1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện pháp luật về tổ chức hành nghề luật sư và hoạt động hành nghề luật sư trên địa bàn tỉnh nghệ an

99 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực hiện pháp luật về tổ chức hành nghề luật sư và hoạt động hành nghề luật sư trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Tác giả Nguyễn Khắc Tuấn
Người hướng dẫn PGS.TS. Lê Vương Long
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Thể loại Luận văn thạc sĩ luật học
Năm xuất bản 2017
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 773,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Khái niệm về Luật sư (13)
  • 1.2. Khái niệm, hình thức thực hiện pháp luật tổ chức hành nghề Luật sư và hoạt động hành nghề Luật sư (20)
  • 1.3. Nội dung của pháp luật về tổ chức hành nghề Luật sư và hoạt động hành nghề Luật sư (24)
  • 1.4. Quản lý tổ chức hành nghề Luật sư và hoạt động hành nghề Luật sư (54)
  • 1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về tổ chức và hành nghề Luật sư (63)
  • CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ VÀ HOẠT ĐỘNG HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN (13)
    • 2.1. Khái quát về điều kiện kinh tế - xã hội và quá trình phát triển Luật sư tại tỉnh Nghệ An (68)
    • 2.2. Thực trạng thực hiện pháp luật tổ chức hành nghề Luật sư trên địa bàn tỉnh Nghệ An (71)
    • 2.3. Thực trạng thực hiện pháp luật hoạt động hành nghề Luật sư trên địa bàn tỉnh Nghệ An (0)
    • 3.1. Phương hướng nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật tổ chức, hành nghề Luật sư và hoạt động hành nghề Luật sư trên địa bàn tỉnh Nghệ An (85)
    • 3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật tổ chức hành nghề Luật sư và hoạt động hành nghề Luật sư trên địa bàn tỉnh Nghệ An (86)
  • KẾT LUẬN (67)

Nội dung

Khái niệm về Luật sư

Luật sư là một nghề có lịch sử phát triển lâu đời, gắn liền với luật pháp, tòa án và công lý Quá trình hình thành nghề luật sư bắt nguồn từ sự công nhận về quyền bình đẳng trong xét xử, bắt đầu từ thời Hy Lạp cổ đại khi các nhà lãnh đạo như Pericles được xem là người đứng đầu nhà nước Nghề luật sư đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển để đạt được vị trí như ngày nay, phản ánh sự tiến bộ của nền văn minh nhân loại.

Ngay từ thời La Mã cổ đại, nghề luật sư đã bắt đầu được công nhận như một nghề thực hiện quyền bào chữa, một quyền đặc thù của người luật sư trong quá trình xét xử Trong lịch sử xã hội, vai trò của luật sư thể hiện rõ qua việc đáp ứng nhu cầu tranh tụng, tư vấn và tham gia trong các lĩnh vực hành chính, lập pháp, góp phần không thể thiếu vào sự phát triển của xã hội Ở Việt Nam, nghề luật sư xuất hiện muộn hơn do ảnh hưởng của quá trình xâm nhập văn minh phương Tây; sau Nghị định ngày 26/11/1876 của Pháp về biện hộ tại tòa án Pháp, nghề luật sư chính thức ra đời tại Việt Nam, trước đó các vụ xét xử do vua và quan phong kiến chủ trì mà không có hoạt động bào chữa Đến năm 1884, Bộ máy cai trị của Pháp đã thành lập Luật sư Đoàn tại Sài Gòn và Hà Nội, đánh dấu bước phát triển quan trọng của nghề luật sư tại Việt Nam.

Ban đầu, các luật sư tại Nội gồm những người Pháp và người Việt đã nhập quốc tịch Pháp, chỉ biện hộ trước Tòa án Pháp cho người Pháp hoặc người có quốc tịch Pháp Tuy nhiên, vào ngày 30/1/1911, nhà cầm quyền Pháp đã mở rộng quyền cho phép người Việt Nam không có quốc tịch Pháp trở thành luật sư Tiếp đó, ngày 25/5/1930, Sắc lệnh tổ chức Luật sư đoàn tại Hà Nội, Sài Gòn và Đà Nẵng đã mở rộng phạm vi hoạt động của luật sư không chỉ ở Tòa án Pháp mà còn tại các Tòa án Việt Nam, và quyền bào chữa không chỉ dành cho người có quốc tịch Pháp mà còn cho cả người không quốc tịch Pháp.

Ngay sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 46/SL ngày 10/10/1945 về tổ chức các đoàn thể luật sư, quy định duy trì tổ chức luật sư dựa trên các quy định pháp luật của chế độ cũ phù hợp với nguyên tắc độc lập và chính thể dân chủ cộng hòa Hiến pháp năm 1946 đã xác nhận quyền tự bào chữa của người bị cáo tại Điều 67, thể hiện sự quan tâm đến quyền của công dân trong lĩnh vực tư pháp Trong thời kỳ toàn dân kháng chiến chống Pháp, nhiều luật sư đã tham gia trực tiếp vào chiến trường hoặc hoạt động tư pháp tại các vùng do chính quyền cách mạng kiểm soát, giữ những vị trí quan trọng trong chính quyền và cơ quan tư pháp như các luật sư Phan Anh, Phan Văn Trường, Vũ Văn Hưởng, Vũ Trọng Khánh, và nhiều người khác Mặc dù tổ chức hành nghề luật sư không được duy trì trong giai đoạn này, Đảng và Nhà nước vẫn luôn quan tâm đến quyền bào chữa của bị cáo, được ghi nhận trong Hiến pháp, như quy định tại Sắc lệnh số 69/SL ngày 18/6/1949, cho phép bị can nhờ người không phải luật sư để bảo vệ quyền lợi của mình trước tòa.

Chế định bào chữa viên được hình thành phù hợp với điều kiện của nước ta khi đó, thể hiện sự coi trọng của Đảng và Nhà nước đối với quyền bào chữa và xây dựng nền tư pháp công bằng, dân chủ Trong suốt thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, đội ngũ bào chữa viên đã hình thành và phát triển, góp phần vào hoạt động tư pháp của chế độ mới Sau khi miền Bắc được giải phóng, nhiều luật sư và luật gia đã tham gia công tác bào chữa tại các tòa án của chính quyền kháng chiến và bộ máy tư pháp của chế độ cũ cũng chuyển sang làm việc trong hệ thống mới Tuy nhiên, chiến tranh và khó khăn kinh tế đã ảnh hưởng đến sự phát triển của nghề luật sư ở miền Bắc Trong khi đó, luật sư miền Nam tích cực tham gia kháng chiến, góp phần vào công cuộc giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước, điển hình là các luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Trịnh Đình Thảo, Ngô Bá Thành Từ năm 1986, nhờ chủ trương đổi mới, các tiền đề phát triển nghề luật sư như kinh tế, môi trường pháp lý và nhu cầu xã hội đã hình thành rõ nét Năm 1987, chính phủ ban hành Pháp lệnh Tổ chức Luật sư, sau đó được thay thế bằng Pháp lệnh Luật sư năm 2001, và Luật Luật sư năm 2006 được sửa đổi vào năm 2012, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với sự phát triển nghề luật sư Trong tương lai, để đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Đại hội XII của Đảng xác định nhiệm vụ nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của luật sư và bổ trợ tư pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của nghề luật sư Việt Nam.

Luật sư là nghề nghiệp đặc thù trong lĩnh vực tư pháp, có ý nghĩa khác nhau tùy theo hệ thống pháp luật của từng quốc gia Trong các hệ thống pháp luật dựa trên luật tập quán, nghề Luật sư được xem là ngành nghề kinh doanh đặc biệt, còn trong các hệ thống luật thành văn, Luật sư được coi là nghề tự do như bác sĩ hay kiến trúc sư Tuy nhiên, dù khác biệt về quan niệm, hầu hết các quốc gia đều nhất quán nhận rằng Luật sư phải là người có chuyên môn pháp luật vững vàng, trở thành người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bị cáo, đương sự và người liên quan Ở Việt Nam, khái niệm Luật sư đồng nghĩa với các thuật ngữ như luật gia, bào chữa viên nhân dân, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, là người sử dụng pháp luật để bào chữa, đại diện theo ủy quyền Theo Đại từ điển Tiếng Việt, "Luật sư là người có chức trách, dùng pháp luật bào chữa cho bị can trước tòa", nhưng việc định nghĩa về Luật sư vẫn gặp nhiều khó khăn trong quá trình xây dựng pháp luật và trong thực tiễn Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, không phải tất cả các nước đều có quy định rõ ràng về khái niệm Luật sư, và nhiều nơi chỉ coi đó là khái niệm mang tính hình thức chứ không rõ ràng về nội dung, phản ánh sự phát triển đa dạng của nghề luật sư trên thế giới.

Kể từ sau Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI năm 1986, các đạo luật về tố tụng đã mở rộng dân chủ trong quá trình tố tụng, đặc biệt là tăng cường bảo đảm quyền bào chữa và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cá nhân, tổ chức trước các cơ quan tiến hành tố tụng Ngày 18/12/1987, Pháp lệnh Tổ chức Luật sư được ban hành, chính thức sử dụng thuật ngữ "Luật sư" để chỉ những người hoạt động tư vấn pháp luật và bào chữa tại tòa án Tuy nhiên, pháp lệnh này không định nghĩa rõ ràng về khái niệm luật sư mà yêu cầu người muốn trở thành luật sư phải đủ điều kiện, gia nhập Đoàn Luật sư, và trải qua thời gian tập sự từ 6 tháng đến 2 năm cùng kỳ kiểm tra do Đoàn tổ chức để được công nhận là luật sư Người tập sự được thực hiện công việc bào chữa và hỗ trợ pháp lý như luật sư chính thức Người được công nhận là luật sư sẽ được cấp thẻ luật sư, chỉ sử dụng khi thực hiện nhiệm vụ do Ban chủ nhiệm phân công hoặc trong sinh hoạt của Đoàn, còn việc quản lý và phát hành thẻ do Bộ Tư pháp phụ trách Theo quy định pháp luật năm 1987, việc công nhận luật sư hay chấp nhận gia nhập Đoàn Luật sư thuộc thẩm quyền của Hội nghị toàn thể Đoàn Thẻ luật sư là giấy tờ xác nhận người đó là luật sư chuyên nghiệp, được sử dụng trong hoạt động hành nghề và trong sinh hoạt của Đoàn Luật sư.

Với chủ trương đổi mới mạnh mẽ về kinh tế, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện các chính sách cải cách tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị, trong đó có đổi mới tổ chức, hoạt động lập pháp, và cải cách bộ máy hành chính, tư pháp nhằm xây dựng Nhà nước pháp quyền và thúc đẩy hội nhập quốc tế Pháp lệnh Luật sư năm 2001 ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, trong đó khái niệm Luật sư được đưa ra và thảo luận sôi nổi, phản ánh nội hàm của khái niệm này Việc xác định khái niệm Luật sư trong pháp lệnh gặp nhiều khó khăn, dễ gây tranh luận, tuy nhiên, theo kinh nghiệm quốc tế, đây chỉ mang tính quy ước nhằm hiểu thống nhất về thuật ngữ Nội dung của pháp lệnh chủ yếu nhấn mạnh sự cải cách tổ chức và hoạt động của Luật sư theo hướng chính quy hóa, chuyên nghiệp hóa, tăng cường tự quản của các tổ chức nghề nghiệp, và tạo cơ sở pháp lý cho quá trình hội nhập quốc tế của nghề luật sư Việt Nam.

Tại khoản 1 Điều 1 Pháp lệnh Luật sư năm 2001 quy định:

Luật sư là người đáp ứng đầy đủ điều kiện hành nghề theo quy định của pháp luật, tham gia hoạt động tố tụng và tư vấn pháp luật cho khách hàng Họ cung cấp các dịch vụ pháp lý đa dạng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Trong bối cảnh đất nước đang đối mặt với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, cần thúc đẩy các cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế để nâng cao năng lực cạnh tranh Thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đòi hỏi sự đổi mới toàn diện nhằm tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững Việc đẩy mạnh cải cách tư pháp không chỉ tăng cường hiệu lực và hiệu quả của hệ thống pháp luật mà còn góp phần tạo môi trường kinh doanh minh bạch, thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư Hội nhập kinh tế quốc tế giúp mở rộng thị trường, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, đồng thời nâng cao trình độ công nghệ, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững.

Bộ Chính trị đã ban hành các nghị quyết quan trọng như Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp; Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, tập trung phát triển đội ngũ Luật sư có phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ chuyên môn cao, đồng thời nâng cao trách nhiệm của các tổ chức hành nghề Luật sư và phát huy vai trò tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Luật sư Thể chế hóa các chủ trương của Đảng, ngày 29/6/2006, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật Luật sư, có hiệu lực từ ngày 01/01/2007, thay thế Pháp lệnh Luật sư năm 2001 Trong đó, Điều 2 quy định những nội dung quan trọng về quyền và nghĩa vụ của Luật sư, góp phần định hình và phát triển nghề luật sư tại Việt Nam.

Luật sư là người đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của luật pháp Họ thực hiện dịch vụ pháp lý dựa trên yêu cầu của cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức, gọi chung là khách hàng Với trình độ chuyên môn và uy tín, luật sư đảm bảo cung cấp các dịch vụ pháp lý chính xác và hiệu quả Việc tuân thủ các quy định của luật luật sư giúp tăng cường sự tin tưởng và uy tín trong hoạt động tư vấn pháp lý.

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, luật sư là người có đủ điều kiện hành nghề và hoạt động trong lĩnh vực pháp lý, được Nhà nước cấp chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập đoàn luật sư Khác với luật gia, luật sư phải trải qua đào tạo nghề sau tốt nghiệp đại học luật, và chức năng của họ là cung cấp dịch vụ pháp lý cho cá nhân, tổ chức, bao gồm tham gia tố tụng, bào chữa, biện hộ, tư vấn pháp luật và thực hiện các dịch vụ pháp lý khác, nhận tiền thù lao từ khách hàng Trách nhiệm xã hội của luật sư là bảo vệ công lý, công bằng xã hội, đồng thời luật sư độc lập trong hành nghề và chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại vật chất gây ra cho khách hàng theo trách nhiệm vô hạn Ngoài việc tuân thủ pháp luật, luật sư còn phải tuân theo các quy tắc đạo đức nghề nghiệp do tổ chức xã hội - nghề nghiệp luật sư ban hành Tại Việt Nam, không có sự phân chia rõ ràng giữa luật sư tranh tụng và luật sư tư vấn Theo quan điểm của tác giả, luật sư là người trung thành với tổ quốc, tuân thủ hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, sức khỏe đảm bảo, và đã được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư, gia nhập đoàn luật sư để thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của khách hàng.

Khái niệm, hình thức thực hiện pháp luật tổ chức hành nghề Luật sư và hoạt động hành nghề Luật sư

sư và hoạt động hành nghề Luật sư

1.2.1 Khái niệm thực hiện pháp luật tổ chức hành nghề Luật sư và hoạt động hành nghề Luật sư

Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, đóng vai trò cốt lõi trong việc duy trì sự ổn định và thúc đẩy phát triển năng động của xã hội Trong bối cảnh đổi mới, Đảng và Nhà nước khẳng định vai trò hàng đầu của pháp luật trong quản lý xã hội, theo đó Điều 12 Hiến pháp năm 1992 nhấn mạnh: "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa." Kế thừa và phát huy quan điểm này, Điều 8 Hiến pháp năm 2013 quy định rõ ràng: "Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ." Mục đích của việc đặt ra các quy phạm pháp luật là để điều chỉnh các quan hệ xã hội, đáp ứng lợi ích nhân dân và thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội Tuy nhiên, mục tiêu này chỉ đạt được khi các chủ thể nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật trong thực tế, và việc thực hiện đúng pháp luật trở thành yêu cầu khách quan của quản lý nhà nước bằng pháp luật Theo giáo trình lý luận chung về Nhà nước và pháp luật của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, việc thực thi pháp luật đúng đắn là yếu tố then chốt để đảm bảo hiệu quả quản lý nhà nước.

Thực hiện pháp luật là quá trình có mục đích biến các quy định của pháp luật thành hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật Đây là hiện tượng quan trọng giúp đảm bảo pháp luật được áp dụng và thực thi đúng đắn trong cuộc sống hàng ngày Việc thực hiện pháp luật góp phần duy trì trật tự, công bằng xã hội và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.

Trong xã hội có tổ chức, các mối quan hệ đa dạng giữa cá nhân, tổ chức đóng vai trò quan trọng, đặc biệt là các mối quan hệ giao dịch phát triển mạnh mẽ do sự mở rộng của nền kinh tế thị trường Việc thiếu sự hướng dẫn và quản lý của Nhà nước trong các mối quan hệ giao dịch có thể dẫn đến tình trạng lộn xộn, phát sinh tranh chấp và vi phạm, gây thiệt hại cho công dân, cơ quan, tổ chức và Nhà nước Do đó, việc quản lý chặt chẽ các mối quan hệ này là cần thiết để đảm bảo trật tự, ổn định và thúc đẩy sự phát triển bền vững của xã hội.

Việc tạo sự ổn định trong quan hệ xã hội, giao dịch dân sự, kinh tế và thương mại là yếu tố then chốt thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội Do đó, tuyên truyền và phổ biến pháp luật là cần thiết, nhưng đồng thời cũng cần tăng cường các biện pháp, công cụ tổ chức thực hiện pháp luật để đảm bảo hiệu quả Luật sư đóng vai trò quan trọng và không thể thiếu trong hệ thống nhà nước pháp quyền, thông qua hoạt động của mình và các quy định hướng dẫn pháp luật, luật sư góp phần hiện thực hóa các chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước vào đời sống xã hội, giúp xây dựng hành vi xử sự đúng pháp luật và đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa Để thực thi tốt các chủ trương này, cần tổ chức và thực hiện pháp luật về tổ chức hành nghề luật sư và hoạt động hành nghề luật sư một cách bài bản, nhằm cụ thể hoá các mục tiêu xây dựng pháp luật về luật sư của Đảng và Nhà nước Khái niệm về thực hiện pháp luật trong lĩnh vực luật sư phản ánh đầy đủ nội dung của quá trình thực thi pháp luật nói chung, đồng thời nêu rõ các hướng đi, mục tiêu cụ thể trong xây dựng pháp luật về nghề luật sư.

Luật sư là hiện tượng và quá trình có mục đích biến các quy phạm pháp luật thành hoạt động thực tiễn của các chủ thể pháp luật Vai trò của luật sư nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia quan hệ pháp luật Hoạt động của luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, cải cách hành chính, cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế.

Từ khái niệm có thể thấy, thực hiện pháp luật về tổ chức hành nghề Luật sư và hoạt động hành nghề Luật sư có các đặc điểm sau:

Chủ thể tham gia vào hoạt động hành nghề luật sư bao gồm Nhà nước, các tổ chức, cá nhân, và các cơ quan pháp luật như Chính phủ, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cùng với luật sư và các tổ chức liên quan Các chủ thể này đều phải tuân thủ pháp luật về tổ chức hành nghề luật sư, đồng thời có những quyền và nghĩa vụ nhất định được quy định rõ ràng trong luật pháp để đảm bảo hoạt động luật sư diễn ra hiệu quả, đúng pháp luật và bảo vệ quyền lợi của khách hàng.

Thực hiện pháp luật về tổ chức và hoạt động hành nghề Luật sư thể hiện tính pháp chế cao, với các Luật sư hoạt động độc lập, tuân theo pháp luật và các quy trình, thủ tục chặt chẽ được quy định trong luật Các quy định về cấp thẻ hành nghề, hình thức hành nghề của Luật sư, cũng như việc thành lập, giải thể và hoạt động của các tổ chức hành nghề luật sư đều được quy định rõ ràng nhằm đảm bảo tính minh bạch và tuân thủ pháp luật trong hoạt động của các luật sư cũng như tổ chức, cá nhân liên quan.

Phạm vi thực hiện pháp luật về tổ chức hành nghề luật sư và hoạt động hành nghề luật sư là lĩnh vực đặc thù, chủ yếu điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động hành nghề luật sư và hoạt động của các tổ chức hành nghề luật sư.

1.2.2 Hình thức thực hiện pháp luật tổ chức hành nghề Luật sư và hoạt động hành nghề Luật sư

Dựa trên lý luận chung về các hình thức thực hiện pháp luật, hoạt động hành nghề Luật sư cũng được xác định dựa trên bốn hình thức chính: tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật Việc tổ chức hành nghề Luật sư và hoạt động của các luật sư thể hiện rõ các hình thức này, phù hợp với đặc trưng của lĩnh vực pháp luật cụ thể đó Nhận thức về các hình thức thực hiện pháp luật trong lĩnh vực luật sư góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động chuyên nghiệp và tuân thủ pháp luật trong ngành luật.

Tuân thủ pháp luật về tổ chức hành nghề Luật sư và hoạt động hành nghề Luật sư đảm bảo các chủ thể pháp luật thực hiện đúng quy định, kiềm chế không tiến hành hành vi bị nghiêm cấm Theo pháp luật, các luật sư, người yêu cầu luật sư, tổ chức hoạt động hành nghề, cơ quan, tổ chức, cá nhân phải tuân thủ quy định để giữ gìn tính trung thực và đạo đức nghề nghiệp Luật Luật sư quy định rõ ràng các hành vi bị cấm, như cố ý cung cấp tài liệu giả, xúi giục khách hàng khai man hoặc khiếu kiện trái pháp luật, nhằm bảo vệ sự công bằng, uy tín của nghề luật sư và hạn chế tối đa các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động hành nghề.

Việc tổ chức và hoạt động hành nghề luật sư là hình thức thực hiện pháp luật qua hành động tích cực của các chủ thể luật sư, bao gồm luật sư, người yêu cầu luật sư, tổ chức hành nghề luật sư, cơ quan, tổ chức, cá nhân Để đảm bảo hoạt động hành nghề luật sư đi vào thực tiễn, các chủ thể cần chủ động, tích cực thực hiện các quy định về nghĩa vụ cụ thể theo luật định Luật luật sư quy định luật sư có nghĩa vụ tuân thủ nguyên tắc hành nghề, bằng hành vi chủ động trong quá trình hành nghề Nếu luật sư không tuân thủ những nguyên tắc này, sẽ dẫn đến vi phạm pháp luật và hậu quả pháp lý nghiêm trọng.

- Sử dụng pháp luật về tổ chức hành nghề Luật sư và hoạt động hành nghề

Luật sư thể hiện một hình thức thực thi pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật có quyền chủ động thực hiện hoặc không thực hiện các quyền được pháp luật trao, dựa trên ý thức cá nhân Việc này không bị ép buộc, và các tổ chức hành nghề luật sư hoặc cá nhân có thể linh hoạt trong việc thuê hoặc không thuê nhân viên, phù hợp với hiệu quả công việc của từng tổ chức Theo quy định của luật luật sư, các tổ chức hành nghề luật sư có quyền thuê luật sư trong nước hoặc luật sư nước ngoài cùng nhân viên làm việc cho tổ chức của mình Thực tế, nhiều văn phòng luật sư thuê nhân viên để phục vụ công việc, trong khi một số tổ chức không thuê nhân viên vẫn không vi phạm pháp luật, thể hiện tính linh hoạt của hình thức thực hiện pháp luật này.

- Áp dụng pháp luật về tổ chức hành nghề Luật sư và hoạt động hành nghề

Luật sư là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó Nhà nước tổ chức cho các chủ thể thực hiện các quy định của pháp luật thông qua các cơ quan có thẩm quyền hoặc nhà chức trách Các chủ thể pháp luật thực hiện pháp luật có sự can thiệp của Nhà nước, và trong những trường hợp đặc biệt, cơ quan tổ chức xã hội cũng có thể tham gia hoạt động này Việc áp dụng pháp luật về tổ chức hành nghề luật sư và hoạt động hành nghề yêu cầu nâng cao ý thức pháp luật, trình độ chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn của các cán bộ, công chức và luật sư để đảm bảo các văn bản pháp luật được ban hành nhanh chóng, đúng thời hạn và chính xác Luật sư, cùng με các cán bộ hoạt động tại các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm quản lý hoạt động hành nghề luật sư và tổ chức hành nghề luật sư, đóng vai trò trung tâm trong việc thực thi pháp luật một cách hiệu quả.

Nội dung của pháp luật về tổ chức hành nghề Luật sư và hoạt động hành nghề Luật sư

1.3.1 Nội dung của pháp luật về tổ chức hành nghề Luật sư

Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển đội ngũ luật sư có phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ chuyên môn và đủ số lượng là nhiệm vụ quan trọng để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Việc đổi mới tổ chức và hoạt động của luật sư nhằm phục vụ tốt hơn hoạt động tư pháp và hỗ trợ sự phát triển của kinh tế thị trường, đồng thời phù hợp với các cam kết quốc tế như gia nhập WTO Việc ban hành Luật luật sư và các quy định rõ ràng về quản lý, tổ chức hành nghề luật sư do Bộ Tư pháp, ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố, Liên đoàn Luật sư Việt Nam và Đoàn luật sư đảm nhận là cần thiết để tạo điều kiện cho đội ngũ luật sư phát triển phù hợp với yêu cầu của xã hội hiện nay Theo Pháp lệnh Luật sư 2001, luật sư chỉ được hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư, nhưng trước sự phát triển mạnh mẽ của hội nhập quốc tế và kinh tế, quy định này đã không còn phù hợp Luật luật sư năm 2006 ra đời đã mở rộng các hình thức hành nghề, cho phép luật sư lựa chọn nhiều hình thức phù hợp với tình hình mới.

- Hành nghề trong tổ chức hành nghề Luật sư

- Hành nghề với tư cách cá nhân

Quy định mở rộng phạm vi hành nghề của Luật Luật sư năm 2006 xuất phát từ thực tiễn cho thấy các cơ quan Nhà nước, tổ chức và doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng luật sư làm việc như luật sư riêng để giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan Mặt khác, nghề luật sư là nghề tự do, cho phép luật sư tự do lựa chọn hình thức hành nghề phù hợp với khả năng của mình; nhiều quốc gia như Pháp, Australia, Hoa Kỳ và Singapore đã thực hiện hình thức hành nghề cá nhân Theo quy định của Luật Luật sư năm 2006, tổ chức hành nghề luật sư bao gồm văn phòng luật sư và công ty luật.

- Quy định của pháp luật về thành lập tổ chức hành nghề Luật sư

Mỗi luật sư chỉ được thành lập một văn phòng luật sư, phù hợp với quy định về hoạt động hành nghề Luật sư có thể thành lập hoặc tham gia thành lập công ty luật tại địa phương nơi mình là thành viên của Đoàn Luật sư, đảm bảo tuân thủ các quy định pháp luật Trong trường hợp luật sư thuộc các Đoàn Luật sư khác nhau cùng tham gia thành lập công ty luật, họ có thể lựa chọn đăng ký hoạt động tại địa phương nơi có Đoàn Luật sư mà ít nhất một luật sư trong nhóm là thành viên (theo Khoản 3 Điều 32 của Luật Luật sư 2006 đã được sửa đổi, bổ sung) Quy định này nhằm đảm bảo tính hợp pháp và thuận tiện cho hoạt động của các công ty luật.

Năm 2012, quy định mới về điều kiện thành lập tổ chức hành nghề luật sư được ban hành, trong đó bắt buộc luật sư phải có ít nhất hai năm hành nghề liên tục theo hợp đồng lao động hoặc hợp đồng cá nhân trước khi thành lập hoặc tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư Sau khi được cấp thẻ luật sư ít nhất hai năm, luật sư mới có thể thành lập công ty luật hoặc văn phòng luật sư, nhằm hạn chế tình trạng mở ra tràn lan các tổ chức hành nghề luật sư không hoạt động thực chất Mục tiêu của quy định này là đảm bảo chỉ những tổ chức hành nghề luật sư có đủ năng lực và thực tiễn mới được phép thành lập, góp phần nâng cao uy tín và chất lượng dịch vụ pháp lý.

Luật sư thực sự có tâm huyết và mong muốn cung cấp dịch vụ pháp lý chất lượng, đồng thời quy định thời gian hai năm để họ có đủ điều kiện tiếp xúc và tích lũy kinh nghiệm thực tế trong nghề nghiệp Trong quá trình tập sự hành nghề, luật sư chỉ được “tập bơi trên cạn” mà chưa có trải nghiệm thực tế, vì vậy việc quy định thời gian này giúp họ chuẩn bị kỹ năng và kiến thức thực tiễn Ngoài ra, Luật còn quy định rằng một luật sư chỉ được thành lập hoặc tham gia thành lập một tổ chức hành nghề duy nhất, điều này tạo sự khác biệt rõ rệt so với các loại hình doanh nghiệp khác.

Công ty luật hợp danh khác với các loại hình công ty hợp danh được quy định trong luật doanh nghiệp ở chỗ không được kết nạp thành viên góp vốn Theo Điều 34 Luật Luật sư 2006, toàn bộ thành viên của công ty luật hợp danh phải là thành viên hợp danh Tuy nhiên, Luật doanh nghiệp 2014 cho phép thành viên hợp danh được làm chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc là thành viên hợp danh của công ty hợp danh khác nếu được sự nhất trí của các thành viên còn lại, đồng thời, công ty hợp danh có thể bổ sung thêm thành viên góp vốn Như vậy, quy định của Luật Luật sư chặt chẽ hơn luật doanh nghiệp, điều này hợp lý vì hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý liên quan trực tiếp đến quyền lợi của con người, đồng thời, nghề luật sư không cho phép kiêm nhiệm, nhằm đảm bảo sự tập trung, trách nhiệm cao nhất của luật sư trong công việc cao quý của mình.

Cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy phép hoạt động cho tổ chức hành nghề luật sư là Sở Tư pháp, đây là đặc thù riêng của tổ chức hành nghề luật sư so với các doanh nghiệp khác Theo quy định của Luật Luật sư, các tổ chức hành nghề luật sư phải đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp địa phương nơi đặt Đoàn Luật sư, và Trưởng văn phòng luật sư hoặc Giám đốc công ty luật phải là thành viên của Đoàn Luật sư đó để đảm bảo hoạt động hợp pháp và đúng quy định.

Các công ty luật do các Luật sư từ nhiều Đoàn Luật sư khác nhau hợp thành phải đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp địa phương nơi công ty đặt trụ sở Để thay đổi nội dung đăng ký hoạt động, tổ chức hành nghề Luật sư cần được Sở Tư pháp xác nhận Tổ chức hành nghề Luật sư có hiệu lực bắt đầu từ ngày cấp giấy đăng ký hoạt động; sau đó, trong vòng bảy ngày làm việc, Trưởng văn phòng hoặc Giám đốc công ty phải gửi thông báo bằng văn bản kèm bản sao giấy đăng ký đến Đoàn Luật sư của mình Ngoài ra, trong vòng ba mươi ngày kể từ ngày nhận giấy đăng ký, tổ chức hành nghề luật sư cần đăng báo hàng ngày tại trung ương hoặc địa phương nơi đăng ký hoặc báo chuyên ngành luật liên tiếp trong ba số báo để đảm bảo công khai thông tin hoạt động.

- Các hình thức tổ chức hành nghề Luật sư

Văn phòng Luật sư là tổ chức hành nghề do một Luật sư sáng lập, hoạt động theo mô hình doanh nghiệp tư nhân và không có tư cách pháp nhân riêng biệt, trong đó luật sư sáng lập là Trưởng văn phòng chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của văn phòng Trưởng văn phòng đại diện pháp luật cho tổ chức và trực tiếp điều hành các hoạt động, trong khi luật sư là chủ sở hữu, người đại diện pháp luật và người điều hành các hoạt động của văn phòng Văn phòng Luật sư có quyền cung cấp dịch vụ pháp lý, ký hợp đồng dịch vụ, thuê luật sư, nhân viên, tham gia xây dựng chính sách pháp luật, thành lập chi nhánh trong và ngoài nước, đồng thời hoạt động dựa trên các quy định của Luật doanh nghiệp và Luật Luật sư Các dịch vụ pháp lý mà văn phòng cung cấp là dịch vụ đặc thù, trong đó văn phòng nhận yêu cầu khách hàng, cử luật sư thực hiện vụ việc và chịu trách nhiệm pháp lý cùng với luật sư theo hợp đồng dịch vụ pháp lý đã ký Hoạt động của văn phòng Luật sư vừa mang tính chuyên môn, vừa hướng tới lợi nhuận, và khách hàng có nghĩa vụ thanh toán phí dịch vụ.

Các công ty luật bao gồm công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty luật hợp danh, trong đó thành viên đều phải là luật sư Công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một luật sư thành lập và làm chủ sở hữu, đồng thời là người đại diện pháp luật của công ty, còn các công ty luật có nhiều thành viên lựa chọn cử một luật sư làm người đại diện theo pháp luật Trách nhiệm của các thành viên trong công ty luật được quy định rõ ràng, tùy thuộc vào loại hình doanh nghiệp và quy định pháp luật từng quốc gia; công ty luật trách nhiệm hữu hạn chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn góp, trong khi công ty hợp danh chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản, các thành viên hợp danh phải liên đới chịu trách nhiệm bằng tài sản cá nhân nếu nghĩa vụ vượt quá tài sản của công ty Trong hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý, công ty luật là chủ thể của hợp đồng dịch vụ pháp lý, trong đó cung cấp dịch vụ cho khách hàng và giao cho luật sư thực hiện, khách hàng có trách nhiệm thanh toán; tổ chức hành nghề luật sư phải tuân thủ pháp luật, quy tắc đạo đức nghề nghiệp, đồng thời nâng cao ý thức trách nhiệm xã hội và tôn trọng pháp luật để bảo vệ quyền lợi khách hàng Người đứng đầu tổ chức hành nghề luật sư cần đề cao vai trò tự quản trách nhiệm, quản lý chặt chẽ hoạt động của luật sư và nhân viên, thực hiện các biện pháp nâng cao uy tín, chuyên nghiệp và hiệu quả hoạt động trong tổ chức.

- Mối quan hệ giữa tổ chức hành nghề Luật sư và các chủ thể có liên quan

Theo Điều 22 Luật Luật sư 2006, luật sư không phân biệt phạm vi hành nghề giữa văn phòng luật sư và công ty luật, cho phép cả hai thực hiện các dịch vụ pháp lý như tư vấn pháp luật, đại diện giải quyết tranh chấp và thực hiện các hoạt động pháp lý khác nhau.

Tham gia tố tụng là vai trò của người bào chữa, bao gồm bảo vệ quyền lợi của người bị tạm giữ, người bị can, bị cáo trong các vụ án hình sự Ngoài ra, người bào chữa còn có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, cũng như các người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự Vai trò này đảm bảo quyền công bằng, hợp pháp của các bên trong quá trình tố tụng hình sự.

Tham gia tố tụng là quyền và trách nhiệm của người đại diện hoặc người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động và các vụ việc khác theo quy định của pháp luật Việc này đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên và tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến lĩnh vực tố tụng.

- Thực hiện tư vấn pháp luật

- Đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng để thực hiện các công việc có liên quan đến pháp luật

- Thực hiện dịch vụ pháp lý khác

Trong quá trình hành nghề, tổ chức hành nghề Luật sư là chủ thể trong hợp đồng dịch vụ pháp lý với khách hàng và chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc thực hiện dịch vụ đó Tổ chức hành nghề Luật sư cần tôn trọng quyền chọn lựa của khách hàng, chỉ nhận vụ việc phù hợp với khả năng và phạm vi yêu cầu của khách hàng, đảm bảo tính khách quan và chất lượng dịch vụ Khách hàng có quyền tự do chọn lựa tổ chức hành nghề mà không bị ép buộc, đồng thời có quyền từ chối dịch vụ nếu không hài lòng về kết quả Một nguyên tắc quan trọng là tổ chức hành nghề Luật sư chỉ nhận yêu cầu khi không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố gây áp lực như tài chính hay bên thứ ba Họ phải từ chối cung cấp dịch vụ nếu yêu cầu đó vi phạm pháp luật, đạo đức xã hội hoặc gây nguy cơ vi phạm pháp luật hay quy tắc đạo đức nghề nghiệp Ngoài ra, tổ chức hành nghề Luật sư không được xử lý các vụ việc pháp lý mà họ biết hoặc cần biết mình thiếu năng lực xử lý, nhằm đảm bảo tính chính xác và đạo đức nghề nghiệp trong hoạt động luật sư.

Tổ chức hành nghề Luật sư có trách nhiệm bảo vệ lợi ích của khách hàng trong khuôn khổ pháp luật và đạo đức nghề nghiệp, đồng thời phải giải thích rõ quyền và trách nhiệm của luật sư cũng như thường xuyên cập nhật thông tin về tình hình vụ việc cho khách hàng Trong quá trình hoạt động, tổ chức phải giữ bí mật đời tư, bí mật công việc và các quan hệ của khách hàng; khi chấm dứt dịch vụ, cần có lý do chính đáng và thông báo trước cho khách hàng trong thời gian hợp lý Mối quan hệ giữa tổ chức hành nghề Luật sư và hệ thống hành nghề là yếu tố quan trọng, bao gồm quan hệ với các tổ chức quản lý nghề nghiệp, các tổ chức hành nghề khác, và các chủ thể liên quan, nhằm đảm bảo hoạt động hướng tới lợi ích chung Tổ chức quản lý nghề nghiệp luật sư có vai trò quản lý và bảo vệ quyền lợi của luật sư, đồng thời thúc đẩy đào tạo và phối hợp với các cơ quan nhà nước để hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao chất lượng hoạt động nghề nghiệp Trong mối quan hệ này, tổ chức hành nghề cần tôn trọng điều lệ và phối hợp hiệu quả để thực hiện các nhiệm vụ xã hội, xây dựng pháp luật và phổ biến kiến thức pháp luật Mối quan hệ hợp tác giữa các tổ chức hành nghề luật sư nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và hỗ trợ lẫn nhau, đồng thời luật sư không được xúc phạm, hạ thấp uy tín đồng nghiệp hoặc sử dụng thủ đoạn để chiếm lợi thế, đặc biệt là không thông đồng nhằm mục đích cá nhân trái pháp luật Các quy tắc đạo đức nghề nghiệp quy định rõ về mối quan hệ đồng nghiệp, thể hiện tính tự quản trong hoạt động nghề nghiệp của luật sư, nhằm duy trì sự tự trọng, trung thực và chuyên nghiệp trong cộng đồng luật sư.

THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ VÀ HOẠT ĐỘNG HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN

Ngày đăng: 21/08/2023, 00:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Bộ Chính trị (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2002
[2] Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện Pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện Pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
[3] Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
[4] Bộ Tư pháp (2007), Thông Tư 02/2007/TT-BTP hướng dẫn một số quy định của Luật Luật sư, Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông Tư 02/2007/TT-BTP hướng dẫn một số quy định của Luật Luật sư, Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2007
[5] Bộ Tư pháp (2010), Quy chế tập sự hành nghề Luật sư – Ban hành kèm theo Thông tư số 21/2010/TT-BTP ngày 01/12/2010 của bộ trưởng bộ tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế tập sự hành nghề Luật sư
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2010
[6] Bộ Tư pháp (2011), Thông tư số 17/2011/TT-BTP hướng dẫn thực hiện một số quy định của Luật Luật sư, Nghị định số 28/2007/NĐ-CP, Nghị định số 131/2008/NĐ-CP; Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 17/2011/TT-BTP hướng dẫn thực hiện một số quy định của Luật Luật sư, Nghị định số 28/2007/NĐ-CP, Nghị định số 131/2008/NĐ-CP
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2011
[7] Bộ Tư pháp (2012), Báo cáo số 15/BC-BTP ngày 20/1/2014 Tổng kết công tác tư pháp năm 2013 và phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu năm 2014, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 15/BC-BTP ngày 20/1/2014 Tổng kết công tác tư pháp năm 2013 và phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu năm 2014
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2012
[8] Chủ tịch nước (1949), Sắc lệnh số 69/SL ngày 18/6/1949 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắc lệnh số 69/SL ngày 18/6/1949
Tác giả: Chủ tịch nước
Năm: 1949
[9] Chính phủ (2003), Nghị định số 65/2003/NĐ-CP ngày 11/6/2003 về tổ chức, hoạt động tư vấn pháp luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 65/2003/NĐ-CP ngày 11/6/2003 về tổ chức, hoạt động tư vấn pháp luật
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2003
[10] Chính phủ (2007), Nghị Định 28/2007/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật Luật sư, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị Định 28/2007/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật Luật sư
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
[11] Chính phủ (2008), Nghị định số 131/2008/NĐ-CP hướng dẫn thi hành các quy định của luật Luật sư về tổ chức xã hội – nghề nghiệp của Luật sư, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 131/2008/NĐ-CP hướng dẫn thi hành các quy định của luật Luật sư về tổ chức xã hội – nghề nghiệp của Luật sư
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2008
[12] Chính phủ (2009), Nghị định số 60/2009/NĐ-CP ngày 23/7/2009 Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 60/2009/NĐ-CP ngày 23/7/2009 Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2009
[13] Chính phủ (2013), Nghị định 123/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật Luật sư, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 123/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật Luật sư
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
[14] Lương Ninh (chủ biên): Lịch sử thế giới cổ đại. Nxb. Giáo Dục, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới cổ đại
Tác giả: Lương Ninh (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Giáo Dục
Năm: 1998
[15] Luật sư Phan Trung Hoài: Luận án Tiến sĩ (2003) “Cơ sở lý luận của việc hoàn thiện pháp luật về Luật sư ở Việt Nam hiện nay”, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận của việc hoàn thiện pháp luật về Luật sư ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Phan Trung Hoài
Nhà XB: Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2003
[16] Luật sư, tiến sỹ Phan Đăng Thanh: Người tập sự hành nghề Luật sư: Tập bơi sao không được… xuống nước?, Báo pháp Luật thành phố Hồ Chí Minh ngày 16/05/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người tập sự hành nghề Luật sư: Tập bơi sao không được… xuống nước
Tác giả: Phan Đăng Thanh
Nhà XB: Báo pháp Luật thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2007
[17] Liên đoàn Luật sư Việt Nam (2011), Bộ Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp Luật sư Việt Nam được ban hành ngày 20/7/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp Luật sư Việt Nam
Tác giả: Liên đoàn Luật sư Việt Nam
Năm: 2011
[18] Nguyễn Như Ý (Chủ biên): Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb. Văn Hòa – Thông Tin, H.1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Như Ý (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Văn Hòa – Thông Tin
Năm: 1998
[20] PGS.TS Hoàng Kim Quế (Chủ biên); Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Hoàng Kim Quế
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
[21] Quốc Hội (1946), Hiến pháp ban hành ngày 9/11/1946, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp ban hành ngày 9/11/1946
Tác giả: Quốc Hội
Năm: 1946

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w