1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dạy học văn bản nhật dụng ở trường trung học phổ thông theo phương pháp dạy học dự án

135 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Dạy học văn bản nhật dụng ở trường trung học phổ thông theo phương pháp dạy học dự án
Tác giả Nguyễn Thị Thúy Hằng
Người hướng dẫn PGS.TS. Đinh Trí Dũng
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Ngữ văn
Thể loại Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Năm xuất bản 2017
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là một kiểu loại văn bản mới về nội dung cũng như cách tiếp cận, đòi hỏi người giáo viên cần phải tìm ra các phương pháp dạy học thật sự hiệu quả để giúp học sinh chiếm lĩnh và nhận

Trang 1

NGUYỄN THỊ THÚY HẰNG

DẠY HỌC VĂN BẢN NHẬT DỤNG

Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC DỰ ÁN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGHỆ AN - 2017

Trang 2

NGUYỄN THỊ THÚY HẰNG

DẠY HỌC VĂN BẢN NHẬT DỤNG

Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC DỰ ÁN

Chuyên ngành: Lý luận và PPDH bộ môn Ngữ văn

Mã số: 60.14.01.11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS ĐINH TRÍ DŨNG

NGHỆ AN - 2017

Trang 3

giúp đỡ để hoàn thành luận văn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với PGS.TS Đinh Trí Dũng,

người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn và các học viên K23 Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Ngữ văn đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, người thân

đã động viên tôi trong suốt thời gian qua!

Nghệ An, tháng 8 năm 2017

Tác giả

Nguyễn Thị Thúy Hằng

Trang 5

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 4

4 Mục đích nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Đóng góp của luận văn 5

7 Cấu trúc của luận văn 5

Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 6

1.1 Khái niệm văn bản nhật dụng và hệ thống văn bản nhật dụng trong nhà trường phổ thông 6

1.1.1 Định nghĩa 6

1.1.2 Văn bản nhật dụng ở trung học phổ thông 8

1.2 Phương pháp dạy học dự án 11

1.2.1 Khái niệm 11

1.2.2 Đặc điểm của phương pháp dạy học dự án 11

1.2.3 Ưu điểm và nhược điểm của dạy học dự án 15

1.2.4 Các bước thực hiện một dự án học tập 15

1.2.5 Khả năng áp dụng phương pháp dự án trong dạy học văn bản nhật dụng ở trường trung học phổ thông 16

1.2.6 Những lưu ý khi thực hiện phương pháp dạy học dự án trong dạy học văn bản nhật dụng 17

1.3 Thực trạng của việc dạy học văn bản nhật dụng ở trung học phổ thông hiện nay 18

1.3.1 Kinh nghiệm giảng dạy của giáo viên 18

1.3.2 Thái độ học tập của học sinh 19

Trang 6

1.3.5 Một vài số liệu điều tra 21

1.3.6 Nhận xét chung 25

Tiểu kết chương 1 26

Chương 2 CÁC NGUYÊN TẮC VÀ BIỆN PHÁP DẠY HỌC VĂN BẢN NHẬT DỤNG Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC DỰ ÁN 28

2.1 Các nguyên tắc dạy học văn bản nhật dụng ở trường trung học phổ thông theo phương pháp dạy học dự án 28

2.1.1 Nguyên tắc gắn kết các vấn đề từ văn bản với cuộc sống đương đại 28

2.1.2 Nguyên tắc tích hợp 32

2.1.3 Nguyên tắc phát huy tính tích cực của học sinh 36

2.2 Biện pháp dạy học văn bản nhật dụng ở trường trung học phổ thông theo phương pháp dạy học dự án 40

2.2.1 Sáng tạo các tình huống để tổ chức dạy học 40

2.2.2 Dạy học theo chủ đề tích hợp liên môn 43

2.2.3 Tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo 49

2.3 Quy trình dạy học văn bản nhật dụng ở trường trung học phổ thông theo phương pháp dạy học dự án 54

Tiểu kết chương 2 57

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 58

3.1 Mục đích, nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 58

3.1.1 Mục đích thực nghiệm 58

3.1.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 58

3.2 Thiết kế giáo án thực nghiêm 58

3.2.1 Thiết kế giáo án bài: Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS 1- 12- 2003 58

Trang 7

3.3.1 Nội dung thực nghiệm 93

3.3.2 Kết luận thực nghiệm 94

Tiểu kết chương 3 95

KẾT LUẬN 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 PHỤ LỤC

Trang 8

Bảng 3.2 Phiếu 2: Phiếu đánh giá hợp tác nhóm 63Bảng 3.3 Phiếu 3: Phiếu đánh giá các thành viên trong nhóm đối với

nhóm mình 64Bảng 3.4 Phiếu 4: Phiếu đánh giá thảo luận 64Bảng 3.5 Phiếu 5: Phản hồi của HS về phương pháp DHDA 65Bảng 3.6 Phiếu 6: Phản hồi về mong muốn của HS tiếp tục học theo

phương pháp DHDA 66Bảng 3.7 Phiếu 7: Phản hồi về những khó khăn khi thực hiện phương pháp

DHDA 66Bảng 3.8 Kết quả học tập của HS ớp thực nghiệm và lớp đối chứng 94Bảng 3.9 Mức độ thực nghiệm của HS lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 94

Trang 9

là đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá, đây là khâu then chốt có vai trò quyết định chất lượng giáo dục hiện nay Việc chuyển vai trò trung tâm của hoạt động dạy học từ giáo viên sang học sinh chính là cốt lõi việc đổi mới hình thức tổ chức và quá trình dạy học mà chúng ta đang hướng đến

Nghị quyết 29 của Hội nghị TW 8 (khóa XI) về đổi mới căn bản tòa diện giáo dục đào tạo đã khẳng định: “Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất và năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời”

1.2 Chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn hiện hành có sự góp mặt khá nhiều các loại văn bản, bên cạnh các văn bản hư cấu còn có các văn bản phi

hư cấu Sự có mặt của những văn bản này trong sách giáo khoa góp phần làm phong phú thêm số lượng và kiểu loại, đồng thời nó còn giúp học sinh được lĩnh hội thêm nhiều kiến thức về đời sống, xã hội, đạo đức, những vấn đề mà cả nhân loại đang quan tâm, văn bản nhật dụng là một trong những kiểu văn bản như thế Đây là một kiểu loại văn bản mới về nội dung cũng như cách tiếp cận, đòi hỏi người giáo viên cần phải tìm ra các phương pháp dạy học thật sự hiệu quả để giúp học sinh chiếm lĩnh và nhận thức về các vấn đề đặt ra trong đó

Trang 10

1.3 Hiện nay ở trường THCS cũng như THPT việc dạy học văn bản nhật dụng đang còn nhiều tồn tại, giáo viên vẫn còn lúng túng trong việc tìm ra hướng tiếp cận thật hiệu quả kiểu văn bản này Điều này vô hình trung đã làm mất đi thế mạnh của văn bản nhật dụng cũng như mục đích của những nhà biên soạn chương trình và sách giáo khoa Đây chính là một trong những lí do để chúng tôi lựa chọn đề tài này để nghiên cứu, không có tham vọng là đưa ra được một giải pháp thật sự tối ưu mà chủ yếu là phần nào nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc mà những người trực tiếp đứng lớp gặp phải

1.4 Dạy học dự án là một phương pháp dạy học khá mới với nhiều giáo viên, đây là một hình thức học tập giúp học sinh tăng cường tính tích cực, chủ động trong việc lĩnh hội, chiếm lĩnh tri thức, khả năng tự học, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Dạy học văn bản nhật dụng theo hình thức dạy học dự án là một hướng tiếp cận vừa đáp ứng yêu cầu việc đổi mới phương pháp vừa khai thác được tiềm năng của kiểu loại văn bản này

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu cũng như những định hướng phương pháp để giúp giáo viên có một hướng tiếp cận văn bản nhật dụng thật sự hiệu quả Theo chúng tôi được biết, hiện nay mới chỉ có một số sách giáo khoa ở THCS và THPT có bàn đến khái niệm này, song vẫn chưa đưa đến một khái niệm và cách hiểu thật là đầy đủ, chính xác về loại văn bản này Đó là các bài học cụ thể trong sách giáo khoa như: SGK Ngữ văn 6

(2002) viết: “Văn bản nhật dụng không phải là một khái niệm chỉ thể loại hoặc

kiểu văn bản Nói đến văn bản nhật dụng trước hết là nói đến tính chất của nội dung văn bản Đó là các bài viết có nội dung gần gũi, bức thiết với cuộc sống trước mắt của con người và cộng đồng trong xã hội hiện đại như: thiên nhiên, môi trường, năng lượng, dân số, quyền trẻ em, ma túy… Văn bản nhật dụng có thể dung tất cả các thể loại cũng như kiểu văn bản” SGK Ngữ văn 9 (2007)

cũng viết trong bài “Tổng kết văn bản nhật dụng” như sau: “Khái niệm văn bản

Trang 11

nhật dụng không phải là khái niệm thể loại, cũng không chỉ kiểu văn bản Nó chỉ

đề cập đến chức năng, đề tài và tính cập nhật của nội dung văn bản mà thôi”

SGK Ngữ văn 12 (Nâng cao) ở phần tri thức đọc hiểu cũng có viết: “Văn bản

nhật dụng không phải là một khái niệm chỉ thể loại văn học hoặc kiểu văn bản Nói đến loại văn bản này người ta thường xuất phát từ góc độ chức năng, đề tài

và tính cập nhật của nội dung được đề cập Cho nên, nói văn bản nhật dụng là nói tính chất của nội dung văn bản Đó là những vấn đề gần gũi và bức xúc của đời sống hiện tại như chống chiến tranh, gìn giữ hòa bình, bảo vệ môi trường, phòng chống tệ nạn xã hội (ma túy, mại dâm, ngược đãi phụ nữ, đại dịch HIV/AIDS, tham nhũng…), thực hiện bình đẳng giới, hạn chế gia tăng dân số, đổi mới tư duy,…”

Tác giả Lê Thời Tân, Nguyễn Đức Can trong bài “Xung quanh việc đặt vấn đề “văn bản nhật dụng” và phần tri thức đọc - hiểu văn bản nhật dụng Ngữ

văn 12” đăng trên Tạp chí Khoa học giáo dục ĐHQG Hà Nội, Nghiên cứu giáo

dục tập 32, số 1 (2016) cũng bàn về vấn đề khái niệm văn bản nhật dụng Theo

hai tác giả thì khái niệm văn bản nhật dụng mà sách giáo khoa đang nói đến hiện nay còn nhiều bất cập và chưa thỏa đáng Vì vậy, các tác giả cũng đã có những trao đổi xung quanh khái niệm này

Về việc dạy văn bản nhật dụng ở trường THCS và THPT, luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Trọng Phú (2013) cũng đã nói đến các nguyên tắc, biện pháp dạy học văn bản nhật dụng, đây cũng có thể coi là những gợi ý khá hữu ích cho người dạy khi hướng dẫn học sinh tiếp cận loại văn bản này ở cả hai cấp học

Dạy học dự án là một trong những phương pháp dạy học tích cực đã được

sử dụng khá nhiều khi dạy học các môn khoa học tự nhiên song chỉ dừng lại là những đề tài luận văn, chưa có một công trình nào nghiên cứu thật bài bản và có tính định hướng cho GV khi dạy học, còn các môn khoa học xã hội nói chung và

bộ môn Ngữ văn nói riêng thì những đề tài có vận dụng phương pháp này vẫn rất khiêm tốn, đặc biệt là dạy học VBND Cho đến nay chưa có một đề tài hay

Trang 12

công trình nghiên cứu nào nói về việc sử dụng phương pháp dạy học dự án khi dạy học văn bản nhật dụng ở THCS và THPT thật bài bản để GV có thể vận dụng vào quá trình lên lớp Đây chính là một trong những tồn tại của việc nghiên cứu và giảng dạy văn bản nhật dụng hiện nay

Như vậy, qua việc tìm hiểu lịch sử vấn đề có thể thấy một thực trạng đó là cho đến nay việc nghiên cứu về phương pháp dạy học văn bản nhật dụng đặc biệt là việc sử dụng phương pháp dạy học dự án trong dạy học vẫn còn khiêm tốn, chưa được quan tâm một cách thỏa đáng, các tài liệu mặc dù có viết nhưng cũng chỉ là những trao đổi chứ chưa có những chỉ dẫn thật cụ thể giúp giáo viên khỏi lúng túng, đối phó khi dạy loại văn bản này ở THCS và THPT Vì vậy, với

đề tài này, chúng tôi hy vọng có thể có những gợi ý hữu ích cho người giáo viên khi thực hiện hoạt động dạy học mà đối tượng chiếm lĩnh là văn bản nhật dụng

3 Đối tƣợng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là vấn đề phương pháp dạy học

dự án khi dạy học văn bản nhật dụng ở trường trung học phổ thông

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về việc dạy học văn bản nhật dụng ở trường trung học phổ thông theo phương pháp dạy học dự án

- Đề xuất những nội dung, phương pháp chủ yếu để dạy học văn bản nhật dụng ở THPT theo phương pháp dạy học dự án

- Thiết kế giáo án thử nghiệm và thực nghiệm sư phạm dạy học văn bản nhật dụng ở THPT trên địa bàn một số trường THPT trong tỉnh Hà Tĩnh

3.3 Phạm vi nghiên cứu, khảo sát

Phạm vi tài liệu khảo sát của luận văn là hoạt động dạy học văn bản nhật dụng ở một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh Chúng tôi cũng khảo sát các loại sách sử dụng chủ yếu trong nhà trường như: sách giáo khoa, sách giáo viên, hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng từ l0 đến lớp 12, các tài liệu

Trang 13

về dạy học dự án Để có cái nhìn đầy đủ và khoa học, chúng tôi cũng tìm hiểu thêm các tài liệu viết về việc đổi mới phương pháp dạy học bộ môn Ngữ văn nói chung và các văn bản văn học nói riêng

4 Mục đích nghiên cứu

Luận văn nhằm mục đích đề xuất một hướng tiếp cận dạy học VBND theo quan điểm dạy học tích cực, lấy học sinh làm trung tâm, trên quan điểm bồi dưỡng và phát triển

5 Phương pháp nghiên cứu

Xuất phát từ đối tượng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu, luận văn được tiến hành với các phương pháp chủ yếu sau:

5.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Phương pháp so sánh - đối chiếu

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra - phỏng vấn

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học, ứng dụng các phương pháp dạy học hiện đại để tiếp cận các văn bản nhật dụng ở trường THPT theo quan điểm lấy học sinh làm trung tâm của hoạt động dạy học

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Nguyên tắc, phương pháp dạy học văn bản nhật dụng ở THCS

và THPT theo phương pháp dạy học dự án

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Khái niệm văn bản nhật dụng và hệ thống văn bản nhật dụng trong nhà trường phổ thông

1.1.1 Định nghĩa

Đến nay chưa có một định nghĩa thật thống nhất, đầy đủ, thấu đáo về VBND của các loại sách như: sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, sách giáo viên Tuy nhiên khi dạy văn bản nhật dụng thì có một số khái niệm sau đây cần chú ý:

Sách giáo khoa Ngữ văn 6, tập 2 có viết: “Văn bản nhật dụng không phải

là mọt khái niệm chỉ thể loại, hoặc kiểu loại văn bản Nói đến văn bản nhật dụng trước hết là nói đến tính chất của nội dung văn bản Đó là những bài viết

có nội dung gần gũi, bức thiết đối với cuộc sống trước mắt của con người và cộng đồng xã hội hiện đại như: thiên nhiên, môi trường, năng lượng, dân số, quyền trẻ em, ma túy… Văn bản nhật dụng có thể dung tất cả các thể loại cũng như các kiểu văn bản” [4]

Sách giáo viên Ngữ văn 7 tập 1 chỉ ra: “Nếu các văn bản văn chương

nghệ thuật lấy hình thức (kiểu văn bản và thể loại) làm tiêu chí lựa chọn, thì văn bản nhật dụng được lựa chọn theo tiêu chí nội dung như đã nêu Chính vì thế văn bản nhật dụng có thể thuộc bất cứ kiểu văn bản hoặc bất cứ thể thể loại nào” [24, 114]

“Khái niệm văn bản nhật dụng không phải là khái niệm thể loại, cũng

không chỉ kiểu văn bản nó đề cập đến chức năng, đề tài và tính cập nhật của nội dung văn bản mà thôi” [10, 94]

“Văn bản nhật dụng không phải là khái niệm thể loại, không chỉ kiểu văn bản (hay nói cách khác, văn bản nhật dụng có thể sử dụng mọi thể loại, mọi kiểu loại văn bản) Nó chỉ đề cập tới chức năng, đề tài và tính cập nhật của nội dung văn bản mà thôi” [38]

Trang 15

Văn bản nhật dụng cũng giống các tác phẩm văn học, nó thường không chỉ dùng một phương thức biểu đạt mà kết hợp nhiều phương thức biểu đạt” [38]

Sách giáo khoa Ngữ văn 12 (Nâng cao tập 2), trong phần tri thức đọc-

hiểu cũng chỉ ra như sau: “Văn bản nhật dụng không phải là một khái niệm chỉ

thể loại văn học hoặc kiểu văn bản Nói đến loại văn bản này người ta thường xuất phát từ góc độ chức năng, đề tài và tính cập nhật của nội dung được đề cập Cho nên, nói văn bản nhật dụng là nói tính chất của nội dung văn bản Đó

là những vấn đề gần gũi và bức xúc của đời sống hiện tại như chống chiến tranh, gìn giữ hòa bình, bảo vệ môi trường, phòng chống tệ nạn xã hội (ma túy, mại dâm, ngược đãi phụ nữ, đại dịch HIV/AIDS, tham nhũng…), thực hiện bình đẳng giới, hạn chế gia tăng dân số, đổi mới tư duy” [22]

Từ những nhận định trên về khái niệm văn bản nhật dụng, chúng ta có thể thấy rằng, vì đây là một khái niệm khá mới, cùng với đó là nội dung, kiểu loại của nó rất phong phú phức tạp nên vẫn chưa có một khái niệm thật thống nhất về văn bản nhật dụng cũng như định hướng cách dạy văn bản nhật dụng ở trường THPT hiện nay Chính vì vậy, giáo viên lên lớp thật sự lúng túng, bị động khi hướng dẫn học học sinh tiếp cận văn bản nhật dụng có mặt trong chương trình

Khi nói về khái niệm văn bản nhật dụng tôi hoàn toàn đồng ý với tác giả

Nguyễn Trọng Phú như sau: “Văn bản nhât dụng là một khái niệm có tính chất

quy ước đề chỉ một loại văn bản mà nội dung của nó thể hiện những vấn đề cấp thiết của đời sống đương đại liên quan đến đời sống của một cộng đồng, một dân tộc, của cả thế giới Văn bản nhật dụng có thể thuộc nhiều thể loại khác nhau Người ta gọi một văn bản là văn bản nhật dụng còn căn cứ vào tính chất, yêu cầu của người soạn sách muốn học nó như một văn bản nhật dụng, có nghĩa

là với văn bản này việc dạy học phải đi theo một hướng riêng Văn bản nhật dụng có thể là văn bản mới được viết ra gần đây nhưng cũng có thể là văn bản được viết ra từ rất lâu nhưng nhưng những vấn đề đặt ra trong đó vẫn còn có ý nghĩa thời sự” [70,7]

Trang 16

1.1.2 Văn bản nhật dụng ở trung học phổ thông

1.1.2.1 Hệ thống văn bản nhật dụng ở trường THPT

Số lượng VBND có mặt trong chương trình THPT không nhiều Trong

hai bộ sách Ngữ văn Cơ bản và Ngữ văn Nâng cao gồm có các văn bản sau:

- Về luân lí xã hội ở nước ta (Trích Đạo đức và luân lí Đông Tây - Phan

- Tư duy hệ thống, nguồn sức sống mới của đổi mới tư duy (Trích Một góc

nhìn của tư duy- Phan Đình Diệu)

Tất cả những văn bản trên chủ yếu nằm trong sách giáo khoa Ngữ văn 12,

chỉ có văn bản Về luân lí xã hội ở nước ta (Trích Đạo đức và luân lí Đông Tây -

Phan Châu Trinh) là ở sách giáo khoa Ngữ văn 11

Như vậy, có thể thấy rằng nhìn vào hệ thống văn bản nhật dụng ở trường THPT (qua hai bộ sách Cơ Bản và Nâng cao) chúng tôi có một số nhận xét như sau:

- Số lượng văn bản nhật dụng đưa vào giảng dạy trong Chương trình Ngữ văn THPT không nhiều, sự sắp xếp không liên tục giữa THCS và THPT.Trong Chương trình Ngữ văn THPT văn bản nhật dụng nằm chủ yếu là ở lớp 12, lớp

11 chỉ có một văn bản, lớp 10 không học văn bản nào Có thể đây là ý đồ của những nhà soạn sách song theo chúng tôi thấy thì việc sắp xếp, bố trí các văn bản nhật dụng trong chương trình Ngữ văn THPT hiện nay chưa thật hợp lí, đó

là thiếu tính hệ thống, tiếp nối giữa các cấp học và lớp học làm cho quá trình nhận thức của học sinh về văn bản nhật dụng bị gián đoạn, thiếu logic và hệ thống Không chỉ như thế, như trên đã nói trong khi hệ thống tài liệu tham khảo, những chỉ đạo chuyên môn chưa thật cụ thể và thống nhất thì đây cũng là một

Trang 17

trong những khó khăn mà người đứng lớp gặp phải khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu văn bản nhật dụng có mặt trong chương trình

- Các văn bản trên thuộc các hình thức khác nhau, gồm các thể loại sau: diễn thuyết, thông điệp, tiểu luận khoa học

- Các vấn đề đặt ra trong các văn bản ở sách giáo khoa chương trình Ngữ văn ngày càng khó hơn, đòi hỏi sự nhận thức cao hơn, tổng hợp và trừu tượng hơn ở học sinh về các vấn đề đang đặt ra trong văn bản, ví dụ như vấn đề về đại dịch thế kỉ HIV/AIDS, con đường phát huy và bảo tồn bản sắc văn hóa Việt Nam trong thời kì hội nhập, đổi mới tư duy trong bối cảnh hội nhập kinh tế và

xu hướng toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng… Đây chính là một trong những khó khăn của người giáo viên đứng lớp khi hướng dẫn học sinh tiếp cận những văn bản này

1.1.2.2 Tính chất, nội dung của các văn bản được dạy học trong chương trình Ngữ văn THPT

- Các văn bản trong SGK Ngữ văn lớp 11

Về luân lí xã hội ở nước ta (Trích Đạo đức và luân lí Đông Tây của Phan

Châu Trinh) được tác giả diễn thuyết vào đêm 19-11- 1925 tại Hội Thanh niên ở Sài Gòn Nội dung đoạn trích toát lên dũng khí của một người yêu nước dám vạch trần thực trạng đen tối của xã hội và đề cao tư tưởng dân chủ Tác giả khẳng định việc truyền bá luân lí xã hội là hết sức cấp thiết và quan trọng để khôi phục ý thức của dân chúng về nghĩa vụ đối với quốc gia, dân tộc; hướng mọi người tới mục đích giành chủ quyền độc lập tự do và xây dựng tương lai tươi sáng của đất nước Đối tượng bài diễn thuyết của Phan Châu Trinh trước hết là người nghe sau đó mới là toàn thể dân chúng Việt Nam

- Các văn bản trong SGK Ngữ văn 12

Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS, 1-12-2003 của Cô -phi

An - nan khẳng định nhân loại đã làm được rất nhiều việc để góp phần vào cuộc đấu tranh chống lại căn bệnh thế kỉ HIV/AIDS Song những cố gắng của con

Trang 18

người về mặt này vẫn chưa thể đủ bởi vì hiện nay đại dịch vẫn hoành hành để lại những hậu quả hết sức nghiêm trọng cho nhân loại Tác giả đã kêu gọi tất cả các quốc gia phải “đưa vấn đề AIDS lên vị trí hàng đầu trong chương trình nghị sự

về chính trị và hành động thực tế của mình”, còn nhân dân thế giới phải ý thức

và coi việc đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi căn bệnh này là của chính mình đó là hãy “đánh đổ thành lũy của sự im lặng, kì thị và phân biệt đối xử” đối với những bệnh nhân đang mắc bệnh HIV/AIDS Đó chính là thông điệp mà tác giả tha thiết gửi gắm đến tất cả quốc gia và nhân dân trên toàn thế giới

Nhìn về vốn văn hóa dân tộc (Trích Đến hiện đại từ truyền thống- Trần

Đình Hượu) xuất phát từ những hiểu biết sâu sắc về vốn văn hóa dân tộc, tác giả

đã phân tích rõ những mặt tích cực và một số hạn chế của văn hóa truyền thống

Từ đó tác giả đã chỉ ra con đường để phát huy và bảo tồn nền văn hóa dân tộc trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay Đây cũng chính là con đường “đến hiện đại từ truyền thống” mà tác giả khẳng định trong văn bản này

Tư duy hệ thống - nguồn sức sống mới của đổi mới tư duy (Trích Một góc nhìn của tri thức - Phan Đình Diệu) trên cơ sở phân biệt những đặc điểm và vận

mệnh lịch sử của tư duy cơ giới và tư duy hệ thống, tác giả khẳng định ưu thế vượt trội của tư duy hệ thống trong công cuộc đổi mới tư duy hiện nay Đây là một vấn đề hết sức thiết thực, có ý nghĩa đối với các em học sinh hiện nay khi khoa học kĩ thuật và công nghệ càng ngày càng phát triển như vũ bão

1.1.2.3 Các vấn đề đặt ra trong các văn bản nhật dụng ở trường THPT

Như trên đã nói, so với chương trình Ngữ văn THCS thì Chương trình Ngữ văn THPT có số lượng văn bản ít hơn, không đa dạng bằng, song các vấn

đề đặt ra trong các văn bản nhật dụng ngày càng khó hơn, trừu tượng hơn, đòi hỏi phải có một sự nhận thức khái quát và tổng hợp mới có thể hiểu được Đó là vấn đề xây dựng ý thức trách nhiệm đối với cộng đồng, xã hội, cuộc chiến phòng chống đại dịch HIV/AIDS, việc đổi mới tư duy trong bối cảnh hội nhập quốc tế, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cũng như con đường “đến

Trang 19

hiện đại từ truyền thống” Những vấn đề này đòi hỏi học sinh phải suy nghĩ một cách nghiêm túc, đúng đắn và từ đó biết xây dựng phương hướng hành động cho bản thân để đáp ứng yêu cầu của bối cảnh của đất nước trong giai đoạn hiện nay Tính nhật dụng của các văn bản này chính là nằm ở đó

Phương pháp dạy học dự án là phương pháp tổ chức cho giáo viên, học sinh cùng nhau giải quyết không chỉ về mặt lí thuyết mà còn cả về mặt thực tiễn một nhiệm vụ học tập có tính chất tổng hợp tạo điều kiện cho học sinh cùng và

tự quyết định trong tất cả các giai đoạn học tập, kết quả là tạo ra một sản phẩm nhất định

1.2.2 Đặc điểm của phương pháp dạy học dự án

1.2.2.1 Người học là trung tâm của hoạt động học

Dạy học dự án là một trong những phương pháp dạy học tích cực với quan điểm học sinh là trung tâm của hoạt động dạy học, điều này đã khắc phục được một số hạn chế của các phương pháp dạy học truyền thống trước đây Học tập trong dạy học dự án là quá trình chuyển giao vai trò chủ động

từ giáo viên sang học sinh, từ “giáo viên nói” sang “học sinh làm”, người học trở thành người giải quyết vấn đề, ra quyết định chứ không phải là người nghe thụ động Họ sẽ tổ chức hợp tác theo nhóm, tổ chức hoạt động, lên kế hoạch, giải quyết vấn đề và thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu của mình một cách độc lập tự giác

Trang 20

Dạy học dự án chú ý đến nhu cầu, hứng thú của người học, người học được trực tiếp tham gia chọn đề tài, nội dung học tập phù hợp với khả năng và hứng thú của cá nhân Người học tham gia tích cực và tự lực vào tất cả quá trình học tập, giáo viên chủ yếu đóng vai trò là người hướng dẫn, tư vấn, giúp đỡ, khuyến khích tính tích cực, tự lực, tự chịu trách nhiệm và sáng tạo của học sinh Người học không chỉ nghe, ghi nhớ máy móc mà phải biết tổng hợp thông tin từ nhiều nguồn khác nhau rồi phân tích, đánh giá rồi rút ra tri thức cho mình Người học không chỉ tiếp thu kiến thức về các sự kiện mà còn biết vận dụng kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống, rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề

1.2.2.2 Dạy học thông qua các hoạt động thực tiễn của một dự án

Một trong những đặc điểm khác biệt cơ bản của phương pháp dạy học dự

án là có tính thực tiễn cao vì nó gắn với các tình huống có thực trong đời sống thông qua việc thực hiện các yêu cầu về một bài tập nào đó Để giải quyết vấn

đề đặt ra học sinh có thể nhập nhiều vai khác nhau khi thực hiện các dự án

Ví dụ khi dạy bài Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS

1/12/2003 giáo viên có thể sáng tạo một tình huống để học sinh giải quyết như:

đóng vai một tuyên truyền viên em hãy chuẩn bị nội dung cho buổi tuyên truyền

về cuộc chiến phòng chống HIV/AIDS ở trường em sắp tới nhân ngày thế giới phòng chống AIDS 1- 12 Khi được giao nhiệm vụ này, rõ ràng học sinh phải nhập vai một tuyên truyền viên để giải quyết một vấn đề có tính thực tiễn gắn với chính hoạt động học tập của mình

1.2.2.3 Hoạt động học tập phong phú đa dạng

Nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực, hoặc có thể là nhiều môn học khác nhau nhằm giải quyết một vấn đề có tính thực tiễn cao chứ không chỉ có mỗi mình môn Ngữ văn Nói cách khác dự án mang tính liên môn chứ không thể chỉ của riêng một môn học, một dự án dù là của môn học nào thì cũng đòi hỏi kiến thức của nhiều môn Chính điều này làm cho các dự án có tính thực tiễn cao bởi vì đây là những tình huống gắn liền với thực tế cuộc sống

Trang 21

Trong quá trình thực hiện dự án sẽ có sự kết hợp giữa nghiên cứu, vận dụng kiến thức lí thuyết vào thực tiễn cuộc sống Không chỉ dừng lại đó, việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh cũng đa dạng hơn, không chỉ đánh giá việc học ở trên lớp mà còn kết hợp nhiều hình thức đánh giá như đánh giá việc nắm kiến thức lí thuyết và khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tất cả các khâu của việc thực hiện dự án… Đây chính là mục tiêu của việc đổi mới phương pháp dạy học mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đang hướng tới

Như vậy, đây chính là học tập thông qua hoạt động, việc học không chỉ bó hẹp trong khuôn khổ của lớp học với quỹ thời gian là một tiết học mà học tập ở đây được tiến hành ở nhiều không gian, thời điểm khác nhau, vận dụng kiến thức của nhiều môn học khác nhau để giải quyết một vấn đề có tính thực tiễn

Bài Về luân lí xã hội của nước ta cũng như vậy, học sinh cần biết vận

dụng những kiến thức về lịch sử để có những hiểu biết về tác giả Phan Châu Trinh cũng như quá trình hoạt động cách mạng của ông, về giai đoạn những năm đầu thế kỉ XX ở nước ta để thấy được các vấn đề mà tác giả trình bày đều xuất phát từ lương tâm, trách nhiệm của một con người có tâm huyết, có lương tri đối với đất nước Tình trạng không có luân lí cũng như nguyên nhân của nó trở thành một vấn nạn nhức nhối ra sao trong những năm đất nước mất chủ quyền Không chỉ có kiến thức lịch sử mà học sinh còn phải biết vận dụng và liên hệ vấn đề thiếu ý thức đoàn thể được nói tới trong văn bản với căn bệnh vô cảm đáng báo động hiện nay trong xã hội, từ đó hình thành ý thức xã hội, thái độ sống có trách nhiệm và yêu thương mọi người cho mình

Trong phương pháp dạy học dự án thì công nghệ thông tin là một phương tiện không thể thiếu, vì vậy đối với người học thì đây là một lợi thế đồng thời cũng là cơ hội để học sinh ứng dụng công nghệ thông tin, rèn luyện khả năng sử dụng công nghệ thông tin phục vụ việc học tập và sau đó là cuộc sống

1.2.2.4 Kết hợp giữa làm việc cá nhân và làm việc nhóm

Mỗi dự án ra đời đều phải dựa trên kĩ năng làm việc, cộng tác giữa

cá nhân cả nhóm, giữa giáo viên và học sinh, giữa học sinh và các lực

Trang 22

lượng xã hội tham gia hỗ trợ cho dự án Nhờ đó hoạt động trong dạy học

dự án mang tính xã hội cao Làm việc theo nhóm giúp sản phẩm làm ra có chất lượng tốt, tốn ít thời gian vì nó đã phát huy được trí tuệ, sở trường của mỗi cá nhân để hoàn thành sản phẩm theo đúng yêu cầu và tiến độ Vì vậy,

so với một số phương pháp dạy học tích cực khác thì việc kết hợp giữa cá nhân và nhóm được đặt lên hàng đầu để hoàn thành một nhiệm vụ học tập được giao từ trước

Trong phương pháp dạy học dự án, khi bắt đầu nhận tình huống cho đến khi hoàn thành sản phẩm thì đã đòi hỏi một sự hợp tác chặt chẽ ở tất cả các khâu thông qua các nhiệm vụ được giao cho mỗi thành viên từ nhóm trưởng Quá trình học theo dự án giúp người học củng cố kiến thức, xây dựng các kĩ năng hợp tác, giao tiếp và học tập độc lập, chuẩn bị hành trang học tập suốt đời cho người học, đặc biệt là thế hệ trẻ và đối mặt với thử thách trong cuộc sống Nếu không có sự hợp tác này thì rõ ràng chất lượng sản phẩm sẽ không đảm bảo và đúng tiến độ đề ra Vì vậy, phương pháp dạy học dự án đã giúp học sinh rèn luyện năng lực hợp tác, tinh thần tự giác chủ động trong việc tìm kiếm kiến thức phục vụ cho việc học của mình

1.2.2.5 Quan tâm đến sản phẩm của hoạt động

Dạy học dự án là phương pháp học tập mang tính xây dựng, trong đó HS hoàn toàn chủ động tham gia hoạt động dưới sự hướng dẫn của GV, để tạo ra một sản phẩm hay vận dụng các kiến thức đã học để tìm hiểu thực hành, nghiên cứu về một vấn đề trong học tập hay giải quyết một vấn đề khác trong cuộc sống Ưu thế của phương pháp dạy học dự án chính là nằm ở sản phẩm hình thành sau khi thực hiện mỗi dự án của học sinh Sản phẩm của hoạt động học tập này vừa thể hiện được những kiến thức lí thuyết đã học, đồng thời còn là khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống Vì vậy, sản phẩm tạo ra thường có tính xã hội đặc biệt, nó có thể giải quyết được một vấn đề nào đó đặt

ra từ thực tiễn cuộc sống

Trang 23

1.2.3 Ưu điểm và nhược điểm của dạy học dự án

- Ưu điểm:

Cũng như các phương pháp dạy học tích cực khác, dạy học dự án khắc phục được những hạn chế và nhược điểm của phương pháp dạy học truyền thống là phát huy tính tích cực, độc lập và tự giác của học sinh trong việc chiếm lĩnh tri thức mới, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, giúp học sinh rèn luyện các

kĩ năng như kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng giao tiếp

Giúp học sinh chuyển:

+ Từ nghiên cứu lí thuyết sang vận dụng kiến thức lí thuyết vào nghiên cứu thực tiễn

+ Từ học tập thụ động sang học tập chủ động và có định hướng

+ Là hình thức học tập phù hợp với bốn trụ cột mục tiêu giáo dục của

UNESCO: “Học để biết, học để làm, học để chung sống và học để hoàn thiện

1.2.4 Các bước thực hiện một dự án học tập

- Chọn đề tài và xác định mục đích của dự án: Giáo viên và học sinh cùng nhau đề xuất, xác định đề tài và mục đích dự án Cần tạo ra một tình huống xuất phát, chứa đựng một vấn đề, hoặc đặt một nhiệm vụ cần giải quyết, trong đó chú

ý liên hệ với hoàn cảnh thực tiễn xã hội và đời sống Giáo viên có thể định hướng một số đề tài để học sinh lựa chọn hoặc học sinh có thể đề xuất một số đề tài mà các em thấy hứng thú và phù hợp với khả năng của mình Giai đoạn này được K.Frey mô tả thành hai giai đoạn: đề xuất sáng kiến và thảo luận sáng kiến

Trang 24

- Xây dựng đề cương, kế hoạch thực hiện: Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh xây dựng đề cương cũng như kế hoạch cho việc thực hiện dự án Trong việc xây dựng kế hoạch, cần xác định những công việc cần làm, thời gian dự kiến, vật liệu, kinh phí, phương pháp tiến hành và phân công công việc trong nhóm

- Thực hiện dự án: các thành viên thực hiện công việc theo kế hoạchđã được đề ra cho nhóm và cá nhân Trong giai đoạn này, học sinh thực hiện các hoạt động trí tuệ và hoạt động thực tiễn, thực hành, các hoạt động này xen kẽ, kết hợp lẫn nhau Kiến thức lí thuyết được kiểm nghiệm và ứng dụng vào thực tiễn Từ đó, thông tin mới, sản phẩm của dự án được tạo ra

- Thu thập kết quả và công bố sản phẩm: Kết quả thực hiện dự án có thể được trình bày dưới dạng bài thu hoạch, báo cáo… Sản phẩm của dự án có thể là một hành động phi vật chất chẳng hạn việc biểu diễn một vở kịch, việc tổ chức một sinh hoạt nhằm tạo ra các tác động xã hội Sản phẩm có thể trình bày trước một nhóm sinh viên hoặc giới thiệu trong hoặc ngoài nhà trường

- Đánh giá dự án: Sau khi đã công bố sản phẩm, cả giáo viên và học sinh phải thực hiện nhiệm vụ đánh giá sản phẩm về quá trình thực hiện và kết quả đạt được Từ sự đánh giá ấy, giáo viên giúp học sinh rút kinh nghiệm cho việc thực hiện các dự án tiếp theo

Sự phân chia trên đây cũng chỉ mang tính tương đối chứ không phải hoàn toàn thống nhất ở tất cả các dự án bởi vì trong quá trình thực hiện từng dự án thì các giai đoạn có thể xen kẽ, thâm nhập lẫn nhau Vì vậy, tùy theo từng dự án mà phân chia các giai đoạn thực hiện cho phù hợp để từ đó hoàn thành sản phẩm chất lượng và đúng tiến độ đề ra

1.2.5 Khả năng áp dụng phương pháp dự án trong dạy học văn bản nhật dụng ở trường trung học phổ thông

1.2.5.1 Đặc điểm bài học

VBND là loại văn bản không sử dụng hư cấu, tưởng tượng, có khi người

ta còn gọi là văn bản phi hư cấu, đặc điểm nổi bật của các văn bản nhật dụng là

Trang 25

tính thực tiễn và tính cập nhật Đặc trưng này làm cho loại bài học này có sức lôi cuốn người học không những trong hoạt động đọc hiểu văn bản mà còn cuốn hút

họ trong việc sưu tầm, tìm hiểu các thông tin có liên quan, thống kê số liệu về các vấn đề tương tự đang diễn ra xung quanh Điều đó cũng đồng nghĩa với việc VBND trở thành sợi dây kết nối người học với thực tiễn đời sống rất hữu ích

1.2.5.2 Về mục tiêu của bài học

Các văn bản nhật dụng có mặt trong chương trình THPT đều góp phần giúp học sinh hiểu về nội dung của một số bài viết về những vấn đề cấp thiết đặt

ra trong cuộc sống, biết cách đọc hiểu văn bản nhật dụng và góp phần nâng cao

ý thức trách nhiệm của cá nhân với xã hội

Nhằm thực hiện các mục tiêu trên, nguyên tắc chỉ đạo khi dạy học văn bản nhật dụng là: tổ chức cho học sinh liên hệ tới bản thân với các vấn đề nhật dụng

có liên quan, đảm bảo cá nhân trực tiếp tham gia vào bài học và kết hợp làm việc trên văn bản với thực tiễn cuộc sống Điều này cho thấy, việc đọc hiểu văn bản nhật dụng là phải tạo cơ hội cho học sinh được học tập theo hướng tự tìm hiểu, tự lĩnh hội kiến thức thông qua sự hướng dẫn và định hướng của giáo viên

1.2.5.3 Khả năng áp dụng phương pháp dạy học dự án khi dạy văn bản nhật dụng ở trường THPT

Từ đặc điểm bài học và mục tiêu dạy học trình bày ở trên, chúng tôi có thể khẳng định rằng việc áp dụng phương pháp dạy học dự án khi dạy các văn bản nhật dụng là hoàn toàn có cơ sở Hướng vận dụng khá đa dạng và phong phú tùy theo khả năng và tình hình thực tế của học sinh cũng như cơ sở vật chất của nhà trường, giáo viên có thể lựa chọn các vấn đề để học sinh thực hiện dự án từ nội dung các bài học có mặt trong chương trình

1.2.6 Những lưu ý khi thực hiện phương pháp dạy học dự án trong dạy học văn bản nhật dụng

- Khi chọn và xây dựng các dự án bài học cần căn cứ vào tình hình thực tế của nhà trường và trình độ của học sinh

- Chấp nhận lướt qua các vấn đề như cái tôi của tác giả, giọng văn, ngôn

Trang 26

ngữ, cách trình bày, chủ yếu tập trung làm nổi bật thông điệp mà tác giả nêu ra trong văn bản và mối liên hệ giữa nó với đời sống đương đại

- Lựa chọn các vấn đề có liên quan trực tiếp đến việc học tập và đặc biệt

là thái độ ứng xử của học sinh với vấn đề đó

- Cần giúp HS bộc lộ quan điểm, suy nghĩ của cá nhân đối với các vấn đề đặt ra trong văn bản cũng như những vấn đề mà mọi người quan tâm

1.3 Thực trạng của việc dạy học văn bản nhật dụng ở trung học phổ thông hiện nay

1.3.1 Kinh nghiệm giảng dạy của giáo viên

Như đã nói ở trên, trong chương trình Ngữ văn hiện hành có rất nhiều các thể loại văn bản khác nhau, gồm cả văn bản nghệ thuật và phi nghệ thuật Đây hoàn toàn là ý đồ của người soạn sách nhằm đem đến cho học sinh hệ thống kiến thức phong phú đa dạng về các kiểu loại văn bản và kiến thức về văn học và cuộc sống Trong số các văn bản đó thì văn bản nhật dụng vẫn đang thực sự là một sự trăn trở đối với phần lớn giáo viên Khi tiếp xúc với văn bản này, các giáo viên còn lúng túng trước hết về khái niệm chưa đi đến sự thống nhất, các văn bản này lại hoàn toàn mới mẻ, thậm chí còn xa lạ, thậm chí thiếu chất văn

và nếu không khéo léo sẽ biến giờ dạy văn thành thành những buổi thuyết giảng

về môi trường, sức khỏe, pháp luật…

Trong quá trình dạy học văn hiện nay ở trường THPT cũng đã bộc lộ khá nhiều những bất cập về phương pháp dạy học trong đó có dạy học văn bản nhật dụng Như chúng ta đã biết, những văn bản nhật dụng đem vào chương trình hiện nay ngoài việc chưa thống nhất về khái niệm, thiếu sự định hướng về cách dạy và hướng tiếp cận, sự lúng túng về việc lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp để kích thích tính độc lập, sáng tạo của học sinh, việc chuẩn bị thông tin ngoài văn bản đối với cả hai phía từ giáo viên và học sinh… đều là những trở ngại và thách thức với giáo viên đứng lớp

Văn bản nhật dụng ở THPT chủ yếu sử dụng phương thức biểu đạt nghị

luận như (Về luân lí xã hội ở nước ta, Thông điệp nhân ngày thế giới phòng

Trang 27

chống AIDS, 1-12- 2003, Nhìn về vốn văn hóa dân tộc, Tư duy hệ thống, nguồn sức sống mới của đổi mới tư duy…) Việc được học các văn bản nghị luận trong

chương trình Ngữ văn hiện nay không chỉ đem đến cho học sinh cách lập luận chặt chẽ, khoa học, logic mà hơn thế còn giúp học sinh hiểu được những vấn đề

có tính thời sự, khơi dậy được ở các em tình cảm, trách nhiệm, ý thức công dân

từ đó giúp các em dễ hòa nhập hơn với xã hội mà các em đang sống Tuy nhiên, khi dạy các văn bản này giáo viên vẫn còn lúng túng khi tìm ra mạch bài dạy thật hiệu quả đáp ứng yêu cầu dạy văn bản theo đặc trưng thể loại hiện nay

Qua thực tế giảng dạy cũng như trực tiếp dự giờ thăm lớp các đồng nghiệp trong tổ, tôi nhận thấy rằng đã có một bộ phận giáo viên tích cực, nỗ lực tìm tòi học hỏi để tìm ra các cách tiếp cận văn bản hiệu quả song bên cạnh đó vẫn còn nhiều giáo viên chưa thật sự làm rõ sự khác biệt giữa dạy học văn bản nhật dụng và dạy học một văn bản nghệ thuật Đây chính là một vấn đề mà chúng ta cần phải tiếp tục suy nghĩ, bàn bạc để đi tới những hướng tiếp cận văn bản thật sự hiệu quả

1.3.2 Thái độ học tập của học sinh

Trong giai đoạn hiện nay khi mà đất nước đang bước vào thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng thì chúng ta không thể phủ nhận một thực tế nghiệt ngã là học sinh không còn mặn mà, thậm chí là xem nhẹ môn Ngữ văn nói chung và văn bản nhật dụng nói riêng Điều này đã làm cho chất lượng của việc học tập bộ môn ngày càng giảm sút nghiêm trọng, đồng thời nó kéo theo lối sống thực dụng ngày càng phổ biến trong học sinh

Như trên đã trình bày, văn bản nhật dụng ở chương trình Ngữ văn THPT phần lớn là văn nghị luận, thuộc nhiều kiểu văn bản khác nhau đã gây ra những khó khăn trong việc tiếp cận cũng như tìm hiểu các thông điệp được thể hiện trong văn bản Bên cạnh đó cũng không thể không thừa nhận rằng nội dung các văn bản nhật dụng thường khô khan, thiếu các yếu tố liên tưởng, tưởng tượng,

hư cấu nên nhìn chung học sinh không thực sự thích học loại văn bản này

Trang 28

Một vấn đề nữa đó là việc sắp xếp, bố trí các văn bản nhật dụng ở trong sách giáo khoa hiện nay chưa thật hợp lí, chúng nằm chủ yếu ở cuối sách khi mà học sinh đã có sự sao nhãng việc học ít nhiều, việc thi cử về cơ bản đã hoàn thành Với một tâm lí “thi gì học nấy” - rất phổ biến hiện nay

đã tạo nên tính thực dụng trong học tập mà các văn bản nhật dụng thường được tổ chưc dạy học khi kì thi cuối kì đã kết thúc, nội dung các văn bản này rõ ràng không thể có mặt trong đề thi nên dễ xẩy ra tình trạng giáo viên

và học sinh thường chủ quan thậm chí có phần xem nhẹ trong việc học văn bản nhật dụng

1.3.3 Việc đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn ở trung học phổ thông

Nghị quyết 29 đã chỉ rõ “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học theo hướng hiện đại, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học, khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ

sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học” Câu chuyện đổi mới phương pháp dạy học bộ môn Ngữ văn đang là một câu chuyện dài và nhiều vấn

đề cần phải bàn bạc, tranh cãi song chúng ta phải thừa nhận rằng việc dạy môn Ngữ văn ở trường phổ thông đang tồn tại nhiều bất cập, số giáo viên mạnh dạn

đi đầu và áp dụng các phương pháp dạy học tích cực, hiện đại, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học chưa nhiều, các giờ dạy đọc hiểu văn bản vẫn chủ yếu đóng khung trong 45 phút trên lớp, thiếu sự sáng tạo và linh hoạt về phương pháp và vì vậy vẫn chưa kích thích được sự độc lập, sáng tạo của học sinh Chúng tôi không đi vào bàn về nguyên nhân của thực trạng trên nhưng đây rõ ràng là một vấn đề không hề đơn giản, đòi hỏi sự vào cuộc của nhiều cấp, ngành

và trước hết là bản thân của mỗi giáo viên trực tiếp đứng lớp Đây cũng cơ hội

Trang 29

để chúng tôi nghiên cứu và áp dụng phương pháp dạy học dự án, phát huy những mặt tích cực của phương pháp này trong dạy học văn bản nhật dụng ở trường phổ thông

1.3.4 Về tài liệu và hướng dẫn giảng dạy

Văn bản nhật dụng đã đưa vào dạy học trong chương trình Ngữ văn THPT khá lâu song đến nay nguồn tài liệu hướng dẫn giảng dạy vẫn còn khá khiêm tốn, chưa hệ thống và thiếu cả sự thống nhất, điều này đã gây ra những khó khăn cho người dạy và người học Tuy nhiên, các văn bản cụ thể thì đã có ở một số tài liệu hướng dẫn giảng dạy gồm: Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kĩ năng bộ môn Ngữ văn THPT, SGK, SGV và một số bài viết có chất lượng của các giáo viên tâm huyết

Một thực tế nữa, hàng năm các Sở tổ chức các đợt tập huấn chuyên môn

về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá, các trường trong huyện

tổ chức hội giảng liên trường bằng các tiết dạy mẫu, song các tiết dạy ấy thì không dạy các văn bản nhật dụng mà chủ yếu là các văn bản nghệ thuật Và như vậy là các văn bản nhật dụng cũng vẫn là một bài toán khó đối với giáo viên lên lớp

Trong quá trình làm đề tài điều bắt buộc là cần có hệ thống tài liệu tham khảo, tuy nhiên nhìn vào danh mục tài liệu tham khảo ở phía sau thì chúng ta cũng đủ biết sự thiếu vắng hệ thống tài liệu được viết một cách bài bản và đầy đủ để người viết có những cứ liệu căn bản nhất nhằm thực hiện đề tài của mình, trong khi đó thì tài liệu tham khảo cho các thể loại khác lại rất nhiều và phong phú

1.3.5 Một vài số liệu điều tra

Để làm cơ sở cho đề tài, chúng tôi đã có cuộc phỏng vấn, phát phiếu khảo sát đối với 21 giáo viên và 90 học sinh của hai trường: THPT Nguyễn Thị Bích Châu và THPT Kỳ Anh trên địa bàn huyện và Thị xã Kỳ Anh về một số nội dung liên quan đến việc giảng dạy và học tập văn bản nhật dụng trong nhà trường phổ thông Chúng tôi thu được một số số liệu như sau:

Trang 30

1.3.5.1 Nhận thức của giáo viên về hoạt động dạy học văn bản nhật dụng trên lớp

Kết quả khảo sát (Phụ lục 1)

Tổng

số

Phiếu không hợp lệ

lƣợng

Tỷ lệ (%)

giữa VBND so với các loại văn bản khác

3 Phương pháp dạy học được sử dụng chủ yếu trong dạy học VBND

Thuyết trình, vấn đáp

Giống như dạy VBNT

Tổ chức cho học sinh hoạt động tích cực

4

21

5 Tình huống gặp phải: Học sinh không hiểu những nội dung liên quan đến văn bản

6 Giải quyết tình huống

Trang 31

Bảng khảo sát trên cho thấy: Số giáo viên cho rằng VBND là loại văn bản mình ưa thích nhất chỉ chiếm 16%, trong khi đó có đến 63% không thích thể loại này Theo phần lớn giáo viên thì trong quá trình dạy VNND việc áp dụng phương pháp thuyết trình, vấn đáp là phổ biến chiếm 68%, rất ít giáo viên sử dụng các phương pháp dạy học tích cực, đặc biệt là phương pháp dạy học dự án không có giáo viên nào sử dụng trong dạy học văn bản nhật dụng Theo phần lớn giáo viên thì khi dạy VBND họ vẫn tổ chức giờ dạy như dạy VBNT (79%), chỉ có 21 % giáo viên có tổ chức cho học sinh hoạt động Mặc dù vậy, trong quá trình giảng dạy, khi gặp các tình huống trong giờ dạy đặc biệt là học sinh phát biểu chính kiến, 100% giáo viên đã tổ chức trao đổi ý kiến đó

Không chỉ thăm dò bằng phiếu, chúng tôi cũng tiến hành tìm hiểu cách tổ chức dạy học VBND bằng việc dự giờ của một số giáo viên, chúng tôi đã có những thu nhận như sau: Nhìn chung, phần đông giáo viên vẫn chưa ý thức được việc tổ chức đọc hiểu VBND, bài dạy chủ yếu vẫn nặng về việc thuyết trình, không tổ chức các hoạt động học tập tích cực cho học sinh, cá biệt có những giáo viên không gắn kết được các vấn đề từ văn bản với đời sống đương đại Vì vậy, trong các giờ đọc hiểu trên lớp diễn ra một cách tẻ nhạt, đơn điệu và nhàm chán theo một quy trình chưa đúng với yêu cầu dạy VBND

Chúng tôi cũng đã tiến hành phỏng vấn đối với cô giáo H.T.N nhóm trưởng nhóm Văn 12, trường THPT Nguyễn Thị Bích Châu với câu hỏi:

“Theo cô, chúng ta cần phải tổ chức giờ dạy VBND như thế nào để đạt được hiệu quả tốt nhất? Trong các buổi sinh hoạt chuyên môn, cô và đồng nghiệp có chọn VBND để làm đối tượng trao đổi, bàn bạc không?”

Với câu hỏi này, chúng tôi chỉ nhận được câu trả lời rất chung chung “tổ chức cho học sinh thảo luận, sử dụng công nghệ thông tin như một công cụ cần thiết, nên có phần liên hệ thực tế sau mỗi bài dạy”… Và cô cũng tâm sự “Trong những buổi sinh hoạt chuyên môn của tổ chủ yếu các nhóm đi vào trao đổi, thảo luận về các tiết dạy VBNT, còn VBND thì ít khi các giáo viên chọn thao giảng, đồng thời cũng ít được trao đổi, bàn bạc

Trang 32

1.3.5.2 Nhận thức về hoạt động học tập của học sinh

Kết quả khảo sát HS (Phụ lục 1)

Tổng số

Phiếu không hợp lệ

lƣợng

Tỷ lệ (%)

giữa VBND so với các loại văn bản khác

3 Ý thức và thái độ trong giờ học VBND

Mạnh dạn bày tỏ ý kiến cá nhân

6 Phương pháp dạy học được GV sử dụng phổ biến trong giờ đọc hiểu VBND

Trang 33

Bảng số liệu trên đã cho ta thấy một thực tế là phần lớn học sinh hiện nay không thích học VBND (70,1%) Sở dĩ HS không hứng thú khi học VBND vì nội dung quá khô khan (63,2%) Nhiều học sinh mặc dù có ý kiến riêng nhưng còn rụt rè, không dám bộc lộ và bày tỏ ý kiến của bản thân trước tập thể (51,7%) Như vậy, có thể thấy ở các tiết học VBND học sinh không đam mê, hứng thú song cũng chưa chủ động, mạnh dạn dể đối thoại về một vấn đề đặt ra trong văn bản Mặc dù giáo viên đã tạo điều kiện để học sinh trao đổi bày tỏ song do còn thiếu kinh nghiệm, vốn sống thực tế cộng với tâm lí lệ thuộc nên phần lớn các em vẫn chưa chủ động trong việc nhìn nhận, đánh giá và sáng tạo trong khi học VBND Bởi vậy, tạo ra một không gian đọc hiểu VBND không phải dễ dàng, dễ thực hiện

Cùng với việc phát phiếu điều tra chúng tôi cũng tổ chức phỏng vấn đối với em L.T N, học sinh lớp 12C trường THPT Nguyễn Thị Bích Châu với câu hỏi “Em có thích học VBND không? Vì sao?” và câu trả lời của em là “Em không thích học VBND vì nó rất khô khan, trừu tượng, đồng thời nó cũng ít khi kiểm tra, thi”

1.3.6 Nhận xét chung

Chương trình, SGK Ngữ văn phổ thông đã lựa chọn VBND vào để giảng dạy cho học sinh Sự có mặt của văn bản này không chỉ làm phong phú hệ thống văn bản và nội dung kiến thức văn học trong nhà trường mà chính là một yếu tố góp phần gắn kết những vấn đề trong văn bản với cuộc sống đương đại, rút gần khoảng cách giữa văn học và cuộc sống

Qua thực tiễn hoạt động dạy đọc hiểu VBND hiện nay ở trường THPT mặc

dù đã có những mặt tích cực như: tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng một số phương pháp dạy học tích cực, tổ chức cho học sinh thảo luận và đối thoại… thì vẫn còn tồn tại khá nhiều bất cập (qua số liệu điều tra) Cụ thể là:

Nhìn chung, phần lớn giáo viên chưa tìm ra được cách tổ chức giờ dạy đọc hiểu VBND một cách tối ưu, chưa được trang bị hệ thống nguyên tắc,

Trang 34

phương pháp dạy học văn bản này Cách tổ chức dạy học VBND về cơ bản không khác nhiều với các VBNT và các văn bản khác Đa số giáo viên chưa ý thức được tính đặc thù của việc dạy đọc hiểu VBND đó chính là chưa tổ chức cho học sinh thảo luận, trao đổi, đối thoại về những vấn đề đặt ra trong văn bản, mối liên hệ giữa chúng với cuộc sống hôm nay Đặc biệt là trong xu thế hiện nay, chưa nhiều giáo viên biết sử dụng thành thạo các phương pháp dạy học tích cực như dạy học dự án và một số phương pháp khác, giờ dạy vẫn nặng về thuyết trình, truyền đạt một chiều, chưa xây dựng được ở học sinh sự độc lập suy nghĩ

và tìm kiếm kiến thức phục vụ cho bài học

Về phía học sinh, mặc dù đã có những nhận thức khái quát nội dung của các VBND là đề cập những vấn đề cấp thiết, có ý nghĩa thời sự liên quan đến mỗi cá nhân và cộng đồng, học VBND không chỉ được cung cấp kiến thức văn học mà còn cả kiến thức về cuộc sống song do tâm lí thụ động cộng với tính thực dụng học để thi nên trong các giờ học các em không hứng thú, tha thiết và tập trung thời gian để học tập loại văn bản này cũng là lẽ dĩ nhiên

việc dạy học văn bản nhật dụng ở trường THPT

Chúng tôi hiểu văn bản nhật dụng là văn bản mà nội dung của nó thể hiện

những vấn đề cấp thiết của đời sống đương đại liên quan đến đời sống của một

cộng đồng, một dân tộc, của cả thế giới Văn bản nhật dụng có thể là văn bản

mới được viết ra gần đây nhưng cũng có thể là văn bản được viết ra từ rất lâu nhưng nhưng những vấn đề đặt ra trong đó vẫn còn có ý nghĩa thời sự

Văn bản nhật dụng ở trường THPT có mục đích cung cấp những kiến thức

Trang 35

về các vấn đề thời sự, cấp bách đối với cá nhân và cộng đồng tuy nhiên số lượng không nhiều, bố trí chủ yếu ở chương trình Ngữ văn 12 đã tạo nên một số bất cập trong việc tiếp nhận kiến thức của học sinh và giảng dạy của giáo viên Trong thực tế, hoạt động dạy học văn bản nhật dụng ở trường THPT còn bộc lộ một số bất cập từ cả phía người dạy và người học, điều này đã phần nào làm mất

đi thế mạnh của VBND trong nhà trường, chất lượng giảng dạy bộ môn phần nào cũng bị ảnh hưởng Đây cũng chính là một trong những lí do khiến học sinh ngày càng học tập đối phó bộ môn Văn, thiếu các kĩ năng đọc hiểu văn bản ngày càng nhiều

Dạy học dự án là một phương pháp dạy học tích cực, có nhiều ưu thế hơn

so với phương pháp dạy học truyền thống Áp dụng phương pháp dạy học dự án trong dạy học VBND sẽ tạo ra được không khí học tập cởi mở, dân chủ trong giờ học, góp phần tích cực vào việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay

Trang 36

Chương 2 CÁC NGUYÊN TẮC VÀ BIỆN PHÁP DẠY HỌC VĂN BẢN NHẬT DỤNG Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

THEO PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC DỰ ÁN

2.1 Các nguyên tắc dạy học văn bản nhật dụng ở trường trung học phổ thông theo phương pháp dạy học dự án

2.1.1 Nguyên tắc gắn kết các vấn đề từ văn bản với cuộc sống đương đại

Mục tiêu của nền giáo dục hiện nay đang hướng tới là đào tạo những con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc

tế Đó phải là những con người năng động, sáng tạo, tích cực và tự giác, có kiến thức và kĩ năng để có thể vận dụng vào thực tế và biết sống có mục đích, lí tưởng Để bảo đảm được mục đích đó thì tất các môn học trong nhà trường phổ thông đều phải có sự liên hệ với thực tế, môn Ngữ văn cũng không nằm ngoài ngoại lệ đó

Ngữ văn là bộ môn có những ưu thế riêng so với các bộ môn khác trong việc liên hệ với đời sống đương đại Nói như vậy có nghĩa là, bộ môn Văn với chức năng và nhiệm vụ của nó là phải đem đến cho người học những kiến thức

về con người và cuộc sống được phản ánh trong tác phẩm qua từng thời kì lịch

sử, cho nên dù tác phẩm ấy ra đời từ rất lâu đời chúng ta cũng có thể tìm thấy thông điệp có ý nghĩa của tác giả đặt trong mối liên hệ với cuộc sống hôm nay Văn bản nhật dụng lại có những đặc điểm khác so với các văn bản nghệ thuật ở chỗ, những vấn đề đặt ra trong đó luôn đòi hỏi người đọc phải suy nghĩ một cách ráo riết, tích cực vì nó đề cập những vấn đề thời sự, cấp bách, có ý nghĩa đối với

cá nhân và cộng đồng Vì vậy, theo chúng tôi, gắn kết các vấn đề trong văn bản với đời sống đương đại được xem là nguyên tác đầu tiên khi dạy VBND dù người dạy áp dụng phương pháp dạy học nào

Trang 37

2.1.1.1 Khái niệm đời sống đương đại

Chúng ta đã từng nghe các cụm từ khá quen thuộc như “nghệ thuật đương đại”, “âm nhạc đương đại”, “mĩ thuật đương đại”… Khái niệm đương đại được sử dụng khá nhiều song chưa có một định nghĩa nào về cụm từ đời sống đương đại Theo chúng tôi, đời sống đương đại thực ra chỉ là một khái niệm có tính chất quy ước để chỉ những gì đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ trong khoảng thời gian gần đây có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống mỗi con người và cả cộng đồng

2.1.1.2 Mục đích, ý nghĩa của việc gắn kết các vấn đề trong văn bản và đời sống đương đại

Văn học và cuộc sống là mối quan hệ gắn kết lẫn nhau, văn học bắt nguồn

từ thực tiễn cuộc sống và ngược lại, việc gắn kết các vấn đề của VBND với cuộc sống đương đại có rất nhiều mục đích và ý nghĩa Trước hết, phải khẳng định rằng những nhà soạn sách khi đưa VBND vào chương trình chính là nhằm mục đích đưa văn học gần hơn với đời sống, đi vào đời sống, từ đó tác động đến nhận thức của người đọc, người nghe, đặc biệt là những học sinh đang ở độ tuổi bắt đầu trưởng thành trong nhận thức và suy nghĩ Vì vậy, dạy VBND trước hết nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức về những vấn đề có ý nghĩa thời sự, liên quan trực tiếp đến đời sống của cá nhân và cộng đồng Dạy VBND đặt trong

sự gắn kết với đời sống đương đại chính là một hướng đi đúng hướng, đồng thời phù hợp với thực tiễn đổi mới phương pháp dạy học hiện nay khi mà nhân loại đang phải đối mặt với rất nhiều vấn đề nóng: chiến tranh, khủng bố, tôn giáo, dịch bệnh… Nếu học sinh không nắm được những vấn đề đó thì sẽ rất dễ bị động, thiếu nhận thức và từ đó sẽ không biết bày tỏ thái độ của bản thân trước những vấn đề nhạy cảm của cuộc sống hiện nay

Muốn làm được điều đó, trong mỗi bài dạy VBND, giáo viên cần giúp học sinh tìm ra mối liên hệ giữa các vấn đề của văn bản với đời sống đương đại, đồng thời còn phải giúp học sinh tìm thấy vấn đề của đời sống đương đại từ văn

Trang 38

bản và từ đó biết bày tỏ ý kiến của bản thân về những vấn đề trong văn bản cũng như bổ sung những dữ kiện mới của đời sống đương đại

Nguyên tắc dạy học VBND gắn kết với đời sống đương đại là một hướng

đi đáp ứng yêu cầu của việc đổi mới phương pháp dạy học chú ý nhiều hơn tới hoạt động học của học sinh, tính độc lập, tự giác và tích cực của học sinh trong lĩnh hội kiến thức

2.1.1.3 Khả năng gắn kết đời sống đương đại của văn bản nhật dụng

Như trên đã nói, khi chọn VBND vào chương trình chính là những người biên soạn sách giáo khoa đã nhìn thấy ưu thế của VBND trong việc gắn kết với các vấn đề của đời sống đương đại Trong các VBND được đưa vào chương

trình có những văn bản ra đời ở từ rất lâu như Về luân lí xã hội của nước ta (Trích Đạo đức và luân lí Đông Tây - Phan Châu Trinh), cũng có những văn bản

ra đời thời gian gần đây như Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS

1- 12- 2003 của Cô phi An-nan Dù ra đời ở bất kì thời điểm nào thì các VBND

nói chung trong chương trình Ngữ văn hiện hành đều cập nhật được tính thời sự khá rõ như ý thức của con người đối với cộng đồng, căn bệnh vô cảm của con

người thời hiện đại (Về luân lí xã hội ở nước ta), cuộc chiến với đại dịch HIV/AIDS mà nhân loại đang đối mặt hiện nay (Thông điệp nhân ngày thế giới

phòng chống AIDS 1-12 -2003) hay vấn đề bảo tồn và phát triển nền văn hóa

dân tộc trong thời kì hội nhập (Nhìn về vốn văn hóa dân tộc)… Như vậy, có thể

khẳng định rằng ngay từ tiêu đề của văn bản đã hàm chứa nội dung của các vấn

đề mang tính thời sự hiện nay

Để gắn kết được các vấn đề của VBND với đời sống đương đại, trước hết người giáo viên khi vận dụng phương pháp dạy học theo dự án cũng như một số phương pháp dạy học khác cần ý thức rõ đó là cần tìm ra được sự liên hệ giữa văn bản với đời sống đương đại bằng các câu hỏi rất cụ thể nhằm tác động đến nhận thức, suy nghĩ của học sinh để các em thực sự tham gia vào tìm hiểu một vấn đề không chỉ của văn học nữa mà là vấn đề của đời sống mà các em đang đối mặt hàng ngày, hàng giờ

Trang 39

Ví dụ: Khi thực hiện dự án dạy học “HIV/AIDS - Cuộc chiến không của

riêng ai” trong khi dạy học bài Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống

AIDS 1-12-2003 của Cô phi An nan, giáo viên có thể đặt ra các câu hỏi bài học

như sau:

- Những hiểu biết của em về HIV/AIDS?

- Địa phương nơi em sống có nhiều người bị nhiễm HIV/AIDS không?

- Em có suy nghĩ gì trước số liệu “cứ mỗi phút đồng hồ trôi đi lại có 10 người bị nhiễm?

- Từ đó theo em, chúng ta cần phải làm gì để ngăn chặn và đẩy lùi đại dịch này?

- Nếu trong lớp có một bạn bị nhiễm HIV- AIDS em sẽ ứng xử với bạn aya thế nào?

Trong quá trình dạy VBND theo phương pháp dạy học dự án thì điều quan trọng chính là để học sinh được bộc lộ quan điểm, suy nghĩ về các vấn đề của đời sống một cách thoải mái, dân chủ, chỉ có như thế mới tạo ra được sự cởi

mở, tự tin trong giờ học và khoảng cách giữa các vấn đề trong văn bản với cuộc sống được rút ngắn lại, đây có lẽ là một trong những ý đồ của người biên soạn sách giáo khoa hiện hành

Ví dụ khi dạy bài Về luân lí xã hội của nước ta (Trích Đạo đức và luân lí

Đông Tây - Phan Châu Trinh), giáo viên có thể đặt ra các câu hỏi để học sinh trả

lời trước khi thực hiện các dự án học tập như:

- Em sẽ làm gì khi chứng kiến một vụ bạo lực học đường?

- Khi nhìn thấy một bạn học sinh trong trường bị đánh, một số bạn reo hò,

cổ vũ, một số bạn quay video, còn em em sẽ làm gì?

Dạy VBND không chỉ dừng lại ở việc tác động vào nhận thức mà còn phải từ sự nhận thức đó, các em biết rõ trách nhiệm của bản thân trong việc xây dựng cho mình chương trình hành động phù hợp và đúng đắn để hòa nhập và không bị động trước những đòi hỏi của cuộc sống hiện đại hôm nay

Trang 40

Ví dụ khi dạy bài Nhìn về vốn văn hóa dân tộc (Trích Đến hiện đại từ

truyền thống - Trần Đình Hượu), có thể hỏi học sinh về trách nhiệm của bản

thân trong việc giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc bằng các việc làm cụ thể, thiết thực như văn hóa sử dụng mạng xã hội, văn hóa giao thông, văn hóa ứng xử nơi công cộng hay trên xe buýt…

Khi dạy văn bản Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS

1-12-2003 của Cô phi An nan, giáo viên cần phải có các câu hỏi khơi gợi ý thức trách

nhiệm và hành động của học sinh như:

- Theo em, ngay từ bây giờ mỗi người cần làm gì để chiến đấu chống lại căn bệnh thế kỉ này?

- Nếu lựa chọn một hoạt động tình nguyện để thực hiện em sẽ tham gia hoạt động nào sau đây sau khi học xong văn bản?

Khi đặt ra các câu hỏi này thì người giáo viên đã giúp học sinh biết xác định trách nhiệm của bản thân một cách tự nhiên, nhẹ nhàng nhưng thấm thía trước các vấn đề của đời sống đương đại hiện nay

2.1.2 Nguyên tắc tích hợp

Với mục tiêu đào tạo những công dân toàn cầu có thể đáp ứng được những yêu cầu cũng như đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, việc biên soạn chương trình hiện hành cũng được xây dựng trên một tư tưởng chi phối: tích hợp Trong Dự thảo Chương trình THPT, môn Ngữ văn năm 2002 của Bộ GD&ĐT đã chỉ rõ:

“Lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo để tổ chức nội dung chương trình, biên soạn sách giáo khoa và lựa chọn các phương pháp giảng dạy” Không chỉ có tích hợp trong các yếu tố của việc biên soạn mà tích hợp còn đặt ra trong việc dạy học tất cả các phân môn của bộ môn Văn và môn Ngữ văn với các bộ môn khác “Nguyên tắc tích hợp phải được quán triệt trong toàn bộ môn học, từ

Ngày đăng: 21/08/2023, 00:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Huy Bắc (chủ biên, 2009), Hỏi đáp kiến thức Ngữ văn 11, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp kiến thức Ngữ văn 11
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2002), Chương trình THPT, môn Ngữ văn, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình THPT, môn Ngữ văn
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2002), Ngữ văn 6, tập 1, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 6, tập 1
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2002), Ngữ văn 6, tập 2, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 6, tập 2
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2003), Ngữ văn 7, tập 1, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 7, tập 1
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2003), Ngữ văn 7, tập 2, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 7, tập 2
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2004), Ngữ văn 8, tập 1, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 8, tập 1
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2004), Ngữ văn 8, tập 2, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 8, tập 2
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
9. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2005), Ngữ văn 9, tập 1, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 9, tập 1
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
10. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2005), Ngữ văn 9, tập 2, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 9, tập 2
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
11. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Ngữ văn 10, tập 1, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 10, tập 1
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
12. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Ngữ văn 10, tập 2, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 10, tập 2
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
13. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Ngữ văn 11, tập 1, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 11, tập 1
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
14. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Ngữ văn 11, tập 2, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 11, tập 2
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
15. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Ngữ văn 12, tập 1, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 12, tập 1
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
16. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Ngữ văn 12, tập 2, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 12, tập 2
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
17. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Ngữ văn 10 Nâng cao, tập 1, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 10 Nâng cao, tập 1
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
18. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Ngữ văn 10 Nâng cao, tập 2, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 10 Nâng cao, tập 2
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
19. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Ngữ văn 11 Nâng cao, tập 1, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 11 Nâng cao, tập 1
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
20. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Ngữ văn 11 Nâng cao, tập 2, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 11 Nâng cao, tập 2
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm