Nói đến Công đoàn là nói đến việc tập hợp quần chúng, người lao động, là chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của công nhân, viên chức, lao động CNVCLĐ là nâng cao nhận th
Trang 1HOÀNG HỮU TÂM
VAI TRÒ CÔNG ĐOÀN TRONG VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
TƯ TƯỞNG CHO CÁN BỘ NGÀNH GIÁO DỤC
QUẬN 6, TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
TP.Hồ Chí Minh, 2016
Trang 2HOÀNG HỮU TÂM
VAI TRÒ CÔNG ĐOÀN TRONG VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ TƯ
TƯỞNG CHO CÁN BỘ NGÀNH GIÁO DỤC
QUẬN 6, TP HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60.31.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN THÁI SƠN
TP.Hồ Chí Minh, 2016
Trang 3Trên thực tế không có sự thành công nào mà không có sự hỗ trợ, giúp đỡ
của người khác Trước hết, tôi xin trân trọng cảm ơn đến PGS.TS Nguyễn Thái
Sơn đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ để tôi hoàn thành tốt nhất luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Giáo dục Chính trị, Phòng
Đào tạo Sau đại học, các nhà khoa học và quý Thầy, Cô Trường Đại học Vinh
đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt tri thức quý giá về chuyên ngành Chính trị
học, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi suốt quá trình học tập, nghiên
cứu hoàn thành luận văn này Hệ thống những tài liệu khoa học, cơ sở lý luận
và thực tiễn của quý Thầy, Cô đã giúp cho tôi được trang bị trình độ lý luận,
phương pháp nghiên cứu khoa học về lĩnh vực chính trị, giúp tôi mạnh dạn, tự
tin giải quyết các tình huống phát sinh trong công tác thực tế
Xin trân trọng cảm ơn Phòng Giáo dục và Đào tạo Quận 6, các ban chuyên
đề Công đoàn Giáo dục Quận 6, các Công đoàn sơ sở trực thuộc Công đoàn
Giáo dục Quận 6 đã hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi và cung cấp thông tin, tư liệu
cho luận văn này
Trong qua trình thực hiện đề tài này không tránh khỏi những hạn chế, thiếu
sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý Thầy, Cô
và các bạn cùng lớp Cao học Chính trị học Khóa 22 (2014 - 2016) để luận văn
của tôi được hoàn thiện hơn.
Sau cùng, tôi xin kính chúc quý Thầy, Cô trong Khoa Chính trị học và
PGS.TS Nguyễn Thái Sơn thật dồi dào sức khỏe, niềm tin để tiếp tục thực hiện
sứ mệnh cao đẹp của mình là truyền đạt kiến thức cho thế hệ mai sau Tp.Hồ Chí Minh, tháng 07 năm 2016
Tác giả
Hoàng Hữu Tâm
Trang 4Mục lục……… 2
Bảng ký hiệu chữ viết tắt ……… …4
A MỞ ĐẦU……….…5
B.NỘI DUNG…… ……… 12
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CÔNG ĐOÀN VÀ CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG……….……….……… 12
1.1 Một số khái niệm về công đoàn và chính trị, tư tưởng………… ……… 12
1.2 Vai trò công đoàn trong công tác giáo dục chính trị tư tưởng ……….….25
1.3 Nội dung, hình thức công tác tuyên truyền, giáo dục trong tổ chức công đoàn ……… 30
Kết luận chương 1…… ……… ……… 37
Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ VAI TRÒ CÔNG ĐOÀN TRONG CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ TƯ TƯỞNG CHO CÁN BỘ NGÀNH GIÁO DỤC QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ……… 39
2.1 Đặc điểm tình hình Công đoàn Giáo dục Quận 6……… 39
2.2 Thực trạng về vai trò công đoàn trong công tác GDCTT ………45
2.3 Nhận xét, đánh giá chung 56
Kết luận chương 2…… ……….59
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CÔNG ĐOÀN TRONG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC GDCTTT CHO CÁN BỘ NGÀNH GIÁO DỤC QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 62
3.1 Phương hướng ……… 62
Trang 53.2.1 Nâng cao nhận thức về vai trò công đoàn trong công tác giáo dục chính trị
tư tưởng cho cán bộ công đoàn 63
3.2.2.Đổi mới phương thức hoạt động công đoàn trong công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ công đoàn 68
3.2.3 Phát huy vai trò công đoàn trong tham mưu, phối hợp cùng chính quyền thực hiện công tác GDCTTT tại đơn vị 75
Kết luận chương 3………… ……….……… 80
C KẾT LUẬN 82
D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……….………… 86
PHỤ LỤC ……… ……… …………90
Trang 6CB, GV, NV……… Cán bộ, giáo viên, nhân viên
CNVCLĐ………Công nhân, viên chức, lao động CĐCS ……….Công đoàn cơ sở
CĐGD……….Công đoàn Giáo dục
CNH, HĐH……….Công nghiệp hóa, hiện đại hóa LĐLĐ ……….Liên đoàn Lao động
GD&ĐT……… Giáo dục và Đào tạo
TLĐLĐVN……….Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam
Trang 7A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử hình thành và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn
có sự đồng hành của tổ chức Công đoàn Việt nam Trãi qua những bước đi thăng trầm của đất nước, từ khi chiến tranh cho đến lúc hòa bình và hôm nay - trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước, Công đoàn luôn khẳng định vị trí, vai trò của mình trong mọi hoạt động, mọi lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực giáo dục Nói đến Công đoàn là nói đến việc tập hợp quần chúng, người lao động, là chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của công nhân, viên chức, lao động (CNVCLĐ) là nâng cao nhận thức của CNVCLĐ về các vấn đề có liên quan đến đời sống xã hội như: kinh tế, chính trị, văn hóa, pháp luật … giúp cho người lao động hiểu đúng, làm đúng, biết sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, biết phát huy vai trò làm chủ đất nước, thực hiện nghĩa vụ công dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Đó cũng chính là một vai trò của tổ chức công đoàn trong công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên (CB, GV, NV) trong ngành giáo dục
Trong những năm qua, những biến động lớn về kinh tế, chính trị trên thế giới, khu vực và trong nước, cộng với sự ảnh hưởng của cơ chế thị trường đã và đang làm nảy sinh nhiều vấn đề mới phức tạp, ảnh hưởng đến tư tưởng, chính trị của một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân ở nước ta Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên những năm gần đây diễn biến phức tạp với nhiều mức độ và hình thức biểu hiện khác nhau đã ảnh hưởng không nhỏ đến tư tưởng, chính trị của đội ngũ cán bộ, nhà giáo của ngành giáo dục Chính vì thế, hơn bao giờ hết, vai trò của Công đoàn cần được phát huy và thể hiện rõ nét để giúp họ ổn định tư tưởng, lập trường vững vàng, yên tâm công tác, có niềm tin vào sự nghiệp đổi mới của cách mạng Việt Nam
Trang 8Nhận thức rõ vai trò của Công đoàn trong công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho đội ngũ cán bộ, nhà giáo trong tình hình mới, tôi luôn nghiên cứu, tìm tòi, đổi mới nội dung và phương thức hoạt động công đoàn nhằm nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho đội ngũ cán bộ công đoàn (CBCĐ) ngành giáo dục Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói “Cán bộ là gốc của mọi công việc Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” Chính vì thế, muốn phát huy vai trò của tổ chức công đoàn trước hết phải phát huy được vai trò của từng CBCĐ tại cơ sở Họ sẽ là những hạt nhân, chỉ đạo, dẫn dắt cho đội ngũ CB, GV, NV, NLĐ trong ngành giáo dục thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ chính trị tại đơn vị Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho đội ngũ CBCĐ đã được Công đoàn Giáo dục (CĐGD) Quận 6 triển khai thực hiện trong nhiều năm qua Tuy nhiên, hiệu quả công tác mang lại
nào để phát huy được vai trò công đoàn trong công tác giáo dục chính trị tư tưởng tại đơn vị? Làm thế nào để công tác giáo dục chính trị tư tưởng đi vào chiều sâu, mang lại hiệu quả thực tiễn Với vai trò là một Chủ tịch công đoàn ngành, được cấp ủy đảng phân công trực tiếp làm công tác chỉ đạo, triển khai thực hiện công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho toàn ngành, tôi nhận thấy mình cần phải nghiên cứu, tìm ra một hướng đi mới, cách làm mới cho Công
đoàn Ngành Giáo dục Quận 6 Tôi chọn đề tài “Vai trò công đoàn trong việc
nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ Ngành Giáo dục Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài luận văn thạc sĩ của
mình
2.Tình hình nghiên cứu liên quan đề tài
Vấn đề công đoàn và công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho đội ngũ cán
bộ, đảng viên, trong những năm qua đã có những tài liệu, đề tài, bài viết nghiên cứu như:
Trang 9Hồ Chí Minh với công tác giáo dục lý luận chính trị (2007), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Cuốn sách giới thiệu các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh
về chủ nghĩa Mác- Lênin soi sáng con đường cách mạng Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định rõ về mặt nội dung và nhiệm vụ học tập lý luận chính trị PGS.TS Đoàn Minh Duệ, GS.TS Nguyễn Đăng Dung (đồng chủ biên, 2012), Giáo trình Chính trị học, là cẩm nang của việc học tập nâng cao trình độ LLCT, tri thức khoa học văn hóa chính trị và thực thi quyền lực chính trị; về
“xây dựng những thiết chế chính trị tương đối đầy đủ, đáp ứng những yêu cầu của thực tiễn”
Gần đây, PGS.TS Đoàn Minh Duệ và Ths Lê Thị Hồng Cúc (đồng chủ biên, 2014) có công trình “Một số giải pháp nâng cao trình độ lý luận chính trị cán bộ cơ sở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long trong thời kỳ hội nhập và phát triển”, Nxb Nghệ An Cuốn sách làm rõ tính thiết yếu nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ sở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long; chỉ ra một số giải pháp giúp các cấp ủy và các Trường Đảng tỉnh, Thành phố thực hiện tốt việc nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ sở xứng tầm thời đại, thiết thực phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội khu vực đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Luận văn thạc sĩ Triết học của Nguyễn Thị Hồng Lê (2004), “Nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn hiện nay”, nêu rõ bản chất, đặc trưng, tầm quan trọng của việc nâng cao trình độ lý luận chính trị; với nhóm giải pháp chủ yếu nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp cơ sở tỉnh Hưng Yên
Luận văn Thạc sĩ Chính trị học của Hứa Thị Diễm Phương (Đồng Tháp, 2015) “Nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ cơ sở của huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp giai đoạn hiện nay”; khảo sát thực trạng và đề
Trang 10xuất phương hướng, giải pháp nâng cao trình độ lý luận chính trị đối với cán bộ
cơ sở huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp
Hoàng Vân Anh, Viện Công nhân – Công đoàn, TLĐLĐVN (2015) “Vai trò của công đoàn trong việc nâng cao kỹ năng nghề cho người lao động” nhằm mục đích nâng cao kỹ năng nghề cho người lao động góp phần xây dựng giai cấp Công nhân không ngừng lớn mạnh đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước
Đề tài “Giáo dục chính trị, tư tưởng cho công nhân lao động trong các khu công nghiệp, khu chế xuất hiện nay” (2015) Nguyễn Văn Đông, Uỷ viên Đoàn Chủ tịch, Trưởng ban Tuyên giáo TLĐLĐVN nhằm mục đích nâng cao hiệu quả giáo dục chính trị, tư tưởng cho công nhân lao động trong các khu công nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam hiện nay
Đề tài “Vai trò của Công đoàn trong việc tham gia hoàn thiện chính sách tiền lương tối thiểu vùng ở Việt Nam” ThS Đặng Quang Hợp- Trưởng phòng Nghiên cứu khoa học, Viện Công nhân – Công đoàn, TLĐLĐVN Nội dung nghiên cứu đã làm rõ những vấn đề cơ bản về vai trò của tổ chức Công đoàn và chính sách tiền lương tối thiểu vùng ở Việt Nam; phân tích được thực trạng hoạt động của Công đoàn trong tham gia hoàn thiện chính sách tiền lương tối thiểu vùng; từ đó đưa ra một số giải pháp của Công đoàn trong tham gia hoàn thiện chính sách tiền lương tối thiểu vùng ở Việt Nam
Đề tài “Thực trạng nhu cầu đời sống văn hóa tinh thần của công nhân các khu công nghiệp hiện nay" của ThS Lê Thị Lan Hương đã hệ thống hoá và bổ sung, phát triển lý luận về văn hóa, nhu cầu đời sống văn hóa tinh thần của công nhân khu công nghiệp; khái quát thực trạng, phát hiện những vấn đề đặt ra đối với nhu cầu đời sống văn hóa tinh thần của công nhân các khu công nghiệp hiện nay; đề xuất giải pháp và những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức công đoàn trong công tác xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của công nhân khu công nghiệp trong thời gian tới
Trang 11Những đề tài nghiên cứu về vấn đề này ở những góc độ khác nhau, nhưng cho đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách hệ thống về vai trò của công đoàn trong công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho đội ngũ CBCĐ ngành giáo dục Vì vậy, việc chọn nghiên cứu đề tài “Vai trò công đoàn trong việc nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ Ngành Giáo
dục Quận 6, TP Hồ Chí Minh” là cấp thiết nhằm làm rõ hơn về vai trò của tổ
chức công đoàn trong công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đổi mới, hội nhập và phát triển Qua đó, chúng ta khắc phục những hạn chế, yếu kém về trình độ, năng lực, phẩm chất chính trị của đội ngũ cán bộ cũng như chỉ đạo thực tiễn việc nâng cao vai trò công đoàn trong công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ ngành giáo dục hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn về vai trò của công đoàn trong công tác giáo dục chính trị tư tưởng của Ngành Giáo dục Quận 6, thành phố Hồ Chí Minh trong những năm gần đây, đề tài đề xuất phương hướng, giải pháp phát huy vai trò của công đoàn trong nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị tư tưởng đáp ứng nhu cầu đổi mới giáo dục, hội nhập và phát triển của đất nước
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu Khái quát một số vấn đề về vai trò công đoàn và công tác giáo dục chính
trị tư tưởng
Phân tích thực trạng về vai trò công đoàn trong công tác giáo dục chính trị
tư tưởng ở Quận 6, thành phố Hồ Chí Minh
Đề xuất phương hướng, giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò công đoàn trong việc nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ của Ngành Giáo dục Quận 6, thành phố Hồ Chí Minh
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 124.1 Đối tượng nghiên cứu
Vai trò công đoàn trong công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ công đoàn của Ngành Giáo dục Quận 6, thành phố Hồ Chí Minh
1.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ tháng 10/ 2015 đến tháng 05/ 2016
Đề tài tập trung nghiên cứu về vai trò công đoàn trong công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho đội ngũ cán bộ công đoàn
Đề tài được nghiên cứu dựa trên kết quả báo cáo công tác giáo dục chính trị
tư tưởng hàng năm của CĐGD và trên kết quả khảo sát thực tế của 480 CBCĐ trong Ngành Giáo dục quận 6, thành phố Hồ Chí Minh gồm các chức danh: Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Uỷ viên Ban chấp hành, tổ trưởng công đoàn của 65 CĐCS trực thuộc CĐGD Quận 6
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5.1 Phương pháp luận
Đề tài được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác –Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI, XII, các văn bản quy phạm pháp luật về công đoàn, đồng thời có kế thừa các kết quả nghiên cứu của các tác giả trong nước về vai trò công đoàn và công tác giáo dục chính trị tư tưởng
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Các phương pháp cụ thể gồm: lôgic và lịch sử, nghiên cứu lý thuyết, khảo sát thực tế, phân tích và tổng hợp, thu thập thông tin, xử lý số liệu, kiểm tra thực tiễn
6 Những đóng góp mới của đề tài 6.1 Ý nghĩa lý luận
Trang 13Những luận điểm và kết luận của đề tài sẽ góp phần làm sáng tỏ luận cứ khoa học về vai trò của công đoàn trong công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ Ngành Giáo dục Quận 6, thành phố Hồ Chí Minh
Đề tài cung cấp thêm tư liệu tham khảo đáng tin cậy cho các nhà nghiên cứu, quản lý về vấn đề vai trò công đoàn và công tác giáo dục chính trị tư tưởng
Trang 14B NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CÔNG ĐOÀN
VÀ CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG
1.1 Một số khái niệm về công đoàn và chính trị, tư tưởng 1.1.1 Công đoàn
Công đoàn Việt Nam có địa vị pháp lý quan trọng, được ghi nhận trong Hiến pháp, Luật Công đoàn, Bộ luật Lao động và các văn bản khác của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Theo quy định tại Điều 10, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013: “Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn
vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [38, tr.4]
Luật Công đoàn năm 2012 quy định tại Điều 1: “Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động, được thành lập trên cơ sở tự nguyện, là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đại diện cho cán bộ, công chức, viên chức, công nhân và những người lao động khác (sau đây gọi chung là người lao động), cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức
xã hội chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội, tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh
Trang 15nghiệp; tuyên truyền, vận động người lao động học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa” [40, tr.5]
Do vị trí pháp lý được quy định trong Hiến pháp và trong Điều lệ Công đoàn Việt Nam nên “Công đoàn được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ Cơ quan lãnh đạo các cấp công đoàn do bầu cử lập ra Quyền quyết định cao nhất của mỗi cấp công đoàn là đại hội công đoàn cấp đó Cơ quan lãnh đạo của công đoàn mỗi cấp giữa hai kỳ đại hội là ban chấp hành Ban chấp hành công đoàn các cấp hoạt động theo nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng
tổ chức Nghị quyết của công đoàn các cấp được thông qua theo đa số và phải được thi hành nghiêm chỉnh” [37, tr.4]
1.1.2 Công đoàn cơ sở
Theo Điều 4 - Luật Công đoàn năm 2012: “Công đoàn cơ sở (CĐCS) là tổ chức cơ sở của Công đoàn, tập hợp đoàn viên công đoàn trong một hoặc một số
cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, được công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở công nhận theo quy định của pháp luật và Điều lệ Công đoàn Việt Nam” [40, tr.7]
Bộ Luật Lao động năm 2012 quy định tại Điều 188, khoản 1: “Công đoàn
cơ sở thực hiện vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên công đoàn, người lao động; tham gia, thương lượng, ký kết và giám sát việc thực hiện thỏa ước lao động tập thể, thang lương, bảng lương, định mức lao động, quy chế trả lương, quy chế thưởng, nội quy lao động, quy chế dân chủ ở doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức; tham gia, hỗ trợ giải quyết tranh chấp lao động; đối thoại, hợp tác với người sử dụng lao động xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định, tiến bộ tại doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức” [36, tr.50]
1.1.3 Công đoàn giáo dục
Theo Điều 24, Điều lệ Công đoàn Việt Nam: “Công đoàn giáo dục huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là công đoàn giáo dục huyện) do
Trang 16liên đoàn lao động huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quyết định thành lập hoặc giải thể sau khi có sự đồng ý của liên đoàn lao động tỉnh, thành phố Đối tượng tập hợp của công đoàn giáo dục huyện là đoàn viên và người lao động trong cơ quan phòng giáo dục, các trường học (công lập và ngoài công lập), đơn vị thuộc phòng giáo dục cấp huyện quản lý
Công đoàn giáo dục huyện chịu sự chỉ đạo trực tiếp của liên đoàn lao động huyện và sự chỉ đạo phối hợp về ngành của công đoàn ngành giáo dục tỉnh, thành phố, là tập hợp là đoàn viên và người lao động trong cơ quan phòng giáo dục, các trường học (công lập và ngoài công lập), đơn vị thuộc phòng giáo dục cấp quận, huyện quản lý
Nhiệm vụ, quyền hạn của công đoàn giáo dục quận, huyện:Tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của Công đoàn Tổ chức triển khai thực hiện các nghị quyết của công đoàn cấp trên và nghị quyết đại hội công đoàn cấp mình; tham gia với cơ quan quản lý cùng cấp về định hướng phát triển ngành; xây dựng đội ngũ cán bộ, giáo viên và các mục tiêu, kế hoạch giáo dục - đào tạo, các vấn đề liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động trong ngành; chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chế độ, chính sách liên quan đến quyền và lợi ích của người lao động; tổ chức các phong trào thi đua, thực hiện các cuộc vận động của Đảng, Nhà nước và tổ chức Công đoàn; phối hợp với các
cơ quan chức năng của cấp huyện kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chế độ, chính sách và đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên
và người lao động trong ngành (bao gồm cả ngoài công lập); quyết định thành lập hoặc giải thể các công đoàn cơ sở trường học, đơn vị trực thuộc phòng giáo dục cấp huyện quản lý; phát triển đoàn viên, xây dựng công đoàn cơ sở vững mạnh và tham gia xây dựng Đảng” [37, tr.41- 43]
1.1.4 Cán bộ công đoàn
Trang 17Theo quy định tại Điều 5 – Điều lệ Công đoàn Việt Nam: “Cán bộ công đoàn là người đảm nhiệm các chức danh từ tổ phó công đoàn trở lên thông qua bầu cử tại đại hội hoặc hội nghị công đoàn; được cấp công đoàn có thẩm quyền chỉ định, công nhận, bổ nhiệm vào các chức danh cán bộ công đoàn hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tổ chức Công đoàn Cán bộ công đoàn gồm: Cán bộ công đoàn chuyên trách và cán bộ công đoàn không chuyên trách Cụ thể:
Cán bộ công đoàn chuyên trách là người đảm nhiệm công việc thường xuyên trong tổ chức công đoàn, được đại hội, hội nghị công đoàn các cấp bầu ra hoặc được cấp có thẩm quyền của công đoàn bổ nhiệm, chỉ định
Cán bộ công đoàn không chuyên trách là người làm việc kiêm nhiệm, do đoàn viên tín nhiệm bầu vào các chức danh từ tổ phó công đoàn trở lên và được cấp có thẩm quyền của công đoàn công nhận hoặc chỉ định
Theo Hướng dẫn thi hành Điều lệ Công đoàn Việt Nam số 238/HD-TLĐ ngày 04/3/2014 của Đoàn Chủ tịch TLĐLĐVN, cán bộ công đoàn theo quy định tại Điều 5 – Điều lệ Công đoàn Việt Nam nói trên, bao gồm: Tổ trưởng, tổ phó công đoàn; Ủy viên Ban chấp hành công đoàn các cấp; Ủy viên ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp; Ủy viên các ban quần chúng công đoàn các cấp (thông qua kết quả bầu cử hoặc cấp công đoàn có thẩm quyền chỉ định); những cán bộ, công chức làm công tác nghiệp vụ công đoàn trong bộ máy tổ chức của công đoàn các cấp” [37, tr.9]
Từ các khái niệm trên cho thấy tất cả cán bộ, giáo viên, nhân viên, người lao động đang làm việc tại các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở và các đơn vị trực thuộc đóng trên địa bàn quận 6 đều là đoàn viên công đoàn, chịu sự quản lý của CĐCS và CĐGD quận 6 Tất cả cán bộ công đoàn đang công tác tại các cơ sở giáo dục hiện nay đều là cán bộ công đoàn không chuyên trách, vừa thực hiện nhiệm vụ chuyên môn vừa kiêm nhiệm công tác công đoàn
1.1.2 Tư tưởng
Trang 18Thuật ngữ “tư tưởng” có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp- Idia, có nghĩa là
hình thức Theo từ điển Triết học thì tư tưởng là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong ý thức của con người, biểu hiện quan hệ của con người đối với
thế giới khách quan đó F Ăngghen viết: “Tất cả tư tưởng đều bắt đầu từ kinh nghiệm Tư tưởng là sự phản ánh hiện thực khách quan: đúng dần hay sai lệch”
[1, tr.7]
Mục đích của quá trình nhận thức của con người là nhằm phục vụ cho hoạt động thực tiễn, nên trong ý thức của mỗi con người thực tiễn không hoàn toàn chỉ dừng lại ở các khái niệm, mà từ các khái niệm đó hình thành nên những chủ kiến, dự định chỉ đạo hành động của họ V.I Lênin coi tư tưởng là hình thức cao của nhận thức, là những mục tiêu, chương trình, kế hoạch nhằm tiếp tục nhận thức và cải tạo thế giới khách quan
Như vậy, tư tưởng là phạm trù thuộc lĩnh vực ý thức, là kết quả của quá trình nhận thức hiện thực khách quan, trở thành kinh nghiệm và sự hiểu biết trong tâm trí của mỗi con người, trở thành những chủ kiến, dự định, chương trình, kế hoạch, chi phối hành động của họ
Là kết quả của quá trình nhận thức của mỗi con người, nên tư tưởng trước hết là tư tưởng của mỗi cá nhân Tư tưởng gắn liền với lợi ích, bởi hành động của mỗi người đều nhắm đến lợi ích nhất định Trong một thể chế xã hội nhất định, những người có lợi ích giống nhau có tư tưởng giống nhau, trở thành tư tưởng của các giai cấp, tầng lớp, nhóm xã hội C Mác đã viết: mỗi lợi ích, mỗi thiết chế xã hội đều biến thành tư tưởng chung và được luận giải như là một tư tưởng
Con người là tổng hòa của mọi mối quan hệ xã hội, nên tư tưởng của họ mang tính xã hội, Trong xã hội có giai cấp, tư tưởng mang tính giai cấp C Mác
F Ăngghen viết: mỗi giai cấp mới thay thế cho giai cấp thống trị trước đều nhất thiết phải bảo vệ lợi ích của mọi thành viên trong xã hội, hay nói một cách trừu tượng: phải gắn cho những tư tưởng của bản thân mình một hình thức phổ biến,
Trang 19phải biểu hiện những tư tưởng đó thành những tư tưởng duy nhất, có giá trị phổ biến nhất Trong hoạt động thực tiễn, con người có sự giao tiếp với nhau và có tác động qua lại lẫn nhau về nhận thức và mục đích hoạt động Vì vậy, trong xã hội tồn tại một cách khách quan quan hệ tư tưởng Đó là sự tác động quan lại giữa người và người về tư tưởng
Vì mục đích của mình, các giai cấp, các tầng lớp trong xã hội đã chủ động tác động vào tư tưởng của các giai cấp, tầng lớp khác, thuyết phục, lôi kéo họ đi theo mình trong hoạt động thực tiễn, hoạt động đó gọi là quá trình tư tưởng Qúa trình tư tưởng tồn tại một cách khách quan trong xã hội, bao gồm các họat động
“sản xuất” ra hệ tư tưởng, truyền bá hệ tư tưởng trong xã hội và cổ vũ, động viên, lôi cuốn quần chúng đi theo mình Sự tồn tại khách quan của quá trình tư tưởng trong xã hội là cơ sở để tiến hành công tác tư tưởng [1, tr.7- 9]
Tư tưởng là một hệ thống quan điểm, lý luận mang giá trị như một học thuyết được xây dựng trên một thế giới quan và phương pháp luận nhất quán, đại biểu cho ý chí nguyên vọng của một giai cấp, một dân tộc, phù hợp với nhu cầu tiến hóa của thực tiễn nhất định, trở lại chỉ đạo và cải tạo thực tiễn đó [1, tr.10]
Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng Đồng thời, căn cứ vào những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của đất nước trong từng giai đoạn cách mạng, Đảng xác định cho mình những quan điểm cơ bản chỉ đạo hành động
và lãnh đạo quần chúng xây dựng nên một hệ thống quan điểm tư tưởng, lý luận
là những chủ trương, đường lối, chính sách
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (6/1991), Đảng ta xác định: Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng, đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (01/2011), Đảng tiếp tục khẳng định:
“Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và
Trang 20CNXH, nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ của toàn Đảng và của mỗi cán bộ đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp; không dao động trong bất cứ tình huống nào, kiên định đường lối đổi mới, chống giáo điều, bảo thủ, trì trệ hoặc chủ quan, nóng vội, đổi mới vô nguyên tắc”[10, tr.255]
1.1.3 Chính trị
Thuật ngữ “Chính trị” là một thuật ngữ khó định nghĩa nhất trong khoa học
xã hội, vì cho đến nay chưa có một định nghĩa chính xác và được nhiều người thừa nhận Chính trị có nguồn gốc từ tiếng Hy-lạp cổ, “Politis” có nghĩa là những công việc của Nhà nước Ngay từ thời cổ đại, Plato đã cho rằng: chính trị
là công việc chăn dắt các động vật hai chân, không có sừng và không có lông Theo quan điểm của chủ nghĩa Marx: khi kinh tế phát triển đến một trình độ nhất định, xã hội phân chia thành giai cấp và mâu thuẩn giữa các giai cấp trở nên gay gắt không thể điều hòa được thì nhà nước, chính trị ra đời
“Theo quy luật chung của quá trình nhận thức, việc nắm bắt đời sống chính trị cũng trải qua một quá trình từ kinh nghiệm đến lý luận Trên kinh nghiệm được tích lũy từ thực tiễn chính trị, người ta đã xây dựng những thiết chế chính trị tương đối đầy đủ, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn Trong thực tiễn đó, xuất hiện một số quan niệm ngày càng rõ rệt giữa người thống trị và người phục tùng Các quan hệ chính trị đó ngày càng tác động mạnh mẽ tới mọi thành viên trong
xã hội Bởi sự tác động mạnh mẽ đó mà chính trị ngày càng đòi hỏi phải được nghiên cứu sâu sắc hơn Yêu cầu hệ thống hóa những kinh nghiệm chính trị, những tri thức chính trị, những thói quen, giao tiếp trong chính trị dần trở nên cần thiết Từ những lý do đó, yêu cầu chính trị học với tư cách là một khoa học
Trang 21bản nhất của chính trị, nói đến chính trị phải nói đến giai cấp và quyền lực nhà nước Tuy nhiên, như vậy là chưa đủ, nhất là trong thời đại ngày nay khi mà hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, tự do, bình đẳng đã trở thành mệnh lệnh của đời sống nhân loại” [3, tr.3]
Như vậy, chính trị là quan hệ giữa các giai cấp, các quốc gia, các dân tộc, các lực lượng trong việc giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước Rõ ràng, nội hàm của chính trị chính là vấn đề quyền lực nhà nước, của giai cấp thống trị Aristotle (384 Tr.CN - 322 tr.CN) - Triết gia nổi tiếng của Hy Lạp cổ đại trong tác phẩm Chính trị luận, đã khẳng định, con người theo bản năng tự nhiên
đã có tính chính trị Ông cho rằng, tư cách công dân của một con người không được tạo nên chỉ vì người đó sinh ra và cư trú trên một đất nước nào đó, mà tư cách công dân chỉ cần có một tiêu chuẩn xác định: công dân là người có quyền tham gia vào chính sự và giữ những chức vụ trong chính quyền Riêng đối với nhà lãnh đạo, Aristotle còn đòi hỏi phải có thêm một đức tính ngoài những đức tính mà mọi công dân đều có, đó là sự “khôn ngoan chính trị” [11, tr.217]
Platon (428 Tr.CN – 347 Tr.CN) - Một triết gia nổi tiếng khác của Hy Lạp
cổ đại trong tác phẩm “Nền Cộng hoà” lại cho rằng, tất cả những chế độ chính trị theo truyền thống như dân chủ, quân chủ… và ông cũng cho rằng: "chính trị
là sự cai trị, đó là nghệ thuật cai trị những con người với sự bằng lòng của họ" [12, tr.66]
Max Weber (1864 - 1920) - Nhà kinh tế chính trị học và xã hội học người Đức lại xem "chính trị" là khát vọng tham gia vào quyền lực hay ảnh hưởng đến
sự phân chia quyền lực, định rõ vị thế của từng cá nhân trong một trật tự nhất định
Trong giới học giả tư sản, đã có thời kỳ lan truyền quan điểm xem chính trị
là một "nhà hát", trong đó có vở diễn, nghệ sỹ, người xem, sự bài trí sân khấu và nhà phê bình Trong "nhà hát chính trị" đó, mỗi người dù vô tình hay hữu ý đều đóng một vai trò nhất định, nhưng sự tồn tại của "nhà hát" lại không phụ thuộc
Trang 22vào các cá nhân ấy; mặc dù vẫn có những đạo diễn, song lại có nhiều ngẫu hứng trong quá trình "biểu diễn" làm cho chính trị có đời sống rất phong phú, đa dạng
và phức tạp
Kế thừa những tinh hoa nhân loại, đồng thời là lãnh tụ của giai cấp công nhân V.I Lê nin rất chú trọng đến vấn đề chính trị Theo Người, cái căn bản nhất của chính trị là tổ chức chính quyền nhà nước Chính trị là sự tham gia vào các công việc nhà nước, định hướng nhà nước, xác định hình thức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của nhà nước Bất kỳ hoạt động xã hội nào cũng có tính chất chính trị quan trọng, nếu như việc giải quyết nó trực tiếp hay gián tiếp gắn với lợi ích giai cấp, gắn nó với vấn đề chính quyền
“Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đời sống xã hội có bốn lĩnh vực cơ bản là kinh tế, chinh trị, văn hóa và xã hội, phải coi các lĩnh vực đó quan trọng như nhau Trong tác phẩm “Thường thức chính trị” Người đã chỉ rõ nội hàm của khái niệm chính trị rất cơ bản và dễ hiểu bao gồm: quan hệ giữa các giai cấp trong xã hội; chế độ xã hội do giai cấp xác lập; đấu tranh giữa các giai cấp trên cơ sở lợi ích kinh tế, động lực cách mạng và con đường giải phóng của người nghèo; quyền và lợi ích của nhân dân; nhiệm vụ của Nhà nước; Đảng chính trị, quyền
và nghĩa vụ của đảng viên; quan hệ quốc tế và xu thế phát triển hợp quy luật của quốc gia, dân tộc Theo Người, mấu chốt của vấn đề chính trị ở Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX là giành và giữ chính quyền, là thực hiện dân chủ kiểu mới, là làm cho nhân dân thực sự là người làm chủ, làm cho dân giàu, nước mạnh và sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước trên tinh thần hoà hiếu, tôn trọng chủ quyền và hợp tác cùng có lợi
Như vậy, tiếp cận vấn đề từ chủ nghĩa Mác –Lê nin, có thể xem chính trị là một lĩnh vực của đời sống xã hội, thể hiện mối quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc, các quốc gia trong vấn đề giành, giữ, sử dụng hoặc chi phối quyền lực nhà nước” [12, tr.5-10]
Trang 23Chính trị là một lĩnh vực của đời sống xã hội kể từ khi xã hội phân chia thành giai cấp và tổ chức thành nhà nước Theo quan niệm của V.I Lênin:
“Chính trị là hoạt động trong lĩnh vực quan hệ giữa các giai cấp, cũng như các dân tộc và các quốc gia với vấn đề giành, giữ, tổ chức và sử dụng quyền lực Nhà nước; là sự tham gia của nhân dân vào công việc của Nhà nước và xã hội, là hoạt động chính trị thực tiễn của giai cấp, các đảng phái chính trị, các nhà nước nhằm tìm kiếm những khả năng thực hiện đương lối và những mục tiêu đã đề ra nhằm thỏa mãn lợi ích” [14, tr.7]
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng về cơ bản, nội hàm của khái niệm chính trị có thể hiểu như sau: Chính trị là quan hệ lợi ích giữa các giai cấp thông qua việc giải quyết vấn đề quyền lực nhà nước; là sự biểu hiện tập trung của kinh tế đồng thời là chủ thể của kinh tế; là sản phẩm bởi sự phát triển văn hóa chung của xã hội
Theo quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin, con người là chủ thể sáng tạo của lịch sử Trong xã hội phân chia giai cấp thì hoạt động của mỗi con người đều gắn với một giai cấp Con người giai cấp có vị thế và quyền lực khác nhau trong
hệ thống tổ chức quyền lực xã hội, hoạt động của học gắn liền với việc giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị của một giai cấp, một dân tộc, một lực lượng
xã hội nhất định
Một số quan điểm lại cho rằng, chính trị là khả năng con người đóng những vai trò khác nhau, hoàn thành những chức năng khác nhau trong khuôn khổ của một thể chế chính trị Theo quan điểm đó, bản chất chính trị là sự phân chia trách nhiệm và các thẩm quyền cũng như bảo đảm hiệu quả chính trị và sự bền vững của chính thể Ở đây, chính trị được họ hiểu như là sự khôn khéo, khả năng đạt được sự phân chia chức năng, mà vẫn đảm bảo duy trì tác động qua lại của chúng
Trong những quan niệm nêu trên, tuy có chứa đựng một số nhân tố hợp lý nhất định, nhưng chúng vẫn chưa nêu ra được nội dung cơ bản nhất của phạm
Trang 24trù chính trị - đó là mối quan hệ giữa con người ở các địa vị khác nhau, lấy quyền lực làm đích
Với vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội, các vấn đề chính trị đã thu hút nhiều nhà tư tưởng lớn của nhân loại nghiên cứu Đã có khá nhiều nhà tư tưởng lỗi lạc nghiên cứu những khía cạnh khác nhau của lĩnh vực chính trị trong lịch sử Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn có những quan niệm không đồng nhất về phạm trù "chính trị"; nhiều định nghĩa hoặc khái niệm khác nhau về chính trị Nhưng theo tôi, chính trị có đặc trưng chính đó là “hành động”, những hành động này do nhiều người cùng thực hiện để giành lấy hoặc duy trì quyền lãnh đạo, quyền quản lý Nhà nước, quản lý xã hội Chính trị chỉ có trong xã hội phân chia giai cấp và thuộc về kiến trúc thượng tầng, chính trị là sự biểu hiện tập trung nhất của kinh tế, nhưng có vai trò độc lập và có tác động to lớn đến đời sống kinh tế
1.1.3.1 Lý luận chính trị
Lý luận chính trị là lý luận trong lĩnh vực chính trị Lý luận chính trị ra đời khi xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp để đại diện cho lợi ích của một Đảng, một giai cấp nhất định trong lịch sử xã hội loài người Lý luận chính trị là
hệ thống các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của một Đảng, một giai cấp để giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước
Lý luận chính trị Mác - Lênin được hình thành và phát triển trên cơ sở nền tảng của học thuyết mác - xít, đó là một hệ thống hoàn chỉnh và khoa học với những luận cứ, quan điểm triết học, kinh tế chính trị học và khoa học xã hội về
sứ mệnh của giai cấp công nhân Chủ nghĩa Mác được hình thành và phát triển trên cơ sở tiếp thu tinh hoa của các khoa học triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị học Anh và CNXH không tưởng, phê phán thế kỷ XIX, cùng với kết quả tổng kết kinh nghiệm từ phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân thế giới Sự ra đời của chủ nghĩa Mác là một bước biến chuyển cách mạng vĩ đại trong khoa học về tự nhiên và xã hội, làm thay đổi thế giới
Trang 25Trên cơ sở kế thừa chọn lọc thành tựu của nhiều ngành khoa học và tổng kết lịch sử nhân loại, chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra những quy luật cơ bản về sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy Những dự báo khoa học này được các Đảng Cộng sản thể hiện ở việc xác định mục tiêu, chiến lược, sách lược, đề ra từng chặng đường nhiệm vụ cụ thể thông qua cương lĩnh, nghị quyết, chủ trương, đường lối của Đảng vào thực tiễn cuộc sống có hiệu quả Học thuyết này được vận hành thông qua các bộ môn cơ bản về lý luận chính trị trong giáo dục và đào tạo ở nước ta, gồm: Triết học Mác - Lênin, Kinh tế chính trị học Mác
- Lênin, Chủ nghĩa xã hôi Khoa học, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Tư tưởng Hồ Chí Minh
Bởi lý luận chính trị là kim chỉ nam cho hành động, soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo hoạt động chính trị và lý luận chính trị xuất phát từ thực tiễn hoạt động chính trị, dựa trên cơ sở thực tiễn, đi sâu, đi sát thực tiễn, coi trọng việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận phải liên hệ với thực tiễn, do vậy, chỉ có thực tiễn mới là tiêu chuẩn của chân lý để kiểm nghiệm lý luận chính trị đúng hay sai Nếu lý luận chính trị xa rời thực tiễn thì chính trị sẽ dẫn tới các sai lầm của bệnh chủ quan, giáo điều, máy móc, quan liêu
Tuy nhiên, tự thân lý luận chính trị luôn luôn phải đổi mới để theo kịp sự phát triển của thực tiễn hoạt động chính trị, để khỏi lạc hậu, lỗi thời và phải làm vai trò hướng dẫn, chỉ đạo và thúc đẩy hoạt động thực tiễn chính trị, bởi vì chỉ
có một lý luận chính trị khoa học, cách mạng thì hoạt động thực tiễn chính trị mới đạt hiệu quả cao Lý luận chính trị có vai trò rất lớn đối với thực tiễn chính trị, tác động trở lại thực tiễn chính trị, góp phần làm biến đổi thực tiễn chính trị, thông qua hoạt động làm chủ của con người
Thực tiễn hoạt động chính trị phải được chỉ đạo, hướng dẫn bởi lý luận chính trị khoa học, cách mạng Nếu thực tiễn chính trị không có lý luận chính trị dẫn đường thì nó sẽ trở nên mù quáng Còn nếu thực tiễn chính trị được chỉ đạo
Trang 26bởi Lý luận chính trịsai lầm và phản cách mạng thì hậu quả khó lường Do vậy,
lý luận và thực tiễn phản ánh mối quan hệ trong hoạt động chính trị
1.3.1.2 Trình độ lý luận chính trị
Theo Từ điển tiếng Việt, trình độ là “Mức độ về sự hiểu biết, về kỹ năng được xác định hoặc đánh giá theo tiêu chuẩn nhất định nào đó”; “Trình độ khá cao trong một lĩnh vực nào đó” [42, tr.1037]
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, trình độ là: “dung lượng, mức
độ và chất lượng của hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ cảm xúc và đánh giá tương ứng trong cấu trúc nhân cách Trình độ chung của con người cấu thành
từ học vấn phổ thông, chuyên nghiệp; từ cuộc sống, kinh nghiệm ứng xử, thông qua con đường chủ đạo là dạy học, giáo dục và hoạt động "nhận thức - thực tiễn
xã hội" của chính người đó” [43]
Như vậy, trình độ lý luận chính trị là mức độ hiểu biết, mức độ nhận thức, khả năng vận dụng trình độ lý luận chính trị vào trong thực tiễn cuộc sống và công tác Nói cách khác, trình độ trình độ lý luận chính trị là mức độ hiểu biết về
hệ thống những tri thức được khái quát từ kinh nghiệm hoạt động chính trị thực tiễn của một giai cấp hoặc một chính đảng Hiểu biết về những mối quan hệ bản chất, tất nhiên, mang tính quy luật của hoạt động chính trị của một giai cấp hoặc một chính đảng Hiểu biết về hệ thống những khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật…có liên quan
Ngoài ra, trình độ trình độ lý luận chính trị còn là kỹ năng vận dụng hệ thống những tri thức được khái quát từ kinh nghiệm hoạt động chính trị thực tiễn của một giai cấp hoặc một chính đảng Vận dụng những mối quan hệ bản chất, tất nhiên, mang tính quy luật của hoạt động chính trị của một giai cấp hoặc một chính đảng Vận dụng hệ thống những khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật…có liên quan
Trình độ trình độ lý luận chính trị của cán bộ được trang bị càng cao, thì trong công việc cán bộ càng có khả năng tiếp thu, truyền đạt chuẩn xác chủ
Trang 27trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước Nâng cao được khả năng nắm bắt chính xác những vấn đề mới nảy sinh trong hoạt động thực tiễn, hiểu rõ bản chất của các vấn đề này để từ đó nâng cao năng lực trong việc vận dụng lý luận kết hợp với chủ trương, chính sách để xây dựng phương hướng và các giải pháp giải quyết khả thi, hợp lý Trên cơ sở đó, đưa ra các giải pháp thực hiện nhiệm vụ phù hợp với định hướng lãnh đạo, phù hợp với tình hình thực tế của từng đơn vị
1.2 Vai trò Công đoàn trong công tác giáo dục chính trị tư tưởng 1.2.1 Vai trò Công đoàn Việt Nam trong hệ thống chính trị
Công đoàn Việt Nam là thành viên của hệ thống chính trị và là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, là trung tâm tập hợp, đoàn kết, giáo dục, rèn luyện, xây dựng đội ngũ giai cấp công nhân, lao động
“Công đoàn Việt Nam có trách nhiệm là người tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối, chế độ chính sách và Nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với quần chúng CNVCLĐ, đồng thời vận động tổ chức cho CNVCLĐ thực hiện nghiêm túc chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước.Vai trò của Công đoàn Việt Nam thể hiện qua sự tác động của công đoàn thông qua các phong trào cách mạng của người lao động Việc tuyên truyền, vận động, tập hợp người lao động chính là thể hiện vai trò trường học của công đoàn
Vai trò của Công đoàn Việt Nam thể hiện qua các thời kỳ cách mạng Việt Nam Thời kỳ chưa có chính quyền, công đoàn có vai trò là trường học đấu tranh giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc Thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, công đoàn là trường học quản lý, trường học kinh tế, trường học chủ nghĩa xã hội của người lao động Thời kỳ CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, vai trò của công đoàn tiếp tục được khẳng định Công đoàn có quyền đại diện cho người lao động, có trách nhiệm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho người
Trang 28lao động; tham gia trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa- tư tưởng và xã hội” [41, tr.14]
Vì Công đoàn là một tổ chức chính trị xã hội nên trong Đại hội Đảng lần thứ
XI, Đảng ta tiếp tục khẳng định về vai trò của tổ chức công đoàn: “Mặt trận tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đại điện bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của nhân dân, chăm lo lợi ích của các đoàn viên, hội viên; thực hiện dân chủ và xây dựng xã hội lành mạnh; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước; giáo dục đạo đức và lý tưởng cách mạng, quyền và nghĩa vụ công dân, tăng cường mối liên hệ giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước”[29, tr 179]
Công đoàn có vai trò to lớn trong việc góp phần xây dựng và nâng cao hiệu quả của hệ thống chính trị - xă hội xă hội chủ nghĩa Tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, xây dựng khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trở thành nòng cốt khối đại đoàn kết toàn dân, góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
1.2.2 Vai trò Công đoàn trong công tác tuyên truyền, giáo dục
“Công đoàn tuyên truyền, giáo dục CNVCLĐ không ngừng nâng cao trình
độ, tính tổ chức, kỷ luật, trở thành lực lượng đi đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH
và hội nhập quốc tế
Công đoàn giáo dục người lao động nâng cao lập trường giai cấp công nhân, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, giáo dục lối sống mới, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người mới, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội” [41, tr.16]
Trong nền kinh tế nhiều thành phần Công đoàn phát huy vai trò của mình trong việc giáo dục CNVCLĐ nâng cao lập trường giai cấp, lấy chủ nghĩa Mác -
Trang 29Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động, phát huy những giá trị cao đẹp, truyền thống văn hoá dân tộc và tiếp thu những thành tựu tiên tiến của văn minh nhân loại góp phần xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam
Vai trò công đoàn trong công tác tuyên truyền, giáo dục còn được thể hiện
trong việc thực hiện một trong ba chức năng của tổ chức công đoàn đó chính là:
Giáo dục, động viên CNVCLĐ phát huy quyền làm chủ đất nước, thực hiện nghĩa vụ công dân, xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Chức năng giáo dục của Công đoàn Việt Nam ngày càng mở rộng và phát triển thông qua hoạt động thực tiễn trong lao động sản xuất và tham gia các phong trào thi đua…góp phần cho CNVCLĐ nhận thức và hiểu được lợi ích của
họ gắn với lợi ích tập thể, lợi ích của xă hội Muốn có lợi ích và muốn lợi ích của ḿnh được bảo vệ trước hết, phải thực hiện tốt nghĩa vụ lao động, nghĩa vụ của người công dân đối với cơ quan, xí nghiệp và xă hội Trên cơ sở đó xây dựng ý thức lao động mới, lao động có kỷ luật và có tác phong công nghiệp Nâng cao tinh thần tự giác học tập văn hoá, chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, rèn luyện tay nghề để đáp ứng sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
Công đoàn tuyên truyền, giáo dục cho CNVCLĐ vững tin vào đường lối xây dựng chủ nghĩa xă hội, phát triển kinh tế - xă hội mà Đảng ta đă lựa chọn Giáo dục truyền thống cách mạng của dân tộc, của địa phương (nhất là đối với công nhân lao động trẻ)
Tuyên truyền chính sách, pháp luật của Nhà nước Giáo dục nâng cao đạo đức nghề nghiệp, kỷ luật lao động, tác phong công nghiệp, xây dựng lối sống văn hoá lành mạnh, sống và làm việc theo pháp luật góp phần xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh Với tinh thần thường xuyên cảnh giác và đấu tranh chống lại những âm mưu thù địch
1.2.3 Vai trò Công đoàn trong công tác giáo dục chính trị tư tưởng trong ngành giáo dục
Trang 30Công đoàn phối hợp cùng chính quyền cùng cấp tổ chức học tập, quán triệt
Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp; thực hiện tốt công tác tuyên truyền Đại hội Đại biểu Đảng bộ Thành phố lần thứ X; Đại hội Đảng toàn quốc lần thức XII và bầu cử Quốc hội khóa XIV Xây dựng kế hoạch tổ chức nghiên cứu, học tập Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ Thành phố lần thứ X, Đại hội Đảng toàn quốc lần thức XII và Kết luận Hội nghị Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các Nghị quyết của Thành ủy, Quận ủy trong từng năm học
Công đoàn phối hợp cùng chính quyền cùng cấp triển khai tuyên truyền có trọng tâm, trọng điểm các ngày lễ lớn, gắn với tuyên truyền cổ động các phong trào thi đua yêu nước Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền phổ biến pháp luật về biên giới, biển đảo, về cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; kết hợp với đẩy mạnh tuyên truyền các cuộc vận động lớn của Ngành Tăng cường tổ chức các hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa”, “Xã hội tự thiện”, thăm hỏi, tặng quà, động viên gia đình cán bộ, nhà giáo, người lao động và gia đình chính sách có hoàn cảnh khó khăn
Công đoàn phối hợp cùng chính quyền cùng cấp thường xuyên kiểm tra,
đôn đốc việc tổ chức thực hiện cụ thể từng cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh
về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
về phong cách quần chúng, dân chủ, nêu gương; nêu cao trách nhiệm gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt, được cụ thể hóa qua thực hiện nội dung “Mỗi thầy, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo” trong toàn ngành, từ đó nâng cao ý thức trách nhiệm của đội ngũ về tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lương tâm nhà giáo, tự học nâng cao trình độ, không ngừng đổi mới, sáng tạo trong các hoạt động giáo dục, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục thành phố theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế
Trang 31Công đoàn phối hợp cùng chính quyền cùng cấp thực hiện tốt phong trào
“Vì Thành phố văn minh –sạch- đẹp –an toàn”, xây dựng và phát huy lối sống
“Mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”; hình thành lối sống có ý thức tôn trọng, tự chủ, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ môi trường, đề cao trách nhiệm cá nhân đối với bản thân, gia đình và xã hội Khẳng định, tôn vinh cái đúng, cái đẹp, tích cực, cao thượng; nhân rộng cái đẹp, nhân văn thông qua các nội dung giáo dục đạo đức, pháp luật, thể chất, quốc phòng an ninh và các giá trị văn hóa truyền thống; giáo dục kỹ năng sống, giáo dục lao động và hướng nghiệp Tổ chức tốt hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước, các ngày chủ điểm trong năm học gắn với phát động các phong trào thi đua yêu nước, nâng cao trách nhiệm, hiệu lực, hiệu quả quản lý của ngành, phòng chống tham nhũng, lãng phí
Công đoàn phối hợp cùng chính quyền cùng cấp tham mưu các giải pháp
chăm lo tốt đời sống vật chất tinh thần, đền ơn đáp nghĩa, quan tâm đến phân phối, điều hòa thu nhập cho nhà giáo và lao động có thu nhập thấp, hoàn cảnh khó khăn không để chênh lệch quá lớn, góp phần làm cho đời sống của đội ngũ trong ngành từng bước được cải thiện Chú trọng tuyên truyền vận động nhà giáo và lao động, học sinh tích cực thực hiện tốt các giải pháp về tiết kiệm, bảo đảm an sinh xã hội, giữ vững an ninh chính trị và an toàn trường học Tiếp tục phối hợp với Hội Khuyến học, Hội Cựu giáo chức và các cơ quan truyền thông
để tuyên truyền, phát huy truyền thống hiếu học, lao động sáng tạo của người Việt Nam Đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng gia đình nhà giáo văn hóa, gia đình hiếu học gắn với xây dựng khu phố văn hóa, gia đình hiếu học tại địa phương Nhà trường và giáo viên là nòng cốt, gương mẫu tham gia phong trào
“Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, văn hóa cơ sở” Phấn đấu không có gia đình nhà giáo nào vi phạm các qui định tại địa phương cư trú, thực hiện tốt nghĩa vụ công dân; nhà trường đạt chuẩn văn minh, sạch đẹp, an toàn Đẩy mạnh việc xây dựng nếp văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội
Trang 32Công đoàn phối hợp cùng chính quyền cùng cấp tổ chức quán triệt và triển khai thực hiện có hiệu quả Quy định về quản lý “Dạy thêm, học thêm”, cuộc vận động “Hai không” nhất là chống bệnh thành tích và không vi phạm đạo đức nhà giáo Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng, đội ngũ cán bộ, Đảng viên ở các trường học và cơ sở giáo dục nhất là nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên mới, hoàn thành mục tiêu nâng tỉ lệ đảng viên đạt 25% trên số cán bộ, giáo viên, nhân viên trong toàn ngành vào năm 2020; thực hiện tốt công tác đánh giá, quy hoạch, điều động, luân chuyển cán bộ quản lý, đoàn thể để tất cả các trường học đều có chi
bộ Đầu tư xây dựng tổ chức Công đoàn, Đoàn, Đội vững mạnh ở các trường ngoài công lập và các trường có yếu tố nước ngoài Đẩy mạnh công tác giáo dục
lý luận chính trị, tập trung thực hiện các chương trình đào tạo, bồi dưỡng, nâng
tỉ lệ cán bộ, giáo viên, trong toàn ngành đạt trình độ lý luận chính trị trung cấp trở lện là 25% Tiếp tục tăng cường thực hiện chuẩn hóa trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ quản lý, đoàn thể, giáo viên các môn khoa học xã hội
Công đoàn thực hiện tốt công tác thông tin cho xã hội, lắng nghe ý kiến xã
hội trên nhiều kênh, chủ động thông tin cho báo chí, báo cáo với Hội đồng nhân dân Thành phố về tình hình giáo dục và xin ý kiến chỉ đạo về hoạt động giáo dục trước các kỳ họp Tăng cường thực hiện có hiệu quả 3 công khai, tổ chức đối thoại giữa lãnh đạo nhà trường với giáo viên, nhân viên và học sinh Tiếp tục phát huy tốt hoạt động của Ban đại diện cha mẹ học sinh, tổ chức Đại hội cha mẹ học sinh đúng quy định và phối hợp với Ban đại diện cha mẹ học sinh, với từng phụ huynh trong việc gắn kết 3 môi trường giáo dục và tăng cường nguồn lực hoạt động của nhà trường [34]
1.3 Nội dung, hình thức công tác tuyên truyền, giáo dục của tổ chức công đoàn
1.3.1 Nội dung 1.3.1.1 Tuyên truyền, giáo dục về pháp luật
Trang 33Theo tài liệu “Đào tại, bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở” của TLĐLĐVN thì nội dung công tác tuyên truyền, giáo dục của tổ chức công đoàn: “phải được tiến hành thường xuyên với nhiều hình thức thiết thực, linh hoạt, phù hợp với từng đối tượng Đặc biệt, trong điều kiện nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh
tế quốc tế, công đoàn cần chú trọng tuyên truyền, phổ biến giáo dục về Bộ luật Lao động, Luật Công đoàn, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế để mọi CNVCLĐ hiểu được quyền, nghĩa vụ của mình trong quan hệ lao động đã được pháp luật quy định, từ đó mọi người tự giác thực hiện tốt nghĩa vụ của mình và
tự bảo vệ mình trước pháp luật” [41, tr.104]
1.3.1.2 Tuyên truyền, giáo dục nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn nghề nghiệp cho công nhân, viên chức, lao động
“Trong điều kiện nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, cạnh tranh ngày càng gay gắt, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn nghề nghiệp cho CNVCLĐ là nhằm nâng cao chất lượng, giá trị sức lao động và để đảm bảo việc làm, thu nhập ổn định, tạo cơ hội phát triển Tuyên truyền, vận động CNVCLĐ không ngừng học tập, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, ngoại ngữ, tin học, kiến thức pháp luật, nhanh chóng tiếp thu
và làm chủ khoa học, công nghệ hiện đại, góp phần nâng cao năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả sản xuất- kinh doanh
Từ nhận thức trên, công đoàn cần tham gia phối hợp chặt chẽ với chuyên môn và các ngành chức năng trong việc tổ chức tuyên truyền, vận động, tạo mọi điều kiện cho CNVCLĐ được học tập, nâng cao trình độ, chuyên môn, nghề nghiệp Đặc biệt, quan tâm xây dựng thế hệ công nhân trẻ có học vấn, chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp cao, ngang tầm khu vực và quốc tế Tổ chức, nâng cao hiệu quả phong trào luyện tay nghề, thi thợ giỏi, phát huy sáng kiến, sáng tạo trong quá trình lao động sản xuất, công tác của CNVCLĐ” [41, tr.105]
1.3.1.3 Tuyên truyền, giáo dục truyền thống cách mạng của giai cấp công nhân, dân tộc Việt Nam
Trang 34“Công đoàn tuyên truyền, giáo dục CNVCLĐ về lịch sử đấu tranh anh dũng và truyền thống cách mạng của giai cấp công nhân, tổ chức công đoàn và của dân tộc Việt Nam; về vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam và những đóng góp của giai cấp công nhân vào sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
Thông qua việc tuyên truyền, giáo dục CNVCLĐ về những giá trị văn hóa, truyền thống yêu nước, đạo đức cách mạng của giai cấp công nhân, của dân tộc Việt Nam; khẳng định giai cấp công nhân là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tuyên truyền về tinh thần yêu nước nồng nàn của dân tộc ta, gắn liền với truyền thống lao động cần cù, sáng tạo, tinh thần tương thân, tương ái, đạo lý uống nước, nhớ nguồn của dân tộc Việt Nam và tinh thần đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, đấu tranh phòng chống
tệ quan liêu, tham nhũng và các tệ nạn xã hội, góp phần xây dựng giai cấp công nhân, tổ chức công đoàn ngày càng vững mạnh” [41, tr.106]
1.3.1.4 Tuyên truyền, giáo dục lối sống văn hóa, kỹ luật lao động và tác phong công nghiệp
“Công đoàn tuyên truyền, giáo dục lối sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật nhằm giữ vững trật tự, kỷ cương, chấp hành nghiêm nội quy, quy định,
kỷ luật lao động, xây dựng tác phong công nghiệp trong CNVCLĐ Xây dựng
và thực hiện nghiêm quy chế dân chủ cơ sở, chống chủ nghĩa cá nhân
Đẩy mạnh công tác giáo dục, học tập, bồi dưỡng CNVCLĐ về nâng cao trình độ chính trị, ý thức giai cấp, tinh thần dân tộc, gắn bó thiết tha với sự nghiệp của Đảng, của dân tộc; ý chí vươn lên thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, có tinh thần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, quyết tâm chiến thắng trong cạnh tranh,
có tinh thần đấu tranh xây dựng, rèn luyện tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động
Công đoàn tuyên truyền về vai trò của việc xây dựng đời sống văn hóa trong CNVCLĐ đối với việc xây dựng giai cấp công nhân, xây dựng đơn vị, doanh
Trang 35nghiệp phát triển Tuyên truyền, vận động CNVCLĐ tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, xây dựng lối sống lành mạnh, rèn luyện sức khỏe, có kỹ năng sống, phòng chống HIV/AIDS, ma túy và các tệ nạn xã hội Tuyên truyền về trách nhiệm, nghĩa vụ của CNVCLĐ trong việc chấp hành nội quy, quy định, kỷ luật lao động của đơn vị, doanh nghiệp; giáo dục về tác phong công nghệp cho CNVCLĐ” [41, tr.107]
1.3.1.5 Giáo dục thẩm mỹ, thể chất
Công đoàn tuyên truyền, giáo dục thẩm mỹ, thể chất hướng vào việc giáo dục nâng cao năng lực, nhận thức thẩm mỹ, năng lực sáng tạo và cảm thụ văn hóa nghệ thuật của CNVCLĐ
Xây dựng mối quan hệ thẩm mỹ đúng đắn, lành mạnh, tiến bộ của người lao động trong lao động sản xuất, công tác cũng như trong cuộc sống, mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với tập thể xả hội, tạo môi trường lao động, công tác than thiện, hài hòa, với phương châm mình vì mọi người, mọi người vì mình
Công đoàn cần quan tâm tuyên truyền, hướng dẫn CNVCLĐ đẩy mạnh các hoat động văn hóa, thể dục thể thao, rèn luyên nâng cấp thể chất, làm cho mỗi CNVCLĐ phát triển cả về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tình thần, trong sáng về đạo đức [41, tr.108]
1.3.2 Hình thức 1.3.2.1 Tuyên truyền miệng
Theo tài liệu “Đào tại, bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở” của TLĐLĐVN thì hình thức tuyền truyền miệng là “hình thức tuyên truyền mà người nói trực tiếp nói với người nghe về những lĩnh vực, vấn đề cần tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức, kiến thức cho người nghe, hướng người nghe hành động theo các chuẩn mực
Tuyên truyền miệng là một công đoạn không thể thiếu trong phần lớn các hình thức tuyên truyền, chủ yếu được thức hiện thông qua hội nghị, hội thảo, tập
Trang 36huấn, sinh hoạt câu lạc bộ; là hình thức tuyên truyền linh hoạt, có nhiều ưu thế,
có thể tiến hành ở bất cứ nơi nào, trong bất kì điều kiện, hoàn cảnh nào với số lượng người nghe không bị hạn chế Khi thực hiện việc tuyên truyền miệng, người nói có điều kiện thuận lợi để giải thích, phân tích, sáng tỏ nội dung cần tuyên truyền
Để thực hiện tốt buổi tuyên truyền miệng, cán bộ công đoàn phải chuẩn bị tài liệu, làm đề cương, viết bài cẩn thận Trong khi tuyên truyền miệng, cần sử dụng các hình ảnh minh họa có giá trị để lôi cuốn người nghe, có thể vận dụng văn học nghệ thuật cho bài nói đỡ khô cứng, Cán bộ tuyên truyền cần rèn luyện cho mình cách biểu cảm trong giọng nói, nét mặt, ánh mắt, cử chỉ Đồng thời, cần rèn luyện khả năng nắm bắt tâm lý người nghe, cách đặt câu hỏi cho người nghe vừa để đánh giá mức độ tiếp thu, vừa để người nghe tập trung Bên cạnh tính sinh động của văn nói, cần chú ý tính chính xác của các từ ngữ, thuật ngữ chuyên ngành” [41, tr.108]
1.3.2.2 Tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng
“Báo chí và các thông tin đại chúng là công cụ, phương tiện hữu hiệu để công nhân, viên chức, lao động dễ dàng tiếp thu, nắm bắt, tìm hiểu, nâng cao nhận thức, kiến thức Báo chí góp phần phản ánh thực tiễn, tình hình đất nước, ngành, đại phương, đơn vị, biểu dương người tốt, việc tốt, lên án, phê phán những biểu hiện tiêu cực, những hành vi vi phạm pháp luật trong xã hội
So với các hình thức tuyên truyền, giáo dục khác thì tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng có lợi thế là có đông đảo bạn đọc, khán thính giả trong và ngoài nước
Báo chí có nhiều loại: Báo in, tạp chí, bản tin, báo nói, bao hình, báo điện
tử Trong mỗi loại hình đó lại có rất nhiều cách thể hiện như: Tin bài, tọa đàm, diễn đàn, truyên ngắn, tiểu phẩm, phim truyền hình, phim tài liệu” [41, tr.109]
1.3.2.3 Tuyên truyền thông qua tài liệu và công cụ trực quan
Trang 37“Đây là hình thức tuyên truyền, giáo dục được sử dụng thường xuyên tại cơ
sở Tài liệu tuyên truyền được thể hiện dưới nhiều dạng: Đề cương tuyên truyền,
sổ tay, tài liệu bỏ túi, tờ gấp, pano, bảng tin, áp phích, đĩa CD, VCD… Thông qua các tài liệu tuyên truyền CNVCLĐ có thể tận dụng thời gian để tìm hiểu về các vấn đề cần tuyên truyền mọi lúc mọi nơi
Việc biên soạn và phát hành tài liệu tuyên truyền cho CNVCLĐ cần phù hợp với trình độ, nhu cầu, quỹ thời gian của CNVCLĐ Ví dụ: Tờ gấp có thể dung phát đại trà cho CNVCLĐ trong quá trình tuyên truyền miệng Tài liệu bỏ túi có thể chuyển tới từng tổ, chuyền sản xuất để người lao động tranh thủ đọc những lúc rảnh rỗi Thiết bị CD/DVD… có thể dung cho hệ thống loa truyền thanh nội
bộ vào giờ nghỉ giữa ca, nghỉ ăn trưa hay trên xe đưa đón công nhân, lao động, pano, khẩu hiệu, tranh cổ động, bảng tin là những phương tiện tuyên truyền mang tính trực quan sinh động, thông qua hình ảnh để CNVCLĐ nắm bắt nội dung [41, tr.110]
1.3.2.5 Tuyên truyền, giáo dục thông qua các cuộc thi tìm hiểu
“Các cuộc thi tìm hiều về pháp luật, truyền thống quê hương, đất nước, ngành, đơn vị… là một trong những hình thức tuyên truyền giáo dục nhằm
Trang 38chuyển tải những nội dung tuyên truyền một cách trực quan, hiệu quả đến CNVCLĐ
Thi tìm hiểu có ưu thế là mở rộng được phạm vi, đối tượng tuyên truyền (bao gồm cả người dự thi và người theo dõi cuộc thi) phát huy được tinh tích cực, chủ động của đối tượng dự thi và giúp họ nhận thức sâu sắc hơn nội dung cần tìm hiểu, từ đó nâng cao nhận thức, kiến thức cho họ
Thi tìm hiểu có thể sử dụng nhiều loại phương tiện thông tin đại chúng, bằng nhiều hình thức khác nhau, do đó có thể tổ chức được ở nhiều nơi, nhiều lúc, nhiều đơn vị với nhiều mức độ khác nhau tùy theo yêu cầu và tình hình thực tế, đặc điểm cụ thể
Thông qua các hình thức thi, những nội dung tuyên truyền được chuyển tải đến các đối tượng một cách đơn giản, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, sinh động, làm cho đối tượng tiếp nhận các vấn đề tuyên truyền một cách thoải mái và hoàn toàn chủ động
Một số hình thức thi phổ biến hiện nay: thi nói (thi vấn đáp, thuyết trình, sân khấu) thi viết, thi trắc nghiệm, thi trên mạng internet” [41, tr.112]
1.3.2.6 Tuyên truyền, giáo dục thông qua các hoạt động xây dựng đời sống văn hóa cơ sở
“Lồng ghép nội dung tuyên truyền vào các hoạt động văn hóa truyền thống
sẽ mềm mại, không khô khan, cứng nhắc, sẽ dễ hiểu, dễ nhớ, có độ thẩm thấu cao Bên cạnh đó, sinh hoạt văn hóa cộng đồng sẽ thu hút đông đảo các đối tượng tham gia
Các hoạt động xây dựng đời sống văn hóa cơ sở có thể lồng ghép nội dung tuyên truyền như: sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, hái hóa dân chủ, sinh hoạt nhà văn hóa, câu lạc bộ công đoàn, xây dựng tủ sách, túi sách, giỏ sách chinh trị, xã hội, pháp luật cho người lao động” [41, tr.112]
1.3.2.7 Tuyên truyền, giáo dục qua hệ thống loa truyền thanh cơ sở
Trang 39“Đây là phương thức truyền tải những vấn đề tuyên truyền liên quan thiết thực đến đời sống hàng ngày của người lao động, đoàn viên CĐCS; những sự việc, con người được phản ánh trong thực tiễn thi hành pháp luật là những sự việc, con người có thật tại địa phương, đơn vị; những băn khoăn, thắc mắc của người lao động, đoàn viên ở công đoàn cơ sở về chính sách, pháp luật sẽ được giải đáp kịp thời
Ưu điểm của hình thức này là hoàn toàn chủ động về thời gian và lựa chọn nội dung, thu hút đông đảo người nghe, có thể thực hiện phát thanh nhiều lần, tiết kiệm được thời gian, công sức và chi phí” [41, tr.113]
Nội dung, hình thức công tác tuyên truyền, giáo dục của tổ chức công đoàn phải đa dạng, phong phú, tiện lợi, phù hợp với từng đối tượng, từng đơn vị với nhiều trình độ khác nhau, sao cho những thông tin truyền tải được mọi người dễ dàng năm bắt, hiểu được, làm được, biến những hiểu biết, nhận thức của họ thành hành động thực tiễn phù hợp với mục tiêu phát triển chung của xã hội, của ngành, của đơn vị
Kết luận chương 1
Công đoàn là một tổ chức chính trị xã hội được quy định trong Hiến pháp, Luật Công đoàn và trong các văn bản quy phạm pháp luật khác của nước ta Công đoàn có vai trò vô cùng quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị trong từng tổ chức, cơ quan, đơn vị Vai trò công đoàn trong công tác giáo dục chính trị tư tưởng đó chính là sự phối hợp cùng chính quyền, tham mưu cùng cấp ủy, tổ chức các phong trào thi đua, tuyên truyền, giáo dục, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các Nghị quyết, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, của tổ chức công đoàn, các cuộc vận động lớn của ngành, các hoạt động xã hội, từ thiện
CBCĐ là hạt nhân, là nòng cốt, là người tổ chức và thực hiện công tác công đoàn tại cơ sở Cán bộ công đoàn là người được bầu trong Đại hội, Hội nghị
Trang 40công đòan, vừa thực hiện công tác chuyên môn vừa kiêm nhiệm công tác công đoàn CBCĐ tại cơ sở không được đào tạo bài bản về trình độ chính trị, nghiệp
vụ công công đoàn
Tuyên truyền, giáo dục là một nhiệm vụ quan trọng, một việc làm thường xuyên của tổ chức công đoàn Giáo dục chính trị tư tưởng chính là phổ biến, tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ công đoàn trong ngành giáo dục những kiến thức, những hiểu biết cơ bản về chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, nâng cao lập trường giai cấp, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động, phát huy những giá trị cao đẹp, truyền thống văn hoá dân tộc và tiếp thu những thành tựu tiên tiến của văn minh nhân loại góp phần xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc Việt Nam
Từ các nội dung đã được trình bày trong chương 1 tác giả đã giúp cho chúng ta có những khái niệm, cơ sở lý luận khoa học về công đoàn, về chính trị,
tư tưởng, về cán bộ công đoàn, về vai trò công đoàn công tác giáo dục chính trị
tư tưởng trong ngành giáo dục, nội dung và hình thức tuyên truyền, giáo dục trong tổ chức công đoàn về công tác giáo dục chính trị tư tưởng Từ đó làm cơ
sở để tác giả nghiên cứu thực tế về vai trò của công đoàn trong công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho đội ngũ cán bộ Ngành Giáo dục Quận 6 một cách khoa học, chính xác