nhà sáng tác làm phê bình - nghĩa là không chuyên thì ý kiến của họ thường chủ quan ít mang tính lý luận họ chủ yếu là dựa trên cảm nhận chủ quan của mình mà đánh giá các giá trị nghệ thuật Xét về phương diện này thì ta thấy, tác giả Trần Đăng Khoa thuộc loại nhà phê bình thứ hai- nhà phê bình không chuyên

Trang 31

Chương 2 QUAN NIỆM CỦA TRẦN ĐĂNG KHOA

VỀ CÁC VẤN ĐỀ, CÁC HIỆN TƯỢNG VĂN HỌC

TRONG CHÂN DUNG VÀ ĐỐI THOẠI VÀ HẦU CHUYỆN THƯỢNG ĐẾ

2.1 Quan niệm của Trần Đăng Khoa qua Chân dung và đối thoại 2.1.1 Vấn đề thể loại/thể tài của Chân dung và đối thoại

Chân dung và đối thoại trước hết lầ những chân dung về nhà văn, nhà

thơ, các nhà tư tưởng… tất cả có gần một trăm gương mặt được nhắc đến trong tác phẩm này Bên cạnh đó, Trần Đăng Khoa còn chú trọng về tư tưởng của tác giả mới bộc lộ một cách rõ ràng nhất Tác giả phát biểu: "tôi đặt tên

sách là Chân dung và đối thoại, nhưng không phải bao giờ cũng rành mạch

như thế" và "tôi có ý thức làm đa dạng mình"…

Nhưng vấn đề đặt ra là: Chân dung và đối thoại thuộc thể loại gì để

người viết có tiêu chí mà đánh giá ?

Trước hết điều đầu tiên chúng tôi khẳng định rằng: Chân dung và đối thoại là thuộc thể loại ký Điều đó được thể hiện như sau:

Hầu hết các nhân vật và sự kiện trong tác phẩm đều đã từng hiện diện trong cuộc sống, có thực trong thực tế và từng được mọi người biết đến Tức

là những "người thật ", việc thật "Những "người thật", "việc thật" này chủ

yếu các nhà văn, nhà thơ và các sự kiện văn học Ta có thể chia Chân dung

và đối thoại thành ba mảng: mảng viết về chân dung các nhà văn, nhà thơ;

mảng gồm các tạp bút và mảng viết về các sự kiện khi tác giả ở Mỹ và Nga

Như vậy, ở đây ta thấy Chân dung và đối thoại mang tính sự kiện và được

truyền đạt một cách chân thực, sinh động

Mặt khác, chúng ta còn thấy rằng, những bài viết trong tác phẩm của Trần Đăng Khoa mang đặc điểm của truyện như: mô tả, đối thoại, cốt truyện, nhân vật, giọng điệu, kết cấu, số phận, tính cách nhân vật… Đồng thời qua mỗi trang viết, tác giả còn có bình luận, khen chê, đánh giá lại các giá trị văn

Trang 32

chương theo quan điểm của mình nữa Như vậy, ở đây Trần Đăng Khoa sử dụng cả lối tư duy nghệ thuật, và tư duy nghiên cứu Đây là một đặc trưng của

tư duy viết ký, bởi ký là "Sự hợp nhất truyện và nghiên cứu" (Gorki) Nhưng

cũng cần phải xem xét vấn đề ở mặt giới hạn của nó, "có những bài ký nặng

về miêu tả, tường thuật, hầu như không có nỗ lực nghiên cứu Ngược lại, có những bài ký chính luận từ đầu chí cuối là nghị luận, hầu như không có những

yếu tố truyện" [7] Ở Chân dung và đối thoại có những bài tác giả tập trung

chủ yếu để xây dựng chân dung đối tượng, nhưng có những bài tác giả lại tập trung bàn về "đối thoại" về một vấn đề văn chương nào đó Tuy nhiên, sự đan xen linh hoạt giữa vẽ chân dung và đối thoại trong tác phẩm là rất rõ, nghĩa là trong đối thoại tác giả có xen lẫn vẽ chân dung và ngược lại, trong khi vẽ chân dung cũng có đối thoại Ở thể loại ký không bắt buộc khi xây dựng chân dung phải hoàn chỉnh như cách xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết, mà "cho phép dừng lại ở những mẩu chuyện (không nhất quyết phải dựng thành cốt

truyện hẳn hoi, có hành động thống nhất" [7] Chính vì vậy mà những chân

dung Trần Đăng Khoa dựng lên khi đậm, khi nhạt, khi chấm phá… Điều đó là

do tư duy viết ký cho phép tác giả dùng lối miêu tả như vậy

"Ký là một loại biến thể của loại tự sự" (Gulaép), ngoài việc ghi chép

"người thật", "việc thật" ra thì ký còn nêu lên bức tranh chung về con người,

đồng thời thể hiện tính chủ quan của người viết Ký là một thể loại của văn học, do đó nó không nằm ngoài tính quy luật của nghệ thuật Vì vậy, ký có tính hư cấu và sáng tạo tuy nằm ở mức độ thấp, và với mục đích nhằm tái hiện lại "người thật", "việc thật" Nhân vật trần thuật trong ký không chỉ là cái

"Tôi" ở ngôi thứ nhất, mà còn ở ngôi thứ ba như trong tiểu thuyết Cũng không nên tuyệt đối hoá rằng, nhân vật trần thuật phải là chính tác giả, mà có những trường hợp khác, nhân vật trong ký là một người khác Đặc điểm này cho thấy sự hợp lí khi Trần Đăng Khoa mượn lời nhân vật khác khi nói nên

quan điểm của mình như: "người", "ma", "ông ba mươi…" Thực chất đây là

sự hoá thân của tác giả Một đặc điểm khác của ký là về kết cấu, trong ký tuỳ

Trang 33

thuộc vào từng thể ký mà có hay không có cốt truyện thường theo các bước như : khi đoạn, phát triển, thắt nút, đỉnh điểm, mở nút Những loại ký, không

có cốt truyện thì thường theo lối kết cấu - liên tưởng, ở đó có sự xen lẫn giữa

sự kiện, con người với những đoạn nghị luận, trữ tình với tỉ lệ khá lớn của nhân vật trần thuật

Từ những lý do trên đây, chúng ta có thể kết luận rằng Chân dung và đối thoại thuộc loại ký Trần Đăng Khoa dùng ký để viết về nghề văn và nhà

văn Đó là ''một dạng bình luận không dùng lý luận, hay đúng hơn, lý luận được biến thành văn (…) một quyển văn nói về văn, về những vấn đề văn học đương đại ( ) mà trong đó các nhà văn là nhân vật" [7]

Chân dung và đối thoại được viết theo thể bút ký, ''ghi lại những con

người và sự việc mà nhà văn đã tìm hiểu, nghiên cứu cùng với những cảm nghĩ của mình nhằm thể hiện một tư tưởng nào đó'' [3] Việc dùng bút ký để viết chân dung và chuyển tải các vấn đề văn học, Trần Đăng Khoa có nhiều lợi thế Thứ nhất, là với đặc điểm của nó là ''yếu tố nghị luận, châm biếm, hài hước, được sử dụng nhiều hơn'', tác giả đã tạo cho cuốn sách dễ đọc, dễ hiểu Những tri thức mà Trần Đăng Khoa chuyển tải vào tác phẩm bằng một ngôn ngữ giọng điệu hài hước, gây sự chú ý cuốn hút đối với người đọc Mặt khác, khi dùng thể bút ký, tác giả đã nói rất ''lọt'', rất xuôi những vấn đề văn học đương đại đang ''cộm'' gay gắt, khó mà nói được nếu không có bản lĩnh và lối viết tinh tế

Việc xác định thể loại cho một tác phẩm có ý nghĩa rất thiết thực Trước hết, chúng ta sẽ có một tiêu chí rõ ràng khi đánh giá một tác phẩm đúng với thể loại của nó

Mỗi tác phẩm văn học là một công trình sáng tạo của nhà văn; nhà thơ mang phong cách của từng nghệ sỹ Do đó, nhìn nhận mỗi công trình sángd tạo đó, chúng ta không thể bỏ qua được yếu tố ngôn ngữ tác phẩm

2.1.2 Về chân dung các tác giả văn học

Trang 34

Trong Chân dung và đối thoại, tác giả không chú trọng làm việc xây

dựng chân dung, mà chủ yếu là qua việc dựng lên một vài nét chân dung nhà văn để bàn luận văn chương và cái cớ để ông thể hiện mình Vì vậy, các chân dung hiện lên trong tác phẩm với độ đậm nhạt khác nhau, tuỳ thuộc vào dụng

ý của tác giả Có những chân dung Trần Đăng Khoa đã gia công rất tỉ mỹ công phu; nhưng ngược lại có những chân dung lại là một vài nét chấm phá,

tô đậm ở một khía cạnh nào đó mà thôi Đó là cái chất rất riêng của Trần

Đăng Khoa không lẫn với một ai có lẽ thế mà Chân dung và đối thoại hấp

dẫn, lôi cuốn người đọc

Trước hết, chúng ta cần tìm hiểu những điều kiện và điểm xuất phát nào để Trần Đăng Khoa xây dựng chân dung văn học và xây dựng thành công, sống động, hấp dẫn như thế:

Hầu hết các chân dung văn học là những nhà văn, nhà thơ tiêu biểu, quen thuộc của văn học dân tộc như: Xuân Diệu, Nguyễn Tuân, Ngô Tất Tố,

Tố Hữu, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Khắc Trường và một số chân dung

là những người bạn thân quen của tác giả như: Ivan Nôviski, Bruce, Lê Lựu, Phù Thăng

Đây là một điều kiện thuận lợi và là cơ sở để Trần Đăng Khoa làm vốn

tư liệu cho mình khi xây dựng những chân dung đó

Viết về các nhà văn, các tác phẩm văn học trong điều kiện, thời đại không phải nói "dè dặt", "lựa lời", như thời đại trước nữa, Trần Đăng Khoa có thể nói lên những gì mà mình suy nghĩ một cách chủ quan, dân chủ

Viết Chân dung và đối thoại, Trần Đăng Khoa có thế mạnh, ông là một thành viên của báo Văn nghệ quân đội, lại có sự tinh tế, tài hoa của người làm

thơ Do đó, ông có thế mạnh để viết chân dung thuận lợi, thành công

Hầu hết các bài viết trong Chân dung và đối thoại đã được đăng tải trên

các báo từ trước rồi Do đó, khi Trần Đăng Khoa tập hợp lại thành sách thì nó

đã được sự chiêm nghiệm của công chúng rồi Tuy nhiên, khi tập hợp lại thành sách thì tác phẩm có một sức sống mới hơn

Trang 35

Chúng ta biết rằng, đối tượng miêu tả của chân dung văn học là những nguyên mẫu có thật ngoài đời, đó là những "người thật", "việc thật" được tác giả đưa vào trang sách của mình Việc phản ánh và sáng tạo của nghệ sĩ không phải và càng không thể sao chép một cách máy móc, bê nguyên vào tác phẩm Điều đó đặt ra cho người viết chân dung phải xác định cho mình một vị trí, một điểm xuất phát, một nhãn quan nghệ thuật như thế nào để có thể vẽ nên những bức chân dung sinh động, đạt hiệu quả thẩm mỹ cao

Trần Đăng Khoa có cái nhìn giản dị về nghề văn và người viết văn Đây là một cái nhìn của người trong cuộc về những người viết về các nhà văn, về những người bạn của mình, sự lao động sáng tạo nghệ thuật của

họ một cách chân thực như cuộc sống đời thường vốn có Tác giả đưa ra giữa trang sách để mổ xẻ hết mọi ngọn nguồn Mỗi nghệ sỹ có có một cách lao động sáng tạo nghệ thuật riêng, không ai giống ai, nhưng ở họ có một điểm chung mà Trần Đăng Khoa muốn làm nổi bật, đó là lòng say mê nghệ thuật,

sự thể hiện hết mình cho sự nghiệp văn chương

Theo Trần Đăng Khoa nghề văn cũng như bao loại hình lao động khác

trong xã hội người nghệ sĩ cũng "buôn văn bán chữ" để sinh tồn Nó không

phải là nghề nghiệp gì cao xa, đứng tách ra ngoài đời sống xã hội, nó rất gần đời sống thực, nó thể hiện ở sự làm việc hối hả, nhọc nhằn đên "buốt óc" của Xuân Diệu, sự kỳ cục ngày đi cày đêm viết văn của Phù Thăng, hay cung cách làm việc của Lê Lựu về đêm Nghề văn cũng là một kiểu lao động, trong đó người nghệ sĩ thực thi nhiệm vụ của mình, sáng tạo ra thành quả

"cùng đổ mồ hôi cùng sôi giọt máu" như bao ngành nghề khác Nhà văn là

"phải viết, viết nhiều Nhà văn tồn tại ở tác phẩm Không có tác phẩm thì nhà văn ấy coi như đã chết Thế nên cứ phải viết Viết hàng ngày Nhiều khi phải

có người thúc mới ra được tác phẩm Mình nhận bài yêu cầu người đặt phải thúc mình ấy thế rồi có sách đấy Căn cứ chờ cảm xúc đến mới viết, thì muôn năm cảm xúc cũng chẳng đến cho Nhà văn là người vào bàn làm việc Cứ làm việc rồi sẽ tạo được cảm xúc" [29, 27]

Trang 36

Theo quan niệm của Trần Đăng Khoa, người nghệ sĩ cũng là những người lao động bình thường, nhưng họ có lòng say mê nghệ thuật Nhà văn, nhà thơ phải luôn luôn tìm tòi, sáng tạo và khám phá nghệ thuật Lòng say mê

ấy là một phẩm chất cao đẹp, mà ngay cả người có số phận hẩm hiu như nhà văn Phù Thăng cũng vẫn không gì dập tắt nỗi, "ngày cày ruộng quần quật, đêm lại chong ngọn đèn dầu, cặm cụi "cày" trên cánh đồng trang giấy trắng rơn, trắng đến sởn cả da gà" Bởi vì theo Trần Đăng Khoa, thì "cái nghiệp văn chương nó thế - không phải ông chọn văn chương mà chính văn chương đã chọn ông để đày đoạ, để hành hạ ông trong cõi người này Bây giờ thì nó thành máu thịt của ông, đã thành số phận của ông rồi, bỏ cây bút, ông còn biết tựa vào đâu ?" [29,70]

Theo quan niệm của Trần Đăng Khoa, những nhà văn sống một lớp người, có giai tầng trong xã hội, không có gì phải tô vẽ, nói quá lên cho họ Bởi vậy, chân dung các nhà văn, nhà thơ hiện lên trên trang văn của Trần Đăng Khoa rất đời thường, có những nét riêng cá tính của mỗi người

Cái khác nhau giữa những người cầm bút là ở chỗ mỗi trường hợp đến với nghề nghiệp, đến với cuộc đời không giống nhau Mỗi nhà văn là mỗi hoàn cảnh, mỗi tính nết, mỗi số phận rất riêng của họ Họ có mặt giữa cuộc

đời với tư cách "con người này" (Hêghen), họ có chung nghề nghiệp nhưng

không chung tính cách, số phận Điều này ta thấy rất rõ khi so sánh các chân dung Trần Đăng Khoa đưa ra Chẳng hạn như sự nhếch nhác, "nhôm nhoam",

"luộm thuộm" tất tả nhưng rất "thông minh", "hóm hỉnh" cùng với cách nói chuyện rất có duyên của Lê Lựu với con người của công việc, tất cả vì sự nghiệp và sự vội vã chạy đua với thời gian của Xuân Diệu là rất khác Đọc

Chân dung và đối thoại ta thấy được sự đa dạng của những tính cách của mỗi

đối tượng khi miêu tả

Từ điểm nhìn, cách nhìn về nghề văn và người viết văn của Trần Đăng Khoa như trên, ta thấy được sự ý thức nghiêm chỉnh của tác giả đối với nghề nghiệp của mình Nó có ý nghĩa như là một nguyên tắc nhận thức, lý giải hiện

Trang 37

thực của ông trong mảng viết về chân dung văn học Từ góc nhìn này mà tác giả đã xây dựng nên được những bức chân dung nhà văn hấp đẫn

Điều dễ thấy trước hết, Chân dung và đối thoại xây dựng chân dung

qua việc đi sâu vào chuyện bếp núc sáng tác của nhà văn, nhà thơ Điều này, đôi khi tác giả quá lạm dụng mà trở nên vụn vặt, hay làm cho vấn đề loảng ra Tuy nhiên, đôi khi đây cũng là những bút pháp tư liệu đặc sắc, cung cấp cho người đọc những điều vốn họ chưa biết Chẳng hạn như về Tố Hữu và bài thơ

Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, qua Trần Đăng Khoa, người đọc biết được thời

điểm sáng tác bài thơ, Tố Hữu không đi Điện Biên, không biết gì về địa danh

ấy mà cũng sáng tác thành công về nó Người đọc bình thường thì chỉ biết câu thơ "Mường Thanh, Hồng Cúm, Him Lam" là một câu thơ nêu lên dịa danh ở Điện Biên Phủ Nhưng đối với Trần Đăng Khoa thì ông còn soi xét, tìm hiểu

và biết rằng, Tố Hữu biết những tên địa danh đó là do đi hỏi những người khác và rồi "đưa vào thơ, cứ nhét bừa vào Nó mới thành thơ " [29,17] Đó là những điều rất riêng trong sáng tác của mỗi nhà thơ mà thôi

Để xây dựng chân dung đời thường, đôi khi Trần Đăng Khoa còn đưa vào những chi tiét có thể gọi thành giai thoại được Điều này nó cũng có tính hai mặt của nó, nghĩa là tác dụng của những chi tiết rất đời thường này nó như con dao hai lưỡi Một mặt, tạo sức hấp dẫn, lôi cuốn sinh động với người đọc, nhưng mặt khác, đôi khi còn gây ra sự hiểu nhầm tai hại về những chân dung

đó Khi Trần Đăng Khoa đưa vào chi tiết ngửi giày của Lê Lựu trong hội thảo văn học ở Mỹ, gây sự bất ngờ đối với người đọc, nhiều khi còn bật lên những tiếng cười nữa Tuy nhiên, ngẫm cho kỹ thì điều này đôi khi gây sự hiểu nhầm rất tai hại, con mắt nhìn các nhà văn có khi lại quá gần do đó nó xoá đi sự kính trọng thường có

Theo Lê Lựu kể lại thì chi tiết này là một sự "tam sao thất bản", Trần

Đăng Khoa đã nhầm "tất biến thành giày, lau thành ngửi, chuyện ở Hải Phòng lại đi sang Mỹ" [45, 19]

Trang 38

Đôi khi, tác giả Trần Đăng Khoa còn xây dựng chân dung nhà văn bằng việc đi sâu miêu tả những thói quen, thuộc tính riêng của từng nhà văn khi sáng tạo lao động nghệ thuật Những thói quen đó đôi khi rất thường nhật, nho nhỏ và là chuyện sau "bình phong" mà chỉ có những người trong cuộc mới biết và hiểu được Chẳng hạn như những thói quen sáng tác của Lê Lựu, Nguyễn Quang Sáng, Xuân Diệu Đối với Lê Lựu thì ông thường có thói quen là "hay viết về đêm Trước khi ngồi vào bàn, anh thường đảo qua phố, làm bát phở nóng gọi là "nạp thêm nhiên liệu cho máy móc vận hành" Lê Lựu đặc biệt thích những bát phở mà anh gọi là phở "bốc lửa" Đó là những bát phở cuối cùng trong ngày " [8,81 ] Hay những khi gặp trắc trở trong khi

viết thì "Những lúc ấy anh thường bỏ viết, quay ra tán chuyên với bạn bè,

hoặc tạt qua chợ mua thức ăn, cò kè thêm bớt từng xu như một mụ đàn bà bủn

xỉn, cũng chỉ cốt xem người bán phản ứng ra sao " [8,81]

Điều này cũng khiến chúng ta nghĩ tới nhà văn Nguyễn Quang Sáng Nhưng đối với Nguyễn Quang Sáng thì "khi nhậu mình đâu có viết, mà khi viết mình đâu có nhậu Mình chỉ viết ban ngày Có khi viết ngay trong nhà tắm Khi viết mình đóng cửa, chỉ mặc một cái xà lỏn " [29, 85]

Việc đi vào chuyện "bếp núc" của các nhà văn là một việc làm rất quen

thuộc của các tác giả khi xây dựng chân dung văn học Nó làm cho người đọc xích lại gần nhau hơn đối với các nhà văn, nhà thơ Tuy nhiên, nếu lạm dụng điều đó quá nhiều thì sẽ tạo nên cái nhìn lệch lạc đối với những bức chân dung đó Chúng ta biết rằng giữa con người nhà văn với con người đời thường

nó còn là khoảng cách rất xa nhau, đôi khi còn khác nhau Vì vậy, nếu nhìn không đúng sẽ gây nên sự sai lạc trong cách xây dựng chân dung nhà văn Khi với tư cách là con người nhà văn thì họ đứng trên một bậc cao hơn cuộc đời

để nhìn vào cuộc đời và phản ánh nó Vì vậy, nhà văn sống hết mình trong tác phẩm rồi họ dồn tất cả sức lực và niềm say mê, tư tưởng, lý tưởng của mình vào đứa con tinh thần mà họ "thai ngén" Do đó, nói như Trần Đăng Khoa viết về Lê Lựu: "Viết về cuốn sách này, Lê Lựu đã xổ hết gan ruột của mình

Trang 39

vào trong trang giấy Anh bơ phờ rời bàn viết, bủn rủn và rệu rạo như một

người đàn bà vừa mới đẻ xong trong bụng rỗng tếch chẳng còn gì nữa"

từ những số phận sự lo toan tính toán rất đời thường đôi khi đó còn là nỗi buồn vui, ghanh ghét của mỗi chân dung ông xây dựng Nghĩa là tác giả quan sát họ ở mặt trái của đời sống với một "cự ly gần" và "người" hơn Những nhà văn đó, trước hết họ cũng là những con người đời thường như bao con người khác, họ cũng ăn uống, đi lại, nói cười ồn ào, suồng sã Không hiếm người nhiều lúc bộc lộ những nét tuềnh toàng, nhếc nhác, những ngộ nhận cần dược hiểu và thông cảm Do dó, chúng ta đi tìm cái đẹp là tìm ở cuộc sống đời thường này, bởi ''cái đẹp chính là cuộc sống'' (Secnư sép ki)

Mỗi con người là một số phận riêng, chính vì thế mà không ai giống ai

Tiếp cận những trang viết này, chúng ta như được đi vào khám phá thế giới riêng tư, đời tư của mỗi nhà văn, nhà thơ Trong con mắt của Trần Đăng Khoa, Xuân Diệu hiện lên không chỉ là một nhà thơ hăng say lao động, tiết kiệm thời gian và luôn chạy đua với thời gian, là một người thầy rất tận tuỵ của tác giả Nhưng mặt khác Xuân Diệu còn là một người có cuộc sống đời tư rất đơn sơ, mộc mạc và lạnh lẽo, ông lặng lẽ , ''lụi cụi cho mỡ vào chảo'' và ''lấy cơm nguội để rang lại'' chuẩn bị cho bữa cơm chiều, gợi lên trong lòng người đọc một nỗi xa xăm, vào đó viết về số phận các nhà văn cảm động nhất

là những trang tác giả viết về nhà văn Phù Thăng Người đọc có thể không biết thông cảm với số phận hẩm hiu của ông Phù Thăng vốn là một ''văn tài'', đã từng có những tác phẩm nổi tiếng ''từng là tác giả kịch của nhiều bộ phim tuyệt nổi tiếng: Nguyễn Văn Trỗi, Quê nhà… Có phim từng đạt giải

Trang 40

vàng, giải bạc liên hoan phim quốc tế '' nhưng do một ý tưởng sai khác với thời đại mình mà ông bị hất về vườn, trở về quê nhà làm một anh nông dân ''cứ sáng vắt vẻo cái que tre buộc tòng teng mấy rãnh lá chuối khô, lùa vịt ra đồng [29,67]

Việc đi sâu vào từng đặc điểm riêng của mỗi nhà văn cho ta thấy, Trần Đăng Khoa không xây dựng chân dung theo lối truyền thống tức là không theo lối truyền thần mà nhìn lệch đi, khi thì phóng nét này, khi lược

bỏ nét kia Đôi khi ông lại đi sâu miêu tả cái vẻ bề ngoài của đối tượng như nhìn Lê Lựu ở cái vẻ nhếch nhác, tướng mạo bề ngoài Trong con mắt của Trần Đăng Khoa, Lê Lựu vẫn mãi là ''gã lực điền đất bãi Khoái Châu, Hưng Yên, anh như một hòn gạch xỉ - hay nói đúng hơn là một hòn đá hộc '' Do đó mà ''con người ấy có ''đắp'' com lê - cà vạt, mũ phớt, kính gọng vàng, giày Mô- Ka, nghĩa là tất cả nhưng trang bị, phụ tùng tối tân nhất của cuộc sống đô thị , thì trông anh cũng chẳng ra anh trí thức, cũng chẵng ra

người thành phố" [29,76]

Mỗi chân dung là một ''con người này'', tác giả không vẽ theo một cái ''gu'' nào cả Chính vì thế mà có người gọi bút pháp của Trần Đăng Khoa là bút pháp chấm phá là ở chỗ đó Dường như, Trần Đăng Khoa muốn nhìn con người ở mặt vốn có của nó Do đó, mà mỗi chân dung hiện lên ở đây rất gần gũi với đời thường Tuy nhiên, nếu miêu tả chân dung mà chỉ theo lối chấm phá kiểu ấy thì đôi khi không nhìn đúng toàn diện một con người Do đó, mà đôi khi còn gợi lên một cái nhìn lệch lạc, mơ hồ…

Đọc Chân dung và đối thoại ta bắt gặp một thói quen của Trần Đăng

Khoa, đó là cái chất ''gu'' nông dân của ông ấy Gặp những trang viết về nông dân thì tác giả say sưa miêu tả và rất hay, rất đạt Nhưng đôi khi lạm dụng quá

đà làm loảng vấn đề đang nói tới

Dựng chân dung qua tác phẩm văn học là một phương pháp không còn

mới mẽ nữa Hơn nữa thế kỷ trước Hoài Thanh và Hoài Chân trong cuốn Thi nhân Việt Nam đã làm rồi, và họ làm rất thành công Hai tác giả này, qua việc

Ngày đăng: 21/08/2023, 00:37

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w